Hoàn thiện về mặt tổ chức và nâng cao vai trò của các bộ phận quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trong trường .... Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hằng
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hằng
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ THU MAI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của cá nhân mình nhưng có sự
hỗ trợ và hướng dẫn tận tình từ phía Giảng viên hướng dẫn là TS Trần Thị Thu Mai Các số liệu, bảng biểu của đề tài chưa từng công bố kết quả trong bất cứ các công trình nghiên cứu trước đây Bên cạnh đó, tôi có sử dụng một số tài liệu, kết quả nghiên cứu của một số tác giả, tổ chức, cơ quan nhà nước cũng được thể hiện rõ ràng trong phần trích dẫn của tài liệu tham khảo
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả nghiên cứu của mình trước Hội đồng
Tp.HCM, tháng 09/2013
Tác giả
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Giả thuyết khoa học 7
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG – ĐẠI HỌC 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 11
1.1.1 Trên thế giới 11
1.1.2 Trong nước 14
1.2 Các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học của của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 16
1.2.1 Các khái niệm 16
1.2.2 Hoạt động NCKH của GV trường CĐ – ĐH 17
1.3 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học và sự cần thiết phải tăng cường quá trình quản lý và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 21
1.3.1 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học 21
1.3.2 Sự cần thiết phải tăng cường quá trình quản lý và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 23
1.4 Một số lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học cuả Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 24
1.4.1 Chủ thể quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học cuả Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 24
1.4.2 Mục tiêu quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học cuả Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 28
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học cuả Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 29
Trang 51.4.4 Phương pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao
đẳng – Đại học 33
1.4.5 Công cụ quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐ – ĐH 36
1.4.6 Chức năng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 37
1.4.7 Quá trình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 40
1.4.8 Kết quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG TPHCM 45
2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 45
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 49
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 51
2.3.1 Đánh giá về sự quan tâm và nhận thức của Cán bộ quản lý về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên 51
2.3.2 Quan điểm của Cán bộ quản lý về các yếu tố tác động đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên 53
2.3.3 Mức độ quan tâm của nhóm khách thể đối với việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên 56
2.3 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 57
2.4 Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 60
2.4.1 Một số kết quả trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên 60
2.4.2 Theo Quá trình quản lý 63
2.5 Nguyên nhân của những hạn chế 71
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG PHCM 74
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 74
3.1.1 Cơ sở lý luận 74
3.1.2 Cơ sở pháp lý 74
3.1.3 Cơ sở thực tiễn 75
3.2 Những biện pháp đề xuất 76
Trang 63.2.1 Nâng cao nhận thức về sự quan trọng của việc quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 76
3.2.2 Nâng cao năng lực về nghiên cứu khoa học của Giảng viên, chú trọng và khuyến khích các đề tài mang tính ứng dụng cao vào thực tiễn 76
3.2.3 Hoàn thiện về mặt tổ chức và nâng cao vai trò của các bộ phận quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trong trường 77
3.2.4 Hỗ trợ tài liệu, kinh phí, chính sách hỗ trợ, động viên cũng như thời gian cho nghiên cứu khoa học của Giảng viên, xây dựng thêm các phòng thực hành phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học 79
3.2.5 Xây dựng hệ thống đề tài khoa học và tổ chức triển khai các đề tài 80
3.2.6 Tăng cường công tác quản lý hoạt động NCKH của cán bộ, GV 82
3.2.7 Tăng cường công tác ứng dụng và phổ biến các kết quả công trình nghiên cứu khoa học vào thực tiễn 83
3.2.8 Biện pháp khác 83
3.3 Tổ chức nghiên cứu và kiểm nghiệm các biện pháp 84
3.3.1 Tổ chức nghiên cứu 84
3.3.2 Kiểm nghiệm các biện pháp 84
3.4 Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 85
3.4.1 Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 85
3.4.2 Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 86
3.5 Mối tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Tr ung ương TPHCM 88
3.5.1 Đối với đội ngũ Cán bộ quản lý trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM88 3.5.2 Đối với đội ngũ Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 7GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
QLKH&HTQT : Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học vì không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho sự phát triển nhân loại Với tầm quan trọng như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành TW khóa VIII của Đảng Cộng sản có nêu: “Các trường Đại học phải là các trung tâm NCKH, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Trong đó nhấn mạnh quan điểm “Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc;
là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công ngh Chỉ thị 296/CT-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học năm 2010 – 2020 cũng nêu
rõ “Nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, góp phần tích cực nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”
Để tạo nguồn lực cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, Nghị quyết 14/QĐ – CP của Chính phủ ngày 02/11/2005 về việc đổi mới, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã xác định: “Nâng cao rõ rệt qui mô, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học Các trường đại học phải là trung tâm nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước”
Thực tiễn trong các trường CĐ – ĐH hoạt động NCKH là con đường hiệu quả và nhanh nhất để nâng cao trình độ chuyên môn, phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy và giáo dục NCKH là một trong hai tiêu chí chính để đánh giá chất lượng trong nhà trường trong việc nâng cao và đảm bảo chất lượng của quá trình đào tạo Mối quan hệ giữa đào tạo và NCKH là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết có tác dụng tương hỗ, thúc đẩy nhau cùng phát triển
Quyết định số 840/QĐ-CĐSPTW-TCHC, ngày 02 tháng 11 năm 2011 do Hiệu
Trang 9trưởng trường CĐSPTW TPHCM ký ban hành Kế hoạch phát triển trường CĐSPTW TPHCM giai đoạn 2011 – 2015 cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác NCKH, trường CĐSPTW TPHCM xác định là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, là trung tâm NCKH và dịch vụ về giáo dục phát triển trẻ em
Theo những định hướng đó, trường CĐSPTW TPHCM đã và đang chú trọng đến công tác quản lý hoạt động chuyên môn của GV và đặc biệt là hoạt động giảng dạy và NCKH Trong những năm qua, hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM đã đạt được một số thành tựu đáng kể, hoạt động NCKH cũng đã góp phần bồi dưỡng đội ngũ, nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa NCKH với giảng dạy
phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương thông qua các đề tài nghiên cứu triển khai và hoạt động chuyển giao công nghệ Để có nhiều các biện pháp trong quản lý hoạt động NCKH tại trường CĐSPTW TPHCM được áp dụng và khai thác một cách triệt để,
hiệu quả và hợp lý, nên việc nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động NCKH của GV
trường CĐSPTW TPHCM” là rất cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
CĐSPTW TPHCM
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động NCKH của GV
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM
5 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định
Trang 10Ưu điểm: Hàng năm trường vẫn duy trì hoạt động NCKH trong GV
Hạn chế: Số lượng GV tham gia chưa đồng đều, tập trung rất nhiều ở GV trẻ
Nguyên nhân: Nguồn kinh phí cho NCKH của GV còn phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước Quỹ thời gian cho GV vừa giảng dạy và NCKH không đủ Các thủ tục, quy định về NCKH còn rườm rà, nặng hình thức
Nếu xác định được các biện pháp quản lý một cách phù hợp thì sẽ khắc phục được các hạn chế trên, góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý hoạt động NCKH của
GV trường CĐSPTW TPHCM
6.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Hoạt động NCKH luôn vận động và phát triển trong mối quan hệ giữa NCKH và đào tạo, NCKH gắn với thực tiễn giáo dục…
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động NCKH cho GV cũng cần đến các yếu tố
như: các chức năng của quản lý, mục tiêu, nội dung, chương trình kế hoạch giáo dục, phương pháp, phương tiện hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động NCKH của GV
Tất cả các yếu tố trên nằm trong mối quan hệ tác động qua lại theo những qui luật nhất định, chỉ có tác động tổng hợp đến tất cả các yếu tố tạo nên chất lượng và hiệu quả nhất
6.1.2 Quan điểm thực tiễn
Khảo sát thực trạng hoạt động công tác quản lý NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM để phát hiện ra những mâu thuẫn, khó khăn vướng mắc trong thực tiễn giáo dục Trên cơ sở thực tiễn so sánh với lý luận và đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động này Như vậy xuất phát từ quan điểm thực tiễn, luận văn chú
ý các mặt sau đây:
- Phân tích tình hình thực tế của công tác quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM
- Thực trạng quản lý công tác NCKH được khảo sát trên cơ sở các tiêu chí khoa học
có thể đo lường được
- Đề xuất một số biện pháp trong hoạt động thực tiễn của nhà quản lý
Trang 116.1.3 Quan điểm lịch sử – logic
- Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của các biện pháp quản lý hoạt động NCKH tại trường CĐSPTW TPHCM
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 P hương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý thuyết, các văn bản của Đảng; chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ; thông tư, qui chế của Bộ GD&ĐT và các Bộ liên quan; văn bản qui định quản lý hoạt động NCKH nhằm tìm ra cơ sở lý luận để khảo sát và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng hoạt động
6.2.2 P hương pháp thực tiễn
6.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi để điều tra về
nhận thức, cán bộ quản lý và GV trường CĐSPTW TPHCM đánh giá thực trạng quản lý hoạt động NCKH của GV trong trường Từ đó đề xuất các biện pháp cho công tác quản
lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM đạt hiệu quả
Phiếu điều tra có 02 loại
- Phiếu điều tra dành cho CBQL trong trường
- Phiếu điều tra dành cho GV trong trường
6.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Tổ chức phỏng vấn lấy ý kiến các chuyên gia, các
nhà quản lý về những nhận định và đánh giá những biện pháp cụ thể
6.2.3 Phương pháp thống kê
Các dữ liệu thu thập về đánh giá thực trạng NCKH và công tác quản lý hoạt động NCKH của GV cũng như các biện pháp sẽ được thống kê và xử lý theo chương trình SPSS phiên bản 16.0 dùng trong NCKH giáo dục
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động NCKH của giảng viên các khoa, bộ môn trong nhà trường không nghiên cứu đến các đối tượng khác như chuyên viên, nghiên cứu viên…
Công tác quản lý hoạt động NCKH được nghiên cứu trên nhóm khách thể chính có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM Cụ thể là Phó Hiệu trưởng phụ trách NCKH, phòng QLKH&HTQT, Trưởng khoa, Trưởng Bộ môn với tư cách được Hiệu trưởng ủy quyền quản lý hoạt động NCKH của GV
Trang 12cùng với các đơn vị phụ thuộc
Nghiên cứu quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM bao gồm các khâu như: lập kế hoạch, chỉ đạo, theo dõi và kiểm tra công tác NCKH
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO
ĐẲNG – ĐẠI HỌC
viên trường Cao đẳng – Đại học
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Vai trò của nó đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân gian “Một người biết lo bằng cả kho người hay làm” Về sau,
Các Mác đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện
trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” [28, tr.28]; và
ông hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng
Frederick Winslow Taylor (1856 – 1916), với công trình nghiên cứu “Những nguyên
lý quản lý theo khoa học” (Principles of scientific management) năm 1911, ông đã hình thành thuyết Quản lý theo khoa học, mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý ở Mỹ Ông
được coi là “người cha của lý luận quản lý theo khoa học” Ông cho rằng thành công của quản lý không chỉ nhờ những phẩm chất của các nhà quản lý, mà chủ yếu nhờ các nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và những phương pháp mà họ sử dụng Với các nhà quản lý cấp cao phải có khả năng bao quát, còn đối với cấp dưới thì khả năng chuyên môn là quan trọng nhất Tư tưởng quản lý đó phù hợp với hệ thống kinh doanh hiện đại, và từ những nguyên lý đó có thể vận dụng cho việc quản lý các loại tổ chức thuộc lĩnh vực khác nhau
Về tổ chức quản lý hoạt động NCKH, Luật giáo dục Cao đẳng của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trong Chương 1, điều 10 có ghi: “Nhà nước đảm bảo tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác trong các trường cao đẳng theo đúng pháp luật…”, trong đó nêu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia NCKH, coi đây cũng chính là một giải pháp trọng tâm nâng cao chất lượng đào tạo
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) định hình và thúc đẩy đường lối khoa học công nghệ toàn cầu mới vì tương lai nhân loại mong muốn,
Trang 14theo định hướng của Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc về Phát triển bền vững (Rio+20) UNESCO nhấn mạnh, để đạt được phát triển bền vững, Rio+20 đã khẳng định vai trò không thể thay thế của cộng đồng khoa học công nghệ, tầm quan trọng của chuyển giao công nghệ nhằm thu hẹp khoảng cách công nghệ giữa các nước phát triển và đang phát triển, nhu cầu tăng cường giao diện chính sách khoa học, nhu cầu tăng cường khả năng khoa học công nghệ của mỗi nước cũng như nhu cầu tăng cường phối hợp nghiên cứu quốc tế về phát triển bền vững
Ở Úc và New Zealand, có quỹ nghiên cứu khoa học công nghệ (RDC ở Úc và FRST
ở New Zealand) không trực thuộc các Bộ và các cơ quan phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo mà trực tiếp cấp vốn và quản lý vốn cho khoa học công nghệ Ở các nước này đã có những mô hình quản lý khoa học được coi là tiên tiến hàng đầu thế giới, qua mô hình này có thể tìm được phần nào lời giải đáp những vấn đề tốn rất nhiều công sức tranh cãi trong quá trình đổi mới cơ chế, chính sách hoạt động khoa học và công nghệ
Liên bang Nga đã thành lập Trung tâm Đổi mới và Sáng tạo Skolkovo gần Moscow, trong đó có kế hoạch kết hợp khoa học và giáo dục Trung tâm này sẽ hỗ trợ cho việc hình thành các trung tâm giáo dục khoa học nhằm thúc đẩy sự liên kết nghiên cứu và phát triển, các hoạt động giáo dục trong các trường ĐH và viện nghiên cứu Hỗ trợ cả sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy di chuyển nhân lực trong và ngoài nước và tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy năng lực của các nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khoa học cấp cao và các học giả trẻ tuổi qua việc áp dụng các khoản trợ cấp trong
ba năm Khuyến khích sự liên kết giữa các trường đại học và các ngành công nghiệp Tạo điều kiện cho việc hình thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nguồn của các trường đại học bằng cách thúc đẩy cơ sở hạ tầng cho đổi mới (các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp, khu công nghệ, trung tâm kỹ thuật và việc sử dụng chung các thiết bị nghiên cứu và thông tin khoa học và công nghệ) đã được bắt đầu trong năm 2010 thông qua một chương trình tài trợ có tính cạnh tranh [36]
Trường Đại học King Mongkut của Công nghệ Thonburi – Thailand (KMUTT) là một trường đại học nhấn mạnh khoa học và công nghệ, trong đó nghiên cứu được thực hiện hợp tác theo hình thức cụm KMUTT có nhiều chương trình học tập mạnh mẽ như năng lượng và môi trường, công nghệ sinh học và thực phẩm, khoa học vật liệu và kỹ thuật vật liệu bao gồm các chương trình khoa học mới như khoa học sinh học và công nghệ sinh học, Trường đã đầu tư đáng kể trong phát triển nghiên cứu như nghiên cứu cung cấp tài trợ và
Trang 15mua sắm thiết bị hiện đại Mục đích là cho KMUTT để trở thành một trường Đại học nghiên cứu quốc gia mà trội trong nghiên cứu và với sự công nhận quốc tế Đại học phải là một trụ cột hỗ trợ cho người dân Thái Lan và quốc gia mà kết quả nghiên cứu dựa trên công nghệ và khoa học có thể được sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh kinh tế của đất nước, đồng thời giúp phát triển cộng đồng và nâng cao đời sống nhân dân
Ở Mỹ luôn quan tâm đến năng lực đào tạo của GV và nghiên cứu chuyển giao kết quả NCKH được ứng dụng vào thực tiễn, phát triển mạnh mà điển hình là trường Đại học Harvad đã áp dụng phương pháp này và cũng rất quan tâm đến NCKH của GV sau 200 năm thành lập Đến nay hôm nay, Đại học Harvad là một trường nổi tiếng về NCKH trên thế giới, nơi đây họ trao quyền chủ động cho GV và khuyến khích GV cùng SV hợp tác trong NCKH Nhà trường cung cấp trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình NCKH, cùng thư viện đầy đủ thông tin để GV và SV có thể truy cập thông tin quan tâm của tất cả các nước trên thế giới [37]
Trường Đại học Stanford thực hiện mô quản lý hết sức đặc biệt và mô hình này cực kỳ thành công, chất lượng giảng dạy, NCKH không hề bị suy giảm mà còn tốt hơn và một lượng của cải vật chất được tạo ra từ mô hình này đó chính là: phong trào NCKH và thương mại hóa công nghệ Chính sách quản lý GV trong NCKH của họ rất thông thoáng về thời gian, cơ sở vật chất trong trường đều phục vụ cho GV NCKH ở mức tốt nhất Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ chỗ ở cũng được các nhà quản lý tại trường Đại học Stanford quan tâm đặc biệt, các cư xá, biệt thự đầy đủ tiện nghi hỗ trợ cho các nhà khoa học hàng đầu trong trường, đây cũng là yếu tốt tác động hàng ngày đến việc NCKH của sinh viên và nghiên cứu viên trong trường [35]
Các trường CĐ – ĐH ở Nhật đã thành lập Quỹ Khoa học, Quỹ này sẽ quản lý các mặt liên quan tới NCKH như: kinh phí, tiến độ… tất cả đều được công khai trên mạng qua một hệ thống điều hành riêng biệt Ưu điểm của phương pháp này là các vấn đề NCKH đều được quản lý rất công khai và minh bạch
Thành công về lĩnh vực NCKH ở các trường CĐ – ĐH tại Hàn quốc tạo ra các nhóm NCKH do những Giáo sư hàng đầu trong một lĩnh vực đứng đầu nhóm Họ quản lý nhóm của mình thông qua internet, hoạt động trên mạng xã hội ReseachGate.net với 2,4 triệu thành viên tham gia cộng tác NCKH, mạng này được ví như facebook của giới khoa học Các trường CĐ – ĐH trao quyền tự chủ cho trưởng nhóm, họ chính là đầu mối để liên hệ các nhà sản xuất trong việc đưa sản phẩm khoa học vào ứng dụng thực tiễn Cơ chế này đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học quyền chủ động NCKH
Trang 16Nhìn chung, xu thế NCKH của các trường CĐ – ĐH trên thế giới là nghiên cứu gắn liền với nhu cầu thực tiễn Đi theo hướng này, cùng với sự nổi lên của nghiên cứu ứng dụng, vai trò của nghiên cứu cơ bản ngày càng trở nên quan trọng; nghiên cứu cơ bản hoàn toàn
có thể gắn với sản xuất và mang lại ý nghĩa thực tiễn rất cao Từ tăng cường liên kết giữa các ngành khoa học, việc thâm nhập của giới kinh doanh vào hoạt động nghiên cứu đã có tác động phá vỡ ranh giới thông thường vốn được tạo dựng trong môi trường nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đa ngành không còn hạn chế ở khoa học tự nhiên mà đã mở rộng ra giữa khoa học tự nhiên với khoa học công nghệ để cùng giải quyết những vấn đề của sản xuất và làm nổi bật mối quan hệ liên kết của cả khoa học tự nhiên với khoa học công nghệ và khoa học xã hội Có lẽ đây vừa là định hướng, vừa là điều kiện để bảo đảm sự gắn kết bền vững giữa NCKH và sản xuất
Hiện nay ở Việt Nam, việc xây dựng đội ngũ GV và CBQL các trường CĐ – ĐH đang là một mục tiêu ưu tiên của ngành Giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu về nhân lực chất lượng cao và hội nhập quốc tế, phấn đấu đến năm
2020 đào tạo được 20.000 tiến sĩ, và từ nay đến năm 2015 “đào tạo được 1000 GV đạt chuẩn khu vực và quốc tế, 100% số GV giảng dạy lý thuyết trong các chương trình tiên tiến đạt trình độ tiến sĩ” Vậy, để thực hiện mục tiêu này các trường CĐ – ĐH sẽ làm gì, sự trẻ hóa đội ngũ GV sẽ tạo động lực, đòn bẩy trong các hoạt động NCKH, sự nhiệt tình cộng thêm niềm say mê nghiên cứu của sức trẻ sẽ có sức mạnh lan tỏa đến toàn thể đội ngũ GV trong các trường CĐ – ĐH Chính vì vậy, các trường CĐ – ĐH học tập trung đẩy mạnh công tác NCKH phục vụ cho đào tạo, NCKH đã trở thành một trong hai trọng tâm chính của nhà trường
Đã có rất nhiều các công trình NCKH các cấp tập trung vào vấn đề làm sao phát triển NCKH trong GV, để gắn kết việc nghiên cứu với hoạt động giảng dạy, khả năng ứng dụng vào thực tiễn cao Trong đó có những công trình nghiên cứu gắn với công tác quản lý hoạt động khoa học của GV cũng như của sinh viên ở các trường CĐ – ĐH Và thông qua đó đề xuất các biện pháp để giải quyết những bất cập trong việc tổ chức NCKH nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động NCKH
Một số các đề tài các cấp nghiên cứu về mảng quản lý hoạt động NCKH trong trường
CĐ – ĐH đã được công bố như sau:
Trang 17+ Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Đại học Văn hóa TPHCM” của tác giả Trần Hồ Thảo (2006) được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TPHCM Luận văn đã đưa ra được các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKH trong nhà trường [32]
+ Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Công tác quản lý hoạt động và nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Quốc gia TPHCM” của tác giả Đinh Ái Linh (2006) được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TPHCM Luận văn đã đưa ra được các biện pháp nâng cao hiệu quả việc quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu trong sinh viên và quản lý hoạt động NCKH [27]
+ Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (2007) được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TPHCM Luận văn đã đưa
ra được các nhóm giải pháp về quản lý hoạt động giảng dạy cũng như quản lý NCKH [29]
+ Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Quản lý hoạt động Nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Sư phạm TPHCM” của tác giả Nguyễn Vĩnh Khương (2012) được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm TPHCM Luận văn đã đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH của GV trường Đại học Sư phạm TPHCM [24]
+ Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục “Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Vân Anh được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên Luận văn đã đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên [1]
Bên cạnh đó, còn một số bài báo viết về vấn đề NCKH của GV như sau:
+ Tác giả Đỗ Thu Hằng với bài viết “Một vài suy nghĩ về hoạt động NCKH của GV Khoa Lý luận Mác – Lên nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, đăng trên website trường Chính trị
Yên Bái [18]
+ ThS Hoàng Hoa Quế với bài viết “Hoạt động nghiên cứu khoa học trong học
sinh, sinh viên”, đăng trên website trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Nghệ An [30]
+ TS Nguyễn Văn Vân với bài viết “Mấy suy nghĩ về nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh”, đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp luật số
01/2003 [33]
Trang 18+ Tác giả Phạm Duy Hiển với bài dịch trên Tạp chí Higher Education Vol.60, No 4,
2010 “So sánh năng lực nghiên cứu của 11 nước Đông Nam Á dựa trên các công bố quốc tế
và bài học rút ra cho Việt Nam, đăng trên website Trường Đại học Trà Vinh tháng 09/2011 [20]
+ Tác giả Lê Thị Hoài Châu với bài viết “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học: Một biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo” đăng trên Tạp chí Trường Cao đẳng Văn hóa
Nghệ thuật Du lịch Sài Gòn năm 2013 [12]
Nhìn chung, khoa học – công nghệ ở Việt Nam đã được Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ làm công tác khoa học cũng như thay đổi rất mạnh về phương pháp quản lý đơn giản, hợp lý nhằm hỗ trợ tối đa cho NCKH của GV trong các trường CĐ – ĐH được thuận lợi để phát triển mạnh mẽ Xu hướng chung về quản lý hoạt động NCKH của các trường CĐ – ĐH hiện nay là giao quyền chủ động cho đội ngũ quản lý cấp trường để chỉ đạo, phối với với đơn vị quản lý NCKH trong trường nhằm hỗ trợ cho GV NCKH và khuyến khích các đề tài phục vụ cho quá trình đào tạo Nguồn kinh phí cho các
đề tài NCKH đến từ nhiều nơi không nhất thiết từ Sở Khoa học – Công nghệ, hình thức đấu thầu đã được Bộ GD&ĐT áp dụng trong những năm gần đây đã thu hoạch được những thành công trong việc đổi mới phương pháp quản lý, công khai và minh bạch Đây cũng chính bước đột phá trong cách quản lý và tạo một sân chơi có sự cạnh tranh lành mạnh trong NCKH, qua đó sẽ khám phá ra các khả năng, các đề tài khoa học có tính khoa học và khả năng ứng dụng cao…
C ao đẳng – Đại học
1.2.1.1 N ghiên cứu khoa học
Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển khách quan của sự tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển cơ sở thực tiễn xã hội
Hay khoa học là một loại hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình con người nhận thức và cải tạo tự nhiên, phát triển xã hội và tự hoàn thiện chính bản thân con người
Như vậy, khoa học là tập hợp những tri thức đã được nghiên cứu, được tích lũy, hệ
Trang 19thống hóa về quy luật tự nhiên và tư duy Khoa học còn là tập hợp các phương pháp, phương tiện và lực lượng được ứng dụng vào các quá trình nghiên cứu nhằm đạt được những kết quả thực tiễn, với tư cách là hệ thống tri thức khoa học là một phần văn hóa nhân loại
NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội và để sáng tạo phương pháp
và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
Theo Hà Thế Ngữ cho rằng "Nghiên cứu khoa học là một quá trình nghiên cứu hiện thực khách quan, phát hiện ra những hiểu biết mới mang tính qui luật, có chân lý hoặc tìm
ra được những qui luật mới, chân lý mới trong hiện thực đó” [31]
“Đề tài NCKH là một vấn đề khoa học được xây dựng trên cơ sở phát hiện các mâu thuẫn trong lý thuyết hoặc trong thực tiễn, với kiến thức và kinh nghiệm đã có không thể giải thích được” [34, tr.180]
Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội thì hoạt động phát hiện tìm hiểu các hiện tượng sự vật, qui luật tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn NCKH gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng
Như vậy, trên cơ sở những quan niệm của các tác giả nói trên về NCKH, chúng tôi chọn quan niệm NCKH của Hà Thế Ngữ làm trọng tâm của đề tài này
1.2.2.1 Hoạt động NCKH
Mục tiêu của hoạt động NCKH nhằm xây dựng nền khoa học tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân… Xây dựng
và phát huy năng lực nội sinh về khoa học, kết hợp với sự tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ thế giới, phù hợp với thực tiễn nước nhà Bảo đảm sự phát triển ổn định, liên tục cho nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học, nhất là một số lĩnh vực
Trang 20khoa học đặc thù của Việt Nam Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, nhanh chóng đưa thành quả nghiên cứu vào thực tiễn cuộc sống góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Hoạt động NCKH của GV trường CĐ – ĐH chuyên ngành cũng nằm trong sự chỉ đạo chung của Đảng và Nhà nước Bên cạnh việc tuân thủ các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Chính phủ, các trường CĐ – ĐH còn có nhiệm vụ lớn là tùy theo yêu cầu của ngành mà có trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực cho ngành cũng như đầu tư NCKH phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển của ngành
Tùy theo yêu cầu cụ thể của từng thời kỳ, từng giai đoạn mà các trường CĐ –ĐH cần xây dựng phương hướng, chiến lược nhằm hoàn thành nhiệm vụ và sứ mạng trong lĩnh vực
mà Đảng, Nhà nước và ngành giao phó
Không chỉ các trường ĐH trên thế giới mà hiện nay ở Việt Nam các trường CĐ – ĐH xem NCKH là sức sống của nhà trường Bởi lẽ, mục đích của NCKH là nâng cao trình độ giảng dạy trong mỗi GV Qua NCKH, mỗi GV đều nhanh chóng tiếp cận được những kiến thức mới về khoa học công nghệ, làm quen với việc tổ chức thực hiện các đề tài khoa học có
cơ hội được vận dụng các kiến thức được trang bị để giải quyết các vấn đề cụ thể đặt ra từ
khoa học và thực tiễn
Hoạt động NCKH là con đường ngắn và hiệu quả nhất để nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng sư phạm của GV, qua hoạt động NCKH mới có khả năng đưa các kết quả NCKH ứng dụng vào thực tiễn, vào giảng dạy Ngày nay, khi đánh giá chất lượng của một trường CĐ – ĐH thì NCKH trở thành một tiêu chí không thể thiếu trong bộ đánh giá tiêu chuẩn, đó cũng chính là thước đo của nhà trường trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng trong quá trình đào tạo, ảnh hưởng trực tiếp đến đầu ra phục vụ cho xã hội
Ở các nước phát triển, trường CĐ – ĐH không chỉ là nơi học tập mà còn là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động NCKH, thành công của hoạt động NCKH không chỉ phục vụ cho nhà trường trong đào tạo mà còn là nơi thu hút được rất nhiều nhà sản xuất đặt
hàng các công trình NCKH có tính thực tiễn cao Phải nói rằng, hoạt động NCKH của GV trở thành một hoạt động không thể thiếu trong nhà trường nhất là đối với bậc CĐ – ĐH
1.2.2.2 Hoạt động NCKH của GV trường CĐ – ĐH
Mục đích NCKH của GV các trường CĐ – ĐH là phục vụ cho công tác đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho GV trong các trường CĐ – ĐH, thúc đẩy nhanh quá trình ứng dụng kết quả NCKH vào quá trình giảng dạy góp phần tạo ra sản phẩm phát triển một
Trang 21cách toàn diện, phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước
Các trường CĐ – ĐH phải là cái lôi của NCKH, nâng cao trình độ chuyên môn của
GV, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội Bất cứ một trường CĐ – ĐH nào không có NCKH thì đó chỉ là một trường phổ thông cấp 4 Nhiệm vụ NCKH của GV được xác định một cách
rõ ràng như sau:
- Nghiên cứu chương trình, phương pháp đào tạo, giáo trình các trường CĐ – ĐH
- Nghiên cứu hệ thống tổ chức, quản lý các trường sư phạm, đào tạo giáo viên ở các nước trong khu vực để rút kinh nghiệm và có thể ứng dụng vào Việt Nam
- Nghiên cứu các vấn đề kinh tế – xã hội đang đòi hỏi và đặt ra cho NCKH cần phải giải quyết để nâng cao chất lượng của sinh viên khi ra trường
Hoạt động NCKH của GV các CĐ – ĐH là quá trình mà GV phải trực tiếp tham gia vào các hình thức, nội dung NCKH, hoạt động này chịu sự chỉ đạo của các đơn vị chức năng nhằm tạo ra sản phẩm có khả năng ứng dụng thực tiễn cao tránh chỉ đơn thuần mang tính lý luận
Qua NCKH thì GV các trường CĐ – ĐH tiếp cận với các nền khoa học của các nước tiên tiến, cập nhật thông tin và cộng thêm là khả năng chuyên môn, niềm đam mê tìm tòi cái mới nhằm phục vụ cho công tác quản lý và làm phong phú thêm bài giảng của mình Chính
vì vậy, hoạt động NCKH cần phải huy động được đông đảo GV tham gia tránh tình trạng độc tôn của một số người trong trường Khi có đội ngũ GV tham gia với số lượng đông thì mới huy động được nội lực của nhiều ngành, lĩnh vực nghiên cứu nhằm đa dạng hóa đề tài cũng như các hình thức nghiên cứu để có được kết quả tốt hơn Nhưng bên cạnh đó, các trường CĐ – ĐH cũng phải làm tốt khâu quản lý khi hoạt động NCKH có tính qui mô và bền vững Từ các khâu như xây dựng kế hoạch, tổ chức chọn đề tài, ký hợp đồng… đến nghiệm thu và ứng dụng thì các hoạt động đó cũng phải gắn chặt với định hướng khoa học – công nghệ của nhà trường được xác định từ đầu năm học tại các trường CĐ – ĐH
Trên thực tế, hiện nay tại các trường CĐ – ĐH ở nước ta nhìn chung thì hoạt động NCKH chưa được sự hưởng ứng rộng rãi đến toàn thể GV trong trường, nó còn chịu rất nhiều sự tác động đến hoạt động NCKH của GV như: niềm đam mê đối với nghiên cứu, khả năng nghiên cứu của một cá nhân, các chính sách, chế độ hỗ trợ người NCKH, thủ tục hành chính có quá rườm rà hay không…
- Trong mỗi môi trường dù đó là kinh doanh hay trong ngành giáo dục cũng rất cần đến nhân tố hạt nhân, nó vừa có khả năng kết nối mọi người vào cũng một quan điểm, cùng
Trang 22một định hướng Chính vì vậy dưới các cấp quản lý cấp thấp hơn như Khoa, Tổ Bộ môn cũng rất cần đến những GV giàu kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn và khả năng nghiên cứu cao, những GV này sẽ hướng dẫn cho GV trẻ, niềm say mê khoa học sẽ lan tỏa đến các thế hệ GV sau
- Trang thiết bị và nguồn thông tin tư liệu hỗ trợ cho GV trong quá trình NCKH thật
sự rất cần thiết Nếu không có nguồn thông tin được cập nhật thường xuyên ở trong nước và quốc tế thì công trình NCKH có khả năng rơi vào lạc hậu và tính ứng dụng vào thực tiễn không cao Chính vì vậy, để thuận lợi cho công tác NCKH của GV đạt được thành công cao thì phải chú trọng đến công tác cập nhật thông tin tại Thư viện trong trường và phải có kế hoạch khai thác thật hiệu quả
Không ít một số trường CĐ – ĐH hiện nay chỉ chú tâm vào số lượng đề tài NCKH của GV, mang nặng tính hình thức đạt chỉ tiêu hàng năm do Ban Giám hiệu đề ra trong Kế hoạch Khoa học – Công nghệ mà không quan tâm đến làm sao để thẩm định được kết quả NCKH và đưa kết quả đó vào ứng dụng trong thực tiễn Vì vậy, mối quan hệ giữa nhà trường và các lực lượng xã hội có liên quan trong việc sử dụng kết quả đề tài phải được thiết lập chặt chẽ, vì điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động NCKH của GV trong các trường CĐ – ĐH
Trong những năm gần đây, xã hội đang quan tâm rất nhiều đến chất lượng NCKH, với mong muốn trường CĐ – ĐH sẽ là “cái lôi” tạo ra nhiều sản phẩm NCKH có tính ứng dụng cao góp phần vào công tác đào tạo và bồi dưỡng GV Chất lượng NCKH được hiểu
là giá trị của các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, đáp ứng được mục tiêu giá trị về mặt khoa học và thực tiễn và có thể đưa vào ứng dụng, khai thác Chính vì vậy, với mục tiêu chất lượng NCKH như vậy thì đòi hỏi các nhà quản lý phải có những giải pháp mang tính dài hạn nhằm tác động một cách đồng bộ mới thúc đẩy hoạt động NCKH có GV phát triển cả về chất và về lượng
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động khoa học – công nghệ nhất là NCKH của GV trong các trường CĐ – ĐH Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về khoa học – công nghệ đã khẳng định vai trò nền tảng và động lực của khoa học – công nghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết đã chỉ rõ “Các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống” và “đảm bảo kết hợp giữa viện nghiên cứu và trường đại học, gắn nghiên cứu – triển khai với sản xuất kinh
Trang 23doanh” [6, tr.10] Và quán triệt tinh thần này thì cũng trong một đợt làm việc với Hội đồng Giáo dục Quốc gia, Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh một lần nữa vai trò và tầm quan trọng của NCKH trong các trường CĐ – ĐH rằng “cùng với chức năng đào tạo, các trường CĐ – ĐH phải là những trung tâm nghiên cứu khoa học” (Báo Sài gòn giải phóng ra ngày 21/05/2005)
1.3 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học và sự cần thiết phải tăng cường quá trình quản lý và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng IX về khoa học – công nghệ đã đề ra mục tiêu rằng: “Giải pháp kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng; đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân; chú trọng chuyển giao kỹ thuật tiến bộ và thành tựu khoa học và công nghệ cho nông thôn,vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; xây dựng và phát triển có trọng điểm một số hướng công nghệ cao và một số ngành công nghiệp công nghệ cao; đổi mới tổ chức và cơ chế quản
lý, nâng cao trình độ quản lý khoa học – công nghệ, tạo động lực phát huy mạnh mẽ năng lực nội sinh, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động khoa học – công nghệ; phát triển thị trường khoa học – công nghệ” [6, tr.26]
Quan điểm của chủ đạo của Đảng ta về giáo dục luôn coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục
vụ cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Tất cả các bậc học, các loại hình đào tạo đều trực tiếp hoặc gián tiếp giải quyết ba mục tiêu trên Cụ thể: nâng cao dân trí là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục phổ thông, đào tào nguồn nhân lực là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học Bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ chung của toàn
xã hội, của mọi cấp giáo dục Trong khi thực hiện nhiệm vụ thứ hai – đào tạo nhân lực, bậc giáo dục chuyên nghiệp chỉ trang bị một phần tri thức, lý luận của một ngành nghề đào tạo ở một mức độ nhất định, chủ yếu là giáo dục kỹ năng, kỹ xảo thực hành nghề Còn bậc giáo dục đại học và sau đại học hướng đến trang bị cho sinh viên, học viên tri thức, lý luận, kỹ năng cao, chuyên sâu về các lĩnh vực kinh tế - xã hội Những người tốt nghiệp bậc đại học
Trang 24và sau đại học được coi là các chuyên gia, là những người có trình độ cao về khoa học – kỹ thuật và công nghệ, có kỹ năng mềm để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội Hơn thế nữa, các trường CĐ – ĐH là nơi tập trung đông đảo các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành và các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và NCKH Các trường
CĐ – ĐH cùng các Viện, các Trung tâm Nghiên cứu lập thành một hệ thống khoa học – kỹ thuật và công nghệ của một quốc gia Do vậy, khoa học – công nghệ là một bộ phận quan trọng đối với sự phát triển khoa học – kỹ thuật và công nghệ của mỗi quốc gia Thông qua
hệ thống giáo dục ĐH, người ta có thể thấy hướng đi và trình độ phát triển về khoa học – kỹ
thuật và công nghệ của quốc gia đó, giáo dục đại học phải có nhiệm vụ đáp ứng kịp thời, đầy đủ mọi yêu cầu về khoa học – kỹ thuật và công nghệ do thực tiễn đời sống xã hội đặt ra
Từ đó, vai trò của NCKH đối với sự phát triển kinh tế – xã hội nói riêng và sự phát triển mạnh mẽ của quốc gia nói chung có ý nghĩa vô cùng to lớn Điều đó được thể hiện qua những yếu tố sau:
- NCKH có vai trò thúc đẩy quá trình đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về khoa học – kỹ thuật và công nghệ
- NCKH là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nền khoa học – kỹ thuật và công nghệ và nguồn nhân lực có chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Cùng các Viện, các Trung tâm NCKH, các trường CĐ – ĐH là những đơn vị chuyển giao khoa học – kỹ thuật và công nghệ, đưa khoa học và thực tiễn cuộc sống, đồng thời gắn chặt giáo dục và xã hội
Đào tạo và NCKH là hai nhiệm vụ cơ bản, quan trọng nhất trong công tác chuyên môn của một trường CĐ – ĐH và GV Hai hoạt động này gắn bó chặt chẽ với nhau, có mối quan
hệ biện chứng với nhau và là điều kiện tồn tại của nhau, muốn hoàn thành được nhiệm vụ giảng dạy tốt thì phải không ngừng NCKH và ngược lại, NCKH là để phục vụ cho công tác giảng dạy, nâng cao chất lượng bài giảng Đối với trường CĐ – ĐH sẽ không thể có chất lượng cao trong đào tạo nếu không tăng cường hoạt động NCKH
NCKH là một đòi hỏi khách quan của quá trình đào tạo bậc CĐ – ĐH Bởi vì, NCKH trước hết là phương thức tự đào tạo của GV, tự tạo ra tiềm lực để nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng giảng dạy, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên Tri thức của
GV nếu không được cập nhật thường xuyên thì không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình trong quá trình đào tạo, sản phẩm đào tạo sẽ trở nên lạc hậu so với sự phát triển không
Trang 25ngừng của xã hội NCKH chính là một trong những biện pháp để cập nhật tri thức, GV với
tư cách là người có trình độ học vấn cao, có khả năng và phương pháp NCKH phải tích cực tham gia nghiên cứu trước hết là phục vụ cho công tác giảng dạy và tiến tới là phục vụ cho cuộc sống xã hội Thực tiễn luôn đặt ra cho khoa học những vấn đề cần nghiên cứu để thúc đẩy quá trình nghiên cứu chung, đồng thời cũng là nơi thử thách, kiểm nghiệm và chứng minh những thành quả NCKH cho nên công tác đưa kết quả NCKH đến với thực tiễn cũng
là thách thức không nhỏ đối với các nhà quản lý nói chung Công việc giảng dạy có thể thực
sự hấp dẫn và hứng thú nếu mỗi GV đều thấy có sự sáng tạo trong lao động của mình NCKH là con đường sáng tạo của GV và có cơ hội để áp dụng những thành quả tiên tiến do NCKH mang lại Tham gia NCKH còn góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy của GV qua cách cấu trúc lại nội dung bài giảng hợp lý và hiệu quả hơn, qua những bài báo, bài nghiên cứu công bố với các đồng nghiệp trong và ngoài ngành tại các buổi hội thảo, tọa đàm nhằm trao đổi kinh nghiệm, thông tin… Với những công trình khoa học, GV tự khẳng định mình trước sinh viên, với xã hội và chính với bản thân tăng thêm uy tín của người hướng dẫn, định hướng trong học tập của sinh viên
Nhìn ra nước ngoài, để chứng minh cho tầm quan trọng của hoạt động NCKH đối với
GV CĐ – ĐH, Trần Kiến Hùng, trong bài viết trên tạp chí Dạy và học ngày nay (07/2005)
có đưa ra một ví dụ “Ở trên trường đại học Stanford có một giáo sư giảng dạy năm năm liền được sinh viên bình chọn là nhà giáo ưu tú nhưng rồi không bao lâu sau vị giáo sư này bị nhà trường buộc thôi việc, vì suốt năm năm liền ông không có được một công trình NCKH” Như vậy, ở những trường đại học lớn trên thế giới, bên cạnh tri thức, khả năng sư phạm… NCKH là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực của GV CĐ – ĐH [21]
nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học
Trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn đất nước đang trên đường trở thành một nước công nghệ hóa, hiện đại hóa và cố gắng hội nhập với thế giới, hoạt động NCKH nói chung, hoạt động NCKH của GV trường CĐ – ĐH nói riêng vô cùng quan trọng Tầm quan trọng của việc tăng cường quá trình quản lý và nâng cao chất lượng NCKH xuất phát từ:
Vai trò của khoa học – kỹ thuật: Trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế, với đường
lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế hiện nay, Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc tiếp thu tri thức khoa học, công nghệ, các nguồn lực và kinh nghiệm tổ chức quản lý
Trang 26của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm nhanh chóng tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia của nước nhà đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tận dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nước ta có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, muốn xã hội phát triển thì hoạt động khoa học và công nghệ không thể tách rời, với tiềm năng trí tuệ dồi dào, nếu
có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đúng đắn và chính sách phát triển khoa học hợp lý, khoa học, Việt Nam có thể vững bước đi trên con đường hội nhập kinh tế – xã hội – văn hóa với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới
Vai trò và ưu thế của giáo dục đại học đối với việc phát triển khoa học kỹ thuật
và công nghệ: Qui mô giáo dục đại học hiện nay đang được mở rộng, phục vụ cho tất cả
những người cũng có nhu cầu học, Bộ GD&ĐT đã cho mở rất nhiều các mô hình trường CĐ – ĐH nhằm mục đích tạo thuận lợi cho người học được học theo đúng nguyện vọng Nhưng qui mô càng rộng thì đương nhiên sẽ lại gặp một bất cập là chất lượng giáo dục ở nước ta hiện nay còn thấp hơn so với chuẩn mực khu vực và quốc tế, trong khi hội nhập và cảnh tranh toàn cầu thì phải đòi hỏi có nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho yêu cầu hội nhập đó Đây cũng chính là mâu thuẫn, là một vấn đề cấp bách của xã hội đặt ra yêu cầu ngành Giáo dục nói chung và các trường CĐ – ĐH nói riêng phải tìm ra câu trả lời và có những giải pháp tháo gỡ
Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội tổng hợp và phát triển đất nước một cách bền vững trước tiên cần phải tạo sự gắn kết giữa NCKH với giáo dục đào tạo trong các trường CĐ –
ĐH Nâng cao chất lượng đào tạo đồng nghĩa phải nâng cao hiệu quả của hoạt động NCKH, chính kết quả NCKH sẽ phục vụ cho quá trình đào tạo, chất lượng của một cơ sở giáo dục
trường Cao đẳng – Đại học
đẳng – Đại học
1.4 1.1 Phó Hiệu trưởng phụ trách nghiên cứu khoa học
Trong trường CĐ – ĐH, quản lý hoạt động NCKH của GV là quá trình chủ thể quản lý là Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác NCKH bao gồm của cả GV và SV tác động đến đối tượng bị quản lý là GV một cách có tổ chức, có định hướng rõ ràng theo một mục
Trang 27tiêu đã xác định của Trường nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của GV cũng như góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Đây chính là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động NCKH tới các cấp, các cá nhân nhằm duy trì và đảm bảo hiệu quả, chất lượng của hoạt động NCKH
Lập kế hoạch NCKH của GV là hoạt động của chủ thể quản lý, chủ thể quản lý căn
cứ vào mục tiêu, kế hoạch hoạt động NCKH của Bộ chủ quản và nhà trường để xác định rõ mục tiêu, yêu cầu và nội dung NCKH Xác định đối tượng thực hiện, tiêu chuẩn được tham gia, các hoạt động hỗ trợ, nguồn lực cho công tác NCKH của GV Một số nội dung quan trọng khi xây dựng kế hoạch NCKH của GV như sau:
- Xác định mục tiêu, yêu cầu NCKH: Căn cứ vào chiến lược Khoa học và công nghệ của Bộ, Ngành và điều kiện thực tế của nhà trường, năng lực nghiên cứu của GV tại trường và nhu cầu thực tiễn đặt ra nhiều câu hỏi để giải quyết các mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn… cũng như các yêu cầu, nhiệm vụ của cấp trên đề ra
- Xác định nội dung NCKH: Nội dung NCKH được xác định dựa trên những đòi hỏi cấp bách từ thực tế, yêu cầu của công tác quản lý giáo dục và công tác giảng dạy của GV Căn cứ vào định hướng của Bộ chủ quản cũng như kế hoạch chiến lược của nhà trường về khoa học và công nghệ để định hướng và triển khai nghiên cứu đến toàn thể GV về hoạt động NCKH
- Xác định thời gian đảm bảo tiến độ và kế hoạch chung của Bộ GD&ĐT và kế hoạch chi tiết của nhà trường
- Xác định các hoạt động hỗ trợ công tác NCKH của GV như nâng cao trình độ chuyên môn qua các buổi hội thảo khoa học và tập huấn cùng chuyên gia trong và ngoài nước
- Huy động nhiều ý kiến đóng góp từ GV về việc xây dựng hoạt động kế hoạch NCKH vì chính GV là trọng tâm của công tác này Qua quá trình giảng dạy GV sẽ xác định được chính xác nội dung cần thiết để nghiên cứu và tính khả thi khi áp dụng vào thực tiễn sẽ thành công và đạt hiệu quả cao hơn
Tổ chức thực hiện kế hoạch NCKH của GV là việc chủ thể quản lý phân công
trách nhiệm và nhiệm vụ cho từng bộ phận, cá nhân cụ thể, định rõ mối quan hệ phối hợp giữa các phòng, ban, trung tâm… nhằm đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch hoạt động NCKH, công tác tổ chức thực hiện được tiến hành đúng tiến độ Công tác tổ chức thực hiện NKCH của GV bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Trang 28- Tuyển chọn đề tài: Chủ thể quản lý tổ chức xét chọn đề tài khách quan đảm bảo đúng định hướng khoa học – công nghệ của nhà trường, của ngành và của thực tế phù hợp với thực tiễn công tác
- Tổ chức phê duyệt đề cương: GV bảo vệ đề cương của mình trước HĐKH của nhà trường
- Sau khi đề cương được duyệt, GV tiến hành dự trù kinh phí đề BGH phê duyệt Chủ thể quản lý lập danh mục đề tài đề ký hợp đồng cấp kinh phí
- Chủ thể quản lý thành lập HĐ thẩm định, nghiệm thu đề tài NCKH của GV, phân công trách nhiệm tới các đơn vị liên quan nhằm đảm bảo tổ chức hoạt động NCKH của GV thực hiện đúng tiến độ, quy định
- Đảm bảo tiến độ NCKH của GV là một hoạt động quan trọng nhằm duy trì và phát hiện ra những khó khăn của GV để chủ thể quản lý có thể hỗ trợ kịp thời những khó khăn trong quá trình nghiên cứu nảy sinh
- Chủ thể quản lý có kế hoạch triển khai các kết quả NCKH vào quá trình đào tạo của nhà trường nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo Công tác lưu trữ tốt sẽ giúp cho cơ
sở đào tạo có nguồn thông tin – tư liệu phong phú phục vụ cho quá trình tự nghiên cứu của
GV và sinh viên
Chỉ đạo hoạt động NCKH của GV là hoạt động điều hành, chỉ đạo cụ thể của chủ
thể quản lý nhằm làm cho công tác tổ chức được hoạt động trôi chảy và khắc phục những khó khăn phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch NCKH của GV
Một số nội dung của công tác chỉ đạo hoạt động NCKH của GV như sau: Lập kế hoạch NCKH chung cho toàn trường Kiểm tra, đôn đốc đảm bảo đúng tiến độ NCKH của
GV Tăng cường kinh phí và các nguồn lực phục vụ cho công tác NCKH Xây dựng môi trường tập thể tích cực, tạo thuận lợi cho công tác NCKH Xây dựng các chế độ, chính sách
hỗ trợ và động viên GV tham gia hoạt động NCKH Tổ chức bồi dưỡng cho GV nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng NCKH, phối hợp với các đơn vị địa phương hỗ trợ trong công tác NCKH Trong công tác chỉ đạo hoạt động NCKH của GV có một số yêu cầu sau:
- NCKH là một hoạt động không thể tách rời trong quá trình giảng dạy của mỗi GV
Vì vậy, chủ thể quản lý phải tổ chức tốt công tác chỉ đạo để mỗi GV thấy được NCKH mang lại lợi ích thiết thực nhất cho quá trình đào tạo và chỉ có NCKH thì mới làm tăng chất lượng đào tạo mà thôi
- Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động NCKH, chủ thể quản lý cần phải nhận được
Trang 29sự đồng thuận của toàn thể GV ủng hộ cho hoạt động NCKH của toàn trường Vì vậy, mỗi chủ trương, chính sách phải được xử lý hiệu quả dựa trên tinh thần góp ý chung của tập thể
Kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH của GV là việc làm của chủ thể quản lý
thông qua các qui định về tiêu chí đo lường kết quả thực hiện hoạt động NCKH của GV so với kế hoạch đề ra
Mục đích của quá trình này là đảm bảo hoạt động NCKH của GV được thực hiện nghiêm túc, tạo thành nề nếp NCKH trong mỗi GV Xây dựng các tiêu chí kiểm tra để đảm bảo tính công bằng trong hoạt động NCKH của GV
Trong quá trình kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH của GV có một số yêu cầu sau: Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nghiêm túc tránh hiện tượng làm cho có hình thức không hiệu quả Quá trình kiểm tra phải luôn đi kèm với công tác đôn đốc, nhắc nhở tránh hiện tượng cứng nhắc trong quá trình đánh giá Quá trình này phải được tuân thủ đúng mục tiêu: công bằng – dân chủ và công khai, có biện pháp ngăn chặn kịp thời đối với những trường hợp sai phạm cũng như có kế hoạch khen thưởng đối với GV có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH
1.4.1.2 Tr ưởng khoa
Chủ thể quản lý ở cấp Khoa, người chịu trách nhiệm cao nhất chính là Trưởng khoa Trưởng Khoa sẽ căn cứ vào kế hoạch hoạt động NCKH của GV hàng năm triển khai đến
GV trong Khoa để đăng ký tham gia NCKH
Lập kế hoạch NCKH của GV là hoạt động của chủ thể quản lý căn cứ vào kế hoạch
NCKH chung của trường, Trưởng khoa lập kế hoạch cho từng giai đoạn cụ thể cho GV
Tổ chức thực hiện kế hoạch NCKH của GV là việc chủ thể quản lý phân công
trách nhiệm và nhiệm vụ GV nhằm đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch hoạt động NCKH của trường Lập danh sách và tư vấn cho GV về danh mục tên đề tài NCKH và trình lên cấp quản lý cao hơn
Chỉ đạo hoạt động NCKH của GV là hoạt động điều hành, hỗ trợ và chỉ đạo công
tác tổ chức hoạt động NCKH của GV nhằm phối hợp cùng các đơn vị khắc phục những khó khăn trong quá trình NCKH của GV Hỗ trợ về thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho GV khi NCKH
Kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH của GV là việc làm của chủ thể quản lý phối
hợp, tư vấn với cấp trên về tiêu chí đo lường kết quả thực hiện hoạt động NCKH của GV
1.4.1.3 T ổ trưởng Bộ môn
Tổ trưởng Bộ môn căn cứ vào kế hoạch hoạt động NCKH của Trưởng khoa triển
Trang 30khai cho GV trong Tộ Bộ môn, các hoạt động đúng theo chủ trương, kế hoạch của nhà trường qui định
1.4 1.4 Phòng Quản lý Khoa học
Phòng Quản lý Khoa học là đơn vị chức năng trong các trường CĐ – ĐH thực hiện việc lên kế hoạch và triển khai hoạt động NCKH Bộ phận này có trách nhiệm giúp Ban Giám hiệu và người chịu trách nhiệm chính là Phó Hiệu trưởng phụ trách NCKH trong việc chỉ đạo và quản lý hoạt động NCKH, cụ thể là:
- Tổ chức xây dựng, tổng hợp kế hoạch NCKH của trường Điều hòa, phối hợp theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch NCKH Định kỳ báo cáo tình hình NCKH của trường lên cấp quản lý cấp trên
- Quản lý việc thực hiện các qui chế, chế độ NCKH thống nhất trong toàn trường
- Thông qua các hợp đồng NCKH theo ủy nhiệm của Hiệu trường và tổ chức chỉ đạo việc thực hiện các hợp đồng đã ký, xử lý các trường hợp khiếu nại
- Tổ chức giới thiệu các thành tựu khoa học và kỹ thuật tiến bộ với các cơ sở sản xuất, có biện pháp chủ động tăng nhanh số lượng và giá trị các hợp đồng khoa học công
nghệ – lao động sản xuất nhằm áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
- Tổ chức việc đánh giá kết quả NCKH, kiến nghị khen thưởng các công trình khoa học xuất sắc, phố hợp phòng Kế toán quyết toán kinh phí NCKH
- Quản lý công tác NCKH của sinh viên
- Quản lý công tác thông tin, xất bản tài liệu khoa học, các hoạt động sáng kiến, sáng chế, phát minh
- Theo dõi, chỉ đạo hoạt động của các đơn vị NCKH – lao động sản xuất trong trường
- Phối hợp với Phòng, Ban hướng dẫn và quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học – công nghệ
- Phối hợp với các đơn vị chức năng liên quan để giải quyết những vấn đề về cán bộ, lao động, thiết bị, vật tư, kinh phí, các chế độ chính sách liên quan đến hoạt động NCKH của trường theo chế độ chính sách đã ban hành
đẳng – Đại học
Ở cấp vĩ mô: Là kiểm soát và thúc đẩy các hoạt động NCKH, chuyển giao kết quả
Trang 31NCKH trong nhà trường, góp phần phát triển và xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, phục vụ mục tiêu đào tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển khoa học, sản xuất và đời sống
Tạo điều kiện trao đổi thông tin khoa học – công nghệ và làm cầu nối giữa khoa học
và thực tiễn trong cộng đồng các nhà giáo, nhà khoa học, quản lý và doanh nghiệp trong và ngoài nước Thông tin kịp thời về các hoạt động khoa học – công nghệ, tạo điều kiện học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau
Mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của GV trường CĐSPTW TPHCM gắn liền với
sứ mạng của nhà trường “Trường CĐSPTW TPHCM là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, là trung tâm nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội về giáo dục và phát triển trẻ em”
Tóm lại, mục tiêu quản lý hoạt động NCKH ở cấp vĩ mô là lấy NCKH hỗ trợ cho công tác đào tạo phục vụ cho sứ mạng của ngành giáo dục đào tạo ra sản phẩm đặc biệt phát triển toàn diện phục vụ cho xã hội
Ở cấp vi mô: Ở các cấp phòng, khoa, tổ bộ môn mục tiêu của quản lý hoạt động
NCKH là lựa chọn các đề tài gắn với thực tiễn cao, phối hợp và hỗ trợ nhịp nhàng trong việc đảm bảo thực hiện các tiến độ Có các biện pháp về mặt hành chính cũng như hỗ trợ về thời gian cho đội ngũ GV tham gia NCKH
Cao đẳng – Đại học
1.4.3.1 Khái niệm quản lý
Rõ ràng để tồn tại và phát triển con người trong từng tổ chức không thể làm việc riêng lẻ mà cần gia tăng tính phối hợp hướng tới mục đích chung Quá trình sản xuất ra của cải vật chất của xã hội ngày càng đòi hỏi thực hiện trên quy mô lớn hơn, tính phức tạp cao hơn, đòi hởi sự phân công hợp tác mọi cá nhân trong tổ chức Chính sự phân công chuyên môn hoá, hợp tác hoá đã làm xuất hiện lao động đặc biệt – lao động quản lý
Quản lý giúp các tổ chức và thành viên của nó thấy rõ mục tiêu và hướng đi của mình Đây là yếu tố thuộc về tư duy, nhận thức đầu tiên và quan trọng nhất đối với mọi con người và tổ chức giúp tổ chức thực hiện được sứ mạng của mình, đạt được những thành tích ngắn hạn và dài hạn, tồn tại và phát triển không ngừng
Trong hoạt động của tổ chức có bốn yếu tố tạo thành kết quả đó là: Nhân lực, vật lực,
Trang 32tài lực và thông tin Quản lý có vai trò phối hợp tất cả các nguồn lực của tổ chức thành một chỉnh thể Mục đích của quản lý là đạt giá trị gia tăng cho tổ chức
Điều kiện môi trường mà tổ chức gặp phải luôn luôn biến động nhanh Những biến đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và nguy cơ bất ngờ Vai trò của quản lý là giúp tổ chức thích nghi được với môi trường, nắm bắt tốt cơ hội, tận dụng hết cơ hội và giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực của các nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường Không những thế quản
lý tốt còn làm cho tổ chức có những tác động tích cực đến môi trường
Quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực từ mỗi đơn vị sản xuất – kinh doanh đến toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, từ một gia đình, một đơn vị dân cư đến một đất nước, những hoạt động trong phạm vi khu vực và cả toàn cầu Phần lớn các doanh nghiệp, các tổ chức thất bại
là do quản lý tồi thiếu kinh nghiệm, trong khi đó các công ty luôn thành đạt chừng nào còn được quản lý tốt
Về tầm quan trọng của quản lý được thể hiện rõ ràng nhất ở các nước phát triển Bảng tổng quan về vấn đề này trong những năm gần đây của các chuyên gia về phát triển kinh tế đã cho thấy sự cung cấp về tiền bạc, kỹ thuật công nghệ đã không đem lại kết quả như mong muốn Yếu tố hạn chế trong hầu hết mọi trường hợp chính là sự thiếu thốn về chất lượng và sức mạnh của các nhà quản lý
Từ sau Đại chiến thế giới thứ 2 (1945), nhất là từ thập kỉ 70 – 80 của thế kỉ trước, người ta rất chú ý tới năng lực quản lý, công việc quản lý mang lại hiệu suất công tác, năng suất lao động rất rõ, được coi như một loại lao động thực thụ
Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì “Quản lý hành chính là dự báo
và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra”
Theo Frederick W Taylor đưa ra Học thuyết quản lý theo khoa học thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
Trong Bộ Tư bản, K Marx đã nói “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội chung và trực tiếp, được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhất cần đến quản lý” [21]
Harold Koonts, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich đưa ra khái niệm về quản lý là
“Một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất của cá nhân ít nhất…” [21, tr.33]
Trang 33Theo tác giả Trần Kiểm thì quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của
tổ chức và hiệu quả cao nhất [23]
Tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng “Quản lý là quá trình dựa vào các qui luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [31]
Theo tác giả Hồ Văn Liên quan niệm “Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả” [25]
Ngày nay, khi xã hội càng ngày càng phát triển không ngừng thì quản lý đã đóng một vai trò quan trọng và quản lý không thì thiếu trong các mặt của đời sống như chính trị, kinh
tế, văn hóa… quản lý diễn ra ở tất cả các phạm vi từ vi mô đến vĩ mô, từ gia đình đến xã hội, nếu muốn có kết quả như mong muốn thì việc quản lý là không thể thiếu
1.4.3 2 Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Giảng viên trường Cao đẳng – Đại học
Nội dung QL hoạt động NCKH của GV trường CĐ – ĐH bao gồm các nội dung sau:
bao gồm: Đề tài cấp Nhà nước Đề tài cấp Bộ Đề tài cấp Tỉnh, Thành Đề tài cấp trường
của GV Đề tài NCKH của sinh viên
+ Đề tài cấp nhà nước: Đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên Đề tài thuộc
các công trình công nghệ trọng điểm Đề tài độc lập Dự án sản xuất thử nghiệm
+ Đề tài cấp Bộ: Đề tài trọng điểm cấp Bộ nhằm giải quyết các vấn đề Khoa học,
Công nghệ phục vụ GD&ĐT, phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng miền của đất nước
- Đề tài trọng điểm cấp Bộ được Bộ trưởng phê duyệt trên cơ sở ý kiến tư vấn và tuyển chọn của Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp Bộ hoặc được Bộ giao nhiệm vụ trực tiếp và được ưu tiên đầu tư kinh phí
+ Thời gian thực hiện đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ từ 1 đến 2 năm tùy theo nội dung nghiên cứu, trường hợp đặc biệt có thể được xét thực hiện 3 năm
- Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Khoa học và Công
nghệ cấp Bộ Tổ chức thực hiện ký hợp đồng trách nhiệm
Trang 34+ Tất cả các đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ được phê duyệt cần ký hợp đồng trách nhiệm về Khoa học và Công nghệ giữa chủ nhiệm đề tài với thủ trưởng cơ sở
+ Hợp đồng trách nhiệm đươc làm thành 04 bản, chủ nhiệm đề tài giữ 01 bản, phòng Khoa học và Công nghệ giữ 01 bản, Phòng Tài vụ giữ 01 bản và gửi cho Bộ 01 bản (Vụ
Khoa học và công nghệ)
- Tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra: Việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch
nghiên cứu của đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất khi thấy cần thiết
+ Thành phần đoàn kiểm tra do thủ trưởng cơ sở hoặc Bộ quyết định
+ Nội dung kiểm tra: Kiểm tra về tiến độ, nội dung và việc sử dụng kinh phí của đề tài so với bản thuyết minh và hợp đồng trách nhiệm
+ Kết quả kiểm tra phải được viết thành biên bản và gửi về cho Bộ
+ Trên cơ sở biên bản kiểm tra, Bộ sẽ xem xét và có ý kiến về việc triển khai đề tài
- Tổ chức đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện đề tài: Tất cả các đề tài Khoa học và
Công nghệ cấp Bộ khi kết thúc đều phải được đánh giá, nghiệm thu cấp Cơ sở và cấp Bộ
- Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Bộ: Hội đồng đánh giá và nghiệm thu cấp Bộ do
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định thành lập Hội đồng phải có từ 07 thành viên trở lên, trong đó phải có 2/3 số thành viên là cán bộ khoa học và phải có ít nhất 1/3 số thành viên là cán bộ ngoài cơ sở Hội đồng có Chủ tịch Hội đồng, thư ký Hội đồng, 2 ủy viên phản biện trong đó, ít nhất có 01 phản biện ngoài cơ sở và các ủy viên khác Chủ tịch Hội đồng phải là nhà khoa học am hiểu sâu sắc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Chủ nhiệm đề tài và cán bộ tham gia thực hiện đề tài không được tham gia Hội đồng đánh giá nghiệm thu
- Tổ chức đánh giá, nghiệm thu cấp Bộ: Sau khi nhận được Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cấp Bộ, Cơ sở phải tổ chức họp Hội đồng chậm nhất sau 45 ngày, kể từ ngày ký quyết định
- Hoàn thiện hồ sơ và đăng ký kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ
Đề tài cấp trường: Thời gian thực hiện đề tài NCKH cấp T`rường từ 6 tháng đến 1 năm, trường hợp có lý do chính đáng có thể kéo dài thêm 4 tháng Thời gian đăng ký đề tài vào tháng 6 hàng năm Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Trong khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, Trường sẽ tiến hành kiểm tra về tiến độ, nội dung, việc
Trang 35sử dụng kinh phí của đề tài so với thuyết minh và hợp đồng trách nhiệm Hiệu trưởng quyết định thành phần đoàn kiểm tra, gồm có: Phòng Khoa học Công nghệ, Phòng Tài vụ, Chủ nhiệm Khoa Kết quả kiểm tra phải được ghi biên bản
Tổ chức đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện đề tài: Chủ nhiệm đề tài phải hoàn
tất và gửi toàn bộ hồ sơ đến Phòng Khoa học Công nghệ 10 ngày trước khi nghiệm thu Báo cáo tổng kết toàn diện kết quả nghiên cứu của đề tài
Hội đồng đánh giá nghiệm thu: Hội đồng đánh giá nghiệm thu đề tài cấp Trường do
Hiệu trưởng ra quyết định Hội đồng phải có từ 07 người trở lên, phải có 2/3 là cán bộ khoa học và 1/3 là cán bộ quản lý NCKH Chủ tịch Hội đồng phải là cán bộ khoa học am hiểu sâu
sắc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
Hoạt động NCKH của sinh viên: Nghiên cứu những vấn đề thuộc lĩnh vực được đào tạo Tham gia triển khai áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, đời sống và an ninh quốc phòng Tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, hội thi sáng tạo, câu lạc bộ khoa học sinh viên
+ Viết sách, giáo trình, tài liệu tham khảo: Căn cứ vào kế hoạch Khoa học – Công nghệ hàng năm của nhà trường để định hướng hoạt động tham gia viết sách, giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác đào tạo
+ Viết bài báo cho Tạp chí chuyên ngành: Công bố các kết quả NCKH của GV, tạo một điễn đàn trao đổi kinh nghiệm về NCKH không chỉ bó gọn trong nhà trường mà qua Tạp chí GV có cơ hội để tiếp cận với nhiều nền giáo dục khác nhau
Theo Trần Kiểm thì phương pháp quản lý giáo dục được hiểu là tổng thể những cách thức tác động vào những phương tiện khác nhau của chủ thể quản lý đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý [23]
Có rất nhiều phương pháp quản lý trong nhà trường nhưng vấn đề là sử dụng và phối hợp các phương pháp đó sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của trường
- Phương pháp quản lý phải phù hợp với mục đích quản lý giáo dục
- Phương pháp quản lý phải phù hợp với nguyên tắc quản lý
- Sử dụng phương pháp quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
Trang 36Nhìn chung, các trường CĐ – ĐH hiện nay đang áp dụng một số các phương pháp quản lý hoạt động NCKH của GV như sau:
trên ra lệnh thì cấp dưới phải thi hành Trong trường CĐ – ĐH có luật như Luật Giáo dục, Điều lệ, Quy chế, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, các văn bản hành chính… liên quan đến hoạt động NCKH của GV
Một số các văn bản pháp quy về quản lý NCKH của GV áp dụng trong các trường
- Nghị định số 133/2008/NĐ-CP, ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ
- Nghị định số 80/2010/NĐ-CP, ngày 14/07/2010 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
- Thông tư số 17/2004/TT-BKHCN, ngày 13/07/2004 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
- Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 29/12/2008 của Bộ trưởng GD&ĐT về việc ban hành Quy định về quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ trong cơ sở giáo dục đại học
- Thông tư số 12/2010/TT-BGDĐT, ngày 29/03/2010 của Bộ trưởng GD&ĐT về việc ban hành Qui định về quản lý đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ của Bộ GD&ĐT
- Thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT, ngày 30/05/2011 của Bộ trưởng GD&ĐT về việc ban hành Qui định về hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học
- Thông tư số 22/2011/TTTL-BTC-BKHCN, ngày 21/02/2011 của Bộ Tài chính và
Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí
Trang 37- Thông tư số 16/2012/TT-BGDĐT, ngày 09/05/2012 của Bộ GD&ĐT Quy định về quản lý chương trình khoa học và công nghệ cấp Bộ GD&ĐT
- Thông tư 19/2012/TT- BGDĐT ngày 01/06/2012 của Bộ GD&ĐT ban hành quy định về hoạt động NCKH của sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học
Phương pháp hành chính – pháp luật được sử dụng nhằm hai mục đích chính: tổ chức
và điều chỉnh Nhằm mục đích thứ nhất là chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy qui định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức giáo dục, qui định quan hệ hoạt động trong nội
bộ cũng như các đối tượng quản lý với các chủ thể khác Nhằm mục đích thứ hai, chủ thể quản lý thông qua các hình thức như chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ theo phương hướng nhất định nhằm đảm bảo sự đúng hướng, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận
Khi sử dụng phương pháp này phải đảm bảo một số yêu cầu như:
+ Xác định rõ căn cứ khoa học của quyết định hành chính sẽ ban hành
+ Căn cứ đầy đủ các lợi ích của các bên liên quan
+ Nắm vững thực trạng của đối tượng quản lý
+ Gắn chặt với quyền hạn, trách nhiệm của người ra quyết định
cảm, ý thức và nhân cách của con người Mục đích của phương pháp này là thông qua những mối quan hệ liên nhân cách tác động lên con người nhằm cung cấp, trang bị thêm hiểu biết, hình thành những quan điểm đúng đắn, nâng cao khả năng, trình độ thực hiệm nhiệm vụ của họ, đồng thời chuẩn bị tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác,
tự chủ, lòng kiên trì, tinh thần tự chịu trách nhiệm, không khí lành mạnh… trong tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ
Trong môi trường giáo dục, phương pháp này được sử dụng nhiều, đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người hiểu rõ đúng sai, tốt xấu, lợi hại, thiện ác để từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với tổ chức
Khi sử dụng phương pháp này phải đảm bảo một số yêu cầu như:
+ Coi trọng nhân cách con người
+ Chú trọng việc phân tích cơ sở khoa học của các quyết định quản lý, tạo sự thống nhất trong quan niệm và hành động của các thành viên trong tổ chức
+ Thuyết phục bằng lý trí, tình cảm, xây dựng lòng tin giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý
Trang 38+ Hình thành niềm tin tự hào về tổ chức
+ Tạo nề nếp, thói quen, tập quán, nói rộng ra là tạo thành văn hoá tổ chức, trong đó
có văn hóa quản lý giáo dục
chất, lợi ích tinh thần nhằm pháp huy ở họ tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, trách nhiệm và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của tổ chức
Những kích thích về vật chất có thể như: các thang, bậc lương, tiền thưởng, điều kiện sinh hoạt, lao động… có ý nghĩa tích cực đối với con người, khiến họ lao động nhiều hơn, tốt hơn, có năng suất hơn đề có những cống hiến xứng đáng cho tập thể Trong thực tế các trường đã và đang tồn tại những loại kích thích này: tăng lương trước thời hạn cho GV có thành tích trong NCKH…
Những kích thích về tinh thần có thể kể: phong danh hiệu thi đua, danh hiệu giảng viên dạy giỏi, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân… Ngoài ra, kích thích về chính trị như kế nạp Đảng, về khoa học như tạo điều kiện cho GV đi học sau đại học, nghiên cứu sinh… cũng thuộc loại kích thích tinh thần
Điều cần lưu ý phải kết hợp các kích thích vật chất và tinh thần trong quá trình quản
lý Tránh để trường hợp để lệch một bên, nên phải có sự thống nhất, sự tác động qua lại lẫn nhau, mọt mặt khuyến khích vật chất, mặt khác là khuyến khích tinh thần mới thúc đẩy, nâng cao không ngừng tích cực lao động
Trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý cần sử dụng kết hợp các phương pháp, bởi vì phương pháp nào cũng có ưu điểm và nhược điểm khác nhau Đối tượng quản lý chịu
sự tác động của hàng loạt quy luật khác nhau, mỗi phương pháp chỉ có tác dụng ưu trội phù hợp với một vài quy định nhất định Hệ thống quản lý về thực chất là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận hợp thành có quan hệ tương tác, gắn bó hữu cơ với nhau Do đó, một phương pháp quản lý cụ thể nào đó không thể cùng một lúc tác động có hiệu quả đến tất cả các mối quan hệ trong hệ thống quản lý Đối tượng quản lý giáo dục là con người mà bản chất con người lại là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Bởi vậy chỉ có sự kết hợp các phương pháp quản lý mới có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp làm thay đổi trạng thái quản lý mong muốn của chủ thể quản lý
Công cụ quản lý giáo dục là những phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý
Trang 39nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp và đánh giá kết quả hoạt động của các thành viên trong tổ chức giáo dục hướng vào việc thực hiện mục tiêu đề ra
Các loại công cụ trong quản lý giáo dục trong công tác NCKH của GV thuộc các trường CĐ – ĐH hiện nay thường sử dụng:
các văn bản của các cơ quan có chức năng và thẩm quyền nhà nước ban hành như Luật Giáo dục, Điều lệ nhà trường, Chính sách đối với GV, sinh viên…
ĐH dựa trên các văn bản pháp quy của Đảng và Chính phủ có liên quan đến NCKH, các văn bản pháp quy của các Bộ, Ngành có liên quan, ngoài ra, có thể đề cập đến một số văn bản pháp quy liên quan đến Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, các văn bản pháp quy liên quan đến công tác quản lý tài chính của hoạt động khoa học và công nghệ, các trường chủ động ban hành quy định NCKH của GV phù hợp với thực trạng riêng của đơn
vị
trường hàng năm trong đó có định hướng nghiên cứu, phân bổ đề tài…; Qui chế chi tiêu nội
bộ của từng trường… Chủ thể quản lý có thể dùng công cụ này để quản lý hoạt động NCKH của GV thực hiện đúng tiến độ chung theo kế hoạch Các hình thức thưởng, phạt các GV trong quá trình hoạt động NCKH được thể hiện rõ, công khai trong qui chế chi tiêu nội bộ nhà trường
chuyên môn, công cụ kiểm tra đánh giá, công cụ điều chỉnh hoạt động như kế hoạch năm học, các quy định của Hiệu trưởng về NCKH của GV Các văn bản thường sử dụng về hoạt động NCKH của GV các trường CĐ – ĐH
Trang 40nhất định”
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại các chức năng quản lý:
Theo truyền thống, H Fayol đưa ra 5 chức năng quản lý đó là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra
Theo D M Kruk có 5 chức năng quản lý đó là: Kế hoạch, tổ chức, phối hợp, chỉ đạo, kiểm kê và kiểm tra
Theo G Kh PôPốp có 3 chức năng quản lý đó là: Quản lý sơ bộ (xác định mục tiêu,
dự đoán…), quản lý cụ thể (tổ chức, ra lệnh, chỉ huy), kiểm tra (kiểm kê, phân tích, mối liên
hệ ngược)
Theo Unesco có 8 chức năng quản lý: Xác định nhu cầu, thẩm định và phân tích dữ liệu, xác định mục tiêu, kế hoạch hóa, triển khai công việc, điều chỉnh, đánh giá, sử dụng liên
hệ ngược và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo
Theo quan điểm hiện đại, từ những chức năng quản lý đã nêu có thể khái quát chức năng quản lý có nền tảng sau: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Và trong đề tài này, chúng tôi chọn có 4 chức năng quản lý như sau:
điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó Là thiết kế các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu những nguồn lực đã có và sẽ được khai thác Lập kế hoạch đi trước việc thực hiện toàn bộ chức năng quản lý khác và các chức năng quản lý khác muốn đạt hiệu quả cũng đều phải lập kế hoạch
cho các thành viên trong tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Chức năng tổ chức bao hàm việc lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra và gồm các công việc như: tổ chức khai thác và tiếp nhận nguồn lực, tổ chức triển khai kế hoạch, tổ chức thiết lập cấu trúc tổ chức bộ máy, xác lập cơ chế phối hợp, giám sát và thông tin, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá…
dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người làm cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức