1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết người cùng quê của phan tứ

140 473 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp phần thay đổi diện mạo của văn học sau năm 1975 là những sáng tác của nhà văn viết về con người trong quá trình lao động, sản xuất và con người thế sự, đời tư như: Nguyễn Khải, Nguyễ

Trang 1

Nguyễn Thị Minh Phượng

NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ CỦA PHAN TỨ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN KHA

Trang 2

Tôi xin gửi lời cảm ơn, biết ơn chân thành đến:

TS Nguyễn Văn Kha, Thầy đã tận tình định hướng, dẫn dắt, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô phòng Sau đại học, khoa Ngữ Văn trường ĐH Sư phạm Tp HCM và các thầy cô giảng viên đã tạo điều kiện

và giảng dạy tôi trong suốt khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình của cố nhà văn Phan Tứ đã tạo điều kiện và cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý giá về cuộc đời của nhà văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tổ bộ môn Ngữ Văn trường THPT Long Thới – Tp.HCM, cùng đồng nghiệp và bạn bè học viên lớp Cao học Văn học Việt Nam khóa 21 đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học

Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người luôn động viên, cổ vũ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa học này

Học viên Nguyễn Thị Minh Phượng

Trang 3

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của

riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Kha

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung

thực và chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên Nguyễn Thị Minh Phượng

Trang 4

1 Lý do , mục đích nghiên cứu của đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Giới hạn, phạm vi đề tài 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp mới của luận văn 9

6 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1 NHÀ VĂN PHAN TỨ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC T IỂU THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ 11

1.1 Cuộc đời nhà văn Phan Tứ 11

1.2 Sự nghiệp văn chương 16

1.2.1 Quá trình sáng tác 16

1.2.2 Các tác phẩm đã xuất bản: 23

1.2.3 Những trăn trở của Phan Tứ về vấn đề con người trong sáng tác văn học 24

1.3 Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng quê 32

1.3.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975 32

1.3.2 Sự vận động đổi mới văn học sau 1975 qua một số tác phẩm tiêu biểu (trong phạm vi tiểu thuyết) 34

Chương 2 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 41

2.1 Con người cá nhân 41

2.2 Con người trong mối quan hệ đan xen, phức tạp 53

2.3 Con người khát khao tận hưởng tình yêu và hạnh phúc 57

Trang 5

THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 67

3.1.Sự dịch chuyển không – thời gian gắn với hành trình đời tư nhân vật 67

3.1.1 Nhà văn đặt nhân vật trong nhiều loại không gian khác nhau, theo sự vận động của nhân vật 67

3.1.2 Thời gian không theo logic tuyến tính, có thể đảo chiều một cách tự do 77

3.2 Kết cấu đa tuyến 84

3.2.1.Tuyến nhân vật và tuyến sự kiện đan chéo vào nhau 84

3.2.2 Sự kiện lịch sử, xã hội chi phối đời sống, số phận nhân vật 90

3.3 Cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật 95

3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 95

3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại 102

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

MỤC LỤC 122

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do, mục đích nghiên cứu của đề tài

Từ sau cách mạng tháng Tám đến 1975, dân tộc Việt Nam tiến hành hai cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước Văn học trong giai đoạn này phản ánh bức tranh hiện thực “một cách chân thực và hùng hồn” nhằm

mục đích cổ vũ, động viên khí thế đấu tranh của dân tộc Đội ngũ nhà văn

không chỉ cầm bút mà còn cầm súng với chủ trương sáng tác: “người viết

không được tuyên truyền một chủ nghĩa lạc quan rẻ giá, nhưng người nào cũng phải có trách nhiệm không được làm nản chí tất cả những ai đang trên đường ra trận, đang giáp mặt với kẻ thù” [51, tr.102] Hiện thực cách mạng,

hiện thực cuộc sống được giới văn nghệ sĩ phản ánh qua thể loại tiểu thuyết

đặc biệt là tiểu thuyết sử thi đã gặt hái thành công lớn, bởi nó là “thể loại văn

chương duy nhất luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén trước sự chuyển biến của hiện thực” [2, tr.27] Trong giai đoạn văn

học này, độc giả biết đến tên tuổi của các nhà văn như: Hữu Mai, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Anh Đức,… Họ đã xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm của tác phẩm là người anh hùng cách mạng, quần chúng cách mạng với vẻ đẹp hào hùng, tràn đầy lí tưởng

Sau đại thắng mùa xuân 1975, dân tộc Việt Nam bước vào cuộc sống mới với nhiều biến động trên các phương diện của đời sống Văn học nghệ thuật cần có bước tìm tòi, sáng tạo mới đáp ứng yêu cầu của thời đại Cái mới ở đây thể hiện ở việc khai thác, nhìn nhận những vấn đề của đời sống đặt ra từ hiện thực Vẫn là sự tiếp nối đề tài truyền thống về chiến tranh, nhưng sau 1975, nhà văn có cách nhìn về hiện thực chiến tranh, trong đó trọng tâm là vấn đề con người có nhiều tìm tòi, đổi mới Sự đổi mới quan niệm về con người diễn

Trang 7

ra mạnh mẽ ở mảng truyện đặc biệt là thể loại tiểu thuyết Góp phần thay đổi diện mạo của văn học sau năm 1975 là những sáng tác của nhà văn viết về con người trong quá trình lao động, sản xuất và con người thế sự, đời tư như: Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Triệu Xuân, …; con người trong cái nhìn phong tục – lịch sử: Tô Hoài, Ma Văn Kháng,…và một loạt nhà văn với những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh như: Hữu Mai, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng,…

Tìm hiểu sự đổi mới về cách nhìn con người trong văn học sau năm 1975,

luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát bộ tiểu thuyết sử thi Người cùng quê

của Phan Tứ với mục đích sau đây:

1 Phan Tứ đã đóng góp không nhỏ tạo nên thành tựu chung của nền văn học cách mạng Việt Nam Bước vào nghề văn, Phan Tứ thử ngòi bút trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký và đạt được thành công nhất định ở mỗi thể loại Gặt hái được nhiều thành công nhất phải kể đến tiểu thuyết của nhà văn Ông là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến

vĩ đại của dân tộc, vừa viết văn vừa trực tiếp cầm súng đánh giặc nên ông có vốn sống phong phú về hiện thực xã hội, về con người trong chiến tranh Hiện thực con người trong tác phẩm của Phan Tứ là con người miền Trung – quê hương của nhà văn Vấn đề “ số phận con người” trước năm 1975 được nhà văn quan tâm và xây dựng thành công gắn liền với số phận dân tộc Ông còn

đi sâu lí giải và biểu dương sự biến chuyển tư tưởng của người nông dân bình thường qua hoàn cảnh thử thách đã trở thành người anh hùng cách mạng Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác trước 1975 đã góp phần làm phong phú kho tàng văn học cách mạng bằng việc xây dựng thành công những hình tượng nghệ thuật mang tầm vóc sử thi đẹp đẽ, lôi cuốn công chúng văn học một thời Sau năm 1975, sáng tác của Phan Tứ càng chứng tỏ ông là nhà văn

Trang 8

đi hết cuộc đời với niềm đam mê văn chương, lao động nghệ thuật bền bỉ, giàu sức sáng tạo

2 Sau 1975, trong xu thế vận động đổi mới của nền văn học, tư duy sử thi đang có sự chuyển dịch sang tư duy tiểu thuyết, các nhà văn đều nhận thức được sự đổi mới quan niệm nghệ thuật, trong đó cốt lõi là quan niệm nghệ thuật về con người là hợp với xu thế khách quan Phan Tứ là một trong số các nhà văn nhạy bén trước yêu cầu đổi mới văn học Là nhà văn trực tiếp sống và sáng tác gắn bó với hai cuộc kháng chiến, với tham vọng kế tiếp truyền thống của khuynh hướng văn học mang tính chất sử thi với yêu cầu cách tân, đổi mới xuất phát từ hiện thực đời sống rộng lớn và phức tạp của đất nước sau

1975, Phan Tứ ôm ấp, nghiền ngẫm và cho ra đời bộ tiểu thuyết sử thi đồ sộ

Người cùng quê Tác phẩm ra đời trước khi cả một nền văn học bước vào thời

kỳ đổi mới thật sự và sâu rộng từ năm 1986 Có thể coi Người cùng quê như

một trong những sáng tác có ý nghĩa “dò đường” góp phần cho sự đổi mới mạnh mẽ về sau Vì vậy, việc nghiên cứu đổi mới cách nhìn con người trong

bộ tiểu thuyết này sẽ giúp chúng ta thấy được quan điểm thẩm mĩ của nhà văn Phan Tứ trong dòng vận động đổi mới của văn học dân tộc

Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Sự đổi mới cách nhìn về con người

trong tiểu thuyết Người cùng quê của Phan Tứ” để tìm hiểu và nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Phan Tứ đã gặt hái được nhiều thành công lớn trên con đường sáng tạo nghệ thuật Trước 1975, tên tuổi của nhà văn gắn liền với tiểu thuyết sử thi gây tiếng vang lớn trong dư luận Khác với nhiều nhà văn cùng thời, Phan Tứ không “tô hồng” hiện thực chiến tranh Trong sáng tác của nhà văn, hiện thực cuộc sống con người Việt Nam luôn sống động, chân thực Bàn về vấn đề con người trong sáng tác của Phan Tứ đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu:

Trang 9

2.1 Nh ững công trình, bài viết liên quan đến vấn đề con người trong sáng tác c ủa nhà văn Phan Tứ trước 1975

Trong bài viết của Trần Đăng Suyền (1983) nhan đề: Phan Tứ với

những tiểu thuyết viết về chiến tranh (Văn nghệ Quân đội, số 9), tác giả cho

rằng: “Phan Tứ không tìm đến những điển hình nguyên mẫu anh hùng có sẵn

ngoài đời mà chú ý nhiều hơn tới những con người bình thường trong cuộc sống” [92, tr.988], nhà văn chú ý “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng cách m ạng của những con người bình thường và cả những người lạc hậu

n ữa” [92, tr.987] Tác giả bài viết cũng nhận thấy hướng khai thác trong tiểu

thuyết của Phan Tứ là toàn bộ đời sống xã hội, đạo đức, tâm lý, tính cách của

con người chịu ảnh hưởng nhiều bởi chiến tranh Chiến tranh chính là môi trường để sàng lọc, phân hóa con người trong sáng tác của Phan Tứ Bên cạnh

đó, Phan Tứ không chỉ miêu tả mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp đối kháng mà còn chú ý tới thế giới bên trong của từng cá nhân, sự “giằng xé

trong mỗi con người” Đánh giá về nhân vật trong tác phẩm của Phan Tứ, tác

giả Hoàng Mạnh Hùng (2004) trong Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975

(Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội), nhận định rằng: những sáng tác của Phan Tứ như Gia đình má Bảy, Mẫn và Tôi đã quan tâm đến số phận con người và “là con người mang vẻ đẹp văn hóa, đã tiến gần tới những nhân

cách trong văn học” [43, tr.60] Phạm Ngọc Hiền (2007) trong Thi pháp tiểu

thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975 (Luận án Tiến sĩ, Đại học KHXH&NV,

ĐHQG Hà Nội), khi trình bày quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác văn học trước 1975, trong đó có tác phẩm của Phan Tứ, tác giả phân loại quan niệm về con người gồm: con người đa diện và con người anh hùng Tác

giả nhấn mạnh: “Phan Tứ quan niệm về con người không đơn giản, phiến

diện như hàng loạt nhà văn cùng thời” [37, tr.132] Tức là con người vừa có

mặt tốt vừa có mặt xấu Tào Thị Hải (2006) trong công trình Yếu tố sử thi

Trang 10

trong sáng tác của Phan Tứ (Luận văn tốt nghiệp, ĐH Vinh), chỉ ra nhân vật

của Phan Tứ “thường có lai lịch, có quá trình và phát triển trong sự tác động,

chi ph ối nhiều chiều của hoàn cảnh và những mối quan hệ đa dạng, đa chiều, nhi ều khi phức tạp” [28, tr.33]

2.2 Những công trình, bài viết liên quan đến vấn đề con người trong tiểu thuy ết Người cùng quê của Phan Tứ

Với Phan Tứ, con người luôn là đối tượng trung tâm của sự phản ánh thông qua các sự kiện lịch sử, đời sống xã hội Điều đó được nhà văn gửi gắm nhiều vào bộ tiểu thuyết sử thi trường thiên Người cùng quê của đời mình

Tác phẩm ra đời vào những ngày tháng cuối đời của nhà văn, trong thời kỳ đất nước hòa bình nên điểm nhìn về con người của nhà văn có sự thay đổi Nhà nghiên cứu Đoàn Xoa (1985) trong Hội thảo về bộ tiểu thuyết “Người

cùng quê” c ủa nhà văn Phan Tứ (đăng trên báo Quảng Nam – Đà Nẵng),

nhận xét rằng, trong Người cùng quê: “các nhân vật có cùng một quê hương,

m ất nước và đói nghèo do bị áp bức bóc lột dã man, họ có những tâm trạng khác nhau và cùng đi làm cách mạng Họ đã đạt được mục đích trên con đường đi là giải phóng cuộc đời họ khỏi ách thống trị của đế quốc và phong

ki ến” Theo tác giả, độc giả ở Quảng Nam – Đà Nẵng đã thấy được Người

cùng quê phản ánh hiện thực không khí cách mạng sục sôi thời kỳ tiền khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám ở miền Trung lúc ấy cùng với những con người chung một lí tưởng cách mạng Họ đã trở thành những người làm chủ

lịch sử, làm chủ số phận của mình

Lê Thị Đức Hạnh trong Lê Khâm – Phan Tứ…(in lại trong sách Mấy

v ấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại, Nxb KHXH Hà Nội, 1999) có

nhận xét tinh tế về Người cùng quê: “Truyện được viết công phu, đề cập nhiều

v ấn đề thông qua nhiều loại nhân vật: tốt có, xấu có, trung gian có” [34,

Trang 11

tr.331] Tức là Phan Tứ xây dựng nhiều loại nhân vật khác nhau trong tính

phức tạp, đa dạng như hiện thực đời sống đang diễn ra Nhà nghiên cứu Đặng

Tiến (Việt kiều Pháp) lại quan tâm đến khía cạnh khác của Người cùng quê

Đó là tính chân thật của tác phẩm: “nhân vật của anh, từ chính diện đến phản

di ện đều có thể là bà con, cô bác hay bạn bè tôi” [34, tr.333] Đó là những

con người của cuộc sống đời thường mà quanh ta đều bắt gặp Cũng đề cập

tới tính chân thật trong xây dựng hình tượng nhân vật của Người cùng quê,

nhà văn Thanh Quế (1994) trong bài Lang thang với Phan Tứ (báo Đà

Nẵng), cho rằng: “Viết đúng sự thật, đã chứng minh người cộng sản như

những người khác, chỉ khác lý tưởng Anh không hạ thấp nhân vật hoặc đề cao nhân v ật, anh viết đúng như nhân vật” [88] Nhận định của Thanh Quế

cho người đọc thấy được sự khác biệt của Phan Tứ so với nhiều nhà văn khác cùng thời Trong khi đa số nhà văn miêu tả người cộng sản là những anh hùng

sử thi đẹp toàn diện thì Phan Tứ miêu tả cả cái bình thường, đời thường trong

những con người ấy Nhân vật của Phan Tứ phát triển tính cách như nó vốn

có, có mặt tích cực, có mặt tiêu cực

Mai Hương (2002) trong Lê Khâm – Phan Tứ – Nhà văn chiến sĩ (Phan

Tứ toàn tập, T.1, tr.13, Nxb Văn học) nhấn mạnh tính chất cách mạng trong

Người cùng quê: “phản ánh sự trưởng thành của nhiều tầng lớp quần chúng

cách mạng trong suốt cả chặng đường dài lịch sử dân tộc từ trước và sau cách m ạng tháng Tám” [45, tr.24] Trong bão táp cách mạng, nhân vật của

Phan Tứ thuộc mọi thành phần, mọi lứa tuổi đều trải qua những thử thách và

trưởng thành nhanh chóng Nguyễn Văn Kha (2006) trong cuốn Đổi mới

quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975- 2000 (Nxb ĐHQG

Tp.HCM) đã chú ý tới cách xây dựng mối quan hệ con người của Phan Tứ:

“Trong Người cùng quê…các nhân vật có quan hệ không xuôi chiều, khó phân biệt thành hai tuyến địch – ta, tốt – xấu, thiện – ác” [50, tr.57], con

Trang 12

người được đặt trong mối quan hệ đan xen Tác giả khẳng định con người

trong tác phẩm không chỉ là “con người trong lịch sử bị phong trào sự kiện

lịch sử cuốn hút mà con người được nhìn nhận là chủ thể của lịch sử” [50,

tr.27], quan tâm tới yếu tố cách mạng trong mỗi con người Chính ý thức lịch

sử trong bản thân con người đã tạo nên đời sống tự nhiên của các nhân vật trong Người cùng quê

Từ các công trình nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Phan Tứ, chúng tôi

nhận thấy rằng, các tác giả đều có chung nhận xét: nhà văn nhìn con người không phiến diện, tránh được sự dễ dãi trong xây dựng nhân vật Trong tác

phẩm Người cùng quê, các tác giả tiếp cận ở khía cạnh con người cách mạng

và sự trưởng thành của con người qua các thời kì lịch sử một cách khái quát

nhất, đề cập đến tính chân thật trong cách xây dựng nhân vật, mặt phức tạp –

sự đan xen các mối quan hệ trong đời sống con người

Trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu của người đi trước, người viết tập trung nghiên cứu sự đổi mới cách nhìn về con người của nhà văn trong

tiểu thuyết Người cùng quê

3 Giới hạn, phạm vi đề tài

Do tính chất của đề tài, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ

nghiên cứu cách nhìn mới về con người trong tác phẩm Người cùng quê sau

1975 của Phan Tứ để thấy được sự đổi mới cách nhìn về con người của nhà văn so với giai đoạn trước 1975

Luận văn giới hạn tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Người cùng quê của

Phan Tứ Tuy nhiên, chúng tôi mở rộng sự khảo sát đến một số tiểu thuyết

như Ván bài lật ngửa, Hạt mùa sau, Giấy trắng để người đọc thấy được

không khí văn học đang có sự vận động đổi mới Mặt khác, để có cái nhìn đối

Trang 13

sánh về con người trong sáng tác trước và sau năm 1975 của Phan Tứ, chúng

tôi mở rộng, tìm hiểu các tiểu thuyết của nhà văn trước 1975 như: Trước giờ

nổ súng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi

Ngoài ra, trong quá trình triển khai đề tài, luận văn còn có tham khảo một số tác phẩm khác của các nhà văn tiêu biểu, với mong muốn làm sáng tỏ hơn sự đổi mới về cách nhìn con người của Phan Tứ

4 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích của đề tài, yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, luận văn

sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đặt tiểu thuyết Người cùng quê trong

hệ thống sáng tác của Phan Tứ, hệ thống tác phẩm tiểu thuyết cùng thời, trong bối cảnh lịch sử xã hội, luận văn làm sáng tỏ hơn điểm riêng biệt trong cách nhìn về con người của Phan Tứ

4.2 Phương pháp lịch sử: Nhân vật trong tiểu thuyết sử thi là sản phẩm của

lịch sử Hoàn cảnh chiến tranh chuyển sang thời hòa bình, những biến động

về kinh tế - xã hội, qua lăng kính cảm thụ hiện thực của nhà văn đều để lại dấu ấn trong tác phẩm và nhân vật Vì vậy, khi nghiên cứu sự đổi mới cách

nhìn về con người của Phan Tứ trong Người cùng quê cần sử dụng phương

pháp lịch sử để tìm hiểu

4.3 Phương pháp so sánh: Mỗi giai đoạn sáng tác, nhà văn có thẩm mĩ nghệ

thuật riêng Bằng việc so sánh với tư duy nghệ thuật của nhà văn trước 1975,

sẽ giúp chúng ta thấy được sự đổi mới cách nhìn của nhà văn về hiện thực cuộc sống, nhất là hiện thực con người Sử dụng phương pháp này, người đọc thấy sự khác biệt thẩm mĩ nghệ thuật giữa Phan Tứ và các nhà văn cùng thời, thấy được nét riêng của Phan Tứ về cách nhìn con người

Trang 14

4.4 Hướng tiếp cận thi pháp học: Luận văn sử dụng các kiến thức về thi

pháp học để phân tích các yếu tố hình thức của tác phẩm như thời gian – không gian, kết cấu – cốt truyện, ngôn ngữ cũng như cách xây dựng nhân vật của Phan Tứ, qua đó làm sáng tỏ hơn cái nhìn đổi mới về con người sau năm

1975 trong tiểu thuyết Người cùng quê của nhà văn

5 Đóng góp mới của luận văn

5.1 Trong những năm qua, nhiều bài viết, bài nghiên cứu về Phan Tứ đánh giá vị trí cũng như đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà Với đề tài này, luận văn của chúng tôi mong muốn cung cấp cho độc giả một cái nhìn mới của nhà văn Phan Tứ về con người sau 1975

5.2 Thông qua việc phân tích các biểu hiện của sự đổi mới trong cách nhìn con người của nhà văn, chúng tôi khẳng định sự đổi mới cách nhìn con người trong bộ tiểu thuyết này là phù hợp với xu hướng vận động đổi mới về quan niệm con người trong văn học thời kỳ mới Từ đó góp tiếng nói khẳng định sự đóng góp của Phan Tứ cho sự vận động đổi mới của văn học Việt Nam sau

1975

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập (10 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (gồm 141 mục), Phụ lục (14 trang), luận văn gồm ba chương chính:

Chương 1: Nhà văn Phan Tứ và hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng

quê

Ở chương này, chúng tôi trình bày cuộc đời cũng như đóng góp trong

sự nghiệp văn chương của Phan Tứ; sự ra đời của bộ tiểu thuyết Người cùng

quê trong bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều thay đổi và không khí văn học sau 1975 (trong phạm vi tiểu thuyết) đang có sự vận động đổi mới

Trang 15

Chương 2: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng quê từ phương diện nội dung

Tiếp tục cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết trước 1975, tiểu thuyết Người

cùng quê khám phá những chiều kích của đời sống con người Việt Nam, thể hiện cái nhìn nhân văn của Phan Tứ Con người được nhìn nhận từ bình diện

cá nhân, đặt trong những mối quan hệ đan xen, có niềm khát khao tận hưởng

về tình yêu và hạnh phúc

Chương 3: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng

quê từ phương diện nghệ thuật

Cùng với sự đổi mới cách nhìn về con người, trong tiểu thuyết Người

cùng quê nhà văn Phan Tứ sử dụng những biện pháp nghệ thuật miêu tả thời gian, không gian gắn với sự vận động của con người; xây dựng kết cấu đa tuyến; ngôn ngữ mang tính cá thể

Trang 16

Chương 1 NHÀ VĂN PHAN TỨ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC

1.1 Cuộc đời nhà văn Phan Tứ

Phan Tứ là một trong những nhà văn có quan niệm sống và làm việc hết sức nghiêm khắc, thẳng thắn, trung thực Đó là đức tính mà ông được thừa hưởng từ người cha của mình Cả cuộc đời ông gắn bó với đề tài chiến tranh

bằng nhiệt huyết: “Cuộc đời tôi từ hồi 14 tuổi cho đến nay 64 tuổi hoàn toàn

là sống trong chiến tranh, cho nên tôi rất tha thiết viết về chiến tranh Viết ra, hay dở còn tùy bạn đọc Tôi chỉ muốn nói một điều thôi: Không ai ép mình đi theo kháng chiến chống Pháp, không ai ép mình đi theo kháng chiến chống

Mỹ thì bây giờ cũng không ai ép mình viết cả Chỉ ân hận là đã không kịp làm trọn công việc ” [136]

Phan Tứ tên thật là Lê Khâm, con thứ 4 trong gia đình, nguyên quán xã Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Ông sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước: cha là Lê Ấm (1897-1976), từng làm Đốc học ở trường Quốc học Huế, mẹ là bà Phan Thị Châu Liên - con gái đầu của nhà Chí sĩ Phan Châu Trinh Tuy sinh ở Bình Định nhưng suốt thời niên thiếu, Phan Tứ lại sống ở quê cha, xã Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam Bản thân ông từ nhỏ đã giỏi về môn văn và tiếng Pháp Năm 15 tuổi, ông tham gia hoạt động trong đội tuyên truyền xung phong của tỉnh Quảng Nam, làm liên lạc chuyển

tài liệu, báo chí bí mật và tham gia cướp chính quyền ở địa phương trong Cách mạng tháng Tám

Năm 1950, ông nhập ngũ, được kết nạp vào Đảng (20/3/1950), theo học Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, phân hiệu Trung Bộ, học tập huấn

Trang 17

luyện ở vùng Cồn Kênh - Thanh Hóa Cùng với cặp kính cận luôn “ngự” trên đôi mắt tươi cười, Phan Tứ là một con người nhiều tài năng, hát hay, đàn giỏi, viết báo tường cho đơn vị rất hấp dẫn và luôn chan hòa với mọi người, đặc biệt với nhân dân vùng đóng quân Cuối năm 1951, ông được phân công theo đội quân tình nguyện Việt Nam sang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào Năm

1954, ông từ Hạ Lào hành quân về Cảng Quy Nhơn tập kết ra Bắc, nén lòng không ghé thăm gia đình đang sống ở miền Tây Quảng Nam Những tháng ngày gian khổ ở Lào được nhà văn ghi lại qua dòng hồi tưởng trong nhật ký

chiến trường về những trải nghiệm của ông: “Những cuộc hành quân dưới

nắng trời gay gắt, trong những cơn khát ghê gớm, đi trên những đường mòn đầy sỏi đá làm trầy da chân, làm phồng dộp và sưng húp chân Uống nước thì

là nước ao, phải rẽ lăng quăng và nòng nọc để múc Các cuộc hành quân trên cao nguyên Bôlôvên: lạnh đến rung cả rừng núi…đỉa và vắt vô kể, thiếu thuốc hút, cháo nấu với măng rừng cho qua bữa” [53, tr.62] Ba năm ở Lào, nhà

văn đã tích lũy cho bản thân vốn sống từ thực tiễn đấu tranh đầy khó khăn

gian khổ Thực tế đó giúp ông sáng tác thành công hai tiểu thuyết lớn Bên kia

biên giới, Trước giờ nổ súng Phan Tứ chính thức bước vào sự nghiệp văn học

với hai tác phẩm viết về chiến trường Lào, đặc biệt Trước giờ nổ súng dịch ra

tiếng Lào và xây dựng kịch bản phim “Bản anh hùng ca số 5” được bạn Lào đánh giá tốt

Năm 1958, ông theo học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội Kể từ đây, trong con người của Phan Tứ có sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa nhà văn

và chiến sĩ cách mạng Lớp học có 25 sinh viên và 6 lưu học sinh, duy nhất

Phan Tứ là người có tác phẩm đã xuất bản (Bên kia biên giới) Phan Tứ được bầu làm tổ trưởng tổ sáng tác Phan Tứ nổi tiếng: “Khắc khổ Điều độ Mực

thước” Trong thời gian này, ông vừa học vừa viết tiểu thuyết Trước giờ nổ

Trang 18

súng Đặc biệt khả năng ghi chép của nhà văn được anh Nùng – bạn học cùng lớp cam đoan chưa có nhà văn nào ghi nhiều, bền bỉ như Phan Tứ bất kể lúc nào (giờ nghỉ, xem diễn văn nghệ…), thời gian biểu chặt chẽ thực thi như kỉ luật quân sự, học tập chăm chỉ, nghiêm túc và học đều các môn kể cả môn khó nuốt như ngôn ngữ, tiếng Nga

Sau khi tốt nghiệp năm 1961, hiện thực cách mạng miền Nam luôn giục giã thôi thúc ông “trở về”, “vào trong kia”, “lên chiến khu”, Phan Tứ đã trở

lại công tác tại chiến trường miền Nam, làm phái viên tuyên truyền khu ủy Liên khu V, ủy viên đảng đoàn Văn nghệ Khu 5 và viết văn dưới bút danh Phan Tứ Tuy được cấp chế độ sinh hoạt của cán bộ nhưng thiếu thốn quá nhiều, Phan Tứ phải tự xoay sở tìm chỗ sáng tác (nóc ông Bền – làng Thượng), tìm kiếm lương thực Vừa chống chọi với khó khăn trong thời chiến tranh (sốt rét, thiếu lương thực, bom đạn ), ông vừa sáng tác với khát khao:

viết được một tiểu thuyết về miền Nam chiến tranh” Từ thực tiễn sáng tác,

nhà văn tự rút ra nhược điểm của bản thân: “tìm cảm hứng trong những tình

huống đặc biệt và nhân vật kiệt xuất và không đi sâu vào những mâu thuẫn giữa người và người với những tình tiết tế nhị hoặc thô thiển” [53, tr.95] Để

có cái nhìn hoàn thiện hơn, Phan Tứ quyết định đi thực tế ở Kỳ Liên Sống bên cạnh đồng bào, đồng chí của mình, Phan Tứ luôn tâm niệm rằng phải:

tắm mình trong cuộc sống, vừa chung tay xây dựng nó, vừa rèn giũa mình, chắt chiu gạn lọc mỗi ngày đêm lấy vài nét độc đáo của nó, không ngừng suy nghĩ và cảm xúc về nó, nghiền ngẫm tìm cách tái hiện nó” [45, tr.16-17]

Chính ý thức ấy, quan niệm về đời, về nghề ấy đã thúc đẩy Phan Tứ gan góc

bám thực tế, bám phong trào “trải đời, trải đạn” và viết văn Nhà văn “tắm

mình trong cuộc sống” bằng cách xông pha, lăn lộn với thực tế chiến trường,

tìm hiểu những hoàn cảnh khác nhau và những con người cụ thể cũng như

Trang 19

chia sẻ đau thương mất mát với họ Vì thế, ông có điều kiện hiểu về con người cách mạng hơn

Năm 1962, thời kỳ đau khổ tột cùng của nhân dân miền Nam chống càn của Mỹ – Diệm, Phan Tứ tham gia tổ chức đấu tranh du kích, tiếp xúc với những con người, những cuộc đời trong những tình huống cụ thể, khốc liệt Những khó khăn liên tiếp xảy ra, đấu tranh chính trị ở Kỳ Khương, chống khủng bố trắng, chống càn ở Kỳ Thanh, tham gia võ trang tuyên truyền… Phan Tứ đã thanh thản sống và vượt qua tất cả mọi thử thách Ông đã ghi lại

một cách cảm động tâm sự của ông trong những ngày thật đáng nhớ: “Tôi

không băn khoăn gì trước những khó khăn ấy, bởi thực tế cách mạng miền Nam cuốn hút tôi rất dữ dội Tôi đã sống lại những năm tháng vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở hạ Lào hồi chống Pháp, nhưng sung sướng hơn trước nhiều là tôi đang hoạt động trên đất quê hương mà tôi luôn thương nhớ”

[120, tr.82] Sau đó, ông tiếp tục cuộc hành trình đi trường Tân binh 27, tổ chức lớp học của cán bộ tuyên truyền xã Trên đường hành quân tới Nóc ông Thiêng, chứng kiến đồn Trà My giặc bị tiêu diệt, Phan Tứ dấy lên suy nghĩ

thích chiến đấu trực tiếp hơn là làm công tác chính trị và ông “đã hoàn toàn

tự nguyện dấn thân vào những nguy hiểm này” Nằm trong bệnh viện vì sốt

rét tái phát nhưng ông vẫn không ngừng ghi chép và sáng tác Vì sự thật cuộc

sống chiến trường vô cùng khắc nghiệt, chỉ “một mảnh bom, một viên đạn lạc,

một cơn sốt biến chứng có thể bẻ gẫy ngòi bút bất cứ lúc nào” [120, tr.82-83]

Chưa có điều kiện viết tác phẩm dài hơi: “cuốn tiểu thuyết dài ông hằng ao

ước được viết đang lớn dần lên trong óc”, nhưng ông đã phải gác lại để phục

vụ cuộc chiến đấu trước đã Qua quá trình chiến đấu, học tập, nhà văn cũng phát hiện ra mặt trái của tấm huy chương, mặt trái của con người

Trang 20

Năm 1963, địch càn trên quy mô lớn và dữ dội Nhà văn quay trở lại sống ở cơ sở cách mạng, tham gia Đại hội đại biểu Đảng bộ Đảng nhân dân cách mạng Tam Kỳ, Đại hội du kích huyện Tam Kỳ, nghe báo cáo các gương điển hình…Tham gia công tác Mỹ vận, Phan Tứ tự trau dồi vốn tiếng Anh nhưng ông cũng tự thú: những câu chuyện ăn chơi của tên lính Mỹ đã gợi cho ông nhớ lại cuộc sống bình yên ngày trước Điều đó làm ông trở nên khó tính trước các trở ngại và sự thiếu thốn

Năm 1966 do sức khỏe yếu và chịu ảnh hưởng bởi tác động của chất độc hóa học, ông được đưa ra Bắc để chữa bệnh, công tác tại Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, giữ chức quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng Bảy năm ở miền Bắc làm công tác đối ngoại, sáng tác và hoạt động trong Hội nhà văn, ông tiếp tục ghi thêm 15 cuốn sổ nhật ký với 2400 trang về thực tế đời sống và hoạt động chiến tranh phá hoại, viết bằng cả các thứ tiếng Anh, Pháp, Lào và tiếng Nga Trong nhật ký chiến trường của Phan Tứ, đây

đó ta bắt gặp những dòng thể hiện quyết tâm và lối sống luôn đặt ra định mức

của ông Như có chỗ ông ghi hướng phấn đấu: “Ít nhất một năm không sốt

rét” , hoặc “Viết một truyện trong ba tháng”

Tháng 12 năm 1974, nhà văn - chiến sĩ Phan Tứ đi B lần hai để sống tiếp,

để lấy tài liệu cho cuốn tiểu thuyết mà ông dốc toàn bộ sức lực, tài năng để

chơi một canh bạc lớn trong đời văn nghiệp của mình”; tham gia chiến dịch

tổng tiến công 1975 và đi thực tế các tỉnh Nam Bộ

Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 2 năm 1980, ông về sinh sống và làm việc tại quê hương Quảng Nam Ông từng là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn, Ủy viên Ban Thư ký (Ban thường vụ) Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa III

Trang 21

Từ 1993 đến tháng 4 năm 1995 ông chữa bệnh do hậu quả chất độc màu

da cam, tiếp tục hoàn thành bộ tiểu thuyết Người cùng quê

Ngày 17 tháng 4 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng, Phan Tứ từ trần khi

còn dang dở bộ tiểu thuyết Người cùng quê Tang lễ của ông được tổ chức tại

Nhà Văn hóa trung tâm TP Đà Nẵng, đã có một vòng hoa viếng của bạn đọc

ngắn Một ngày bên đồn địch, tiểu thuyết Bên kia biên giới, Trước giờ nổ súng

viết về kháng chiến chống Pháp đến những tác phẩm ra đời ngay trong khói

lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ: Về làng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi,

Trại S.T.18 và Người cùng quê như một bộ biên niên sử phản ánh trung thực

những bước đi đầy khó khăn nhưng tất thắng của cách mạng miền Nam Trước khi viết cái gì ông đều làm đề cương chi tiết đưa bạn bè đọc, cấp trên xem xét và góp ý Cuộc sống quân ngũ khắc nghiệt đã rèn cho Phan Tứ một nếp sống chặt chẽ, ngăn nắp và điều này ảnh hưởng tới phong cách sáng tác

của ông Đó là “phong cách hiện thực tỉnh táo” Bên cạnh đó, theo tác giả Trần Đăng Suyền thì ngòi bút Phan Tứ có “cái duyên thầm, đôi khi pha chút

hóm hỉnh” Nhà văn đặt ra chỉ tiêu một tháng một truyện ngắn, hai mươi trang

tiểu thuyết Vì vậy cuối đời, Phan Tứ có số lượng tác phẩm phong phú, dày dặn

Sau truyện ngắn đầu tay Một ngày bên đồn địch (1957) chưa gây được

tiếng vang lớn, đến năm 1958 ông cho xuất bản tiểu thuyết Bên kia biên giới

Trang 22

Theo Nguyễn Gia Nùng – người bạn của Phan Tứ đã kể lại tâm sự của nhà

văn: “sở dĩ anh viết Bên kia biên giới vì sau những năm tháng tham gia chiến

đấu chống Pháp ở nước bạn Lào, anh bị thương, có một thời gian dài phải nằm điều trị trong bệnh viện Thời gian ấy, anh có điều kiện đọc nhiều sách nhất Tủ sách của bệnh viện và sách nhờ bạn bè tìm giúp anh đều đọc hết và anh rất ngạc nhiên là chưa thấy có sách nào viết về bộ đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu ở chiến trường Lào” [86, tr.315].Từ trên giường bệnh, Phan

Tứ âm thầm “thai nghén” tác phẩm này và ít lâu sau khi ra viện ông cho xuất

bản Ông kể rằng: “Khi ra Bắc tập kết, tụi mình đóng quân ở miền tây Nghệ

An Ngoài lúc luyện tập, làm công tác dân vận, rảnh rỗi mình ngồi ghi lại những chuyện hồi mình sống ở Lào Lúc đầu, mình lấy tên tập bản thảo đó là Những người tình nguyện… Mình phải viết đi viết lại tới bốn lần, đến năm

1958 mới được in với tên Bên kia biên giới” [89, tr.868] Khi theo học trường

Tổng hợp, nhà văn bắt tay vào viết và hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ hai với

tay nghề vững vàng hơn: Trước giờ nổ súng cũng lấy đề tài từ cuộc sống và

chiến đấu của bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào Qua hai tác phẩm, nhà văn đã đặt ra vấn đề nóng bỏng về chiến tranh, về tinh thần Quốc tế vô sản, tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc Cả hai tiểu thuyết trên đều ca ngợi, biểu dương chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như phê phán mặt tiêu cực, thoái hóa của nhân vật chiến sĩ

Năm 1960, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Trở về Hà Nội và tiểu thuyết

Trước giờ nổ súng Trong gần 7 năm ở miền Bắc, Phan Tứ “luôn hình dung miền Nam là một kho thuốc súng đang đợi châm ngòi, chỉ cần một mồi lửa gí vào là Mỹ - ngụy tan xác ngay” [120, tr.83] Nhưng khi ông đi phát động quần

chúng ở khu V thì thấy thực tế không đơn giản như vậy Ông nghĩ rằng nên có

bài viết về một mặt khác của hiện thực: “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh

Trang 23

hùng cách mạng của những con người bình thường và cả những người lạc

hậu nữa” [120, tr.84] Về làng (1964) ra đời trong hoàn cảnh đó, gồm 12

truyện ngắn với bút pháp hiện thực già dặn, sắc sảo, kết cấu gọn gàng và lời văn trong sáng đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của ông Nhân vật được xây dựng từ góc độ chuyển biến tư tưởng qua những băn khoăn vướng mắc, cuối cùng tìm ra con đường đi theo cách mạng Tuy nhiên những nhân vật có tính bi kịch chưa được khai thác sâu vào tâm

trạng với những dày vò quá phức tạp Theo Nguyên Ngọc thì “Những sáng

tác này của Phan Tứ có liên quan máu thịt với cuộc tranh cãi quyết liệt mà anh - và tất cả chúng tôi lao vào hồi bấy giờ Vấn đề nóng bỏng nhất lúc này

là đánh giá quần chúng, nhận thức về quần chúng và bao giờ cũng vậy quan trọng nhất là nhận thức về các khối quần chúng ấy, quần chúng trung gian, đông đảo, “số đông im lặng” Họ sẽ đi với ai trong bão tố này?” [78, tr.368]

Phan Tứ đã nói về ý định đặt tên tập truyện ngắn Về làng: “cái tên ấy cũng

phản ánh nỗi khát khao của tôi trong những năm dài chiến đấu ở Hạ Lào và tập kết ra miền Bắc: tôi ao ước được về đánh giặc ngay trên làng quê tôi, vùng đồng bằng Quảng Nam thân yêu” [120, tr.85].

Từ cuối năm 1962, Phan Tứ trở về Tứ Mỹ sống tại cơ sở gia đình cách mạng(nhà bà Tôn) Tại đây, Phan Tứ đã “thai nghén” quyển tiểu thuyết Gia đình

má Bảy Gia đình má Bảy là bức tranh toàn diện và sâu sắc, phản ánh cách

mạng miền Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960 - 1961 Với tiểu thuyết này, Phan Tứ đã tái hiện con đường đi tới chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tập thể quần chúng thông qua nhân vật trung tâm là bà mẹ của một gia đình Tiểu thuyết này đã khắc phục nhược điểm trong cách xây dựng nhân

vật ở Về làng Nhà văn đã mô tả nhân vật với quá trình phát triển của tính

cách, phân tích tâm trạng trong sự chuyển biến vươn lên phù hợp với không

khí của phong trào đồng khởi Trong nhật ký chiến trường, Phan Tứ đã ghi lại

Trang 24

phác thảo chân dung cho tập “Má Bảy” (tức Gia đình Má Bảy), thấy được quá

trình diễn biến tư tưởng của nhân vật má Bảy:

“ 1 Thôn xóm Nhà má Bảy

Hình dáng Tính nết: chăm, thật thà, nói lẹ

Chồng con Ruộng đất Vui và buồn trong đời Tính nết về già Thờ Phật

2 Một tối: (gần Tết, tháng Chạp) Sạn đi ráp về Đứa cháu con cảnh sát trưởng Rân Mẹ con xô xát Sâm buôn ham tiền ăn diện Đêm Gành tới Má lạy van sợ giết con, rồi sợ địch khủng bố Sâm hỏi thăm anh Sau: thấy yên, liên lạc tiếp Thuế khóa, học tố

3 Đêm khởi nghĩa: Trà Thọ nổi trước hai đêm Mít tinh tố khổ Sạn lên tố, má

lo Thấy rầm rộ, hạ uy thế địch, má tin Thắc mắc sao không cho hợp pháp, cán bộ gạt (tên Gành, dân biển, vui, hăng, chủ quan, tiểu tư sản) Sạn du kích

Má nuôi cán bộ Sâm nữ thanh niên bị nghi quen lính và buôn Bê an ủi ….”

[53, tr.806-807] Qua nhiều lần chỉnh sửa, đến cuối tháng 12 năm 1965, Phan

Tứ viết lại và hoàn thành tiểu thuyết Gia đình Má Bảy Trong tiểu thuyết này, Phan Tứ “phải “lên gân” mới tăng được độ lãng mạn” [53, tr.442] “Gia đình

má Bảy được viết bằng tấm lòng của những người chiến sĩ, người con yêu quý của miền Nam, học tập và trưởng thành trên đất Bắc, trở về quê hương nơi chôn rau cắt rốn, tôn vinh, ngợi ca má Bảy, bà mẹ anh dũng vô danh đại diện cho hàng ngàn bà mẹ sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” [129] Năm 1968, ông xuất bản tiểu thuyết Gia đình má

Bảy, tập truyện ngắn Trong đám mía

Tháng 3 năm 1965, giặc Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng rồi vào Chu Lai Ông

đã xuống vùng nam Tam Kỳ để lấy tài liệu và có một cô gái tên là Phận trong Ban Tuyên huấn Tam Kỳ dẫn đường cho nhà văn Cô gái ấy về sau trở thành

nhân vật Mẫn trong tiểu thuyết Mẫn và Tôi Tiểu thuyết này được sáng tác

Trang 25

trên chất liệu trải nghiệm cuộc đời của nhà văn Tác phẩm tái hiện chân thực cuộc chiến đấu của Làng Cá thuộc Khu V với đế quốc Mỹ trong hai cuộc chiến tranh đặc biệt và cục bộ Trung tâm của truyện là xây dựng những tính cách anh hùng tiêu biểu cho lớp thanh niên: cô Mẫn – bí thư chi bộ xã Tam Sa; Thiêm – cán bộ quân chủ lực Mẫn và tôi đánh dấu một bước phát triển

mới của Phan Tứ về phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật Tác phẩm

đáp ứng được nhu cầu cấp bách của thời đại bấy giờ: “Làm sao có những tác

phẩm lớn để ghi lại những trang sử oanh liệt, những tác phẩm bao quát, miêu

tả lại những giai đoạn lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này”

(trích lược bài nói chuyện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng với anh chị em làm công tác văn học nghệ thuật ngày 6 - 2- 1973, Báo Văn nghệ, số 314, ngày 7-

9 - 1973) Với Gia đình má Bảy và Mẫn và tôi, “Phan Tứ có tham vọng dựng

lên những bức tranh quy mô rộng lớn, xứng với tầm vóc hoàng tráng của cuộc chiến đấu đã đi vào lịch sử và làm vang động thế giới” [126, tr.767]

Năm 1972, ông lần lượt cho xuất bản: bút ký Măng mọc trong lửa, tiểu thuyết

Mẫn và tôi Với Trại S.T.18 (xuất bản 1974) – kết quả của 6 tháng (1963)

công tác tại trại tù binh Mỹ Dưới hình thức là nhật ký của một phóng viên,

Phan Tứ tái hiện cuộc chiến đấu căng thẳng, không đổ máu nhưng gian khổ của chiến sĩ giải phóng Việt Nam trong việc huấn luyện tù binh Mỹ Tác phẩm là sự cắt nghĩa nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của

chân lí cách mạng: “Ta càng đổ máu thì càng khao khát thêm bạn bớt thù, ta

càng nắm chắc phần thắng thì càng đối xử cao thượng với kẻ đang hoặc sẽ thua trận, ta càng nhân đạo thì chính nghĩa của ta càng tỏa sáng trên trái đất này”[44] Sau đêm Đà Nẵng giải phóng (1975), Phan Tứ viết tùy bút Khi cuộc

sống vượt xa ước mơ và hàng loạt bút ký phóng sự phản ánh kịp thời không

khí miền Nam sau những ngày thống nhất Đến năm 1984 hồi ký Trong mưa

núi ra đời chứa đựng những kỷ niệm không quên trong thời hoạt động cách

Trang 26

mạng và sáng tác đầy gian khổ, bền bỉ và tràn trề nhiệt huyết của nhà văn

Tiếp đó, ba tập tiểu thuyết Người cùng quê (1985) được xuất bản Người cùng

quê là bộ tiểu thuyết mà nhà văn đã nung nấu ngay từ năm 1961 Trong những năm ở khu B, lúc ngồi bên bếp lửa, vừa nướng sắn ăn, vừa kể chuyện, nhà văn

tâm sự: “mình đang chuẩn bị để viết một cuốn sách có chủ đề ôm trùm thời

gian dài: sự trưởng thành của những tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ” [88] Trong di bút

của nhà văn viết ngày 11/8/1990 có đoạn: “Tôi đã chuẩn bị viết bộ tiểu thuyết

Người cùng quê từ năm 1974, cố thu thập vốn sống trực tiếp và gián tiếp….tuy rất nhiều người bạn và nhiều người quen thường chê trách tôi là dại, là tụt hậu, viết về đề tài chiến tranh, viết dài… tôi nghĩ về cuối đời cầm bút nên có một cái gì đền ơn trả nghĩa đối với đồng bào, đồng chí nên cứ lì lợm theo đuổi tác phẩm này” [103, tr.743] Những suy tư của nhà văn về việc

hình thành tác phẩm mà ông coi là công trình văn học của cuộc đời mình đã

được nhà văn thổ lộ: “tiểu thuyết Gia đình mà tôi coi như tác phẩm của cả

cuộc đời văn học của mình: Tôi sẽ cống hiến cả cuộc đời cho nó Mục tiêu ấy còn xa vời nhưng chắc chắn giấc mơ đó sẽ được thực hiện Tôi sẽ viết trong 5 hay 7 năm, chậm và kín đáo trong lúc sống ở một cơ sở nào đó, tại làng quê của tôi ở miền Nam hay trong một nông trường nào đó ở miền Bắc” [53,

tr.43], “Chuyện nghĩ đêm qua: Có thể mở rộng phạm vi Một gia đình đến đầu Cách mạng tháng Tám được không? Bòng mời vào thanh niên Phan Anh Cam chăn trâu chạy theo biểu tình Bòng vỡ Mặt trận Nha Trang Cam đi học Bưởi công tác phụ nữ Thanh Yên vào thiếu nhi Ông Chanh nông + thợ vặt Bà Chanh gây khó khăn cho phụ nữ Bưởi lấy một du kích chết Bòng ra Bắc lần 1, học Lục quân 50 Cam cày đến 53, du kích, đi thanh niên xung phong nhảy theo bộ đội Diên quân giới về đóng gần, bị thương tật, lấy Bưởi Làng thành vùng du kích giáp ranh từ 48 Sai lầm tổng động viên 50 – 51

Trang 27

Bòng dẫn vợ về cuối 53, khi quê hương giải phóng Cụ Chanh vào Hội đồng nhân dân, làm t hủ quỹ, nhận thu lúa 10 mẫu công điền cho du kích…” [53,

tr.70] Đây chính là một phần cốt truyện và kết cấu ban đầu mà nhà văn hình dung ra để sau hòa bình tạo dựng lên một tác phẩm dày dặn, phong phú về

cuộc sống chiến tranh trên quê hương của nhà văn, với tựa đề Người cùng

quê Nhà văn cũng đưa ra dự định về dung lượng tác phẩm: “Tiếp đó đến hòa

bình Phần kháng chiến chiếm độ 1/3 Thanh niên chiếm 2/3 hoặc hơn kháng chiến ít nhất 500 trang Thanh niên 1000 trang đủ không? Chắc không đủ Hòa bình 4 giai đoạn: Địch chiếm đến tập kết + Những năm 54 – 57 + Giai đoạn 5 8 – 61 + Thắng lợi Nghĩa là gấp rưỡi số dự tính Đồ sộ đấy Nghĩ kỹ xem sức làm nổi bộ Chiến tranh và Hòa bình ấy không? 10 năm?” [53, tr.71]

Sau này, khi trở về cuộc sống đời thường, ngồi trước trang giấy cùng với tập

đề cương bản thảo, nhà văn đã hồi tưởng, sắp xếp, chọn lọc, tái hiện lại những

sự kiện, chi tiết… của tiểu thuyết Người cùng quê Những năm cuối đời, do di

chứng chất độc da cam, nhà văn nằm trong bệnh viện nhưng vẫn chắt chiu sức lực sáng tác Căn bệnh quái ác khiến ông chỉ hoàn thành được 3 tập, còn tập thứ 4 mới ở dạng bản thảo Qua những sáng tác, Phan Tứ chứng tỏ khả năng phát hiện và giải quyết sâu sắc bằng hình tượng nghệ thuật những vấn đề tư tưởng có ý nghĩa thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn: từ vấn đề bản chất anh hùng, nhân đạo của quân đội cách mạng, sự gắn bó giữa cách mạng dân tộc và cách mạng dân chủ, những vấn đề chiến tranh của cách mạng miền Nam…đến vấn đề có ý nghĩa nhân văn cao cả như: tình yêu và lý tưởng cách mạng, tình bạn, tình đồng chí trong thực tiễn đấu tranh, sự tiếp nối truyền thống cách mạng giữa các thế hệ trong hai cuộc kháng chiến, v.v…Nhà văn không chỉ có ý thức làm việc nghiêm túc trong sáng tác, ngay

cả công việc viết nhật ký chiến trường, Phan Tứ cũng thể hiện là một người làm việc khoa học và chuyên nghiệp Để đảm bảo tính bảo mật, nhà văn viết

Trang 28

bằng các thứ tiếng: Pháp, Lào, Nga, Anh và ghi chép đầy đủ từng ngày, từng giai đoạn, từng sự việc Những trang nhật ký chi li kỹ lưỡng, chẳng hạn:

“Nhật ký chiến trường của Phan Tứ - quyển VII AB từ đầu năm 1962, cụ thể

là từ 8.1.1962 đến 25.1 1962”

Với hành trình lao động nghệ thuật bền bỉ, nghiêm túc, sáng tạo, những sáng tác của nhà văn ngày càng đạt tới trình độ khái quát nghệ thuật cao Sức hấp dẫn và giá trị trong các sáng tác của Phan Tứ chính là khả năng phát hiện

và giải quyết sâu sắc những vấn đề tư tưởng cấp thiết của đời sống cách mạng Nhìn lại quá trình sáng tác của Phan Tứ, chúng ta thấy ông là một trong

số ít nhà văn gắn bó đến cùng với đề tài chiến tranh cách mạng bằng những trải nghiệm đấu tranh gian khổ đầy nhiệt huyết của mình

1.2.2 Các tác phẩm đã xuất bản:

Bên kia biên giới (tiểu thuyết, 1958, tái bản 1978)

Trước giờ nổ súng (tiểu thuyết, 1960, 1961, 1969, 1976, 1977)

Trở về Hà Nội (truyện ngắn, 1960)

Trên đất Lào (bút ký, 1961)

Về làng (tập truyện 1964, 1976): Một buổi chợ, Nhà tôi, Tấm ảnh, Chè đầu xuân, Mở cửa, Khó hiểu, Về làng, Sức mạnh mới, Chông ba lá…

Trong đám mía (truyện ngắn, 1968)

Gia đình má Bảy (tiểu thuyết, 1968, tái bản 1971, 1972, 1975, 1984)

Măng mọc trong lửa (bút ký, 1972, 1977)

Mẫn và tôi (tiểu thuyết, 1972, 1975, 1978, 1987, 1995, 1999)

Trại S.T 18 (tiểu thuyết, 1974)

Trong mưa núi (hồi ký, 1984, 1985)

Sông Hằng mẹ tôi (dịch từ tiếng Pháp, tiểu thuyết Ấn Độ, 1984, 1985)

Người cùng quê (tiểu thuyết 3 tập, 1985, 1995, 1997)

Trang 29

Từ chiến trường khu 5 (nhật ký, 2011)

* Những truyện, ký lẻ: Ông già làng Tó, Từ Cánh đồng Chum đến Bản Ban,

Lòng dân, Tiếng trống

* Ngoài ra còn một số truyện ngắn in chung với nhiều tác giả khác, bút ký, hồi ký

* Các giải thưởng văn học:

• Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (năm 1965)

• Giải thưởng 30 năm (1945 - 1975) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (năm 1975)

• Giải thưởng văn học loại A mười năm (1975 – 1985) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (năm 1985)

• Giải thưởng văn học loại A mười năm (1985 – 1995) của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (năm 1995)

Người cùng quê – Thưởng sách hay năm 1995 của Nhà xuất bản Hội

Nhà Văn

• Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000

1.2.3 Nh ững trăn trở của Phan Tứ về vấn đề con người trong sáng tác văn học

Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, các nhà văn đã xây dựng nhiều hình tượng nghệ thuật mang tính chất sử thi, đạt tới trình độ khái quát cao Điều đó giúp họ thể hiện cá tính sáng tạo cũng như năng lực quan sát về hiện thực đời sống, đặc biệt hiện thực về con người trong bão táp cách mạng Phan Tứ là một trong những nhà văn trưởng thành trong quân ngũ, được sống, chiến đấu trực tiếp nên có điều kiện am hiểu về hiện thực chiến tranh, hiện thực con người Khác với các nhà văn cùng thời hướng ngòi bút tiếp cận con

Trang 30

người trên các đề tài khác nhau (người lính, người công nhân, nông dân, đề tài lao động sản xuất, ), gắn với đời sống chính trị, xã hội, đạo đức, nhân sinh, Phan Tứ trước và sau chiến tranh trung thành với thể loại đề tài chiến tranh, đối tượng được tiếp cận mang tính sử thi Đó chính là nét riêng của Phan Tứ Bằng vốn sống thực tiễn đấu tranh, cùng với cây bút mang phong cách “hiện thực tỉnh táo”, Phan Tứ đã xây dựng nên những sự kiện, nhân vật mang tầm khái quát trước hiện thực đời sống Những “bộ mặt” con người hiện lên trong chiến tranh rất đa dạng và phong phú Nhà văn cũng nhìn thẳng vào sự thật để tái hiện trong trang viết của mình Chính vì vậy, Phan Tứ là một trong rất ít các nhà văn ngay từ ngày đầu cầm bút đã có cái nhìn tinh anh về bản chất con người Từ đây, Phan Tứ xác định cho mình một quan niệm nghệ thuật nghiêm túc, nhất là trong cách nhìn về con người Những nhân vật trong sáng tác của Phan Tứ không đơn diện, đầy phức tạp Trong những tháng ngày ở vùng Trung Trung Bộ, ta với địch xen nhau trong thế cài răng lược, những khó khăn liên tiếp xảy ra: địch đàn áp, khủng bố, cơ sở cách mạng bị cô lập, cán

bộ phải “nhảy núi” Phan Tứ đã kịp thời phản ánh sự trưởng thành của khối quần chúng, làm thay đổi cục diện cách mạng, dấy lên một phong trào đồng khởi khí thế, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch Nhà văn chủ yếu chọn đối tượng mô tả là những con người bình thường, có lòng yêu nước

bị dồn nén trước sự kìm kẹp của kẻ thù Tuy nhiên, con đường đến với cách mạng của họ cũng trải qua một quá trình diễn biến tâm trạng phức tạp, có mặt tiêu cực, mặt tích cực và cả một quá trình đấu tranh căng thẳng, không ít

giằng xé Ông Sần (Về làng): “gần 60 tuổi đầu ông chưa hề biết cái sướng

được đánh con trâu nhà, cày đám ruộng nhà” [118, tr.564] Yêu nước nhưng

có tư tưởng cầu an bảo mạng không dám đấu tranh nhưng khi biết cách mạng chia ruộng đất cho họ thì ông dứt khoát cùng bà con đấu tranh giữ đất Như vậy, Phan Tứ nhận thấy quyền lợi ruộng đất, đặc biệt sự gắn bó của người

Trang 31

nông dân với ruộng đất bao đời này ăn sâu vào tiềm thức là động lực để con

người vươn lên Hay chị Phước (Một buổi chợ), chồng bị giặc giết, chị muốn

yên phận để nuôi con, muốn quên đi hình ảnh cô du kích ngày xưa hay hát

hay cười, “nén lấy từng cơn giận, bịt lấy từng tia hy vọng mơ ước, cố tập cho

mình chai đi, trơ đi thành câm điếc” Khi chứng kiến cái chết của nữ đảng

viên cộng sản Trần Thị Út, chị nức nở kêu lên và chị bốc dúm cát thấm máu người cộng sản đem về đặt lên bàn thờ chồng Phan Tứ đã khơi dậy tình cảm chân chính của con người trong hoàn cảnh chiến tranh bị vùi lấp, nó bị tiềm

ẩn khi ngọn gió cách mạng ùa vào thì sự thức tỉnh của con người mạnh hơn

bao giờ hết Cô Cúc (Con đĩ) vốn là cô gái đẹp, trong trắng và bị bắt trong lần

đòi ký hiệp thương, bị vu oan và rơi vào bẫy Ty trưởng công an, bị làm nhục

và trở thành vợ của quan tay sai Từ đây, cô trượt dài con đường ăn chơi, sa đọa Cô xa lánh gia đình nhưng trong một trận càn lớn của địch, gia đình cô tan nát (mẹ và em bị giải, thằng em trai bị thương) Cúc khóc và muốn làm lại cuộc đời Cách mạng đang dần thấm vào máu chị Cuối cùng Cúc tham gia cuộc biểu tình của dân làng và tố cáo tội ác của thằng Bòng (kẻ rất si mê Cúc)

và bị hắn bắn chết

Không còn đơn thuần miêu tả chuyển biến tư tưởng cách mạng của cá nhân, Phan Tứ cho thấy sự trưởng thành cách mạng của một gia đình nông

dân ở Gia đình má Bảy trong không khí đồng khởi mãnh liệt, tiêu biểu nhân

vật má Bảy Má một lòng sắt son với cách mạng Đã có lúc ngấm mệt sau những ngày bị bắt bớ, tra tấn, má tưởng mình có thể sống bình yên nếu tạm

ngưng hoạt động cách mạng Nhưng lúc nghĩ đến “anh em mình vẫn hoạt

động”, thì chỉ “chớp mắt” và “ý nghĩ ấy chỉ lóe thành chấm sáng yếu ớt chứ không bốc cháy trong má nữa” Nhưng Mỹ - Diệm đâu để gia đình má yên,

Tư Sỏi – con trai má vì sợ mẹ và em bị bọn chúng đánh đập nên dằn lòng

Trang 32

giao hai đứa con cho Đảng, và bản thân má tham gia hoạt động: vạch tội tên

ác ôn Phổ, lãnh đạo công tác binh vận,… Thử thách lớn nhất với má là chứng

kiến địch tra tấn đứa con gái của má – Út Sâm: “máu ứa đầy mình” và nghe

tiếng Sâm rú lên khi địch đóng dấu đỏ rực cháy xèo xèo trên da thịt con Má không khóc, không van xin chỉ dùng ánh mắt khuyên con cố gắng chịu đựng Cuối cùng gia đình má cũng như bao người khác chỉ có con đường duy nhất vùng lên đồng khởi giành chính quyền, giải phóng làng xóm Không phải ngẫu nhiên mà Phan Tứ miêu tả quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng cách mạng của những con người bình thường và cả những con người lạc hậu nữa bởi: họ chiếm số đông trong quần chúng cách mạng Thời kỳ này, Phan Tứ sống và hoạt động, gắn bó với người dân, người lính Chứng kiến cuộc chiến tranh nhân dân đầy đau thương như rất đỗi hào hùng nên ông có điều kiện hiểu con người quần chúng, nhận ra sức mạnh tiềm ẩn của những con người

“một nắng hai sương” nhưng trong sâu thẳm tình cảm gắn bó quê hương, tình yêu thương con người, tinh thần nghĩa vụ, nhất là họ thấy con đường cách mạng là ánh sáng đưa cuộc đời họ thoát khỏi những kìm kẹp của kẻ thù Phải

là những người cán bộ có lòng tin sâu xa vào quần chúng, phải là nhà văn – cán bộ quần chúng mới hiểu tận gốc rễ họ

Nếu Về làng, Gia đình má Bảy, nhà văn chú ý tới quá trình trưởng thành cách mạng của những con người bình thường thì đến Mẫn và tôi, Phan Tứ tập

trung vào thế hệ trẻ, tiêu biểu như Mẫn, trong hoàn cảnh giữa ta và địch đang chạy đua căng thẳng ở vùng vành đai ác liệt quanh căn cứ Chu Lai Từ nhỏ,

Mẫn mang nặng “nợ nước, thù nhà” sâu sắc Mười bảy tuổi, cô được kết nạp vào Đảng, “lấy bảy năm công tác bù vào việc thiếu tháng” Hai mươi tuổi,

Mẫn vừa gánh vác việc nhà vừa làm tròn trọng trách đối với đất nước Cô đã sớm đảm nhiệm công việc nặng nề: làm xã đội trưởng du kích, bí thư chi bộ

xã, đảng ủy viên của cả một vành đai mười hai xã và trải qua nhiều thử thách

Trang 33

gay go, ác liệt, bao mối quan hệ phong phú và tiếp xúc với nhiều loại người khác nhau “Trong chân lý lớn của cách mạng Mẫn phải tự tìm những cái chân lý nhỏ của từng việc, từng ngày, phải dám quyết định và gánh hết trách nhiệm đôi khi quá nặng phải biết làm cho cái đúng thắng cái sai” [119] Sự

trưởng thành nhanh chóng đến không kịp nhận thấy của Mẫn khiến người yêu

cô - Thiêm cũng phải ngỡ ngàng: “không biết bao giờ tôi mới hết ngạc nhiên

về Mẫn” Phan Tứ đã xây dựng thành công cô Mẫn trở thành một nhân vật

điển hình, giàu sức sống Nhà nghiên cứu – phê bình Phan Cự Đệ đã nhận xét

Mẫn và tôi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nền văn nghệ giải phóng có khuynh hướng mở rộng tầm vóc sử thi” Phan Tứ cho người đọc thấy một sự

mẫn cảm chính trị, dám nhìn thẳng vào tâm trạng tiêu cực để bộc lộ sự hiểu

biết, thông cảm với con người và cho người đọc thấy “thép đã tôi thế đấy”,

con người chịu sự chi phối của hoàn cảnh và tác động trở lại hoàn cảnh như thế nào Từ trong gian khổ hy sinh, những con người bình thường kiên trinh

sẽ trở thành viên ngọc “càng mài càng sáng” Ngược lại môi trường đó cũng

là nơi thử thách, sàng lọc, đào thải những kẻ thoái hóa, biến chất, gây không ít tổn thất cho cách mạng Với tâm niệm và sự sắc sảo của mình, Phan Tứ mạnh

dạn “bóc lớp sơn son thiếp vàng của tượng thần để thấy lớp đất sét bên

trong” Trong khi nhiều nhà văn có xu hướng “tô hồng” hiện thực thì Phan Tứ chọn cho mình một hướng đi mới Đó là lối viết hiện thực tỉnh táo với những

mặt đa diện của nó Trước giờ nổ súng, Bên kia biên giới hiện lên với tất cả

cái tốt - cái xấu, cái anh hùng, cái đớn hèn vv….Con người dưới ngòi bút của Phan Tứ ngay từ thời kỳ đầu sáng tác cũng đa dạng, phong phú, phức tạp

Phan Tứ không né tránh sự thật Đó là Chánh (Trước giờ nổ súng) chỉ nghĩ

đến quyền lợi cá nhân mà không thấy trách nhiệm cộng đồng Chánh tình

nguyện qua Lào vì nghĩ đó là nơi có thể ăn chơi trác táng thỏa thích: “Nghe

đâu quân ta sang bên ấy uống rượu cần cứ tít cung thang, dân cho gà lợn ăn

Trang 34

mứa, lại tán gái suốt đêm chả ai nói gì, Chánh hăm hở đi” [52, tr.383]

Nhưng đây không còn là bước chân nhiệt huyết của chiến sĩ đánh giặc mà là của một kẻ phàm phu Ý thức vô kỷ luật của Chánh thể hiện qua lời nói thô tục và hành động uống lén rượu trên đường đi Sau đó, hắn cưỡng hiếp Pha không thành và quyết định đảo ngũ Tham mưu trưởng trung đoàn Đặng được miêu tả vừa có công vừa có tội Là người nghiêm khắc trong giờ giấc làm việc nhưng lại cứng nhắc trong xử lý các công văn khẩn dẫn đến sự chậm trễ tai

hại cho cấp dưới, vô tình gây thảm cảnh cho đội CC3, “nỗi hối hận giày vò

cắn xé anh nhiều…thương đội CC3, hổ thẹn, nhục nhã ” Phan Tứ miêu tả anh

ta là người vừa đáng thương vừa đáng ghét Trung đội trưởng Lương đôi lúc

có vẻ “nhẫn tâm” làm cho người ta dễ sợ hãi, tiểu đội phó Khiêm có tính ghen

tuông hay nghi ngờ, chiến sĩ Sử mang trong mình chất tiểu tư sản “còn tự ái,

kiêu ngầm, sống cô độc” Qua những nhân vật này, Phan Tứ quan niệm : dẫu

một người anh hùng có cao cả đến mấy cũng chưa hẳn đã hoàn mỹ và tác giả còn “đặt ra yêu cầu tìm hiểu xem con người đã được thử thách như thế nào, những phẩm chất mới của họ đã được hình thành ra sao” [58, tr.78] Trong

khi hầu hết các tiểu thuyết cách mạng thời chống Mỹ né tránh những mặt trái của chiến sĩ và mâu thuẫn nội bộ của phe ta thì Phan Tứ mạnh dạn lột tả nó

Tư tưởng này tiếp tục chi phối trong tiểu thuyết Mẫn và tôi (tiêu biểu nhân vật

Tám Liệp) Ngay từ đầu, Phan Tứ đã có cách nhìn, cách cảm về con người hết sức chân thật, sâu sắc Điều này có phần giống như lời phát biểu của L.Tolstoi: “Con người như những dòng sông…mỗi con sông khi thì hẹp, khi thì chảy xiết, khi thì đục, khi thì ấm Con người cũng vậy” [37, tr.142] Đồng

thời, nhà văn miêu tả “những con người thép”, “những hạt gạo trên sàng” là

con người bình thường (khác với nhiều nhà văn đưa vào tác phẩm những điển hình anh hùng nguyên mẫu ngoài đời), có lai lịch, có quá trình và phát triển trong sự tác động, chi phối của hoàn cảnh Phẩm chất anh hùng của nhân vật

Trang 35

qua đó cũng được bộc lộ một cách tự nhiên, không ồn ào, gân cốt, tránh được những gán ghép ngẫu nhiên trong tính cách, có sức sống, giàu sức thuyết

phục: đại đội trưởng Lương (Trước giờ nổ súng); má Bảy, Út Sâm (Gia đình

má Bảy); Thiêm, Mẫn (Mẫn và tôi)…Có thể nói, Phan Tứ trước 1975 đã có

cái nhìn con người gắn với cộng đồng, gắn với sự nghiệp cách mạng Nhà văn

đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật mang tầm khái quát (như nhân vật Lương, má Bảy, Mẫn….) đại diện cho tập thể, một cộng đồng đang lớn mạnh trước bão táp cách mạng Xét đến cùng, Phan Tứ am hiểu về con

người, chủ yếu người nông dân là do: “Từ 14 tuổi anh sống xa gia đình, được

bao bọc trong tình yêu thương của nông dân….Trong cuộc viễn chinh 15 năm qua lăn lộn trong cuộc sống, một mình lao theo cách mạng và cố gắng tiến cho kịp những anh hùng không tên, anh cảm thấy gắn bó thiết tha với nông dân, bộ đội hơn bao giờ hết Trong suốt cuộc đời sáng tác của anh, anh sẽ trung thành với công nông binh, sẽ mãi mãi sống với họ và viết văn ca ngợi họ…” [85, tr.514-515]

Sau 1975, “dưới cái bề mặt sôi động, khá sặc sỡ và ồn ào đó là sự vận động tự nhiên và kín đáo của những quy luật hình thành, phân nhánh, cộng sinh của đời sống thể loại mà nền tảng của nó là trạng thái tinh thần mới của thời đại Một loạt những vấn đề quan trọng đã diễn ra trong văn học ở cấp độ cao nhất là cấp độ quan niệm và ý thức nghệ thuật….nổi bật những bổ sung toàn diện hơn về quan niệm con người…” [25, tr.91] Các nhà văn đã dần dần

có “độ chín” về quan niệm nghệ thuật, mở rộng cái nhìn sâu sắc hơn về con

người Một lần nữa, Phan Tứ đã chứng minh một cây bút nhạy bén hơn về hiện thực cách mạng và đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết

Người cùng quê Phan Tứ khẳng định: “Ngòi bút tôi ngày càng sắc sảo, tôi sẵn sàng theo lối viết của Nguyễn Khải, nếu tôi không sợ phản đối của độc

Trang 36

giả ở miền Nam Sau thống nhất tôi sẽ viết tiểu thuyết gì nhỉ? ….tôi sẽ hiện thực như Cholokhov….nếu tôi có được tài năng của ông ta ” [53, tr.761]

Vấn đề số phận con người đã được đặt ra trong các sáng tác của dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 với những cây bút tên tuổi như Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao… chủ yếu hướng tới những người lao động nhỏ bé, nghèo khổ… Đến giai đoạn văn học cách mạng, con người cần được

nhìn nhận như nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà nhận xét: “Văn học là sự thật Mà

sự thật chủ yếu của văn học là sự thật và con người Nhiều năm qua văn học chúng ta còn mắc nợ cuộc đời về sự thật Sự thật về người nông dân Việt Nam trong bao cơn bão táp của cách mạng và chiến tranh, về người lính suốt ba thế hệ cầm súng đánh giặc trên đủ loại chiến trường với bao nhiêu vinh quang, hy sinh và mất mát, về anh cán bộ nghiêm túc, lương không đủ ăn, về người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và những ngộ nhận ngây thơ, với niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt Các nhà văn ngày nay phải trả món nợ ấy cho đời[108] Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác đã “trả món

nợ ấy” bằng những trăn trở về số phận con người, thể hiện chiều sâu nhận thức, trách nhiệm với đời và hướng đến bình diện con người là tổng hòa các mối quan hệ trong tác phẩm văn học

Trong tình hình xã hội Việt Nam sau 1975, văn học đã bám sát hiện thực đời sống Các nhà văn thực sự trở thành chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa Những sáng tác tiểu thuyết của những nhà văn nói trên đã thể hiện sự trăn trở, tìm tòi về hướng đi của xã hội Việt Nam sau chiến tranh Trong dòng chảy đó của văn học dân tộc, Phan Tứ có những đóng góp cho đời sống và

văn học Với bộ tiểu thuyết Người cùng quê, Phan Tứ đã có những đổi mới

cách nhìn về con người trong dòng vận động của văn học

Trang 37

1.3 Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng quê

1.3.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975

Sau những tháng ngày chìm trong biển lửa chiến tranh, dân tộc Việt Nam đã bước sang một trang sử vàng mới Từ đây, non sông Việt Nam thu về một mối Cả dân tộc bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước

sau chiến tranh

Công cuộc xây dựng đất nước trong hoà bình, sau chiến tranh là một nhiệm vụ hết sức khó khăn Kinh tế miền Bắc chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, cơ chế quản lý quan liêu bao cấp Ở miền Nam, một nền kinh tế phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh, cơ cấu mất cân đối và lệ thuộc nặng nề vào viện trợ bên ngoài Vì vậy, khi Mỹ rút quân, cắt giảm viện trợ, nền kinh tế miền Nam lập tức rơi vào khủng hoảng Đó là chưa kể đến khó khăn ở những vùng bị tàn phá bởi chiến tranh, chất độc hóa học Khó khăn chồng chất khó khăn: thù trong giặc ngoài, sự bao vây cấm vận về kinh tế và

quan hệ ngoại giao, những hệ lụy do tình trạng chiến tranh kéo dài để lại rất nặng nề như tệ nạn ma túy, lưu manh, bụi đời, mại dâm ; số người thất nghiệp, đặc biệt là số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư Ngoài ra, trong quá trình xây dựng xã hội mới, một bộ phận lãnh đạo chính quyền còn non kém, chưa đủ năng lực đáp ứng tình hình mới của đất nước, tư duy quan liêu bao cấp…Đó là những cản trở đẩy nền kinh tế nước ta sau 1975 rơi vào tình trạng khủng hoảng, lạm phát, đời sống nhân dân khó khăn

Đứng trước thực tế của đất nước, Đảng chủ trương đường lối đổi mới nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trên mọi phương diện của đời sống Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) vạch ra đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ

Trang 38

nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh

tế nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” [125.1] và

khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã

hội chủ nghĩa” Đặc biệt, Đảng đưa ra quan niệm khi xây dựng con người

mới: “xây dựng con người phát triển toàn diện, có cuộc sống tập thể và cá

nhân hài hòa, phong phú” Tiếp nối sự khẳng định yếu tố con người trong sự phát triển của xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982) nhấn mạnh:

Mỗi người được phát triển đầy đủ nhân cách, tài năng và năng khiếu của mình, trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân, gia đình và xã hội” [125.2]

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị đã xác định hoàn cảnh mới và nhiệm vụ mới

của văn học nghệ thuật: “văn hóa văn nghệ nước ta cũng phải đổi mới, đổi

mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” Để có sự đổi mới ấy, mỗi nhà văn

phải tìm tòi sáng tạo lối viết mới về tư tưởng và bút pháp đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của thời đại

Cuộc sống hoà bình sau năm 1975 đòi hỏi văn học có nội dung phản ánh phù hợp với thực tế đất nước Thị hiếu thẩm mĩ của độc giả thay đổi do tiếp xúc với nhiều luồng văn hóa Đông - Tây qua các phương tiện truyền thông,

mảng văn học dịch,… có tác động lớn tới quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam Nó làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên Các nhà văn từng sáng tác trong thời kỳ chiến tranh đều nhận ra, nếu tiếp tục viết như cũ, họ sẽ tự đánh mất độc giả Đời sống phong phú và phức tạp của xã hội Việt Nam từ sau năm

1975 đã buộc các nhà văn Việt Nam đổi mới cách viết Sự kết hợp của hai yêu

cầu: “một từ ngoài, từ phía quần chúng, phía cuộc sống và xã hội, phía cách

mạng như nhiều chục năm qua đã diễn ra; và một từ trong, từ chính bản thân văn học” [63, tr.231], thúc đẩy văn học cần có sự “chuyển mình”

Trang 39

Như đã nói, hiện thực đời sống đã khác trước, cần phải có cách tiếp cận phù hợp tức là phải đổi mới tư duy Quá trình đổi mới này đã diễn ra đầy khó khăn và thử thách Đổi mới ở đây không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ

để xây dựng cái mới mà phải đảm bảo tính nguyên tắc của đổi mới: vừa tiếp thu thành tựu của văn học giai đoạn trước đó (1945- 1975), vừa khám phá những hiện tượng cuộc sống mới qua cách nhìn mới về hiện thực, đặc biệt về con người Trong sự đổi mới ấy, đổi mới cách nhìn về con người là quan trọng nhất vì con người là đối tượng trung tâm của văn học Nó là thước đo sự tiến bộ nghệ thuật và thể hiện thế giới quan của người nghệ sĩ trước cuộc sống Mỗi nhà văn có một cái nhìn, cách đánh giá, tầm nhận thức, sự lý giải

về con người “Đây không phải là vấn đề miêu tả tâm lý nhân vật mà cơ bản

là vấn đề chủ nghĩa nhân văn, là quan niệm về con người” [108, tr.62] Trong

tình hình đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá đang vận động và biến đổi, sự thay đổi tư duy văn học là đòi hỏi khách quan, phù hợp với quy luật vận động nội tại của đời sống và của bản thân văn học Trong xu thế đó, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người là dấu hiệu của sự đổi mới về chất của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn mới

1.3.2 Sự vận động đổi mới văn học sau 1975 qua một số tác phẩm tiêu biểu (trong phạm vi tiểu thuyết)

Giai đoạn 1945- 1975, nền văn học dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng đất nước Văn học trong hoàn cảnh ấy phải mang tính thẩm mĩ của thời đại là đề cao, ca ngợi con người anh hùng, tính cách anh hùng Do đó, một

loạt tác phẩm mang âm hưởng sử thi ra đời: Xung kích, Vỡ bờ, Đất nước đứng

lên, Cao điểm cuối cùng, Trước giờ nổ súng, Mẫn và tôi, Hòn đất, Dấu chân người lính… Công chúng văn học trong một thời gian dài sống cùng không

khí văn học mang cảm hứng sử thi

Trang 40

Sau 1975, đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, từ chiến tranh chuyển

sang hòa bình, từ “đời sống bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ dùng của Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình thường” [12, tr.2] Giai đoạn

1975- 1985 là bước chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kì hậu chiến Về cơ bản, nền văn học vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật và với những cảm hứng chủ đạo trong thời kì chiến tranh chống Mĩ cứu nước Đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi

vẫn nổi trội: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng

Oánh), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 1975, họ đã sống như

thế (Nguyễn Trí Huân), Tuy nhiên, đến đầu những năm 80, tình hình kinh tế

xã hội có nhiều biến động phức tạp cùng với quan niệm về các giá trị, chuẩn

mực, mục tiêu phấn đấu thay đổi khiến không ít người sáng tác “bày tỏ băn

khoăn nên tiếp cận hiện thực cuộc sống như thế nào: tô hồng hay bôi đen? Viết về nhân tố tích cực hay những yếu tố tiêu cực? ” [116, tr.364]

Theo Nguyên Ngọc, thời gian này là “khoảng chân không trong văn học”

Nhưng đây cũng là giai đoạn nhiều nhà văn mẫn cảm với cuộc sống đã nỗ lực bằng ngòi bút của mình trên nhiều đề tài khác nhau, với những tìm tòi trăn trở

về các vấn đề xã hội, về số phận con người Họ nhận thức được vấn đề con người đặc biệt là chiều sâu của đời sống cá nhân là mối quan tâm hàng đầu chứ không phải là sự kiện Có những vấn đề hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa được đề cập, còn nhìn nhận một cách phiến diện thì nay có điều kiện được xem xét Ý thức cá nhân với nhu cầu đời thường đã trở lại giống như nó vốn có Lúc này, văn học không chỉ đề cao cái cao cả, sự xả thân mà còn đề cập đến cái bi, cái thấp hèn, cái bản năng của con người Trong những

tiểu thuyết viết về chiến tranh, chất sử thi đã “bắt đầu nhạt hơn so với trước

đó khi người viết tái hiện những khó khăn, tổn thất, những thất bại và xu hướng nghiêng về con người và cuộc sống đời thường” [133] Bích Thu trong

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. L ại Nguyên Ân (1987), “Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu những năm 80”, T ạp chí văn học , (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu những năm 80”, "Tạp chí văn học
Tác giả: L ại Nguyên Ân
Năm: 1987
2. M.Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết , Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
3. M.Bakhtin (1993), Nh ững vấn đề thi pháp Dostoievski , Nxb Giáo d ục, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dostoievski
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
4. Nguy ễn Thị Bình (1996), Nh ững đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Lu ận án Phó Tiến sĩ, ĐHSP - ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguy ễn Thị Bình
Năm: 1996
5. Ngô Vĩnh Bình (1986), “Giấy trắng trước những vấn đề thời sự của cuộc sống”, Văn nghệ quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấy trắng trước những vấn đề thời sự của cuộc sống”, "Văn nghệ quân
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 1986
6. Nguy ễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn ngh ệ minh họa”, Văn nghệ , (49-50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, "Văn nghệ
Tác giả: Nguy ễn Minh Châu
Năm: 1987
7. Nguy ễn Minh Châu (1994), Tuy ển tập Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn h ọc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Nguy ễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
8. Nguy ễn Minh Châu (2009), Di c ảo , Nxb Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cảo
Tác giả: Nguy ễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009
9. Tr ần Cư (1967), “Vài ý kiến về nhân vật anh hùng và con người bình thường”, T ạp chí văn học , (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về nhân vật anh hùng và con người bình thường”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Tr ần Cư
Năm: 1967
10. Nguy ễn Văn Dân (1991), Văn học - nghệ thuật và sự tiếp nhận, Nxb Vi ện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học - nghệ thuật và sự tiếp nhận
Tác giả: Nguy ễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Viện thông tin khoa học xã hội
Năm: 1991
11. Nguy ễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học , Nxb Khoa h ọc xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguy ễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
12. Lê Tiến Dũng (1991), “Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Cửa Việt, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975”, "Tạp chí Cửa Việt
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 1991
13. Đinh Xuân Dũng (2001), “Nghĩ về sự biến đổi bên trong của tư duy sáng t ạo của nhà văn viết về chiến tranh”, báo Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về sự biến đổi bên trong của tư duy sáng tạo của nhà văn viết về chiến tranh”
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 2001
14. F. M. Dostoevski (1930), Thư từ (ti ếng Nga), Moskva, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư từ
Tác giả: F. M. Dostoevski
Năm: 1930
15. Trần Trọng Đăng Đàn (1969), “Gia đình má Bảy và cách mạng miền Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960- 1961”, Tạp chí văn h ọc , (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình má Bảy và cách mạng miền Nam trong bước ngoặt lịch sử những năm 1960- 1961”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Năm: 1969
16. Phan C ự Đệ (1973), “Tiểu thuyết “ Mẫn và tôi” của Phan Tứ”, Tác ph ẩm mới , (25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết “ Mẫn và tôi” của Phan Tứ”, "Tác phẩm mới
Tác giả: Phan C ự Đệ
Năm: 1973
17. Phan C ự Đệ (1980), “Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh chống đế quốc trong ba mươi năm qua”, T ạp chí cộng s ản, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh chống đế quốc trong ba mươi năm qua”, "Tạp chí cộng
Tác giả: Phan C ự Đệ
Năm: 1980
18. Phan C ự Đệ (1985), Tác ph ẩm và chân dung: phê bình - tiểu luận , Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và chân dung: phê bình - tiểu luận
Tác giả: Phan C ự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1985
19. Phan C ự Đệ (1986), “Mấy vấn đề lý luận của văn xuôi hiện nay”, T ạp chí văn học , (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận của văn xuôi hiện nay”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Phan C ự Đệ
Năm: 1986
20. Phan C ự Đệ (2003), Ti ểu thuyết Việt Nam hiện đại , Nxb Giáo d ục, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan C ự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w