Quan niệm rằng những ai có chuyển biến trong sáng tác và chuyển biến đến cùng trong nền thơ ca cách mạng từ 1945 - 1975 mới có cơ sở để khảo sát đối với những bình diện cụ thể của sự sán
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN DIÊN XƯỚNG
THƠ MỚI TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH - 2005
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án do bản thân tôi thực hiện Nếu có gì gian dối, vi phạm quy
chế trong quá trình thực hiện luận án, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
NCS Nguyễn Diên Xướng
Trang 6M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cần thiết và mục đích, ý nghĩa của đề tài: 5
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu: 5
3 Lịch sử vấn đề: 7
4 Phương pháp nghiên cứu: 22
5 Đóng góp của luận án: 23
6 Cấu trúc của luận án: 23
CHƯƠNG 1: SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC 24
1.1 Quan niệm sáng tác của các nhà thơ mới trước năm 1945: 24
1.2 Quan niệm sáng tác của các nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng Việt Nam từ sau 1945: 30
CH ƯƠNG 2: SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ CẢM HỨNG SÁNG TÁC 43
2.1 Quan niệm về cảm hứng: 43
2.2 Sự chuyển biến về cảm hứng sáng tác trong thơ các nhà thơ mới từ sau 1945: 44
2.2.1 Sự chuyển biến từ cảm hứng về cái tôi cá nhân đến cảm hứng công dân: 44
2.2.2 Sự chuyển biến cảm hứng từ tình yêu riêng tư đến cảm hứng về tình yêu gắn với cộng đồng dân tộc: 68
CHƯƠNG 3 SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ GIỌNG ĐIỆU, HÌNH ẢNH VÀ NGÔN NGỮ THƠ 81
3.1 Sự chuyển biến về giọng điệu: 81
3.1.1 Quan niệm về giọng điệu: 81
3.1.2 Sự chuyển biến giọng điệu trong thơ các tác giả: 82
3.2 Sự chuyển biến về hình ảnh thơ: 93
3.2.1 Quan niệm về hình ảnh thơ: 93
3.2.2 Sự chuyển biến về hình ảnh thơ trong thơ các tác giả: 95
3.3 Sự chuyển biến về phương diện ngôn ngữ: 106
3.3.1.Quan niệm về ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ thơ ca: 106
3.3.2 Sự chuyển biến về ngôn ngữ thơ trong thơ các nhà thơ mới: 108
KẾT LUẬN 134
Trang 7MỞ ĐẦU
1.1 Tính cần thiết của đề tài:
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, phần lớn các nhà thơ trong Phong trào Thơ mới đều chuyển biến, đi theo cách mạng và tiếp tục sáng tác Tìm hiểu sự chuyển biến cụ thể của họ bằng một công trình nghiên cứu nghiêm túc, luận án sẽ góp phần làm rõ những nguyên tắc
tư tưởng và nghệ thuật mà các tác giả đã chọn lựa Qua đó, luận án sẽ lý giải mối quan hệ giữa quan niệm sáng tác với thực tế sáng tác, giữa tài năng, bản lĩnh của các tác giả với yêu cầu của thực tiễn đời sống
1.2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài:
Từ tính cần thiết nêu trên, mục đích và ý nghĩa của luận án hướng đến hai vấn đề cụ thể sau:
Xem xét sự chuyển biến của các nhà thơ mới đã đem lại bài học gì về nhận thức, sự
sáng tạo nghệ thuật và đâu là lý do của những thành công, hạn chế của các tác giả
Do sự chuyển biến của các nhà thơ mới diễn ra đồng thời với quá trình hình thành một
kiểu tác giả mới, nên luận án có dịp thấy rõ qui luật vận động, đặc điểm và thành tựu của thơ Việt Nam sau 1945
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu:
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Sự chuyển biến của một số nhà thơ mới trong thơ
ca Cách mạng Việt Nam từ sau 1945 Thơ ca cách mạng nói ở đây là dòng thơ ca chịu ảnh hưởng ý thức hệ vô sản được bắt đầu từ sau cách mạng tháng Tám 1945 và phát triển phong phú trong cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc 30 năm (1945-1975)
- Từ tiêu đề luận án, có thể xác định “Sự chuyển biến” là đối tượng trung tâm Sự
chuyển biến này rõ ràng là từ phạm trù Thơ mới, thơ lãng mạn đến thơ cách mạng Sự chuyển biến như thế, tất phải khảo sát nội dung lẫn hình thức
Trang 8- “ Sự chuyển biến” còn thường xuất hiện vào các thời kỳ giao thời, thời kỳ “bản lề”
của trước và sau một biến thiên lớn, nên luận án xem thời kỳ Cách mạng tháng Tám 1945 là
có ý nghĩa quan trọng Đây là một thời kỳ lịch sử rất đặc biệt của dân tộc và văn học với nhiều dấu ấn riêng của chính trị, xã hội cùng các khuynh hướng văn hóa, tư tưởng khác
nhau đã tác động đến sự chuyển biến của các nhà thơ mới
- “ Sự chuyển biến” theo nghĩa rộng hãy còn tiếp tục ở các nhà thơ mới vào các thời kỳ
sau Tuy nhiên, suy cho cùng, các thời kỳ tiếp sau vẫn thuộc phạm trù thơ Cách mạng Việt Nam Những chuyển biến về sau này của họ, thực ra cũng là quá trình điều chỉnh, phát triển con đường thơ của từng tác giả và tất nhiên điều này vẫn có sự chi phối từ những bình diện
cơ bản đã được xác lập từ thời điểm sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Sự chuyển biến của các nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng là một đề tài rộng, đòi
hỏi khảo sát trên nhiều bình diện khác nhau Từ điều kiện thực hiện luận án, chúng tôi giới
hạn việc nghiên cứu đối với những vấn đề cơ bản như: Sự chuyển biến về quan niệm sáng
tác, về cảm hứng, về giọng điệu, về hình ảnh thơ và ngôn ngữ Những vấn đề này sẽ được
triển khai trên cơ sở sự chuyển biến trong sáng tác thơ ca của các tác giả Quan niệm rằng những ai có chuyển biến trong sáng tác và chuyển biến đến cùng trong nền thơ ca cách mạng (từ 1945 - 1975) mới có cơ sở để khảo sát đối với những bình diện cụ thể của sự sáng
tạo, nên luận án, tuy có nói đến nhiều nhà thơ mới khác nhau, nhưng chủ yếu sẽ khảo sát,
phân tích đối với các nhà thơ: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh Đây là những nhà thơ có sự chuyển biến nhanh hoặc chậm, nhưng đều có nhiều sáng tác nhất Một số tác phẩm sáng tác từ sau 1945 của họ đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học ở nhà trường các cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và cũng được nhiều nhà nghiên cứu tham gia bàn luận Do vậy, chắc chắn khảo sát sự chuyển biển của các nhà thơ nói trên, luận án có thể tìm thấy một số điểm riêng của từng nhà thơ và
một số vấn đề chung đối với tất cả các nhà thơ mới đi theo cách mạng và tiếp tục sáng tác
2.2 Phạm vi tư liệu:
- Các nhà thơ mới lãng mạn chuyển biến thành những nhà thơ Cách mạng, nên những
sáng tác trước năm 1945 của họ là tư liệu cần thiết để so sánh đối với sáng tác sau 1945 Và chính những sáng tác tiêu biểu từ sau 1945 của họ là phạm vi tư liệu cơ bản
Trang 9- Các tài liệu, công trình có tính chất hồi ức, kỷ niệm về quá trình chuyển biến của các
n hà thơ mới cũng là tư liệu cần thiết
- Tạp chí Tiên phong (1945 - 1946) với 34 số, tạp chí Văn nghệ (1948 - 1954) với 56
số sẽ là tư liệu tin cậy để tìm hiểu vấn đề
- Những bài viết, công trình của các cá nhân, tập thể khác (cả Miền Nam trước năm 1975) có liên quan đến đề tài, đều là tư liệu được tham khảo
3 Lịch sử vấn đề:
Cho đến nay, chưa có công trình chuyên sâu nào bàn về sự chuyển biến của các nhà
thơ mới trong thơ ca cách mạng từ sau 1945 Nhưng nhìn một cách rộng rãi thì vấn đề ít
nhiều đã được bàn đến từ thời kháng chiến chống Pháp cho đến nay qua nhiều bài viết, công trình khác nhau Qua các giai đoạn, có thể thấy các nhà nghiên cứu quan tâm đến hai mặt cơ bản: chuyển biến về quan niệm sáng tác và sự chuyển biến về thực tế sáng tác (cả nội dung
và hình thức)
3.1 Giai đọan 1945 - 1954:
Ngay sau Cách mạng tháng Tám, trên tạp chí Tiên Phong (1945 - 1946) và sau đó, trên
báo Văn Nghệ (1948 - 1954), các nhà nghiên cứu - phê bình, các nhà văn như Đặng Thai
Mai, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Đình Lạp đều ghi nhận sự
chuyển biến của các nhà thơ mới trong đời sống văn nghệ cách mạng Các bình diện như
nhận thức - tư tưởng, quan niệm sáng tác và thực tế sáng tác đều ít nhiều được đề cập đến
Trong bài: Nguồn sống mới của văn hóa Việt Nam, in ở tạp chí Tiên Phong số 3,
Nguyễn Đình Thi ghi nhận sự chuyển biến của văn nghệ sĩ lớp trước 1945, trong đó có các
nhà thơ mới đã “can đảm nhận cái lầm của mình, và quả quyết đem đời sống riêng đặt vào
đời đoàn thể” [184; 162] Chính nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng nói: “Tôi có cảm giác là duy trì cuộc sống riêng biệt là không được nữa, chỉ có cuộc sống chung là đáng duy trì thôi” [119; 860] Những nhận thức trên đây là một bước ngoặt quan trọng, có ý nghĩa lâu dài đối với quan niệm sáng tác về sau của họ Khi được phỏng vấn về “Những nỗi băn khoăn của tư tưởng và nghệ thuật”, Lưu Trọng Lư trả lời với Nguyễn Đình Lạp như sau: “Từ ngày ở đấy
về (ở Quảng Ngãi - TGLA), cái quan niệm văn chương của tôi như biến đổi hẳn từ trong căn
Trang 10bản Tôi thích sự thực Và hơn hết, sự thành thực” [119; 861] Đối với Lưu Trọng Lư, có thể hiểu rằng, ông đã muốn chuyển biến từ sự “mơ mộng” đến với những gì thiết thực của đời
sống Tất nhiên là “phải biết đợi”, biết “rung động theo nhịp điệu của đoàn thể”, biết “dân tộc hóa một cách đầy đủ, chín chắn” [119; 866 - 868]
Trên phương diện sáng tác thơ ca, Nguyễn Đình Thi điểm lại chuyển biến rõ rệt của Trận Huyền Trân qua “điệu thơ sáu tám”, Vũ Hoàng Chương “hát lên những lời mới mẻ” và đặc biệt tác giả khẳng định “sự biến cải” của Xuân Diệu cùng với những sáng tác nhiều sự
“hứa hẹn” của ông như Miền Nam ruột thịt, Đã đứng lên, Ngọn Quốc Kỳ [184; 163] Cắt
nghĩa những thành công mới mẻ của Xuân Diệu trên đây, Đặng Thai Mai cho rằng chính
“cuộc tổng khởi nghĩa và những trận kháng chiến đã cấp cho Xuân Diệu một nguồn thi hứng rất giàu và rất khỏe” [122; 661] Nhà nghiên cứu cũng xác nhận có một sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn và nghệ thuật của Nguyễn Xuân Sanh [122; 661] qua những bài thơ đăng báo thời kỳ này
Như vậy, trên các bình diện nhận thức - tư tưởng, quan niệm sáng tác và thành tựu thơ
ca, các nhà nghiên cứu - phê bình đều đã nói đến sự chuyển biến của các nhà thơ mới Tuy
chưa được chi tiết, nhất là chưa có cái nhìn đối với sự chuyển biến từ thơ lãng mạn đến thơ sau Cách mạng tháng Tám, nhưng những ý kiến trên là bước khởi đầu rất đáng ghi nhận
trong lịch sử nghiên cứu sự chuyển biến của các nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng từ sau
1945
3.2 Giai đoan 1954 - 1975:
Giai đoạn này đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ xã hội khác nhau Sự
đánh giá về quá trình chuyển biến của các nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng còn là vấn đề
quan điểm, thiên kiến chính trị và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Ở Miền Nam:
Ở Miền Nam, từ cuối những năm năm mươi đã có một số tác giả đề cập đến khía cạnh văn nghệ sĩ tiền chiến đi theo cách mạng Những ý kiến của họ đều nói đến nhận thức - tư tưởng, quan niệm sáng tác và thực tế sáng tác thơ ca, nhưng ít cụ thể và khá phân hóa về quan niệm
Trang 11- Loại ý kiến thiếu khách quan đối với sự chuyển biển cửa các nhà thơ mới:
Trong bài: “ Nguyễn Bính và những bước lỡ làng gieo neo trong cuộc sống”, tác giả
Sông Thai có ý phân biệt sự khác nhau trong cảm hứng và thành tựu thi ca của Nguyễn Bính qua hai thời kỳ trước và sau 1954 Trước năm 1954, khi còn hoạt động kháng chiến và làm thơ ở Miền Nam thì Nguyễn Bính “hết lòng với cách mạng, với tổ quốc” [179; 113] và sáng tác được nhiều tác phẩm thành công Còn từ sau 1954, khi Nguyễn Bính tập kết ra Miền Bắc thì “tâm hồn nhà thơ đã hóa ra cằn cỗi, giá lạnh thiếu hẳn một ngọn lửa nhiệt tình làm cơ sở cho việc sáng tác” [179; 113] Cuối cùng, tác giả đã quy kết việc “đuối sức, khô khan” của Nguyễn Bính “căn bản là vì chế độ Miền Bắc đã không có đủ yếu tố cần thiết tạo nên sinh lực cho tâm hồn và trí tuệ của nhà thơ” [179; 113]
Ở bài viết: “Đi tìm thân thế và tác phẩm một thi sĩ ẩn danh: Chế Lan Viên”, Nguyễn
Phan nói từ sau 1945, Chế Lan Viên trở thành “một nhà thơ máy” [152; 03] của Miền Bắc Trong việc sáng tác cụ thể của Chế Lan Viên, Nguyễn Phan nói “Chế Lan Viên thấy làm thơ
ca tụng quá cũng nhàm lại bị bạn bè nói xỏ, nói xiên”, nên Chế Lan Viên đã chuyển cảm
hứng sang làm một bài thơ tình cách mạng là Tình ca ban mai Không thấy đưa ra những cứ
liệu cụ thể nào của cơ quan in ấn hoặc đánh giá bài thơ tình nói trên, nhưng Nguyễn Phan nói tiếp: sau khi bài thơ cho đăng báo ít lâu thì Đảng “hỏi thăm” Chế Lan Viên về tội “ủy mỵ” trong bài thơ tình ấy và đòi đưa nhà thơ lên rừng cải tạo tư tưởng [152; ,04] Cách nói thiếu căn cứ và mang tính chủ quan như trên là thiếu thuyết phục đối với trường hợp có sự chuyển biến đạt nhiều thành tựu trong nền thơ cách mạng như Chế Lan Viên
Ngoài ra, những ý kiến khiếm danh của các Nhà xuất bản Thăng Long, Hoa tiên khi xuất bản lại một số công trình như Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan) hay hàng loạt tập thơ
của các nhà thơ mới cũng đều cho rằng các nhà thơ mới không sáng tác được gì, từ khi đi
theo cách mạng Những ý kiến trên đều có phần thiếu khách quan Do thiền kiến chính trị một chiều, cái nhìn của các tác giả chưa thấy hết được những chuyển biến cụ thể của các
nhà thơ mới từ thơ lãng mạn đến thơ ca cách mạng
- Loại ý kiến có phần khách quan đối với sự chuyển biến của các nhà thơ mới:
Trong biên khảo: “Hai mươi năm văn nghệ miền Bắc, 1945- 1965” (1969), Sông Thai
có một số nhận xét tổng quát có phần khách quan về sự phát triển của văn nghệ Miền Bắc từ
Trang 121945 đến 1965 [178; 108 - 109] Ở phần thơ ca, tác giả nói: trước hết phải kể đến những nhà thơ tiền chiến, lớp người đã đoạn tuyệt với nếp rung cảm lãng mạn, yếu đuối, vàng vọt qua cái cá nhân chủ nghĩa hoàn toàn bé nhỏ ích kỷ để hòa mình với cuộc kháng chiến rộng lớn bao trùm lấy mọi sinh hoạt xã hội [178; 93] Ý kiến này chứa đựng cả sự chuyển biến về tư
cách công dân và tư cách nghệ sĩ của các nhà thơ mới Đối với hình thức và nội dung tác
phẩm thơ ca, Sông Thai chỉ có ý kiến khái quát Với hình thức thì thơ ca đã sử dụng rộng rãi nhiều hình thức [178; 93], với nội dung thì nói về những người bình thường nhưng cùng tâm
chí chiến đấu cho dân tộc [178; 93] Trong khi phân tích thơ của nhiều nhà thơ, các nhà thơ
mới như Lưu Trọng Lư, Vân Đài, Anh Thơ cũng được tác giả dừng lại ở các điểm chuyển
biến rõ rệt Đối với Lưu Trọng Lư, Sông Thai xem là người đã “tỉnh mộng trở về” để “theo
những cô thôn nữ quê mùa nhưng thật đáng yêu như hình ảnh khả ái của một O đi tiếp tế”
Tác giả cũng cho Lưu Trọng Lư là người đã “bình tĩnh để giới thiệu những con người Bình
Trị Thiên hiên ngang bất khuất qua bài thơ xinh đẹp Ngò cải đơm hoa” [178; 91] Tác giả
cũng nhận thấy: một “Vân Đài dịu dàng:”, một “Anh Thơ yếu ớt” cũng đã cố gắng theo bộ
đội hành quân, theo “Chị cán bộ kháng chiến” [178; 94- 98] Các ý kiến của Sông Thai cho
thấy các nhà thơ mới được nhắc đến ở đây đều có sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức -
tư tưởng và sáng tác thơ ca Tuy nhiên, ý kiến của Sông Thai tự bộc lộ sự bất nhất trong
quan điểm đánh giá đối với các nhà thơ mới đang ở miền Bắc lúc bấy giờ Ý kiến của Sông Thai về Nguyễn Bính trong bài: Nguyễn Bính và những bước lỡ làng gieo neo trong cuộc
sống nói ở trước và ý kiến ở phần này cho thấy điều đó
Năm 1970, trong một bài viết gồm nhiều phần chủ yếu nói về cuộc đời và thơ văn của Thâm Tâm trước 1945, Thiên Tướng có nói đến sự chuyển biến của Thâm Tâm trên phương diện tư cách công dân đối với đất nước đang kháng chiến chống giặc ngoại xâm Tác giả khẳng định: “Thâm Tâm đi với kháng chiến, tích cực dự phần chiến đấu cho tự do, độc lập
và dân chủ của đất nước” [211; 16] Còn ở phương diện sáng tác, tuy Thiên Tướng biết Thâm Tâm “vẫn làm văn nghệ” [211; 06], nhưng tác giả không có tư liệu cụ thể
Có khác với ý kiến của Sông Thai nói về Nguyễn Bính ở bên trên, tác giả Thái Bạch trong bài: “Nguyễn Bính- nhà thơ kháng chiến ở miền Nam Việt Nam” (1974), có một vài ý kiến mang tính khách quan đáng ghi nhận Tác giả xác định rằng, chính cuộc sống kháng chiến, nhất là những thắng lợi liên tiếp trên mặt trận quân sự ở Miền Nam đã tạo cảm hứng
Trang 13n gười của ngày mai, Tiểu đoàn 307, Trường ca Đồng Tháp Mười Thái Bạch cũng đánh
giá Nguyễn Bính là “nhà thơ đáng ghi vào văn học sử” và “chấp nhận” ở Nguyễn Bính
“những bài có chất phục vụ cho cuộc sống theo chiều hướng tiếnlên của một dân tộc mà thôi” [7; 20] Tuy nhiên, tác giả Thái Bạch cũng không quên chỉ ra cái “không hiểu được” [7; 19] của Nguyễn Bính về vai trò của nhân dân, của cách mạng ngay trong những ngày nhà thơ tham gia kháng chiến và làm thơ Ý kiến của Thái Bạch cho thấy sự chuyển biến của Nguyễn Bính tốt hơn ở phần sáng tác, còn phần nhận thức - tư tưởng có một số hạn chế Trong hồi ký “Con người Chế Lan Viên” (1974), Hoàng Trọng Miên không nói đến sự chuyển biến và sáng tác của Chế Lan Viên từ khi đi theo cách mạng, nhưng tác giả dành nhiều trang thích đáng để nói về cảm hứng sáng tác dào dạt của Chế Lan Viên qua nhiều bài
thơ trong tập Ánh sáng và phù sa [129; 14 - 16]
Cách trình bày của Hoàng Trọng Miên chứng tỏ tác giả thừa nhận Chế Lan Viên đã có
những chuyển biến tích cực, dù sự thừa nhận này chưa được đối chiếu với tập thơ Điêu tàn
trước kia của Chế Lan Viên
Tất cả những ý kiến thiếu khách quan hay có phần khách quan trên đây, thực ra vẫn chưa đầy đủ, nhưng nó cũng mang lại vài nét chung nhất trong quan niệm của các tác giả đối với vấn đề đang bàn:
- Thứ nhất: Các tác giả đều chỉ thấy sự chuyển biến từ sau Cách mạng tháng Tám, chứ chưa xuất phát từ thơ ca của các tác giả trước 1945 để thấy sự đổi thay trong quá trình sáng tạo,
- Thứ hai: Do phương pháp và thiên kiến chính trị, nên một số ý kiến phê phán sự
chuyển biến của các nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng, đánh giá thấp sự sáng tạo của họ
ở loại ý kiến này, cả Nguyễn Phan, Sông Thai đều có chỗ giống nhau ở thái độ phủ định văn nghệ ở miền Bắc Điều này là do sự chi phối của thái độ chính trị của các tác giả và suy cho cùng, đó là sự chống phá, xuyên tạc đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa
- Thứ ba: Một số tác giả tôn trọng sự chuyển biến của các nhà thơ mới, đánh giá cao
những thành công mà họ đạt được, trong đó, ý kiến của Thái Bạch, nhà nghiên cứu từng tham gia kháng chiến chống Pháp và được bố trí ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động cách mạng là ý kiện đáng trân trọng
Trang 143.2.2 Ở Miền Bắc:
Đối với sự chuyển biến của một số nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng, các nhà
nghiên cứu ở Miền Bắc đã nhìn nhận vấn để trên quan điểm cách mạng và dân tộc, đánh giá
cao sự chuyển biến và cống hiến của các nhà thơ mới trong đời sống cách mạng, kháng
chiến, ghi nhận những thành công của họ cả trong chuyển biến về nhận thức - tự tưởng lẫn sáng tạo thi ca Tuy nhiên, do phần nào thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể, nên cũng có ý kiến
hạ thấp giá trị Thơ mới trong tương quan với thơ ca cách mạng, mà chưa chú ý đến vấn đề
có tính phương pháp luận: Thơ mới và thơ ca cách mạng là hai phạm trù thi Ca khác nhau
Mặt khác, cũng có ý kiến chịu ảnh hưởng của quan niệm văn chương hiện thực mang tính
xã hội học dung tục, nên chưa thực sự khách quan đánh giá sáng tác của các nhà thơ mới
(giờ đã là những nhà thơ cách mạng) từ bình diện sáng tạo nghệ thuật Mặc dù vậy, các ý kiến của các nhà nghiên cứu ở Miền Bắc giai đoạn này đã đánh dấu bước phát triển mới đối
với việc nghiên cứu sự chuyển biến của các nhà thơ mới nói riêng, sáng tác của họ trong nền
thơ ca cách mạng nói chung
Từ năm 1956, trong bài viết: “Một vài ý kiến về tập thơ NGÔI SAO của Xuân Diệu”,
nhà phê bình Hoài Thanh đã thấy cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng, nhất là nông dân [182; 208] Xuân Diệu thu nhận nhiều niềm vui của cuộc đời
mà trước kia không có [182; 208-210] Qua việc tham gia cải cách ruộng đất, Xuân Diệu có
“một sự chuyển biến mới trong tư tưởng và trong thơ” [182; 211] Từ đó, trong thơ ông, nhiều quan hệ cuộc đời được miêu tả “mặn mà, chu đáo” [182; 214] Thái độ đả kích bọn phản cách mạng của Xuân Diệu là một ưu điểm [182; 213] Cũng theo Hoài Thanh, bước biến trong tập thơ là nhờ sự “cố gắng chân thành” của tác giả và sự giáo dục của Đảng, của nhân dân
Năm 1970, khi nhìn lại quá trình thơ Xuân Diệu, Nguyễn Duy Bình xác định thơ Xuân Diệu đã “lao vào giữa biển người cách mạng” ngay từ đầu và ông ca ngợi cách mạng nhân dân, chĩa mũi nhọn vào bọn phá hoại chính quyền [9; 48-49] Nguyễn Duy Bình cũng thấy Xuân Diệu còn trăn trở trên đường cách mạng, vì còn tình trạng “cứ chùn dần, cứ cuốn lại” Đến sau cải cách ruộng đất, tình trạng này mới được khắc phục dần Cảm xúc anh hùng, theo Nguyễn Duy Bình, xuất hiện rất sớm trong thơ Xuân Điệu, nhưng nó còn đậm màu
Trang 15sống có khi còn “ứ tràn”, chưa chín trong thơ tác giả, nhưng con đường thơ Xuân Diệu theo Nguyễn Duy Bình sẽ còn “đâm chồi nảy lộc” [9; 60],
Phan Cự Đệ thấy trong tập thơ Riêng - Chung, Xuân Diệu đã đem tình cảm ca ngợi
Đảng và chế độ [37; 215] Đem cái riêng của mình hòa với cái chung, nâng cái “tôi” cho khớp với cái “ta” của thời đại là một cố gắng của Xuân Diệu Phan Cự Đệ cũng thấy cái nhìn của Xuân Diệu đối với thiên nhiên, con người có nhiều thay đổi, mang thêm tình cảm tốt đẹp và điều này chính là nhờ cách mạng [37; 217] Nhưng nhà phê bình cũng nói rằng tình cảm ngợi ca con người lao động trong thơ Xuân Diệu như hãy còn “đứng ngoài” mà ca ngợi, chưa nói hết những vất vả, buồn vui trong cuộc đời của những người cần lao [37; 219-220]
Các ý kiến trên đây thấy được sự chuyển biến của Xuân Diệu về lập trường tư tưởng
lẫn sáng tác là đều nhờ cuộc sống cách mạng Về tư tưởng, dù Xuân Diệu rất quyết tâm tự
cải tạo mình, nhưng vẫn có tình trạng “chùn chân”, “cuốn lại”, tức cuộc đấu tranh nội tâm vẫn còn phức tạp, dai dẳng Còn sáng tác của Xuân Diệu đã đóng góp tích cực vào nền thơ
ca mới, dù vẫn chưa nói hết được mọi mặt của đời sống Tuy nhiên, việc nhìn sự chuyển biến cụ thể của Xuân Diệu từ nội dung đến hình thức từ trước 1945 đến sau Cách mạng tháng Tám chưa được các tác giả chú ý
Cuối năm 1959, Minh Dương đã thấy Lưu Trọng Lư có “tiến lên về tư tưởng và nghệ
thuật” qua tập thơ tỏa sáng đôi bờ Minh Dương cho rằng tư tưởng, tình cảm của Lưu Trọng
Lư đã “quần chúng hóa” [31; 316]
Đến tập thơ Người con gái sông Gianh của Lưu Trọng Lư, Hà Minh Đức, Vũ Đình
Phòng đều xác định đề tài chống Mỹ có vị trí quan trọng trong thơ của Lưu Trọng Lư và nhà thơ đã ca ngơi những người anh hùng trong các cuộc chiến đấu Cũng theo hai nhà nghiên cứu trên, hình ảnh người phụ nữ rất được Lưu Trọng Lư quan tâm [47; 326][145; 350]
Những con người như cô con gái Sông Gianh, chị út Tịch, chị Lý, chị Định, chị Khương,
chị Viễn đều được nhà thơ trân trọng diễn đạt bằng bút pháp “lãng mạn hoa” Dù tập thơ còn dùng từ ngữ, hình ảnh cũ, có chỗ chưa nhuần nhuyễn như các nhà nghiên cứu nói, nhưng Lưu Trọng Lư luôn gắn bó với sự nghiệp của nhân dân
Trang 16Những ý kiến nêu trên cho thấy sự chuyển biến về đối tượng sáng tác của Lưu Trọng
Lư đã đổi mới, nhưng hình thức thể hiện vẫn còn chịu ảnh hưởng của thơ lãng mạn Cái nhìn của các tác giả chủ yếu vẫn tập trung vào phần sáng tác thơ sau Cách mạng tháng Tám,
chứ chưa so sánh với tập thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư trước 1945.
Đọc Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Chế Lan Viên, Lê Đình Kỵ đều xem những
chuyến đi công tác thực tế của Huy Cận đã “xúc tiến sự nở rộ trong tâm hồn Huy Cận” [222; 78] “đưa lại một sự chuyển biến lớn trong sáng tác của nhà thơ” [92; 96], Bên cạnh
ưu điểm ngợi ca cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa, các tác giả cũng thấy tình cảm của nhà thơ
có khi còn “tịch mịch” [92; 96] và còn có cái phần “sự sống chưa lên đến tận độ” [222; 83]
ở một số bài thơ Đến Bài thơ cuộc đời, Lê Đình Kỵ, Đào Xuân Quý thấy tập thơ có tính
cách “nở hoa, kết trái” [160; 107], làm đầy đặn thêm cho “chủ đề lao động kiến thiết đất nước [93; 98], và nhờ đó, tâm hồn thơ Huy Cận trở nên giàu có hơn [160; 112], hào hứng, lãng mạn hơn [160; 99] Mặc dù tập thơ còn cái nhìn “thuận chiều” [160; 113], chưa hài hoa giữa tư tưởng và tình cảm [93;103], [160; 113], nhưng các tác giả đều khẳng định Huy Cận
có chuyển biến tốt [160; 99] và đi vào cuộc sống với “bước chân ngày một vững vàng” [93; 106]
Nghiên cứu những sáng tác của Huy Cận, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức đều khẳng định cảm hứng về đất nước, thiên nhiên, tạo vật vẫn hiện ra tươi đẹp, hài hoa trong
thơ Huy Cận [128; 118], [49; 128 -129] qua hai tập thơ: Những năm sáu mươi, Chiến
trường gần đến chiến trường xa Đến tập thơ: Ngày hằng sống, ngày hằng thơ, Nguyễn Văn
Long cũng thấy cái đẹp của thiên nhiên, tạo vật được Huy Cận đặt trong tương quan, hòa nhập với cuộc sống của con người [115; 141] Nhưng quan trọng hơn, các tác giả đều thấy cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược đã trở thành chủ đề nổi bật trong hai tập thơ thời chống Mỹ nói trên Hướng thơ về phía chính luận, suy tưởng [49; 127], tạo cho thơ cách nghĩ mang tầm dân tộc và thời đại [128; 122] cũng là một cố gắng của Huy Cận, theo các tác giả Tuy nhiên, do phong cách có tính chất “lành, thấm” của mình mà Huy Cận “yêu thương thiết tha nhưng ít diễn đạt căm thù mãnh liệt” [128; 121] Các nhà nghiên cứu cũng
thấy có lúc “chất liệu chưa hoa thân đầy đủ” [49; 128] trong thơ, cảm xúc hơi đuối [128; 115] và chữ nghĩa còn lập lại đơn điệu [115; 145]
Trang 17Dù cái nhìn nghệ thuật của Huy Cận còn tránh những mặt phức tạp của đời sống,
nhưng ý kiến của các tác giả nói trên đều có điểm chung: từ việc thâm nhập thực tế, Huy Cận đổi mới hồn thơ, phản ánh được những vấn đề nổi bật của cuộc sống mới Quan niệm của các tác giả chủ yếu được nhìn theo hướng ủng hộ sự phát triển của hồn thơ Huy Cận Thực ra, Huy Cận có gần mười năm tính từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã có tình trạng không đồng hành giữa con người công dân, cán bộ và con người thi sĩ Sự chuyển biến chậm chạp này chưa được các tác giả đi sâu phân tích
Chế Lan Viên xem sự chuyển biến về lập trường - tư tưởng của Tế Hanh là lẽ dĩ nhiên
trong mười lăm năm tính từ sau 1945 Trong thời gian này, Chế Lan Viên nhận thấy Tế Hanh có sự chuyển biến từ cảm xúc đến đề tài, chủ đề, cách diễn đạt Theo Chế Lan Viên,
từ đầu cách mạng, Tế Hanh đã là “nhà thơ hiện thực” và ông đã từ việc chuyên viết về mình, nay chuyển sang viết về người, về “nhân vật ngoài mình” Qua tập thơ Tiếng sóng, Tế
Hanh có một sự chuyển biến mới trong cách nhìn hiện thực [221; 76]
Nghiên cứu một số tác phẩm xuất hiện trong mười lăm năm ấy, các tác giả Thiếu Mai,
Mã Giang Lân, Hà Minh Đức đều ghi nhận Tế Hanh giàu có về tâm hồn hơn, biết yêu cả những điều mà trước kia tưởng như không có quan hệ với mình và mỗi ngày, thơ Tế Hanh
đã lớn lên thêm, cao thêm một chút [106; 115] Hà Minh Đức, Mã Giang Lân cho rằng Tế Hanh có ý thức xoa bỏ những khoảng cách giữa nhà thơ và cuộc đời [50; 227], tự giác hoa nhập vào cách mạng Hà Minh Đức, Ngô Quân Miện thống nhất xém phần thơ ca của Tế Hanh từ sau Cách mạng tháng Tám mới là phần thơ có nhiều hương vị và nổi trội nhất [50; 247], [130; 250] Với các trang viết chu đáo, tinh tế về nhiều bài thơ của Tế Hanh, nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ cho rằng cái nhìn nghệ thuật của Tế Hanh chỉ có thể là của nhà thơ,
nhà văn dưới chế độ chúng ta [94; 304] Bên nhiều cái đáng yêu thích của tập thơ Tiếng
Sóng, Lê Đình Kỵ còn nói đến cái dễ dãi, “cái cảm tưởng bằng phẳng” trong một số bài thơ của Tế Hanh
Khi xem xét Khúc ca mới, Đi suốt bài ca, Lê Tố, Nguyễn Xuân Nam, Thiếu Mai đều
ghi nhận tính kịp thời của thơ Tế Hanh đối với những vấn đề thời sự - chính trị Theo Vũ
Quần Phương, ngoài những đề tài đã có, trong tập Theo nhịp tháng ngày, Tế Hanh đã “bám
sát những đề tài của Miền Nam” [155; 379] Vũ Quần Phương cũng thấy Tế Hanh không né
Trang 18tránh việc đả kích kẻ thù, nhưng ông “ca thì tâm tình” còn “rủa không độc níiệng” [155; 375]
Đọc những ý kiến trên, thấy các tác giả đều thống nhất nhận xét Tế Hanh là nhà thơ có
sự chuyển biến rõ rệt trong tình cảm, nhận thức và đã sáng tác được một số thơ ca Cuộc đấu tranh với con người cũ của mình cũng như quá trình “mò mẫm” trong sự sáng tạo của Tế Hanh là điều chưa được các tác giả quan tâm một cách cụ thể
Năm 1961, khi nghiên cứu Ánh sáng và phù sa, Lê Đình Kỵ và Xuân Diệu đều cho
rằng thơ Chế Lan Viên đã “hồi sinh” bằng nhiều bài thơ cảm động về cuộc sống và con người [90; 113], đã đến được những vấn đề lớn của cuộc vui chung [27; 306] Các tác giả
thấy rõ Chế Lan Viên biến chuyển từ việc viết về “Chiêm nương, bóng tháp” đến viết về
lãnh tụ, về Đảng [90; 313], biết “tự vượt mình để nghĩ đến mọi người” [27; 307] Xuân Diệu nhận ra cách mạng và kháng chiến đã đưa Chế Lan Viên về với cái suy nghĩ và ăn nói bình thường của đông đảo con người [27; 304] Lê Đình Kỵ lại phát hiện Chế Lan Viên xưng
“ta” khi nói về cuộc sống mới, nhưng vẫn hiện rõ cái “tôi” của nhà thơ [90; 314] Điều này chứng tỏ cái tôi cá nhân của nhà thơ vẫn tồn tại và được tôn trọng
Năm 1968, trong bài viết Những biển cồn hãy đem đến trong thơ, Lê Đình Kỵ xem tập thơ Hoa ngày thường, Chim báo bão của Chế Lan Viên đã chuyển mạnh sang phong cách
chính luận [91; 331] Chế Lan Viên làm một cuộc chuyển quân, tiến sát tới những tuyến đầu của cuộc chiến đấu của dân tộc và cửa thời đại [91; 334] Cảm hứng anh hùng, cảm hứng dân tộc, cảm hứng thời đại đã nâng thơ Chế Lan Viên lên rất nhiều [91; 339] Qua tập thơ,
Lê Đình Kỵ thấy phần tự biểu hiện bị đẩy lùi ra sau và phẫn hiện thực đấu tranh của nhân dân để lên hàng đầu, trở thành cảm nghĩ và thể hiện [91; 341-342] Theo Lê Đình Kỵ, đó cũng là bước phái triển quan trọng của thợ Chế Lan Viên theo hướng hiện thực chủ nghĩa [91; 342] Tuy nhiên, Lê Đình Kỵ cũng nói Chế Lan Viên chưa có nhiều xót xa, “xế ruột xé lòng” [91; 344] trong những vần thơ chống Mỹ
Năm 1970, Nguyễn Văn Hạnh nghiên cứu đặc điểm thơ ca của Chế Lan Viên và cho rằng: tuy Chế Lan viên chuyển biến chậm, vất vả nhưng khi chuyển được thì “sâu và thấm thía” [63; 70] Nhà nghiên cứu cũng thừa nhận Chế Lan Viên là người băn khoăn nhiều nhất, nói da diết nhất về mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới, giữa hạnh phúc và đau khổ [63;
Trang 19Từ tình yêu Tổ quốc mà nhà thơ nghĩ đến nhiều vấn đề, nhiều phương hướng của dân tộc, thời đại và phân tích sâu sắc về chúng [63; 71] Cũng năm này Nguyễn Lộc thấy tập thơ
Hoa ngày thường, Chim báo bão đã bớt đi việc gắn liền với cái riêng (như ở Ánh sáng và phù sa) mà đã chuyển biến theo hướng hòa nhập vào cái chung [116; 66]
Hà Minh Đức nhận thấy trong Ánh sáng và phù sa, cách mạng đã đưa Chế Lan Viên
về với thực tế, sáng tác dưới ánh sáng của Đảng, lòng tin của quần chúng [48; 321] Tình yêu Tổ quốc là một cảm xúc mạnh mẽ trong thơ Chế Lan Viên Theo Hà Mình Đức, tuy thơ Chế Lan Viên có khi chưa bắt sâu vào “mạch tâm linh” của quần chúng, nhưng luôn cố gắng hòa nhập cái tôi riêng vào cái ta chung của nhân dân, hướng về các vấn đề hiện tại của đất nước [48; 323] Hà Minh Đức quan niệm quá trình chuyển biến của Chế Lan Viên cũng như các nhà thơ cùng thời là một hiện tượng tốt đẹp, rất có ý nghĩa trong văn học chúng ta
từ sau Cách mạng tháng Tám [48; 323]
Năm 1974, Vũ Tuấn Anh xem Hoa ngày thường, Chim báo bão là một bước phát triển
của Chế Lan Viên Đó là chất thời sự, chính trị nổi bật đã thay thế cho sắc thái trữ tình trước
đó [3; 81] Theo Vũ Tuấn Anh, do Chế Lan Viên “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ” nên thơ ông có bề rộng và chiều sâu [3; 84] Gần gũi với các ý kiến nói trên, Vũ Tuấn Anh xem niềm tự hào về Tổ quốc, dân tộc là cảm hứng chủ đạo trong thơ Chế Lan Viên [3; 85] Cũng
như Vũ Tuấn Anh và Phong Lan, trước đó (1973) Nguyễn Xuân Nam ghi nhận Những bài
thơ đánh giặc của Chế Lan Viên tập trung cao độ vào dã tâm của giặc Mỹ và tập thơ cũng
phản ánh những gian khổ, anh hùng của nhân dân ta [133; 358] Chủ đề chống Mỹ, theo Vũ
Tuấn Anh đã được nhà thơ đào sâu thêm, nhận thức và phản ánh khái quát hơn qua hai tập:
Những bài thơ đánh giặc, Đối thoại mới [3; 88] Còn Hoàng Lan nói thêm: sự nghiệp đánh
giặc ấy đã đi từ sức mạnh truyền thống [98; 347] Thơ Chế Lan Viên cũng đã vượt biên giới
tổ quốc để đến với quốc tế [98; 348] Theo Hoàng Lan, vẻ đẹp trong, hình tượng thơ Chế Lan Viên là vẻ đẹp của một chủ thể trữ tình có hoạt động trí tuệ đầy năng động và sắc bén [98; 354]
Những ý kiến về thơ Chế Lan Viên trên đây rất phong phú Các nhà nghiên cứu đều ghi nhận Chế Lan Viên đã làm một cuộc chuyển biến trong thơ ca khá kịp thời đối với các vấn đề thời sự của sự nghiệp cách mạng Sự vận động của thơ Chế Lan Viên, theo các tác giả đã đi từ cái riêng đến cái chung và dù có khi day dứt, xót xa trong việc đấu tranh với
Trang 20“cái cũ” cũng như có khi tình cảm chưa theo kịp với lý trí, nhưng những thành tựu Chế Lan Viên đạt được rất đáng ghi nhận Dù vậy, xem xét sự chuyển biến của Chế Lan Viên trong
sự so sánh với thời viết Điêu tàn vẫn còn là một khoảng trống trong các bài nghiên cứu của
các tác giả
Phần ý kiến của các nhà nghiên cứu trong giai đoạn 1954 - 1975 trên đây cho thấy mấy
điểm chung nhất về sự chuyển biến của các nhà thơ mới như sau:
- Th ứ nhất:
Do quá trình chuyển biến của các nhà thơ mới từ sau 1945 có tình trạng không giống
nhau, nên các tác giả không nghiên cứu đối với-tất cả-họ, mà chỉ nghiên cứu đối với một số
nhà thơ mới có sự chuyển biến rõ rệt, kiên trì, trong đó Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Chế
Lan Viên được tập trung nhiều hơn
- Thứ hai:
Tuy là những bài viết riêng biệt và theo cách cảm thụ, đánh giá của từng tác giả,
nhưng nhìn chung, các tác giả đều thống nhất cho rằng các nhà thơ mới đi theo cách mạng
đã có một sự chuyển biến ngày càng tích cực, luôn có ý thức gắn bó với nhân dân, cách mạng và không ngừng đem thơ ca mình phản ánh, biểu hiện về cuộc sống cách mạng của họ qua các thời kỳ lịch sử Ca ngợi cách mạng, thể hiện tình yêu Tổ quốc, nhân dân, thơ ca của các tác giả cũng đã bảo vệ những giá trị ấy bằng những tiếng thơ đả kích, vạch mặt tội ác của các loại kẻ thù
- Thứ ba:
Dường như các tác giả đều xem sự chuyển biến về lập trường - tư tưởng để đi theo
Cách mạng và tiếp tục sáng tác thơ ca là lẽ đương nhiên của các nhà thơ mới đi theo cách.mạng Điều này đúng như Chế Lan Viên nói, vì nếu các nhà thơ mới không có chuyển
biến gì, vẫn “cứ nằm ỳ” như trước 1945 thì không lấy gì để bàn luận [221; 65] Do vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu chủ yếu bàn về quá trình phát triển nội dung và hình thức thơ ca của
các nhà thơ cụ thể, chứ chưa xem Sự chuyển biến như một đối tượng để nghiên cứu
Thứ tư:
Trang 21Cũng do cái nhìn thuận chiều, xem trọng sự phát triển của các tâm hồn thơ thông qua
các thành tựu từ sau 1945, nên việc xem xét đối với những gì tạm gọi là được - mất, ở các
nhà thơ mới chưa được các nhà nghiên cứu chú ý một cách chi tiết
3.3 Giai đọan từ năm 1975 đến nay:
Đất nước được thống nhất, vấn đề sự chuyển biến của các nhà thơ mới vẫn được nhiều
nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm Sau thời kỳ đổi mới, vấn đề cũng được nói đến một cách
thỏa đáng hơn Điều này,nhờ ở sự trưởng thành của tư duy khoa học, của quan điểm, phương pháp và cả sự công bằng trong việc nhìn nhận lại “vốn cũ” để xét trong tương quan
với “cái mới” Nhiều nhà thơ mới được đánh giá đúng đắn trong bối cảnh lịch sử cụ thể của
Phong trào thơ mới và những vấn đề về sự thành công hay chưa thành công của các nhà thơ mới trong hệ thống thi pháp thơ ca cách mạng được nghiên cứu khoa học hơn Từ đó, việc
sáng tác của các nhà thơ mới trước và sau cách mạng đã được xem là một quá trình và sự chuyển biến của nhiều nhà thơ mới là bước phát triển có tính tất yếu
Năm 1979, khảo luận “Ba mươi năm phát triển của thơ ca cách mạng”, Hà Minh Đức ghi nhận các nhà thơ mới như Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Văn
Cừ, nhất là Xuân Diệu, đã kịp thời có thơ ca ngợi, chào đón Cách mạng tháng Tám [41; 81] Quan sát quá trình hòa nhập của các nhà thơ mới vào đời sống cách mạng, Hà Minh Đức
thấy cuộc đâu tranh với các con người cũ, tâm tình cũ của các nhà thơ cũng khá đằng co, phức tạp Theo nhà nghiên cứu, cuộc đấu tranh tự thân đó còn kéo dài đến những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc [41; 136] Chế Lan Viên được Hà Minh Đức xem là nhà thơ thể hiện sâu sắc nhất cuộc hành trình “từ chân trời một người đến chân trời tất cả”
[41; 136] Đến khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thì các nhà thơ
mới hòa nhập được vào cuộc đời chung rộng lớn [41; 175] và thơ ca của họ “đã vượt lên
hơn những trang viết thuộc giai đoạn trước cách mạng” [41; 177] Cuộc đấu tranh nội tâm
ấy có thể xem là quá trình chuyển biến về mặt nhận thức - tư tưởng Gòn xét quá trình chuyển biến về mặt sáng tác, Hà Minh Đức nhận ra ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, các nhà
thơ mới tiêu biểu đều có những sáng tác thơ ca phản ánh và biểu hiện đối với cuộc sống
Hà Minh Đức nhận thấy trong những năm kháng chiến và kiến quốc các nhà thơ mới
như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh “đều tự đổi khác đi nhiều trong cách biểu hiện”, đã tìm đến những điều cụ thể của cuộc đời “để tạo cảm hứng, chọn lọc những
Trang 22cảm xúc và tâm trạng gần gũi phổ biến với những hình thức thể hiện giản di, quần chúng”
Đó là hướng phấn đấu của các tác giả [41; 111]
Hà Minh Đức nhận ra sự thay đổi của Chế Lan Viên về phong cách thơ trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là kết hợp chất trữ tình với những suy nghĩ lắng sâu; còn
“Huy Cận thành công với nhiều bài thơ về mỏ và vùng biển Hạ Long, với đời sống nông thôn trong nhịp sống mới đi lên chủ nghĩa xã hội”; Tế Hanh “sáng tạo được nhiều bài thơ có giá tri trên đề tài đấu tranh thống nhất đất nước” [41; 121] Trong khi đó, Xuân Diệu mở rộng diện phản ánh của thơ với nhiều đề tài và chất liệu mới qua thơ viết về Miền Nam và Miền Bắc xã hội chủ nghĩa [41; 122]
Theo Hà Minh Đức, đến thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Chế Lan Viên đặc biệt khởi sắc với những “câu thơ đanh, gọn, cháy bỏng căm thù” đối với đế quốc Mỹ Thơ ông đi về phía trí tuệ, suy tưởng để tập trung ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng [41; 162] Hà Minh Đức cho rằng “yếu tố chính luận và suy luận sắc sảo hòa lẫn với những hình ảnh chọn lọc và mạch cảm xúc làm cho hình tượng thơ luôn biến hóa nhiều màu sắc” [41; 163] Xuân Diệu vẫn năng động sáng tạo, cảm xúc thơ chân thực, thiết tha, khi viết về cảm xúc và nhân dân anh hùng Theo Hà Minh Đức, thơ Xuân Diệu mở rộng về nhiều phía, nhưng chưa chú ý đến sự chọn lọc tinh tế.[41; 163] Còn thơ Tế Hanh thời kỳ này chuyển nhanh từ nơi nhớ quê Nam sang dòng thơ đấu tranh [41; 163]
Do quan niệm xem sự đóng góp của các nhà thơ mới vào nền thơ ca cách mạng là căn
bản, nên ý kiến của Hà Minh Đức chưa có dịp đi sâu vào những hạn chế cụ thể của quá trình
chuyển biến của các nhà thơ mới , nhất là về phương diện hình thức thể hiện Cũng trong ý kiến của Hà Minh Đức, các nhà thơ mới như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh
được xem là những nhà thơ có sự chuyển biến liên tục qua các thời kỳ lịch sử và do vậy sự
chuyển biến của họ có ý nghĩa tiêu biểu cho nhiều nhà thơ mới khác cùng đi theo cách
mạng
Năm 1985 - 1986, trong phần viết: “Cuộc tái sinh màu nhiệm và lớp văn nghệ sĩ
kháng chiến”, Hoàng Như Mai xác nhận nhà thơ mới lãng mạn Xuân Diệu là cây bút sôi
nổi, phong phú nhất, đã tìm cảm hứng trong những sự kiện lớn nhất của lịch sử dân tộc và
o cách mạng qua hai bài thơ dài: Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông Hoàng Như
Trang 23vấn đề lớn của đất nước như vậy thật đáng quý [123; 21] Ngay từ đầu cách mạng, Xuân Diệu đã nhận thức được nguồn thơ chân chính chỉ có thể là cuộc sống của nhân loại, của dân tộc và những người đọc thơ chân chính là nhân dân lao động [123; 23] Ý kiến của Hoàng Như Mai cho thấy Xuân Diệu có chuyển biến cả ở nhận thức - tư tưởng và thơ ca ngay trong năm đầu Cách mạng tháng Tám
Đến 1998, các nhà nghiên cứu: Nguyễn Đăng Mạnh - Nguyễn Trác - Trần Hữu Tá,
đều thống nhất xem các nhà thơ mới lãng mạn tiêu biểu đã trở về với cách mạng [147; 44]
Trong công trình: Văn học Việt Nam (1945 - 1954), Mã Giang Lân xem các nhà thơ mới giữ vai trò nòng cốt trong sáng [147; 29] Các tác giả cùng nhận xét rằng cách mạng đã làm
thay đổi cả nhận thức và tình cảm của các nhà thơ mới [147; 31], làm họ náo nức chào cách
mạng, mừng sự ra đời của chế độ xã hội mới bằng những vần thơ giàu không khí đấu tranh
và tự hào dân tộc [147; 44] Xuân Diệu là nhà thơ được các tác giả đánh giá cao về nhận thức đối với cách mạng cũng như tác dụng thơ ca của ông đối với tinh thẩn thời đại lúc bấy giờ [147; 45]
Gần đây, năm 2001, khi bàn “Về cách tiếp cận để đánh giá Văn học Việt Nam sau
cách mạng tháng Tám”, trong công trình: Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nguyễn Văn Long đã xem những nhà thơ mới như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh,
Anh Thơ và nhiều người khác đã có những thành công lớn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thơ ca hiện đại, nhất là từ sau 1954 (sách trên, Nxb Giáo dục, trang 12)
Nét chung trong ý kiến của Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn trác, Trần
hữu Tá, Mã Giang Lân, Nguyễn Văn Long là đều xem các nhà thơ mới lãng mạn tiêu biểu
đều đi theo Cách mạng tháng Tám, ủng hộ chế độ xã hội mới bằng những vần thơ mang ý nghĩa thời sự, trong đó, Xuân Diệu là trường hợp tiêu biểu Do khuôn khổ của giáo trình
lịch sử văn học nên sự chuyển biến cụ thể của các nhà thơ mới chưa trở thành đối tượng cần
chuyên chú khám phá của các tác giả
Tình hình nghiên cứu sự chuyển biến của một số tác giả thơ mới trong thơ ca cách
mạng như nêu trên là phong phú Tuy nhiên, việc xem sự chuyển biến là đối tượng khoa học
trực tiếp để khảo sát hầu như chưa có công trình nào chú ý đúng mức Nhìn chung các nhà
Trang 24nghiên cứu đều xem sự chuyển biến là một quá trình tất yếu và chủ yếu ghi nhận thành tựu sáng tác của họ từ sau 1945, chứ chưa đi thật sâu vào những hạn chế về nội dung lẫn hình thức thể hiện trong thơ ca của họ Cũng có một vài tác giả xem sự chuyển biến về tư tưởng, chính tri quan trọng hơn sự chuyển biến về sáng tạo nghệ thuật Các nhà nghiên cứu ở Miền
Nam chú ý đến những nhà thơ mới có sự chuyển biến không lâu đài, trong khi đó, các nhà
nghiên cứu ở Miền Bắc có ý thức tập trung nghiên cứu sự chuyển biến có tính chất lâu dài,
kiên trì của một số nhà thơ mới như Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Huy Cận Nhìn sự chuyển biến của các nhà thơ mới theo hướng ngày càng thuận thành cùng với nền thơ ca
cách mạng, các nhà nghiên cứu có phần xem nhẹ giá trị thơ mới trong tương quan với thơ cách mạng Do vậy, sự khảo sát, so sánh cụ thể ở các bình diện nội dung, hình thức cũng chưa được các tác giả luận bàn sâu sắc Các bài viết ít nhiều thấy được sự so le giữa nhận
thức, tư tưởng với sáng tác, giữa người công dân với người thi sĩ ở các nhà thơ mới, nhưng
ý kiến của các tác giả chưa đào sâu hơn vấn đề phức tạp này Sự chuyển biến của các nhà
thơ mới vốn không ai giống ai, có người thuận lợi, thành công, có người khó khăn vất vả, có
người kiên trì đến cùng, lại có người chỉ thể nghiệm hoặc chuyển hướng hoạt động sang lĩnh vực khác Cái được và mất của họ trong quá trình chuyển biến ấy cũng chưa được các nhà nghiên cứu làm sáng rõ Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với những nhà thơ được nhắc đến ở trên là hợp lý, nhưng việc tiếp tục đi sâu hơn, chi tiết hơn vẫn cần thiết Luận án không có tham vọng giải quyết tất cả mọi vấn đề, nhưng bằng một hệ thống riêng, luận án sẽ
cố gắng, đi sâu thêm vào quá trình chuyển biến ấy ở một số phương diện như đã giới thiệu trong phần đối tượng nghiên cứu của luận án, từ đó góp phần rút ra những kết luận khái quát
có tính lý luận và thực tiễn của sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ mới trong thơ ca cách
mạng
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Quan điểm và hướng tiếp cận:
Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét quá trình chuyển biến của các tác giả
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 25- Phương pháp lịch sử: Nhìn nhận sự chuyển biến của các nhà thơ mới trong quá trình
phát triển cách mạng và văn học của dân tộc từ sau 1945
- Phương pháp so sánh: Nhằm làm nổi bật những đặc trưng có tính khu biệt trong sáng
tác của các nhà thơ mới khi chuyển từ phạm trù Thơ mới sang phạm trù thơ ca cách mạng
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng những phương pháp và thao tác khác như khảo sát, thống kê
5.1 Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tương đối có hệ thống về
quá trình chuyển biến của các nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng
5.2 Luận án góp phần tìm hiểu thực tiễn sáng tác của các nhà thơ mới trước và sau
cách mạng trên bình diện nội dung và thi pháp thể hiện
5.3 Từ quá trình chuyển biến của một số nhà thơ mới được chọn nghiên cứu, luận án
khái quát nên những luận điểm có tính lý luận về mối quan hệ giữa tư tưởng nhận thức và sáng tạo nghệ thuật, giữa quan niệm và thực tiễn sáng tác
5.4 Luận án có những đóng góp mới trên một vài bình diện nghiên cứu lâu nay ít được
chú ý như vấn đề đổi mới hình ảnh thơ, nhịp điệu thơ, kiểu câu thơ của các nhà thơ mới
trong nền thơ ca cách mạng
Ngoài phần Mở đầu (24 trang), phần Kết luận (6 trang) và với 230 danh mục Tư liệu tham khảo, nội dung của luận án được tổ chức thành 3 chương:
Chương 1: Sự chuyển biến về quan niệm sáng tác (23 trang)
Chương 2: Sự chuyển biến về cảm hứng sáng tác (46 trang)
Chương 3: Sự chuyển biến về giọng điệu và một số hình thức nghệ thuật (65 trang)
Trang 26CHƯƠNG 1: SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC
1.1 Quan niệm sáng tác của các nhà thơ mới trước năm 1945:
1.1.1 Quan niệm sáng tác là phương diện đầu tiên và thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật, văn học Nó luôn gắn liền với những quan niệm, tư tưởng - nhận thức và thường xuất
hiện sau tư tưởng - nhận thức Đối với các nhà thơ mới, phương diện tư tưởng - nhận thức
lại là vấn đề phức tạp Sở dĩ có tình trạng phức tạp này vì mấy lý do sau đây Thứ nhất, về phía chủ quan, các tác giả xuất hiện trong Phong trào Thơ mới khác nhau về thời điểm, về trình độ văn hóa, về quan niệm đối với cái đẹp, về năng lực sáng tạo Thứ hai, về phía khách quan, khoảng mười lăm năm trước Cách mạng tháng Tám - 1945, lịch sử Việt Nam rất phức tạp bởi các sự kiện quan trọng nổ ra từ chính sách thống trị, khai thác của thực dân Pháp và cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống ách thống trị của thực dân Pháp Cuộc đối đầu lịch sử giữa nhân dân ta và thực dân Pháp dần dần làm cho đời sống xã hội Việt Nam chuyển biến trên hầu hết các lĩnh vực, trong đó có nhận thức - tư tưởng, văn hóa - giáo dục và dĩ nhiên, văn học - nghệ thuật cũng phải chuyển biến, thay đổi Thực ra, văn học - nghệ thuật từng có những bước chuyển mình trước đó, nhưng thời kỳ này cuộc khủng bố đẫm máu của thực dân Pháp đối với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 -1931 càng tác động mạnh mẽ đến những người hoạt động văn hóa - văn học Một không khí hoang mang, một tình trạng bất an về tư tưởng, tâm lý đã xảy ra trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam Là những tầng lớp có tài năng và hoài bão, trí thức, văn nghệ sĩ, tư sản dân tộc càng quan tâm, nhận
thức hơn đối với thực trạng đó “Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị
và quân sự chống đế quốc nữa, bèn chuyển qua đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến quan liêu” [146; 326] Một số trí thức, văn nghệ sĩ trong Tự Lực Văn Đoàn cũng quay sang
hoạt động theo hướng này Trong khi đó, đối với hầu hết các nhà thơ mới họ quan niệm chỉ
có làm văn chương trong cái xã hội phức tạp và mất phương hướng lúc bấy giờ Họ quay vào tâm trạng của mình, làm thơ tự trần tình thế giới cảm xúc của cá nhân và biểu hiện kín đáo lòng yêu nước thiết tha, tình yêu “tiếng Việt vấn vương một đời” (Huy Cận) Đó là nét
chủ yếu của tác động chính trị đến quan niệm sáng tác của các nhà thơ mới
Còn xét ở phương diện đời sống xã hội, một mặt, cuộc sống có quá nhiều đói khổ, bất-
do phong kiến và thực dân gây nên cũng đã trở thành nguyên nhân cho thái độ phủ
Trang 27cách không công nhận cuộc đời ấy Và tôi nghĩ không gì bằng dùng con đường nghệ thuật
để phủ nhận cái xã hội xấu xa đó” [53; 3] Xuân Diệu cũng thấy “sự Qần thiết phải chuyển biến là không khí thời đại - xã hội còn phong kiến, chúng tôi cảm thấy nhu cầu phải giải phóng cá nhân” [140; 188] Xuân Diệu nói rằng các nhà thơ mới lúc bấy giờ “có khái niệm
về cái tôi của bản thân mình, họ thích tự phân tích, tha thiết tự miêu tả, ăn nói tự do, ngoài vòng kiềm tỏa của luân lý phong kiến, người ta muốn giải phóng nội dung và hình thức thơ” [140; 188] Các ý kiến của Tế Hanh, Xuân Diệu trên đây, cho phép nói rằng việc sáng tác thơ, đòi hỏi giải phóng cá nhân, đổi mới thơ ca đã trở thành một nhu cầu cần giải quyết Mặt khác, nếu như Albert Sarraut nói: “Sự nghiệp thực dân không phải là một hành động khai hóa, một ý chí khai hóa Nó là một hành động bạo lực có vụ lợi” [146; 309] thì về phía Việt Nam, chính sách thực dân vẫn có một tác dụng khách quan Đó là dưới sức tác động của chính sách khai thác thuộc địa, đô thị Việt Nam có phần phát triển tầng lớp thị dân ngày một đông đảo và hình thành những thị hiếu mới Chữ quốc ngữ đã thuần thục, các phương tiện
ấn loát thuận tiện, tầng lớp trí thức Tây tộc xuất hiện ngày càng nhiều đi liền với những nhu cầu mới về văn hóa và đời sống tình cảm Trên cơ sở những điều kiện khách quan ấy, tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ càng ngày thấy rằng phải có một sự đổi mới về văn chương để thay thế văn chương cũ đã quá lạc hậu, trong đó, bao hàm một ý thức đổi mới về sáng tạo thơ ca
Xét về phương diện văn hóa - văn học: hiện tượng tiếp thu văn học lãng mạn Pháp là
một điều kiện khách quan góp phần làm nảy sinh quan niệm sáng tác mới, mà chủ yếu là từ tầng lớp Tây học Dù học ở Phap về hay từ các trường Pháp Việt trong nước, tầng lớp này đều tiếp thu được chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Pháp ở Pháp, “chủ nghĩa lãng mạn trở thành một triết học xã hội; ý thức giải phóng con người đã kế tiếp ý chí giải phóng nghệ
thuật” (Castex & Surer) [140; 194], còn ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn Pháp đã trở thành
món ăn tinh thần “hợp khẩu vị” với phần lớn trí thức, văn nghệ sĩ đang có nhu cầu giải phóng cá tính, giải phóng thơ ca Đây chính là sự gặp gỡ, tương đồng về tâm trạng, tình cảm của các thi sĩ Thơ mới Việt Nam với các thi sĩ lãng mạn Pháp, mà tiêu biểu là Lamartine Sự gặp gỡ ít nhiều mang tính tất yếu này có phần đúng như Phan Cự Đệ nói, đó là “sự gặp nhau của những tâm hồn trí thức bất mãn với xã hội, đau buồn chán nản u uất khi phong trào cách mạng của quần chúng bị thất bại hoặc bị đàn áp dữ dội” [38; 226] Có thể thấy điều này
trong thơ ca của họ Chẳng hạn, những Trầm tư đầu tiên: Hiu quạnh của Lamartine [145;
69] hay sự chối bỏ quê hương tổ quốc để ra đi vô định của Arthur Rimbaud [68; 79] đều có
Trang 28sự tương đồng trong các bài thơ: Trình bày (Huy Cận), Những sợi tơ lòng (Chế Lan Viên),
Phương xa (Vũ Hoàng Chương) vấn đề đáng lưu ý là trong sự gặp gỡ, ảnh hưởng của văn
chương Pháp này, các nhà thơ Việt Nam đều nội sinh hóa để diễn đạt phù hợp với tình cảm
và quan niệm của riêng mình Điều này, đúng như Hoài Thanh nói: “Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt Nam là đã Việt Nam hóa hoàn toàn” [180; 34]
Trên cơ sở những tiền đề chính trị, xã hội, văn hóa, văn học nói trên, có thể thấy rằng nhu cầu hình thành một quan niệm sáng tác văn chương, thơ ca mới đã đủ những điều kiện khách quan và chủ quan Sau đây là những quan niệm sáng tác cụ thể và có tính chất tiêu biểu của một số tác giả hoặc trường phái trong Phong trào Thơ mới:
1.1.2 Trong bài Thơ mới đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Hoài Thanh nói: “Nhất đán,
phải tiếp xúc với văn minh Âu Tây, bao nhiêu nền tảng kiên cố về lễ nghi, về tôn giáo, về xã hội, về chính trị, đều bị một phen rung rinh, điên đảo” [99; 138- 139] Từ đó, nhiều cảnh tượng thương tâm hay vui vẻ, tàn mạt hay rực rỡ luôn bày ra trước mắt mọi người và làm
cho thanh niên, cho tâm hồn các nhà thơ mới thấy cần phải thay đổi Trong Người Sơn
Nhân, Lưu Trọng Lư ao ước một nhà thi nhân nào đó an ủi mình, “đi vào tâm hồn của mình đến những chỗ cùng sâu mà vạch ra cái kín nhiệm uất ức, rồi đưa phổ vào những âm điệu du dương cho mình được nhẹ nhàng thư thả” [200; 71] Tâm hồn có nhiều cái kín nhiệm uất ức, tức là cái bề sâu cạn đi tìm như cách nói của Hoài Thanh Tình cảm bề sâu đó muốn được phổ vào những âm điệu du dương, tức là chuộng cái hình thức mang nhạc tính tương hợp Nhạc tính, nhạc điệu trong thơ, đó là yếu tố Lưu Trọng Lư từng coi trọng khi sáng tác Việc
ông không thay đổi chữ “không” (Em không nghe mùa thù) bằng chữ “lắng” như góp ý của
một bạn thơ, vì muốn nhạc điệu của bài thống nhất, tập trung [95; 209 - 210], nói rõ điều này Như thế cả nội dung tình cảm và thi pháp thể hiện, theo Lưu Trọng Lư, đều cần đổi mới Trong bài diễn thuyết về Phong trào Thơ mới đọc tại Nhà Hội học Quy Nhơn, ông cũng, cho rằng tình cảm của thế hệ mình đang khác xa với tình cảm của ông cha ngày trước Ông nhận ra rằng, ngày nay, “khi được tiếp xúc với văn hóa Âu Tây, với những thực trạng mới lạ, không phải tìm, ta cũng có những tình cảm mà ông cha ta không có” [99; 89] Không chỉ nói đến tình cảm, mà ông còn ủng hộ một hình thức thể hiện mới Ông nhắc lại câu nói của Lanson và tán thành Phong trào Thơ mới lúc bấy giờ: “Với những cái tâm trạng mới, phải có những thể văn mới” (À des états d’âme nouveaux, de genres nouveaux)
Trang 29Các tác giả trong Trường Thơ Loạn cũng chính thức nói rõ quan niệm về thơ Chế Lan
Viên, Quách Tấn đều nói lúc sinh thời thường nghe Hàn Mặc Tử nói về Baudelaire, nhưng trong bài Quan niệm thơ, Hàn Mặc Tử nói: “Trí khác hẳn Baudelaire” Hàn Mặc Tử cho
rằng Baudelaire không tin có chân lý, không thể lấy chân lý làm chủ đích cho thơ, thơ chỉ là thơ thôi Còn đối với mình, Hàn Mặc Tử nói: “Còn Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm chân lý, làm tiêu chuẩn cho văn thơ” [163; 65] Quan niệm của ông cho thấy Đức Chúa Trời trở thành điểm tựa cho sáng tạo thơ ca Nhưng trong thực tế, sáng tác của Hàn Mặc Tử cũng không phải hoàn toàn như vậy Nhà thơ Quách Tấn lại cho biết: “Tử thường nói cùng bạn rằng: Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để làm thơ thôi Tôi dung hòa cả hai thể văn chương tôn giáo: Thiên Chúa và nhà Phật Đó chi là muốn làm giàu cho nền văn chương chung” [39; 294] Đến đây tôn giáo lại trở thành phương tiện, điều kiện và điều cần
ghi nhận là ý thức nghệ thuật vì nền văn chương chung của Hàn Mặc Tử Giữa nhiều tư liệu
hiện có của nhà thơ đầy “kinh nghiệm đau thương” (Huỳnh Phan Anh) này thì nội dung lời
Tựa tập thơ Đau Thương sau đây là phù hợp hơn cả với nội dung cảm hứng trong thơ ông:
“Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn
Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt cả sự sống” [39; 279] Đó là một thực tế và cũng là một quan niệm mà không phải nhà thơ Pháp nào cũng có
Cùng với Hàn Mặc Tử, trong lời Tựa tập thơ Điêu tàn của mình, Chế Lan Viên viết:
“Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên Tôi thêm: làm thơ là làm sự phi thường” Ông nói thi sĩ không phải là người thường, mà là người say, là tiên, là quỷ Ông nói tiếp về thi sĩ:
“Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười Cái gì cửa nó cũng tột cùng Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào nước mắt, nó cười tràn ra cả tủy là tủy” [214; 18] Có thể xem các động từ làm vị ngữ cho các câu giản lược bên trên chính là cường độ của thi hứng, của nội dung thơ
ca và cũng là thi học của “những cái tột cùng” [165; 47]
Còn nhóm Xuân Thu Nhã Tập (Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh)
quan niệm “thơ chính là một cách tri thức cao cấp Nó đã gặp hình nhi thượng, đưa đến tôn giáo” Khi họ nói thợ là một “cuộc trở về của thi nhân trong cái tôi huyền bí của mình hay cái tôi của mình nằm trong sự vật” tức là yêu cầu sáng tác thơ phải tự thể hiện cá nhân của
người làm thơ, nhưng là một cá nhân huyền bí hoặc một cá nhẩn bị phân thân, nghĩa là con
ng ười xã hội của nhà thơ không còn rõ nữa Theo quan niệm của các tác giả, thơ phải khai
Trang 30thác “những lớp dày đặc và u huyền của tiềm thức và vô ý thức, ở đây mới ẩn lẽ thật, lẽ thật vĩnh viễn, cái thuần túy, cái “thơ” (Thơ là gì ? - 1941) [146; 336] Vậy những gì là sự thật
nằm rất sâu trong con người? Nó thật bí ẩn, khó giải thích Những vần thơ của Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh như “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”, “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi” cũng góp phần cho thấy cái bí ẩn đó Tuy nhiên, họ cũng có những quan
niệm khác như thơ còn là sự trong trẻo, vô tư, sự khêu gợi không cùng và sự rung động tức
khắc Quan niệm này nghiêng về sự xác định bản chất của sự sáng tạo thơ ca, nhưng nó
cũng phần nào cho thấy việc sáng tác thơ cần hướng đến những gì trong sáng, cao đẹp Tuy
càng về sau nhóm Xuân Thu Nhã Tập càng có những quan niệm cao hơn và khó hiện thực
hóa trong sáng tạo thơ ca, nhưng nhóm thơ của họ, theo Trường Chinh, có “khuynh hướng dân tộc” [146; 336]
Bên cạnh những quan niệm sáng tác nói trên, còn tìm thấy quan niệm sáng tác của Xuân Diệu, Huy Cận được thể hiện qua các tác phẩm thợ, trường ca, văn xuôi Đọc: Cảm
xúc, Lời thơ vào tập gởi hương, Chú lái khờ của Xuân Diệu, Kinh cầu tự của Huy Cận, ta sẽ
gặp một vài quan niệm sáng tác đáng lưu ý
Trong bài thơ Cảm xúc, Xuân Diệu xem thi sĩ là người có tâm hồn, cảm xúc với muôn
vẻ đẹp của tự nhiên, là người có “linh hồn ràng buộc bởi muôn dây - Hay chia sẻ bởi trong tình yêu mến” Tuy ông tự biết mình “chỉ là một cây kim bé nhỏ”, nhưng hoàn toàn sẵn lòng hút vào “muôn đá nam châm” từ “vạn vật” Nếu ở bài Cảm xúc, Xuân Diệu nói đến cái đắm say nghiêng về “với gió”, “cùng mây”, với “hương đêm”, “trăng rằm” thì trong bài Lời thơ
vào tập gởi hương, ông lại nói đến sự quan tâm của tâm hồn người thi sĩ với thế sự, người
đời: “Chúng tôi hùn làm một kiếp đa duyên – Cảm nếp trán của người lo sáu khắc - Thương
năm canh nước mắt những ai phiền” Như vậy, đối với Xuân Diệu, dù thi sĩ có hữu hạn vẫn muốn vươn tới cái vô hạn của đời, cái vô hạn cả thế giới tự nhiên và thế giới xã hội Suy cho
cùng, đó là lòng khát khao giao cảm với đời của nhà thơ Đó cũng là một quan niệm sáng
tác thơ của tác giả
Đọc trường ca Chú lái khờ, ta cũng tìm thấy thêm một quan niệm của Xuân Diệu về
bản chất, cảm hứng của người thi sĩ Sau khi trình bày hàng loạt hành trạng của Chú Lái
“không biết giữ của”, “Chú vẫn tỉnh, nhưng Chú muốn khờ”, Xuân Diệu viết: “người thi sĩ
Trang 31phải tìm uống trong mắt biếc Người đời cười là ngu dại: kẻ mất của có khôn bao giờ! Thi
sĩ ghé vào nhân gian, trọ một vài đêm, tìm đồi an ủi Lòng để ngoài ngực, tay thờ ơ hay là tay ham hố, tay nào đến cũng lấy được ít nhiều ngọc châu Và họ lấy chưa vừa ư, thì người thi sĩ sẽ tự tay lấy vào cái lõi sống còn của mình, để mà phân phát” (Xuân Diệu toàn tập, Nguyễn Bao sưu tầm, giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội, năm 2001, 6 tập, tập II trang 145) Một lần nữa, Xuân Diệu khẳng định bản chất, cảm hứng người thi sĩ không những không giấu cảm xúc đối với cuộc đời, mà còn phải tận tụy ban phát nguồn cảm xúc ấy cho cuộc đời Trong ý tứ của đoạn trường ca, ông cho rằng người thi sĩ cần phải vắt cạn nguồn cảm hứng của chính mình để trang trải cho cuộc đời và những ai mở lòng mình đón nhận tình cảm của nhà thi sĩ thì sẽ gặp sự tri ân, có được giá trị tinh thần quí báu như “ngọc chậu” Quan niệm như vậy, rõ ràng Xuân Diệu đánh giá cao tính đặc thù của cảm xúc thi ca
Có thể xem kinh cầu tự của Huy Cận là tập văn xuôi chứa đựng những quan niệm, tư
tưởng về sự sống của con người, trong đó, tư tưởng cầu sự sống, đòi hỏi cuộc sống được như ý mình là một quan niệm, một tư tưởng có ý nghĩa tích cực
Ở đoạn bàn về văn hóa Tàu, ông nói: dù đã có những thi nhân đời Đường, nhưng “tâm hồn người Tàu chật chội quá” Huy Cận xem nhãn quan của người Tàu còn hạn hẹp, “chỉ thấy có cảnh trời” trong tạo vật, “chỉ thấy có cảnh đời” trong cuộc sống, chứ “không dám đi quá con người một li, cho nên con người đã bị bóp nghẹt” Từ nhận thức này, ông đi đến quan niệm: “cái ý niệm về số kiếp của mỗi người” đã “mất hẳn” và cái “tâm hồn đã héo hắt
võ vàng” [153; 734] Quan niệm của Huy Cận có khác với quan niệm của các thi nhân đời Đường, trong việc phản ánh đối với “số kiếp” và “tâm hồn” con người Trên cơ sở quan niệm vừa nói, có lẽ, đối với Huy Cận, việc mở rộng giới hạn phản ánh, soi rọi nhiều chiều
đối với sự sống, đời sống của con người là điều cần thiết, ở phần Cha tâm sự với con, Kinh
cầu tự có đoạn viết: “Đọc thơ hay lắm, mệt lắm, cho nên thầy càng ngày càng nhác ngâm
thơ, có nhiều khi đọc xong đoạn thơ mệt như vừa nằm với đàn bà Đọc thơ hay mà vậy huống chi làm thơ hay! Đọc thơ cũng tổn thọ như làm thơ, con ạ” [123; 732-733] Tuy cách
so sánh của tác giả có phần chưa hợp lý, nhưng cần ghi nhận quan niệm tiếp nhận thơ ca hay cũng như việc sáng tạo thơ hay là một đòi hỏi lớn, nhiều kỳ công và tâm huyết
Những quan niệm sáng tác thơ ca nói trên, cho thấy tất cả các tác giả đều quan niệm sáng tác thơ ca cần đổi mới về nội dung cảm hứng và hình thức thể hiện Về nội dung cảm
Trang 32hứng, chủ yếu phải giải bày “chữ tôi” với cái nghĩa tuyệt đối của nó Khẳng định cái tôi, bộc
lộ tình yêu quê hương đất nước, muốn tự do yêu đương, sự khao khát được thành thực, được giao cảm nồng nàn với đời bằng “quan niệm cá nhân” là những nội dung phổ biến trong
cảm hứng của các tác giả Về hình thức, từ cách dùng chữ, đặt câu đến sử dụng thể thơ, cách
diễn đạt đều cần phải sáng tạo cái mới trên cơ sở truyền thống và các yếu tố tiếp thu được của văn chương phương Tây
Tuy quan niệm sáng tác của các tác giả chưa được trình bày một cách hệ thống, nhưng
rõ ràng thành tựu của Phong trào Thơ mới là một chứng minh đầy tính thuyết phục về việc
đổi mới quan niệm sáng tác của các nhà thơ mới Chính những bài thơ hay của họ đã góp
phần chứng tỏ sự đổi mới trong quan niệm sáng tác Tuy nhiên, một điều cần chú ý là không
phải các nhà thơ mới đổi mới quan niệm sáng tác và sáng tác giàu cảm hứng mãi đến năm
1945 Thực ra, từ sau những năm 1940, 1941, nhiều tác giả trong Phong trào Thơ mới đã cạn dần nguồn cảm hứng, mất phương hướng, đi vào siêu hình, tôn giáo Chẳng hạn: Chế Lan Viên nghỉ sáng tác từ cuối năm 1941, chỉ chuyên đọc sách, nghiên cứu, Huy Cận từ sự
hài hoa đẹp đẽ của Lửa thiêng lại chuyển sang Kinh cầu tự, các tác giả trong nhóm Xuân Thu nhã tập đi vào “Đạo” - đạo sáng tác và viết những vần thơ tắc tị Đặc biệt, các nhà thơ như Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính lại nói đến khát vọng ra đi, lên đường
Tất cả họ, tuy khác nhau về khuynh hướng tư tưởng, nhưng lại đều có lòng yêu nước, yêu giống nòi và thể hiện tình cảm đó theo cách riêng trong thơ của mình Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, họ có dịp đứng trước những chọn lựa mới do thời đại đặt ra, mà trước hết là sự chọn lựa mới của họ trên phương diện quan niệm sáng tác
1.2 Quan niệm sáng tác của các nhà thơ mới trong thơ ca cách mạng Việt Nam
từ sau 1945:
1.2.1 Khái niệm “quan niệm” không phải là khái niệm về đối tượng, về hiện thực “mà
là khái niệm về sự cắt nghĩa đối với đối tượng và hiện thực” [167; 97] Tìm hiểu quan niệm
sáng tác của các nhà thơ mới trước 1945, ta thấy rõ sự cắt nghĩa của họ đối với các đối
tượng và hiện thực Sự cắt nghĩa ấy phong phú, khác nhau, vì nó là “quan niệm cá nhân”
như Hoài Thanh đã nói Khi nói “quan niệm cá nhân” thực ra cũng là nói về một chủ thể với tất cả tầm hoạt động của nó từ khả năng cảm nhận, điểm nhìn, tầm trí tuệ, đến sự đánh giá,
Trang 33thể chuyển dịch đến một điểm nhìn, một vị trí khác Các nhà thơ mới đi theo cách mạng từ
sau tháng 8 năm 1945 đã làm một cuộc chuyển biến cơ bản trên các mặt của hoạt động sáng
tạo, mà trước hết là quan niệm sáng tác Đây cũng là điều sẽ cho thấy sự thay đổi trong việc
cắt nghĩa đối với các đối tượng và hiện thực
Như đã nói trên, khi một chủ thể chuyển sang một vị trí khác trước với một điểm nhìn
khác thì quan niệm của chủ thể trước sau cũng sẽ có sự thay đổi Đối với các nhà thơ mới đi
theo cách mạng từ sau tháng tám năm 1945 thì chính cách mạng đã trở thành lý do, thành điều kiện đem lại cho họ sự thay đổi này, mà đúng hơn là sự thay đổi theo hướng chuyển biến, chuyển biến trên nhiều bình diện Xem cách mạng là điều kiện, có thể thấy rằng sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám mang lại độc lập, tự do cho toàn dân tộc đã làm phấn
khích tình yêu nước của mọi công dân, trong đó có các nhà thơ mới Nhưng liền sau đó,
nước Cộng hòa trẻ tuổi lại bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Ông Đào Duy
Anh nói rằng, do ý thức dân tộc, tình yêu nước không bao giờ tắt trong lương tâm của tầng
lớp văn nghệ sĩ, trí thức, trong đó có các nhà thơ mới, nên họ đã hăng hái lên đường tham gia cách mạng và kháng chiến [1; 268] Đi theo cách mạng và kháng chiến, các nhà thơ mới
nói như Xuân Diệu là cùng bao nghệ sĩ trí thức say sưa mỗi người mỗi việc, ngày đêm công tác
Từ trong hoạt động thực tiễn ấy, một ý thức công dân dần dần được xác định trong
quan niệm - tư tưởng của họ Đây là bước ngoặt rất có ý nghĩa đối với tự nhận thức trong sự
tồn tại của bản thân mỗi người Trước kia, hầu hết các nhà thơ mới đều “thấy nỗi buồn, cô
đơn, tuyệt vọng trong hoàn cảnh thuộc địa” [171; 9] Ngày nay, khi ý thức công dân càng rõ thì con người xã hội của họ có thêm nhiều mối quan hệ với cuộc sống và chịu sự tác động
của cuộc sống cách mạng Đã là con người xã hội, là công dân của một đất nước, các nhà
thơ mới đều chứng kiến sự thắng lợi của Nhà nước kiểu mới về chống giặc đói, giặc dốt, về
ngoại giao, về chống thù trong, giặc ngoài
Đồng thời với các bội cảnh xã hội ấy, đời sống văn hóa tinh thần của toàn dân tộc cũng bước sang quỹ đạo mới Tuy văn hóa cách mạng đã xuất hiện trước đó, nhưng sự thực vẫn chưa trở thành độc tôn đối với đời sống tinh thần dân tộc Đến thời kỳ này, văn hóa Việt Nam được hồi sinh và hòa nhập vào quỹ đạo mới “Hệ tư tưởng Mác - Lênin, với tư cách là một triết thuyết mang tính cách mạng, tính thời đại, trở thành ý thức độc tôn, đóng vai trò
Trang 34cấu tạo lại đời sống văn hóa - tinh thần dân tộc” [2; 32] Do đó, nền văn học mới, trong đó
có thơ ca, được xây dựng trên cơ sở của một quan niệm mới về thơ ca, một quan niệm sáng
tác mới đối với thơ ca Quan niệm sáng tác này được soi rọi dưới ánh sáng đường lối văn
nghệ của Đảng, với vai trò chỉ dẫn của Đề cương văn hóa Việt Nam từ năm 1943 Ngoài ra,
việc xây dựng, hình thành một quan niệm sáng tác văn học nói chung, thơ ca nói riêng còn phải kể đến những tác động tích cực của cuộc đấu tranh về tư tưởng nghệ thuật của Hải
Triều từ những năm 1933 - 1937, từ công trình Văn học khái luận (1944) của Đặng Thái Mai, từ các đại hội văn hóa, văn nghệ với các bức thư của Hồ Chủ tịch, từ bản báo cáo Chủ
nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chinh, từ các cuộc tranh luận về thơ Tố Hữu,
Nguyễn Đình Thi, từ các cuộc chỉnh huấn, từ rất nhiều bài viết nghiêng về quan niệm sáng
tác văn học trên tạp chí Tiên phong (1945 - 1946), tạp chí Văn nghệ (1948 - 1954) Tất cả
những điều kiện trên đây đều có góp phần vào quá trình nhận thức; chọn lựa của các tác giả khi sáng tác Do quan niệm sáng tác là vấn đề thuộc chủ thể người cầm bút nên nó cho thấy các cấp độ nhận thức của từng người và qua đó, cũng cho thấy tài năng, cá tính và chiều sâu văn hóa, chiều sâu trong quan niệm về cái đẹp của họ Sau đây là những quan niệm sáng tác
cụ thể của một số tác giả:
1.2.2 Trong số các nhà thơ mới đi theo cách mạng, Xuân Diệu là người có sự chuyển
biến sớm và mạnh mẽ nhất trong nền thơ ca mới từ ngay những ngày đầu của cuộc Cách mạng tháng Tám Tuy nhiên, ông cũng là một trong số ít những nhà thơ nhiều dằn vặt nhất
về tâm hồn trong sự chọn lựa giữa cái cũ và cái mới Trong Những buộc đường tư tưởng của
tôi, ông tự bạch rằng ông có nhiều nhược điểm, không đáp ứng được những đòi hỏi khách quan và trong nhiều năm liền, trong tâm hồn, suy nghĩ cửa ông như luôn “có một cái gì cứ chùn dần, cứ cuốn lại Ngoài mặt thì như không có gì xảy ra, nhưng ở chỗ tinh vi, kín nhiệm nhất, có một sự rút trốn” [21;30] Nhưng rồi từ cuộc đấu tranh nội tâm âm thầm mà không
kém vật vã đó, Xuân Diệư đã dần dần tự vượt lên mình để nhận thức đúng hơn và thể hiện
rõ hơn một vị trí mới của một nhà thơ muốn được “tái sinh” Gần mười năm sau, khi được phỏng vấn nhân ngày kỷ niệm hai mươi năm nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ông nói lại cuộc đấu tranh tư tưởng ấy và qua đó nói rõ hơn quan niệm của ông về thơ ca Xuân Diệu nói rằng trước kia ông viết cho người có học trong xã hội cũ, bây giờ người “vo học”
cũ, nhờ cách mạng, họ đã có học, biết đọc sách, biết phê bình, nên cần phải viết về họ
Trang 35cách mạng mà họ lại không có mặt trong các tác phẩm [22; 33] Đây là nhận thức về đối tượng của sáng tạo thơ ca Nhận thức của Xuân Diệu cho thấy rõ ràng cần phải chuyển biến, thay đổi về đối tượng tạo cảm xúc Đó là hãy viết về những người bình thường trong đời
sống, những người trực tiếp làm nên lịch sử Trong bài Thơ với cuộc sống - Thơ với thực tế,
Xuân Diệu trở lại đối tượng và nguồn gốc của sáng tạo thơ ca bằng một quan niệm tổng quát hơn: “Đời sống, thực tế và quần chúng là kho vô tận, là nguồn bồi dưỡng vô hạn cho nhà thơ” [22; 34] Theo ông, đó cũng là con đường tạo nên tính hiện thực trong thơ ông Ông nói:
“Thơ hiện thực là thơ trong đó thi sĩ không tự nở như trước kia mà bám vào thực tế mà
nở, tự nở thì có thể nở một cách đồng bóng, bất chấp quy luật xã hội; bám vào thực tế mà nở thì cùng nở với thực tế, và có thể nở lâu dài mãi được Thơ hiện thực là thơ có tư tưởng và chủ nghĩa anh hùng Tư tưởng không phải là của một người, mà của một nhóm người; tư
tưởng làm sống chủ nghĩa hiện thực là tư tưởng của giai cấp Chính giai cấp sinh ra ý nghĩ,
khơi nên tình cảm, thúc đẩy hành động, gợi thành tác phẩm” [22; 35]
Nếu quan niệm tổng quát bên trên là đúng thì phần thơ hiện thực, thơ tư tưởng ở đây,
lại cho thấy Xuân Diệu có phần cứng nhắc Quan niệm thơ phải bám vào thực tế, bám vào
tư tưởng của giai cấp, chắc chắn sự sáng tạo sẽ bị những câu thúc nhất định Ông quan niệm thơ cần “chân chân chân”, “thật thật thật”, nên có khi gặp những hiện tượng trong đời sống
ít tính thơ ca, ông vẫn đưa vào sáng tác của mình, bởi lẽ nó giống như trong thực tế Tìm
hiểu sáng tác của các nhà thơ mới được chọn để nghiên cứu ở đây, ta thấy thơ Xuân Diệu có
sự phong phú bậc nhất về đời sống hiện thực, nhưng quả ông chưa lọc lấy được “tinh chất” của cuộc sống
Quan niệm thơ cần gắn với đời sống, ông cũng đã lưu ý rằng, không phải đưa tất cả đời sống hiện thực vào thơ để đến nỗi bừa bộn, ngổn ngang trăm thứ, vì nếu vậy “cũng khó
mà nên câu tuyệt diệu, và đừng đưa vào một cách lộc cộc, ấm ách như người ăn mà không tiêu” [22; 36] Ông nói đúng rằng: “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự vật được phản ánh trong tâm tình” [22; 37] Đồng thời với quan niệm về nguồn gốc tính hiện thực trong thơ, Xuân Điệu cũng xem tình cảm, xúc cảm là một yếu tố quan trọng trong tâm hồn của nhà thơ Và
theo ông, cảm xúc này luôn gắn bó với âm thanh, vần điệu Ông viết: “Và khi tôi nói xúc
cảm, tôi không chỉ nói rung động tình cảm mà thôi; bởi vì người ta có thể rung động rất
Trang 36nhiều, thiết tha chân thành đến ứa lệ, nhưng ra nước mắt chưa hẳn đã ra thơ; khi tôi nói xúc
cảm, là tôi nói rung động tình cảm cộng với, đồng thời với một cơn rung động về vần điệu,
hình tượng, âm thanh, một hứng thú sáng tạo vậy” [22; 38] Quan niệm như thế chứng tỏ Xuân Diệu nhận thức đúng về việc đồng thời phải kết hợp những cảm xúc với các yếu tố khác, phải kết hợp nội dung cảm hứng với hình thức thể hiện Trong những ngày Cách mạng tháng Tám, ông nhận thức rằng con người nghệ sĩ của mình đã “được giải phóng về tâm hồn và sức sáng tạo Đã lâu lắm tình cảm công dân của người nghệ sĩ thiếu vắng và phải nén chờ Và bây giờ là lúc được bộc lộ” [28; 39] Từ nhận thức được giải phóng về tâm hồn và sức sáng tạo, ông đã đi đến quan niệm phải dùng thơ ca để bộc lộ cảm hứng công
dân, cảm hứng tình yêu tổ quốc Ông nói “Tôi làm thơ ca ngợi lá cờ đỏ sao vàng (Ngọn
Quốc kỳ) theo gợi ý của bạn tôi là Nguyễn Huy Tưởng, ca ngợi Quốc hội đầu tiên của đất
nước (Hội nghị non sông), ca ngợi quần chúng cách mạng (Đi giữa dòng người) và từ đấy
hòa nhập một lòng một dạ với cách mạng trong hai cuộc kháng chiến Hồn thơ Xuân Điệu
đổi thay và lớn lên theo đất nước [28; 40] Trong bài thơ Vô sản chuyên chính, ông nói ông
từng làm thơ về gió về mây, nhưng ngày nay ông làm thơ chính trị, thơ có tư tưởng cách mạng và ông “thẳng thắn ca ngợi nền chuyên chính” Không chỉ quan niệm thơ phải hướng đến những sự kiện lớn có ý nghĩa toàn dân, có ý nghĩa cách mạng như trên mà ông còn quan niệm thơ cũng có chức năng châm biếm, đả kích cái xấu, cái lạc hậu đi ngược lại lịch sử Đó
là việc ông viết những bài thơ phê phán bọn phản động Quốc dân đảng có nhiều âm mưu
phá rối chính quyền cách mạng (Tổng bất đình công, Một cuộc biểu tình) Như vậy, từ ý
thức công dân, từ nhận thức về nghệ thuật cách mạng, ông đã xác lập được một quan niệm sáng tác thơ ca rất mới mẻ, nhất là về chức năng và nhiệm vụ Đó là, thơ ca phải nhận thức, phản ánh và biểu hiện về cách mạng, về sự nghiệp của toàn dân đo Đảng lãnh đạo Tuy nhiên, trong những quan niệm sáng tác thơ ca của Xuân Diệu vẫn có một đôi điều cần nhìn
nhận cụ thể hơn Trở lại vấn đề thơ hiện thực, thơ tư tưởng như nói bên trên, có thể thấy
quan niệm của ông chưa thật thấu đáo, còn sơ lược [169; 332-333] Chính Xuân Diệu cũng quan niệm rằng đưa hoa, đưa tình cảm vào thơ vẫn dễ dàng hơn so với đưa thực tế vào thơ [22; 42] Ông thấy rõ cái nhọc nhằn của việc làm thơ hướng vào đời sống: “Tốn công sức hơn cả là làm những câu thơ hiện thực” [22; 43] Quan niệm này đi theo ông qua nhiều thời
kỳ sáng tác Tuy ông có một số quan niệm đúng như nói ở trên, nhưng riêng quan niệm
niệm thơ hiện- thực này đã chi phối việc sáng tác của ông, làm cho thơ ca ông có nhiều bài
Trang 37lọc như ông nói Về sau này, Vương Trí Nhàn kể khi làm tuyển tập cho ông, ông không
đồng ý việc chọn lựa để in, mà phải in tất cả, vì thơ ông đã phản ánh được hiện thực cách
mạng (báo Tiền Phong chủ nhật số 30.ra ngày 29 /7/200í và số 33 ra ngày 19/8/2001) Điều này cho thấy quan niệm thơ hiện thực của ông được “xác lập” một cách cứng nhắc Như
vậy, rõ ràng sự chuyển biến nhanh, đúng hướng và kiên trì của Xuân Diệu về phương diện quan niệm sáng tác như vừa nói cũng không phải là điều kiện đảm bảo cho sự thành công trong sáng tác
Còn Huy Cận, bạn thơ thân thiết của Xuân Diệu, tham gia tổ chức Việt Minh từ năm
1943 và giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước kiểu mới liền sau Cách mạng tháng Tám 1945 nhưng lại là người ít nói về quan niệm thơ ca, về lý luận sáng tác Quan niệm của ông về vấn đề này thường cũng được trình bày khái quát Ông nói rằng, điểm khác nhau căn bản giữa thơ cũ và thơ mới của ông là về tư tưởng [13; 52] Nếu thơ trữ tình của ông trước
kia nói về thế giới cái tôi thì thơ sau Cách mạng tháng Tám của ông lại hướng về nhân dân,
đời sống Ông nói: “Thơ mới của tôi thì chủ yếu là nói đến cuộc sống của nhân dân ta, của quần chúng trong cuộc đấu tranh và xây dựng” [13; 52], Để cụ thể hơn về đối tượng tổng quát mà thơ mình quan tâm, ông nói tiếp “Thơ sau này của tôi nói cái không khí lao động ở vùng mỏ, ở các công trường, ở nông thôn, nói đến tâm hồn của anh chị em lao động, cái tinh thần khỏe khoắn, mạnh chắc của những nhân vật quần chúng, Và trong những bài thơ ấy tôi đều cố gắng nói lên những suy nghĩ của mình về cuộc sống, con người Một phần tính chất trữ tình trong thơ mới của tôi cũng ở chỗ đó” [13; 52] Quan niệm làm thơ phải nói đến một nhân vật cụ thể, nói đến đời sống đấu tranh và xây dựng như trên, rõ ràng Huy Cận quan niệm phù hợp với đường lối văn học- nghệ thuật cách mạng Nhưng đối với Huy Cận, muốn sáng tác tốt, trong chủ quan người cầm bút phải có sự thống nhất làm một giữa tư tưởng với xúc cảm và có tính chất “thôi thúc” thì mới nên vần, nên điệu Nhớ lại việc sáng tác ở thời
kỳ 1945 - 1954, ông nói “tuy nhiên trong thế giới xúc cảm của tôi lúc bấy giờ chưa thật nẩy
nở những yếu tố cảm xúc mới Mà trong việc sáng tác thơ thì tư tưởng phải nhào nặn với cảm xúc thành một trạng thái tâm hồn duy nhất, thôi thúc thì mới sinh ra tác phẩm được” [13; 52] Sự kết hợp giữa tư tưởng với cảm xúc như ý kiến Huy Cận, rõ ràng là một yêu cầu phải đạt được để tạo điều kiện cho sáng tác Chỉ có một trong hai yếu tố này thì không thể
có thơ Dễ hiểu vì sao sau Cách mạng tháng Tám, Huy cận lao vào công tác cách mạng rất say sưa, tư tưởng đã mạnh mẽ, nhưng sáng tác thơ ca không có gì đáng kể Đó là do thiếu
Trang 38cảm xúc mới Cảm xúc mới bắt đầu từ đâu? Theo ông, nó được bắt đầu từ quá trình dấn thân vào thực tế đời sống lao động của quần chúng, của công nhân vùng mỏ Huy Cận xem
đó là “quá trình lượng biến thành chất”, “là sự kiện như giọt nước cuối cùng làm tràn một chiếc bình đầy” [13; 53] Ông cũng kể rằng quá trình tiếp xúc với đời sống ấy đã giúp ông thành công “có tính cách hàng loạt” qua các tập thơ như: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở
hoa, Bài thơ cuộc đời Ý kiến xác định sau đây, cho thấy Huy Cận có một quan niệm sáng
tác thấm sâu vào cấu trúc tác phẩm: “Nghiên cứu tư tưởng mới và xúc cảm mới của tôi đã thành những hình tượng, vần điệu, âm thanh, nhịp khúc như thế nào, tương quan giữa nội dung và hình thức cụ thể như thế nào, việc sự phủ định và sự kế thừa của tác giả về mặt
nghệ thuật, bút pháp như thế nào Việc làm phức tạp ấy, xin nhờ các bạn phê bình thơ”
[13; 53] Những quan niệm của Huy Cận trên đây tuy còn nghiêng về khái quát, nhưng phù hợp với yêu cầu của một nền thi ca mới và cũng đảm bảo được những đặc thù của quá trình sáng tạo một bài thơ, đảm bảo mối tương quan giữa nội dung và hình thức Tuy vậy, trong thơ ông, khi nào ông quá say sưa với đời sống hiện thực thì sự kể tả che khuất phần cảm xúc, tính thẩm mỹ mờ nhạt
Còn Tế Hanh, ông nói “Cái ý thức gắn liền với vận mệnh của tổ quốc, của dân tộc, đó
là kết quả lớn nhất mà cuộc cách mạng đã đem lại cho chúng tôi” [53; 4] Chính cái ý thức công dân thấy phải gắn bó với tổ quốc, dân tộc này mà quan niệm sáng tác thơ ca của ông cũng dần hình thành, dù lúc nào ông “cũng mò mẫm trăn trở, tìm tòi cho hướng thơ ca của mình” [56; 53], Thực ra cũng hơn một lần, bằng thơ, ông định “tuyệt giao” với con người cũ của mình Ông nói “Sang bờ tư tưởng ta lìa ta - Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà” Không đơn giản như vậy Còn nhớ, ngay khi ông đã tham gia cách mạng, ông động viên bạn bè “Hãy
nhập vào đại chúng - Cuộc đời riêng hòa với cuộc đời chung” (Tâm sự- 1946), nhưng còn
ông thì “quanh quẩn giữa kiêu căng vực thẳm - Con ốc nằm nghe sóng vỗ xa khơi” (Nhập
vào đại chúng -Hoa Mùa Thỉ) Nói như Xuân Diệu, đó chỉ là “giác ngộ trên lý thuyết” mà
thôi Nhưng rồi từ nhận thức công dân, ông nhận thức đến nghệ thuật và từ đó về sau, ông xác lập cho mình một quan niệm sáng tác thơ ca để tiếp tục được làm thi sĩ trong chế độ mới
Tế Hanh khống có nhiều lý luận về sáng tác thơ ca như Xuân Diệu, nhưng ông cũng có
một số quan niệm sáng tác thơ ca đáng ghi nhận Trong bài Chấp Cánh Cho Thơ, khi bàn
Trang 39dung của thơ thì tình cảm và tư tưởng được nâng cao [53; 54] Khi ông nói chỗ dựa của
người làm thơ là từ cuộc đời, từ sự sống [53; 55], tức ông đã quan niệm đúng về nguồn gốc xuất phát của việc tạo ra cảm xúc, xây dựng hình tượng thơ ca Ông nói ngày trước ông chỉ quen nói về mình, ngày nay đi làm cách mạng, ông nói “Tôi đã tìm ra đối tượng thẩm mỹ là nhân dân” [57; 74] Nhân Nhớ lại những chặng đường thơ của mình, ông không tán thành
quan niệm thơ là từ một sức mạnh huyền bí bên ngoài, mà ông xác định thơ ca phải bắt đầu
từ cuộc đời và thơ của ông đã theo nhịp tháng ngày với các biến cố, sự kiện trọng đại của
nhân dân và đất nước trong suốt nửa thế kỷ qua” [57; 74] Như vậy, trong quan niệm của ông; đối tượng thẩm mỹ là nhân dân, là cuộc sống cách mạng nhiều ý nghĩa, ông tìm cảm xúc thơ từ những đối tượng này và tất cả chúng góp phần tạo nên nội dung tác phẩm thơ Tuy nhiên đối tượng thẩm mỹ này không phải ngay từ đầu đã mang lại chó Tế Hanh những
nhận thức đúng đắn nhất Sau này, trong bài Mấy suy nghĩ về thơ ông nói rõ cái vụng về, thiếu thẩm mỹ khi viết tập thơ Nhân dân một lòng trong kháng chiến chống Pháp là điều
cho thấy quan niệm sáng tác của ông luôn luôn được vận động, tự ý thức
Trong hình thức thơ, ông cũng nhận ra “Những đề tài rộng mở ra cho ta: từ cái lá, con chim đến em bé, người yêu, đến cánh đồng hợp tác, nhà máy, công xưởng, đến tên lửa vũ
trụ ” [53; 58], nghĩa là một chân trời đối tượng giàu sức vẫy gọi đối với sự cảm thụ và hứng thú của các nhà thơ Đối với riêng ông, chọn đề tài, còn là việc có nguồn gốc kỷ niệm sâu xa như chính ông nói: “Vẫn muốn nói nhiều hơn về xứ biển - Như cái gì thầm kín nhất trong tim” (Tiếng Sóng) Ông cũng có một quan niệm về “khổ thơ”: “Theo tôi, thơ không
theo qui luật chữ, mà phải theo qui luật hơi của tác giả, tức là khổ thơ phải có tiếng nói của
tình cảm mà tác giả muốn diễn đạt” [69; 424] Đây chính là một quan niệm về thi pháp: Hình thức phải mang tính nội dung Những cuộc trò chuyện của ông với Nguyễn Công
Hoan, Quang Huy về quá trình làm các bài thơ Mặt quê hương, Chiêm bao cho thấy ông
có một quan niệm rõ ràng khi chọn chữ, lập tứ, tìm ý trong khi sáng tạo thơ (Tạp chí Tác
phẩm mới, số 9, tháng 9 và 10 - 1970, Báo Văn Nghệ số 32 (832) - 1979)
Tuy những quan niệm sáng tác trên đây chưa được luận bàn thấu đáo và toàn diện, nhưng đó là những quan niệm đúng Có khi ông chỉ khái quát, mà ngẫm ra, ta thấy rất đầy đủ: “Trước hết thơ phải có sức truyền cảm Sức truyền cảm của thơ phải tập trung và đột ngột, tạo cho người nghe vừa thú vị, vừa lạ lùng” [69; 424] Đây là một quan niệm đúng với bản chất của thơ
Trang 40Có lẽ chưa có nhà thơ Việt Nam nào từ 1945 đến nay mà có được quan niệm về sáng
tác thơ ca phong phú, độc đáo và thống nhất như Chế Lan Viên Đọc Điêu tàn, không những
có thể tìm thấy cơ sở xã hội, cơ sở tư tưởng, mà còn tìm thấy một quan niệm sáng tác, một quan niệm về cái đẹp của ông, nhất là tính chất khác thường của chủ thể và khách thể Nếu
chủ thể ở Điêu tàn là quái đản, cực đoan, bí ẩn thì chủ thể tác giả từ sau 1945 là một nhà thơ
luôn say sưa suy nghĩ và ca ngợi sự nghiệp cách mạng, ca ngợi nhiều con người đang làm
nên lịch sử mới của dân tộc Và nếu khách thể trong Điêu tàn là một thế giới của tưởng
tượng, hư cấu đầy tính siêu hình, rùng rợn thì khách thể sau 1945 chính là cuộc sống cạch mạng của toàn dân với tất cả sự vận động của nó trong đấu tranh và xây dựng Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể từ sau Cách mạng tháng Tám xuất hiện trong sự sáng tạo của ông
đã có nhiều trường hợp đầy tính thuyết phục như:
Ta vì ai? sẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh
( Hai câu hỏi)
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng, hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nồi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
( Tiếng hát con tàu)
Tuy vậy, trong tính cụ thể của việc xây dựng một quan niệm thơ ca theo ý của riêng mình, Chế Lan Viên từng có nhiều trăn trở Là người hay suy nghĩ, nên trong khi tham gia họat động cách mạng, ông vẫn lo lắng tự hỏi: “Tôi có còn tự do? Văn học cách mạng có phải là văn học” [216; 51] và theo cách ông so sánh với việc ăn “giò chả” cho đúng giò chả của bà gì ấy , thì thực ra là ông muốn văn học cách mạng phải đúng là văn học đích thực Văn học đích thực này, tất nhiên không ra đời dễ dàng Đối với ông, nó buộc phải thể nghiệm, kiếm tìm với nhiều day dứt Chính ông phải chấp nhận “biết bao là nhiêu khê”, phải