Ắt hẳn việc thực hiện đề tài này sẽ giúp người nghiên cứu xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc hơn về những vấn đề xung quanh đến chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là về hệ quả, tác động của
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
QUA TRƯỜNG HỢP ẤN ĐỘ VÀ VIỆT NAM
ố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
QUA TRƯỜNG HỢP ẤN ĐỘ VÀ VIỆT NAM
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện
Các s ố liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung
th ực và chưa từng công bố ở các công trình nghiên cứu khác
Tôi xin ch ịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng sau Đại học, quý thầy cô Khoa Lịch Sử đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Phó giáo sư, Tiến sĩ Ngô Minh Oanh.Thầy đã tận tình chỉ bảo, động viên và hướng dẫn cho tôi với sự cẩn trọng, nghiêm túc và trung thực trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Các thầy cô tại thư viện trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và tập thể các anh chị, các bạn học viên khóa 23, chuyên ngành Lịch
sử thế giới đã ủng hộ nhiệt tình và giúp đỡ chân thành cho tôi về mặt tư liệu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình là nguồn động viên lớn nhất cho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2014
Lê Thị Kim Oanh
Trang 5M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
L ời cam đoan
L ời cảm ơn
M ục lục
Danh m ục các bảng
M Ở ĐẦU 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA THỰC DÂN QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VÀO ẤN ĐỘ, VIỆT NAM CỦA ANH, PHÁP 11
1.1 Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa thực dân 11
1.1.1 Quá trình ra đời và vị trí lịch sử của chủ nghĩa thực dân 11
1.1.2 Một số khái niệm và cách nhìn nhận về chủ nghĩa thực dân 13
1.1.3 C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin nhìn nhận về chủ nghĩa thực dân 16
1.1.4 Hình thức biểu hiện của chủ nghĩa thực dân 19
1.2 Quá trình xâm lược Ấn Độ và Việt Nam của Anh và Pháp 23
1.2.1 Quá trình thực dân Anh xâm lược Ấn Độ 23
1.2.1.1 Tình hình của Ấn Độ trước khi thực dân Anh xâm lược 23
1.2.1.2 Quá trình xâm lược của thực dân Anh 26
1.2.1.3 Sự cai trị của Anh ở Ấn Độ trước năm 1858 31
1.2.2 Quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam 37
1.2.2.1 Tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược 37
1.2.2.2 Âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp 41
1.2.2.3 Tiến trình xâm lược của Pháp vào Việt Nam (1858-1897) 45
Chương 2 NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA CỦA ANH VÀ PHÁP TẠI ẤN ĐỘ VÀ VIỆT NAM (GIỮA THẾ KỶ XIX-GIỮA THẾ KỶ XX) 49
2.1 Về chính trị 51
2.2 Về kinh tế 60
Trang 62.3 Về văn hóa-giáo dục 69
2.4 Về xã hội 80
Chương 3 TÁC ĐỘNG TỪ CÁC CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA CỦA ANH VÀ PHÁP ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ VÀ VIỆT NAM 85
3.1 Những tác động tiêu cực từ các chính sách thuộc địa của Anh, Pháp đối với Ấn Độ và Việt Nam 85
3.1.1 Về kinh tế 85
3.1.2 Về chính trị-xã hội 87
3.2 Những tác động tích cực từ những chính sách thuộc địa của Anh, Pháp đối với Ấn Độ và Việt Nam 91
3.2.1 Về kinh tế 91
3.3.2 Về chính trị-xã hội 93
3.3.3 Về văn hóa-giáo dục 99
KẾT LUẬN 108
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 110
PH Ụ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu về tình hình sản xuất dệt vải tại Ấn Độ 65
Bảng 2.2 Số liệu về tình hình kỹ nghệ dệt đay tại Ấn Độ 65
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Có thể nói, chủ nghĩa thực dân là một vấn đề lớn trong lịch sử nhân loại Về mặt
thời gian nó tồn tại trong một thời kỳ lịch sử lâu dài, còn về mặt không gian chủ nghĩa
thực dân đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra 2/3 diện tích địa cầu và có mặt ở tất cả các châu lục trên thế giới “ nó đã gây nên một sự phục tùng làm cho những nước, những dân tộc bị nó chi phối, mất quyền độc lập chính trị của mình…” [dẫn theo 18, tr 6] Là
một người nghiên cứu sử học, người nghiên cứu đã nhận thức được tầm quan trọng
của việc nghiên cứu bản chất chủ nghĩa thực dân cũng như đặc điểm của các nước thực dân như Anh, Pháp trong quá trình nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa tư bản nói riêng và
lịch sử thế giới nói chung để thấy được rằng sự bành trướng của thực dân Pháp không
phải là “ một loại hành động nghĩa hiệp mới mẻ anh hùng và kỳ diệu, đại lượng và vô tư” [18, tr.9]
Tại Việt Nam tuy có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ nghĩa
thực dân, đặc biệt là chủ nghĩa thực dân Pháp nhưng hướng nghiên cứu về việc so sánh
chế độ thuộc địa của các nước thực dân nói chung, Anh và Pháp nói riêng thì còn khá
mới Bên cạnh đó, lại tồn tại rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về hệ quả của các chính sách thuộc địa do các nhà nghiên cứu đứng ở các góc độ khác nhau, ở vị trí hay
thời đại khác nhau để đánh giá và nhìn nhận vấn đề Vì vậy người nghiên cứu muốn đưa ra một cách tiếp cận của mình, dựa trên việc tập hợp những tài liệu và đứng trên quan điểm khách quan
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, là để phục vụ cho việc giảng dạy
và nghiên cứu của bản thân Trong chương trình sách giáo khoa THPT thì chủ nghĩa
thực dân cũng là một nội dung liên quan đến nhiều bài học, đặc biệt là chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam Ắt hẳn việc thực hiện đề tài này sẽ giúp người nghiên cứu xây
dựng nền tảng kiến thức vững chắc hơn về những vấn đề xung quanh đến chủ nghĩa
thực dân, đặc biệt là về hệ quả, tác động của chính sách mà các nước đế quốc đã để lại cho thuộc địa
Trang 9Với tất cả lý do đó, người nghiên cứu đã quyết định chọn tên đề tài luận văn của
mình là: “So sánh ch ế độ thuộc địa của Anh và Pháp ở Châu Á qua trường hợp
Ấn Độ và Việt Nam (giữa thế kỷ XIX- giữa thế kỷ XX)
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân đặc biệt là về thực dân Anh và Pháp, song lại tồn tại rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về nó Sở dĩ có sự khác nhau đó là do các nhà nghiên cứu đứng ở các góc độ khác nhau, ở vị trí hay thời đại khác nhau để đánh giá và nhìn nhận vấn đề
Đầu tiên phải kể đến quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin, tiêu biểu nhất và đầy đủ nhất được thể hiện qua luận điểm của
C.Mác, Ăngghen và sau đó là Lênin Qua các tác phẩm: Tuyên ngôn của Đảng cộng
s ản, Tư bản, Hệ tư tưởng Đức C.Mác và Ăngghen đã vạch ra những mặt tiêu cực, xấu
xa của chủ nghĩa thực dân: “ Giai cấp tư sản đã bắt nông thôn phải phục tùng thành
[dẫn theo 3, tr.14] nhưng cũng bắt đầu
đề cập đến mặt tích cực nằm ngoài ý muốn mà chủ nghĩa thực dân mang lại cho các
nước thuộc địa, thậm chí: “Chính điều này đã quyết định xu hướng phát triển của lịch
ngày càng rõ nét những đặc điểm của nó thì Lênin cũng có cái nhìn hoàn chỉnh hơn về
chủ nghĩa thực dân: Điều quan trọng là chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại và phát
tr.16] tức Lênin cho rằng việc xâm chiếm thuộc địa là nhu cầu tất yếu của các nước
thực dân và nó sẽ buộc các nước thuộc địa phải hội nhập vào quá trình phát triển kinh
tế tư bản cũng như là nền kinh tế thế giới, do đó các nước thuộc địa không thể tránh
khỏi sự thống trị của chính quốc và nhiệm vụ của họ là phải tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc mình Tuy rằng tại thời điểm đó, C Mác, Ăngghen và Lênin không có một tác phẩm nghiên cứu hay một luận điểm hoàn chỉnh nào về đặc điểm
của chủ nghĩa thực dân và sự khác biệt giữa chúng nhưng những luận điểm của họ đã góp phần giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn khi nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân Chính vì thế, những tác phẩm của C Mác, Ăghghen và Lênin là một trong số những
Trang 10tài liệu quan trọng về mặt lý luận mà người nghiên cứu sử dụng tham khảo để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình Bên cạnh những tài liệu kinh điển trên, chúng ta cũng sẽ tìm thấy những hoạt động xâm lược cũng như chính sách cai trị của các nước
đế quốc thực dân đối với những thuộc địa tiêu biểu như Anh ở Ấn Độ và Pháp ở Đông Dương ở một số tác phẩm khác Vấn đề này chiếm dung lượng khá lớn trong bộ sách Lịch sử Kinh tế các nước (ngoài Liên Xô) của F Ia Pôlianxki gồm 4 tập xuất bản năm
1978 Qua đó, tác giả người Liên Xô này cũng phần nào đưa ra những nhận định về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân khá gần với quan điểm của những người nghiên cứu thuộc các nước thuộc địa, nạn nhân của chủ nghĩa thực dân cũ và mới Tuy nhiên đây chỉ là bộ sách thuần túy về nội dung kinh tế, Pôlianxki cũng là một nhà kinh tế học, ông viết tác phẩm dựa chủ yếu trên tài liệu Liên Xô và đứng trên lập trường chống lại chủ nghĩa tư bản, nên phần nào tác phẩm mang tính chủ quan, phiến diện, không thực sự đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá về đặc điểm của từng nước chủ nghĩa thực dân
Với các nhà nghiên cứu tại các nước đế quốc thực dân mà chủ yếu là Anh, Pháp,
Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha họ lại có cách đánh giá và tiếp cận khác về chủ nghĩa
thực dân Chẳng hạn như trong tác phẩm: Đặc điểm của chủ nghĩa thực dân Pháp
được viết vào năm 1960, Ray-Mông-Bác-Bê đã có một công trình nghiên cứu về quá trình phát triển, những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa thực dân Pháp từ khi ra đời cho
tới khi tan rã Thế nhưng những chính sách thuộc địa và tác động của nó, đặc biệt là
những tác động tiêu cực lại được nói đến một cách hời hợt và không rõ ràng, chỉ gói
gọn trong các cụm từ như “xâm lược”, “cưỡng bức”, “tiêu cực” Các cuốn sách có trình bày lý luận về chủ nghĩa thực dân đều đưa ra những luận điểm chưa toàn diện với đúng bản chất của nó, tức cả yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực Chẳng hạn như trong
cuốn: Key Concepts in American History-Colonialism của Darrell J Kozlowski lại
đưa ra khái niệm về chủ nghĩa thực dân như sau: “Chủ nghĩa thực dân là sự mở rộng
vùng đất mới được thành lập bởi các nước chính quốc được gọi là thuộc địa”
[28, tr.1] Trong công trình nghiên cứu này những cuộc xâm chiếm của châu Âu đối
với châu Mỹ cùng những chính sách cai trị của họ lại được nhìn nhận là những nhân tố
Trang 11định hình nên lịch sử nước Mỹ “Nhà nghiên cứu người Mỹ David S Landes viết cuốn
sách “S ự giàu và nghèo của các dân tộc”được Kenneth Galbraith đánh giá: “Thật là
tuyệt vời Không nghi ngờ cuốn sách này sẽ đặt David S Landes thành một người hàng đầu xuất sắc trong lĩnh vực của ông và trong thời đại của ông” Cuốn sách đã nghiên cứu toàn diện về điều kiện tự nhiên, địa lý, chính trị, thể chế quan hệ quốc tế để tìm lời giải cho vấn đề vì sao có những quốc gia vượt lên các quốc gia khác và trở nên giàu có, còn nhiều nước trải qua hàng thế kỷ vẫn không thoát khỏi tình trạng nghèo đói” [42] Qua đó vấn đề chủ nghĩa thực dân cũng được ông đề cập trong một số chương của cuốn sách, đặc biệt là về chủ nghĩa thực dân Anh ở Ấn Độ Ngoài các tác
phẩm trình bày lý luận về chủ nghĩa thực dân như: Colonialism in Question-Theory,
History-Colonialism thì tại các nước thực dân cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách thuộc địa của một quốc gia cụ thể trên một khu vực địa lý, một quốc gia
nhất định Tiêu biểu về thực dân Anh tại Ấn Độ có một số công trình nghiên cứu như:
Britain’s Oceanic Empire, Atlantic and Indian Ocean Worlds, c 1550–1850 của các tác giả H V Bowen, Elizabeth Mancke, and John G Reid Cuốn sách là một công trình lớn, tập hợp rất nhiều bài viết của các tác giả khác nhau, trong đó ở phần III và
IV có một số bài nghiên cứu về hoạt động của công ty Đông Ấn và quá trình xâm lược vào Ấn Độ mà cuốn sách gọi là “ngoại giao ở Ấn Độ” Qua đó cuốn sách cũng dựng lên một bức tranh khá rõ nét về chính sách thuộc địa và tình hình kinh tế của Ấn Độ vào thời kỳ đầu cai trị của Anh Tuy nhiên, cuốn sách cũng chỉ dừng ở việc đánh giá tác động của các chính sách thuộc địa đối với đế quốc Anh, còn đối với Ấn Độ thì chưa được đánh giá toàn diện Bên cạnh đó, phải kể đến một số công trình khác nói về
thực dân Anh như: A short history of British colonial policy của Hugh Edward Egerton được viết vào năm 1897 và British colonial policy của George Louis Beer
viết năm 1907 Cả hai cuốn sách đều lấy các chính sách thuộc địa của Anh làm mục đích nghiên cứu chính và đã trình bày rất rõ về quá trình xâm lược của Anh vào các vùng thuộc địa Tuy nhiên, do ra đời khi chủ nghĩa thực dân Anh chưa thực sự bộc lộ
hết các đặc điểm của nó cho nên hai công trình chưa trình bày được đầy đủ và rõ nét
về các chính sách thuộc địa của Anh tại Ấn Độ và một số khu vực khác Ngoài ra,
Trang 12người nghiên cứu cũng tham khảo một số bài viết trên các tạp chí trong đó quan trọng
nhất là hai bài viết, bài thứ nhất với nhan đề: The Raj reconsidered: British India’s
informal Empire and spheres of influence In Asia and Africa (2009) và The Arabian Frontier of the British Raj: Merchants, Rulers, and the British in the nineteenth- Century Gulf (Oxford University Press, 2007), của James Onley Dr Đây thực sự là
những bài nghiên cứu vô cùng giá trị đối với người nghiên cứu, không những cách trình bày khoa học mà các bài viết còn đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng như mục đích của việc xâm lược Ấn Độ và cách cai trị của người Anh ở các vùng trong khu vực châu Á Bài thứ hai của tác giả Ryan Brown được viết năm 2010 với tên gọi The
British empire in India đã trình bày quá trình người Anh vào Ấn Độ từ vương triều Mohgol cho tới năm 1947 khi Ấn Độ giành được độc lập Người nghiên cứu chủ yếu khai thác được ở bài viết này một số chính sách mà Anh đã thi hành qua một số giai đoạn và qua những nhà cầm quyền thuộc địa Anh ở Ấn Độ
Về thực dân Pháp có cuốn: The French in Tonkin and South China của Alfred
Cunningham, đây như một tài liệu quý của tác giả, ghi lại cuộc hành trình của mình đến Trung quốc và Đông Dương Bố cục của công trình được chia theo từng địa danh,
Việt Nam được nhắc tới bởi những địa danh như Hà Nội, Hải Phòng Trong mỗi khu
vực này, tác giả ghi lại tất cả mọi thứ mà ông nhìn, thấy và cảm nhận được một cách
rất chân thực Tuy không trình bày một cách rõ ràng về chính sách thuộc địa của Pháp
tại Đông Dương nhưng cuốn sách đã cung cấp những dẫn chứng rất chân thực về hệ
quả của các chính sách thuộc địa và phần nào bắt đầu so sánh các hoạt động, chính sách thuộc địa của thực dân Anh và thực dân Pháp Công trình mang tên: The colonial
tariff policy of France của tác giả Arthur Girault được viết vào năm 1916 bao gồm hai
phần và 14 chương đã giành ra một chương để nói về Đông Dương, trong đó chủ yếu nói về Việt Nam Cuốn sách đề cập một cách chi tiết về chính sách thuế quan cũng như vai trò, lợi ích về mặt kinh tế của khu vực Đông Dương đối với chính quốc thông qua số liệu về các loại hàng hóa ở khu vực này nhưng không đánh giá đến tác động
của các chính sách thuộc địa đối với khu vực Đông Dương Về việc so sánh giữa thực dân Anh và thực dân Pháp, người viết cũng tiếp cận được một số tài liệu nước ngoài
trong đó có bài viết: The legacies of history Colonization and immigrant integration
Trang 13in Britain and France được đăng trên tạp chí Theory and Society vào năm 2005, trong bài viết này tác giả Erik Bleich đã trình bày và so sánh một cách ngắn gọn về chính sách thuộc địa của Anh và Pháp cũng như những di sản thuộc địa của hai quốc gia này Đây là một khía cạnh tiếp cận mới của một tác giả nước ngoài mà người viết
cần thiết phải tham khảo để đưa ra cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghiên cứu Riêng
về tác động của các chính sách thuộc địa ở Đông Dương phải kể đến luận án tiến sĩ
của Julia Alayne Grenier Burlette mang tên:French influence overseas: The rise and
fall of colonial Indochina, bao gồm 3 chương và tác giả đã trình bày rất chi tiết, cụ
thể về quá trình người Pháp vào Đông Dương cho đến các chính sách kinh tế, văn hóa
và cũng giải thích cho sự thất bại của người Pháp ở khu vực này Đặc biệt, Julia Alayne Grenier Burlette đề cập rất nhiều đến tác động của các chính sách thuộc địa, cả tiêu cực và tích cực và đây là một tài liệu rất quan trọng cho người nghiên cứu khi tìm
hiểu về vấn đề này
Ngoài ra tại các quốc gia phương Tây còn có các cuốn sách như: Colonial
Andrea L Smith hay The making of British colonial development policy 1914–1940
của Stephen Constantine, những tác phẩm ấy được viết đều với chung một mục đích là
để phân tích và đánh giá về nguyên nhân thành công hay thất bại của các chính sách thuộc địa của họ mà thôi, các tác động tiêu cực của nó đối với các nước thuộc địa chỉ
là những minh chứng họ đưa ra để đánh giá mức độ thành công hay thất bại chứ không
hề đánh giá đến sự thiệt hại to lớn mà các nước thuộc địa phải gánh chịu
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu đứng trên lập trường của một nước thuộc địa cũng đưa ra cái nhìn về chủ nghĩa thực dân, nhưng vấn đề này lại thường được lồng ghép trong các vấn đề khác và chủ yếu nhấn mạnh đến những chính sách, tác động tiêu
cực của chủ nghĩa thực dân đối với nước ta, qua đó lên án gay gắt thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ, cụ thể có một số tác phẩm tiêu biểu như sau:
Trong cuốn sách của tác giả Đỗ Thanh Bình có nhan đề: Lịch sử phong trào giải
nghĩa thực dân đã được nghiên cứu một cách khá đầy đủ và khách quan Đặc biệt, đây
là một trong số rất ít những công trình tại Việt Nam đã trình bày một cách khái quát về
Trang 14lý luận của chủ nghĩa thực dân Tuy nhiên, nó lại được trình bày gắn liền với vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa nên còn bị hạn chế ở nhiều mặt
và chưa hoàn chỉnh Bên cạnh đó, còn có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về chính tình hình Việt nam trong thời kỳ là thuộc địa của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tiêu biểu
như cuốn sách Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ của tác giả Nguyễn Thế Anh Được
viết vào năm 1970 khi thực dân Pháp đã hoàn toàn rút khỏi Việt Nam và bởi một tác
giả đã có cơ hội làm việc tại Pháp do đó cách viết và trình bày của cuốn sách có sự khác biệt với những tác giả khác vào thời kỳ đó Cuốn sách chia làm ba phần, mỗi
phần ba chương nhưng hoàn toàn là theo mạch trình bày các biến cố chính trị hay quân
sự, “sự kiện thuộc địa” trong đó, độc giả có thể hình dung được diễn biến của một giai đoạn lịch sử chứa đựng nhiều biến đổi cho xã hội Việt Nam Với cùng suy nghĩ và cách viết đó còn có cuốn sách: Người Pháp và người Annam, bạn hay thù? của
Philippe Devillers-một nhà sử học đã sống và nghiên cứu tại Việt Nam về cuộc chiến tranh tại Đông Dương, trình bày những diễn biến của hành động với việc bám sát các niên đại để giải thích “ hành động và phản ứng” của cả hai phía Pháp và Việt Nam Trong hai tài liệu này rất khó để tìm thấy một nhận xét khen chê nhưng nó lại cung cấp cho chúng ta nhiều “chất liệu” để có nhận thức đúng đắn về hệ quả của những chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam Về các chính sách thuộc địa Anh ở Ấn Độ, có nhiều tác phẩm đề cập đến vấn đề này nhưng chủ yếu coi đó là một giai đoạn trong
lịch sử của Ấn Độ hoặc có liên quan đến vấn đề nghiên cứu chứ rất ít các công trình nghiên cứu riêng về vấn đề này Một số công trình tiêu biểu cho cách trình bày này là:
Các nhân v ật lịch sử cận đại (tập IV) và hiện đại (tập II) của Lê Vinh Quốc và Ngô
Minh Oanh Đây cũng là những tài liệu rất hữu ích cho người nghiên cứu có cái nhìn bao quát nhất về lịch sử Ấn Độ nói chung và vị trí của thời kỳ là thuộc địa của Anh trong tiến trình phát triển của lịch sử Ấn Độ nói riêng
Như vậy, mặc dù vấn đề chủ nghĩa thực dân đã được nghiên cứu rất nhiều tại
Việt Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau Thế nhưng lý luận của chủ nghĩa thực dân cũng như những đặc điểm của từng nước thực dân và hệ quả mà nó để lại đối với sự phát triển của nhân loại vẫn luôn làm say mê và không bao giờ là đủ đối với những
Trang 15người nghiên cứu sử học Thiết nghĩ, đây là một vấn đề quan trọng vẫn phải tiếp tục tìm hiểu, đặc biệt đối với một đất nước từng là thuộc địa như Việt Nam, điều đó càng
cần thiết để giúp cho những người nghiên cứu lịch sử có một nhận thức đúng đắn và hoàn chỉnh hơn về quá trình hình thành, phát triển của từng nước thực dân và những tác động của chủ nghĩa thực dân đối với nước ta nói riêng và trên bình diện thế giới nói chung
3 M ục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm so sánh chế độ thuộc địa của Anh và Pháp dựa trên
những chính sách thuộc địa được thi hành tại Ấn Độ và Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng muốn đưa ra đánh giá toàn diện hơn về hệ quả của các chính sách thuộc địa đối với cả các nước thực dân và các nước thuộc địa
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chế độ thuộc địa của Anh và Pháp mà chủ yếu là những chính sách thuộc địa mà họ đã thi hành ở Ấn Độ và Việt Nam và một số nét tương đồng cũng như khác biệt trong cách cai trị thuộc địa của Anh và Pháp
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
V ề không gian:
- Tập trung ở Ấn Độ (trước năm 1947) và Việt Nam (trước 1945)
V ề thời gian:
- Khoảng từ giữa thế kỉ XIX đến giữa XX, tương đương với thời gian từ khi Ấn
Độ và Việt Nam đều là thuộc địa của Anh và Pháp cho đến khi độc lập Tuy nhiên, giai đoạn trước và sau đó cũng sẽ được đề cập tới trong những giới hạn nhất định để làm rõ hơn nội dung nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác Lênin, bên cạnh đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra tôi còn sử dụng một số phương pháp liên ngành giữa sử học, xã hội học, dân tộc học, địa
lý học…
Trang 166 Ngu ồn tư liệu
- Các sách viết hoặc có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Các bài báo, tạp chí, khóa luận, luận văn, luận án có liên quan đến đề tài
- Các website lớn, đáng tin ở trong và ngoài nước viết về đề tài
7 Đóng góp của luận văn
Cho đến nay, việc nghiên cứu về chế độ thuộc địa của Anh và Pháp cũng như
những hệ quả, di sản mà nó để lại đối với sự phát triển của các nước thuộc địa và toàn nhân loại đã được rất nhiều các học giả tại Việt Nam nghiên cứu Tuy nhiên, hướng nghiên cứu so sánh đặc điểm của các nước thực dân thông qua chế độ thuộc địa của nó
tại thuộc địa thì chưa nhiều Do vậy, đề tài được tiến hành nghiên cứu nhằm có thể thu
thập và hệ thống hóa một số nguồn tài liệu tạo thành tập tin, nguồn tài liệu đáng tin cậy
về chế độ thuộc địa Anh và Pháp ở Ấn Độ, Việt Nam cùng với hệ quả được nhìn nhận
một cách toàn diện hơn Người nghiên cứu hi vọng đây sẽ là tài liệu có ích đối với
những người quan tâm đến đề tài hoặc những lĩnh vực có liên quan mà đề tài đã đề cập
và nghiên cứu
8 B ố cục của luận văn và các vấn đề cần giải quyết
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, luận văn
có ba chương:
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA THỰC DÂN QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC ẤN ĐỘ, VIỆT NAM CỦA ANH, PHÁP
Nội dung của chương 1 nhằm giải quyết hai vấn đề:
Thứ nhất là một số vấn đề lý luận về chủ nghĩa thực dân sẽ đề cập đến các nội dung chi tiết như: Quá trình ra đời, vị trí lịch sử, một số khái niệm và cách nhìn nhận cũng như hình thức biểu hiện về chủ nghĩa thực dân, cuối cùng là trình bày quan điểm
của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin nhìn nhận về chủ nghĩa thực dân
Thứ hai là trình bày về quá trình xâm lược Ấn Độ và Việt Nam của Anh và Pháp, trong đó cũng tìm hiểu về tình hình của hai quốc gia này trước khi bị Anh, Pháp cai trị
C hương 2 NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG CHẾ
ĐỘ THUỘC ĐỊA CỦA ANH, PHÁP TẠI ẤN ĐỘ, VIỆT NAM (GIỮA THẾ KỶ XIX-GI ỮA THẾ KỶ XX)
Trang 17Chế độ thuộc địa được Anh và Pháp xây dựng tại Ấn Độ và Việt Nam có những
sự giống và khác nhau trong các lĩnh vực Nội dung của chương 2 nhằm so sánh, tìm
ra một số nét tương đồng và khác biệt trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa-giáo
dục, xã hội mà hai đế quốc thực dân này đã áp đặt lên Ấn Độ và Việt Nam
C hương 3 TÁC ĐỘNG TỪ CÁC CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA CỦA ANH
VÀ PHÁP ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ VÀ VIỆT NAM
Các chính sách thuộc địa đã tác động sâu sắc đến đời sống của Ấn Độ và Việt Nam Nội dung của chương 3 sẽ trình bày về những tác động tích cực và tiêu cực của
những chính sách này trên một số lĩnh vực cụ thể
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA
1.1 Nh ững vấn đề lý luận về chủ nghĩa thực dân
1.1.1 Quá trình ra đời và vị trí lịch sử của chủ nghĩa thực dân
Xét về mặt thời gian, trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, chủ nghĩa
thực dân xuất hiện không phải là hiện tượng cá biệt mà là phổ biến, mang tính toàn
cầu Nó tồn tại trong một thời kỳ lịch sử lâu dài.Darrell J Kozlowski cho rằng “Lịch
sử của chế độ thực dân-hành động mở rộng quyền lực tới quốc gia khác-trải dài trên
khắp toàn cầu và kéo dài qua thời gian Chủ nghĩa thực dân thường được sử dụng để
chỉ đế quốc châu Âu ở nước ngoài Lịch sử của chế độ thực dân có thể bắt nguồn từ người Phoenicia và Hy Lạp cổ đại” [28, tr.1] Cũng theo tác giả:
“Người Phoenicia, người đầu tiên định cư ở rìa phía Đông của biển Địa Trung Hải, họ nắm thế lực rất lớn về thương mại ở khu vực Địa Trung Hải khoảng từ năm 1550 TCN cho đến 300 TCN Họ trao đổi với các thành phố
ở Ai Cập, Hy Lạp và thành lập các thuộc địa xa về phía tây là Cadiz ngày nay, thuộc Tây Ban Nha Ở Hy Lạp cổ đại, các thành bang Hy Lạp thường thiết lập thuộc địa để buôn bán với nước ngoài và làm tăng sự giàu có của
họ 30 thành bang Hy Lạp đã thành lập được nhiều hơn một thuộc địa ở khu
vực Địa Trung Hải Nhà thực dân tích cực nhất là thị quốc Miletus Nó thiết
lập được 90 thuộc địa trải dài trên Địa Trung Hải, từ bờ biển ngày nay là phía đông Thổ Nhĩ Kỳ đến bờ biển phía nam thuộc phía tây Tây Ban Nha ngày nay Một số các thuộc địa nằm trên bờ biển phía bắc của châu Phi.Ban đầu người La Mã thường thiết lập các thuộc địa để bảo vệ các vùng đất mới xâm chiếm được Trong thời kỳ đầu, các thuộc địa của công dân La Mã
nằm dọc theo hai bên bờ biển của Ý” [28, tr.1-2]
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, “chủ nghĩa thực dân đã xuất hiện và tồn tại
sớm với việc các thương nhân phương Tây lập ra các thương điếm rải rác ở châu Á,
Trang 19châu Phi Nhưng nhìn chung, người ta thường lấy năm 1511, với sự kiện thực dân Bồ Đào Nha xâm chiếm bán đảo Ma-lắc-ca ở Đông Nam Á làm mốc mở đầu cho thời kỳ
của chủ nghĩa thực dân, mặc dù đến năm 1511 chưa có một cuộc cách mạng tư sản nào
diễn ra Khi Macao trở về Trung Quốc, năm 1999 được coi là mốc cáo chung của chủ nghĩa thực dân đã từng tồn tại kéo dài ít nhất 5 thế kỷ” [3, tr.11] Trong suốt quá trình
tồn tại của mình, chủ nghĩa thực dân có một vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử nhân loại Trong cách nhìn của các dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa thực dân là sản phẩm
của chế độ tư bản chủ nghĩa, là vết nhơ trong lịch sử nhân loại, vì nó đã tạo ra một thời
kỳ đầy bi thương cho các dân tộc thuộc địa ở Á, Phi và Mĩ Latinh
Xét về mặt không gian, phạm vi bành trướng, xâm lược của chủ nghĩa thực dân, người ta thấy nó không dừng lại ở một khu vực nào, ở một châu lục nào, mà có mặt ở
khắp trên thế giới Nó “đã mở rộng phạm vi thế lực của mình ra 2/3 diện tích địa cầu,
có mặt ở tất cả các châu lục Từ châu Âu rồi Bắc Mĩ, khu vực Mĩ Latinh và cả châu
Đại Dương xa xôi” [3, tr.12] Có thể nói “từ khi bắt đầu xuất hiện cho đến nửa sau thế
kỷ XX, thuộc địa vẫn được coi là thước đo sức mạnh, giá trị của chủ nghĩa thực dân,
chủ nghĩa tư bản Việc tranh giành thuộc địa là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm bùng nổ hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng loạt các cuộc chiến tranh khu vực (như chiến tranh Anh – Bôơ (1899-1902), Mĩ – Tây Ban Nha (1898), hay sự can thiệp
của 8 nước đế quốc vào Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX…) Đồng thời, thuộc địa cũng là một vấn đề chính gây nên những rắc rối, bất ổn trong quan hệ quốc tế, quan hệ song phương giữa các nước lớn, kéo dài nhiều thế kỉ Chính nhờ có thuộc địa mà một
số nước tư bản đã trở thành những cường quốc tư bản hàng đầu và giữ vị trí đó trong
một thời gian không phải là ngắn, chi phối thế giới Điển hình là Anh và sau đó là Pháp Đế quốc Anh có hệ thống thuộc địa rộng lớn bao la, đứng đầu thế giới, đó là đế
quốc mà “Mặt trời không bao giờ lặn” Chính nhờ ưu thế về thuộc địa mà mặc dù Anh
mất độc quyền về công nghiệp từ cuối thế kỷ XIX nhưng Anh vẫn giữ vị trí đứng đầu
thế giới tư bản về sự giàu có, về sức mạnh nói chung Sau Anh là Pháp Pháp có hệ
thống thuộc địa rộng lớn và đông dân thứ hai sau Anh vì thế vai trò và vị trí của Pháp cũng xếp thứ hai trong thế giới tư bản cho tới tận trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
Trang 20cũ lần lượt sụp đổ Vị trí và vai trò của Anh, Pháp dần dần bị đẩy xuống phía sau, trong khi đó Mĩ vươn lên đứng đầu thế giới tư bản cùng với bành trướng thuộc địa
bằng chủ nghĩa thực dân trá hình Mĩ là đế quốc đi đầu trong việc áp dụng chủ nghĩa
thực dân trá hình trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân cũ bị nhân loại nguyền rủa và sụp
đổ Do đó, chủ nghĩa thực dân trá hình của Mĩ đã thành công ở một số nơi
Khi phân tích quá trình xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, phân tích vai trò và vị trí của thuộc địa đối với các nước tư bản, V.I Lênin đã đưa ra một trong năm đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, đó
là vấn đề thuộc địa Có thể nói hệ thống thuộc địa là một trong những đặc điểm không
thể thiếu của chủ nghĩa đế quốc Nói cách khác, thuộc địa là nơi mà “tất cả sinh lực
của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy” ở đó” [3, tr.12-13]
1.1.2 M ột số khái niệm và cách nhìn nhận về chủ nghĩa thực dân
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân nói chung hay những khía cạnh có liên quan đến phạm trù này, chúng ta cần phải tìm hiểu qua một số khái niệm như: đế chế,
chủ nghĩa đế quốc; thuộc địa, chủ nghĩa thực dân Tùy theo cách tiếp cận tài liệu và quan niệm của người nghiên cứu mà các khái niệm này có phần khác nhau Trong Key
Concepts in American History-Colonialism của Darrell J Kozlowski đưa ra khái
niệm về chủ nghĩa thực dân như sau “Chủ nghĩa thực dân là sự mở rộng lãnh thổ của
một quốc gia đến những vùng đất bên ngoài biên giới của mình Những vùng đất mới được thành lập bởi các nước chính quốc được gọi là thuộc địa” [28, tr.1] Tương tự như
vậy, trong tác phẩm “Sự giàu và nghèo của các dân tộc” tác giả David S Landes
cũng cho rằng: “Chủ nghĩa đế quốc là hệ thống (nguyên lý hay tinh thần) và sự thực
hiện đế chế-sự thống trị của một nước đối với những nước khác Các đế chế lớn lên khi các quốc gia lớn lên, quốc gia này mạnh hơn quốc gia kia Căn cứ vào cái phả hệ lâu đời đó và mối liện hệ giữa đế chế với chinh phục quân sự và thủ đoạn ngoại giao,
với vị trí xã hội, quyền lực và của cải, “đế chế” và “chủ nghĩa đế quốc” đã từng là
những từ kiêu hãnh” [4, tr.413] Vào cuối thế kỷ 19, khi mà chủ nghĩa tư bản lên đến
tột cùng và chủ nghĩa đế quốc cũng lên đến đỉnh điểm như một phát minh hay sản
phẩm phụ của chủ nghĩa tư bản hiện đại Nhiều người đã lập luận rằng đế chế là tất
yếu và cần thiết cho sự thịnh vượng và sống sót của chủ nghĩa tư bản hiện đại, và rằng
Trang 21chủ nghĩa đế quốc nhằm mục đích trên hết là lợi ích vật chất, ngay cả ở những nơi mà
nó phải trả giá và chịu thiệt thòi Bên cạnh quan niệm như thế, cũng không ít ý kiến trình bày về vấn đề này và nó phản ánh sự cần thiết phải làm mất uy tín của bọn đế
quốc và tư bản nhằm khuyến khích sự chống cự và cách mạng, hiển nhiên nó thường
xảy ra tại các nước yếu và bị thống trị “Chủ nghĩa thực dân là chủ nghĩa đế quốc ở
dạng còn đen tối hơn nữa Đối với nhiều người, nó bao hàm những bất công xã hội,
những sự nhục mạ con người, những đòi hỏi và đạo đức buộc người ta phải có những hành động chống lại, những yêu sách về công lý và những cuộc đấu tranh để giải phóng Từ “colony” vốn có một nguồn gốc chẳng tội tình gì trong xã hội cổ đại, nó có nghĩa là một nơi định cư ở xa-ví như khu định cư của người Phenixi ở Carthage hay
những khu định cư của người Hi Lạp ở Ý Nhưng định cư lại bao hàm những kiểu di
dời được sự chỉ định của những người đứng đầu quốc gia tới những vùng đất không
phải vô chủ, vì vậy nó không thể nào là tốt hay phù hợp đạo lý, ít nhất là đối với
những nạn nhân của sự di dời” [4, tr.414] Cho nên sự định cư xét như một hệ thống rõ ràng là xấu Do vậy mà cũng có nhà nghiên cứu cho rằng: “Chủ nghĩa thực dân là chính sách của các nước đi xâm chiếm nước khác để thống trị, bóc lột Chủ nghĩa thực dân có mầm mống từ thời cổ đại song phát triển mạnh mẽ, có hệ thống dưới thời tư
bản…” [12, tr.107] “… là một hình thức mở rộng sự thống trị tạm thời của người đối
với người và như vậy nó là một phần của lịch sử nhân loại với những hình thức thống
trị, nô dịch, áp bức và bóc lột” [36, tr.291]
Thậm chí: “Thực dân là một hành động xâm lăng và duy trì sự xâm lăng bằng
bạo lực nhằm khai thác và chiếm đoạt những tài nguyên của các nước bị thuộc địa Đó
là một hình thức người bóc lột người, người đè nén người Cho nên chế độ thực dân là
một chế độ vô nhân đạo, phi chính nghĩa Vì không thể phơi bày tính chất vô nhân đạo
một cách trắng trợn, nên chế độ thực dân phải núp sau những lý tưởng, những chủ nghĩa giả dối để huyễn diệu người ta Có thể gọi những chủ nghĩa thực dân tạo ra là huyền thoại” [20, tr.1] Đây chính là khái niệm về chủ nghĩa thực dân nằm ngay trong
lời tựa của cuốn sách chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam-thực chất và huyền thoại
của tác giả Nguyễn Văn Trung
Trang 22“Trong cách nói gần đây hơn, “colonialism” đã mở rộng nội dung để chỉ “bất cứ điều kiện bị lệ thuộc nào về kinh tế hay chính trị,” dù sự lệ thuộc đó có dẫn đến sự di
dời của dân bản địa hay không Nghĩa xấu của từ này đã khiến những nhà phê bình
hiện đại chỉ trích sự thống trị của nước ngoài (của Phương Tây), thích dùng từ colonialism (chủ nghĩa thực dân) hơn là thuật ngữ imperialism (chủ nghĩa đế quốc) Colonialism nghe xấu hơn” [4, tr.414] Có ý kiến cho rằng “Sự khác biệt quan trọng
giữa chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc dường như là sự hiện diện hay không
của một số lượng đáng kể những người định cư vĩnh viễn ở thuộc địa từ chính quyền
thực dân” [38, tr.47] Người ta thường cho rằng chủ nghĩa đế quốc là một cái gì đó do phương Tây sáng tạo ra như một độc quyền của mình để đổ lên đầu các dân tộc không
phải người châu Âu Trái ngược với những quan điểm đó, các học giả phương Tây phủ
nhận điều đó và cho rằng chủ nghĩa thực dân diễn ra vòng quanh trái đất Ở phương đông, “người Trung Hoa đã tràn xuống phía nam, khuất phục và nuốt chửng nhiều dân
tộc không phải người Hán Người Nhật Bản đã chinh phục những hòn đảo từ tay người Ainu Người Miến Điện đã di cư từ gốc gác của họ ở Mông Cổ và lấy tên của mình đặt cho một dải đất ở xa dưới phía nam, đồng hóa phần lớn các thổ dân Người Ảrập đã bung ra từ hoang mạc, tràn qua miền bắc Châu Phi, cải đạo đa số thần dân của họ thành những tín đồ Hồi giáo Họ tạo nên những quốc gia Hồi giáo, và ngôn ngữ của họ
trở thành tiêu chí định nghĩa chung của những nhân dân đa dạng này” [4, tr.415]
Như vậy, chủ nghĩa thực dân là hành động xâm chiếm, mở rộng lãnh thổ của một
quốc gia dưới sự chỉ đạo của chính phủ thành những chính sách, đường lối rõ ràng, cụ
thể Và nếu hiểu rằng chủ nghĩa thực dân là chỉ để ám chỉ các nước Phương Tây thì chưa toàn diện “Đương nhiên là đã có một cái gì khác đi khi người Châu Âu cưỡi thuyền hay cưỡi ngựa đi vòng quanh thế giới và khuất phục những thị tộc, dân tộc xa
lạ bằng những vũ khí, kiến thức của họ ở trình độ cao hơn Những địa phương và con người bản địa này đều khác xa người Châu Âu cả về văn hóa, địa lý và cơ thể Nếu
những cuộc chinh phục trước đó đều ở gần sát biên giới lãnh thổ và mang ý nghĩa hấp thu hay đồng hóa nhằm sát nhập nó vào lãnh thổ vốn có, thì những miền đất xa lạ này
Trang 23được coi là những phần thưởng, những vùng đất do cơ hội mà có Chúng không phải
những bộ phận hợp thành mà là những bộ phận phụ thêm” [4, tr.415]
1.1.3 C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin nhìn nhận về chủ nghĩa thực dân
Chủ nghĩa thực dân là một vấn đề lớn trong lịch sử nhân loại Cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa thực dân thì cũng có những cái nhìn khác nhau về nó Sở dĩ có điều đó là do các nhà nghiên cứu đứng ở các góc độ khác nhau, ở vị trí hay thời đại khác nhau để đánh giá, nhìn nhận Trước Mác, việc nhìn nhận về chủ nghĩa thực dân không phải ai khác mà chính là các học giả tư sản người Anh, người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha Các học giả tư sản viết khá nhiều về chính sách thực dân nhưng
chủ yếu tập trung vào việc khai thác chức năng “khai hóa” của nó Sự nhìn nhận về thuộc địa của các học giả tư sản nhiều khi rất chi tiết, cặn kẽ, nhưng tất cả là để phục
vụ cho chính sách bóc lột, khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
C Mác là người đầu tiên nghiên cứu, có những đánh giá về chủ nghĩa thực dân
và đưa ra những luận điểm chính thống của mình Cơ sở đầu tiên để C.Mác nghiên cứu
và đưa ra những luận điểm của mình chính là việc nghiên cứu sự thống trị của Anh đối
với Airơlen, đặc biệt là nghiên cứu quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Anh ở
Ấn Độ Ph.Ăngghen cũng có những nghiên cứu sâu sắc về chủ nghĩa thực dân và thuộc địa Hai ông đã thể hiện những luận điểm về các vấn đề này trong tác phẩm: tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Tư bản, Hệ tư tưởng Đức…Khi nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra những mặt tiêu cực, chỉ ra những
mặt xấu xa của nó Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, hai ông viết “…giai cấp tư
sản đã bắt nông thôn phải phục tùng thành thị, bắt những nước dã man hay nửa dã man
phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây” [dẫn theo 3, tr.14] Sự cưỡng bức các dân tộc thuộc địa chậm phát triển phụ thuộc vào các nước phưuơng Tây, như C.Mác và Ăngghen đã chỉ rõ, là mặt trái của
chủ nghĩa thực dân Qua đó, C.Mác nói rõ quá trình bót lột thuộc địa tàn nhẫn của chủ nghĩa thực dân nhằm để tạo ra sự tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản C.Mác viết:
“việc tìm thấy những mỏ vàng và bạc ở Châu Mĩ, việc biến người bản xứ thành nô lệ,
việc chôn vùi họ vào các hầm mỏ hoặc tuyệt diệt họ đi, những bước đầu của công cuộc chinh phục và cướp bóc ở Đông Ấn, việc biến Châu Phi thành vùng đất cấm thương
Trang 24mại dành riêng cho việc săn bắt người da đen, đấy là những biện pháp tích lũy nguyên
thủy có tính chất tình ca, báo hiệu buổi bình minh của thời đại tư bản chủ nghĩa.” [dẫn theo 3, tr.14] quá trình bóc lột thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương tây để tạo nên nguồn lợi nhuận cho tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản đã thấm đầy bùn máu và nhơ như Mác đã chỉ ra Nếu không có quá trình bóc lột ấy thì sẽ không có sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản ở các giai đoạn tiếp theo
Bên cạnh yếu tố kinh tế, như đã nói ở trên, mặt xấu xa của chủ nghĩa thực dân cũng thể hiện ở yếu tố văn hóa-tư tưởng C.Mác đã nhắc tới sự thống trị của tư tưởng
chủng tộc, tư tưởng “khai hóa văn minh” của các nước thực dân phương Tây đối với các dân tộc “mọi rợ” Điều này, theo C.Mác, nó đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng
của các dân tộc và chính là ngòi nổ làm bùng lên các cuộc khởi nghĩa, các cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa mà cuộc khởi nghĩa Cipayes ở Ấn Độ (1857-1859) là một điển hình Đó là cuộc khởi nghĩa mà một người Anh đã phải nói
rằng “Tôi cho rằng chúng ta đã mắc sai lầm lớn khi chúng ta thực hiện thương mại vào
Ấn Độ, nó trở thành một điều xấu hổ của cộng đồng Thiên Chúa giáo chúng ta Hai lĩnh vực tiên phong của văn minh là Kitô giáo và thương mại không bao giờ nên tách
rời ra; và người Anh nên được cảnh báo với những hệ quả của việc bỏ qua nguyên tắc điển hình trong việc quản lý các vấn đề của Ấn Độ ” [dẫn theo 30, tr.84] Đây chính
là mặt trái của chủ nghĩa thực dân, là vết thương của các dân tộc thuộc địa mà phải có
thời gian mới xóa bỏ đi được Sau này, ách áp bức dân tộc biến tướng thành chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Điển hình nhất là chủ nghĩa Apacthai ở Nam Phi Chủ nghĩa Apacthai cũng xuất phát từ tư tưởng của chủ nghĩa thực dân Mặc dù nó đã bị xóa bỏ
từ những năm 1993-1994, nhưng những dấu vết ở Nam Phi và trên thực tế ở một số nơi vẫn còn tồn tại sâu sắc, nghiệt ngã
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân, bên cạnh chỉ ra những tiêu cực, những
mặt phá hoại của nó là chủ yếu, các nhà nghiên cứu, trên một khía cạnh nào đó, còn nhìn thấy có những yếu tố xây dựng các nhà xã hội học hay sử gia phương Tây thường gọi đó là “khai hóa văn minh” Mác là người sớm nhận thấy tính hai mặt của
chủ nghĩa thực dân Trong khi đề cập đến mặt phá hoại thì C.Mác cũng đề cập đến
việc “thực hiện sứ mệnh xây dựng”, nhưng đó là kết quả của một quá trình nằm ngoài
Trang 25ý muốn của chủ nghĩa thực dân Điều này được C.Mác phân tích khi nói về sự thống
trị của Anh ở Ấn Độ “Theo C.Mác, sự thống trị này một mặt là phá hoại xã hội truyền
thống Châu Á, mặt khác lại đặt cơ sở vật chất cho xã hội phương Tây ở châu Á “chính điều này đã quyết định xu hướng phát triển của lịch sử châu Á cận đại” [dẫn theo 3, tr.15] Từ khía cạnh này, người ta thấy đây chính là khuynh hướng để xã hội châu Á
hội nhập vào xã hội hiện đại Năm 1858, C.Mác lại nhắc rằng: “sự thống trị của Anh
đã phá vỡ công xã lạc hậu ở Ấn Độ, điều đó đã thể hiện một cuộc cách mạng hết sức
tiến bộ” [dẫn theo 3, tr.15] Như vậy, khía cạnh thứ hai của chủ nghĩa thực dân đã được C.Mác chứng minh Nó đã tạo ra một sự tiến bộ trên lĩnh vực kinh tế sự tác động
đó được coi như một công cụ vô ý thức của lịch sử, tạo ra một bước tiến bộ cho xã hội
Ấn Độ Dẫu sao thì mặt phá hoại vẫn là điểm chủ yếu, có ý thức trong sự thống trị thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
V.I Lênin là người kế tục xuất sắc sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen trong
cuộc đấu tranh giải phóng nhân loại trong lĩnh vực nghiên cứu về thuộc địa và chủ nghĩa thực dân, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định và phát triển luận điểm của Mác, và người cũng rất công bằng khi nói về chủ nghĩa thực dân: “điều quan trọng là chủnghĩa
tư bản không thể tồn tại và phát triển được nếu không thường xuyên mở rộng phạm vi
thống trị của nó, không khai phá những xứ sở mới và không lôi cuốn các xứ sở không
phải tư bản chủ nghĩa vào cơn lốc kinh tế thế giới” [dẫn theo 3, tr.16]
Hồ Chí Minh-vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam cũng đã tiếp nhận và vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong những năm 20 của thế kỷ XX đã có
những luận điểm phát triển về vấn đề thuộc địa Người đã phân tích vị trí của hệ thống thuộc địa với sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, đế quốc Người chỉ rõ, cách mạng ở các nước thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc và Người cũng
nhận định rằng, “cách mạng ở các nước thuộc địa có thể nổ ra và thắng lợi trước cánh
mạng vô sản chính quốc và tác động trở lại thúc đẩy cách mạng chính quốc” [dẫn theo
Trang 26các nước thuộc địa phải hội nhập vào nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, ở đây vẫn xin
nhấn mạnh: mặt phá hoại là chủ yếu, vết thương mà chủ nghĩa thực dân để lại cho các dân tộc bị thống trị là vô cùng to lớn
1.1.4 Hình th ức biểu hiện của chủ nghĩa thực dân
Khi nhắc đến hình thức biểu hiện của chủ nghĩa thực dân người ta thường nhắc đến: Chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới Xét về bản chất, nó không có
gì khác nhau, vẫn với mục đích chung là cai trị về mặt chính trị, bóc lột về kinh tế và
áp đặt văn hóa Nhưng do những thay đổi của tình hình thế giới cũng như tại các thuộc địa mà cách thức tiến hành nhằm đạt được các mục tiêu đó có phần khác nhau Đâu cũng là để thực dân có thể tiếp tục tồn tại và bóc lột thuộc địa
Giai đoạn chủ nghĩa thực dân cũ thường được cho là vào khoảng thời gian trước chiến tranh thế giới thứ hai gắn liền với các tên tuổi của các đế quốc như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp…Ở giai đoạn này, khi các nước đế quốc đang trong giai đoạn đầu tranh giành và xác lập thuộc địa với nhau Những của cải, hương
liệu, nguyên liệu thô cho các ngành công nghiệp tại các thuộc địa mới chiếm được làm cho các nước đi xâm chiếm khao khát và đều muốn chiếm ngay lấy Do đó, trong giai đoạn này, cách thức xâm chiếm của các nước thực dân đều rất sơ khai, thủ công, mang đậm chất riêng của từng nước đế quốc Mục tiêu của việc xâm chiếm thuộc địa lúc bấy
giờ là làm thế nào tăng quyền lực chính trị của mình và khai thác các nguồn tài nguyên
của thuộc địa Hầu hết các dân tộc bản địa đều bị áp bức, bóc lột trên tất cả lĩnh vực
thậm chí bị giết hoặc bị trục xuất khỏi đất đai của mình để nhường chỗ cho các khu định cư mới của chính quốc Đồng thời, họ bị buộc phải từ bỏ văn hóa truyền thống
của họ và đồng hóa với nền văn hóa của thực dân Chiến lược này còn được gọi là thực dân văn hóa, được cho là để thao túng tâm trí các dân tộc thuộc địa Các cường quốc
thực dân tin rằng một quốc gia thuộc địa nếu được biết và ngưỡng mộ văn hóa phương Tây thì sẽ không còn chống lại sự chiếm đóng của họ nữa Thế nhưng người dân bản địa dù muốn được coi là thành viên của thứ “văn hóa cao” này cũng không bao giờ có
một cơ hội vì nguồn gốc dân tộc của họ Họ được coi là thấp kém hơn Cường quốc
thực dân luôn luôn lập luận rằng các nước thế giới thứ ba là thấp kém và cần sự giúp
đỡ và hỗ trợ phương Tây để đạt được toàn vẹn đạo đức và sự giàu có về kinh tế Người
Trang 27dân bản địa bị coi là thiếu văn minh “man rợ”, phải bị chinh phục và được “thuần hóa” Chính vì sự áp đặt này mà ở thuộc địa nào cũng xuất hiện những cuộc khởi nghĩa hay phong trào chống lại sự thống trị của thực dân Đặc biệt, từ sau chiến tranh thế
giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới bùng nổ, phát triển và giành
thắng lợi to lớn Trước những đòn đả kích mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc,
hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ đã sụp đổ từng mảng lớn Vào những năm 60 của thế kỷ XX, chủ nghĩa thực dân cũ về cơ bản bị thanh toán Chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ, nhưng chủ nghĩa thực dân chưa chết các nước thực dân Âu – Mĩ không
dễ gì từ bỏ những vùng đất giàu có, đông dân vốn là nơi bóc lột dễ dàng để làm giàu cho chính quốc Trước sự biến đổi của tình hình thế giới, trước dư luận lên án của loài người tiến bộ (đặc biệt cuộc đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa trên các diễn đàn
quốc tế cũng như việc Liên hiệp quốc thông qua hai bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn về
việc thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân và trao trả độc lập cho các quốc gia và dân
tộc thuộc địa (1960); Tuyên ngôn về việc thủ tiêu tất cả các hình thức của chế độ phân
biệt chủng tộc (1963), trước cuộc đấu tranh kiên cường, dũng cảm của các dân tộc thuộc địa, các nước thực dân vừa phải trao trả độc lập cho các dân tộc bị nô dịch, nhưng đồng thời cũng tìm cách thích nghi với hoàn cảnh quốc tế mới, đưa ra những hình thức thống trị mới để cầm giữ các nước Á, Phi và Mĩ Latinh trong vòng tay của chúng Thay cho chủ nghĩa thực dân cũ, các nước đế quốc đưa ra một thứ chủ nghĩa
thực dân khác: chủ nghĩa thực dân mới (hay còn gọi là chủ nghĩa thực dân trá hình,
chủ nghĩa thực dân linh hoạt)
Thực ra không phải đến những năm 60 của thế kỷ XX, chủ nghĩa thực dân trá hình mới xuất hiện, mà nó đã ra đời cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX với sự xuất hiện
của chủ nghĩa thực dân Mĩ Trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, vấn
đề phân chia thuộc địa giữa các cường quốc đế quốc đã kết thúc Phần lớn các thuộc địa rơi vào tay các đế quốc già như : Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…, còn các
đế quốc trẻ như Mĩ, Đức, Nhật bị thua thiệt vì bước vào “bàn tiệc” muộn lúc này, giữa các nước đế quốc tiến hành đấu tranh để chia lại thuộc địa Có một số nước (như Đức,
Nhật) dùng vũ lực mưu toan đánh bại các đối thủ cạnh tranh để chia lại thuộc địa mà
cụ thể là các cuộc chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), Anh-Bôơ (1899-1902)… nhưng
Trang 28có nước như Mĩ lại nghiêng về dùng những hình thức thực dân linh hoạt hơn, dùng sức
mạnh về kinh tế và tài chính để ràng buộc những nước vừa giành được độc lập về chính trị Mĩ là đế quốc đi tiên phong trong việc nô dịch các nước Mĩ Latinh bằng hình
thức mới sau khi những nước này thoát khỏi ách thống trị của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha với mưu đồ nhằm biến khu vực Mĩ Latinh trở thành “sân sau” của nước Mĩ thông qua học thuyết Monroe
Chủ nghĩa thực dân mới ra đời không phải là biểu hiện sức mạnh của chủ nghĩa
đế quốc mà là biểu hiện thế yếu thế thua của chúng trước phong trào giải phóng dân
tộc nổ ra như vũ bão đồng thời nó cũng nói lên tính linh hoạt của chủ nghĩa thực dân trước những biến đổi của tình hình Sự ra đời của chủ nghĩa thực dân mới không chỉ là
phản ứng của chủ nghĩa đế quốc – thực dân trước những đòn đả kích của phong trào
giải phóng dân tộc ngày càng mạnh mẽ, mà còn là sự tranh chấp với chủ nghĩa xã hội
ở khu vực trung gian (các nước mới giải phóng), nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội ngày càng lan rộng ra khu vực Á, Phi và Mĩ Latinh vào những năm 60, 70
của thế kỷ XX
Xét về bản chất, chủ nghĩa thực dân mới không có gì khác so với chủ nghĩa thực dân cũ, nghĩa là nó vẫn nhằm mục đích ách áp bức, bóc lột các dân tộc chậm phát triển… nếu như về bản chất của chủ nghĩa thực dân mới không có gì khác trước đây thì về mục tiêu chiến lược, về hình thức biểu hiện, chủ nghĩa thực dân mới lại có
những điểm khác Còn về mục tiêu chiến lược, chủ nghĩa thực dân mới đưa ra hai điểm chủ yếu: 1) Duy trì sự bóc lột nguồn lực ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, chậm phát triển (về tài nguyên thiên nhiên, nhân lực rẻ mạt), biến các nước này thành nơi đầu tư và tiêu thụ hàng hóa cho các công ti tư bản và lôgic tiếp theo là các nước này hòa nhập vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa; 2) Ngăn chặn các nước mới giải phóng tiến vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội
Hai mục tiêu chiến lược này thể hiện hai mặt chính trị và kinh tế của chủ nghĩa
đế quốc và có liên quan mật thiết với nhau: đạt được mục tiêu này tất yếu sẽ đạt được
mục tiêu kia Thực hiện chủ nghĩa thực dân mới nhằm duy trì sự bóc lột kinh tế là mục tiêu cấp bách, sống còn của chủ nghĩa đế quốc Bởi vì thuộc địa hay các nước mới giải phóng vừa là nơi các nước tư bản trút gánh nặng của những cuộc khủng hoảng hay suy
Trang 29thoái kinh tế ở chính quốc, vừa là nơi cung cấp nguồn lực cho các nước tư bản phát triển Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện thì có tới “90% nguyên liệu Nhật Bản
sử dụng từ các nước đang phát triển cung cấp Tỉ lệ ấy đối với các nước Tây Âu là 75%” [20, tr.27] Trong cuốn “cuộc chiến tranh thật sự”, cựu tổng thống Mĩ R Nixơn cũng phải thừa nhận rằng: “ngay cả Hoa Kỳ là nước có tài nguyên phong phú cũng tùy thuộc rất nhiều vào việc nhập khẩu nhiều thứ quặng không thể thiếu đối với một nền kinh tế hiện đại” [dẫn theo 3, tr.19]
So với thời kỳ chủ nghĩa thực dân cũ còn tồn tại, sự bóc lột kinh tế các thuộc địa
và các nước đang phát triển của chủ nghĩa thực dân mới có hiệu quả hơn, tinh vi hơn,
xảo quyệt hơn Mục tiêu chiến lược ngăn chặn các nước mới giải phóng tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa đế quốc là mục tiêu rất quan trọng; ở nhiều
thời điểm có ý nghĩa quyết định thì mục tiêu này được đạt lên hàng đầu, mục tiêu kinh
tế tạm thời được xếp xuống hàng thứ yếu Trước mắt chủ nghĩa đế quốc đổ nhiều tiền
của, vũ khí,…vào thuộc địa hay các nước mới giải phóng cốt giữ cho được nước đó trong quỹ đạo của chúng, ngăn chặn nguy cơ cộng sản xâm nhập vào đây Trường hợp
miền Nam Việt Nam sau đó là cả Đông Dương là một ví dụ
Về hình thức biểu hiện, chủ nghĩa thực dân cũ đem quân xâm chiếm, xóa bỏ nền độc lập của các nước thuộc địa, đặt bộ máy cai trị trực tiếp với những phó vương hay toàn quyền và một hội đồng giúp việc trực tiếp, cùng hệ thống quan lại cấp dưới, với đội quân viễn chinh khổng lồ được trang bị đầy đủ Chúng dùng giai cấp phong kiến
thống trị cũ làm tay sai bù nhìn để đàn áp, bóc lột nhân dân Chính sách của thực dân
cũ như vậy rất “thô thiển”, tàn khốc Do đó chủ nghĩa thực dân mới lại chuyển từ sự chiếm đóng cai trị trực tiếp sang sử dụng những biện pháp tinh vi, xảo quyệt hơn nhằm
chống lại phong trào giải phóng dân tộc thế giới như xây dựng bộ máy tay sai người
bản xứ, thông qua nó để thống trị nhân dân Bộ máy tay sai của chúng – ngụy quân và
ngụy quyền – đều đặt dưới sự điều khiển của đội ngũ cố vấn có đầy kinh nghiệm thống
trị Chúng còn dùng viện trợ kinh tế, quân sự để các thuộc địa kiểu mới này hoàn toàn
phụ thuộc vào chúng với danh nghĩa độc lập Mặc dù sử dụng đội ngũ tay sai để thống
trị nhân dân, đứng đằng sau giật dây, điều khiển đội ngũ này để phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của mình nhưng chủ nghĩa thực dân mới không phải vì thế mà giấu
Trang 30được bộ mặt tàn ác của nó Ở nhiều nơi, nhiều lúc chúng sử dụng cả “chiến tranh đặc
biệt” và “chiến tranh cục bộ” để chống lại những cuộc nổi dậy của nhân dân; lúc đó, tính tàn ác của nó còn hơn cả chủ nghĩa thực dân cũ Trường hợp chủ nghĩa thực dân
mới của Mĩ tại miền Nam Việt Nam là một ví dụ điển hình
Chủ nghĩa thực dân nói chung sử dụng nhiều phương tiện, công cụ để thâm nhập vào các nước Á, Phi, Mĩ Latinh như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và tư tưởng
Việc sử dụng những loại công cụ khác nhau cũng làm cho chủ nghĩa thực dân mới và
chủ nghĩa thực dân cũ cũng có nhiều điểm khác nhau Nếu ở chủ nghĩa thực dân cũ công cụ chính trị và quân sự giữ vai trò chủ đạo thì ở chủ nghĩa thực dân mới, vai trò
đó thuộc về các công cụ kinh tế, tài chính và kỹ thuật chủ nghĩa thực dân cũ thường dùng công cụ chính trị làm chỗ dựa để bóc lột kinh tế còn chủ nghĩa thực dân mới lại dùng công cụ kinh tế để bóc lột kinh tế và giữ nước đó phụ thuộc về chính trị Sự viện
trợ về kinh tế, tài chính hay kỹ thuật của các nước tư bản phát triển cho các nước Á, Phi và Mĩ Latinh xuất phát trước hết từ lợi ích của các nước viện trợ, ràng buộc các nước nhận viện trợ vào phạm vi ảnh hưởng kinh tế và chính trị của các nước cung cấp
viện trợ Nói như vậy không có nghĩa rằng phủ nhận tất cả ý nghĩa tích cực của viện
trợ, nếu như viện trợ đó không kèm theo những điều kiện ràng buộc về chính trị và kinh tế không bình đẳng
1.2 Quá trình xâm lược Ấn Độ và Việt Nam của Anh và Pháp
1.2.1 Quá trình th ực dân Anh xâm lược Ấn Độ
1.2.1.1 Tình hình của Ấn Độ trước khi thực dân Anh xâm lược
Xét về phương diện địa lý, Ấn Độ có một tình trạng thống nhất: trên bản đồ, bán đảo Ấn Độ là một khối thống nhất, chắc nịch [xem hình 1.1] Nhưng về phương
diện chính trị thì lại khác hẳn: “bán đảo Ấn Độ chỉ biết được sự thống nhất chính trị trong một giai đoạn duy nhất, đi từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, dưới thời các hoàng
đế Mông Cổ (Great Moguls), mà thời đại vàng son là triều của hoàng đế Aurang-Zeb (1658-1707) Nhưng ngay sau cái chết của Aurang-Zeb, các sự phân chia lại hiện ra” [1, tr.14] Tuy trước khi bị người Anh xâm chiếm, tiểu lục địa Ấn Độ đang nằm dưới
sự thống trị của triều Moghul nhưng về thực chất nó bao gồm rất nhiều tiểu vương độc
lập lớn, nhỏ khác nhau Các tiểu vương này có người cai trị, nền kinh tế, ngôn ngữ và
Trang 31văn hóa riêng, họ thường xuyên có chiến tranh với nhau Người cai trị họ chính là các phó vương và họ “chỉ tuân thủ mệnh lệnh của hoàng đế khi thấy xét chúng mang phù
hợp với quyền lợi riêng Nói cách khác, họ thực sự được tự do cai trị lãnh địa của mình, không khác gì các vương công lãnh chúa của đế chế La Mã thần thánh” [6, tr.59]
“Dòng Moghul là những tín đồ Hồi giáo theo giáo phái Sunni, khác với người láng giềng ở phía Tây của họ là nước Ba Tư theo giáo phái Shiite Nói chung họ khoan dung và thậm chí còn phụ thuộc vào đa số Ấn Độ giáo, nhưng đã tạo ra cho miền Bắc
Ấn Độ một khuôn mẫu Hồi giáo làm cho nó khác hẳn với miền Nam Triều đại Mogul
tất nhiên chiếm giữ đất đai với tư cách là một kẻ chiếm đóng chuyên chế và không tranh thủ được sự trung thành Sự thống trị của họ luôn luôn bị thách thức bởi những
quốc gia địa phương của người Hin đu, và luôn luôn xảy ra những cuộc lật đổ vì bạo
loạn và âm mưu cung đình Anh em giết lẫn nhau; con giết cha; cha giết con” [4, tr.162] Triều đại của Babar (1453-1530), một hậu duệ của bạo chúa Timur (Tamerlane), một kẻ chuyên lùa những đàn người như đàn gia súc, chất sọ người thành
những đống cao Akbar (1556-1605), cháu của Babar, và chắt của ông ta, Jahanggir (1605-27), là những ông vua đang ở trên ngôi khi người Anh lần đầu tiên đặt chân đến
Ấn Độ Như vậy, sự suy yếu của đế chế Moghul và chia rẽ của các quốc gia trong khu
dân Anh xâm chiếm Ấn Độ
Đặc điểm thứ hai, kinh tế Ấn Độ phát triển kém so với tiềm năng của nó Thiên
phú cho Ấn Độ có những vùng lãnh thổ phì nhiêu rộng lớn, Đặc biệt là những lưu vực
của những con sông lớn ở các đồng bằng phía bắc – các sông Indus, Ganges, Brahmaputa Một học giả người Ấn Độ đã mô tả nước này là một nước có dồi dào đất đai và cho rằng trong thế kỷ 17, Ấn Độ vẫn chỉ khoanh sản xuất nông nghiệp vào
những khu vực phì nhiêu nhất; và lợi dụng việc có nhiều cỏ và chất thải để chăn nuôi
những đàn gia súc lớn thế nhưng Ấn Độ lại hưởng lợi từ đàn gia súc của mình ít hơn nhiều so với tiềm năng thực chất của nó, thậm chí có thể nói là không được hưởng gì,
vì những cấm kỵ tôn giáo Dưới sự cai trị của đế chế Moghul, thái ấp quân sự là hình
thức chiếm hữu phong kiến cơ bản và công xã nông thôn chính là những đơn vị sản
Trang 32xuất và đóng thuế chính, nó bắt đầu lộ ra những mầm mống của sự tan rã Dưới sự
thống trị của triều đại Moghul, những phái viên của nhà vua được điều động từ nơi này sang nơi khác “Biện pháp này hạn chế quyền lực địa phương, nhưng cũng phá hủy sự
gắn bó của người quan chức với lãnh thổ của mình Do đó, mục đích của người đó trở thành là: cố sức làm ra và lấy đi càng nhiều càng tốt, càng nhanh càng tốt, chỉ chi tiêu chút ít về vốn xã hội mà thôi” [4, tr.163] Chỉ có lấy chứ không cho Họ cũng không quan tâm và trễ nải về thủy lợi, kết quả tai hại là các trận đói thường xuyên diễn ra ở
Ấn Độ “Cũng vì những lý do tương tự, nông dân không thấy có lý do gì để cải tiến
chất đất, kẻ thống trị muốn đất như thế nào thì họ cứ thây kệ như thế Như Francois Bernier, một thầy thuốc người Pháp đã sống đến mười hai năm ở Ấn Độ hồi thế kỷ XVII, đã viết, tại nước này, không có khái niệm về cái của tao và cái của mày (mien et tien), tức là không có quyền và ý thức về sở hữu tài sản Không một ai, như lời ông ta
viết, dám phô của cải của mình ra, vì sợ bị tống tiền hay bị tịch thu Không một ai thèm quan tâm đến việc cải tiến phương pháp hay công cụ sản xuất Do đó mà, như lời
của Bernier, có sự tương phản kinh khủng giữa một thiểu số kẻ giàu sang và số đông
bị bần cùng hóa; tình trạng hư nát của nhà cửa, sự tủi nhục của số đông quần chúng, sự thiếu vắng những tác nhân kích thích người ta học hành và tự hoàn thiện mình” [4, tr.163] Cũng do đó mà có sự hạn chế nghiêm khắc đối với tín dụng và đối với
những khả năng về thương nghiệp mà chỉ có tín dụng mới có thể phát huy Đến đầu
thế kỷ XVII, công thương nghiệp có chiều hướng tiến bộ với những trung tâm công nghiệp nhưng nhìn chung vẫn èo uột, thấp xa dưới mức tiềm năng của nó
Một vấn đề khá quan trọng trong đời sống xã hội Ấn Độ đó chính là tình trạng
nhất là giống người Dravidian, tới bán đảo khoảng thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên…khối dân đông nhất thuộc chủng tộc Arya, đã từ các thảo nguyên của Trung
Á tràn xuống vào giữa thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên” [1, tr.15] Họ được phân chia thành bốn đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ lại tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau,
mà trong đó mạnh nhất là Hinđu giáo và Hồi giáo Với những vấn đề phức tạp như vậy
của xã hội Ấn, những tá điền và tiện dân, những người cùng khổ thì mọi sự đụng chạm đều bị coi là ô uế, họ ở tận đáy của các bậc thang đẳng cấp xã hội “Họ đành nhờ cậy
Trang 33vào tính kiên nhẫn, sự ương ngạch và lì lợm của mình, như những phương tiện của
một nhân dân bị áp bức Họ cũng bỏ trốn những kẻ ngược đãi, điều đã thường xảy ra nhiều hơn là người ta tưởng trong một xã hội mà các làng đều là những công xã và
mọi hy vọng cải thiện cuộc sống đều không lấy gì làm chắc chắn Ở châu Âu trung cổ,
sự bỏ đi hay đe dọa bỏ đi ngăn chặn được sự ngược đãi, đặc biệt ở các khu vực đô thị hóa hay khu vực biên giới Bỏ đi là có lợi Ở Ấn Độ chạy trốn có khả năng chỉ là đổi
một sự bất hạnh này để mang lấy một nỗi bất hạnh khác Tuy vậy mặc dầu, nó cũng khuyến khích người ta nhẹ tay, bởi vì không có con dã thú nào lại muốn mất miếng
mồi ngon của nó” [4, tr.164]
1.2.1.2 Quá trình xâm lược của thực dân Anh
“Năm 1592, nước Anh đang có chiến tranh với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Khoảng 4 năm trước đó, người Anh đã đẩy lùi và tiêu diệt một cuộc xâm lược
bằng đường biển của Tây Ban Nha Ngay trong khi một liên Đội tàu chiến của hải quân Anh đang trực sẵn ở ngoài khơi quân đảo Azores để chặn và bắt những tàu của Tây Ban Nha trên đường từ thế giới mới trở về, và có lẽ là được chất đầy kho báu của Mêhicô hay Pêru, thì một chiếc tàu buôn lớn có vũ trang của Bồ Đào Nha xuất hiện
Đó là chiếc Madre de Deus (Mẹ của Đức chúa trời) từ Đông Ấn trở về hướng tới Lisbon Chiếc tàu lớn hơn bất cứ chiếc tàu nào mà người Anh đã được thấy: dài 165 fít, 47 fít ngang, trọng tải 1600 tấn, gấp 3 lần chiếc tàu lớn nhất ở Anh; 7 boong tàu, 32
khẩu đại bác, cộng thêm những vũ khí khác, phần trên của chiếc tàu lấp lánh mạ vàng,
và hầm chở hàng của tàu thì chất đầy của cải quý giá, đây là chất liệu của những giấc
mơ – những hòm trên tàu căng phồng châu báu, tiền vàng và tiền bạc, hổ phách còn xưa hơn cả tuổi tác của nước Anh, những kiện vải vóc vào loại đẹp nhất, những tấm
thảm xứng đáng được trang hoàng một cung điện, 425 tấn hồ tiêu, 45 tấn đinh hương,
35 tấn quế, 3 tấn vỏ đậu khâu, 3 tấn bột nhục đậu khấu, 2,5 tấn nhựa cây bồ đề (1 thứ
nhựa cây rất thơm dùng để sản xuất nước hoa và dược liệu), 25 tấn phẩm yên chi (một
chất thuốc nhuộm được chế bằng thân phơi khô của một giống côn trùng tìm thấy ở
những vùng khí hậu nhiệt đới), 15 tấn gỗ mun” [4, tr.156-157] “số hàng chở trên tàu này có giá trị khoảng nửa triệu bảng – gần bằng 1 nửa số tiền trong ngân khố Hoàng gia” [4, tr.157] và phải cần tới 10 tàu chở hàng để chở vòng quanh bờ biển và ngược
Trang 34dòng sông Thames lên tới Luân Đôn Đây có thể là vụ vớ bở lớn nhất trong lịch sử, nó
đã trở thành một cốc rượu khai vị mạnh vô cùng “Cái mùi thoang thoảng ấy của sự giàu có, cái vị được nếm trước của những của cái phương Đông đã dấy lên sự quan tâm của người Anh đến những vùng đất xa xôi đó và đưa nước này vào một tiến trình
mới” [4, tr.157]
“Người Anh đặt chân đến Ấn Độ Dương, cũng như người Hà Lan, vào cuối thế
kỷ 16 Họ đến như những kẻ đột nhập và ăn cướp, giỏi đánh nhau hơn là buôn bán
Chỉ mãi về sau, và lúc đó một cách thận trọng, họ mới chuyển sang nghề buôn” [4, tr.158] Khi người Anh và người Hà Lan xung đột nhau, vào những thời gian đầu
đó, người Anh đôi khi cũng có thắng nhưng họ không đủ sức để tỏ ra mình là một thách thức thật sự đối với người Hà Lan; thế là họ tìm những cơ hội buôn bán để thay
thế, và họ quay lên hướng bắc tới Ấn Độ Cũng như người Hà Lan, người Anh cho
rằng tốt hơn là nên cách xa người Bồ Đào Nha Thoạt tiên họ lập nghiệp trên bờ biển Khoromandel ở phía đông cách Malaba rất xa ở phía tây Ấn Độ, họ nhảy qua đầu người Bồ Đào Nha ở Goa để giành được những đặc quyền thương mại ở Xurat, hải
cảng chính của đế chế Moghul, của ngõ để đi tới những kho của cải trong nội địa Ấn
Độ và để buôn bán với Ba Tư và Ả Rập Tiếp sau đó (1661) họ được phép đứng chân
ở Bombay, lúc bấy giờ là một hòn đảo hầu như không có người ở Như thế là tương đối an toàn đối với sự tiến công từ phía đất liền (so sánh với Goa) và người Anh đã phát triển Bombay thành một cơ sở của nhà máy chế tạo và là trung tâm thương mại
chủ yếu trên bờ biển phía tây
Ở bên kia của bán đảo, sau khi đã đứng vững ở Madras, người Anh tiến lên phía
bắc vào vịnh Bengal và thung lũng sông Hugli Tại đấy, bắt đầu từ năm 1690 họ xây
dựng thành phố của riêng mình trên lãnh thổ của một làng nhỏ gọi là Calcutta Điều then chốt là việc năm 1698 họ mua một thứ đặc quyền “phong kiến” (những quyền thu thuế gọi là Zamindiri) những quyền này lúc ban đầu bị các chính quyền địa phương, vì không thích sự xâm nhập của người Châu Âu, khinh miệt không thèm chấp hành, nhưng sau đó càng ngày càng được tôn trọng cùng với việc các thương nhân và quan
chức Ấn Độ trở nên lệ thuộc vào sự buôn bán, giúp đỡ và thiện chí của người Anh Bắt đầu bằng các thương gia và những quan đại thần của đại hoàng đế Moghul Tiếp đến là
Trang 35những đại diện ở địa phương và những chư hầu, những kẻ tìm đến người Anh để có
tặng phẩm “hối lộ” và tiền thù lao, xuất khẩu hàng hóa của mình bằng tàu của người Anh và có một số trường hợp thậm chí còn đầu tư với họ
“Tuy nhiên tất cả mọi doanh nhân đều thích chế độ độc quyền hơn cạnh tranh
Một khi sức mạnh của mình đã tăng lên, họ cũng dùng đến bạo lực: Những sự đe dọa phong tỏa đường biển làm thiệt hại cho thương mại giữa Ấn Độ với các nước khác và
cắt đứt con đường hành hương đến Mecca; Xây dựng các pháo đài và đặt những quận đường trú; bắt các tàu của Ấn Độ và đòi tiền chuộc Năm 1677, Gerald Aungier, chủ tich công ty Đông Ấn0
1 đóng tại Surat và là toàn quyền Bombay, viết cho các giám đốc công ty ở Luân Đôn để kiến nghị một chiến sách “ Nghiêm khắc và chặt chẽ” Lời khuyên này được sự ủng hộ ở Luân Đôn và kết quả là năm 1687, chỉ thị được truyền đạt cho pháo đài Fort St George (ở ngoại thành Magras): Hãy sử dụng quyền lực để
đảm bảo có thu nhập lớn và liên tục, nhằm đạt “cơ sở cho một nền thống trị của Anh
Đây là một chứng chỉ cho phép dính líu sâu vào đời sống chính trị và chính quyền ở
Ấn Độ Sự tan vỡ của đế chế Moghul đã bộc lộ rõ khiến cho những thế lực Ấn Độ
ngấp nghé tranh quyền lực lo tìm kiếm đồng minh trong các công ty nước ngoài Dòng dõi Moghul đã ấp ủ một niềm tin sai lầm rằng những lái buôn như kiểu bọn người Anh
sẽ có thể chỉ có một con đường là phục tùng họ nhưng đây không phải là những thương nhân bình thường Những món tiền thu một cách độc đoán làm cho những kẻ đột nhập nghĩ đến bạo lực
Ở Ấn Độ, người Anh đã nhận ra rằng, châu Á có những nguồn của cải nhiều hơn
và tốt hơn để buôn bán so với các hương liệu Đặc biệt, Ấn Độ sản xuất ra thứ sợi và
London trading into the East Indies” hay “the Honourable East India Company” được thành lập để tiến hành thương mại với Đông Ấn nhưng chủ yếu với các tiểu lục địa Ấn Độ, nhà Thanh Trung Quốc và một số nơi khác
Nữ hoàng Elizabeth năm 1600, đây là công ty lâu đời nhất trong số nhiều công ty Đông Ấn của các nước Châu
Âu khác.Thương gia giàu có và quý tộc sở hữu cổ phiếu của Công ty Chính phủ của quốc gia không có cổ phiếu
và chỉ được kiểm soát gián tiếp Công ty cuối cùng đã thống trị khu vực rộng lớn của Ấn Độ với một đội quân riêng, sử dụng sức mạnh quân sự và nắm được quyền hành chính Sự cai trị của công ty ở Ấn Độ có hiệu quả bắt đầu từ năm 1757 sau trận Plassey và kéo dài cho đến năm 1858, sau cuộc nổi dậy của Ấn Độ vào năm 1857 Công ty bị giải thể vào năm 1874 như là kết quả của Đạo luật “Stock Dividend Redemption” đã thông qua một năm trước đó
Trang 36vải bông tốt nhất thế giới, và người Anh đã nhanh chóng chớp lấy thời cơ Công ty Đông Ấn (EIC) quyết định tung các thứ vải bằng sợi bông ra thị trường và thử đưa vào
tất cả các hải cảng Họ hướng về những khách mua ở khu vực ở Inđônêsia và Đông Nam Á, đổi hương liệu và những hàng hóa địa phương khác để lấy vải Ấn Độ nhưng
sự đổi mới rất quan trọng của EIC là đưa những hàng vải sợi này vào châu Âu Những hàng bông sợi của Ấn Độ làm biến đổi y phục của châu Âu và những chi nhánh của châu Âu trên thế giới Nhẹ hơn và giá rẻ hơn hàng len, dễ làm đẹp hơn (bằng cách nhuộm hay in hoa), lại dễ giặt dễ thay hơn, vải bông là sản phẩm dành cho một thế
giới mới Ngay cả ở những khu vực khí hậu lạnh, vải bông thích hợp để dùng làm đồ
mặc lót cũng làm thay đổi những tiêu chuẩn về sự sạch sẽ, tiện nghi và sức khỏe Trong các đồn điền ở châu Mỹ, nó hoàn toàn đáp ứng yêu cầu
Ấn Độ còn dẫn đến Trung Quốc Khi người châu Âu vào Ấn Độ Dương, họ thấy
cả một mạng lưới thương mại phồn vinh nối liền Châu Á từ đông sang tây, từ Trung
Quốc, Nhật Bản và Philippin đến những trạm dừng chân của các đoàn thương nhân vượt qua sa mạc và những hải cảng của miền Địa Trung Hải và Đông Phi Ở thế kỷ 18,
sự thèm khát của châu Âu đối với những hàng hóa của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng: đồ sứ, mà châu Âu mãi đến năm 1720 mới học được cách làm ra; lụa thô; và chè, một chất gây nghiện bổ sung cho đường của Tây Ấn Việc mua hàng này đặt ra
vấn đề thanh toán Người châu Âu rất muốn trả bằng những hàng do mình làm ra, nhưng người Trung Quốc hầu như không muốn một thứ sản phẩm nào của châu Âu
Vậy là người châu Âu đã trả bằng vàng bạc nén và bằng tiền đồng đúc bằng kim loại, nhưng làm như vậy chỉ là thay đổi chỗ xảy ra vấn đề: người châu Âu có thể bán gì để mua bạc của người Tây Ban Nha, vàng của Nhật Bản hay Braxin Câu trả lời đương nhiên là phải tìm ra một thứ gì đó mà người Trung Quốc muốn Thứ đó hóa ra là thuốc phiện, được trồng ở Bengal, vừa tạo ra thị trường, vừa gây nên thói quen
Chính những lợi ích về mặt kinh tế lâu dài của Anh tại một nơi mà sự xung đột
và nạn bạo lực xảy ra một cách thường xuyên đã thúc đẩy công ty phải lo đến sự tự vệ
bằng cách huy động quyền lực quân sự, và quyền lực lại khuyến khích sự can thiệp vào những cuộc tranh chấp địa phương Năm 1689, khi các hoạt động của công ty ở
Ấn Độ đã được tổ chức lại qua ba nhiệm kỳ chủ tịch, các giám đốc công ty ở Luân Đôn đã thông qua một quyết nghị xác định lại nhiệm vụ của công ty:
Trang 37“Sự tăng thu nhập là nội dung lo toan của chúng ta, cũng ngang như chúng ta lo toan đến sự buôn bán của chúng ta; điều đó có nghĩa là chúng ta phải duy trì sức mạnh
của mình khi hai mươi sự cố có thể làm gián đoạn sự buôn bán của chúng ta; điều đó cũng có nghĩa là chúng ta phải trở thành một quốc gia ở Ấn Độ; nếu không như thế thì chúng ta chỉ là một số đông những kẻ xâm nhập, được tập hợp bởi hiến chương của đức vua Anh quốc, chỉ có thể buôn bán ở nơi nào mà không có ai nắm quyền lực trong
tay nghĩ rằng lợi ích của họ là ngăn cản chúng ta”[4, tr.165]
Mục đích rộng lớn hơn này không nhằm vào độc quyền như ở Inđônêsia, công ty Đông Ấn sẵn sàng để cho những kẻ khác xâm nhập thị trường Ấn Độ-có lẽ trừ người Pháp, là những kẻ muốn chọn con đường thách thức người Anh về mặt chính trị Tuy
vậy, quyền lực và đặc quyền của công ty Đông Ấn tạo cho nó một lợi thế quyết định trên một đấu trường trông bề ngoài có vẻ là bình đẳng Các nhân viên của công ty nhanh chóng chớp lấy thời cơ, không những để buôn bán cho riêng phần họ, mà còn đem danh nghĩa và quyền hành thực sự của mình cho những kẻ tôi tớ và những kẻ hợp tác kinh doanh người bản địa mượn.Trong một thế giới của sự kiêu hãnh và tinh thần bài ngoại Hồi giáo, sự khẳng định uy quyền của người Anh như thế đã phá hoại uy tín
và tính hợp pháp của chính quyền của các vị phó vương và dẫn đến chiến tranh giữa ông hoàng xứ Bengal với công ty Thế là: ông hoàng trẻ tuổi Suraj-ud-Dowlah quyết định dạy cho người Anh một bài học vào năm 1756, ông ta chiếm Calcutta mà hầu như không gặp một sự chống cự nào Tiếp đó, ông ta đã phạm cái tội ác to lớn đáng ghi
nhớ vì sự tàn bạo đặc biệt của nó, và đáng ghi nhớ vì cái giá vô cùng to lớn mà sau đó
nó đã phải trả Đó là vụ tàn sát ở cái “Lỗ đen”, tên gọi một căn phòng 18 phít chiều
dọc và 15 phít chiều ngang, với chỉ hai cửa sổ nhỏ có chấn song Trong cái hộp đó, người của ông hoàng đã nhồi nhét 146 tù nhân, vào một đêm tháng sáu ướt át và ngột
ngạt-kể cả thường dân và binh lính, trong đó có một số phụ nữ Tiếng kêu van và phản đối dâng lên, nhưng ông hoàng đã bỏ đi ngủ mà không cho phép một ai được quấy rầy
những tiếng kêu la đuối dần Đến sáng sớm, chỉ còn hai mươi ba người sống sót
Tội ác này đòi hỏi sự trả đũa và những đại diện ở địa phương của công ty John Company đã quá thích thú khi họ được phép ra tay Một hạm đội vừa mới được vũ trang xong đã lập tức giương buồm từ Madras với một phân đội nhỏ gồm lính người
Trang 38Anh và lính đánh thuê người Ấn Độ đặt dưới sự chỉ huy của Robert Clive, một viên
chức dân sự trẻ của công ty, một con người bàn giấy nhưng lại có thiên tài về chiến tranh Vì ngược gió, các con tàu phải mất khoảng hai tháng để vượt vịnh Bengal và đi vào trong sông Hugli River Tại đấy, người Anh đã dễ dàng chiếm lại Calcutta, buộc Ud-Dowlah phải nộp một khoản bồi thường cực lớn và phải khôi phục tất cả mọi đặc quyền của công ty Cuộc chiến tranh ở châu Âu giữa Anh và Pháp đã có tiếng vang dội sang miền Bengal, và ông hoàng ở đây đã ve vãn người Pháp vì những lý do không thể nào chính đáng hơn-đó là báo thù và cơ hội thoát khỏi những cam kết của mình Được tin về những hành động âm mưu này, người Anh dưới sự chỉ huy của Clive, tiến công
và đánh chiếm thương điếm của người Pháp ở Chandernagore, một chỗ đau đang mưng mủ trong cuộc cạnh tranh thương mại Tiếp đó, người Anh quyết định gạt Ud-Dowlah cho rảnh tay Tìm đồng minh trong số những thành viên bất mãn của triều đình Ấn Độ họ phát hiện ra Mir Jafar, chú bên vợ của ông hoàng và là một vị chỉ huy các lực lượng vũ trang của ông ta Có những quan chức và những con buôn địa phương sẵn sàng để được mua đi bán lại, qua hết tay này đến tay khác Sử dụng một thương nhân xảo quyệt người Hinđu có tên là Ormichund làm trung gian, người Anh
đã mua được sự phản bội của Mir Jafar với lời hứa hẹn sẽ phong cho y tước vị hoàng
tử Mir Jafar đến lượt mình lại cam kết sẽ trả giá bằng một tài sản kếch xù nếu được nâng lên tước vị đó
Rốt cuộc là, ngày 23 tháng 6 năm 1757, sự tranh chấp ngã ngũ thành một trận đánh ở Plassey (Placis, Palasi), một ngôi làng cách Calcutta 90 dặm về phía bắc-người Anh và các bạn đồng minh một bên, ông hoàng và các thuộc hạ một bên Người Anh
đã đánh thắng và bằng chiến thắng của mình, họ đã thay đổi lịch sử của Ấn Độ” [4, tr.166]
1.2.1.3 Sự cai trị của Anh ở Ấn Độ trước năm 1858
Với các trận chiến Plassey (1757) và Buxar1
2 (1764) đã khẳng định sự xâm chiếm thành công của Anh ở Ấn Độ Sau đó, một thời kỳ dài người Anh đã cai trị Ấn
2 Là một trận chiến xảy ra giữa quan thái thú cũ Mir Qasim với người Anh Lý do là: Trận Plassey đã giành chiến thắng của Anh ở Bengal Anh đã buộc Mir Jafar, quan thái thú mới của Bengal, không những phải đền đáp cho Anh một khoản tiền rất lớn mà còn cả lãnh thổ của 24 khu vực hành chánh Nhưng Mir Jafar đã không thực hiện
Trang 39Độ nhưng sự cai trị của Anh thông qua công ty Đông Ấn không phải là một nhiệm vụ
dễ dàng Một số thế lực và quốc gia trong khu vực đã phản đối họ và cố gắng chống lại
nỗ lực mở rộng lãnh thổ của Anh do đó họ đã phải tiến hành một số cuộc chiến tranh
để chống lại một số thế lực tại Ấn Độ
Các cuộc chiến tranh tiêu biểu:
Người Anh và Mysore
Mysore đã nổi lên là một nhà nước mạnh dưới sự lãnh đạo tài giỏi của Haider Ali
và con trai Tipu Sultan vào nửa sau của thế kỷ thứ mười tám Bốn cuộc chiến tranh đã
diễn ra giữa Mysore và người Anh Cuối cùng, trận chiến thứ tư xảy ra vào năm 1799
đã kết thúc trong thất bại của Mysore và cái chết của Tipu Sultan Với sự thất bại này
của Mysore, Anh đã chiếm được các cảng lớn như Kanara, Coimbatore và Seringapatam
Người Anh và Maratha
Marathas cũng là một thế lực mạnh khác ở miền tây và miền trung Ấn Độ vào
nửa sau của thế kỷ thứ mười tám Chính cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa những Maratha đã tạo cho người Anh một cơ hội để can thiệp vào vấn đề nội bộ của họ Nhiều cuộc chiến tranh đã diễn ra giữa người Anh và người Marathas chủ yếu vì
những quy định mà người Anh đặt ra trong Subsidiary Alliance Chiến tranh giữa Anh-Maratha lần thứ ba (1817-1819) là cuộc chiến cuối cùng giữa họ Anh đánh bại Peshwa, truất ngôi y và sáp nhập tất cả lãnh thổ của anh ta Peshwa đã bị sa thải và gửi đến Bithur gần Kanpur, bang Uttar Pradesh
Người Anh và người Sikh
Ở phía tây bắc Ấn Độ, người Sikh dưới sự lãnh đạo của Maharaja Ranjit Singh (1792-1839) đã trở thành một lực lượng chính trị và quân sự nổi bật Anh đã coi sự trỗi
dậy của người Sikh ở Ấn Độ là một mối đe dọa tiềm tàng vì thế muốn kiểm soát người Sikh Sau cái chết của Ranjit Singh vào năm 1839, tình trạng hỗn độn đã xảy ra ở Punjab Anh đã tận dụng điều này và cuộc chiến tranh đầ tiên giữa Anh và Sikh đã nổ
cũng không sẵn lòng để đáp ứng nhu cầu của họ và cuối cùng Mir Jafar lại trở thành quan thái thú một lần nữa Mir Qasim sau đó bắt tay với các quan thái thú của Awadh, Shiraj-ud-Daula và hoàng đế Mughal Shah Allam II với âm mưu chống lại người Anh, cuộc chiến đã diễn ra tại Buxar vào ngày 22 tháng 10 năm 1764 Họ đã thất bại và người Anh đã giành chiến thắng quyết định
Trang 40ra vào năm 1845 và kết thúc với sự thất bại của người Sikh Trong cuộc chiến tranh lần
thứ hai vào năm 1849, người Anh đã đánh bại người Sikh ở Gujarat, một thị trấn trên sông Chenab (1849) Thủ lĩnh của họ đã đầu hàng và Punjab đã được sáp nhập vào vùng đất của Anh Maharaja Dalip Singh, con trai của Maharaja Ranjit Singh đã bị
trục xuất và gửi sang Anh
Ấn Độ dưới sự cai trị của công ty Đông Ấn
Như vậy, “cho tới năm 1858, Ấn Độ thuộc Anh được cai trị bởi Đông Ấn công ti (East India Company), vẫn duy trì nhiều quyền hạn chính trị dưới sự kiểm tra của chính phủ London, đại diện bởi quan thống đốc (Governor General) ở Calcutta” [1, tr.32], không kể đến các cơ quan hành chánh của các tiểu quốc trên bán đảo còn được duy trì những ông hoàng trên nguyên tắc độc lập đối với sự cai trị của người Anh [xem hình 1.1] Có thể coi đây là một chế độ quản lí kép (thông qua hội đồng giám sát và
hội đồng công ty Đông Ấn) gián tiếp để cai trị Ấn Độ “Trong tiền bán thế kỷ XIX Ấn
Độ thuộc Anh đã được chia ra làm ba châu quận (presidencies): Madras, Bombay và Bengale Châu Bengale rất rộng gồm có 5 đơn vị: tỉnh Bengale, tỉnh Tây Bắc (Northwest Provinces) và tỉnh Punjab” [1, tr.38] Công cụ cai trị chủ yếu trong thời gian này là quân đội, bộ máy tư pháp và thu thuế Đến những năm 30 của thế kỷ XIX, quyền lực tập trung vào tay những tên trưởng khu nắm quyền hành chính, thu thuế và
tư pháp, có quyền xét xử, kết án và thi hành bản án đối với những người không nộp thuế Nhưng sự diễn biến lịch sử cho thấy vai trò của Đông Ấn công ti đã giảm dần ở
Ấn Độ so với thời gian được thiết lập vào năm 1600 bởi nữ hoàng Elizabeth I và được giao phó nhiệm vụ cai trị bán đảo Một ân chiếu của nữ hoàng ban cho công ti những quyền lực gần như vô hạn, mà nó duy trì cho tới hậu bán thế kỷ XVIII
- Đạo luật India Act năm 1871 thiết lập một hội đồng quản trị (Board of Control)
để kiểm soát công ty Đông Ấn Đây là biện pháp đầu tiên được áp dụng để hạn chế ảnh hưởng của công ti Nhiệm vụ của hội đồng giám đốc là kiểm soát cai trị lãnh thổ
của công ti và điều khiển các sự ngoại giao của Ấn Độ với các cường quốc khác Các viên chức của công ti từ nay trở đi hoàn toàn phụ thuộc Anh hoàng Ân chiếu (charter) cho phép công ti khai thác Ấn Độ chỉ được ban cho công ti trong một thời gian hạn