1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan hệ liên xô – hoa kỳ và nguồn gốc chiến tranh lạnh ở châu âu (1945 1950)

82 568 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 763,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ sự khác nhau về ý thức hệ dẫn đến sự ngờ vực và thiếu tin cậy lẫn nhau của chính phủ hai cường quốc ngay cả khi là đồng minh của nhau.Trong đó Hiệp ước Xô - Đức trong hai nă

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Kiều Thúy Liễu

QUAN HỆ LIÊN XÔ – HOA KỲ

VÀ NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Kiều Thúy Liễu

QUAN HỆ LIÊN XÔ – HOA KỲ

VÀ NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cảm đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của bản thân Tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Phụng Hoàng Các tài liệu được trích dẫn trong Luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Phan Thị Kiều Thúy Liễu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trải qua quá trình học tập và nghiên cứu, đến nay Tôi đã hoàn thành xong Luận văn

Để có thể hoàn thành Luận văn, đó không chỉ là sự nổ lực và cố gắng của riêng bản thân Tôi, mà đó còn là sự giúp đỡ, động viên, hỗ trợ của nhiều cá nhân, tập thể, gia đình và bạn

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Lê Phụng Hoàng đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, giải đáp thắc mắc cũng như chia sẻ cho Tôi nhiều tài liệu quan trọng, hết sức cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

Tôi chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân viên của Phòng Sau Đại Học Trường Đại Học Sư Phạm TP-HCM đã giúp đỡ, tạo điều kiện để Tôi hoàn thành Luận văn

Tôi chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên Tôi rất nhiều về mặt tinh thần, những lúc Tôi khó khăn và nản lòng nhất

Xin chân thành cảm ơn!

Học Viên Phan Thị Kiều Thúy Liễu

Trang 5

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Lịch sử đề tài 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận văn 12

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 13

1.1 So sánh lực lượng quốc tế có sự thay đổi 13

1.2 Sự tan rã của khối đồng minh chống phát xít 17

1.3 Sự ra đời hệ thống xã hội chủ nghĩa 17

1.4 Cách mạng khoa học kĩ thuật bùng nổ 19

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH (1): SỰ TAN RÃ QUAN HỆ ĐỒNG MINH LIÊN XÔ – HOA KỲ (1945 - 1947) 24

2.1 Nguồn gốc Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ Liên Xô- Hoa Kỳ ở châu Âu trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai 24

2.1.1 Quan hệ Liên Xô – Hoa Kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ hai 24

2.1.2 Quan hệ đồng minh Liên Xô – Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ hai ( 1942-1945) 26

2.2 Nguồn gốc Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ Liên Xô – Hoa Kỳ ở Châu Âu (1945-1947) 38

2.2.1 Sự mở rộng quyền lực của Liên Xô ở châu Âu 38

2.2.2 Khởi xướng Chiến lược ngăn chặn của Hoa Kỳ 41

2.2.3 Quan hệ tan vỡ Liên Xô – Hoa Kỳ 1947 45

CHƯƠNG 3: NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH (2): SỰ HÌNH THÀNH HAI HỆ THỐNG ĐỐI ĐẦU XHCN VÀ TBCN (1948-1950) 57

3.1 Tình hình châu Âu những năm 1948-1950 57

3.2 Cầu không vận Berlin và quá trình thành lập hai nhà nước Đức 58

3.2.1 Cầu không vận Berlin 58

Trang 6

3.2.2 Quá trình thành lập hai nhà nước Đức 61

3.3 Nổ lực cân bằng quyền lực của Liên Xô ở Châu Âu 62

3.3.1 Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) 62

3.3.2 Liên Xô phát triển bom nguyên tử 63

3.4 Hoa Kỳ tăng cường tìm kiếm liên minh quân sự 66

3.4.1 Sự thành lập khối quân sự NATO 66

3.4.2.Văn kiện NSC-68 68

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 76

Trang 7

Hội đồng tương trợ kinh tế CWIHP Cold War International History Project

Dự án quốc tế lịch sử Chiến tranh lạnh

Liên hiệp Tây Âu

Hội đồng An ninh quốc gia 68

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới có nhiều biến động và phức tạp Một trật tự thế giới mới được thiết lập thường được gọi là trật tự hai cực Yalta, thế giới bị chi phối, luôn trong tình trạng căng thẳng bởi hai siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ Và mối quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai được phản ánh thông qua cuộc Chiến tranh lạnh

Quan hệ giữa hai siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ không phải bắt đầu rạn nứt sau Chiến tranh thế giới thứ hai mà thực ra từ sau Cách Mạng tháng Mười Nga năm 1917 Một loạt các sự kiện trước Chiến tranh thế giới thứ hai làm cho quan hệ giữa hai siêu cường ngày càng căng thẳng Đó là cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Hoa Kỳ, giữa một bên là Chủ nghĩa xã hội và một bên là Chủ nghĩa tư bản nảy sinh ngay từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm

1917 thành công với sự ra đời của nước Nga Xô viết Mặc dù vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên vẫn đứng vững, tồn tại và ngày càng hùng mạnh Thêm vào đó, các sự kiện trong và sau chiến tranh làm trầm trọng thêm căng thăng giữa hai cường quốc Xuất phát từ

sự khác nhau về ý thức hệ dẫn đến sự ngờ vực và thiếu tin cậy lẫn nhau của chính phủ hai cường quốc ngay cả khi là đồng minh của nhau.Trong đó Hiệp ước Xô - Đức trong hai năm đầu của cuộc chiến đã dẫn đến cuộc xâm lược tiếp theo của phát xít, cảm nhận về sự chậm trễ trong việc mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu Bất đồng trong các Hội nghị tổ chức thời hậu chiến Hậu quả của sự ngờ vực là cả hai đã có những hành động riêng rẽ, chống đối lẫn nhau Liên Xô tạo ra một khối Đông Âu các nước được xem là vệ tinh của Liên Xô Hoa Kỳ tìm liên minh phương Tây bằng hành động hỗ trợ việc xây dựng lại ngành công nghiệp cho Đức với Kế hoạch Marshall và Điểm 4 Chiến tranh lạnh là kết quả tất yếu của các cuộc chiến tranh giành và mở rộng phạm vi thế lực giữa Liên Xô và Hoa Kỳ, mà thường được gọi

là hai cực trong trật tự thế giới hai cực được xác định từ Hội nghị Yalta

Học thuyết Truman được xem là xuất phát điểm cho cuộc Chiến tranh lạnh giữa Hoa

Kỳ và Liên Xô Chứng tỏ mâu thuẩn giữa Liên Xô và Hoa Kỳ là không thể điều hòa và Chiến tranh lạnh xảy ra là tất yếu

Đối với nhiều người trên thế giới, Chiến tranh lạnh chi phối mọi khía cạnh của quan

hệ quốc tế nửa cuối thế kỉ XX Cả hai cường quốc đã nhiều lần đưa thế giới đến bờ vực Chiến tranh hạt nhân Hàng nghìn tỷ USD đã được mỗi bên sử dụng để cố gắng chứng minh

Trang 9

ưu thế kinh tế, quân sự và chính trị Chính vì thế, mà Chiến tranh lạnh luôn được xem là vấn

đề lớn và trở thành đề tài cho nhiều nhà nghiên cứu ngay cả khi chiến tranh vẫn còn tiếp diễn Đặc biệt sau khi Liên Xô công bố tài liệu lưu trữ, thì các nhà nghiên cứu lại có dịp tranh luận về Chiến tranh lạnh, xoay quanh chủ đề nguồn gốc của chiến tranh Bởi trước khi Liên Xô công bố tài liệu lưu trữ, thì các nhà nghiên cứu phần lớn cho rằng cuộc chiến tranh này xuất phát từ phía Hoa Kỳ với tham vọng “bá chủ thế giới” Điều đó là quan trọng và hết sức cần thiết trong thời đại ngày nay khi bước vào thời kỳ hòa bình, phát triển và hội nhập quốc tế, việc giao lưu hợp tác giữa các nước ngày càng phát triển thì nhu cầu nghiên cứu cũng như tìm hiểu về lịch sử quan hệ quốc tế ngày càng được quan tâm và nâng cao

Vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu chính là nguồn gốc của cuộc Chiến tranh lạnh Trong đó, nguồn gốc của Chiến tranh lạnh được coi là nằm trực tiếp nhất trong mối quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kỳ trong khoảng thời gian trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai 1945-1950 xuất phát từ sự ngờ vực lẫn nhau và bất đồng tại các hội nghị thời hậu chiến xoay quanh vấn đề Đức và tổ chức lại thế giới sau chiến tranh Cả hai đều không tìm thấy tiếng nói chung trong các hội nghị tổ chức trong và sau chiến tranh Cường quốc nào chịu trách nhiệm ? Cường quốc nào tích cực nhất sau chiến tranh thế giới thứ hai ? Chiến tranh xảy ra là tất yếu ? Qua đó làm rõ nguồn gốc của Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ giữa hai siêu cường trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt

ở châu Âu Từ đó cung cấp thêm cứ liệu cho lĩnh vực quan hệ quốc tế, nhất là vấn đề liên quan đến hai cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ Đồng thời làm phong phú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về nguồn gốc Chiến tranh lạnh Ngoài ra làm tài liệu tham khảo hữu ích cho những đối tượng cần tìm hiểu nghiên cứu hai cường quốc, cũng như nguồn gốc của Chiến tranh lạnh

Đó là lí do tôi chọn đề tài “QUAN HỆ LIÊN XÔ – HOA KỲ VÀ NGUỒN GỐC CHIẾN

TRANH LẠNH Ở CHÂU ÂU (1945- 1950)” nhằm có cái nhìn khách quan hơn về nguồn gốc

Chiến tranh lạnh

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu “QUAN HỆ LIÊN XÔ – HOA KỲ VÀ NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH

Ở CHÂU ÂU (1945- 1950)” được thực hiện với hai mục đích chính :

- Góp phần làm rõ nguồn gốc của Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ giữa hai siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Trang 10

- Phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế ở châu Âu nói chung và quan hệ hai siêu cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ nói riêng

3 Lịch sử đề tài

Trong nước

Cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về nguồn gốc của Chiến tranh lạnh một cách toàn diện và chuyên sâu Điều đó cũng dễ hiểu bởi vì hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ được tiếp cận tài liệu từ phía Hoa Kỳ, còn về phía Liên Xô không có hoặc rất ít Cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô cho công bố tài liệu, nhưng công việc này không lâu sau đó bị đình chỉ với lí do ảnh hưởng đến an ninh của Liên Xô Chính

vì vậy việc nghiên cứu nguồn gốc của Chiến tranh lạnh cũng gặp phải những mặt hạn chế và thiếu sót

Tuy vậy, cũng đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai nói chung, đặc biệt hai cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ nói riêng

Trước tiên, phải kể đến đó hai quyển sách “Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại 2000) do Trần Nam Tiến (chủ biên) và “Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1945 đến nay (Tập 1) của Lê Vinh Quốc (chủ biên) và Lê Phụng Hoàng Trong quyển “Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại (1945-2000) do Trần Nam Tiến (chủ biên) tác giả tập trung nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế (1945-2000) Đặc biệt tác giả có đề cập đến những cơ sở cho sự hình thành trật tự thế giới hai cực sau chiến tranh thông qua các hội nghị tổ chức thời hậu chiến Trong

(1945-đó do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu, dẫn đến sự thay đổi quan hệ hai cường quốc từ đồng minh thời chiến chuyển sang đối đầu, hình thành cục diện Chiến tranh lạnh Cả chương hai tác giả nghiên cứu về Chiến tranh lạnh và sự đối đầu hai cực Xô - Hoa Kỳ Đồng thời chỉ ra điểm khởi đầu chiến tranh xuất phát từ bài diễn văn của Winston Churchill (Anh) Khác những nhà nghiên cứu trước cho rằng Học thuyết Truman phát động Chiến tranh lạnh Trong quyển “Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1945 đến nay (Tập 1) của Lê Vinh Quốc (chủ biên) và Lê Phụng Hoàng Tác giả đề cập đến quan hệ quốc tế từ 1945 đến nay chịu ảnh hưởng của hai cực Xô –Hoa Kỳ, đồng thời chương hai tác giả đề cập đến tình hình khu vực châu Âu trong Chiến tranh lạnh, nổi bật là vấn đề Đức Cung cấp thêm nhiều tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu nguồn gốc chiến tranh, đặc biệt là thông qua mối quan hệ hai

Trang 11

hưởng hai cường quốc.Từ đó giúp nhà nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn về nguồn gốc của Chiến tranh lạnh

Liên quan đến nội dung quan hệ Xô- Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai phải kể đến quyển sách “Đông Tây Nam Bắc : Những diễn biến chính trong quan hệ quốc tế từ năm 1945”, quyển sách do cán bộ của Học viện Ngoại giao dịch Trong đó tác giả đề cập đến toàn bộ cuộc Chiến tranh lạnh từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, phân tích tình hình thế

giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai dẫn dến thế giới hai cực Đồng thời nêu rõ chính sách đối ngoại của Liên Xô và Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, dẫn đến hai cường quốc

có những động thái chống đối nhau, chạy đua vũ trang Từ đó có thể nhận định trách nhiệm chiến tranh là thuộc về cường quốc nào ? Cường quốc nào tích cực nhất sau chiến tranh ?

Nước ngoài

Ở Hoa Kỳ, ngay từ khi Chiến tranh lạnh còn đang tiếp diễn, thậm chí mới bắt đầu vài năm, thì các sử gia phương Tây đã bắt tay ngay vào việc nghiên cứu Chiến tranh lạnh, đặc biệt là nguồn gốc chiến tranh Ngay sau khi Liên Xô công bố tài liệu thì vấn đề nghiên cứu, xem xét lại nguồn gốc chiến tranh trở nên cấp bách và cần thiết, một lần nữa các sử gia phương Tây có dịp tranh luận

Tại Mĩ đã xuất hiện ba trường phái khi nghiên cứu về nguồn gốc của Chiến tranh lạnh: phái chính thống, phái xét lại, phái hậu xét lại, và còn nhiều tác phẩm và công trình viết về nguồn gốc chiến tranh lạnh

Như với bất kỳ cuộc xung đột, những người đã nghiên cứu chiến tranh đã cố gắng xác định nguồn gốc của cuộc chiến tranh mà hậu quả đặt thế giới bên bờ vực của chiến tranh hạt nhân nhiều lần Trong những năm 1950 và dưới ảnh hưởng nặng chính trị bảo thủ, các nhà sử học phương Tây đặt trách nhiệm cho cuộc xung đột thẳng vào Liên Xô Đến đầu những năm 1960, các nhà sử học phát triển đối chọi với việc giải thích bảo thủ bằng cách đặt đổ lỗi cho chiến tranh lạnh sau Thế chiến II là do Hoa Kỳ Những năm 1970 bắt đầu tranh luận về nguồn gốc của Chiến tranh Lạnh bắt đầu với một sự hiểu lầm và nghi ngờ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Cho đến khi mở tài liệu lưu trữ của Liên Xô sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, các sử gia phương Tây đã tập trung vào chính sách mở rộng từ Liên Xô là nguyên nhân của chiến tranh Lạnh

Tiêu biểu phải kể đến là Giáo sư John Lewis Gaddis, tác giả đã có đến 6 quyển sách viết về Chiến tranh lạnh Quyển sách đầu tiên là “Hoa Kỳ và nguồn gốc của Chiến tranh Lạnh, 1941-1947” cuốn sách bước ngoặt của ông Trong đó, cho rằng lỗi của Chiến tranh

Trang 12

lạnh là do cả Hoa Kỳ và Liên Xô, Trong cuốn sách, Gaddis lập luận Hoa Kỳ và Liên Xô mong muốn hòa bình ở châu Âu Sử dụng nguồn phương Tây, Giáo sư Gaddis viết rằng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau thất bại của Đức Quốc xã nhằm để giữ cho liên minh lớn thời chiến tranh, giúp đảm bảo hòa bình sẽ là vĩnh cửu Tuy nhiên, các sáng kiến của Hoa Kỳ sẽ cần sự hợp tác của Liên Xô, trong đó có những ý tưởng riêng của mình cho thế giới sau chiến tranh Theo Gaddis, Liên Xô cảm thấy họ cần một vùng đệm từ phương Tây,

là nguồn gốc vấn đề của họ kể từ năm 1914, để đảm bảo lợi ích của họ Theo tác giả, cuộc xung đột giữa hai quốc gia không thể tránh khỏi Các nhà lãnh đạo của cả hai siêu cường muốn tìm hòa bình, nhưng trong khi làm điều đó lại hành động ngược lại

Nhưng khi Liên Xô công bố tài liệu, Ngay cả John Lewis Gaddis đã bị buộc phải đánh giá lại quan điểm của mình về nguồn gốc của Chiến tranh Lạnh Kể từ khi nguồn tài liệu mới đã được công bố, Gaddis không còn thấy Chiến tranh Lạnh là một số phận không thể tránh khỏi của lịch sử Thay vào đó, Gaddis đặt đổ lỗi toàn bộ cuộc chiến tranh lạnh trên Joseph Stalin Cụ thể trong quyển sách “We Now Know : Rethinking History Cold War” Giáo sư nêu rõ mục đích là nhằm xem xét trách nhiệm thuộc về ai ? Chiến tranh có phải là tất yếu ? Trong đó tác giả đề cập đến những vấn đề có tính quyết định đến quan hệ hai cường quốc : vấn đề Đức, vũ khí hạt nhân Qua đó, tác giả đặt trách nhiệm chiến tranh là do Joseph Stalin Gaddis viết : “Tôi nghĩ rằng ở đây lịch sử mới đã đưa chúng ta trở lại với câu trả lời cũ : chỉ cần Stalin lãnh đạo Liên Xô thì một cuộc chiến tranh là không thể tránh khỏi

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các kho lưu trữ của Liên Xô cũ đã được mở ra Điều này cho phép giải thích nguồn gốc của Chiến tranh Lạnh mới phải xem xét, sự hiểu biết về những gì Liên Xô đã suy nghĩ và lập kế hoạch trong khởi đầu của Chiến tranh Lạnh Nghiên cứu mới đã được thực hiện liên quan đến cuộc xung đột ý thức hệ giữa hai siêu cường, vai trò của Stalin, và xây dựng đế chế sau chiến tranh của cả hai bên đang được

nghiên cứu đáng kể Tiêu biểu là Martin P Lefler cho rằng các tài liệu lưu trữ của Liên Xô

có xu hướng ủng hộ ý tưởng mở rộng quyền lực là những lý do dẫn đến cuộc chiến tranh

lạnh Lefler cho rằng Liên Xô và Hoa Kỳ cạnh tranh để tạo ra các khu vực ảnh hưởng mà họ

tin rằng quan trọng đối với an ninh quốc gia và lợi ích kinh tế của họ Thật không may, hai cường quốc này, theo Lefler, đối đầu bên cạnh nhau trên lục địa châu Âu, dẫn đến căng thẳng dọc theo các nước giáp biên giới, có thể dễ dàng nhìn thấy trong những cuộc xung đột trong thành phố Berlin

Liên quan đến nguồn gốc Chiến tranh lạnh phải kể đến công trình nghiên cứu của

Trang 13

những sự kiện quan trọng đưa đến quan hệ Liên Xô- Hoa Kỳ từ đồng minh chuyển sang đối đầu trong Chiến tranh lạnh Tác giả cho rằng nguồn gốc chiến tranh xuất phát từ quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima.John D Clare nhận định “quả bom ném xuống Nhật Bản nhằm kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai nhưng nó cũng báo hiệu cuộc chiến tranh mới”

Ngoài ra tại Hoa Kỳ đã xây dựng một chương trình nghiên cứu về Chiến tranh lạnh

có tên là Cold War International History Project (địa chỉ web : www.CWIHP.org) Cho thấy đây là vấn đề rất được quan tâm Dự án lịch sử quốc tế Chiến tranh lạnh (CWIHP) được thành lập tại Trung tâm Woodrow Wilson cho các học giả quốc tế ở Washington vào năm

1991 Dự án nhằm hỗ trợ phát hành đầy đủ, kịp thời các tài liệu lịch sử của chính phủ trên tất cả các vấn đề của Chiến tranh lạnh, và đẩy nhanh lồng ghép các nguồn tài liệu mới và quan điểm các sử gia về Chiến tranh lạnh đã được viết trong vài thập kỷ qua, chủ yếu là của các học giả phương Tây dựa trên các nguồn lưu trữ từ phương Tây Đồng thời vượt qua rào cản ngôn ngữ, địa lý và chuyên môn trong khu vực để tạo ra các liên kết mới giữa các học giả quan tâm đến lịch sử Chiến tranh lạnh Một chương trình học bổng dành cho các sử gia trẻ từ các nước thuộc khối Cộng sản tiến hành nghiên cứu lịch sử Chiến tranh lạnh ở Hoa

Kỳ và các cuộc họp, hội nghị, hội thảo CWIHP nhận được tài trợ từ Quỹ Hàn Quốc (Seoul), Henry L Luce Foundation (New York), Quỹ MacArthur (Chicago), Andrew Mellon (New York), và các nhà tài trợ khác

Như vậy, vấn đề nguồn gốc của Chiến tranh lạnh ở nước ta được nghiên cứu rất ít, chủ yếu được ghép vào lịch sử quan hệ quốc tế cả giai đoạn nói chung Nhưng ở phương Tây ( Hoa Kỳ) đề tài nguồn gốc của Chiến tranh lạnh được đem ra tranh luận sôi nổi Việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra nguồn gốc của Chiến tranh lạnh, cung cấp thêm tài liệu cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế ở châu Âu nói chung và quan hệ hai siêu cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu :

+ Đề tài tập trung xoay quanh nguồn gốc chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ Liên

Xô và Hoa Kỳ những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai

+ Trong đó tập trung chủ yếu quan hệ hai cường quốc trên lĩnh vực đối ngoại

- Phạm vi nghiên cứu :

+ Không gian : ở khu vực châu Âu

+ Thời gian : 1945-1950

Trang 14

+ Tài liệu : Trong giới hạn khả năng cho phép, đề tài chỉ được tiếp cận các tài liệu chủ yếu tiếng Việt và tiếng Anh

+ Quan hệ Liên Xô – Hoa Kỳ bị phá vỡ sau chiến tranh được biểu hiện qua nhiều vấn

đề, sự kiện Do đó đề tài chỉ tìm hiểu trong giới hạn các sự kiện quan trọng, căn bản nhất

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mac – Lênin và sử dụng những phương pháp nghiên cứu đặc trưng của ngành học Trong

đó những phương pháp cần thiết là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp đặc trưng của lịch sử quan hệ quốc tế để làm sáng tỏ nguồn gốc Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ hai cường quốc Liên Xô – Hoa Kỳ đặt trong mối quan hệ quốc tế

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ nguồn gốc của Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ giữa hai siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai

- Phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế ở châu Âu nói chung và quan hệ hai siêu cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ nói riêng

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận, Tài Liệu Tham Khảo, Phụ Lục thì Luận văn gồm

Trang 15

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH THẾ

GIỚI THỨ HAI

1.1 So sánh lực lượng quốc tế có sự thay đổi

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, so sánh lực lượng giữa các quốc gia đã

có sự thay đổi mang tính căn bản Chiến tranh thế giới thứ hai đánh dấu sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít bành trướng, xâm lược thuộc địa đòi chia lại thế giới, vốn đã phân chia trước

đó, có lợi cho các nước tư bản Anh, Pháp Trong đó Đức với tham vọng “ xây dựng đại Đức” nghĩa là lãnh thổ Đức bao gồm những nơi có cư dân Đức sinh sống ở châu Âu Nhưng sau chiến tranh với sự thất bại hoàn toàn của chủ nghĩa phát xít, c ác nước phát xít hùng mạnh trước kia là Đức, Italia, Nhật Bản đã bị đánh bại hoàn toàn và suy yếu Trong đó, Anh

và Pháp tuy là nước thắng trận nhưng cũng đã bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề, trên thực tế đã bị tụt xuống so với các nước Ngược lại Hoa Kỳ và Liên Xô, đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt phát xít nhanh chóng trở thành hai siêu cường quốc trên thế giới

mà sự phát triển vượt bậc của hai siêu cường không một nước nào có thể so sánh được

Đó là, sự vươn lên mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Liên Xô sau chiến tranh, thế giới bị chi phối bởi hai siêu cường và luôn trong tình trạng căng thẳng, đi đến đối đầu nhau giữa một bên là chủ nghĩa tư bản, một bên là chủ nghĩ xã hội Sự thay đổi căn bản đó đã cho thấy thế giới đang phân thành hai cực : Hoa Kỳ - Liên Xô, nghĩa là cán cân quyền lực mới chỉ còn lại hai nước Hoa Kỳ -Liên Xô

Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, đứng về khối đồng minh chống phát xít Trong đó, Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh là ba nước đóng vai trò quan trọng tiêu diệt phát xít Nhưng ở đây, Hoa Kỳ và Liên Xô lại vươn lên mạnh mẽ sau chiến tranh Đặc biệt, về phía Liên Xô là nước gánh chịu hậu quả nặng nề nhất sau khi chiến tranh kết thúc nhưng lại có thể khôi phục được kinh tế và phát triển ngang với Hoa Kỳ Trong khi

đó Anh và Pháp kinh tế giảm sút và ngày càng lệ thuộc vào Hoa Kỳ thông qua kế hoạch Marshall đề ra năm 1947

Trước tiên về phía Hoa Kỳ, trước chiến tranh Hoa Kỳ là nước phát triển nhất trên thế giới Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, với chính sách ngoại giao khôn khéo, giữ thái độ trung lập không can thiệp vào các hoạt động bên ngoài nước, Hoa Kỳ đã giàu lên nhờ vào buôn bán vũ khí cho các nước tham chiến Nhưng mãi đến khi Nhật Bản đụng chạm quyền lợi của Hoa Kỳ tại Trân Châu cảng năm 1941, thì lúc này Hoa Kỳ quyết định tham gia

Trang 16

chiến tranh đứng về khối đồng minh chống phát xít Hoa Kỳ tham gia muộn mãi sau hai năm khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Do đó sau chiến tranh Hoa Kỳ nhanh chóng giàu lên, phát triển vượt bậc nhờ những cơ hội vàng mà chiến tranh đem lại :

Thứ nhất, Hoa Kỳ buôn bán vũ khí giai đoạn đầu cho các nước tham chiến khi chiến

tranh mới bắt đầu, nhờ đó mà Hoa Kỳ thu về lợi nhuận đáng kể

Thứ hai, Hoa Kỳ tham gia chiến tranh muộn đứng về khối đồng minh chống phát xít

Cùng với Liên Xô và Anh đã giành thắng lợi trước phát xít Nhờ đó, Hoa Kỳ được hưởng lợi từ thành quả chiến tranh

Thứ ba, so với các nước tham chiến thì Hoa Kỳ chưa hề bị chiến tranh phá hoại, nhờ

đó sức mạnh quân sự, thực lực kinh tế và ảnh hưởng chính trị của Hoa Kỳ đã được tăng lên nhanh chóng trong thời kỳ chiến tranh và sau chiến tranh trở thành một nước mạnh nhất thế giới Hoa Kỳ trở thành một nước khổng lồ về quân sự và sức mạnh quân sự thuộc loại hàng đầu thế giới với việc độc quyền vũ khí hạt nhân năm 1945 Trước chiến tranh, tổng số quân vũ trang của Hoa Kỳ chỉ khoảng 335.000 người, dự đoán ngân sách quốc phòng không quá 1 tỷ USD Nhưng đến năm 1945, đêm trước khi kết thúc chiến tranh châu Âu, tổng số quân của Mỹ đã có hơn 12 triệu, dự toán ngân sách quốc phòng vượt quá 80 tỷ USD Nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ dẫn đầu thế giới tư bản, Hoa Kỳ nhanh chóng gây ảnh hưởng lôi kéo các nước Tây Âu về phía mình thông qua kế hoạch Marshall và Điểm 4 nhằm giúp các nước khôi phục kinh tế sau chiến tranh Và sau đó tập hợp lực lượng quân sự khổng lồ, thành lập tổ chức quân sự Nato

Về phía Liên Xô, chiến tranh không đem lại những cơ hội vàng cho Liên Xô như Hoa

Kỳ, nhưng Liên Xô nhanh chóng khôi phục kinh tế và phát triển ngang với Hoa Kỳ Năm

1949 với việc chế tạo thành công bom nguyên tử, Liên Xô đã phá thế độc quyền vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ Đặc biệt, Liên Xô là nước bị tàn phá nặng nề nhất trong chiến tranh về người và của Cụ thể nhân dân Liên Xô đã phải gánh chịu những hy sinh và tổn thất hết sức

to lớn : trên 27 triệu người chết, 1710 thành phố và hơn 70.000 làng mạc bị thiêu huỷ, 32.000 xí nghiệp bị tàn phá Tổng số thiệt hại vật chất ước tính 2600 tỉ rúp, so với thiệt hại từng nước thì gấp 4 lần nước Đức, 5 lần nước Ba Lan, 10 lần nước Nhật, 42 lần nước Pháp,

70 lần nước Anh, 88 lần nước Hoa Kỳ Thực lực kinh tế của Liên Xô còn tụt hậu xa xo với Hoa Kỳ, sức mạnh quân sự cũng không lớn mạnh như Hoa Kỳ S a u chiến tranh, Liên Xô phải tự mình bắt đầu xây dựng lại đất nước từ đống gạch vụn đổ nát mà không có sự giúp đỡ của bất kì đồng minh nào Vậy tại sao Liên Xô lại có thể vực dậy khôi phục nền kinh tế và

Trang 17

phát triển đứng thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ ? Đó là do Liên Xô có những lợi thế riêng của mình :

Thứ nhất, chính phủ Xô viết không đợi đến khi chiến tranh kết thúc mới khởi sự

cuộc tái thiết đất nước Một phần đáng kể những thiệt hại trong sản xuất công được bù đắp ngay trong lúc chiến tranh đang tiếp diễn hoặc nhờ kế hoạch tháo dỡ các phương tiện sản xuất của các nhà máy và chuyển sang miền Đông (Ural, Kazakhstan, Kuznetz…) hoặc nhờ

sự giúp đỡ về vật chất và phương tiện kĩ thuật của Hoa Kì qua chương trình Lend-Lease

Thứ hai, Liên Xô dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và nhà nước, đứng đầu là Stalin

Chính sách cai trị sắt đá và những sai lầm của Stalin đã được ngụy trang bởi thắng lợi vẻ vang mà ông đã lãnh đạo nhân dân Liên Xô giành được trong cuộc đối đầu với phát xít trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại Nhân dân Liên Xô với niềm phấn khởi tự hào của một

dân tộc chiến thắng trong chiến tranh đã khẩn trương bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước Kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1946-1950) do Xô viết tối cao thông qua ngày 18-3-1946 đề ra hai nhiệm vụ : đến năm 1950 phục hồi tất cả những vùng bị tàn phá, tăng sản xuất công nghiệp và tiềm năng quân sự đến mức đủ sức cạnh tranh với bất kì cường quốc nào Và nhiệm vụ đó đã được hoàn thành vượt thời hạn trong vòng 4 năm 3 tháng

Thứ ba, Liên Xô giàu tài nguyên thiên nhiên

Thứ tư, mặc dù bị tổn thất nặng nề nhưng bù lại Liên Xô được mở rộng về lãnh thổ

Cụ thể “Liên xô đã giành lại phần lớn các lãnh thổ tách khỏi nước Nga trong thời kì nội chiến (1918 – 1920), miền Đông Ba Lan trở về với hai nước cộng hòa xô viết Ukraina và Belorussia thuộc Liên xô, ba nước vùng Baltic là Latvia và Estonia đã trở thành nước Cộng hòa xô viết Các vùng Bessabaria và Bắc Bukovina tách khỏi Rumania trở thành nước cộng hòa xô viết Moldavia Eo đất Karelia của Phần Lan trở thành nước Cộng hòa xô viết

Karelia Vùng Ruthenia của Tiệp khắc được Hitler giao cho Hungary, nay thuộc nước cộng hòa xô viết Ukraina của Liên Xô Sau khi Đức đầu hàng, Liên xô đã giành được miền Bắc Đông Phổ để thành lập tỉnh Kaliningrad thuộc nước Cộng hòa xô viết Liên Bang Nga Sau khi tham chiến chống Nhật, Liên xô đã giành được những đất đai của đế quốc Nga bị Nhật chiếm trong chiến tranh Nga – Nhật ( 1904-1905) : miền Nam đảo Sakhalin và quần đảo Kurile, giành lại quyền kiểm soát và sử dụng các hải cảng Lữ Thuận, Đại Liên và đường sắt Trường Xuân ở Mãn châu (Trung Quốc) Kết quả Liên Xô đã mở rộng thêm 682.000 km2, tăng thêm khoảng 23 triệu dân so với 27 triệu người chết trong chiến tranh” Như vậy sau

Trang 18

chiến tranh lãnh thổ Liên xô mở rộng nhiều, phạm vi ảnh hưởng cũng như sức mạnh Liên

xô ở Đông Âu được củng cố vững chắc thông qua công cụ đối ngoại là Hồng quân Liên Xô Ngoài ra, sự cống hiến kiệt xuất của Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít đã giành được uy tín rất cao của nhân dân toàn thế giới, địa vị và uy tín của Liên Xô lên đến tột đỉnh trên trường quốc tế Trước chiến tranh Liên Xô chỉ quan hệ với 25 nước, sau chiến tranh lên đến 51 nước Đó là động lực để Liên Xô khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh Tóm lại, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô đã trở thành một trung tâm sức mạnh khác trên thế giới có thể so sánh với Hoa Kỳ Liên Xô cũng tìm cách ảnh hưởng quyền lực ở Đông Âu, thành lập Cục Thông Tin cộng sản sau đó là thành lập khối Warsava đối đầu với khối quân sự Nato của Hoa Kỳ

Như vậy, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã làm thay đổi căn bản quan hệ giữa hai nước vốn dĩ trước chiến tranh đã đối đầu nhau Thế giới bị chi phối bởi hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Xô Là hai cường quốc mạnh nhất trên thế giới, Liên Xô – Hoa Kỳ trực tiếp đối đầu trên phạm vi thế giới Đó là kết quả của so sánh lực lượng quốc tế “hai cực hóa” Tình trạng này đã tạo điều kiện cho xung đột đối kháng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ, đã chuyển

từ quan hệ đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai sang quan hệ đối đầu sau chiến tranh Bởi vì, từ góc độ lịch sử trong hệ thống quốc tế “hai cực hóa” thì hai cường quốc sống hòa bình với nhau là hết sức khó khăn, sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa hai bên, bên nào cũng muốn mình là bá chủ, coi cái được của đối phương là cái mất của mình Từ đó dẫn đến

sự nghi ngờ, thù địch, đấu tranh lẫn nhau ngày càng gay gắt Chính vì thế mà có thể nói rằng nếu không có sự nghi ngờ giữa lãnh đạo hai nước, nếu không có sự tranh giành ảnh hưởng ở khu vực châu Âu sau chiến tranh thì không thể có cuộc chiến tranh lạnh giữa Liên Xô – Hoa

Kỳ hay đối đầu Đông – Tây

Như giáo sư Gaddis đã nói : “Nếu như mọi người thường nói, Chiến tranh thế giới thứ

II tạo ra một khoảng trống quyền lực ở châu Âu, thì rõ ràng Chiến tranh thế giới thứ nhất

đã để lại một khoảng trống về tính hợp pháp” [14, 16] Đó là lý do hai siêu cường không

gây ra Chiến tranh thế giới thứ ba vì cả hai đều biết rõ rằng hậu quả để lại là nặng nề cho cả hai phía

Cuối cùng là hệ thống quốc tế sau chiến tranh chứa đầy những hỗn loạn, luôn trong tình trạng căng thẳng và đối đầu nhau Tình hình chính trị của nhiều quốc gia không ổn định Không ít Đảng cộng sản của các nước và thế lực cánh tả khác ở Tây Âu trong chiến tranh chống phát xít đã kiên trì lãnh đạo nhân dân trong nước kháng chiến nên đã giành

Trang 19

được sự ủng hộ của quần chúng, ảnh hưởng của của nó sau chiến tranh không ngừng lớn mạnh và còn có khả năng giành được chính quyền, còn các thế lực bảo thủ do Anh, Hoa

Kỳ ủng hộ lại hết sức thù địch với lực lượng cánh tả đã ra sức khống chế chính quyển ở đó Tóm lại, môi trường quốc tế sau chiến tranh, đặc biệt là cục diện so sánh lực lượng quốc tế

“hai cực” đã tạo điều kiện cho xung đột và đối kháng Liên Xô – Hoa Kỳ, từ đồng minh thời chiến chuyển sang cuộc đối đầu Chiến tranh lạnh

1.2 Sự tan rã của khối đồng minh chống phát xít

Nó lí giải giai đoạn đầu các nước lớn không liên minh chống phát xít mãi đến năm

1942 khi chủ nghĩa phát xít đã làm chủ gần nửa thế giới, thì bắt đầu liên minh nhau Có lẽ những người đứng đầu chính phủ ba nước lớn đã nhận ra sự nguy hiểm của chủ nghĩa phát xít Như vậy sự thành lập khối đồng minh thời chiến là tất yếu, cần thiết vì nguy cơ phát xít

đe dọa cả thế giới Nhưng cũng dễ hiểu rằng đó chỉ là sự liên minh tạm thời trong thời chiến

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc dẫn đến tình hình thế giới có nhiều thay đổi đáng

kể Đó là so sánh lực lương quốc tế có sự thay đổi, sự vươn lên mạnh mẽ của hai quốc gia Liên Xô và Hoa Kỳ, đại diện cho hai chế độ đối lập nhau Tuy nhiên sau chiến tranh nền chính trị có thể nói là hòa bình đã thay thế nền chính trị thời chiến với sự thất bại hoàn toàn của chủ nghĩa phát xít Đức, Italia, Nhật Bản, kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài suốt mấy năm Sự nghiệp chung chống nguy cơ phát xít đã trở thành chất keo kết dính để duy trì đồng minh trong thời chiến của các nước lớn Nhưng cùng với sự kết thúc của chiến tranh thế giới thứ hai nên chất keo kết dính đó dần dần mất đi.Các nước lớn không có lí do

gì để gắn kết nhau trong một liên minh quốc tế Hơn nữa, cùng với sự thất bại của phe Trục

đã làm cho hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô mất đi một nhân tố bản ràng buộc nhau trong liên minh Nó cũng báo hiệu sự tan rã của đồng minh thời chiến sang thế đối đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai là tất yếu Những sự kiện sau chiến tranh đã đánh dấu sự kết thúc của liên minh thời chiến Biểu hiện thông qua các hội nghị được tổ chức thời hậu chiến

và sự mở rộng quyền lực Đông Âu, cùng những nghi ngờ, thiếu lòng tin của lãnh đạo chính phủ hai nước Chính vì thế, về khách quan thì hòa bình sau chiến tranh thế giới đã tạo điều kiện cho căng thẳng xung đột khác nổi lên giữa các nước lớn với nhau, vốn dĩ mâu thuẩn này đã tồn tại trước đó, sự đối đầu giữa xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, tạo nên nguy

cơ một cuộc đối đầu sắp tới

1.3 Sự ra đời hệ thống xã hội chủ nghĩa

Trang 20

Cách mạng tháng Mười Nga đánh dấu sự ra đời của một nước chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới, đối đầu với chủ nghĩa tư bản, dẫn đến cục diện chính trị có nhiều thay đổi,

tư bản chủ nghĩa không còn là hệ thống duy nhất trên toàn thế giới Nga Xô viết ra đời trong bối cảnh đầy khó khăn :

Thứ nhất, sau cách mạng chính quyền Xô viết phải tự lực khôi phục và phát triển đất

nước do hậu quả chiến tranh và nội chiến trong nước tàn phá nặng còn phải chống thù trong giặc ngoài, đặc biệt sự chống phá của liên quân 14 nước đế quốc trong đó có quân đội Hoa

Kỳ nhằm bóp nghẹt chính quyền còn non trẻ này

Thứ hai, trong quá trình khôi phục đất nước và tiến hành công cuộc xây dựng chủ

nghĩa xã hội, Liên Xô còn đối phó với chính sách bao vây, cấm vận, cô lập chính trị của các nước đế quốc

Trong bối cảnh đó, để giải quyết khó khăn, Nga đã tự lực xây dựng đất nước, và củng

cố lực lượng để đủ sức đối phó với các nước đế quốc thông qua việc thành lập Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết ( viết tắt là Liên Xô) gồm bốn nước : Nga, Ucraina, Belarut, Ngoại capcado Theo tinh thần của Lê nin, các nước bình đẳng, không phân biệt Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Chủ nghĩa xã hội đã phát triển thành hệ thống đủ khả năng đối đầu với Tư bản chủ nghĩa Giai đoạn này, Liên Xô đóng vai trò quan trọng việc lãnh đạo hệ thống xã hội chủ nghĩa, đứng đầu chính phủ là Stalin Dưới sự lãnh đạo của Stalin, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã không còn đúng theo tư tưởng của Lenin ban đầu Nó được sử dụng như là công cụ để bảo vệ an ninh quốc gia và tăng cường sức mạnh cho Liên

Xô để đủ sức đối đầu với các nước phương Tây đứng đầu là Hoa Kỳ

Cho dù là nhằm mục đích nào chăng nữa thì sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống

xã hội chủ nghĩa đã phát triển nhanh chóng Hàng loạt các quốc gia gần kề Liên Xô đã được giải phóng và sát nhập vào lãnh thổ Liên Xô Một trong những bằng chứng rõ nét nhất là Chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước (Liên Xô trước trước Chiến tranh thế giới thứ hai) trở thành một hệ thống thế giới với hơn 10 quốc gia trải rộng từ châu Âu qua châu Á tới khu vực Mỹ latinh Trong thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, với sự tăng trưởng nhanh chóng về mọi mặt, hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã trở thành một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế hùng hậu, và là một nhân tố tác động có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chiều hướng phát triển của tình hình thế giới Hệ thống XHCN đã trở thành chỗ dựa tin cậy đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội Một thực tế

Trang 21

là, trong các kế hoạch của mình, Hoa Kỳ và Chủ nghĩa tư bản không thể không tính đến nhân tố Liên Xô và hệ thống XHCN thế giới

1.4 Cách mạng khoa học kĩ thuật bùng nổ

Lịch sử hình thành và phát triển của TBCN chưa bao giờ tách rời, độc lập với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của con người Những cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật đã trở thành điểm tựa, làm đòn bẩy cho sự phát triển của lực lượng sản xuất TBCN đưa Chủ nghĩa tư bản tiến dần lên những nấc thang cao hơn, với những hình thức hoàn thiện hơn, thích ứng với những điều kiện sản xuất và xã hội do chính những cuộc Cách mạng khoa học

kỹ thuật đem lại

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với sự vươn lên mạnh mẽ của hai siêu cường Liên Xô

và Hoa Kỳ Cùng với yếu tố chủ quan bên trong mỗi nước còn do yếu tố khách quan tác động đến đó là cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ ba hay còn gọi là cuộc Cách mạng khoa học công nghệ Nó đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc của Chủ nghĩa tư bản Như C.Mac đã nói : “Chủ nghĩa tư bản ra đời chưa đầy thế kỉ đã tạo ra một khối lượng sản phẩm gấp hàng nghìn năm trước cộng lại” Nhưng đó chỉ là khi Chủ nghĩa tư bản mới ra đời Cuộc cách mạng này cách cuộc cách mạng trước khoảng nửa thế kỷ, cho thấy rõ ràng tốc độ của sự tiến bộ khoa học- kỹ thuật đã tăng lên rất nhanh Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế kỷ XX diễn ra do nhiều nguyên nhân khác nhau:

Thứ nhất, do tác dụng và ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới hai Cụ thể, để

giành thắng lợi trong chiến tranh, các nước đế quốc đã dồn nhiều tâm sức vào nghiên cứu khoa học- kỹ thuật quân sự Các bên tham chiến cạnh tranh nhau khốc liệt trong việc phát minh và sử dụng các vũ khí và trang thiết bị mới như ra-đa, tên lửa, máy bay chiến thuật, bom nguyên tử…Việc phát minh và sử dụng vũ khí và trang thiết bị mới tuy không quyết định thắng bại cuối cùng, song thực sự nó có ảnh hưởng quan trọng đến cuộc chiến

Thứ hai, là do cuộc chạy đua vũ trang giữa các siêu cường sau Chiến tranh thế giới

hai Cụ thể là sau Thế chiến II, diễn ra sự đối đầu giữa Liên Xô – Hoa Kỳ, cũng như giữa hai cực Đông- Tây được gọi là Chiến tranh lạnh Cả hai bên đều ráo riết đầu tư cho việc tăng cường tiềm lực quân sự quốc phòng Theo đó, một lần nữa người ta lại chi rất nhiều tiền vào việc nghiên cứu khoa học quân sự Khoa học kỹ thuật quân sự lại trở thành ngành

đi đầu trong việc phát triển toàn diện khoa học- công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển nhanh chóng

Thứ ba, do Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước tạo ra những điều kiện tương đối có

Trang 22

lợi cho sự phát triển của khoa học công nghệ Việc nghiên cứu khoa học công nghệ đã ngày càng được xã hội hóa Trong đó, nhiều công trình nghiên cứu đã vượt ra ngoài khả năng gánh vác của các nhà tư bản, thậm chí là tập đoàn tư bản cá biệt Điều đó đòi hỏi phải có sự hợp tác và phối hợp mạnh mẽ Trong tình hình đó, nếu tách rời sự giúp đỡ về mọi mặt của nhà nước, thì việc tiến hành và phát triển nghiên cứu khoa học công nghệ là điều khó thực hiện Và một đều, sự phát triển cao độ của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, ở mức độ rất lớn đã đáp ứng được những đòi hỏi về mặt này của sự phát triển khoa học công nghệ hiện đại

Thứ tư, do sự cạnh tranh độc quyền ác liệt góp phần thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ

thuật Từ đòi hỏi của yếu tố cạnh tranh vốn khốc liệt hơn trong thời kỳ Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, buộc các nhà tư bản độc quyền không ngừng nghiên cứu kỹ thuật công nghệ mới, sử dụng công nghệ kỹ thuật mới để tạo ra các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh

Thứ năm, do chính bản thân khoa học công nghệ đã trở thành sức sản xuất xã hội có

một cơ chế tương đối hoàn chỉnh Trong đó đời sống của người lao động được nâng cao, đã tạo ra một thị trường rộng lớn sử dụng các sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao Mặt khác, trình độ của cư dân được nâng cao, số người có trình độ cao ngày càng đông đảo Điều này không những tạo ra thị trường cho những sản phẩm khoa học công nghệ mà còn cung cấp sức lao động có chất lượng cao và cần thiết cho tiến bộ khoa học công nghệ

Mũi đột phá của cuộc Cách mạng khoa học công nghệ này là sự nhanh chóng và không ngừng tạo ra, hình thành, phát triển những công nghệ mới, đẩy mạnh quá trình tự động hóa Các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, công nghệ hạt nhân… ngày càng được khẳng định là những lĩnh vực mũi nhọn Sau đây là những lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ được xem là mũi nhọn trong cuộc Cách mạng khoa học công nghệ được tiến hành từ sau Thế chiến II đến nay chủ yếu là lĩnh vực kỹ thuật điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ, hải dương…:

Đầu tiên, trong lĩnh vực kỹ thuật điện tử :

Kỹ thuật điện tử là ngành hạt nhân có tính quyết định của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đồng thời là ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất, được ứng dụng rộng rãi nhất trong số các ngành khoa học công nghệ mới nổi lên Trong đó, thành tựu nổi bật nhất của kỹ thuật điện tử là việc phát minh và áp dụng máy vi tính điện tử Từ khi chiếc máy vi tính điện

tử đầu tiên trên thế giới ra đời vào giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX đến nay, máy vi tính đã

Trang 23

trải qua nhiều thế hệ, không ngừng được cải tiến, với tính năng ngày càng phong phú, tốc độ

xử lý ngày càng cao, hình thức ngày càng nhỏ gọn, và đã trở thành một phương tiện giao tiếp hữu hiệu, gần như không thể thiếu được trong cuộc sống hiện đại

Thứ hai, trong lĩnh vực công nghệ thông tin :

Nếu nói kỹ thuật điện tử là cơ sở của kỹ thuật thông tin, thì kỹ thuật thông tin là bộ phận mấu chốt của công nghệ tin học ngày nay Thông tin trở thành hệ thống thần kinh của

xã hội hiện đại Không có sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ không thể có sự truyền

bá và sử dụng hàng vạn hàng triệu thông tin trong xã hội hiện đại, cũng sẽ không thể có xã hội tin học Do sự phát triển và kết hợp của công nghệ vi điện tử và các ngành khoa học công nghệ mới khác (như công nghệ vi sóng, công nghệ cáp quang, công nghệ vệ tinh…) các biện pháp thông tin hiện đại đã ngày càng phổ biến Các công nghệ thông tin mới đã làm cho việc truyền thông tin không những có dung lượng lớn, chất lượng tốt, diện phủ rộng, nhanh chóng linh hoạt, an toàn đáng tin cậy, với rất nhiều hình thức và chức năng mới (như máy fax, điện thoại di động, truyền hình kỹ thuật số, truyền hình vệ tinh…), mà còn không ngừng được đổi mới với tốc độ rất nhanh Cho đến ngày nay, cuộc cách mạng về thông tin đã và đang là đòn bẩy cho nhiều ngành công nghiệp mới phát triển

Thứ ba, trong lĩnh vực công nghệ vật liệu mới :

Sự xuất hiện của các vật liệu mới không những làm giảm bớt sự phụ thuộc của con người vào tài nguyên thiên nhiên, mà còn làm cho sự nghiên cứu chế tạo và phát triển các loại sản phẩm có trình độ khoa học kỹ thuật cao trở thành hiện thực Trong đó, các loại vật liệu cho thông tin, vật liệu tổng hợp và nguyên liệu năng lượng mới… là phát triển nhanh và

có triển vọng nhất Vật liệu dùng cho thông tin chủ yếu bao gồm vật liệu bán dẫn, ghi chép thông tin, vật liệu truyền cảm, vật liệu quang dẫn… Trong vật liệu bán dẫn, việc sử dụng silic vào việc chế tạo được xem là bước đột phá quan trọng nhất Với việc sử dụng silic làm nguyên liệu bán dẫn, đã làm cho các loại máy điện tử giảm được độ lớn đến hàng trăm lần Sau silic, ngày nay người ta đang sử dụng gali thạch hóa tín như một chất bán dẫn của tương lai, được ứng dụng rộng rãi trong việc sản xuất các loại máy móc công nghệ cao, như máy

vi tính, điện thoại di động, thông tin vi sóng, pin mặt trời… Bên cạnh đó, công nghệ chế tạo các loại vật liệu mới có những tính năng siêu dẫn, siêu nhẹ, siêu bền… cũng đạt được những bước tiến đáng kể, ngày càng được ứng dụng nhiều trong cuộc sống

Thứ tư, trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ:

Công nghệ vũ trụ bao gồm việc nghiên cứu và chế tạo các thiết bị máy móc cho việc

Trang 24

khám phá vũ trụ của con người, như chế tạo vệ tinh nhân tạo, phi thuyền chở người, phóng tên lửa…, cũng như việc sử dụng các lĩnh vực nghiên cứu khoa học phục vụ việc bay vào vũ trụ như khí tượng, tài nguyên, khoa học về đời sống Về mặt thông tin, truyền dẫn, việc sử dụng kỹ thuật không gian cũng ngày càng rộng rãi, đạt được nhiều thành tựu Ngày nay, người ta còn đang nghiên cứu để chế tạo ra những sản phẩm công nghệ cao trên vũ trụ mà những điều kiện trên mặt đất không thể chế tạo được, rồi cả dự án phát điện không gian, tạo

ra nguồn năng lượng thuần khiết và vô tận

Thứ năm Trong lĩnh vực công nghệ hải dương :

Trái đất của chúng ta với ¾ diện tích là đại dương Đây là một kho tài nguyên vô tận

và còn nhiều điều bí ẩn, chưa được khai phá Chính vì vậy, cùng với sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật, con người đã dần coi trọng việc khai thác và lợi dụng biển Theo đó, nhiều loại máy móc, phương tiện đã được nghiên cứu, chế tạo để phục vụ cho việc nghiên cứu cũng như khai thác đại dương (tàu ngầm, rôbốt, công nghệ khoan dầu trên biển, máy định vị…) Cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ đã tác động tích cực, mạnh mẽ đến toàn bộ mọi mặt trong đời sống các nước trên thế giới, đặc biệt là hai nước Liên Xô và Hoa Kỳ Cuộc cách mạng đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực như : công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, công nghệ hạt nhân … Nhưng thành tựu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sự đối đầu Liên Xô- Hoa Kỳ, cho hoạt động chạy đua vũ trang của hai nước sau chiến tranh là trên lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ, hạt nhân Ngay cả trong chiến tranh hai nước đã đạt được những thành tựu đáng kể, trước tiên phải kể đến Hoa Kỳ với dự án Mahattan chế tạo bom nguyên tử năm 1942 Liên Xô cũng chế tạo bom nguyên tử năm 1949, phá thế độc quyền vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ Một số chính trị gia nhận định rằng bom nguyên tử sẽ làm thay đổi chính trị quốc tế Kết quả là, Tổng thống Truman ra lệnh cho các nhà khoa học Hoa Kỳ phát triển một vũ khí mạnh mẽ hơn: quả bom hydro Đến giữa những năm 1950, cả hai nước đã phát triển và thử nghiệm vũ khí mới này, đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc đối đầu Chiến tranh lạnh Như vậy Cách mạng khoa học công nghệ đã tạo điều cho hai cường quốc đối đầu nhau Chiến tranh nóng sẽ giết chết nhân loại Vì vậy cả Hoa Kỳ và Liên Xô không tuyên bố chiến tranh mà luôn trong tình trạng căng thẳng, đối đầu nhau, cùng chạy đua vũ trang Chiến tranh nóng khó có thể xảy ra vì sau Chiến tranh thế giới thứ hai hòa bình quốc tế là cần thiết chi phối chính sách ngoại giao của các nước lớn Bởi hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn chưa khắc phục, không bất kì nước nào muốn gây

Trang 25

ra chiến tranh bởi vì hậu quả để lại là nặng nề cho cả hai bên Nếu chiến tranh xảy ra thì đó

sẽ được xem là cuộc Chiến tranh hạt nhân hủy diệt cả nhân loại Đó cũng là lý do hai siêu cường chỉ dừng lại ở Chiến tranh lạnh

Tiểu kết chương 1

Chiến tranh thế giới thứ hai đã góp phần làm cục diện thế giới thay đổi rất nhiều, quan trọng nhất trong số này là sự trỗi dậy của hai cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ Hoa Kỳ nhìn thấy sự tồn tại của Liên Xô như là thách thức đối với cán cân quyền lực ở châu Âu và

đe dọa an ninh Hoa Kỳ Liên Xô nhìn thấy sự lớn mạnh của Hoa Kỳ như là mối đe dọa tiềm tàng đến an ninh đất nước Nhưng xét cho cùng sau chiến tranh ưu thế vẫn nghiêng về phía Hoa Kỳ Hoa Kỳ là nước ít chịu tổn thất, lại độc quyền sức mạnh bom nguyên tử Trong khi

đó, Liên Xô chịu tổn thất nặng nề nhất trong chiến tranh và lo sợ trước cuộc tấn công từ phía Tây

Do Liên Xô và Hoa Kỳ không thể tìm thấy tiếng nói chung trong một loạt các vấn đề phát sinh thời hậu chiến, chủ yếu ở châu Âu Những mối ngờ vực lẫn nhau đã có trước và

trong chiến tranh sống lại và tác động rất tiêu cực đến quan hệ giữa hai nước, đẩy quan hệ hợp tác trong thời chiến đến chỗ đổ vỡ Thêm vào đó là tác động của cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật

Trang 26

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH (1): SỰ TAN RÃ QUAN HỆ ĐỒNG MINH LIÊN XÔ – HOA KỲ (1945 - 1947)

2.1 Nguồn gốc Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ Liên Xô- Hoa Kỳ ở châu Âu trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai

2.1.1 Quan hệ Liên Xô – Hoa Kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ hai

Quan hệ Liên Xô- Hoa Kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ hai có thể nói đó là quan hệ đối đầu giữa Chế độ xã hội và Chế độ tư bản chủ nghĩa Nhưng thật sự nó chỉ bắt đầu kể từ sau Cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917 Trước đó giữa hai nước đã có những bước đi đầu tiên trong việc thiết lập quan hệ dựa trên hoạt động thương mại và du lịch

Trong quyển sách của Giáo sư Gaddis “We Now Know : Rethinking The History Cold War”

đã đề cập đến những quan hệ đầu tiên giữa Nga và Hoa Kỳ bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX Cả hai bãi bỏ chế độ nô lệ gần như cùng một lúc, ở Nga nông nô được giải phóng năm 1861 và

ở Hoa Kỳ chế độ nô lệ được bãi bỏ năm 1863 mặc dù trong hoàn cảnh khác nhau Và lúc bấy giờ, thế kỉ XIX đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Anh, Anh được mệnh danh là “ mặt trời không bao giờ lặn ở nước Anh Có thể nói lúc bấy giờ, Anh đã trở thành bá chủ thế giới

Do đó cả Nga và Hoa Kỳ đều có sự thông cảm nhau Sự thông cảm ấy thể hiện trong việc Hoa Kỳ đứng về phía Nga trong cuộc chiến tranh Crimean và Nga nghiêng về phía bắc trong cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ Và cả hai hợp tác trong việc giải quyết các tranh chấp ở Bắc Thái Bình Dương, đặc biệt trong việc bán đảo Alaska cho Hoa Kỳ năm 1867 Như vậy, thế

kỉ XIX hai nước có quan hệ tương đối tốt đẹp, có những biểu hiện xích lại gần nhau

Bước sang cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX quan hệ hai nước có chiều hướng đi xuống,

do lúc này cả hai nước đều phát triển và mong muốn tìm cách mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài Nhưng cả Nga và Hoa Kỳ đều muốn mở rộng ảnh hưởng ở khu vực Đông Bắc Á vào thời điểm mà Trung Quốc từng là một đế chế hùng mạnh cổ xưa dường như trên bờ vực sụp

đổ Nơi mà các cường quốc châu Âu cũng có những lợi ích quan trọng ở khu vực này Cuộc chiến tranh Nga – Nhật 1904 – 1905 đánh dấu sự thất bại của Nga khi tổng thống Roosevelt

đã công khai liên kết với kẻ thù cũ là Anh để cùng hỗ trợ Nhật trong cuộc chiến nhằm giảm bớt ảnh hưởng của Nga ở vùng Đông Bắc Á Sự kiện đó cũng đánh dấu mối quan hệ Nga – Hoa Kỳ bắt đầu rạn nứt

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất Hoa Kỳ, Anh và Nga đã trở thành đồng minh

Trang 27

vào tháng Mười một, khi chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn cuối Quan hệ hai nước càng đi xuống khi năm 1917 Cách mạng tháng Mười Nga thành công Nguồn gốc cuộc chiến tranh lạnh đã hình thành từ đây, những ngày cuối thế chiến thứ nhất khi quân đội Hoa

Kỳ đã gửi vào Nga để hỗ trợ cho lực lượng Bạch Nga chống lại Bonsevich Sau khi cách mạng thành công Hoa Kỳ đã không công nhận chính phủ của Lenin và những người cộng sản là hợp pháp Các nước phương Tây xem nhà nước Xô viết như là mối đe dọa lớn đối với

an ninh thế giới và lợi ích quốc gia của họ Do đó, sau Cách mạng tháng Mười thành công, ngay lập tức liên quân 14 phương Tây trong đó có quân đội Hoa Kỳ đã tràn vào Nga với âm mưu bóp nghẹt chính quyền còn non trẻ nhưng không thành công Bằng sức mạnh quân sự các nước phương Tây không thể tiêu diệt chính quyền Xô viết, ngay lập tức Hoa Kỳ và các nước đồng minh chuyển sang chính sách bao vây, cấm vận kinh tế, cô lập về chính trị cho đến những năm 30 của thế kỉ XIX Trong hoàn cảnh khó khăn từ bên ngoài lẫn bên trong nước, Liên Xô đã tự lực xây dựng, khôi phục đất nước và tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những thành tựu to lớn, đưa Liên Xô từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp

Sự kiện đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong quan hệ Hoa Kỳ và Liên Xô đó là năm

1933, Hoa Kỳ công nhận nhà nước Liên Xô và bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên

Xô Nguyên nhân cả hai đều nhận thấy mối đe dọa nguy hiểm đến từ chủ nghĩa phát xít Đức sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 Sự tồn tại của chủ nghĩa phát xít Đức, Iatalia, Nhật Bản ít nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến hòa bình thế giới, đặc biệt đó là lợi ích của các nước lớn Tổng thống Roosevelt coi Đức quốc xã là mối nguy hiểm chính đối với an ninh của Hoa Kỳ và châu Âu Liên Xô coi chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguy hiểm nhất nên chủ trương liên kết các nước tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Do cùng chung kẻ thù là chủ nghĩa phát xít nên trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) hai nước đã xích lại gần nhau, cùng liên kết nhau trong khối đồng minh chống phát xít Chủ nghĩa phát xít là chất keo kết nối hai nước liên kết nhau trong thời chiến Chính vì vậy, trong Chiến tranh thế giới thứ hai quan hệ hai nước chuyển từ quan hệ đối đầu sang quan hệ đồng minh trong thời chiến

Quan hệ Liên Xô- Hoa Kỳ trước chiến tranh thế giới thứ hai có những biểu hiện căng thẳng, xung đột dẫn đến đối đầu nhau, giữa một bên là Chủ nghĩa xã hội và một bên là Chủ nghĩa tư bản Mâu thuẩn đó được hình thành từ những ngày cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ nhất Sự xung đột Liên Xô- Hoa Kỳ không trở thành mối đe dọa đối với an ninh và hòa bình thế giới lúc bấy giờ Sự kiện 1917- 1918 tạo ra một cơ sở mang tính biểu tượng

Trang 28

cho cuộc xung đột giữa Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Cuộc xung đột này tạo ra nền tảng cho cuộc đối đầu Xô- Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai được gọi là Chiến tranh lạnh kéo dài phần tư thế kỉ Và đây cũng chính là sự kiện đầu tiên làm cho mối quan hệ Liên Xô – Hoa Kỳ trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh đạo hai quốc gia

2.1.2 Quan hệ đồng minh Liên Xô – Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ hai ( 1942-1945)

2.1.2.1 Sự thành lập đồng minh Liên Xô- Hoa Kỳ thời chiến

Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu năm 1939 nhưng mãi đến ngày 01 tháng 01 năm

1942 khối đồng minh chống phát xít được thành lập gồm 26 quốc gia tại Oasinhton thông qua Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc nhằm xác định nhiệm vụ cấp bách là tiêu diệt phát xít

Về mặt thời gian, thể hiện sự chậm trễ của các nước trong việc thành lập mặt trận chống phát xít, đặc biệt đó là ba cường quốc lớn Liên Xô, Anh và Hoa Kỳ xuất phát từ

những lợi ích riêng của mỗi nước và trên hết là sự thiếu tin cậy lẫn nhau Hậu quả càng dung túng cho hành động xâm lược và bành trướng lãnh thổ của chủ nghĩa phát xít ngày càng lớn mạnh Nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu của chiến tranh, khi Chủ nghĩa phát xít còn chưa quá mạnh và Hoa Kỳ cùng đồng minh phương Tây chưa nhận ra sự nguy hiểm và sức mạnh tiềm tàng của phát xít Cho đến khi Chủ nghĩa phát xít đã xâm chiếm toàn châu Âu (trừ Anh) mùa hè năm 1940 chuyển sang tấn công Liên Xô tháng 6 năm 1941 Lúc này cả

ba cường quốc đã thay đổi suy nghĩ, thái độ và đi đến thành lập đồng minh chống phát xít Trước khi thành lập khối đồng minh chống phát xít, đã có liên minh tay đôi thành lập

đó là liên minh Anh – Hoa Kỳ chủ yếu cung cấp, trao đổi vũ khí Sau khi chiến tranh bùng

nổ hai tháng tức tháng 11 năm 1939 theo kiến nghị của Roosevelt Hoa Kỳ đã sửa Luật trung lập thành phương thức “tự mua và tự vận chuyển” để xuất vũ khí sang Anh và Pháp Từ đó

vũ khí Hoa Kỳ bán rất nhiều cho Anh và Pháp phục vụ chiến tranh Nhờ đó Hoa Kỳ thu nhiều lợi nhuận từ việc buôn bán vũ khí và lợi dụng Anh, Pháp để ngăn chặn sự mở rộng của phát xít

Nhưng sau khi Pháp đầu hàng, Anh đã bất mãn và không hài lòng với chính sách của Hoa Kỳ Ngày 08 tháng 12, Thủ tướng Anh Churchill viết một bức thư dài cho Tổng thống

Roosevelt, trong đó Churchill nói “ Để mua vũ khí, nước Anh đã phải bán đến cái quần cuối

cùng Nước Anh không thể giúp đỡ ai được nữa và cũng chẳng tốt gì cho nước Mỹ” [28]

Như vậy thể hiện rõ Anh muốn Hoa Kỳ tham chiến chống phát xít Trước tình hình đó Hoa

Kỳ đã thông qua Luật thuê mượn (tức là Luật tăng cường phòng hộ nước Hoa Kỳ) yêu cầu

Trang 29

lấy quyền Tổng thống vay hoặc chuyển nhượng quân nhu với các nước có quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và được thi hành tháng 03 năm 1941 Cho thấy Hoa Kỳ đã dần thay đổi chính sách từ buôn bán tìm lợi nhuận chuyển sang cung cấp viện trợ cho Anh, Pháp trước nguy cơ phát xít Tổng thống Hoa Kỳ đã viện trợ vũ khí, đạn dược cho Anh và trở thành liên minh Anh – Hoa Kỳ Như vậy một liên minh tay đôi đã được hình thành sau khi Đức chiếm hầu hết châu Âu

Sau khi chiếm hầu hết châu Âu Đức chuyển sang tấn công Liên Xô tháng 06 năm

1941 Sự mở rộng xâm lược của phát xít Đức đã uy hiếp sự an toàn của Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô cùng các nước trên thế giới Từ đó cả ba cường quốc đã thay đổi thái độ, thông qua các bài phát biểu, cuộc hội đàm và dần đi đến liên kết nhau chống phát xít Trước tiên là Churchill, tối ngày 22-06, Churchill phát biểu trên đài phát thanh, ông nói rằng quyết không thay đổi quan niệm chống cộng mà 25 năm trước ông đã viết nhưng ông cũng xác định rằng : “ Sự nguy hiểm của Liên Xô (trước bọn phát xít Đức) hiện nay cũng vẫn là sự nguy hiểm của chúng ta Chúng ta sắp phải viện trợ những gì có thể cho nước Liên Xô” [28] Đánh

dấu sự cần thiết thành lập khối đồng minh chống phát xít Ngoài ra các nước trên thế giới cũng lên tiếng ủng hộ cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên Xô Tại các nước Anh và Hoa Kỳ nhân dân đã biểu tình thị uy trên các đường phố, hô vang các khẩu hiệu “đoàn kết nhất trí” với Liên Xô, yêu cầu các nước chống phát xít liên hiệp lại cùng nhau chống phát xít Ngày

23 tháng 06, ngày sau khi Đức xâm lược Liên Xô, Mao Trạch Đông thay mặt Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra trong tác phẩm “ Về mặt trận thống nhất quốc tế chống phát xít” nhiệm vụ trước mắt của người cộng sản trên toàn thế giới là động viên nhân dân các nước

thành lập tổ chức “Mặt trận quốc tế thống nhất” nhằm đấu tranh bảo vệ Liên Xô, bảo vệ Trung Quốc, bảo vệ tự do và độc lập cho tất cả dân tộc Hoa Kỳ cũng thay đổi thái độ Cuối

tháng 7, Roosevselt cử Hopkin đã hội đàm với Stalin Hopkin nói : “Tổng thống cho rằng

Hitler là kẻ thù chung của nhân loại, do đó tôi sẵn sàng viện trợ cho Liên Xô đánh Đức”[28] Stalin phấn khởi nói : “Quan điểm của chúng ta là nhất trí” Cuộc hội đàm đánh

dấu bước đầu thành lập đồng minh Hoa Kỳ- Liên Xô chống phát xít

Ngày 01 tháng 01 năm 1942 đại biểu các nước Trung Quốc, Liên Xô, Anh và đại biểu

26 quốc gia tại Oasinhton đã ký Tuyên ngôn các quốc gia Liên hợp qui định những nước ký kết được bảo đảm hợp tác đánh bại các nước phe Trục phát xít, không được đình chiến và giảng hòa riêng biệt với nước thù địch Sự ký kết bản Tuyên ngôn này đã tuyên cáo thành lập khối đồng minh chống phát xít

Trang 30

Như vậy, việc thành lập đồng minh chống phát xít đã nói lên rằng hành động xâm lược của phát xít là nguy hiểm, uy hiếp sự an toàn của các nước trên thế giới, là hành động không chấp nhận được, cần phải ngăn chặn Có lẽ nhờ phát xít Đức và phát xít Nhật mà Anh đã có được hai đồng minh khổng lồ là Liên Xô và Hoa Kỳ Việc Liên Xô tham chiến cũng làm thay đổi tính chất của cuộc chiến tranh

2.1.2.2 Sự nghi ngờ lẫn nhau giữa chính phủ hai nước

Một khi an ninh và lợi ích quốc gia bị đe dọa thì bất kì hành động của đối phương đều được xem là bất lợi cho phía còn lại Do đó chính sách ngoại giao của một quốc gia được vạch ra dựa vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố bên ngoài cũng không kém phần quan trọng Liên Xô và Hoa Kỳ đại diện cho sự khác biệt giữa hệ thống XHCN và TBCN Đương nhiên giữa hai quốc gia này không tránh khỏi tư tưởng thù địch và nghi ngờ lẫn nhau Và chính sự nghi ngờ, thiếu lòng tin giữa chính phủ hai nước đã dẫn đến những hành động cũng như phương thức xử lí ngoại giao có phần đối đầu nhau dẫn đến hình thành hai cực sau chiến tranh thế giới thứ hai

Sự nghi ngờ, thiếu lòng tin giữa hai cường quốc không phải trong chiến tranh thế giới thứ hai mới xuất hiện, mà cội nguồn của nó xuất phát từ trong thế chiến thứ nhất Trong thế chiến thứ nhất, Hoa Kỳ, Anh và Nga đã từng là đồng minh trong vài tháng từ tháng 4 năm

1917 cho đến khi những người Bonsevich nắm quyền ở Nga vào tháng mười một Và sau đó Nga kí hiệp ước Brest-Litovsk, rời khỏi đồng minh phương Tây, rút khỏi chiến tranh thế giới thứ nhất Nước Nga đã tự cô lập mình trong quan hệ với các nước Điều đó đã đóng góp cho sự thiếu tin cậy của Hoa Kỳ đối với Liên xô Sau đó cuộc đổ bộ của quân đội Hoa Kỳ cùng với liên quân 13 nước ở Nga năm 1918 nhằm bóp nghẹt chính quyền Xô Viết non trẻ

Đó là mối lo ngại, mất lòng tin của Liên xô đối với Hoa Kỳ và nó kéo dài cho đến sau chiến tranh thế giới thứ hai, trở thành nỗi ám ảnh của những người lãnh đạo, chính phủ Liên Xô luôn lo lắng trước sự tấn công từ phương Tây có thể xảy ra bất kì lúc nào Đó là lí do sau chiến tranh thế giới thứ hai, Stalin quan tâm đến việc xây dựng sức mạnh và an ninh quốc gia Đó là biểu hiện đầu tiên cho sự nghi ngờ thiếu tin cậy hai nước trước chiến tranh thế giới thứ hai

Nghi ngờ càng tăng trong chiến tranh thế giới thứ hai và hậu chiến khi khoảng trống quyền lực hình thành ở châu Âu dẫn đến những hành động đối dầu nhau tranh giành ảnh hưởng ở châu Âu Việc ký hiệp ước Muynich giữa các nước phương Tây với Đức năm

1938, đó được đánh giá đỉnh cao của chính sách nhượng bộ phát xít của phương Tây nhằm

Trang 31

đẩy chiến tranh về phía Liên Xô Trong khi đó Hoa Kỳ lại giữ chính sách trung lập không can thiệp những hoạt động ngoài châu Mỹ tạo điều kiện cho chủ nghĩa phát xít tự do hành động gây chiến tranh Hành động đó góp phần tăng cường sự nghi ngờ của Liên Xô đối với Hoa Kỳ và phương Tây nhằm đánh bại Liên Xô

Đáp lại sự nghi ngờ đó, Liên Xô đã kí với Đức hiệp ước Xô- Đức không xâm phạm lẫn nhau năm 1939 và thỏa thuận bí mật để phân chia Ba Lan và Đông Âu giữa hai quốc gia

Cũng trong giai này Liên Xô và Đức đã kí một hiệp định thương mại trao đổi thiết bị, nguyên vật liệu, cung cấp dầu, cao su, mangan và trao đổi vũ khí, thiết bị sản xuất và công nghệ Lúc này Liên Xô cũng đã sáp nhập các nước Baltic, Estonia và Latvia Việc Liên xô

kí với Đức hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau đã không tránh khỏi sự nghi ngờ của phương Tây Vì sau khi kí Hiệp ước Đức đã quay sang xâm lược Ba Lan và châu Âu chỉ trừ Anh Đức đã vi phạm những điều cam kết tại Muynich Hành động của Đức càng củng cố

sự thiếu lòng tin giữa Liên Xô và các đồng minh phương Tây của Hoa Kỳ

Một số sử gia xem xét Hiệp ước không xâm phạm năm 1939 là kết quả của sự thất bại chính sách đối ngoại của các nổ lực để thu hút Liên Xô cho phía đồng minh chống lại phát xít Đức Hiệp ước này được xem như phản ứng của Stalin trước nhượng bộ của Anh, Pháp

để xoa dịu Hitler Stalin biết rằng ông không thể tin tưởng Hitler nhưng cũng không tin tưởng vào đồng minh và nghĩ rằng ông có thể tranh thủ thời gian để xây dựng đất nước, vừa đối phó với sự xâm lược của phát xít Đức và đẩy chiến tranh sang châu Âu Đức đã vi phạm Hiệp ước Muynich kí với Anh, Pháp thì đối với Liên Xô chỉ còn là thời gian, khi Đức tấn công vào Liên Xô năm 1941

Khi đó phát xít trở thành mối đe dọa nguy hiểm nhất mà các nước lớn trên thế giới phải đặc biệt quan tâm Đó chính là lí do năm 1942 các nước Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh, Pháp trở thành đồng minh chống phát xít Nhưng đây chỉ là đồng minh tạm thời trong thời chiến

Do đó dù là đồng minh nhưng giữa Liên xô và các đồng minh phương Tây của Hoa Kỳ luôn tồn tại sự nghi ngờ, thiếu tin cậy

Trong chiến tranh cả hai không đồng ý về chiến lược quân sự, đặc biệt là Stalin nghi ngờ rằng Anh và Hoa Kỳ đã cố tình trì hoãn việc mở mặt trận thứ hai tiêu diệt phát xít Đức Kết quả Hồng quân Liên Xô bị thiệt hại nặng nề, 20 triệu người chết Stalin đã yêu cầu các nước mở mặt trận thứ hai kể từ những tháng đầu của cuộc chiến mà phải đợi đến tháng 06 năm 1944 mặt trận thứ hai mới được hình thành Nghĩa là một năm trước khi chiến tranh kết thúc Ngay sau khi cuộc chiến bắt đầu vào năm 1941, Liên Xô đã chịu đựng gánh nặng của

Trang 32

hành động quân sự, cố gắng chống lại một cuộc xâm lược lớn của Đức Mặc dù Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D Roosevelt (1882-1945) hứa hẹn viện trợ kinh tế đáng kể cho Liên Xô, nhưng cung cấp các vật tư tương đối ít Trong chiến tranh Hoa Kỳ đã vận chuyển lượng lớn vật chất cho Liên Xô, hỗ trợ Hồng quân đánh bại quân Đức Nhưng ngay sau quân Đức đầu hàng, Hoa Kỳ đã ngừng vận chuyển vật chất chiến tranh từ Hoa Kỳ sang Liên Xô Điều đó làm cho một số chính trị gia tại Moscow cảm thấy khó chịu, và cho thấy Hoa Kỳ không có ý định để hỗ trợ Liên Xô Quan trọng hơn, Roosevelt đảm bảo Stalin vào năm 1942 rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ làm giảm bớt một số áp lực quân sự cho Liên Xô bằng cách thành lập một mặt trận thứ hai ở Tây Âu Tuy nhiên, các vấn đề hậu cần và sản xuất bị hoãn lại, một cuộc xâm lược đồng minh trong nhiều năm Khi các lực lượng đồng minh cuối cùng đã hạ cánh trên bờ biển của châu Âu vào ngày 06 tháng 6 năm 1944, Roosevelt đã không giữ lời hứa của mình với Stalin Đây là biểu hiện rõ nhất cho sự thiếu tin cậy và nghi ngờ của Liên Xô đối với Hoa Kỳ Liên Xô tin rằng, Hoa Kỳ và Anh cố tình trì hoãn mở mặt trận thứ hai chống lại Đức nhằm can thiệp phút cuối để dự phần giải quyết hòa bình sau chiến tranh và thống trị châu Âu Điều này được nhà sử học John Lewis Gaddis nhìn nhận Tổn thất của Liên Xô vượt xa đồng minh và Stalin tin rằng việc giải quyết sau chiến tranh nên phản ánh điều đó Theo Gaddis, mục tiêu sau chiến tranh của Stalin là an ninh, bồi thường thiệt hại và cuối cùng thành lập sự thống trị châu Âu Mục tiêu của Hoa Kỳ bao gồm an ninh trong các hình thức thỏa thuận an ninh tập thể để tránh cuộc chiến tranh trong tương lai và phục hồi sức sống kinh tế Tây Âu Sự chậm trễ này góp phần đáng kể làm tan vỡ quan hệ Liên Xô- Hoa Kỳ sau Thế chiến II

Tất cả những nghi ngờ trên cũng phần nào phản ánh được quan hệ căng thẳng, thiếu tin cậy giữa hai cường quốc, đặc biệt trong quan hệ ngoại giao, trong việc đối phó với kẻ thù chung là phát xít Đức Sự nghi ngờ của lãnh đạo chính phủ hai nước dẫn đến những tính toán trong chính sách đối ngoại nhằm mục đích duy trì an ninh và lợi ích quốc gia, làm suy yếu đi đến tiêu diệt chế độ xã hội của đối phương Hậu quả của sự nghi ngờ trong khối đồng minh thời chiến đã dẫn đến chủ nghĩa phát xít tự do bành trướng và gây chiến tranh xâm lược Tại sao có quá nhiều nghi ngờ lẫn nhau giữa chính phủ của hai nước ? Điều đó cũng

dễ hiểu, bởi vì Stalin là một người quá đa nghi, ngay cả những người từng làm việc bên cạnh ông

Trang 33

2.1.2.3 Bất đồng giữa hai cường quốc tại Hội nghị Yalta và Potsdam

Trong lúc Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn đang tiếp diễn, những người đứng đầu chính phủ ba cường quốc trong đồng minh chống phát xít là Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh đã nhiều lần gặp gỡ nhau nhằm phối hợp chống lại phát xít, vừa để bàn luận kế hoạch tổ chức lại thế giới sau chiến tranh Trong những lần gặp gỡ đó, có thể nói hai cuộc gặp gỡ quan trọng nhất là tại Hội nghị Yalta và Potsdam Thông qua hai cuộc gặp gỡ này, các vấn đề thời hậu chiến được đem ra bàn luận và đi đến nhiều thỏa thuận quan trọng Nhưng trong đó cũng nổi lên những bất đồng giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Nó báo hiệu sự đổ vỡ quan hệ đồng minh Liên Xô và Hoa Kỳ sau chiến tranh

Trong bối cảnh đó, cuộc gặp thượng đỉnh tam cường đã diễn ra từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1945 với sự tham gia những người đứng đầu chính phủ ba nước là chủ tịch hội đồng dân ủy Liên xô Iosif Stalin, tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill Trong cuộc gặp gỡ này, ba cường quốc đã cùng đưa ra và bàn luận những vấn đề quan trọng :

Thứ nhất, vấn đề chiếm đóng Đức và xét xử tội phạm chiến tranh

Thứ hai, vấn đề biên giới phía tây Ba Lan và bầu cử tự do ở Ba Lan

Thứ ba, vấn đề tổ chức lại thế giới sau chiến tranh

Thứ tư, vấn đề bồi thường sau chiến tranh

Thứ năm, vấn đề phối hợp nhằm tiêu diệt phát xít Nhật ở mặt trận Thái Bình Dương

Thứ sáu, tuyên ngôn giải phóng châu Âu

Rõ ràng rằng có quá nhiều vấn đề cần được đưa ra để bàn luận tại cuộc gặp gỡ này Và các vấn đề được bàn luận đều liên quan đến an ninh và lợi ích quốc gia của mỗi cường quốc thắng trận mà hội nghị tại Ianta đã diễn ra trong bầu không khí căng thẳng và sự tranh giành quyết liệt Giữa ba cường quốc đã có những bất đồng trong việc giải quyết vấn đề, đặc biệt trong hai vấn đề :

Trang 34

Vấn đề Ba Lan : là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất Thứ nhất, tranh luận về lực lượng

sẽ nắm quyền chính phủ được thành lập ở Ba Lan Các nước phương Tây ủng hộ Chính phủ

Ba Lan đang lưu vong ở Luân Đôn trở về nắm quyền trong khi Hồng quân Liên Xô giải phóng Ba Lan Thứ hai, Stalin muốn kéo dài lãnh thổ Liên Xô vào đông Ba Lan, phía Tây

Ba Lan sẽ kéo dài sang lãnh thổ Đức nhưng Churchill và Roosevelt đều không đồng ý Bởi

vì Churchill biết rằng mục đích của Stalin là mở rộng sức mạnh ở Ba Lan và Đông Đức Stalin muốn thiết lập chế độ cộng sản ở Ba Lan nhưng cả Churchill và Roosevelt đều không đồng ý Ba Lan giáp phía Tây của Liên Xô, được xem là cửa ngõ đi vào Liên Xô Phía tây Liên Xô lại là vùng hoang mạc, đồi núi không thể che chắn được, không thể chống lại cuộc tấn công từ phía Tây của các nước phương Tây Do đó Stalin muốn biến Ba Lan thành rào chắn bảo vệ phía Tây Liên Xô Nhưng Hoa Kỳ và Anh không đồng ý, cho rằng cần tôn trọng sự dân chủ và tự do Yêu cầu cần phải có một cuộc bầu cử tự do càng sớm càng tốt ở

Ba Lan

Vấn đề bồi thường chiến tranh : mục tiêu của cả hai bên cho vấn đề Đức bồi thường

chiến tranh khác nhau - Stalin muốn Đức bị hủy hoại bởi bồi thường chiến tranh và Stalin muốn được bồi thường nhiều hơn bởi thiệt hại nặng nề do Đức tấn công Anh và Hoa Kỳ muốn có một Đức dân chủ và chủ nghĩa tư bản là một đối tác thương mại thế giới, đủ mạnh

để ngăn chặn sự lây lan của cộng sản về phía tây Do đó nảy sinh bất đồng trong bồi thường chiến tranh, cuộc xung đột bị hoãn lại bằng cách đồng ý thiết lập một ủy ban để xem xét vấn

đề

Tại Hội nghị Yalta, mặc dù có bất đồng giữa lãnh đạo ba cường quốc nhưng các thỏa thuận đàm phán đã cho thấy sự ủng hộ nhiều quyền lợi giành cho Stalin Điều này được lí giải bởi vì Roosevelt muốn Liên Xô giúp đỡ, tham chiến chống Nhật ở Thái Bình Dương, và

đã được chuẩn bị sẵn sàng để đồng ý với hầu như bất cứ điều gì miễn là Stalin đã đồng ý để

đi đến chiến tranh với Nhật Bản Để lôi kéo Liên Xô tham chiến chống Nhật, Roosevelt đã

đồng ý với các điều kiện mà Stalin đưa ra :

Thứ nhất, hiện trạng bên ngoài Mông Cổ ( Cộng hòa nhân dân Mông Cổ) được bảo

quản

Thứ hai, Quyền trước đây của Nga bị vi phạm bởi cuộc tấn công nguy hiểm của Nhật

Bản trong năm 1904 sẽ được khôi phục, tức :

+ Phần phía nam của Sakhalin cũng như các đảo liền kề với nó sẽ được trả lại cho Liên

Trang 35

+ Thương cảng Đại Liên được quốc tế hóa, lợi ích ưu việt của Liên Xô ở đây được bảo vệ, và việc cho thuê cảng Lữ Thuận như một căn cứ hải quân của Liên Xô phục hồi + Đường sắt Trung Quốc-Đông và Mãn Châu Đường sắt Nam, trong đó cung cấp một lối thoát để Dairen, được phối hợp điều hành bởi việc thành lập một công ty chung của Liên Xô-Trung Quốc, điều này được hiểu rằng lợi ích ưu việt của Liên Xô sẽ được bảo vệ

và rằng Trung Quốc sẽ giữ lại chủ quyền ở Mãn Châu

Thứ ba, Quần đảo Kurile sẽ được bàn giao cho Liên Xô

Vì vậy từ những điều kiện có lợi nêu trên, Stalin hứa Liên Xô sẽ tham gia cuộc chiến ở Thái Bình Dương, trở lại cho các khu vực chiếm đóng ở Bắc Triều Tiên và Mãn Châu Liên

Xô cũng đồng ý gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc Như vậy, vì lợi ích chung có liên quan trực tiếp tới nền hòa bình, an ninh và trật tự thế giới mới sau chiến tranh nên cuối cùng lãnh đạo chính phủ ba cường quốc tham gia hội nghị cũng đã đạt được sự đồng thuận trên một số vấn đề : Vấn đề Đức, Vấn đề Ba Lan, Vấn đề tham chiến chống Nhật

Cũng tại Hội nghị thượng đỉnh tại Yalta, ba cường quốc đã cùng nhau phân chia khu vực ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á sau chiến tranh Cụ thể :

Ở châu Âu: Quân đội Liên Xô chiếm đóng và kiểm soát Đông Đức và Đông Béclin

Quân đội Hoa Kỳ, Anh và Pháp chiếm đóng và kiểm soát Tây Đức, Tây Béclin, Italia và một số nước Tây Âu khác Vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô; vùng Tây

Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Hoa Kỳ, trong đó Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập

Ở châu Á: Do việc Liên Xô chấp nhận tham chiến chống Nhật, Hoa Kỳ và Anh đã

chấp nhận những yêu cầu của Liên Xô: duy trì nguyên trạng của CHND Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin và quần đảo Curin bị Nhật chiếm từ sau chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905); quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản; trả lại cho Trung Quốc quần đảo Bành Hồ và Mãn Châu bị Nhật chiếm từ sau năm 1895; quân đội Liên Xô và Hoa

Kỳ rút khỏi Trung Quốc; Trung Quốc tiến tới thành lập một chính phủ liên hiệp có sự tham gia của Đảng Cộng sản Trung Quốc; Hoa Kỳ có quyền lợi ở Trung Quốc; Triều Tiên sẽ trở thành một nước độc lập, nhưng trước mắt quân đội Liên Xô và Hoa Kỳ chia nhau kiểm soát Bắc và Nam vĩ tuyến 38; các vùng lãnh thổ còn lại của châu Á (Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á) vẫn thuộc phạm vi truyền thống của các nước phương Tây

Có thể thấy, những kết quả đạt được giữa Liên Xô, Anh và Hoa Kỳ tại Yalta vào tháng

2 năm 1945 không chỉ thiết lập một sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các nước thuộc phe Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa phát xít ở giai đoạn cuối cùng mà còn đặt

Trang 36

những cơ sở có tính chất nền tảng cho việc hình thành một trật tự thế giới mới sau chiến

tranh mà lịch sử gọi là Trật tự hai cực Yalta do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu mỗi cực với

các khu ảnh hưởng của mỗi nước

Hội nghị Yalta được các chính khách phương Tây đánh giá là Hội nghị thành công nhất của các cường quốc Đồng minh, mặc dù có một số bất đồng Thủ tướng Anh Churchill

tỏ ra vô cùng phấn khởi khi nhớ lại sự kiện này:

“ Thay mặt Chính phủ tôi gửi đến bạn lòng biết ơn đối với tất cả các khách sạn và tình bạn đến phái đoàn Anh tại Hội nghị Crimea …Không có cuộc họp nào trước đó đã cho thấy như vậy, rõ ràng các kết quả có thể đạt được khi ba người đứng đầu chính phủ đáp ứng đầy

đủ các ý định để đối mặt với những khó khăn và giải quyết chúng…….Tôi đang giải quyết, như tôi chắc chắn Tổng thống và bạn sẽ được giải quyết, rằng quan hệ hữu nghị và hợp tác thành lập …” [31]

Winston Churchill gửi 17 tháng 2 năm 1945, cảm ơn Stalin cho 'hiếu khách và tình bạn' tại Hội nghị Yalta

Hội nghị Potsdam

Ngay tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945, đã có dấu hiệu của bất đồng, của cuộc xung đột Cuộc chiến vẫn còn xảy ra, nhưng nó đã rõ ràng rằng Hitler sẽ bị đánh bại, do đó, các đồng minh đã gặp nhau để quyết định làm thế nào họ sẽ tổ chức châu Âu sau chiến tranh Thật dễ dàng để đồng ý để mang lại chiến tranh Đức Quốc xã-tên tội phạm ra xét xử, thừa nhận Nga vào Liên Hiệp Quốc, và phân chia Đức thành bốn khu, chiếm đóng Anh, Pháp, Hoa Kỳ và Liên Xô

Tuy nhiên, căng thẳng về hai điều: thứ nhất, chính phủ được thiết lập ở Đông Âu, đặc biệt là Ba Lan (cuối cùng những đồng minh của bản Tuyên ngôn giải phóng châu Âu đồng ý thiết lập các quốc gia dân chủ và tự quản, việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do càng sớm càng tốt, tự họ lựa chọn chế độ) Thứ hai xung đột bồi thường chiến tranh và đã bị hoãn lại bằng cách đồng ý thiết lập một ủy ban để xem xét vấn đề

Các bất đồng đó tiếp tục được đưa ra tranh luận tại Hội nghị Potsdam, đây là hội nghị thứ hai được các nước đồng minh tổ chức Hội nghị diễn ra từ ngày 17-07 đến ngày 02-08-

1945 tại Potsdam với sự tham dự của các vị đứng đầu nhà nước và chính phủ ba đại cường quốc : Liên Xô ( Đại nguyên soái I.Stalin), Hoa Kỳ (Tổng thống Truman) và Anh (Thủ tướng Churchill) Hội nghị triệu tập trong hoàn cảnh tình hình có nhiều thay đổi khác trước Khi cả ba gặp nhau tại Potsdam tháng 7 năm 1945, lúc này phát xít Đức đã bị đánh bại

Trang 37

Ngoài ra Roosevelt người có thiện cảm với Stalin đã qua đời và kế nhiệm là Tổng thống Truman, người đã tích cực chống Cộng, và Hoa Kỳ đã chế tạo thành công bom nguyên tử, độc quyền vũ khí hạt nhân (khi Liên Xô chưa có) đồng nghĩa Truman không cần sự giúp đỡ của Stalin tại Nhật Bản Và Truman đã có thái độ cứng rắn đối với Stalin Thủ tướng

Churchill đã nói : “ Bây giờ tôi biết những gì đã xảy ra với Truman ngày hôm qua Tôi

không thể hiểu được nó Khi đã đến cuộc họp sau khi đã đọc báo cáo này, ông là một người đàn ông thay đổi” Churchill, nói chuyện vào ngày 22 tháng 7 - về hành vi của Truman vào

ngày hôm đó (tức là ngày sau khi ông đã phát hiện ra về bom nguyên tử)

Như vậy, cán cân quyền lực đã nghiêng về phía Hoa Kỳ Stalin đã ra lệnh cho các nhà lãnh đạo không cộng sản ở Ba Lan bị bắt Trong hoàn cảnh đó, tại hội nghị cả ba cường quốc đã trao đổi các vấn đề quan trọng và không khí căng thẳng :

Thứ nhất, tương lai của Đức và vấn đề bồi thường chiến tranh

Thứ hai, vấn đề Ba Lan và biên giới phía Đông của Ba Lan

Thứ ba, về số phận của các nước Đồng minh hay chư hầu của Đức quốc xã

Thứ tư, về kết thúc chiến tranh tại Nhật

Tại Potsdam, những căng thẳng bên dưới Yalta về vấn đề Đông Âu và bồi thường chiến tranh đã tiếp tục tranh luận, xảy ra bất đồng, xung đột giữa ba cường quốc Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô Mặc dù vậy cả ba cường quốc đã thống nhất các Nghị định thư sau đây : + Thiết lập các khu vực chiếm đóng bốn nước tại Đức Đảng Quốc Xã, chính phủ và pháp luật đã bị phá hủy, loại bỏ các học thuyết phát xít và chủ nghĩa quân phiệt, làm cho Đức có thể phát triển thành công các ý tưởng dân chủ

+ Để đưa tội phạm Đức Quốc xã ra xét xử

+ Công nhận Chính phủ lâm thời Thống nhất Quốc gia Ba Lan và tổ chức các cuộc bầu cử tự do và tự do càng sớm càng tốt

+ Liên Xô được phép bồi thường chiến tranh, và 10% của các thiết bị công nghiệp của các khu vực phía tây

Về vấn đề Nhật Bản : Ngày 27-07-1945 giữa lúc Hội nghị đang diễn ra, một bản

tuyên cáo mang chữ ký của tổng thống Hoa Kỳ H.Truman, thủ tướng Anh Clement và người đứng đầu nhà nước Trung Hoa Tưởng Giới Thạch đã công bố với sự đồng ý của I.Stalin Tuyên cáo nhấn mạnh Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, nếu không “sẽ bị hủy diệt nhanh chóng và hoàn toàn” Tuyên cáo nêu rõ chính sách của các nước Đồng minh đối với Nhật sẽ

là :

Trang 38

+ Vĩnh viễn loại trừ chủ nghĩa quân phiệt và xây dựng một chế độ mới, hòa bình, an ninh và công lý

+ Lãnh thổ Nhật sẽ chỉ còn lại 4 đảo lớn là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikokai

và các đảo nhỏ kề bên

+ Các tội phạm chiến tranh sẽ bị trừng phạt

+ Các quyền tự do ngôn luận, tư tưởng, tôn giáo và những quyền cơ bản khác của con người sẽ được tôn trọng

+ Các nội dung của Tuyên bố Cairo phải được thực hiện

+ Nhật phải bồi thường chiến tranh và giải tán nền công nghiệp chiến tranh

+ Quân đội Nhật phải bị giải giáp hoàn toàn

+ Lực lượng Đồng minh sẽ chiếm đóng Nhật cho đến khia những chính sách trên được hoàn thành và cho đến lúc “ một chính phủ có xu hướng hòa bình và có trách nhiệm được thành lập phù hợp với ý nguyện được tự do bày tỏ của nhân dân Nhật

Tổng thống Truman trình bày thỏa thuận nêu ra trong nghị định thư như là một thỏa hiệp, nhưng trong thực tế, các nước Đồng minh đã công khai không đồng ý về các vấn đề :

Thứ nhất, cách thức chi tiết làm thế nào để phân chia Đức

Thứ hai, không đồng ý về bồi thường chiến tranh Stalin muốn bồi thường từ Đức bởi

vì 20 triệu người đã bị chết trong chiến tranh nhưng Truman không đồng ý

Thứ ba, Hoa Kỳ và Anh không đồng ý chính sách của Liên Xô ở Đông Âu, tạo

ra sự ảnh hưởng của Liên Xô đối với các nước Đông Âu

Nghị định thư đã nhất trí tại Potsdam chỉ đơn thuần lặp lại các thỏa thuận tại Hội nghị Yalta, ngoại trừ rằng Liên Xô được phép để bồi thường chiến tranh từ vùng Xô, và 10% của các thiết bị công nghiệp của các khu vực phía tây

Hai hội nghị được tổ chức thời hậu chiến đã góp phần làm cho quan hệ Liên Xô và Hoa Kỳ ngày càng căng thẳng, bất đồng, không tìm thấy tiếng nói chung khi sự khác biệt giữa ý thức hệ quá lớn Nó báo hiệu sự tan vỡ quan hệ đồng minh thời chiến Liên Xô – Hoa

Kỳ chuyển sang đối đầu Và hai hội nghị Yalta và Potsdam đã xác lập địa vị ưu thế của Liên Xô- Hoa Kỳ, rằng sau khi chiến tranh kết thúc chỉ còn lại hai cường quốc tồn tại là Liên Xô

và Hoa Kỳ Như vậy, góp phần tạo ra cục diện lưỡng cực sau chiến tranh thế giới thứ hai

2.1.2.4 Hiroshima - phá vỡ quan hệ đồng minh Liên Xô và Hoa Kỳ

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), Hoa Kỳ và Liên Xô trở thành đồng minh của nhau, cùng chống kẻ thù nguy hiểm nhất là phát xít Đức Sau chiến tranh quan hệ

Trang 39

đồng minh thời chiến nhanh chóng chuyển sang quan hệ đối đầu, trở thành kẻ thù của nhau Điều này không có gì là bất ngờ, khi sự khác biệt về mọi mặt giữa hai cường quốc là khá rõ ràng Đặc biệt là sự đối lập nhau về ý thức hệ và an ninh, lợi ích quốc gia sau chiến tranh của hai cường quốc là hoàn toàn trái ngược nhau Không phải đợi đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, mà ngay khi chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn, thì sự nghi ngờ thiếu tin cậy giữa chính phủ hai nước đã thể hiện khá rõ ràng Một trong các nguyên nhân góp phần phá vỡ quan hệ đồng minh hai nước sau chiến tranh bắt nguồn từ sự kiện Hiroshima ở Nhật Bản

Có lẽ người dân cả thế giới nói chung và người dân Nhật Bản nói riêng chẳng bao giờ quên sự kiện ngày 6-8-1945 và 9-8-1945 Hoa Kỳ đã làm cả thế giới chấn động bằng việc ném bom nguyên tử vào hai thành phố lớn của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki khiến hàng trăm ngàn dân thường thiệt mạng

Sau khi hai quả bom được ném xuống, chứng tỏ nhiệm vụ hòa giải của Liên Xô đã không thành và đồng minh muốn nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở Nhật Bản Thiên

Hoàng đã chấp nhận tiếp thu Tuyên ngôn Potsdam với lí do: “phía Nhật căn bản chưa

chuẩn bị xong “bản thổ quyết chiến”, nếu cứ mù quáng quyết chiến thì “tất sẽ dẫn đến sự vong quốc diệt chủng của dân tộc”, Trẫm “vẫn còn muốn truyền lại cho con cháu đời sau cái gọi là quốc gia Nhật Bản”.[5]

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra một số lí do thúc đẩy tổng thống Truman quyết định sử dụng vũ khí giết người hàng loạt:

Thứ nhất, Truman muốn nhanh chóng kết thúc chiến tranh trước khi Liên Xô có thể

thực hiện điều đó

Thứ hai, Việc ném bom để Nhật Bản hoảng sợ và nhanh chóng đầu hàng

Thứ ba, dù không nói nhưng qua việc ném bom Truman muốn chứng tỏ sức mạnh của

Hoa Kỳ trước Stalin, muốn gây ấn tượng với Liên Xô và khẳng định ưu thế lãnh đạo thế giới sau chiến tranh Điều này không tránh khỏi sự nghi ngờ và đề phòng của Stalin, vốn dĩ Stalin là người có tính đa nghi Stalin không phải là không nhận thức được ẩn ý sâu xa của việc Hoa Kỳ quyết định sử dụng hai quả bom nguyên tử

Trước tiên, Stalin tỏ ra thái độ tức giận vì Truman đã không nói với ông ấy về bom nguyên tử Truman có đề cập với Stalin về bom nguyên tử vào ngày 24 tháng 7 nhưng không đi thẳng vấn đề chỉ đề cập rằng “Hoa Kỳ đã có một vũ khí mới có sức công phá khủng khiếp” Thứ đến, Stalin nghi ngờ hành động ném bom của Mỹ xuống Hiroshima và

Trang 40

Nagasaki là nhầm vào Liên Xô hơn là Nhật Bản, Stalin nói với Molotov rằng : "Họ đang

giết chết Nhật Bản và đe dọa chúng ta" Stalin đã lên kế hoạch cho các nhà khoa học Liên

Xô phát triển vũ khí hạt nhân của mình, rõ ràng bom nguyên tử đã kích động một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân trong Chiến tranh lạnh Sau đó, trong tháng 2 năm 1946, Stalin đã có bài phát biểu nổi tiếng cáo buộc Mỹ sử dụng lợi thế hạt nhân của mình cho việc bảo vệ chủ nghĩa đế quốc

Bom thay đổi thái độ của Hoa Kỳ, việc Hoa Kỳ giữ độc quyền vũ khí hạt nhân, và vì thế vai trò của Hoa Kỳ tại các Hội nghị thời hậu chiến trở nên vững chắc hơn Tổng thống Truman ném bom ở Hiroshima để nhanh chóng kết thúc chiến tranh tại Nhật Bản trước khi Stalin có cơ hội để kết thúc chiến tranh ở Thái Bình Dương

Như vậy bom nguyên tử đã làm cho quan hệ đồng minh Liên Xô- Hoa Kỳ trở nên căng thẳng và bị phá vỡ ngay sau khi chiến tranh kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, mâu thuẩn giữa Hoa Kỳ và đồng minh phương Tây với Liên Xô lại trở thành mâu thuẩn cơ bản nhất Bom nguyên tử là cú sút cuối cùng kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai thì nó cũng báo hiệu một cuộc chiến tranh mới sẽ bắt đầu, nếu chiến tranh xảy ra thì đó là cuộc chiến tranh hạt nhân, hủy diệt cả nhân loại Do đó, hai siêu cường quốc chỉ dừng lại ở cuộc chiến tranh được gọi là “Chiến tranh lạnh”

2.2 Nguồn gốc Chiến tranh lạnh thông qua mối quan hệ Liên Xô – Hoa Kỳ ở Châu Âu (1945-1947)

2.2.1 Sự mở rộng quyền lực của Liên Xô ở châu Âu

Sau chiến tranh thế giới thứ hai lãnh thổ của Liên Xô được mở rộng đáng kể Trong đó liên quan đến nghị định thư phân chia phạm vi ảnh hưởng Xô-Đức (23-08-1939), Liên Xô

đã giành lại được phần lớn lãnh thổ tách khỏi nước Nga thời kì nội chiến ( 1918 – 1920) và sát nhập những lãnh thổ gần kề nhờ vai trò giải phóng của Hồng quân Liên Xô ở các nước này Nó lí giải tại sao, ở những nước gần kề Liên Xô lại tồn tại lực lượng Hồng quân đông đảo Có thể nói, đây là thời kì Liên Xô tiến hành xây dựng đế chế của mình Đặc biệt là kế hoạch xây dựng Đông Âu thành lá chắn bảo vệ Liên Xô từ phía Tây

Nếu như sức mạnh của đế quốc Hoa Kỳ và Anh được tạo nên chủ yếu bằng sức mạnh hàng hải dựa trên thương mại và thương mại thì Liên bang Nga lại là một quyền lực được

tạo dựng trên đất liền, mở rộng từ trung tâm trong một quá trình bồi tụ lãnh thổ Do đó trong

suốt thế kỷ 19, cải thiện khả năng tiếp cận hàng hải của Nga là một mục tiêu lâu năm trong

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Kenneth M. Jensen, Origins of the Cold War : The Novikov, Kennan and Roberts “ Long telegrams” of 1946 : With Three New Commentaries, United States Institute Of Peace Press Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long telegrams
22. Melvyn P. Leffler and David S. Painter,( 2005) “Introduction,” Origins of the Cold War: An International History,” 2nd Ed., New York: Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction,” Origins of the Cold War: An International History
1. Học Viện Ngoại Giao (2009), Đông Tây Nam Bắc: Diễn biến chính trong quan hệ Quốc tế từ 1945, Nxb, Hà Nội Khác
2. Lê Phụng Hoàng (2007), Lịch sử quan hệ Quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai (Tập 1) 1945-1975, Tài liệu lưu hành nội bộ khoa Lịch Sử ĐHSP- HCM Khác
3. Lê Phụng Hoàng (2005), Lịch sử quan hệ Quốc tế ở châu Âu trong chiến tranh lạnh (1949 – 1991), Tài liệu lưu hành nội bộ khoa Lịch Sử ĐHSP- HCM Khác
4. Lê Phụng Hoàng (dịch), Báo cáo của Bí thư thứ nhất UBTU Đảng Cộng Sản Liên Xô Nikita Khrushev tại Đại hội XX Đảng Cộng Sản Liên Xô ngày 25 – 02 -1956 Khác
5. Nguyễn Hải Hoành (2012), Hồ Sơ Tư Liệu Về Phát Xít Nhật, nghiên cứu lịch sử Khác
6. Lê Vinh Quốc (Chủ biên), Lịch sử quan hệ Quốc tế từ 1945 đến nay (Tập 1), Nxb, TP- HCM Khác
7. Nguyễn Xuân Sơn (1997), Trật tự thế giới thời kì Chiến tranh lạnh, Học viện chính trị quốc gia Khác
8. Nguyễn Văn Hiến, Phạm Thành, Lê Xuân Tiềm (dịch) (1996), Sự đảo lộn của thế giới địa chính trị thế kỉ XXI, Nxb, Chính trị quốc gia HN Khác
9. Trần Nam Tiến (Chủ biên) (2008), Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại (1945-2000), Nxb, Giáo Dục Khác
10. Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2006), Kế Hoạch Marshall : Một chiến lược hiệu quả.Tiếng Anh Khác
11. Richard Crockatt (1996), The Fifty Years War. The Uinited States And The Soviet Union In World Politics 1941-1991, Oxford University Press Khác
12. Michael Dobbs (2012), Six Months in 1945 : FDR, Stalin, Churchill and Truman from world war to cold war, Inc, New York Khác
13. Fischer David (1997), History Of The International Atomic Energy Agency The First Forty Years, The IAE in Austria, tr.15 Khác
14. John Lewis Gaddis (1997), We Now Know: Rethinking Cold War History, Clarendon press. Oxford Khác
15. Roberts, Geoffrey (2006), Stalin's Wars: From World War to Cold War, 1939–1953, Yale University Press Khác
16. Holloway David ( 1994) Stalin and the Bomb : The Soviet Union and Atomic Enery 1939 – 1954, New Haven: Yale University Press Khác
17. Michael L.Dockrill and Michael F. Hopkins (2006), The Cold War 1945-1991, Palgrave Macmillan Houndmills, New York Khác
19. Thomas J. Mccormick (1995), America's Half-Century: United States Foreign Policy in the Cold War and After, The Johns Hopkins University Press Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1   Kho dự trữ vũ khí hạt nhân của Liên xô và Hoa Kỳ, 1945-2005 - quan hệ liên xô – hoa kỳ và nguồn gốc chiến tranh lạnh ở châu âu (1945  1950)
Hình 1.1 Kho dự trữ vũ khí hạt nhân của Liên xô và Hoa Kỳ, 1945-2005 (Trang 78)
Hình 2.2 Tranh biếm họa ngày 11 tháng 8 năm 1945 của họa sĩ - quan hệ liên xô – hoa kỳ và nguồn gốc chiến tranh lạnh ở châu âu (1945  1950)
Hình 2.2 Tranh biếm họa ngày 11 tháng 8 năm 1945 của họa sĩ (Trang 79)
Hình 2.4  Tranh biếm họa về sự  mở rộng quyền lực ở châu Âu của Stalin - quan hệ liên xô – hoa kỳ và nguồn gốc chiến tranh lạnh ở châu âu (1945  1950)
Hình 2.4 Tranh biếm họa về sự mở rộng quyền lực ở châu Âu của Stalin (Trang 80)
Hình 2.5  Tranh biếm họa Stalin cố gắng chặn quả bóng - quan hệ liên xô – hoa kỳ và nguồn gốc chiến tranh lạnh ở châu âu (1945  1950)
Hình 2.5 Tranh biếm họa Stalin cố gắng chặn quả bóng (Trang 81)
Hình 3.2  Tranh biếm họa Stalin cố gắng ngăn chặn - quan hệ liên xô – hoa kỳ và nguồn gốc chiến tranh lạnh ở châu âu (1945  1950)
Hình 3.2 Tranh biếm họa Stalin cố gắng ngăn chặn (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w