1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan hệ đối ngoại của nhật bản từ năm 1868 đến năm 1912

144 779 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 8,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng các "hiệp ước bất bình đẳng", các đế quốc phương Tây đã từng bước Mục đích của luận văn là cố gắng tìm hiểu một cách có hệ thống quan hệ đối ngoại của Nhật Bản giai đoạn 1868 - 1912

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LÊ THANH TÙNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi chân thành c ảm ơn Quý thầy, cô Khoá Lịch sử, cán bộ phòng Sau Đại học - Công ngh ệ, thầy hướng dẫn, cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,Vi ện khoá học xã hội và nhân văn tại thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hướng

d ẫn, giúp đỡ tôi về tài liệu, góp ý kiến trong quá trình tôi thực hiện luận văn

LÊ THANH TÙNG

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa khoá học và mục đích nghiên cứu

Ngày nay, Nhật Bản được biết đến với tư cách là một trong những cường quốc kinh tế,

có quan hệ rộng rãi với các nước và có tầm ảnh hưởng quan trọng trên trường quốc tế

Tuy nhiên, trong quá khứ, cho đến giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ở Nhật Bản đã suy yếu và khủng hoảng trầm trọng Nền thống trị của Mạc phủ vấp phải sự chống đối mạnh

mẽ của các thế lực phong kiến địa phương cũng như của đại đa số nhân dân lao động trong

cả nước Sản xuất nông nghiệp lạc hậu trong khi thủ công nghiệp, thương nghiệp bị kìm hãm nhất là ngoại thương do chính sách đóng cửa của chính quyền

Trong bối cảnh đó, Nhật Bản lại phải đối mặt với nguy cơ xâm lược từ các đế quốc phương Tây Bằng các "hiệp ước bất bình đẳng", các đế quốc phương Tây đã từng bước

Mục đích của luận văn là cố gắng tìm hiểu một cách có hệ thống quan hệ đối ngoại của

Nhật Bản giai đoạn 1868 - 1912 thông qua những biến đổi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, rút ra những mặt tích cực và hạn chế của quá trình đó

Mặt khác, khi các mối quan hệ quốc tế đang được đa phương hoá, đa dạng hoá và quốc

tế hoá như hiện nay, việc tìm hiểu quan hệ đối ngoại của Nhật Bản trong quá khứ cũng góp

phần giúp chúng ta quán trịệt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác đối ngoại

2 Lịch sử nghiên cứu vân đề và nguồn tài liệu

Việc nghiên cứu Nhật Bản nói chung đã từ lâu được các nhà khoá học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu

Những vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là "Lịch sử Nhật Bản" (nói chung) và "Cải cách Minh Trị" (Meiji)

Trang 8

Cụ thể, từ trước năm 1975, tác phẩm: "Nước Nhựt Bổn ba mươi năm duy tân" [32] của Đào Trịnh Nhất, trình bày khái quát một giai đoạn của công cuộc duy tân ở Nhật Bản Với tác phẩm "Chính trị Nhật Bản (1854-1954)" [4], Quang Chính trình bày khá kỹ về chính sách đối nội, đối ngoại của Nhật Bản từ năm 1854 đến năm 1954, sử dụng nhiều tài liệu quan trọng của các tác giả trong và ngoài nước Châm Vũ Nguyễn Văn Tần viết "Nhật Bản lược sử" [52], tuy là "lược sử" gồm năm tập, tác phẩm này đã bao quát gần như toàn bộ lịch

sử Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực từ lịch sử đến kinh tế, văn hoá, chính trị, quân sự, Trong tác phẩm này, tác giả chủ yếu sử dụng tài liệu của những nhà nghiên cứu Nhật Bản Năm

1969, tác phẩm "Nhật Bản duy tân dưới thời Minh Trị Thiên hoàng" [31] của Nguyễn Khắc

Ngữ tiếp tục đi sâu tìm hiểu về công cuộc duy tân của Nhật Bản

Sau năm 1975, lịch sử Nhật Bản giai đoạn 1868 - 1912 được đề cập khái quát trong các giáo trình, tiêu biểu như "Lịch sử cận đại thế giới" [33] hay các tác phẩm viết về Nhật

Bản như "Lịch sử Nhật Bản" của Lê Văn Quang [42], Phan Ngọc Liên [22],

Từ năm 1986, với đường lối đổi mới, cải cách của Đảng cộng sản Việt Nam, các tạp chí: "Nghiên cứu lịch sử", "Nghiên cứu Nhật Bản" đã đăng nhiều bài viết của các tác giả trong và ngoài nước phân tích sâu hơn về từng vấn đề của lịch sử Nhật Bản giai đoạn 1868 -

Hoàng Minh Lợi với "Đường lối chính trị, đối ngoại và quân sự của chính quyền Minh

Trị thời kỳ 1886 - 1912" [24]; Đặng Xuân Kháng viết về "Bối cảnh quốc tế của cuộc Minh

Trị duy tân" [15] và "Mon Arinori và công cuộc cải cách giáo dục thời Minh Trị" [16]; Nguyễn Ngọc Nghiệp có loạt bài viết về "Vai trò của Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi) đối với cải cách Minh Trị" [36], "Vai trò của Thiên hoàng trong thời kỳ Minh Trị

ở Nhật Bản" [37] và "Nhật, Bản học tập phương Tây thời Minh Trị"[38]; tác giả Phan Hải Linh phân tích những biến đổi về trang phục, ẩm thực và nhà ở của người Nhật Bản thời Minh Trị trong bài "Bunmei Kaika và sự biến đổi trong đời sống vật chất của người Nhật" [23]

Trang 9

Một số tác giả nước ngoài cũng có bài đăng như Mitani Hiroshi (Nhật Bản) với bài

"Cuộc cách mạng Minh Trị: sự thay đổi cơ cấu, những tổn thất và vai trò của chủ nghĩa dân

tộc "[8]; tác giả Hoàng Đại Tuệ (Trung Quốc) có bài "Khảo sát lịch sử quốc tế hoá của Nhật

Bản"[55],

Sách nước ngoài cũng được dịch và xuất bản ở Việt Nam như "Nước Nhật một trăm năm sau Minh Trị" [1], "Đây nước Nhật " [3] đều do Bộ ngoại giao Nhật Bản giới thiệu sơ lược về đất nước, con người Nhật Bản nhất là từ sau cải cách Minh Trị Tiếp theo là tác

phẩm "Nhật Bản quá khứ và hiện tại "[45] và "Nhật Bản câu chuyện về một quốc gia" [46]

của Edwin o Reischauer; "Lịch sử Nhật Bản"[30] của R.H.P Mason và J.G Caiger trình bày khá chi tiết về loch sử Nhật Bản; Pierre Antoine Donnet có tác phẩm "Nước Nhật Bản mua cả thế giới"; Shiraishi Masaya có công trình nghiên cứu công phu về "Phong trào dân

tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản - Tư tưởng Phan Bội Châu về cách mạng và

thế giới" [29] Fukuzawa Yukichi có tác phẩm "Cách tân giáo dục thời Minh Trị" [59] Đặc

biệt, tác giả Vĩnh Sính, người có nhiều năm nghiên cứu về Nhật Bản, bằng tác phẩm "Nhật

Bản cận đại" [48] đã giới thiệu khá toàn diện về nước Nhật Bản thời Minh Trị Nhà nghiên

cứu người Nga Ivanốp cũng có tác phẩm đề cập về "Sự phát triển của chủ nghĩa quân phiệt

Nhật" [14]

Ngoài tác phẩm " Japanese history" [61] khái quát toàn bộ lịch sử Nhật Bản; những sách tra cứu quan trọng về lịch sử Nhật Bản bằng tiếng Anh như "Historical and geographical dictionary of Japan" [62] hay về ngoại giao của Nhật Bản có "Historical Foreign Dictionary of Japan" [64]; "The Autobiography of Fukuzawa Yukichi"[63]

Nhìn chung, nguồn sử liệu đề cập đến lịch sử Nhật Bản và quan hệ đối ngoại của Nhật

Bản thời Minh Trị khá phong phú Tuy nhiên, do chưa có điều kiện tiếp cận tất cả các nguồn tài liệu nên tôi chủ yếu sử dụng các nguồn tài liệu hiện có trong nước Trong đó, tôi chú ý sử

dụng các bài viết của tác giả Nguyễn Tiến Lực, Nguyễn Văn Kim, Trịnh Tiến Thuận, những người có dịp nghiên cứu trực tiếp tại Nhật Bản, có điều kiện tiếp xúc nhiều tài liệu nước ngoài, nhất là nguồn tài liệu xuất bản tại Nhật Bản

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 10

1.Vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp logic, người viết đặt Nhật

Bản trong bối cảnh chung của khu vực châu Á và thế giới, thời kỳ lịch sử cận đại để nghiên

cứu

2.Phương pháp liên ngành, do quan hệ đối ngoại của Nhật Bản thể hiện trên nhiều lĩnh

vực nên tồi nghiên cứu cả về giáo dục, kinh tế, văn hoá lẫn chính trị, quân sự

3.Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài việc kế thừa bài viết của các tác giả, người

viết cũng nghiên cứu, xử lý tài liệu, đối chiếu tài liệu trong, ngoài nước và tư liệu gốc, trên

cơ sở đó sắp xếp, trình bày vấn đề theo lịch sử khách quan của nó

Người viết sử dụng phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh mối liên hệ giữa các sự

kiện lịch sử, sự thật lịch sử như nó đã từng tồn tại

4.Giới hạn nội dung nghiên cứu

Vấn đề luận văn đặt ra là tìm hiểu quan hệ đối ngoại của Nhật Ẹản trong giai đoạn (1868-1912), được coi là có ảnh hưởng to lớn đến vận mệnh và tương lai của Nhật Bản về

nội dung, luận văn chủ yếu tìm hiểu khái quát bối cảnh Nhật Bản trước 1868, thất bại của

Nhật Bản trong việc vận động ngoại giao xoá bỏ các hiệp ước "bất bình đẳng" và công cuộc

cải cách đất nước (1868 - 1885), quá trình xâm lược và bành trướng thuộc địa (1886 - 1912) Cụ thể, luận văn tập trung giải quyết những nội dung sau:

Khái quát quan hệ đối ngoại của Nhật Bản trước năm 1868

- Nguyên nhân thất bại trong việc vận động xoá bỏ các hiệp ước "bất bình đẳng", công

cuộc cải cách và kết quả, giai đoạn (1868 - 1886)

- Vì sao Nhật Bản chọn con đường xâm chiếm thuộc địa, nguyên nhân và hệ quả, giai đoạn (1886 - 1912)

5.Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 163 trang

Nội dung chính 120 trang

MỞ ĐẦU Chương 1 TỔNG QUAN

Trang 11

Chương 2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ CẢI CÁCH ĐẤT NƯỚC (1868- 1885)

Chương 3 CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VÀ BÀNH TRƯỚNG THUỘC ĐỊA (1886-1912)

KẾT LUẬN

Trang 12

C hương 1: TỔNG QUAN 1.1 Nhật Bản "đóng cửa " (Sakoku)

1.1.1 Đảo quốc Nhật Bản

Với hơn bốn nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó có bốn đảo lớn là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku, lãnh thổ Nhật Bản trải dài theo hình cánh cung, ngoài khơi Thái Bình Dương, chếch về phía Đông Bắc châu Á (Từ Tây sang Đông là 124° - 148° kinh độ Đông,

từ Bắc xuống Nam là 46° - 25° vĩ độ Bắc), ba hướng Bắc, Tây và Nam giáp với Liên bang Nga, bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc, phía Đông là Thái Bình Dương Vì vậy, trong quá trình phát triển của mình, Nhật Bản có nhiều mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hoá từ rất

sớm với các nước láng giềng Nhật Bản đã tiếp thu nhiều kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, tư tưởng (Nho giáo, Phật giáo, ), văn hoá (chữ Hán), từ Trung Quốc , Triều Tiên(thếkỷlV-VI)

Vào thế kỷ thứ I, ở Nhật Bản đã hình thành hơn một trăm tiểu quốc, trong đó, lớn

mạnh hơn cả là nước Yamatai do nữ vương Himiko cai trị, có quan hệ thường xuyên với Trung Quốc và Triều Tiên

Đến thế kỷ thứ IV, xuất hiện quốc gia Yamato với nhân vật nổi tiếng là Thái tử Shotoku, người từng sang Trung Quốc du học và dùng danh xưng Thiên hoàng (Tenno) đầu tiên khi giao thiệp với nhà Tùy (581-618) Thời kỳ này, Nhật Bản cũng đã xâm chiếm và

thống trị Triều Tiên trong gần hai thế kỷ (391-562)

Năm 645, sau khi lật đổ thế lực của dòng họ Shoga, Thiên hoàng Kotoku tiến hành cải cách Taira (646-649) thiết lập chế độ phong kiến ở Nhật Bản Tuy nhiên, nét đặc thù của

lịch sử Nhật Bản là bên cạnh ngôi vị tuyệt đối của Thiên hoàng, các dòng họ có thế lực luôn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng

Từ thế kỷ thứ VIII-XII, chế độ phong kiến Nhật Bản tiếp tục phát triển qua các thời kỳ Nara (710-794), Heian (794-1192) Trong thời kỳ này, dòng họ Fudiwara thâu tóm quyền hành về tay mình

Năm 1185, sau khi vô hiệu hoá quyền lực của dòng họ Fudiwara, dòng họ Minatomo đánh bại họ.Taira, thiết lập ngôi vị Tướng quân (Shogun), xây dựng chính quyền và hộ phủ riêng gọi là chế độ Mạc phủ (Bakufu) (1192-1333) Triều đình Thiên hoàng chỉ tồn tại trên

Trang 13

danh nghĩa Trong thời kỳ này, Nhật Bản đánh bại hai cuộc xâm lược của quân Mông cổ vào các năm 1274 và 1281

Từ năm 1333-1560, Nhật Bản lâm vào tình trạng chia cắt, tranh chấp quyền lực và hỗn chiến ác liệt

Năm 1560, Oda Nobunaga (1534-1582) lần lượt đánh bại các thế lực phong kiến cát

cứ Năm 1590, Hideyoshi (1536-1598) cơ bản thống nhất đất nước, xâm chiếm Triều Tiên vào các năm 1592, 1597 nhưng thất bại do có sự can thiệp của quân nhà Minh (1368-1644) Năm 1603, đánh bại các thế lực chống đối, Tokugavva Ieyasu (1542-1616) tự xung Tướng quân, mở đầu thời kỳ Mạc phủ Tokugawa (1603-1867)

Chính quyền Tokugavva đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ chế độ Mạc phủ

Để duy trì nền hoà bình, thống nhất của đất nước, Tướng quân thâu tóm quyền lực vào tay mình Đề phòng các lãnh chúa chống đối Mạc phủ, Tướng quân chia cắt lãnh thổ thành nhiều phần lớn nhỏ và ban cấp cho các lãnh chúa tuy vào tước vị của họ Tướng quân chia các lãnh chúa làm ba loại

Cao nhất là những người trong dòng họ Tokugavva, gọi là Gosanke, được hưởng nhiều quyền lợi, nhiều đất đai và trấn thủ ở bốn nơi khác nhau (Tướng quân Ieyasu cai quản vùng Edo, ba người con của ông là Nagoya (Owari), Wakayama (Kii) và Hitachi (Mito), vừa tránh tranh giành nội bộ, vừa làm tai mắt của Mạc phủ, chế ngự các dòng họ lãnh chúa khác

Kế tiếp là lãnh chúa Đại danh (Fudai Daimyo), những lãnh chúa trung thành, có công giúp dòng họ Tokugawa gầy dựng cơ nghiệp Họ cũng được hưởng nhiều ưu đãi, được cấp nhiều khu đất tốt xung quanh Edo và lãnh địa của nhà Tokugavva, có tất cả 176 Fudai Daimyo

Loại thứ ba là Tozama Daimyo, gồm có 86 người, những lãnh chúa này từng chống lại dòng họ Tokugawa nên chỉ được hưởng một ít ưu đãi và thường bị Tướng quân cảnh giác đề phòng Để ngăn họ liên kết với nhau, chính quyền Mạc phủ thay đổi lãnh địa của họ và sắp

xếp xen kẽ với lãnh địa của Fudai Daimyo

Cẩn thận hơn, từ năm 1634, Tướng quân Iemitsu ban hành luật Sankin Kotai (Tham

cần giao đại hay "luân phiên có mặt") đối với 276 lãnh chúa Theo đó, hàng năm các lãnh chúa phải sống ở Edo sáu tháng và khi họ trở về lãnh địa của mình thì phải để vợ, con ở lại làm con tin

Trang 14

Ngoài ra, để làm suy yếu thực lực của các lãnh chúa, chính quyền Mạc phủ còn buộc các lãnh chúa phải đóng góp rất nặng nề Tướng quân cũng ngăn cấm con cháu hoàng tộc và các lãnh chúa không được lấy nhau

Mạc phủ cũng chú ý xây dựng quân đội chuyên nghiệp lên đến năm mươi nghìn người, chia làm hai loại là Hatamoto ("thân binh") và Samurai (võ sĩ) Nếu tính cả quân lính của các lãnh chúa con số này lên đến năm mươi vạn người (!)

Nhờ vậy, chính quyền Mạc phủ đã củng cố vững chắc nền thống trị của mình, duy trì

trật tự và ổn định của đất nước trong hơn hai trăm năm mươi năm

Cuộc cách mạng Netherland (1566-1572) thắng lợi, báo hiệu sự thay thế của chế độ tư

bản đối với chế độ phong kiến ở châu Âu

Năm 1640, cách mạng tư sản Anh bùng nổ và thắng lợi, mở đường cho chủ nghĩa tư

bản phát triển

Cách mạng tư sản Pháp, Chiến tranh giành độc lập của mười ba bang thuộc địa Anh ở

Bắc Mỹ, thắng lợi đưa đến việc xác lập hệ thống tư bản trên phạm vi thế giới

Chủ nghĩa tư bản ra đời thúc đẩy nền sản xuất của các nước Âu - Mỹ phát triển trên quy mô lớn nhưng đồng thời nó cũng đặt ra những yêu cầu bức thiết về nguyên liệu, lương

thực, nhân công và thị trường tiêu thụ hàng hoá Đây chính là động lực thúc đẩy các nước tư

bản Âu - Mỹ đẩy mạnh công cuộc xâm chiếm, thống trị và khai thác thuộc địa

Ngay từ thế kỷ XV, với những tiến bộ về khoá học - kỹ thuật, hàng hải, đóng tàu, phát minh la bàn, thông qua các cuộc phát kiến địa lý vĩ đại của Christophe Colomb (? - 1506), Vasco de Gama (? - 1524), Magenllan (1480 - 1521), giai cấp tư sản châu Âu đã tìm thấy

những vùng đất mới, những dân tộc mới, những nguồn tài nguyên dồi dào ở châu Mỹ, châu Phi và châu Á

Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là hai đế quốc đi đầu trong công cuộc chinh phục thuộc địa Họ đã làm chủ những con đường buôn bán chủ yếu trên biển, vơ vét tài nguyên của các nước Mỹ la tinh, săn bắt nô lệ từ châu Phi bán sang châu Mỹ Khi các đế quốc Tây Ban Nha

và Bồ Đào Nha suy yếu, các nước Anh, Pháp, Đức, Mỹ, bắt đầu tham gia tranh giành thuộc địa Sau châu Mỹ và châu Phi, châu Á trở thành mục tiêu xâm lược của các đế quốc phương Tây

Trang 15

Đến 1849, sau những cuộc tranh giành khốc liệt, Anh độc chiếm Ấn Độ

Ở khu vực Đông Nam Á, Hà Lan chiếm Indonesia; Anh chiếm Malaysia, Myanmar; Tây Ban Nha khống chế Philippin; Đông Dương trở thành thuộc địa của Pháp; Thái Lan đặt dưới ảnh hưởng của Anh, Pháp,

Ở Đông Bắc Á, các đế quốc tranh nhau xâu xé Trung Quốc

Tóm lại, cuối thế kỷ XIX, hầu hết đất đai trên thế giới đều bị các đế quốc phương Tây

biến thành thuộc địa của mình

Năm 1543, một thuyền buôn của ba thương nhân người Bồ Đào Nha trên đường từ bờ

biển Quảng Đông (Trung Quốc ) đi Mallacca thì bị bão đánh dạt lên đảo Tanegashima, phía Nam đảo Kyushu được coi là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự tiếp xúc giữa người phương Tây

và người Nhật Bản Từ đây, người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tranh nhau đến lập nghiệp

ở duyên hải Tây Nam Nhật Bản, từ Kyushu qua Nagano đến Sakai Họ được các lãnh chúa

ưu đãi vì lúc này tại Nhật Bản đang xảy ra nội chiến Ngoài việc mang hàng hoá đến mua bán, trao đổi, thương nhân phương Tây còn mang súng đến Nhật Bản Các lãnh chúa có thể mua súng từ người châu Âu, nhờ họ huấn luyện binh lính để tăng cường sức mạnh quân sự

của mình Năm 1549, Nobugana đã mua năm trăm khẩu súng trang bị cho binh lính của mình Năm 1567, lãnh chúa vùng Kai, Takeda Shingen đã tuyên bố "Súng sẽ trở thành vũ khí quan trọng nhất trong chiến tranh" Hiệu quả của thứ vũ khí mới này được chứng minh vào ngày 29 tháng 06 năm 1575, khi Oda Nobunaga chỉ huy bốn vạn quân có trang bị súng

bảo vệ lâu đài Nagashino, đánh bại lực lượng nổi dậy của các samurai

Cùng đi với các thương nhân châu Âu là các giáo sĩ Thiên Chúa Họ đến Nhật Bản để truyền Đạo Sớm nhất là giáo sĩ Dòng Tên (Jésuites) Francis Xavier (1506-1552), người Tây Ban Nha, đến Nhật Bản vào năm 1549

Do muốn thoát khỏi sự khống chế của chính quyền trung ương, củng cố thế lực của mình lại sớm thấy được địa vị của các giáo sĩ trong xã hội phương Tây, các lãnh chúa thông qua các giáo sĩ để phát triển buôn bán với phương Tây, mua sắm vũ khí Họ chẳng những cho phép mà còn bảo vệ việc truyền giáo, tiêu biểu là thái độ của Nobunaga Ông cho phép xây dựng nhà thờ, thậm chí còn bảo trợ cho cuộc tranh luận giữa các giáo sĩ và các tăng lữ

Phật giáo (!) [2, tr 71] Ngoài việc truyền Đạo, các giáo sĩ còn mở trường học (năm 1582,

họ đã gởi bốn nam thiếu niên sang châu Au học tập), bệnh viện, làm từ thiện, xuất bản báo chí, nên thu hút được nhiễu tín đồ Năm 1582, đạo Thiên Chúa phát triển từ Tây Nam qua

Trang 16

Kanto đến Oii, với bảy mươi lăm giáo sĩ, hai trăm giáo đường và mười lăm vạn tín đồ [40,

tr 324] Ba mươi năm sau con số này là một trăm năm mươi vạn

Cho đến đầu thế kỷ XVI, Tướng quân Ieyasu vẫn tiếp tục mở cửa đất nước để khuyến khích ngoại thương, nâng đỡ Thiên Chúa giáo Nhờ vậy, ngoài các giáo sĩ Dòng Tên, còn có các giáo sĩ dòng Dominicains, Franciscains, Augustins Cụ thể, chính quyền có nhiều chính sách ưu đãi thương nhân nước ngoài như cho phép họ được lập nghiệp, mở cửa hàng ở Nhật

Bản để kinh doanh, miễn thuế nhập nội các loại hàng hoá cho thương nhân Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha, nhiều thương nhân còn được nhập tịch Nhật Bản, lấy tên Nhật Bản, kết hôn

với người Nhật Bản Chính quyền còn tận dụng khả năng của kiều dân châu Âu để mở rộng quan hệ ngoại thương hoặc làm cố vấn cho chính quyền Nhờ đó, 1609, Công ty Đông Ân

Hà Lan (VOC) được mở cửa hàng tại Hirado Năm 1613, Công ty Đông Ấn của Anh (EIC) cũng được mở cửa hàng tại đó

Như vậy, lúc đầu, Nhật Bản đã tích cực đón nhận người phương Tây và Thiên Chúa giáo Nhưng sau.này, chính quyền Mạc phủ dần dần ý thức được mối đe doa nền thống trị

của mình từ người phương Tây mà trực tiếp là từ các giáo sĩ Thiên Chúa Vì vậy, chính quyền Mạc phủ đã có những động thái hạn chế sự phát triển của đạo Thiên Chúa và giao thương với các nước phương Tây

Các giáo sĩ dọn đường cho thực dân phương Tây xâm lược Nhật Bản thông qua việc

cấu kết với các lãnh chúa miền Tây Nam chống đối và làm suy yếu chính quyền Mạc phủ Hơn nữa, sự phát triển Thiên Chúa giáo cũng gây ra mâu thuẫn với các tôn giáo khác như Shinto (Thần Đạo), nhất là Phật giáo, vốn rất phát triển ở Nhật Bản từ trước Vì vậy, nó gây

trở ngại cho sự thống nhất đất nước

Ngay trong những năm cầm quyền của mình, Tướng quân Toyotomi Hideyoshi 1598) đã ban hành sắc lệnh đầu tiên (1587) hạn chế sự hành đạo của Thiên Chúa giáo và

(1536-trục xuất các nhà truyền giáo nhitìig sắc lệnh này đã không được thi hành một cách nghiêm

ngặt Sau đó, lệnh này được thu hồi [2, tr 71]

Năm 1612, Tướng quân Ieyasu ban hành lệnh cấm đạo Thiên Chúa đầu tiên Sau khi ông chết (1616), việc bài đạo trở nên gắt gao hơn và việc hạn chế buôn bán với người châu

Âu cũng bắt đầu Ngay cả việc buôn bán với Triều Tiên cũng bị giới hạn tại Tsushima Thời

Trang 17

Tướng quân Iyemitsu (1623-1642), việc bài đạo, trục xuất giáo sĩ và giết hại giáo sĩ, trịệt phá nhà thờ và sát hại tín đồ Thiên Chúa giáo diễn ra kịch liệt nhất

Năm 1623, Mạc phủ từ chối tiếp sứ thần Tây Ban Nha

Năm 1633, chính quyền xuống dụ cấm tàu bè trong nước xuất ngoại trừ các tàu go skawin bune (tàu có dấu đỏ của Tướng quân cho phép) Công dân Nhật Bản xuất cảnh quá

hạn bị tử hình, những người trốn ra nước ngoài cũng bị xử như thế

Năm 1637, chính quyền cũng cấm đóng tàu lớn trên năm trăm koku (l koku tương đương 120 kg) nhằm ngăn chặn dân Nhật Bản liên lạc với bên ngoài

Đỉnh điểm của chính sách này là sau sự kiện Shimabara (1637-1638) Năm 1637, Masuda Shiro Tokisada cầm đầu nông dân, võ sĩ và một số tín đồ Thiên Chúa giáo nổi dậy chiếm lâu đài Hara Arima Chính quyền Mạc phủ huy động hai mươi vạn quân giết sạch hai

vạn người, kể cả mười bảy vạn phụ nữ và trẻ em

Tất cả các gia đình tại Nhật Bản được lệnh phải trình diện tại một ngôi đền ở địa phương hàng năm và cung cấp bằng chứng cho việc họ không bị tiêm nhiễm Thiên Chúa giáo [61, tr 103]

Các kiều dân Bồ Đào Nha bị nghi đã giúp đỡ những người nổi dậy ở Shimabara bị trục

Chỉ có người Triều Tiên và Trung Quốc được tiếp tục buôn bán

Năm 1682, việc cấm đạo trở nên gay gắt thêm

Năm 1709, giáo sĩ Sidotti, người Sicile, theo tàu Tây Ban Nha đổ bộ lên đảo Yakushima ở phía Nam vịnh Kagoshima thì bị bắt và giam tại Nagasaki cho đến chết bảy

Trang 18

năm sau đó Từ đây, không một giáo sĩ nào đến Nhật Bản cho đến khi có lệnh cho tự do truyền giáo

Chính sách "đóng cửa" nhưng "không cài then" của Nhật Bản đã duy trì trong suốt hơn hai trăm năm! Suốt thời gian này, hoạt động ngoại thương của Nhật Bản bị giảm sút nghiêm

trọng Nhật Bản cũng không được tiếp xúc với những thành tựu khoá học lớn ở thế kỷ XVIII của châu Âu và giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp Năm 1650, Nhật Bản có trình độ công nghiệp xấp xỉ châu Âu nhưng hai trăm năm sau đó tình hình đã khác Tuy vậy,

Nhật Bản đã có những bước tiến đáng kể về tổ chức chính trị, xã hội, văn hoá và thương mại [42, tr 235] Nhật Bản cũng không phải chịu số phận của một thuộc địa nên có điều kiện thuận lợi để cận đại hoá đất nước khi có thời cơ

1.2 Nhật Bản “mở cửa”(Kaikoku)

1.2.1 Sức ép của phương Tây

Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các nước thực dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, vốn giành ưu thế trên các tuyến đường buôn bán quốc tế và nhiều vùng lãnh thổ rộng

lớn đã từng bước đi vào con đường suy thoái, tỏ ra chậm phát triển hơn so với các nước tư

bản khác Theo quy luật tự do cạnh tranh, những nước đó phải nhường vị trí bá chủ trên nhiều lĩnh vực cho các quốc gia "tư bản trẻ" như Anh, Pháp, Đức, Mỹ và Nga, vốn có tiềm

lực kinh tế và sức mạnh quân sư hơn hẳn [18, tr 72]

Từ trước đó, nhiều cường quốc phương Tây đã xác định khu vực Thái Bình Dương, bao gồm vùng Đông Bắc Á, có một vị trí chiến lược rất quan trọng Đây không chỉ là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế mà còn giữ vị trí cầu nối trong hệ thống giao thương giữa phương Tây và phương Đông, đồng thời là cửa ngõ trọng yếu để xâm nhập vào các nước Đông Bắc

Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương Thị trường Đông Bắc Á được coi là mục tiêu quan

trọng mà các đoàn thương thuyền và chiến thuyền Âu Mỹ nhắm đến Trong đó, Nhật Bản,

với vị trí địa lý trải dài từ Bắc xuống Nam trên 3800 Km, có nhiều hải cảng tốt, được coi là huyết mạch giao thông trên con đường vươn tới phương Đông giàu có

Tuy nhiên, trong cái nhìn của phương Tây, Nhật Bản là một quốc gia tương đối mạnh

so với nhiều nước ở châu Á Đó là một quốc gia được tổ chức tốt, người dân ở đây có tinh

thần kỷ luật, ý chí tự cường và lòng tự tôn dân tộc cao độ Hơn nữa, chính sách "đóng cửa"

của chính quyền phong kiến Nhật Bản được áp dụng trong hơn hai trăm năm thực sự là một

Trang 19

thách thức lớn lao đối với các nước Âu - Mỹ có tham vọng mở rộng phạm vi ảnh hưởng,

khẳng định vị trí và quyền lợi của mình ở Nhật Bản

Nga là nước láng giềng của Nhật Bản nên các tàu thám hiểm và hải quân của họ đã

sớm đi lại trên vùng biển Nhật Bản

Năm 1700, Nga tuyên bố khẳng định chủ quyền của Nhật Bản ở Kamtchatka và ba mươi sáu năm sau, tàu Nga đã thăm dò một số đảo phía Nam quần đảo Kurile Các chiến

hạm Nga cũng tiếp cận Hokkaido, một trong bốn đảo lớn nhất của Nhật Bản ở phía Bắc Năm 1792, theo lệnh Nga hoàng, một chiếc tàu Nga do Laxman chỉ huy đã xâm nhập vào hải phận cảng Matsumae, phía Nam Hokkaido Sự kháng cự của các lãnh chúa địa phương buộc chiếc tàu này phải lập tức ra khỏi lãnh Hải Nhật Bản

Mặc dù vậy, Nga vẫn nhiều lần tìm cách khai thông quan hệ với Nhật Bản để trao đổi thương mại

Năm 1799, Nga lập công ty Nga - Mỹ, chuyên khai thác và thiết lập quan hệ buôn bán

với vùng Viễn Đông Dự kiến đến năm 1803, công ty này sẽ mở được tuyến buôn bán ở khu

vực Thái Bình Dương, khai thông quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản

Tháng 10 năm 1804, thuyền trưởng Adam Kousenstern cùng một đại diện công ty Nga

- Mỹ là Nikolai Rezanov đã đến Nagasaki trình thư của Nga hoàng Czar Alexander I đề nghị Nhật Bản mở quan hệ buôn bán Chờ mãi đến sáu tháng sau (tháng tư năm 1805), chính quyền Nhật Bản mới thông báo cho phái viên Nga biết đề nghị và quà tặng của Nga

hoàng không được chấp nhận Vì vậy, Nga đã tính đến việc dùng vũ lực buộc Nhật Bản mở

cửa

Với quyết tâm mở cửa Nhật Bản, trong suốt gần năm mươi năm, Nga liên tục gây sức

ép yêu cầu chính quyền Edo cho thiết lập quan hệ thương mại và thoá thuận về chủ quyền hai nước Khi Mỹ có những động thái hướng đến vùng này, sợ bị chậm chân, năm 1853, Nga hoàng ra lệnh cho công ty Nga - Mỹ chiếm Sakhalin Thắng lợi này thôi thúc Nga tiến

mạnh về hướng Đông để rồi sau đó, với các hiệp ước năm 1858 và 1860, Trung Quốc phải

chấp nhận lấy sông Amur làm giới tuyến và vùng Issuri cũng như toàn bộ Vladivostok đều thuộc về chủ quyền của đế chế Nga

Cũng trong năm 1853, theo lệnh Nga hoàng, chuẩn đô đốc Evfimii Putiatin lại đến

Nhật Bản đề nghị Nhật Bản thiết lập quan hệ thương mại và thoá thuận vấn đề biên giới

Trang 20

Putiatin đến Nagasaki vào tháng 08, chỉ vài tuần sau khi chiến hạm của Mỹ tiến vào vịnh Edo Như vậy, cho đến năm 1853, tuy sức ép của Nga chưa đủ để cho Mạc phủ thay đổi chính sách "đóng cửa" nhưng sự xuất hiện thường xuyên của tàu đánh cá và tàu chiến Nga

đã khiến cho chính quyền Edo hết sức lo ngại về sự đe dọa của cường quốc láng giềng phía

Bắc Trước sự xâm nhập của các đoàn tàu Nga, chính quyền Edo cũng có ý thức đầy đủ hơn

về vấn đề an ninh và chủ quyền của Nhật Bản ở Hokkaido và vùng phụ cận

Hà Lan là nước châu Âu duy nhất còn giữ được quan hệ với Nhật Bản suốt thời gian

"đóng cửa" nhưng đến giữa thế kỷ XIX, Hà Lan vẫn muốn Nhật Bản thay đổi đường lối đối ngoại Lấy danh nghĩa hoàng đế William II, bộ trưởng thuộc địa Hà Lan là Jean C Band đã

cử một phái viên đặc biệt là H F Coops đến Nagasaki ngày 15 tháng 08 năm 1844, mang theo thư của William li cùng một số vật phẩm làm quà biếu Phía Nhật Bản hứa sẽ xem xét nhưng không trả lời cụ thể Không chờ được, Coops rời Nhật Bản về Batavia Trong thư, chính phủ Hà Lan cho rằng Nhật Bản nên thức thời mở cửa để khỏi phải lập lại bài học đau đớn của Trung Quốc Bức thư nhấn mạnh: "Gần đây Trung Quốc đã đánh nhau với Anh Họ

đã huy động tất cả nguồn lực cho cuộc chiến tranh này (Chiến tranh thuốc phiện) nhưng

cuối cùng phải gánh chịu thất bại trước ưu thế về sức mạnh quân sự của Anh Trung Quốc

buộc phải thay đổi nhiều nguyên tắc, chấp thuận mở năm hải cảng cho người châu Âu vào buôn bán." Bức thư còn thẳng thắn cảnh báo: " Nếu chúng ta xem xét khuynh hướng chung

hiện nay thì sẽ thấy, quan hệ giữa các quốc gia đang được mở rộng, việc phát minh ra tàu hơi nước khiến cho khoảng cách giữa các quốc gia rút ngắn lại" Vì vậy, " Trong bối cảnh toàn thế giới đang mở rộng giao lưu quốc tế thì việc đoạn tuyệt với các mối quan hệ đó chỉ

có thể tạo nên sự thù địch và cứ tiếp tục duy trì các định kiến lỗi thời chắc chắn sẽ đẩy đất nước đến thảm họa" [18, tr 74] Bức thư của chính phủ Hà Lan có ảnh hưởng nhất định đến quan điểm đối ngoại của giới cầm quyền Nhật Bản Nhưng chính quyền Edo vẫn cố gắng sử

dụng sức mạnh chính trị để duy trì trật tự xã hội phong kiến, tiếp tục theo đuổi chính sách

"đóng cửa"

Cũng trong thời gian Nga và Hà Lan tìm cách buộc Nhật Bản mỡ cửa, nhiều tàu buôn, tàu chiến của Anh, Pháp và một số nước khác ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn trên vùng biển Nhật Bản Trong các năm 1816, 1822, 1824, 1825, 1843, 1846, tàu Anh đến các

cảng Nhật Bản xin được vào tránh bão và cung cấp nhiên liệu nhưng nhìn chung đều bị

Nhật Bản từ chối Tháng 05 năm 1854, John Davis, đại diện thương mại và Toàn quyền Anh

ở Hongkong đã phác thảo một kế hoạch bí mật với nội dung cơ bản là dùng sức mạnh hải

Trang 21

quân để "làm một canh bạc lớn" ở Nhật Bản Mục đích của Anh là buộc Nhật Bản phải

"thần phục" và dành cho Anh những đặc quyền như đã đạt được ở Trung Quốc qua "Điều ước Nam Kinh" (08/1843)

Tóm lại, với nhiều mức độ khác nhau, các nước phương Tây tìm cách gây sức ép yêu

cầu chính quyền Edo phải mở cửa đất nước

Để đối phó, Mạc phủ đã ra lệnh cho các lãnh chúa phải tăng cường phòng vệ ven biển, được phép tấn công nếu các tàu nước ngoại vi phạm chủ quyền, về đối nội, năm 1862, chính quyền Edo đã ra quyết định bãi bỏ chế độ Sankin kotai, cho phép các lãnh chúa trở về lãnh địa của mình để chuẩn bị binh lực, sẩn sàng đối phó với tình hình mới Kể cả Mito Nariaki, lúc này đang bị giam giữ ở Edo cũng được thả ra Tình hình chính trị chỉ thực sự thay đổi khi các chiến hạm Mỹ xuất hiện trong vùng biển Nhật Bản

Ngay từ năm 1797, dưới danh nghĩa công ty Đông Ân Hà Lan, tàu Eliza của Mỹ do thuyền trưởng Stewart chỉ huy đã đến Nagasaki

Đến năm 1798, vẫn dưới danh nghĩa (VOC), tàu Franlin do James Devereux làm thuyền trưởng cũng tiến vào hải phận Nhật Bản

Năm sau, tàu Salem do thuyền trưởng John Derby chỉ huy lại thực hiện một chuyến đi tương tự

Năm 1815, thuyền trưởng Porter, được sự uy nhiệm của chính phủ Mỹ, đã đến Nhật

Bản và chuyển một văn thư chính thức yêu cầu Nhật Bản mở cửa nhưng vẫn bị từ chối Mặc

dù vậy, quyết tâm biến Nhật Bản thành cứ điểm của Mỹ ở Bắc Thái Bình Dương đã trở thành một vấn để thường trực trong chủ trương của chính giới Mỹ Bộ trưởng ngoại giao John Quincy Adams từng nhấn mạnh: "Sứ mệnh của các quốc gia Cơ đốc giáo là mỡ cửa

Nhật Bản và Nhật Bản phải đáp ứng yêu du đó Cơ sở của sứ mệnh đó là ở chỗ, không có

một dân tộc nào lại có thể chối từ trách nhiệm của mình vì lợi ích của toàn thể nhân loại" Năm 1832, Edmund Robert được chính thức bổ nhiệm làm đại diện của chính phủ Mỹ,

có trách nhiệm đi thương thuyết và ký hiệp ước với các nước phương Đông Nhưng E Robert chưa hoàn thành nhiệm vụ thì qua đời (1836) Cho đến năm 1845, mặc dù Mỹ đã nhiều lần đưa ra đề nghị nhưng phía Nhật Bản vẫn kiên quyết từ chối, giữ vững quan điểm

của mình Trước tình hình này, chính quyền Mỹ đề ra kế hoạch cử một phái đoàn chính thức sang Nhật Bản và Triều Tiên Năm 1846, một đội tàu gồm hai chiếc Colombus và

Trang 22

Vincennes do Đề đốc James Biddle chỉ huy, được sự uy nhiệm của Tổng thống Mỹ J.K Polk đã đến Nhật Bản Ồng trình thư của Tổng thống Mỹ, mong muốn được thiết lập quan

hệ ngoại giao với Nhật Bản Mười ngày sau, phái đoàn Mỹ nhận được văn thư từ chối mà theo họ lý do là không xác đáng (Phía Nhật Bản viện dẫn là do vấn đề truyền thống!) Song các đoàn tàu Mỹ vẫn tiếp tục hướng về Thái Bình Dương và đã đặt được cơ sở chính ở Oregon, Caliíòrnia, chuẩn bị cho việc mở rộng ảnh hưởng sang châu Á về sự việc này, năm

1848, Bộ trưởng tài chính Mỹ Robert J Walker đã nhận định: " Với những gì chúng ta đạt được vừa qua, châu Á đột nhiên trở thành láng giềng của chúng ta, với một đại dương yên bình nằm giữa hai châu lục, các con tàu hơi nước của Mỹ sẽ có một lợi thế thương mại lớn hơn tất cả các nước châu Âu khác" [18, tr 75]

Như vậy, sau rất nhiều cố gắng, con đường tiến vào Nhật Bản của các đoàn tàu Mỹ

vẫn chưa được khai mở Trong vòng bảy năm tiếp theo, các hạm đội hải quân Mỹ và những đoàn tàu buôn, tàu săn cá voi vẫn thường xuyên xuất hiện ngoài khơi biển Nhật Bản Đến

giữa thế kỷ XIX, chỉ riêng ngành săn cá voi đã mang đến nguồn lợi lớn cho các công ty Mỹ Theo tính toán, vốn đầu tư của các công ty Mỹ tập trung cho ngành công nghiệp này lên đến mười bảy triệu đô la, một số tiền khổng lồ vào thời gian đó Trong lúc đó, các tàu Mỹ vẫn thường hư hỏng hoặc lâm nạn Một trạm tiếp tế lương thực, than, nước ngọt, cho các chuyến đi biển dài ngày là nhu cầu cấp bách chưa thiết lập được Mặc dù chính quyền và

giới chủ tư bản Mỹ vẫn tiếp tục gây sức ép đối với chính quyền Nhật Bản nhưng họ vẫn chưa đạt được một kết quả cụ thể nào Tuy nhiên, trước áp lực ngày càng tăng của Mỹ cũng như nhiều nước phương Tây, chính quyền Nhật Bản đã phải suy tính đến một khả năng có

thể cần phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại, về nguyên tắc, lệnh yêu cầu các lãnh chúa

tiếp tục phong toa bờ biển vẫn không có gì thay đổi nhưng từ ngày 24 tháng 07 năm 1872, tàu nước ngoài khi vào các cảng Nhật Bản có thể được chính quyền sở tại cung cấp nhiên

liệu, nước ngọt và thực phẩm Điều đáng chú ý là chính quyền Mạc phủ ngày càng không

thể giành quyền chủ động trong toàn bộ các quan hệ đối ngoại Sự xâm nhập của các đoàn tàu ngoại quốc vào vùng biển Ryukyu, Nagasaki, Hakodate, Shimoda, trở nên thường xuyên hơn Một số lãnh chúa cũng tỏ ra không sấn sàng chống lại các đoàn tàu phương Tây khi chúng cố tình xâm phạm lãnh hải Nhật Bản

Năm 1853, Đề đốc Mathew Calbraith Perry (1794-1858) đã tạo ra một bước ngoặt mới trong quan hệ Mỹ - Nhật Bản Lúc 17 giờ, ngày 15 tháng 07 năm 1853, sự xuất hiện bất ngờ

của của bốn tàu chiến với những cỗ máy khổng lồ chạy bằng hơi nước và có thể chạy ngược

Trang 23

chiều gió trong vịnh Uraga đã khiến cho toàn bộ dân chúng Edo vô cùng lo sợ Thành Edo

bị đặt trong tầm đại pháo trên các chiến hạm do Peưy chỉ huy Người ta tin rằng một cuộc chiến khốc liệt với phương Tây sắp xảy ra Nhưng trái với tinh thần hoảng sợ của dân

chúng, ngay sau khi Perry đến Uraga, viên đại diện chính quyền Edo đã trịnh trọng nhắc lại

lệnh "toa quốc" của Nhật Bản và yêu cầu đoàn tàu Mỹ phải rời đến cảng quốc tế Nagasaki

Đó là nơi duy nhất Nhật Bản có thể giao tiếp, thoá thuận với người nước ngoài Bằng một thái độ cương quyết, viên Đề đốc yêu cầu phải gặp được Tướng quân để trực tiếp trao quà

và trình thư của Tổng thống Mỹ

Thái độ cứng rắn của Perry (cộng với thực lực về vũ khí và phương tiện) đã khiến cho

Mạc phủ phải nhân nhượng Thông qua viên phái bộ, Mạc phủ cam kết sẽ trả lời yêu cầu

của phía Mỹ vào năm sau qua đại diện của Hà Lan ở Nagasaki Bức thư của Tổng thống Millard Rllmore gởi chính quyền Nhật Bản có ba yêu cầu cơ bản:

1.Nhật Bản mở cửa đất nước để giao lưu thương mại và thiết lập quan hệ hữu nghị

giữa hai nước

2.Cứu trợ và chữa trị nhân đạo đối với các thúy thủ Mỹ bị đắm tàu hay bị nạn tại vùng

vũ khí của Hà Lan nhưng mặt khác phải tính đến những giải pháp chính trị thực tế khác

Bức thư của Tổng thống Mỹ đặt chính quyền Edo trước hai sự lựa chọn: Thứ nhất, nếu

tiếp tục thực hiện chính sách "đóng cửa" thì Nhật Bản phải tăng cường thêm nữa khả năng phòng thủ đất nước Điều này có nghĩa là phải tăng thêm binh lực trong khi nguồn tài chính

của Mạc phủ và nhiều lãnh chúa địa phương đã cạn kiệt Hơn nữa, nếu Nhật Bản tiếp tục chính sách "đóng cửa", chống lại đề nghị của phương Tây thì một cuộc chiến tranh giữa Mỹ

và Nhật Bản cùng với nhiều nước phương Tây sẽ có thể diễn ra và Nhật Bản rất khó tránh

khỏi vết xe đổ của Trang Quốc

Sự lựa chọn thứ hai là nếu chấp nhận yêu cầu của Mỹ thì Nhật Bản phải sửa đổi thậm chí xoá bỏ chính sách "đóng cửa" truyền thống Chủ quyền và độc lập dân tộc sẽ bị Mỹ và

Trang 24

các nước thực dân xâm phạm Đổi lại Nhật Bản sẽ trạnh được một cuộc chiến tranh đang đến gần, đồng thời có nhiều khả năng vẫn tiếp tục duy trì được nền độc lập tương đối của mình

Trong lúc bối rối, chính quyền Mạc phủ đã đi đến một quyết định chưa từng thấy trong

suốt hai trăm năm mươi ba năm cầm quyền: ra lệnh sao y bức thư của Tổng thống Mỹ, rồi

gởi cho Thiên hoàng và tất cả các lãnh chúa Mạc phủ yêu cầu những người nhận thư sớm cho biết quan điểm thực tế, thẳng thắn của mình Ba tuần sau khi đoàn tàu chiến Mỹ rời vùng biển Ryukyu, Mạc phủ đã nhận được chiếu dụ của Thiên hoàng và khoảng bốn mươi văn bản trả lời của các lãnh chúa Trước một thách thức liên quan đến sự tồn vong của dân

tộc, trên thực tế ở Nhật Bản đã hình thành ba khuynh hướng và quan điểm khác biệt nhau

Thứ nhất, các lãnh chúa thuộc "phe bảo thủ", đứng đầu là Mito Nariaki (cả Triều đình Kyoto) chủ trương tiếp tục theo đuổi chính sách "đóng cửa", đề cao lòng tự hào dân tộc và quyết tâm bảo vệ đến cùng chủ quyền dân tộc, không thể để cho "đất nước của thần linh" bị xâm phạm Nariaki xây thành ở Shinagawa để bảo vệ thủ đô, tặng Mạc phủ súng đại bác do ông đúc ra và lập thêm công binh xưởng để đúc khí giới

Quan điểm thứ hai là của những lãnh chúa "phái ôn hoá", đứng đầu là Abe Masahiro

Họ khuyên chính quyền nên "mở cửa thử" ba năm, năm năm hay mười năm, sau đó tuy theo tình hình sẽ đưa ra quyết định cụ thể Ngoài Hà Lan, Nhật Bản có thể thiết lập thêm quan hệ

với Mỹ và Nga nhưng không thể nhân nhượng Anh, Pháp Trong bất kỳ tình huống nào,

Nhật Bản cũng phải kiên quyết bảo vệ chủ quyền dân tộc

Khuynh hướng thứ ba thuộc về "phái cấp tiến" Satsuma và giới trí thức, tư sản Phái này chủ trương phải thức thời và có tầm nhìn rộng hơn trước những biến chuyển căn bản

của tình hình thế giới Từ kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực nếu Nhật Bản muốn thoát khỏi nguy cơ của một cuộc chiến tranh mà sự thất bại là khó tránh khỏi thì phải mở

cửa đất nước, phát triển kinh tế, thương mại Chủ quyền và danh dự dân tộc có thể bị xâm

phạm nhưng từng bước, dựa vào sức mạnh tự cường sẽ giành lại được thế chủ động về chính trị và ngoại giao [18,tr 77]

1.2.2 Những "Hiệp ước bất bình đẳng"

Trong khi chính quyền Edo còn chưa đưa ra một quyết định cụ thể nào và cuộc tranh

biện giữa các quan điểm cũng chưa đi đến một sự lựa chọn, khả năng tối ưu nào thì ngày 13 tháng 01 năm 1854, Perry lại chỉ huy đoàn tàu gồm chín chiếc, trang bị 250 súng đại bác

Trang 25

cùng 1800 quân, trong tư thế sẩn sàng chiến đấu, lại xuất hiện tại vịnh Uraga, cửa ngõ của Edo Dân chúng tản cư vì sợ đại bác có thể sẽ bắn vào nhà mình Không còn con đường nào khác, Mạc phủ phải hẹn gặp đại diện của chính phủ Mỹ tại Kanạgavva (Yokohama), một

cảng thị phía Nam Edo Sau nhiều vòng đàm phán, trước áp lực liên tục của phía Mỹ, ngày

31 tháng 03 năm 1854, Nhật Bản phải nhượng bộ và ký hiệp ước "Hoà bình và hữu nghị"

với Mỹ trong một căn nhà gỗ mới cất tại Kanagavva nên bản Hiệp ước này còn được gọi là

"Hiệp ước Kanagaxva" Nội dung của Hiệp ước này gồm 12 điều với,những khoản chính là: 1.Xác lập mối quan hệ thân thiện giữa hai nước, cho phép nhân dân hai bên được qua

lại, tạm trú và sử dụng cơ sở của đôi bên

2.Tàu thuyền Mỹ được vào hai cảng Shimoda và Hokodate để buôn bán và tạm trú

Mỹ được lập lãnh sự quán tại Shimoda

3.Tàu thuyền Mỹ được chính quyền Nhật Bản ưu tiên trợ giúp trên toàn lãnh thổ

7.Tàu thuyền Mỹ được miễn khai báo trong việc trao đổi tiền tệ, mua bán nhu yếu

Bản Hiệp ước đã chấm dứt 215 năm theo đuổi chính sách "đóng cửa" của chính quyền

Mạc phủ Có thể khẳng định, trong bối cảnh chính trị mới, chính quyền phong kiến không

thể tiếp tục duy trì chính sách "đóng cửa" để bảo vệ an ninh đất nước và địa vị thống trị của mình

Tóm lại, quyết định mở cửa với phương Tây của chính quyền Edo là một cố gắng cuối cùng nhằm tiếp tục giữ thế chủ động trong vấn đề ngoại giao Tuy nhiên, sự nhân nhượng

đó của chính quyền Nhật Bản đã đẩy đời sống chính trị xã hội của Nhật Bản đến một thực

trạng vô cùng phức tạp Các xu hướng chính trị phân hoá rõ rệt và vận động với tốc độ nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Mạc phủ "Việc ký các hiệp ước đã đưa Nhật

Bản đến cuộc khủng hoảng, nhưng Nhật Bản không còn lựa chọn nào khác bởi vì nó chưa

đủ mạnh để chống lại phương Tây"

Trang 26

Một thời đại mới trong lịch sử quan hệ quốc tế của Nhật Bản được mở ra Sau bản

Hiệp ước này, đúng như dự đoán của một số lãnh chúa và học giả, việc Nhật Bản ký hiệp ước với Mỹ đã mở ra một tiền lệ, theo đó, Nhật Bản không thể từ chối những đề nghị mở

cửa tiếp theo của nhiều nước khác

Tiếp theo, Nhật Bản phải ký những hiệp ước tương tự với Anh (14/10/1854); Nga (02/07/1855), với Hà Lan (30/01/1856)

Trước tình hình nhiều nước phương Tây cũng được ký với Nhật Bản những hiệp ước tương tự như mình, năm 1856, Tovvnsend Harris (lãnh sự Mỹ đầu tiên đến Nhật Bản ) liên

tục gây áp lực, buộc Nhật Bản phải ký bể sung một hiệp ước mới "Hiệp ước thương mại bổ sung Nhật Bản - Mỹ", bao gồm mười bốn khoản chính và bảy khoản phụ Sau đây là những

nội dung chủ yếu:

1 Xác nhận quan hệ thân thiện Nhật Bản - Mỹ

2.Ngoài hai cảng Shimoda và Hakodate, nay mở thêm bốn cảng là Yokohama, Nagasaki, Nigata và Kobe

3.Quy định mức thuế đánh vào các hàng hoá của thương gia Mỹ thấp hơn 50% so với

của thương gia Nhật Bản

4.Thương gia Mỹ cũng được tự do giao dịch với dân Nhật Bản

5.Tiền Mỹ được lưu hành trên toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản, tỷ giá hối đối do hai bên thương lượng

6.Công dân Mỹ được hưởng "trị ngoại pháp quyền",

Bảy khoản phụ qui định: quyền tự do buôn bán của người Mỹ tại sáu hải cảng trên, không khống chế số lượng, chủng loại hàng hoá nhập, xuất và không cần khai báo với chính quyền Nhật Bản; chính phủ hai nước sẽ thảo luận, điều chỉnh mức thuế sau mỗi năm năm [52, tr 136-138], [64, tr 724]

Ngoài ra, Nhật Bản còn ký hiệp ước với Pháp (07/10/1858), Bồ Đào Nha (03/08/1860), Đức (25/01/1861) và những nước khác là Italia, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Bỉ, Thúy Sĩ, Áo-Hung, Thúy Điển, Na Uy, Peru, Hawaii, Trung Quốc, Triều Tiên, Thái Lan, Mexico,

Trang 27

Như vậy, sau khi Hiệp ước với Mỹ, Nhật Bản đã ký hiệp ước ngoại giao và thương

mại với tất cả hai mươi nước và khu vực lãnh thổ của ba châu lục [18, tr 75]

1.2.3 Hậu quả

Việc chính quyền Mạc phủ liên tiếp ký các hiệp ước bất bình đẳng với các đế quốc phương Tây đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các lãnh chúa Họ cho rằng Tướng quân

vừa bất lực vừa lạm dụng quyền bính của Thiên hoàng

Phái "Bài ngoại" (sono joy) lo sợ làn sóng ảnh hưởng của Âu Tây đe doa nền độc lập mong manh của Nhật Bản Vì theo họ, người ngoại quốc vào Nhật Bản đã làm giá cả tăng

vọt Một trong những nội dung của các hiệp ước qui định tiền của Mỹ được lưu hành tại

Nhật Bản Trong khi ở châu Âu và Mỹ, một lượng vàng đổi được mười năm lượng bạc, trái

lại ở Nhật Bản, một lượng vàng chỉ đổi được năm lượng bạc Bọn thương buôn Âu Mỹ đem

bạc đổi lấy vàng rồi đem bán lại để hưởng chênh lệch Chỉ từ tháng sáu đến cuối năm 1859,

số vàng từ Nhật Bản chuyển ra nước ngoài lên đến một triệu lượng [58, tr 60] Từ năm 1860-1867, lúa gạo trượt giá mười bốn lần, giá muối tăng mười lần [34, tr 307]

Trong khi đó, phái "Bảo hoàng" yêu cầu khôi phục uy tín và quyền bính cho Thiên hoàng, đả phá chế độ Tướng quân Phái này bao gồm các cận thần, lãnh chúa Satsuma, Chosu và Tosa, vốn căm ghét dõng họ Tokugawa Vì vậy, mục đích chính của họ là lật đổ Tướng quân

Tuy cả hai phái không hợp nhau nhiứig vì cùng căm ghét Mạc phủ nên họ tạm liên kết

với nhau và đưa ra khẩu hiệu "Tái lập quyền bính cho Thiên hoàng, trục xuất người ngoại

quốc" ("Tôn vương, nhượng di - sono joy ")

Mashahiro và Matsamutsa phải xoá dịu họ bằng cách hứa với Mito Nariaki là sẽ đưa con ông là Keiki lên ngôi Tướng quân Nhưtig Ii Naosuke không đồng ý, ông thu xếp để Iesada chỉ định Iemochi lên ngôi Ngày 14 tháng 08 năm 1858, Tướng quân Iesada qua đời, Iemochi (mới 12 tuổi) lên thay, gây ra bất bình giữa các lãnh chúa Ii Kammon no Kami được cử làm "Nhiếp chính" Việc này khiến Nariaki tức giận, chống lại Kammon no Kami

dữ đội

Chính Thiên hoàng cũng bất mãn nên mật chiếu cho Mito Nariaki cầm đầu phong trào

trục xuất người ngoại quốc Các lãnh chúa bị Tướng quân bắt giữ cũng hứa đưa quân giúp phe "Bảo hoàng" Mito cũng liên kết được nhiều võ sĩ bất mãn với chế độ Mạc phủ

Trang 28

Kammon no Kami phản ứng lại bằng cách giữ Nariaki lại trong phủ của mình và cấm Keiki ra vào Một số lãnh chúa khác cũng bị quản thúc tại gia

Tướng quân vừa bị các cường quốc o ép lại vừa bị phe "Bảo hoàng" chống đối Để tìm

lối thoát, Ii Naosuke áp dụng biện pháp mạnh

Tháng 10 năm 1858, Ii Naosuke loan báo cử Manabe Norikatsu và Nagano Shuzen về Kyoto để giải thích đường lối của ông, song sự thực là để tìm cách triệt hạ phe chống đối Manabe bắt giữ sáu mươi người chống đối gồm hoàng thân, võ sĩ, trí thức và các nhà

tư sản theo phe "Bảo hoàng" Đồng thời ở Edo, Ii Naosuke cũng hành động tương tự (Trong số này, những người như Yoshida Shoin, Hashimoto Sanai, Raimi Kisaburo, Umida Embin, đều bị giết) [52, tr 141]

Vụ đàn áp này khiến phe chống đối tan rã và bắt buộc Thiên hoàng phải tấn phong cho Iemochi và duyệt y các hoà ước mà trước kia ông chưa ký

Từ tháng 08 năm 1858, lãnh chúa của Satsuma là Shimazu Nariakira yêu cầu Mạc phủ

cải thiện quan hệ giữa Kyoto và Edo, cải cách chính sách cai trị Sau đó, ông mất và nhường

chức vị cho cháu là Tadayoshi dưới quyền "nhiếp chính" của em mình là Shimazu Hisamitsu (Saburo) Lúc đầu lãnh chúa Satsuma vẫn chống Mạc phủ nhưng sau khi phe

"Bảo hoàng" bị đàn áp, ông phải nhượng bộ Thế nhưng phe "Bảo hoàng" bắt đầu hành động

Ngày 24 tháng 03 năm 1860, Ii Naosuke cùng tuy tùng đi đến phủ Tướng quân thì bị

một toán người của Mito ám sát Ando Nobumasa lên thay li Naosuke Để cải thiện quan hệ

giữa Kyoto và Edo đồng thời cô lập phái chống đối, Ando dàn xếp để Tướng quân Iemochi cưới em gái Thiên hoàng Komei Nhưhg lỊgày 14 tháng 02 năm 1862, Ando cũng bị ám sát, tuy không chết nhưng phải rút khỏi chính quyền

Trong khi chính quyền mâu thuẫn, chia rẽ và xung đột thì phong trào "bài ngoại" lên cao

Ngày 25 tháng 08 năm 1858, một sĩ quan và hai thúy thủ Nga bị ám sát ở Yokohama Ngày 06 tháng 11 năm 1859, một người Trung Quốc làm việc cho sứ quán Pháp cũng

bị giết tại đó

Trang 29

Ngày 25 tháng 02 năm 1860, hai thuyền trưởng dân sự tàu Hà Lan cũng bị giết tại Yokohama Cùng ngày, một nhân viên lãnh sự quán Pháp ở Edo bị ám sát và viên thông ngôn người Nhật Bản của sứ quán Anh cũng chung số phận

Ngày 14 tháng 01 năm 1861, viên thông dịch sứ quán Mỹ là Henskin (người Hà Lan)

lại bị ám sát

Chính quyền Mạc phủ phải cho binh lính bảo vệ các sứ quán Nhưng đêm 04 rạng ngày 05 tháng 07 năm 1861, sứ quán Anh lại bị tấn công, làm bị thương hai nhà ngoại giao Thúy quân Anh phải đổ bộ để bảo vệ sứ quán họ

Các vụ khủng bố liên tiếp xảy ra Đến đầu năm 1862, hai lính gác của sứ quán Anh bị

giết Tình hình căng thẳng đến mức các lãnh sự quán Anh, Pháp, Hà Lan, phải dời từ Edo

về Yokohama Riêng lãnh sự Mỹ Townsend Harris ở lại Edo vì được chính quyền hứa bảo

vệ các ngoại kiều bằng mọi cách

Nhưtig chỉ ít lâu sau, phái đoàn ngoại giao Anh đi thăm các toa lãnh sự các nơi về đến Edo lại bị tấn công, làm bị thương ông Oliphant Tướng quân sợ Anh trả đũa nên đích thân

viết thư xin lỗi nữ hoàng Victorya và trấn an dư luận

Những cố gắng của Tướng quân trở nên vô ích, vì ngày 14 tháng 09 năm 1862, ba người Anh trong đó có Richardson cùng với một phụ nữ đang cưỡi ngựa đi dạo thì bắt gặp đoàn người của lãnh chúa Satsuma - Soemon Theo lệ thường, những người Anh phải xuống

ngựa và nhường đường nhưng họ không làm Tức giận, tuy tùng của Soemon xông vào đánh đập bọn người Anh, làm Richardson chết, những người khác bị thương nặng

Chính phủ Anh lập tức cử hạm đội đến Yokohama đòi chính quyền Nhật Bản phải xin

lỗi và bồi thường Chính quyền Mạc phủ xin lỗi, xin bồi thường và hứa sẽ trừng trị những

kẻ giết người, đồng thời xin ý kiến Thiên hoàng

Lúc này, Thiên hoàng củng cố uy quyền của mình và đẩy phong trào "bài ngoại" đi xa hơn Nhờ vậy, sau vụ ám sát Ando, thế lực của phe "Bảo hoàng" mạnh lên Các lãnh chúa Shimazu Saburo ở Satsuma, Mori Motonori ở Chosu tích cực ủng hộ Thiên hoàng

Ngày 18 tháng 06 năm 1862, Thiến hoàng cử hoàng thân Ohara Shigenori, có lãnh chúa Saburo và các samurai hộ tống đến Edo để yêu cầu Tướng quân cho các lãnh chúa về

họp ở Kyoto, thả các lãnh chúa bị bắt năm 1858, cử Hitoshubachi Keiki làm "nhiếp chính",

Trang 30

cữ Matsadaira Yoshinaga làm Thượng thư, cố vấn cho Mạc phủ và chuẩn bị trục xuất người ngoại quốc ra khỏi đất nước

Trong khi đó, lãnh chúa Yamanouchi ở Tosa cũng ngã về phe "Bảo hoàng" để thành

lập lực lượng liên minh Sát - Cho - To (Satsuma, Chosu và Tosa), về sau đóng vai trò quan

trọng trong công cuộc "Duy tân"

Ngày 17 tháng 10 năm 1862, Mạc phủ ban hành sắc luật bãi bỏ "sankin kotai" Các lãnh chúa chỉ phải ở Edo một trăm ngày trong ba năm (Đối với các Tozama chỉ phải ở một năm trong ba năm Đối với Fudai và Hatamoto chỉ phải ở hai trăm ngày trong một năm) Từ đây, các lãnh chúa xa lánh dần Edo, quyền uy của Mạc phủ giảm sút, trung tâm chính trị chuyển về Kyoto Tướng quân Iemochi thường về Kyoto chầu Thiên hoàng, rồi Keiki và Yoshinaga cũng làm như thế, đi lại Kyoto luôn

Shimazu Saburo đem quân đóng ở Kagoshima từ tháng lo năm 1862 để làm hậu thuẫn cho Thiên hoàng cùng một số lãnh chúa và samurai khác

Ngày 05 tháng 06 năm 1863, Thiên hoàng quyết định trục xuất người ngoại quốc từ ngày 26 tháng 06 và yêu cầu các lãnh chúa trở về địa phương mình để lấy quân

Trước đó, ngày 08 tháng 06, Iemochi xin về Edo nhưng bị buộc ở lại Kyoto

Lúc này, Anh đòi giải quyết gấp vụ Richardson Triều đình phải để Keiki về Edo để thu xếp việc này và cử Ogasavvara đi Yokohama để điều đình thẳng với sứ thần ngoại quốc Ngày 25 tháng 06, khi tàu Pemborke của Mỹ đi qua eo biển Shimonoseki thì bị tấn công Vài ngày sau, tàu Kiêng chang của Pháp cũng bị bắn phải rút về Bungo

Ngày 11 tháng 07, Tàu Hà Lan Medusa bị tấn công làm nhiều người chết và bị thương

Để trả đũa, ngày 16 tháng 07, tàu Mỹ Wyoming đến eo biển Shimonoseki bắn chìm

một tàu hơi nước của Chosu

Ngày 20 tháng 07, hai tàu Pháp do Jaurès chỉ huy cũng bắn vào Shimonoseki và làm

im tiếng súng của Chosu

Khi Tướng quân Iemochi trở về Edo, ông cảnh giác Thiên hoàng, Mito và Keiki về tình trạng bất lợi cho Nhật Bản khi trục xuất người ngoại quốc Song song đó, ở Kyoto, Triều đình cũng e ngại phe đối lập Bản thân Thiên hoàng Komei cũng nhận thấy rằng khai chiến với các cường quốc phương Tây là một việc mạo hiểm và có thể đưa đất nước vào

Trang 31

tình trạng hỗn loạn Vì vậy, cuối tháng 09, Thiên hoàng không dùng quân Chosu bảo vệ Kyoto thay vào đó là quân của Satsuma và Aizu Mori phản đối nhưng vô hiệu Ông trở về Nagato (Chosu) cùng bốn hoàng thân khác chuẩn bị chương trình bài ngoại riêng

Ngày 30 tháng 09, Thiên hoàng ban chỉ dụ hoãn việc trục xuất người ngoại quốc Đầu năm 1864, Tướng quân trở về Kyoto và ở đó từ ngày 22 tháng 02 đến ngày 10 tháng 06 Ông được tiếp đãi long trọng và được Thiên hoàng tín nhiệm nhưng phải nhận các

cố vấn do Thiên hoàng chỉ định, nhất là các lãnh chúa Satsuma và Tosa Tướng quân mất quyền phong chức cho các lãnh chúa Trong khi đó, Keiki được toàn quyền dẹp loạn Chosu Quân Chosu tiến về Kyoto và giao chiến với quân bảo vệ kinh đô vào ngày 20 tháng

08 Quân của Mạc phủ cũng tiến về phía Tây để dẹp loạn Lúc này, các đối thủ của Mạc phủ

bị bắt giam Tháng li, quân Mạc phủ tiến đến Hiroshima Mori không chống nổi phải đầu hàng Trong khi nội chiến tiếp diễn thì Chosu tiếp tục chương trình bài ngoại của mình Đại diện các cường quốc muốn điều đình với Mạc phủ Ito Hirobumi và Inoue Kaoru

mới ở châu Âu về đứng ra làm trung gian nhưng thất bại Các cường quốc quyết định dùng

vũ lực Hạm đội đồng minh tập trung tại Hiroshima vào ngày 04 tháng 09 năm 1864, với ba tàu Pháp, chín tàu Anh, bốn tàu Hà lan và một của Mỹ Ngày 05 tháng 09, quân đồng minh

bắn đại bác vào các pháo đài và quân Chosu cũng chống lại mãnh liệt Đến nửa đêm, pháo đài im tiếng súng Một tiểu đoàn quân đồng minh đổ bộ đánh chiếm pháo đài Ngày 08, Mori phải nhượng bộ với các điều kiện: tàu ngoại quốc được tự do đi lại trên eo biển, không xây thêm thành lũy và bồi thường thiệt hại cho quân đồng minh ba triệu đô la [52, tr 157] Mon muốn mở cả hải cảng Shimonoseki cho người ngoại quốc buôn bán để khỏi bồi thường chiến phí Song Mạc phủ vừa không muốn bồi thường lại vừa không muốn mở cửa hải cảng Hoá ước mới ký ngày 22 tháng 10 năm 1864

Cuối tháng 10 năm 1864, các lãnh chúa miền Nam như Okubo, Saigo, Saiỹo, Sanetomi đứng đầu đã buộc Shimazu Saburo từ bỏ chính sách liên minh với cả Tokyo lẫn Kyoto và

chống lại Chosu Ngược lại, họ đề nghị liên kết với Chikuzen, Hizen, Tosa và Chosu để ủng

hộ Thiên hoàng chống lại Mạc phủ Liên minh ký ngay vào mùa xuân năm 1865 và hơn nữa liên minh này còn liên kết với Anh để mưu đồ mục đích của mình

Mạc phủ quyết định thanh toán Chosu và sửa soạn dẹp loạn vào năm 1865 Tướng quân Iemochi rời Edo ngày 09 tháng 06, đến đóng quân ở Osaka và bắt đầu chuyển quân về phía Chosu Để chuẩn bị, tháng 9 năm 1866, Mạc phủ ký với Pháp hợp đồng vay 35 diệu

Trang 32

France để mua vũ khí, trang bị và chiến hạm của Pháp, thành lập công ty liên doanh với Pháp, mời sĩ quan Pháp huấn luyện binh lính, [58, tr 70] Tuy nhiên quân Mạc phủ vẫn là quân ô hợp, tổ chức, huấn luyện kém, chỉ có một số ít trang bị vũ khí mới Trong khi, quân Chosu do Tagasugi Shinsaku chỉ huy được huấn luyện kỹ và trang bị nhiều vũ khí tốt hơn

Để ủng hộ liên minh miền Nam, sứ thần Anh Parkes xúi giục các cường quốc biểu dương lực lượng ở Osaka, đòi Thiên hoàng chuẩn y các hoá ước và xét lại biểu thuế quan, đồng thời phải mở thêm các hải cảng Hyogo (Kobe) và Osaka Ngày 14 tháng 11 năm 1865,

một hạm đội gồm sáu tàu Anh, hai tàu Pháp và một tàu Hà Lan vào vịnh Osaka đòi điều đình Sau một thời gian cân nhắc, Thiên hoàng chịu duyệt y các hoá ước bằng sắc luật ngày

22 tháng 11, quan thuế được sửa lại nhưng việc mở thêm hải cảng bị từ chối Qui ước ngày

25 tháng 06 năm 1866 còn cho phép người Nhật Bản được tiếp xúc với người phương Tây, quan thuế hạ 5% cho hàng nhập cảng

Trên bộ, lực lượng Mạc phủ liên tiếp bị quân Chosu đánh thua và cuối cùng bị vây tại Hiroshima ngày 16 tháng 09 năm 1866

Ngày 19 tháng 09 năm 1866, Tướng quân Iemochi từ trần tại Osaka, lúc mới có hai mươi mốt tuổi và không có con

Ngày 03 tháng 10 năm 1867, Keiki lên ngôi Tướng quân Lễ tấn phong tiến hành ở Kyoto và ông ở luôn đó không về Edo nữa Hành động đầu tiên của Tướng quân là bãi bỏ cả quân đội Mạc phủ lẫn Chosu để sáp nhập vào quân đôi Hoàng gia

Ngày 03 tháng 02 năm 1867, Thiên hoàng Komei qua đời Hoàng thái tử Mutsuhito lên ngôi khi mới mười lăm tuổi, lấy hiệu là Meiji (Minh Trị) Lúc này có nhiều âm mưu lật

đổ Mạc phủ

Okubo Toshimichi ở Satsuma và Kido Koin ở Chosu mật ước ủng hộ Thiên hoàng và bãi bỏ Mạc phủ Saigo Takamori đặt dưới quyền Kyoto, quân đội Chosu và Satsuma lại có

mặt tại kinh đô

Ngày 09 tháng 04 năm 1867, Keiki dâng sớ lên Thiên hoàng xin mở thêm các hải cảng Osaka và Hyogo (Kobe) Sau khi lấy ý kiến Triều thần, ngày 26 tháng 06, Thiên hoàng duyệt y đề xuất trên Lúc nãy Mạc phủ mất đần thế lực và ảnh hưởng Ngày 30 tháng lo, Yamanuchi Yodo (Tiyonobu) gởi thư yêu cầu Tướng quân trả lại quyền bính cho Thiên hoàng

Trang 33

Phong trào "Bảo hoàng" và chống Mạc phủ lên cao Từ năm 1865, lãnh chúa Saigo Takamori và Okubo Toshimichi đã mật ước cùng lãnh chúa Kido Takayoshi lật đổ Mạc phủ, thành lập đội "Kỳ binh năm nghìn người" [58, tr 69] Lãnh chúa Tosa nhân danh nhiều lãnh chúa khác gởi thư cho Keiki yêu cầu Tướng quân trả lại chính quyền cho Thiên hoàng Ngày 03 tháng 11 năm 1867, Keiki viết biểu dâng lên Thiên hoàng, trao trả quyền lực lại cho nhà vua [31, tr 70-71] Thế nhưng mọi việc chưa thực sự kết thúc Mặc dù tuyên bố trao

trả quyền lực cho Thiên hoàng, Keiki vẫn muốn giữ danh vị Tướng quân và có người kế vị tước hiệu đó, tất nhiên chỉ là hư vị Nhưng Okubo Toshimichi và Saigo quyết tâm đánh đổ

chế độ Mạc phủ chứ không chỉ riêng Tướng quân Keiki Hai ông điều quân của các lãnh chúa Tây Nam bao vây lâu đài Nỉjo của Tướng quân tại Edo đêm mùng 02 tháng 01 năm

1868 Ngày hôm sau, Thiên hoàng trao việc canh giữ kinh đô cho Satsuma và Tosa Quan

hệ giữa Thiên hoàng và Tướng quân trở nên lỏng lẻo Ngày 04 tháng 01, Thiên hoàng ban

dụ bãi bỏ chế độ Tướng quân Theo chỉ dụ này, từ đây trong việc mưu hoá bình, thịnh vượng cho xứ sở là do sự thoá thuận, quyết định bởi Thiên hoàng với các công khanh, lãnh chúa chứ không do Tướng quân nữa

Tướng quân Keiki không tuân theo đạo dụ của nhà vua Ông ra khỏi Edo cùng binh lực

của mình tiến về Osaka (với sự giúp đỡ của Pháp) Nhữhg võ sĩ bị đuổi trước kia cũng đem

một vạn quân ủng hộ ông Ngày 19 tháng 01 năm 1868, quân của Keiki đốt cháy dinh thự

của Satsuma tại Edo Thiên hoàng muốn xoá dịu tình hình nên cho dời Keiki đến Kyoto và

hứa sẽ ban cho ông chức vụ cao cấp khác thay cho chức Tướng quân Keiki coi đây là thủ đoạn của những người thân cận Thiên hoàng nên kéo quân về Kyoto, cách Osaka 50 Km

Gần tới Kyoto, ông đóng quân tại Fushimi Lãnh chúa Satsuma và Chosu cũng đem mười lăm nghìn quân cản lại Cuộc giao tranh lớn diễn ra từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 01 năm

1868 Quân của Keiki tan rã Ngày 05 tháng 02, Thiên hoàng tước hết mọi danh hiệu của Keiki và phạt ông vì tội gây hấn với Triều đình Keiki trốn về Osaka bằng tàu Kayo Mâm

rồi trở lại Eđo Thiên hoàng lập hẳn một đạo quân trừng phạt Keiki do tướng Arisugawa chỉ huy

Trong quá trình truy kích Keiki, quân Triều đình hành hung cả người ngoại quốc Thiên hoàng phải đứng ra xin lỗi và xử tử những người chỉ huy họ Tại Osaka, mười một lính hải quân Pháp thuộc tàu Dupleiz bị bắn chết Do đó, Thiên hoàng phải xử tử hai sĩ quan

và mười tám binh lính đã hành hung người Pháp trước mặt đại uý Dupetit Thouars

Trang 34

Keiki xin điều đình Những người thân tín của ông cảm thấy nhục nhã nên phần lớn

thực hiện harikiri (mổ bụng tự tử) Keiki bị tước hết mọi danh hiệu và tài sản, phải về sống

tại quê nhà ở Mito, sau đó về Suruga, phía Tây Yokohama, rồi chết ở đó Vào tháng 09 năm

1868, thủ hạ của Keiki cồn đánh với quân lãnh chúa Hizen một trận khốc liệt tại lâu đài Oyeno Tuy thất bại, những thanh niên Biatsukko Tai, đàn bà, trẻ con tiếp tục chiến đấu với

tất cả những gì họ có Đô đốc Enomoto, người từng được Tướng quân gởi đi Hà Lan học về

hải quân một năm trước, cũng đem bảy chiến hạm chiến đấu ủng hộ Mạc phủ suốt một năm Mãi đến ngày 27 tháng 06 năm 1869, lực lượng cuối cùng của Mạc phủ mới bị dập tắt hoàn toàn tại Hokkaido

Như vậy, có thể nói, lịch sử Nhật Bản từ khởi đầu đến khi Thiên hoàng Minh Trị lên

nắm quyền, tuy về địa lý có bị cô lập so với bên ngoài nhưng Nhật Bản sớm có quan hệ với các nước xung quanh như Triều Tiên, Trung Quốc và tiếp sau là các nước phương Tây Tuy nhiên, khi nhận thấy mối đe dọa từ các nước phương Tây, Nhật Bản đã thi hành chính sách

"đóng cửa" suốt một thời gian dài Mặc dù vậy, xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế, củng

cố thế lực của mình, các lãnh chúa địa phương cũng như chính quyền Mạc phủ vẫn có

những quan hệ với bên ngoài Khi đứhg trước áp lực ngày càng lớn của phương Tây, chính quyền Mạc phủ một mặt phải cố gắng duy trì nền thống trị của mình, một mặt phải có trách nhiệm bảo vệ độc lập dân tộc Khi bị buộc phải nhân nhượng và ký kết những hiệp ước "bất bình đẳng" với các nước đế quốc, "mở cửa" đất nước, tuy ở mức độ nào đó Nhật Bản vẫn duy trì được nền độc lập tương đối của mình, chính quyền Mạc phủ đã gây, ra nhữỉig hậu

quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Mạc phủ

Thực tế, quá trình này đã diễn ra hết sức quyết liệt, hoàn toàn trái ngược với những ghi nhận

của một số tác giả khi cho rằng nó diễn ra "êm thắm và suôn sẻ"(!) Tác giả Mitani Hiroshi

đã nhận định rằng những tổn thất của cuộc vận động khôi phục quyền lực cho Thiên hoàng còn ít hơn nhiều so với các cuộc cách mạng ở Pháp, Anh vào thế kỷ XVII, XVII, Chính vì điều này, Nhật Bản coi việc sử dụng bạo lực trong quá trình giải quyết những vấn đề đối nội

và đối ngoại là tất yếu Cũng từ đây, Nhật Bản ngày càng lún sâu vào con đường bạo lực và các cuộc chiến tranh khốc liệt

Mặt khác, phải thấy rằng: Chính sách "mở cửa" của chính quyền Edo giúp cho Nhật

Bản có cơ hội tái hoá nhập với sự vận động chung của nền kinh tế và văn minh thế giới , hàng hoá của Nhật Bản được xuất khẩu ra thị trường quốc tế, đem lại nguồn vốn tích lũy cho sự phát triển của một số ngành công nghiệp mới đồng thời tạo nên sức sống cho nền

Trang 35

kinh tế trong nước Sự giao lưu về văn hoá, khoá học - kỹ thuật với nhiều nước tiên tiến giúp cho người Nhật Bản ý thức đầu đủ hơn về sự lạc hậu của mình so với thế giới để từ đó

mà họ càng thêm quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp canh tân đất nước [19, tr 83]

Trang 36

Chương 2: CHÍNH SÁCH Đối NGOẠI VÀ CẢI CÁCH ĐẤT NƯỚC

CỦA NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN (1868 - 1885) 2.1 Nổ lực ngoại giao thất bại

Sớm ý thức được những "bất bình đẳng" trong các hiệp ước đã ký với các nước phương Tây và áp lực ngày càng tăng từ dư luận xã hội, chỉ vài năm sau khi ký kết các hiệp ước, chính quyền Mạc phủ đã nhiều lần cử các phái đoàn sang phương Tây để tìm cách sửa đổi nội dung các hiệp ước

Năm 1860, Mạc phủ cử Shinmi Masaoki, người ký hiệp ước với Harris năm 1858, dẫn đầu phái đoàn gồm tám mươi mốt nhân viên sang Mỹ Đoàn đi bằng tàu Kanrin Mâm mua

lại của Hà Lan nhưhg do các thúy thủ Nhật Bản điều khiển Phái đoàn này không đạt được

kết quả gì

Năm sau, Mạc phủ lại cử Takeuchi Hotoku dẫn đầu phái đoàn sang Pháp, Anh, Hà Lan, Nga xin điều đình, sửa đổi các điều khoản nhưng cũng thất bại Tuy nhiên, nhũhg người trong đoàn có dịp tận mắt chứng kiến những tiến bộ về kinh tế, văn hoá, chính trị, quân sự và khoá học-kỹ thuật của các nước phương Tây Từ đó, họ nung nấu ý chí vận động nhân dân Nhật Bản tiến lên con đường Âu hoá, trong đó tiêu biểu là Fukuchigen Ichiro, Fukuzawa Yukichi,

Ngoài ra, chính quyền ở các địa phương cũng tìm cách liên lạc với phương Tây Cụ

thể, năm 1863, một nhóm học giả Chosu đã đến Anh Trong nhóm này có Inoue Kaoru, Ito Hirobumi là những người sau này tham gia phái đoàn Ivvakura và nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền Minh Trị

Năm 1865, trước việc hải quân Anh bắn phá Kagoshima, phe Satsuma đã phái một nhóm quan chức đi đàm phán bí mật mà không thông qua Mạc phủ Nhóm này được sự hỗ

trợ và thúc giục của Thomas Glover, một thương nhân Scotland ở Nagasaki

Năm 1869, ngay sau khi cơ bản ổn định đất nước và kiểm soát được tình hình, chính quyền Minh Trị bắt đầu xem xét đến việc cử phái đoàn sang Âu Mỹ để sửa đổi các hiệp ước Cũng năm này, Okuma Shigenobu, người phụ trách vấn đề thương thuyết của bộ ngoại giao

Nhật Bản đã bàn bạc với Guido Herman Fridolin Verbeck, cố vấn của bộ giáo dục về vấn đề trên Ngày li tháng 06 năm 1869, Verbeck gởi cho Okuma bản kiến nghị, khuyên chính phủ

Nhật Bản nền cử một phái đơàn thị sát Âu Mỹ, sẽ có lợi cho sự phát triển của Nhật Bản

Trang 37

Trong đó, Verbeck trình bày chi tiết việc nghiên cứu, học tập mô hình của phương Tây một cách có chọn lọc, đề ra mục tiêu, cách thức tổ chức, lịch trình, phương pháp điều tra và thậm chí thành phần của sứ đoàn Nhận thấy chưa đến lúc nên Okuma không đưa vấn đề ra trước chính phủ Mãi đến cuối năm 1871, khi có cơ hội, Okuma mới đề xuất kế hoạch cử phái đoàn đi thương thuyết, sửa đổi các hiệp ước và học tập các nước Âu Mỹ ra trước Chính phủ Sau nhiều cuộc vận động của các phe phái (Hixen, Chosu, Satsuma, Tosa, ), ngày 08 tháng

lo năm 1871, Thiên hoàng ban sắc chiếu cử Iwakura dẫn đầu phái đoàn gồm 108 người (47 thành viên chính thức, 18 tuy tùng và 43 lưu học sinh) đi Âu Mỹ với ba mục tiêu chính là: 1.Vận động các nước công nhận chính quyền mới Minh Trị

2.Thương thuyết, đàm phán sửa đổi các hiệp ước

3.Tham quan, học tập các nước phương Tây

Ngày 06, tháng 11, năm 1871, sứ đoàn rời cảng Yokohama, bắt đầu chuyên xuất ngoại Nơi đầu tiên sứ đoàn đến là Mỹ (06/12/1871) sau đó sang Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức, Nga, Đan Mạch, Thúy Điển, Italia, Áo và Thụy Sĩ Khi phái đoàn Nhật Bản đưa ra vấn

đề sửa đổi các hiệp ước tại các cuộc đàm phán, thương thuyết, các nước phương Tây viện

dẫn nhiều lý do để từ chối sửa đổi Nguyên nhân các nước phương Tây thường làm khó

Nhật Bản là hệ thống pháp luật của Nhật Bản chưa tương ứng với họ, Nhưng thực chất vấn

đề là ở chỗ họ không muốn từ bỏ những đặc quyền, đặc lợi của mình Thủ tướng Đức Bismark lúc đó phát biểu: "Nước Nhật Bản phải tự cường để có thể tin vào chính sức mình, còn các quốc gia chỉ trung thành với các hiệp ước quốc tế khi họ thấy có lợi mà thôi" [31, tr 155] Từ đây, các thành viên của phái đoàn mới cay đắng nhận ra một thực tế là khi Nhật

Bản chưa có đủ thực lực kinh tế, quân sự thì họ không thể đàm phán một cách bình đẳng với các nước phương Tây Vì vậy, mục tiêu điều chỉnh các hiệp ước thất bại hoàn toàn Phái đoàn tập trung vào việc quan sát thực tế, học tập nhữhg tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, khoá học-kỹ thuật và quân sự để mang về áp dụng vào công cuộc duy tân đất nước

Bên cạnh việc cử các phái đoàn sang các nước phương Tây thương thuyết, chính giới

Nhật Bản còn muốn thông qua việc tranh thủ cảm tình của các nhân viên lãnh sự nước ngoài, hy vọng họ nói giúp cho Nhật Bản để chính phủ các nước điều chỉnh các hiệp ước Đích thân thủ tướng Ito Hirobumi (1841-1909) và bộ trưởng ngoại giao Inoue Kaoru (1835-1915) cho xây dựng các "Rokumeikan" ("Nhà khách sang trọng"), rồi mời các nhân viên

Trang 38

lãnh sự nước ngoài đến toa đàm về các điều khoản hiệp ước, kết hợp liên hoán, vui chơi,

giải trí rất tốn kém Việc này được mô tả như sau: "Ngài thủ tướng tổ chức một vũ hội hoá trang Có hơn một trăm khách tham dự Ngài thủ tướng đóng vai nhà quý tộc thành Venice, hoàng tử Arisugawa đóng vai một hiệp sĩ châu Âu thời trung cổ, Inoue đóng vai một nhạc sĩ hát rong, giám đốc phòng tư pháp đóng vai hoá thượng đi hành khất, hiệu trưởng danh dự trường đại học làm một tín đồ hành hương đến các chùa thờ Phật, " [30, tr 304-305] Việc làm này chẳng những không mang lại một kết quả nào mà còn gây ra tốn kém và vấp phải

sự chỉ trích mạnh mẽ từ phía dư luận xã hội

Tóm lại, cũng như nhiều nước khác, Nhật Bản sớm nhận thức được những bất bình đẳng trong các hiệp ước ký kết với phương Tây nên có nhiều cố gắng nhằm điều chỉnh

những điều khoản bất bình đẳng đó, chủ yếu bằng phương pháp ngoại giao hay thậm chí

"mua chuộc" các nhà ngoại giao một ẹách ngây thơ; khôi hài như trường hợp phòng Rokumeikan Đến khi nhận thức được đầy đủ vấn đề, nhà cầm quyền Nhật Bản thể hiện rõ quyết tâm xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, giáo dục, quân sự, làm cơ sở thương lượng một cách bình đẳng với các nướp phương Tây sau này

2.2 Những cải cách trong nước

Để có thể tiến tới xoá bỏ hoàn toàn nhữhg hiệp ước "bất bình đẳng" với các nước phương Tây, chính quyền Minh Trị ý thức rất rõ việc cần thiết phải xây dựng một chính quyền chuyên chế trung ương đủ sức lãnh đạo, điều hành đất nước, tiến hành hàng loạt biện pháp cải cách chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, theo phương Tây Vì vậy, trong quá trình thực hiện những cải cách này, Nhật Bản đã có quan hệ mật thiết với các nước phương Tây trên tất cả các lĩnh vực

2.2.1 Chính trị

Một trong những lý do khiến các nước không chịu xoá bỏ các hiệp ước "bất bình đẳng" cho Nhật Bản, theo các nước phương Tây, là vì hệ thống luật pháp của Nhật Bản chưa tương đồng với các nước phương Tây (!)

Với mục đích xoá bỏ các hiệp ước bất bình đẳng mà Nhật Bản phải ký kết với các nước phương Tây trong đó có việc xoá bỏ "trị ngoại pháp quyền", chính quyền Nhật Bản quyết tâm xây dựhg cho mình một hệ thống luật pháp hiện đại theo mô hình của châu Âu

Việc xây dựng hệ thống luật pháp hiện đại sẽ đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như yêu cầu

của các nước phương Tây

Trang 39

Về yêu cầu trong nước thì một nhà nước hiện đại tất yếu phải có một hệ thống luật pháp hiện đại

Về phía các nước phương Tây thì một hệ thống luật pháp hiện đại theo mô hình châu

Âu là cơ sở quan trọng để họ xem xét xoá bỏ "trị ngoại pháp quyền"

Để đạt được mục đích, Chính phủ Nhật Bản tiến hành cải cách bộ máy hành chính, xây

dựng hiến pháp và hệ thống pháp luật

Về hành chính, sau khi lên nắm quyền, ngày 6 tháng 4 năm 1868, Thiên hoàng long

trọng tuyên thệ:

1.Lập Quốc hội và quyết định quốc sự theo dân nguyện

2.Toàn thể quốc dân cùng chăm lo quốc sự

3.Toàn thể quốc dân đều được quyền bày tỏ tư tưởng và "phát triển tài năng

4.Xóa bỏ mọi hủ tục, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

5.Tiếp thu tinh hoá nhân loại và chấn hưng đất nước [52, tr 193)

Lúc đầu, Thiên hoàng ban chiếu đặt ra ba chức:

Chức Tổng tài do một Hoàng thân nắm giữ trông coi tổng quát mọi việc trong nước Các chức Nghị định hợp thành một viện do các đại quý tộc và một số lãnh chúa có thế

lực nắm giữ để cùng với Tổng tài điều khiển quốc gia

Các chức Tham nghị do các võ sĩ trẻ, có công tróng việc giành lại vương quyền, làm

cố vấn cho Thiên hoàng trong việc cai trị

Ngày 11 tháng 8 năm 1868, Thiên hoàng lại cải tổ bộ máy chính quyền mô phỏng theo

kiểu "tam quyền phân lập" của Mỹ: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp

Trang 40

Về Hành pháp có một Chính phủ trung ương gọi là Thái chính quan Thái chính quan

do một Tổng lý đại thần (như Thủ tướng) và bảy Bộ để trông coi mọi việc Mỗi Bộ do một

Quốc vụ đại thần (Bộ trưởng) lãnh đạo

Về Tư pháp, ban đầu vẫn do Bộ Hình đảm nhiệm (cảnh sát kiêm xử án) mãi đến năm

1871, Toà án đầu tiên mới được thiết lập ở Tokyo và từ năm 1875 mới có cơ quan điều tra, Tòa án Tối cao và các toa án địa phương

Đến ngày 19 tháng 3 năm 1871, Thiên hoàng lại cải tổ bộ máy chính quyền lần nữa Chính quyền trung ương có ba Viện (San in):

Chính viện (Sei in) do Thiên hoàng lãnh đạo, về danh nghĩa là cơ quan cao nhất, chi

phối cả Tả viện và Hữu viện

Tả viện (Sa in) trông coi Lập pháp

Hữu viện (U in) nắm quyền Hành pháp điều hành các Bộ

Ở địa phương, để xoá bỏ tình trạng phiên phiệt (lúc này có tới 260 han), phong kiến cát cứ và thâu tóm quyền hành thống nhất đất nước, một mặt chính quyền kêu gọi các lãnh chúa giao trả các lãnh địa (trên danh nghĩa) và quyền hành cho Thiên hoàng; mặt khác, chính quyền xác lập chế độ Phủ (3), huyện (72) trong toàn quốc Các lãnh chúa vẫn được

tiếp tục cai quản địa hạt của mình, được truyền lại cho con cháu quyền đó và cũng được hưởng một phần mười lợi tức trên lãnh địa mà mình cai quản Ngoài ra, các lãnh chúa còn được hưởng trợ cấp khoảng 64000 Yên (1876), một phần trả từ tiền vay của Anh, phần còn

lại trả bằng cổ phiếu được tính lãi 8%/ năm

2.2.2 Xã hội

Chính phủ Minh Trị còn tiến hành nhiều cải cách xã hội như xoá bỏ chế độ đẳng cấp,

thủ tiêu các đặc quyền phong kiến, xã hội chỉ cộ ba hạng người: quý tộc (kazoku - bao gồm gosanke , fudai daimyo và tozama daimyo), sĩ tộc (shizoku – bao gồm hatamoto và samurai)

và bình dân (heimin bao gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân và tiện dân - eta hay hinin)

Tầng lớp kazoku được hưởng nhiều ưu đãi với số tiền trợ cấp một lần lên đến 64 000 Yên bằng công trái Chính phủ Họ trở nên giàu có và phần lớn số vốn này được đầu tư vào các ngân hàng bấy giờ

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Lược đồ chiến banh Nhật Bản - Trung Quốc. Nguồn [65] Mặc dù hai bên đã  rút quân kh ỏi Triều Tiên, nhưng Viên Thế Khải vẫn tìm cách đặt Triều Tiên dưới quyền bảo - quan hệ đối ngoại của nhật bản từ năm 1868 đến năm 1912
Hình 1.3. Lược đồ chiến banh Nhật Bản - Trung Quốc. Nguồn [65] Mặc dù hai bên đã rút quân kh ỏi Triều Tiên, nhưng Viên Thế Khải vẫn tìm cách đặt Triều Tiên dưới quyền bảo (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w