BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Lê Thị Phương Lan QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 2010 LUẬN VĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Phương Lan
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Phương Lan
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM
2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi được
th ực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Văn Đạt Các số liệu, thống kê, kết
qu ả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Ngoài ra lu ận văn còn có sự kế thừa từ các công trình nghiên cứu của
nh ững tác giả đi trước và có sự bổ sung thêm những tài liệu mới
Tp HCM, ngày 16 tháng 11 năm 2012
Tác gi ả luận văn
Lê Th ị Phương Lan
Trang 4
M ỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục viết tắt M Ở ĐẨU 1
1 LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1
2 L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
3.3 Nhiệm vụ của đề tài 7
4 NGU ỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
4.1 Nguồn tư liệu 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu 8
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 9
5.1 Về mặt khoa học 9
5.2 Về mặt thực tiễn 9
6 B Ố CỤC CỦA LUẬN VĂN 9
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH PHÚ YÊN VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC C ỦA ĐỊA PHƯƠNG TRƯỚC NĂM 1989… ………10
1.1 Khái quát v ề tỉnh Phú Yên 10
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 10
Đặc điểm lịch sử, dân cư 11
Trang 51.1.2.1 Đặc điểm lịch sử 11
1.1.2.2 Đặc điểm dân cư 15
1.1.3 Truyền thống văn hóa – giáo dục Phú Yên 17
1.2 Nh ững nét cơ bản về giáo dục Phú Yên trước khi tái lập tỉnh (1989)…
22 1.2.1 Giáo dục Phú Yên trong những ngày đầu giải phóng (4 - 11/ 1975)…21 1.2.2 Giáo dục Phú Yên trong thời kì hợp nhất với tỉnh Khánh Hòa (Từ 11/1975 đến 7/1989) 25
Chương 2: GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHÚ YÊN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 2000 38
2.1 Tình hình Phú Yên và ch ủ trương phát triển giáo dục của tỉnh 38
2.1.1 Tình hình Phú Yên sau khi tái lập tỉnh 38
2.1.2 Chủ trương phát triển giáo dục của tỉnh Phú Yên sau khi tái lập 41
2.1.2.1 Những quan điểm, chủ trương của Đảng về giáo dục – đào tạo 41
2.1.2.2 Chủ trương phát triển giáo dục của Đảng bộ tỉnh Phú Yên 46
2.2 Tình hình phát tri ển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ năm 1989 đến năm 2000 48
2.2.1 Qui mô phát triển giáo dục Trung học phổ thông 48
2.2.1.1 Qui mô học sinh 48
2.2.1.2 Đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm trang thiết bị 49
2.2.1.3 Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý 55
2.2.2 Nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy 62
Trang 62.2.2.1 Nội dung, chương trình 62
2.2.2.2 Phương pháp giảng dạy 64
2.2.3 Thực trạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục 66
2.2.3.1 Giáo dục đạo đức, văn hóa và hiệu quả đào tạo……… 68
2.2.3.2 Giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề, văn thể mỹ, thể dục thể thao 73
2.2.4 Xây dựng môi trường giáo dục 75
2.2.4.1 Xây dựng các tổ chức đoàn thể trong nhà trường 75
2.2.4.2 Phối hợp giáo dục giữa Gia đình - Nhà trường- Xã hội 77
Chương 3: GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHÚ YÊN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010………82
3.1 Ch ủ trương phát triển giáo dục của tỉnh 82
3.1.1 Bối cảnh Phú Yên trong thập niên đầu thế kỉ XXI 82
3.1.2 Chủ trương phát triển giáo dục của Đảng ta 83
3.1.3 Chủ trương phát triển giáo dục của tỉnh Phú Yên trong 10 năm đầu thế kỉ XXI 85
3.2 S ự phát triển của giáo dục Trung học phổ thông từ năm 2000 đến năm 2010 87
3.2.1 Qui mô phát triển giáo dục Trung học phổ thông trong giai đoạn mới 87
3.2.1.1 Qui mô học sinh 87
3.2.1.2 Chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị 88
3.2.1.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục……… .94
Trang 73.2.2 Nội dung và phương pháp giảng dạy 99
3.2.2.1 Đổi mới nội dung, chương trình 99
3.2.2.2 Tích cực đổi mới phương pháp dạy học 104
3.2.3 Thực trạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục 107
3.2.3.1 Giáo dục đạo đức, văn hóa và hiệu quả đào tạo 107
3.2.3.2 Giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề, giáo dục kĩ năng sống, phong trào văn nghệ, thể dục - thể thao 118
3.2.4 Xây dựng môi trường giáo dục 121
3.2.4.1 Phát triển các tổ chức đoàn thể trong nhà trường 121
3.2.4.2 Củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Gia đình - Nhà trường – Xã hội 124
K ẾT LUẬN 130
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 139
PH Ụ LỤC 152
Trang 8Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và dạy
nghề
KTTH-HN-DN
Trang 9M Ở ĐẨU
1 LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Giáo dục là hoạt động có chủ đích của con người, nó là một quá trình tác động
có mục đích, có kế hoạch của môi trường xã hội nhằm phát triển toàn diện con người, trang bị cho con người những kiến thức và kỹ năng cơ bản để họ sẵn sàng bước vào cuộc sống Do vậy có thể nói giáo dục là một phạm trù luôn luôn có tính phổ biến, phát triển liên tục, mãi mãi Bởi lẽ đây là hoạt động riêng biệt của xã hội loài người, ở đâu có con người tất ở đó có giáo dục, giáo dục tồn tại cùng với xã hội loài người, nó là một trong những động lực để thúc đẩy sản xuất và phát triển xã hội Bên cạnh đó giáo dục lại mang tính lịch sử Có thể nói mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi dân tộc, mỗi nhà nước có một nền giáo dục riêng, mang bản chất của dân tộc, của nhà nước cầm quyền Chính vì vậy, giáo dục luôn luôn vận động và phát triển theo các giai đoạn lịch sử của xã hội loài người
hun đúc nên những nét đẹp về văn hiến Việt Nam và được nhân lên trong thời đại
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời là hết sức to lớn Nó là cơ sở, là điều kiện
để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
sang nền văn minh tin học, điện tử và vi sinh, khoa học – công nghệ đã trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp Hàm lượng khoa học được kết tinh trong các sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với
sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với sự phân công lao động và hợp tác quốc
tế, gắn liền với sự sáng tạo, trao đổi và chuyển giao công nghệ mới
Tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động sáng tạo của con người không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình đào luyện công phu, có hệ thống Vì vậy, giáo dục và đào tạo hiện nay được nhìn
nhận không phải như yếu tố phi sản xuất, tách rời sản xuất mà là yếu tố bên trong,
Trang 10yếu tố cấu thành nên sản xuất xã hội Sẽ không phát triển được lực lượng sản xuất
chính của sự phát triển kinh tế - xã hội, là nhân tố quyết định vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế và là sự thành đạt của mỗi con người trong cuộc sống Đồng
cao trình độ học vấn, trình độ tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội cho cán bộ và người dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho cơ sở hạ tầng, tạo tiền đề phát triển kinh tế - xã hội một cách vững chắc Vì vậy giáo dục sẽ phải đi trước một bước so
với phát triển kinh tế
Thực tiễn thế kỷ XX đã chỉ ra rằng không có một quốc gia nào phát triển mạnh
và vươn lên hàng ngũ những nước tiên tiến mà lại đầu tư ít cho giáo dục Cuộc chạy đua khoa học - công nghệ, chạy đua về giáo dục và đào tạo là cuộc chạy đua nâng cao chất lượng lao động, chủ yếu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đây được xem là cuộc chạy đua về trí lực Vì vậy, không ngẫu nhiên mà UNESCO đã tổng kết: tương lai thế giới thuộc về những dân tộc có trình độ học vấn cao
Nước ta đang trong giai đoạn tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình chuyển trạng thái kinh tế - xã hội của đất nước từ trạng thái năng
suất, chất lượng và hiệu quả thấp, dựa trên sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động
thủ công là chính sang trạng thái năng suất và hiệu quả cao dựa trên phương thức
tiên tiến Công nghiệp hóa cũng là quá tình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa học – công nghệ, giá trị cao
Muốn đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải phát triển nền đại công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Muốn thực hiện được điều này, tất
yếu phải có nguồn nhân lực với tài năng và trí tuệ Giáo dục – đào tạo là phương
tiện có hiệu lực đáp ứng yêu cầu này, thủ tiêu sự khác biệt căn bản giữa lao động trí
óc và lao động chân tay, góp phần nâng cao năng suất lao động và xậy dựng thái độ
Trang 11lao động sáng tạo, đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trở thành
hiện thực
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chế độ xã hội mà nhân dân ta
đã chọn là mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Giá trị nhân cách mà giáo dục xây
dựng cho thế hệ trẻ là bảng giá trị nhân cách xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp giáo dục
có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ người lao động mới, đầy đủ tài năng, phấm chất và bản lĩnh để đưa đất nước tiến kịp trào lưu thế giới, không thể thiết kế chiến lược con người, nếu không đặt giáo dục đúng vào vị trí của nó trong đời sống hiện đại
Là một tỉnh của đất nước, Phú Yên có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực
hóa với những tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi Là tỉnh có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp giáo
dục, đào tạo nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng xã hội mới của cả nước
Do đó, việc nghiên cứu về giáo dục Phú Yên nói chung, giáo dục Trung học
trọng Bởi giáo dục Trung học phổ thông đóng vai trò định hướng, tạo điều kiện cho
thế hệ trẻ được chuẩn bị nghề nghiệp, tâm thế lao động, phẩm chất đạo đức, ý thức
học cao lên ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp để trở thành người lao động
có tay nghề cao đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Do vậy, chất lượng của giáo dục Trung học phổ thông sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dạy nghề và đại học, sâu xa hơn, mở rộng hơn, chính nó là nguồn gốc góp phần quan trọng quyết định chất lượng của nguồn lực lao động
Trang 12Giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên đã tạo nên những thành tựu hết sức
quan trọng và to lớn, cung cấp cho xã hội nhiều lớp thế hệ trẻ, thông minh, sáng tạo, trung thành, dũng cảm, giàu lòng nhân ái, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, góp phần chiến đấu và xây dựng tổ quốc phát triển cho đến ngày hôm nay Từ chỗ khẳng định những kết quả đã đạt được trong quá trình phát triển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ năm 1989 đến năm 2010, chúng ta có thể thấy những hạn chế và rút ra được những nguyên nhân làm cho những hạn chế đó còn tồn tại và bài học kinh nghiệp trong quá trình phát triển giáo dục THPT Đây là một yêu cầu cấp thiết để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực cho sự đổi mới và tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục Trung học
phổ thông nói riêng và sự nghiệp giáo dục – đào tạo tỉnh nhà nói chung trong thời kì
dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
Với những ý nghĩa và mục đích đó, chúng tôi chọn đề tài: “Quá trình phát
làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử
giá trị của Giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trong thời kì 1989 – 2010 là hết
nhà trong các giai đoạn sau
2 L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
công trình nghiên cứu về nó không nhiều, thường các tác giả chỉ phác họa vài nét về giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên khi đề cập đến giáo dục - đào tạo nói chung
của tỉnh, cụ thể có các công trình nghiên cứu sau:
Trang 13“Địa chí Phú Yên” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm
2003 Đây là một công trình nghiên cứu tổng hợp, có quy mô lớn về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, các đơn vị hành chính của tỉnh Phú Yên Trong phần thứ tư nói về văn hóa xã hội, ở chương mười các tác giả có đi vào nghiên cứu lịch sử giáo dục Phú Yên bắt đầu từ giáo dục Nho học trước 1945 đến giáo dục thời Pháp thuộc, giáo dục Phú Yên từ 1945 – 1954, 1954 - 1975, và từ 1975 cho đến năm 2000 Trong phần giáo dục Phú Yên từ 1975 – 2000, có nhắc đến giáo dục trung học phổ thông với ba loại hình trường: công lập, bán công và dân lập nhưng chỉ trên những nét đại cương nhất
Đó là một chặng đường lịch sử khá dài để định hình và kiến tạo nên nền giáo dục Phú Yên Trong cái nền chung đó, các tác giả đã nhắc đến mảng giáo dục Trung học
phổ thông Phú Yên song cũng chỉ dừng lại ở mức khái quát
Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học nói trên thì Sở giáo dục – đào tạo Phú Yên cũng có các báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết theo từng giai đoạn, kỷ yếu thi đua… có đề cập đến giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trong giai đoạn 1989 – 2010, cụ thể như sau:
các báo cáo tổng kết hằng năm này Sở giáo dục – đào tạo đã nêu lên những kết quả đạt được và những mặt tồn tại, hạn chế của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông
tựu cũng như hạn chế theo từng năm thông qua những số liệu thống kê cụ thể
học sinh, giáo viên, cơ sơ vật chất trường lớp, về công tác chỉ đạo, tổ chức quản lý giáo dục – đào tạo
Trang 14“K ỷ yếu thi đua – 10 năm xây dựng và phát triển ngành giáo dục”, từ 1999 –
2000 Trong kỷ yếu này, sở Giáo dục - đào tạo đã tổng kết phong trào thi đua trong
10 năm đổi mới của ngành giáo dục - đào tạo Phú Yên theo từng cấp học trong đó
làm nổi bật được những thành tựu đạt được của giáo dục Phú Yên nói chung và giáo
dục Trung học phổ thông nói riêng trong 10 năm sau khi tái lập tỉnh
báo cáo này nêu lên tình hình thực hiện công tác xây dựng cơ sở vật chất cho các
cấp học từ năm 1993 đến 1997: xây dựng, tu sửa trường lớp, mua sắm trang thiết bị,
khắc phục trong công tác xây dựng cơ sở vật trường học
hướng đến năm 2020 tỉnh Phú Yên” của sở Giáo dục - đào tạo Phú Yên Đây là bản
phát triển hệ thống giáo dục đào tạo các cấp, trong đó đặc biệt chỉ rõ yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, phát triển lực lượng giáo viên ở các cấp, phân bố
hệ thống cơ sở vật chất của giáo dục đào tạo theo các bước đi thích hợp đáp ứng yêu
cầu phát triển toàn diện con người và phát triển kinh tế xã hội
Nhìn chung các công trình nêu trên ít nhiều có đề cập đến giáo dục Trung học
phổ thông Phú Yên, đây là nguồn tài liệu quý, giúp chúng tôi nghiên cứu, hoàn thành đề tài Tuy vậy, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu quá trình phát
toàn diện và có hệ thống Vì vậy trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ quá trình phát triển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trên tất cả các mặt từ khi tái lập tỉnh (1989) cho đến năm 2010
Trang 153 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về “Quá trình phát triển giáo dục Trung học phổ thông ở
nhìn liên tục về quá trình phát triển của giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên
3.3 Nhi ệm vụ của đề tài
Đề tài trình bày về quá trình phát triển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên
1989 - 2010 với những nội dung: hệ thống trường, lớp, học sinh; nội dung, chương trình và phương pháp; cơ sở vật chất, trang thiết bị trong trường học; công tác đào
tạo và bồi dưỡng cán bộ giáo viên; công tác xã hội hóa giáo dục; công tác chỉ đạo
quản lí giáo dục…theo từng giai đoạn để làm rõ được quá trình phát triển của giáo
dục Trung học phổ thông Phú Yên trong hơn 20 năm kể từ khi tái lập tỉnh Từ đó rút
ra một số nhận xét, nêu lên một số thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm và
những đề xuất giải pháp, góp phần tiếp tục phát triển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trong các giai đoạn sau
4 NGU ỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Ngu ồn tư liệu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học, chúng tôi xác định cần tiếp
cận và sử dụng các nguồn tư liệu có nội dung cốt lỗi nhằm chứng minh và kiến giải
2010 Với ý nghĩa đó, trước hết chúng tôi chú ý đến các nguồn tư liệu có tính chất định hướng, liên quan trực tiếp đến giáo giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên mà
Trang 16Sở giáo dục – đào tạo Phú Yên cung cấp thông qua các báo cáo tổng kết, kỷ yếu thi đua
Nhà nước, của Đảng bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên Ngoài ra, trên cơ sở tư liệu
và kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, những
thống kê có liên quan đã giúp cho người đọc có một cái nhìn tổng thể về giáo dục Trung học phổ thông tỉnh Phú Yên, đây cũng là nguồn tư liệu đáng tin cậy của luân văn Tác giả kế thừa và trình bày một cách có hệ thống về giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ 1989 – 2010
4.2 Phương pháp nghiên cứu
làm hoàn toàn mới mẻ đối với chúng tôi Tuy nhiên, để làm nổi bật vai trò, vị trí và
Minh là cơ sở phương pháp luận của luận văn
Để nghiên cứu và tìm hiểu đề tài, chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp chính
là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra còn vận dụng một số phương pháp khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: phương pháp định lượng
thông tin qua thống kê số liệu về giáo viên, học sinh, trường lớp, quản lý, đào tạo…
ở các trường qua từng năm Phương pháp so sánh lịch sử cũng được vận dụng để làm sáng tỏ sự phát triển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên qua từng giai đoạn
lịch sử cụ thể
phú và tăng độ tin cậy đối với nguồn tư liệu, hoàn thành được công trình nghiên
cứu, tái tạo bức tranh tổng thể về giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ 1989-
Trang 172010, từ đó góp phần làm sáng tỏ hơn chặng đường phát triển của giáo dục – đào
tạo tỉnh Phú Yên
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
5.1 V ề mặt khoa học
Trên cơ sở các nguồn tư liệu, luận văn khôi phục bức tranh lịch sử giáo dục
rút ra đặc điểm của giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trong thời kì
và giải pháp để khắc phục những hạn chế Đồng thời bổ sung tư liệu trong việc
thông cả nước nói chung trong thời kì đổi mới đất nước
5.2 V ề mặt thực tiễn
chính sách phát triển giáo dục Trung học phổ thông ở Phú Yên nói riêng và cả nước nói chung trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới hiện nay
Kết quả của luận văn còn là nguồn tài liệu để tuyên truyền về giáo dục cho các
tầng lớp nhân dân ở Phú Yên, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà
6 B Ố CỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang 18Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH PHÚ YÊN VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC CỦA
ĐỊA PHƯƠNG TRƯỚC NĂM 1989 1.1 Khái quát v ề tỉnh Phú Yên
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phú Yên là một tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam Phú Yên trải dài từ 12°42'36" đến 13°41'28" vĩ Bắc và từ 108°40'40" đến 109°27'47" kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp Khánh Hòa, phía Tây giáp Đăk Lăk và Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông Cách Hà Nội 1.160km về phía Bắc, cách thành phố Hồ chí Minh 561km về phía Nam theo tuyến quốc lộ 1A
Về địa hình, Phú Yên có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn Đông của dãy Trường Sơn, và phía Đông là biển Đông Diện tích tự nhiên: 5.045 km² Địa hình có đồi núi chiếm 70% diện tích, có đồng bằng xen kẽ núi Đồng bằng Tuy Hòa và Tuy An, tuy không rộng lắm nhưng phì nhiêu màu mỡ được mệnh danh là vựa lúa của miền Trung Bờ biển dài 189km,
có nhiều dãy núi nhô ra biển hình thành các eo vịnh, đầm phá có lợi thế phát triển
du lịch, vận tải đường thủy, đánh bắt và nuôi trồng hải sản xuất khẩu Diện tích đất nông nghiệp 72.390 ha, đất lâm nghiệp khoảng 209.377 ha, đất chuyên dùng 12.297
ha, đất dân cư 5.720 ha, đất chưa sử dụng 203.728 ha Rừng với hệ động vật và thực vật phong phú, đa dạng Hệ thống Sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ với tổng diện tích lưu vực là 16.400km2, tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3, đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt Ngoài ra, Phú Yên còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite, đá hoa cương nhiều màu, vàng sa khoáng
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương
đến tháng 8 Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,5 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm
Trang 19Với vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tự nhiên như vậy đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Tuy nhiên bên cạnh đó, hằng năm Phú Yên cũng gặp phải những khó khăn, khắc nghiệt từ thiên nhiên gây ra như bão, lũ lụt làm thiệt hại nặng nề về người và của nặng nhất là vào các năm 1993,
1998, 2001, 2008, 2010 Những khó khăn đó gây cản trở cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và làm chậm sự phát triển của Giáo dục- đào tạo Phú Yên so với nhiều nơi khác Vì vậy, để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục cần phải có chiến lược phát triển phù hợp, khắc phục những khó khăn, phát huy ưu điểm nhằm đạt kết quả tối ưu
1.1.2 Đặc điểm lịch sử, dân cư
1.1.2.1 Đặc điểm lịch sử
Trên vùng đất Phú Yên, theo các nhà khảo cổ học, nghiên cứu lịch sử, họ đã sưu tầm và khai quật được những chiếc rìu, lưỡi cuốc, chiếc bôn bằng đá ở Lãnh Cao (Đồng Xuân), hòn Đồn (Sơn Hòa), hòn Cồ (Sông Hinh), hòn Miếu (Tuy Hòa), chứng minh trên đất Phú Yên ngày nay, con người đã từng trải qua từ thời hậu kỳ
Vùng đất Phú Yên là nơi tồn tại nhiều di tích của nền văn hóa Chăm như các
“giếng Chăm ở Sông Cầu, Tuy An, tháp Chăm ở thành phố Tuy Hòa, hòn Mốc
tr.141-152]
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận đèo Cả Tuy nhiên sau đó Lê Thánh Tông chỉ sát nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới
Trang 20đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh thổ Đại Việt còn vùng đất Phú Yên vẫn thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru
Tương truyền vua Lê Thánh Tông cho khắc bia trên đá núi để ghi dấu chiến công,
và phân định ranh giới Đại Việt ở phía Nam Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn
có ghi: “Núi Thạch Bi thuộc tỉnh Phú Yên là nơi phân cương giới giữa Tiên triều nước
thời kỳ mở đất Nơi đây đá hóa thành văn và hòa vào di sản văn hóa dân tộc
Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng là trấn thủ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam của Đại Việt Năm 1578 ông sai tướng dưới quyền Lương Văn Chánh tấn công vào thành Hồ, là thủ phủ của Chăm Pa tại vùng Ayaru (Phú Yên), từ đó vùng đất Ayaru
là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm Theo chính sách của chúa Nguyễn ông đã chiêu tập và đưa lưu dân từ các vùng Thanh-Nghệ, Thuận
- Quảng vào đây để khẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp
Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai viên tướng dưới quyền là Văn Phong tấn công vào Aryaru, Chăm Pa thất bại Nguyễn Hoàng đã sát nhập Ayaru vào lãnh thổ Đàng Trong với tên gọi phủ Phú Yên bao gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa và giao cho Văn Phong cai quản đất Phú Yên Tên gọi nầy do chúa Nguyền Hoàng đặt với ước nguyện về một miến đất trù phú, thanh bình, yên ổn trong tương lai
Tháng 3 năm Đinh Mão 1627 cuộc chiến phân tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ Đến tháng 10 năm Kỷ Tỵ 1629, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ly khai với Đàng Ngoài, xây dựng xứ Đàng Trong từ Sông Gianh vào đến Phú Yên, thành lập 7 dinh (đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh) Phủ Phú Yên được nâng cấp thành dinh Trấn Biên - có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp Nam tiến, Tây tiến, Đông tiến chúa Nguyễn khi ấy và cũng là của cả dân tộc
Năm Mậu Dần 1698, chúa Minh Nguyễn Phước Chu sai thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Côn (Sài Gòn) làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn
Trang 21Trong 69 năm đóng vai trò trấn biên (1629-1698), dinh Trấn Biên (trở lại tên gọi dinh Phú Yên) đã đóng góp sức người, sức của bảo vệ, xây dựng và phát triển vùng biên cảnh, đưa nhiều lưu dân vào khai phá vùng đất mới, hình thành làng mạc, góp phần xuất sắc vào sự nghiệp Nam tiến vĩ đại của dân tộc
Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đúc ấn vương lên ngôi Chúa ở Phú Xuân, đổi mới tổ chức hành chánh, chia Đàng Trong làm 12 dinh và 1 trấn Phú Yên là một trong 12 dinh, chính thức trở thành một cộng đồng trong đại gia đình Việt Nam, cùng với nhân dân cả nước chung sức xây dựng giang san
Từ năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa Miền tây Phú Yên có dãy núi La Hiên hùng vĩ tiếp giáp với vùng núi
An Khê, là một trong những căn cứ của nghĩa quân Tây Sơn thượng đạo Nhân dân Phú Yên, cả người Kinh lẫn người Thượng đều rầm rộ hưởng ứng và tham gia
Mút (1785), và trong cuộc tiến quân thần tốc, đạp dãy Trường Sơn, ngược đường
thiên lý đánh tan 29 vạn quân Thanh ở trận quyết chiến Ngọc Hồi - Đống Đa chiếm lại thành Thăng Long giữa ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu (1789) giải phóng đất nước, thống nhất giang san của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ
Vào nửa sau thế kỉ XIX thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Phú Yên
đã có nhiều đóng góp cùng với triều đình chống giặc
Sau sự kiện triều đình thất thủ ở Kinh thành Huế năm 1885, ngày 13 tháng 7 năm 1885 vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương kêu gọi thần dân trong cả nước nổi dậy chống thực dân xâm lược Cùng với các sĩ phu yêu nước khắp Trung Kỳ, các sĩ phu Phú Yên đã lãnh đạo nhân dân hưởng ứng lời hịch cứu nước một cách rầm rộ Những cuộc khởi nghĩa của Tú tài Lê Thành Phương, Võ Trứ, Nguyễn Hào Sự, Trần Cao Vân là tiêu biểu cho phong trào Cần Vương ở Phú Yên Mặc dù các cuộc khởi nghĩa đều thất bại nhưng đã góp phần ngăn cản quá trình bình định của thực dân Pháp trên dải đất miền Trung và cả nước
Năm 1908, cuộc biểu tình của đông đảo nhân dân đòi giảm sưu, giảm thuế ở
Trang 22Hữu Dực và Lê Văn Hanh lãnh đạo diễn ra mạnh mẽ, đã làm cho thực dân Pháp và
bộ máy Nam triều ở địa phương hoảng hốt, thực dân Pháp đã phải giảm sưu thuế cho nông dân
Đầu năm 1930, phong trào yêu nước chống Pháp ở Phú Yên phát triển cùng với phong trào chung của cả nước, nhất là sự chuyển biến nhanh chóng của phong trào yêu nước sang khuynh hướng vô sản mà bước ngoặt của cách mạng là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (2/1930) Ở Phú Yên, ngày 5/10/1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập do đồng chí Phan Lưu Thanh làm Bí thư
Công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bước sang một giai đoạn cách mạng mới Từ khi có Đảng lãnh đạo, phong trào yêu nước của Phú Yên được nhân lên Ngày 24/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Việt Minh, nhân dân Phú Yên vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, phá tung gông xiềng 80 năm nô lệ, thoát khỏi ách áp bức của đế quốc, thực dân phong kiến
Ngày 13/1/1947, quân dân Phú Yên hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáng trả và đẩy lùi cuộc tiến công quy mô của giặc Pháp từ đèo Cả đánh ra, giữ vững vùng tự do Phú Yên Trong năm 1954, quân dân Phú Yên đập tan chiến dịch Át-Lăng của giặc Pháp, chia lửa cùng chiến trường chính Điện Biên Phủ
tàu không số cùng cả nước đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ Đặc biệt với
cụm phòng thủ duyên hải Nam Trung Bộ của chính quyền Sài Gòn, quân và dân Phú Yên đã góp phần cùng cả nước đẩy mạnh cuộc tiến công và nổi dậy, giải phóng quê hương Ngày 1/4/1975, trong thế tiến công, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và
dân Phú Yên đã đồng loạt tấn công, giải phóng thị xã Tuy Hòa Đúng 10 giờ, cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Nhạn Tháp, tỉnh Phú Yên hoàn toàn giải phóng
Trang 23Ngày 3/11/1975, tỉnh Phú Yên sáp nhập với tỉnh Khánh Hòa thành tỉnh Phú Khánh
Ngày 1/7/1989, tách ra từ tỉnh Phú Khánh, tỉnh Phú Yên được tái lập và tồn tại cho đến ngày nay
Về đơn vị hành chính, tỉnh Phú Yên bao gồm 1 thành phố tỉnh lỵ, 1 thị xã và 7 huyện:
• Huyện Đồng Xuân 1 thị trấn (La Hai) và 10 xã
• Huyện Phú Hòa 1 thị trấn (Phú Hoà) và 8 xã
• Huyện Sơn Hòa 1 thị trấn (Củng Sơn) và 13 xã
• Huyện Sông Hinh 1 thị trấn (Hai Riêng) và 10 xã
• Huyện Tuy An 1 thị trấn (Chí Thạnh) và 15 xã
Như vậy, hiện nay tỉnh Phú Yên có 112 đơn vị cấp xã (gồm 16 phường, 5 thị trấn và 91 xã)
1.1.2.2 Đặc điểm dân cư
Dân số Phú Yên năm 1990 là 657.997 người, năm 2000 là 799.645 người, năm
, Sơn
, Đồng Xuân 56 người/km2
1.542 người/km2, huyện Tuy Hòa 290 người/km2(năm 2002) [17], [63], [65]
Cơ cấu dân số chia theo khu vực chưa có sự biến đổi lớn giữa thành thị và nông thôn: dân số ở thành thị chiếm khoảng 20%, nông thôn chiếm 80% Nguồn lao động khá dồi dào, chiếm bình quân từ 56%-58,5% tổng dân số, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996-2000 là 1,78%/năm, giai đoạn 2001 – 2005 tăng 1,6%/năm và giai đoạn 2006 – 2010 tăng 1,2%/năm Năm 2010 số lao động có 467.870 người, chiếm 58,3% tổng dân số tỉnh
Trang 24Tỷ lệ thất nghiệp không cao, nhưng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn còn thấp khoảng: 71,31%, nhu cầu về giải quyết việc làm cho người lao động còn lớn Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa tốt: lao động phổ thông chiếm 85,9% Lao động có chuyên môn kỹ thuật còn thiếu nghiêm trọng Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm, lực lượng lao động hiện nay phân bố không đều, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển trong tỉnh cũng như trong vùng Tình trạng lao động đi tìm việc làm ngày càng tăng, nhất là lao động ở nông thôn thiếu việc làm và không có trình độ chuyên môn kỹ thuật phải đi về thành thị tìm kiếm việc làm và chỉ làm được những công việc đơn giản, lao động phổ thông
thôn, phần lớn còn nghèo, thiếu tri thức khoa học kỹ thuật, sản xuất còn lạc hậu Chính vì vậy cần phải tạo điều kiện để con em nhà nghèo được đến trường đi học, đào tạo nguồn lao động có trình độ tay nghề cao để phục vụ nhu cầu phát triển của tỉnh
Về trình độ dân trí, tính đến năm 2002, đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 100%
số huyện, thị với số xã đạt 95%; tỷ lệ người biết chữ chiếm 98% dân số Công tác phổ cập bậc trung học cơ sở đang được tỉnh triển khai, đến hết năm 2002, toàn tỉnh
đã có 41/101 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở Tỷ lệ trẻ
em đủ tuổi đến trường đạt 95% Số học sinh phổ thông ngày càng tăng, trong đó số học sinh dân tộc thiểu số cũng tăng mạnh Bình quân toàn tỉnh là 2,7 người có 1 học sinh đi học Toàn tỉnh có 378 bác sỹ, đạt tỷ lệ 4,8 bác sỹ/1 vạn dân Hiện có 49,5%
xã có bác sỹ; 100% các xã có trạm y tế xã
Về thành phần dân tộc, Phú Yên có gần 30 dân tộc sống chung với nhau Chăm, Êđê, Ba Na, Hrê, Hoa, Mnông, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên Sau ngày miền Nam được giải phóng và sau khi thành lập huyện
Hinh như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu Toàn tỉnh có trên 30.000 người dân tộc đang sinh sống
Trang 25Phú Yên có 3 huyện miền núi là Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân với 36 xã, thị trấn Mỗi huyện đều có xã vùng cao và người dân tộc thiểu số sống xen kẽ với người Kinh Trong 4 huyện, thị xã còn lại địa phương nào cũng có xã miền núi, bán đảo, vùng khó khăn, các dân tộc thiểu số sống rải rác trên các địa bàn hiểm trở ấy
Do những đặc điểm nói trên nên vấn đề phát triển kinh tế-văn hóa-giáo dục gặp rất nhiều khó khăn Điều đó đỏi hỏi công tác giáo dục đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số làm sao có những nét riêng phù hợp, song không vì vậy mà hạ thấp mặt bằng giáo dục mà phải đảm bảo trình độ chung của giáo dục cả tỉnh, cả nước
Tình hình tôn giáo, toàn tỉnh có 5 loại tôn giáo chính Phật giáo có 238.446 tín
đồ, 347 chức sắc nhà tu; Công giáo có 17.000 tín đồ, trong đó sinh hoạt chính thức
là 15.170 tín đồ, 25 nhà tu hành, 14 linh mục; Tin lành có 3.775 tín đồ, có 3 mục sư;
Ðạo Cao đài và đạo Hoà hảo, trong đó đạo Cao đài có 3.154 tín đồ, đạo Hoà hảo có
gần 300 tín đồ Các tôn giáo tồn tại hòa bình với nhau, chưa có xung đột xảy ra Con người Phú Yên chất phác, hiền hòa, dũng cảm và thông minh đã sống, lao động và chiến đấu trong suốt chiều dài lịch sử để bảo vệ và dựng xây quê hương giàu và đẹp xứng đáng với niềm tự hào đứng trong hàng ngũ đại gia đình Việt Nam, điều đó đã được hun đúc nên một nền văn hiến ngàn đời của dân tộc, một nền văn hóa giáo dục đậm đà bản sắc Việt Nam
1.1.3 Truyền thống văn hóa – giáo dục Phú Yên
Theo dòng lịch sử của dân tộc, Việt Nam được hình thành và lại phải sớm đương đầu với giặc ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc Trong ngàn năm đấu tranh chống xâm lược của phong kiến phương Bắc cũng là ngàn năm dân tộc ta đấu tranh chống lại sự nô dịch bằng văn hóa giáo dục của kẻ thù Dân tộc ta không bị nền giáo dục Nho giáo của Trung Quốc đồng hóa mà ngược lại còn biết lựa chọn, hấp thu những tinh hoa của nền văn hóa đó để xây dựng và phát triển cho nền văn hóa Việt Nam
Trải qua các triều đại giành được độc lập tự chủ, ông cha ta đã xây dựng nên một nền văn hiến rực rỡ mà khởi đầu bằng việc ra đời Quốc tử giám – trường Đại học
Trang 26đầu tiên của Việt Nam vào năm 1076 Quốc Tử giám được thành lập sớm hơn cả một
số trường đại học lớn từ thời kỳ văn hóa phục hưng ở châu Âu
Sự tôn vinh 1347 vị tiến sĩ được khắc tên ở 82 bia Văn Miếu qua các triều đại phong kiến Việt Nam từ 1442 đến 1779 đã chứng tỏ từ lâu đời ông cha ta đã chú ý xây dựng một nền quốc học đậm đà bản sắc dân tộc Tinh thần “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, các nhà khoa bảng, các nhà trí thức Việt Nam là rường cột của nền văn hiến đã cùng với các minh quân, lương thần xây dựng nên nhiều triều đại phong kiến cực thịnh ở nước ta
Do điều kiện lịch sử, địa lý, tỉnh Phú Yên chưa xuất hiện nhiều nhà đại trí song các bậc tài trí ở Phú Yên như Lương Văn Chánh, Đào Trí, Nguyễn Công Nhàn, Lê Thành Phương, Nguyễn Hào Sự, Nguyễn Hữu Dực, Phan Lưu Thanh … cũng đã góp mặt vào kho sử vàng của dân tộc và các hàn sĩ, hương sư đã lặng lẽ góp phần bảo tồn và phát triển nền học vấn cho nhân dân lao động Phú Yên
Dưới thời chúa Nguyễn, Phú Yên là vùng đất mới chưa ổn định, việc giáo dục khoa cử ở đây cũng chưa được đi vào nề nếp, người đi học chưa nhiều, người dự khóa thi rất ít
cũng như sự trưởng thành đội ngũ quan lại của thời chúa Nguyễn Việc thi cử này tuy
được nhiều quan lại mới Các quan lại đứng đầu phủ Phú Yên, huyện Đồng Xuân và
đồ năm 1647, 1660, 1675 và đông đảo thuộc lại của ba ty ở dinh Trấn Biên, thuộc
đậu các kỳ thi Hoa văn trong các năm nói trên
Phú Yên là phủ mới lập, ở xa Chính dinh nên người đi học khó khăn và đi thi
Ông là người đỗ đầu kỳ thi Hương năm MậuTý (1768), sách Đại Nam thực lục chép
rõ là “người đương thời cho là xứng đáng” [56, tr.172] Sau khi thi đỗ, Bạch Doãn
Trang 27Triều được bổ ngay làm Tri huyện Đồng Xuân, phủ Phú Yên
Dưới triều Tây Sơn, tuy quá ngắn ngủi tình hình xã hội không được ổn định song việc học hành thi cử cũng đã được quan tâm Năm 1789 khoa thi đầu tiên được
mở gọi là khoa Minh kinh Hạng ưu khoa thi này là Phan Văn Biên, người huyện Tuy Hòa phủ Phú Yên Sau kỳ thi đó ông được bổ làm huấn đạo ở Phú Yên
Dưới thời nhà Nguyễn học trò Phú Yên được tạo điều kiện học tập, thi cử, nhưng không có người nào vào Điện thí Theo tác giả Cao Xuân Dục có chép trong
đậu cử nhân
Trong thời kỳ Hán học, các bậc nho sĩ Phú Yên, mặc dù ở trong hoàn cảnh, không thuận lợi: xa kinh đô, xa trường thi, thiếu phương tiện giao thông song các cụ cũng vượt được mọi trở ngại ra đi tìm đường học đạo để cầu tiến, nuôi chí lớn, vì giang sơn xã tắc Nhiều cụ đã từng vận động dân chúng hưởng ứng các phong trào kháng Pháp như Cần vương, duy tân, phong trào giảm sưu thuế và đã giữ tròn tiết tháo của các bậc chân nho như các cụ Nguyễn Hào Sự, Võ Thiệp và nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa chống Pháp của cụ Tú Phương Tuy cuộc khởi nghĩa không thành công nhưng đã ghi một trong những trang lịch sử bi hùng của dân tộc
Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp dùng chính sách ngu dân kìm hãm dân ta trong vòng ngu tối, lạc hậu để hòng áp bức, bóc lột, song với lòng yêu nước, ý chí quật cường lớp lớp người Việt Nam đã vùng lên chống thực dân Pháp để giành độc lập, tự do Đi đầu là các nhà nho, các chí sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Văn Tố… đã cổ súy phong trào Duy tân, Đông kinh nghĩa thục, truyền bá quốc ngữ để “khai dân trí”, “chấn dân khí”, “hậu dân sinh” để mưu cầu dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc Và đặc biệt, từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, vai trò
và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không những đã đem lại cho cách mạng Việt Nam con đường giải phóng đúng đắn mà từ năm 1943 với Đề cương văn hóa của Đảng đã chỉ ra con đường đấu tranh xây dựng một nền văn hóa dân tộc,
Trang 28khoa học, đại chúng Giáo dục được xem như là một vũ khí sắc bén, một mặt trận đấu tranh cách mạng, để vận động, tập họp giác ngộ mọi tầng lớp quần chúng lao động, giới trí thức, giáo giới, sinh viên học sinh… trong mặt trận đại đoàn kết dân tộc và đưa cuộc cách mạng đến thành công
Từ sau cách mạng tháng Tám 1945, Phú Yên chỉ sau một năm phát động hưởng ứng lời kêu gọi diệt giặc dốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến tháng 7 năm
1947 đã có trên 10 vạn người thoát mù chữ, là một trong 3 tỉnh đi đầu của Liên khu
V, được Chính phủ khen thưởng Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Phú Yên
đã có trên hàng ngàn học sinh với hàng trăm giáo viên Trường Lương Văn Chánh
là trường trung học đầu tiên ra đời ở vùng tự do Nam Trung Bộ (10/1946), đánh dấu một bước tiến vượt bậc của nền giáo dục cách mạng của tỉnh Cho đến năm 1954, Phú Yên đã xây dựng được một nền giáo dục dân tộc dân chủ nhân dân với một hệ thống cả giáo dục bình dân và giáo dục phổ thông, từ các lớp mẫu giáo, tiểu học đến bậc trung học Ngành giáo dục đã góp phần tích cực vào thắng lợi to lớn của công cuộc kháng chiến chống Pháp, hun đúc trong nhân dân và nhất là trong tầng lớp thanh thiếu niên lòng yêu nước nồng nàn, yêu chế độ dân chủ cộng hòa sâu sắc để họ trở thành những chiến sĩ yêu nước tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà
gian khổ của quân và dân trong tỉnh
Giai đoạn này ở Miền Nam tồn tại 2 nền giáo dục hoàn toàn đối lập nhau, đấu
điều kiện chiến tranh ác liệt
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Phú Yên, giáo dục cách mạng ở những vùng tự
do thực sự là một mặt trận Thầy giáo, học sinh là những chiến sĩ kiên cường Họ vượt lên mọi hy sinh, gian khổ trong mưa bom, bão đạn để làm tròn nhiệm vụ xóa
đội làm tốt hơn công tác, chiến đấu trên chiến trường
Trang 29Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai dùng bao nhiêu thủ đoạn tàn bạo hòng tiêu diệt
lực lượng cách mạng, kể cả việc thả bom triệt hạ trường học, bắn giết thầy giáo học
sinh, xóa bỏ nền giáo dục cách mạng, gom dân lập ấp chiến lược… nhưng thầy trò ở
địa phương Phú Yên kiên quyết thực hiện khẩu hiệu “Dân bám đất, giáo dục bám
trường lớp
Được nuôi dưỡng bằng bộ máy chiến tranh của đế quốc Mỹ, nền giáo dục
lượng trường lớp, phương tiện dạy học, nhưng cơ bản nền giáo dục này vẫn nằm
trong âm mưu là phục vụ cho mục đích chính trị, quân sự của Mỹ- ngụy
lòng căm ghét ngoại bang, ý thức độc lập dân tộc được khích lệ, đa số thầy giáo,
vùng giải phóng, nhiều người thoát ly đi theo kháng chiến Phong trào sinh viên,
học sinh bằng các hoạt động xã hội kết hợp với phong trào đấu tranh của các giới
thành thị ở Tuy Hòa đã làm cho chính quyền ngụy lung lay, rệu rã
nhà trường của chính quyền Sài Gòn đã rèn luyện, đào tạo nhiều chiến sĩ cách
đội ngũ cán bộ tham gia quản lý chính quyền cách mạng nhân dân, xây dựng
quê hương, đất nước sau ngày đất nước thống nhất (4/1975)
1.2 Nh ững nét cơ bản về giáo dục Phú Yên trước khi tái lập tỉnh (1989)
1.2.1 Giáo d ục Phú Yên trong những ngày đầu giải phóng (4 - 11/ 1975)
* Ch ủ trương của Đảng về giáo dục
Trang 30Ngay từ những ngày đầu tiên cuộc hồi sinh vĩ đại của đất nước, với bao công
tác giáo dục giữ một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển
ở miền Nam, cùng với miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN) xây dựng một nước Việt
cách mạng trên các mặt kinh tế, văn hóa và quốc phòng”[16, tr 215]
Chỉ thị đã hướng dẫn các nhiệm vụ cụ thể về việc tích cực xóa nạn mù chữ và
bổ túc văn hóa, về việc phát triển mạnh và đều khắp các trường phổ thông, xây
viên và cán bộ quản lý giáo dục
* Vi ệc triển khai chủ trương về giáo dục ở Phú Yên
Tiếp thu Chỉ thị của Đảng, tỉnh ủy Phú Yên đã có Nghị quyết về giáo dục, với
mấy nhiệm vụ chính:
1- Tập trung duy trì, củng cố và nhanh chóng phát triển những cơ sở giáo dục cách mạng
2- Tiếp quản tốt các cơ sở giáo dục của Mỹ ngụy
3- Ổn định lại tình hình nhà trường, kết thúc năm học 1974 -1975 và chuẩn
bị thật tốt cho năm học mới, năm học đầu tiên sau ngày giải phóng 1975 – 1976
dục - những chiến sĩ giáo dục Phú Yên lại bước vào một cuộc chiến đấu mới - công
hương của mình
* T ổ chức bộ máy giáo dục và xây dựng trường, lớp
Trang 31Công việc đầu tiên của việc xây dựng lại một nền giáo dục cách mạng mới là
phải nhanh chóng hình thành hệ thống bộ máy giáo dục trong toàn tỉnh
Ở cấp tỉnh, thành lập Ty Giáo dục Phú Yên, dưới là Ban giáo dục các cấp
giải phóng thật là khó khăn, vất vả và phức tạp Nhưng với tinh thần của người
của tỉnh
Trên cơ sở những lớp học đã duy trì được ở các vùng căn cứ, Tiểu ban giáo
từ lâu phải bị tập trung ở các ấp chiến lược của địch, hay tản cư nay trở về làng cũ làm ăn, học tập
Các trường tập trung của tỉnh ở chiến khu được dời về đồng bằng Trường Sư
Trường Sư phạm miền núi Phú Yên chuyển thành trường Thanh niên dân tộc
nội trú Tân Lương (Sơn Hòa), lúc này gọi là trường 3 chức năng (sản xuất, học tập,
trình độ cấp II
tiếp nhận và củng cố lại một số trường tiểu học ở thị xã Tuy Hoà, thị trấn Phú Lâm,
Sông Cầu… Tất cả với số lượng vài nghìn học sinh và hơn một trăm giáo viên
chủ trường đều hoan nghênh và tự nguyện chuyển giao nhà trường từ cơ sở vật chất đến giáo viên, học sinh cho Ban giáo dục tỉnh quản lý
Trang 3210-12) của các trường tư thục trên địa bàn thị xã Tuy Hòa, trường Nông-Lâm-Súc
và bắt đầu đi vào dạy học Học sinh cấp tiểu học và học sinh trung học đệ nhất cấp (lớp 6-9) đưa về học tại các trường thuộc phường theo hình thức liên cư, liên địa Ở nông thôn, một số nơi có điều kiện ngành giáo dục cũng đã bắt tay vào sửa chữa lại trường cũ, hoặc xây dựng trường tạm cho học sinh học tập Tất cả các trường học được mở cửa trở lại với yêu cầu hoàn thành chương trình năm học 1974 – 1975.Mùa hè năm 1974-1975, tất cả học sinh cấp II, cấp III đều lên đường tham gia khai hoang, vỡ hóa để phục vụ sản xuất thực hiện nguyên lý giáo dục mới: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
đạt 85% Các lớp trung học, tiểu học cũng lần lượt hoàn thành chương trình năm
học
Bị chiến tranh tàn phá, trường lớp ở vùng căn cứ, vùng giải phóng cũ hầu hết
là trường tạm còn ở vùng mới giải phóng, ở đô thị cũng đã cũ kỹ, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn nghiêm trọng, Ban giáo dục các cấp cùng với chính quyền cơ
xây cất các lớp học mới để kịp thời đón học sinh các cấp vào học
đang hồ hởi đón nhận chế độ giáo dục mới
* Bước đầu xây dựng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Một vấn đề có tính chất quan trọng đặc biệt là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
quá ít, phần nhiều đã trở thành cán bộ các cấp chính quyền ban ngành từ xã, huyện,
tỉnh, một số tiếp tục công tác quản lý giáo dục các địa phương
Trang 33Trường sư phạm Phú Yên sau 4 tháng nỗ lực từ tháng 8 đến tháng 12/1975, đã đào tạo cấp tốc được 350 GV mẫu giáo, 401 GV tiểu học, 58 GV cấp II Uỷ Ban
cả các giáo viên đã giảng dạy dưới chế độ cũ đủ tiêu chuẩn tiếp tục đứng lớp, góp
phần ổn định tình hình nhà trường, chuẩn bị vào năm học mới
năm học đầu tiên sau ngày giải phóng
Như vậy, đến năm 1976, Phú Yên đã có một nền giáo dục phổ thông khá hoàn
246 GV; cấp I có 20 trường với 1233 lớp với 56.326 HS và 846 GV; về cấp II có 10 trường, 183 lớp 10.744 HS và 221 GV; về cấp III có 3 trường 56 lớp, với 2766 HS
và 77 GV” [60, tr.7]
1.2.2 Giáo d ục Phú Yên trong thời kì hợp nhất với tỉnh Khánh Hòa (Từ 11/ 1975 đến 7/1989)
tỉnh để đáp ứng yêu cầu xây dựng kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới
đóng ở Nha Trang Tháng 12/1976, Đại hội Đảng lần thứ IV vạch ra con đường cho
cả nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội Về vấn đề giáo dục, Nghị quyết Đại hội đã chỉ rõ nhiệm vụ của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới là phải đào tạo có chất lượng
tốt những người lao động mới và thực hiện tốt nguyên lí, phương châm giáo dục của Đảng Đại hội IV đã quyết định “tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, làm cho
(29/3/1989) ra Nghị quyết về công tác giáo dục Nghị quyết nêu rõ:
Trang 34“Công tác giáo dục phải hướng trọng tâm vào việc từng bước ổn định tình hình giáo dục, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo” “Hoàn thành tổng kết việc
thực hiện cải cách giáo dục để tiếp tục điều chỉnh nhằm mục tiêu đào tạo thanh
động Việt Nam có bản sắc văn hóa dân tộc, năng động sáng tạo, ý chí đưa đất nước
đi lên, có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp cần thiết để đáp ứng
tr.882]
Trong 15 năm hợp nhất từ năm 1975 đến tháng 7 năm 1989, ngành giáo dục Phú Khánh luôn theo sát, thực hiện tích cực chủ trương đường lối về giáo dục của Đảng, Nhà nước và Bộ giáo dục cũng như các cấp Đảng và chính quyền địa phương, nỗ lực xây dựng và phát triển giáo dục ngày càng phát triển, có một vị trí
xứng đáng trong sự nghiệp giáo dục cả nước
* V ề tổ chức bộ máy
hoặc Bộ giáo dục cử đến
Ban lãnh đạo Ty Giáo dục Phú Khánh đã nghiêm túc chấp hành chính sách
của TW, chỉ đạo chặt chẽ, cụ thể, biết coi trọng công tác tư tưởng chính trị cho nên
lượng công việc rất lớn, phức tạp trong việc tuyển dụng lại đội ngũ giáo viên vùng
thu tốt đường lối chính sách giáo dục, tiếp nối được truyền thống cách mạng của quê hương, đem hết nhiệt tình xây dựng giáo dục
Đến ngày 01/01/1977, ngành đã xếp lương chính thức cho giáo viên cũ được tuyển dụng lại và giáo viên tuyển dụng mới, thực hiện một bước thống nhất chế độ lương trong cả nước, xóa bỏ sự khác biệt trước đây Đồng thời cố gắng thực hiện
Trang 35ngay một số chính sách khác, tạo điều kiện ổn định đời sống, khuyến khích GV hăng hái công tác, giảng dạy theo đường lối giáo dục cách mạng
phần ổn định tình hình chính trị và an ninh chung vùng mới giải phóng và toàn xã
hội
ngành, các cấp và nhân dân thấy rõ vai trò vị trí của ngành giáo dục, của người thầy giáo, đánh giá đúng đắn hơn đội ngũ giáo viên vùng mới giải phóng, để có cơ sở bố trí
sử dụng hợp lí, phát huy được mặt tích cực của họ, phát triển được đoàn thể, xây dựng cán bộ cốt cán, tín nhiệm của giáo viên được nâng cao trong học sinh, cha mẹ học sinh
và nhân dân, làm động lực tinh thần cho họ phấn đấu Nền giáo dục Mỹ - Ngụy, hậu
quả của nền giáo dục thực dân cũ và cả hậu quả của những năm dài chiến tranh… dần
dần bị xóa bỏ
vẫn là một công cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ, vừa xây dựng vừa phát triển một cách sâu rộng, toàn diện trong quá trình hoạt động của ngành giáo dục
* Xây d ựng hệ thống trường sư phạm
giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mới làm nòng cốt cho công việc xây dựng nền giáo dục cách mạng là hết sức quan trọng và cấp bách
Trường Sơ cấp nghiệp vụ nuôi dạy trẻ ở thị xã Tuy Hòa đào tạo hàng trăm cô
trường chuyển ra thị xã Tuy Hòa và hợp nhất với trường Trung học sư phạm Phú
trường đào tạo trên 400 giáo viên cấp I song vẫn không đủ đáp ứng yêu cầu
Trang 36phát triển trường lớp tiểu học theo nhu cầu học tập của nhân dân sau ngày giải phóng Trường lại phải kiêm nhiệm luôn nhiệm vụ đào tạo giáo viên mầm non
và bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên
đóng góp rất to lớn và quan trọng trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
* Xóa n ạn mù chữ và bổ túc văn hóa
ghi rõ:
được coi đây là một nhiệm vụ cấp thiết số một nhằm nhanh chóng xóa bỏ tình
để lại, nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân lao động, tạo điều kiện cho việc giáo dục chính trị và phổ biến khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh đào tạo cán bộ trong những người đã trải qua chiến đấu, sản xuất và công tác” [16, tr.217]
Tính đến tháng 11/1976 Phú Khánh đã có 70.880 người được xóa mù
văn hóa (BTVH)
Đến cuối năm 1978, toàn tỉnh có đến hàng trăm lớp BTVH cho nhân dân
tỉnh Phú Khánh
trình độ cho cán bộ và thanh niên ưu tú Ở cấp tỉnh, trường Phổ thông lao động Bắc
Trang 37Phú Khánh có nhiệm vụ dạy BTVH cho cán bộ chủ chốt các huyện, thị Trường
văn hóa cấp II (sau đó là cấp III) theo chương trình bổ túc cho hàng trăm cán bộ và thanh niên ưu tú, những người đã tham gia cuộc chiến tranh giải phóng đất nước chưa có điều kiện học tập Ở các huyện cũng thành lập hệ thống trường phổ thông lao động huyện, thị đào tạo trình độ văn hóa cấp II theo chương trình bổ túc cho cán
bộ huyện, xã và thanh niên công nông Sau khi tái lập tỉnh Phú Yên, số học sinh dân
tộc quê Phú Yên được đưa về học theo các lớp riêng tại trường BTVH tỉnh, các lớp này là tiền thân của loại hình trường Phổ thông dân tộc nội trú (DTNT) về sau
máy Đảng, Nhà nước và đoàn thể các cấp
* Giáo d ục mầm non và phổ thông
tăng rất nhanh Bình quân trong 10 năm tăng 10,23%/năm Lực lượng GV năm
1984 tăng đến 1.046 người Chất lượng nuôi dạy còn ở mức độ thấp Giáo viên
Trang 38Nhìn vào bảng 1.1, so với năm học đầu tiên sau ngày giải phóng thì số lớp học
MN ở Phú Yên tăng gấp 5 lần, số học sinh tăng 3,69 lần, số giáo viên tăng 3,9 lần,
học sinh MN đạt tỷ lệ 3,6% dân số và 45,6% so với số cháu trong độ tuổi MN (từ 3 đến 6 tuổi) (trung bình chung trong cả nước học sinh MG đạt tỷ lệ 1,44% dân số) Như vậy có thể nói bộ phận Bắc Phú Khánh (Phú Yên) số học sinh MG được huy động đạt tỷ lệ cao, đứng vào các loại khá trong cả nước Và cũng nói lên sự cố gắng, nỗ
Bà mẹ và Trẻ em các cấp
Sau 15 năm giải phóng giáo dục phổ thông Phú Yên có sự phát triển tốt
khá, nhưng quy mô hãy còn nhỏ so với các cấp học khác
B ảng 1.2: Tình hình phát triển giáo dục phổ thông cả 3 cấp I + II + III của Phú Yên trong 15 năm hợp nhất từ 1975 đến 1989
Trang 39Nguồn: Sở Giáo dục Phú Khánh, Báo cáo tổng kết năm học 1975-1989 Trước đây, một bộ phận học sinh cấp I ở Phú Yên đi học chậm so với độ tuổi
bình là 2,54%/năm Học sinh cấp II tăng với tốc độ lớn nhất, có năm đạt tới 10,89% (năm 1984) do chủ trương của ngành giáo dục là tối đa việc cho học sinh tốt nghiệp
cấp I lên học cấp II Học sinh cấp III tăng 6,75%/năm
những số liệu trong bảng 1.3 sau:
B ảng 1.3: Tình hình phát triển giáo dục cấp Trung học phổ thông từ 1975-1989
Số trường THPT ở Phú Yên từ 1975- 1989 tăng gấp 4 lần (14/3), số lớp cũng tăng gần 4 lần (210/56), học sinh tăng gấp 3 lần (8663/2766), giáo viên tăng 4 lần (311/77) Tỉ lệ HS/lớp khi mới giải phóng còn cao nhưng đến những năm sau đó tỉ lệ này giảm xuống còn 41,25 trong năm 1988-1989
Trường PTTH Nguyễn Huệ, THPT Ngô Gia Tự (Tuy Hòa), THPT Phan Đình
Phong, trường Lê Trung Kiên (huyện Tuy Hòa), trường Trần Quốc Tuấn (Thị xã Tuy Hòa), trường Trần Phú, trường Lê Thành Phương (Tuy An), trường Quang
nghiệp cấp II
Để đáp ứng với việc tăng nhanh số học sinh, lực lượng GV đã phải tăng với
tốc độ rất cao Trung bình toàn ngành tăng 7,68%/năm Trong đó cấp I tăng
Tỉ lệ HS/lớp
Tỉ lệ GV/lớp
Trang 404,86%/năm (tăng gấp 3 lần so với số HS) giáo viên cấp II tăng 14,51%/năm (tốc độ tăng gấp rưỡi so với HS) số giáo viên cấp III tăng 10,4%/năm (tăng gấp rưỡi so với
năm 1984-1985 là 2,1 nhưng đến năm 1988-1989 lại tụt xuống còn 1,5
lượng và chất lượng giáo dục luôn là vấn đề bức xúc và kéo dài trong nhiều năm
phương có phong trào giáo dục khá tốt trong cả nước Và phong trào giáo dục
trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” được phát động, duy trì ngày càng thúc đẩy nâng cao chất lượng
Hàng năm, các đợt hội giảng giáo viên dạy giỏi các cấp (trường, huyện,
tỉnh) được tổ chức thường xuyên Đây là dịp tất cả giáo viên trao đổi kinh
kinh nghiệm đạt giải nhất toàn ngành
nền nếp chất lượng, có nhiều xã trở thành điển hình tiên tiến trong giáo dục Như
khác đã có trường cấp II tại xã với 320 học sinh, từ 13 phòng học nhà trường đã
Cuối năm học, 75% giáo viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến, học sinh lớp 9 tốt
HS được công nhận danh hiệu “cháu ngoan Bác Hồ” Năm học 1978 - 1979 trường phổ thông cấp II Xuân Lộc – Sông Cầu đạt danh hiệu là lá cờ đầu toàn ngành giáo dục Phú Khánh