1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng tiến tới đồng khởi ở khu 8 trung nam bộ (1954 1960)

209 489 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 7,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự giúp đỡ trực tiếp của Mỹ, Ngô Đình Diệm tiến hành các biện pháp nhằm phá hoại Hiệp định Genève, xây dựng quân đội và bộ máy ngụy quyền, tiến hành tiêu diệt lực lượng các giáo phái

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Thái Văn Thơ

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH GIỮ GÌN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Thái Văn Thơ

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH GIỮ GÌN

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướng dẫn, hỗ

trợ của PGS TS Hà Minh Hồng Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên

cứu nào Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với công trình nghiên

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, ngoài

sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên và giúp đỡ quý báu

từ nhiều đơn vị và cá nhân

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

và Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp

thuận, tạo điều kiện cho tôi học tập và thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô giảng viên dạy lớp Cao học Lịch sử

Việt Nam khóa 22 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp

cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong toàn khóa học Cao học

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, nhân viên Thư viện Trường

Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Thư viện Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh

cũng như giám đốc, cán bộ, nhân viên của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện, cung cấp và giúp đỡ cho tôi nhiều tư liệu quý để hoàn

thành tốt luận văn này

Và đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Minh Hồng là người Thầy

đã hết lòng giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tận tụy cho tôi trong suốt quá trình thực

hiện luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và tất cả các

anh chị, em Học viên lớp Cao học Lịch sử Việt Nam khóa 22 đã động viên, giúp đỡ

tôi trong học tập cũng như trong quá trình hoàn thành tốt luận văn này

Cuối cùng, dù đã rất cố gắng, song luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế,

thiếu sót Tôi kính mong quý Thầy, Cô và Hội đồng chấm luận văn góp ý cho những

thiếu sót trong luận văn này

Tôi chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013

Tác gi ả

Thái Văn Thơ

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

L ỜI CẢM ƠN 2

M ỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu 5

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu sử dụng 11

5 Đóng góp của luận văn 12

6 B ố cục của luận văn 13

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHU 8 – TRUNG NAM BỘ VÀ TÌNH HÌNH NHI ỆM VỤ MỚI SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE 14

1.1 V ị trí địa lý, thiên nhiên và con người Khu 8 – Trung Nam Bộ 14

1.2 Khu 8 – Trung Nam B ộ đấu tranh và xây dựng trong kháng chiến chống th ực dân Pháp (1945 - 1954) 18

1.3 Hi ệp định Genève và tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng ở Khu 8 31

CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG Ở KHU 8 – TRUNG NAM B Ộ SAU HIỆP ĐỊNH GÈNEVE (1954 – 1958) 38 2.1 Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève ở Khu 8 – Trung Nam Bộ (1954 - 1956) 38

2.1.1 Ở tỉnh Kiến Phong (Đồng Tháp) 39

2.1.2 Ở tỉnh Bến Tre 43

2.1.3 Ở tỉnh Long An – Kiến Tường (Long An) 47

2.1.4 Ở tỉnh Mỹ Tho, Gò Công (Tiền Giang) 52

2.1.5 Ở tỉnh An Giang 54

2.2 Đấu tranh giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng ở Khu 8 – Trung Nam B ộ giai đoạn 1954 – 1958 57

2.2.1 Đấu tranh bảo vệ và giữ gìn lực lượng cách mạng, chống quốc sách “tố cộng, diệt cộng” 57

2.2.2 Xây dựng lực lượng vũ trang tự vệ quần chúng các địa phương 66

Trang 6

2.2.3 Những trận đánh diệt tề trừ gian, diệt đồn bót 72

2.2.4 Xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền trong toàn Khu 79

2.3 Nh ững yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra trong đấu tranh giữ gìn và xây d ựng lực lượng ở Khu 8 – Trung Nam Bộ 81

2.3.1 Vấn đề bạo lực cách mạng quần chúng 81

2.3.2 Sử dụng hình thức và phương pháp đấu tranh 83

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG TIẾN TỚI ĐỒNG KHỞI TRONG TOÀN KHU 8 – TRUNG NAM BỘ (1959 – 1960) 88

3.1 Th ời cơ và sự chuẩn bị trực tiếp cho khởi nghĩa 88

3.1.1 Chính quyền Mỹ - Diệm không thể thống trị được như trước 88

3.1.2 Lực lượng chính trị, vũ trang ở Khu 8 – Trung Nam Bộ được xây dựng, phát triển nhanh những năm 1959 - 1960 93

3.1.3 Nghị quyết 15 của Trung ương và chủ trương, kế hoạch khởi nghĩa ở Khu 8 101

3.2 Đồng Khởi chuyển thế chiến lược ở Khu 8 – Trung Nam Bộ năm 1960 104 3.2.1 Đồng Khởi ở tỉnh Kiến Phong (Đồng Tháp) 104

3.2.2 Đồng Khởi ở Bến Tre 107

3.2.3 Đồng Khởi ở tỉnh Long An – Kiến Tường (Long An) 116

3.2.4 Đồng Khởi ở tỉnh Mỹ Tho, Gò Công (Tiền Giang) 121

3.2.5 Đồng Khởi ở tỉnh An Giang 124

3.3 K ết quả của Cao trào Đồng Khởi ở Khu 8 - Trung Nam Bộ và những bài h ọc kinh nghiệm 128

3.3.1 Kết quả và những sáng tạo độc đáo của Cao trào Đồng Khởi chuyển thế chiến lược ở Khu 8 - Trung Nam Bộ (1959 - 1960) 128

3.3.2 Bài học kinh nghiệm về đấu tranh giữ gìn lực lượng, chuyển thế chiến lược ở Khu 8 137

K ẾT LUẬN 145

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 150

PH Ụ LỤC 165

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) của nhân dân Việt Nam

đã đi vào lịch sử gần 38 năm, khói lửa của chiến tranh đã không còn, ngày nay nước

Việt Nam đang vươn mình phát triển trên con đường đổi mới Nhìn lại 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kì không ai không khỏi đau xót, nhân dân Việt Nam đã phải chịu nhiều thiệt hại nặng nề không gì có thể tả hết Khói lửa đau thương tang tóc bao trùm trên toàn cõi Việt Nam trong những năm tháng ấy với sự đàn áp,

khủng bố dã man mà chế độ Mỹ - ngụy thực hiện ở miền Nam trong hơn 6 năm đầu

từ năm 1954 đến năm 1960 Trong những năm tháng khốc liệt này, thế giới đã chứng

kiến bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân kiểu mới và chế độ độc tài phát xít

Đó là khoảng thời gian Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm tìm mọi cách hòng tiêu diệt lực lượng các phía đối lập, tiêu diệt các thế lực cản trở con đường thành lập một “quốc gia” riêng tách hẳn khỏi Bắc Việt Nam và lệ thuộc vào Mỹ Với

sự giúp đỡ trực tiếp của Mỹ, Ngô Đình Diệm tiến hành các biện pháp nhằm phá hoại

Hiệp định Genève, xây dựng quân đội và bộ máy ngụy quyền, tiến hành tiêu diệt lực lượng các giáo phái, khủng bố, đàn áp dã man nhân dân yêu nước, lực lượng cách

mạng và những người kháng chiến cũ Mỹ và chế độ tay sai Ngô Đình Diệm đã tiến hành đàn áp, khủng bố khốc liệt Một bầu không khí tang tóc, đau thương bao trùm lên toàn miền Nam; nhân dân và lực lượng cách mạng miền Nam chịu nhiều tổn thất

nặng nề

Trong lúc tình thế khó khăn thử thách đó, lòng yêu nước và truyền thống bất khuất đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc đã được phát huy Đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt nhân dân miền Nam nói chung, quân và dân ở Khu 8 - Trung Nam Bộ nói riêng không thể nhịn mãi, không thể đứng nhìn mà chịu chết được, quân dân miền Trung Nam Bộ với những sáng tạo độc đáo đã xúc tiến quá trình đấu tranh

giữ gìn, xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh đủ sức đối phó với chính sách

khủng bố, đàn áp của Mỹ - ngụy lúc bấy giờ Đồng thời xây dựng, phát triển lực

Trang 8

lượng vững mạnh tiến tới một Cao trào Đồng Khởi nổ ra thắng lợi trong toàn Khu 8

thần lịch sử”, một Đồng Khởi thắng lợi vang dội trong toàn Khu Tìm hiểu, nghiên

cứu để làm sáng tỏ những vấn đề trên về Khu 8 - Trung Nam Bộ và làm rõ những sáng tạo độc đáo trong quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng thiết nghĩ là

một việc làm cần thiết, không chỉ có ý nghĩa, giá trị khoa học và thực tiễn mà còn để

tự hào về ông cha, tự hào về dân tộc, rút ra được những bài học quý báu ít nhiều có ích trong quá trình đổi mới và phát triển với không ít khó khăn thử thách của Việt Nam hôm nay Ngày nay, Việt Nam cần làm một “cuộc Đồng Khởi” nữa, cuộc

“Đồng Khởi” trong xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn Luận văn góp phần nhỏ vào việc nhận thức lịch sử đấu tranh cách mạng ở Khu 8 - Trung Nam Bộ trong giai đoạn lịch sử thời hiện đại, và cũng góp phần vào việc giáo dục

lịch sử đấu tranh cách mạng anh hùng ở địa phương Khu 8 cho thế hệ trẻ ngày nay

Vì những lí do đó mà chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quá trình đấu tranh giữ gìn

văn thạc sĩ của mình

Thông qua việc khái quát và phân tích quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng ở Khu 8 - Trung Nam Bộ trong một giai đoạn lịch sử đầy cam go và biến động từ 1954 đến 1960, luận văn cũng góp phần làm rõ trong thực tiễn những vấn đề

lý luận về chiến tranh cách mạng Việt Nam, cụ thể là khái niệm và nội dung, đặc điểm của hình thái “Đấu tranh giữ gìn lực lượng”, “Đồng Khởi” và “Chuyển thế chiến lược” của cách mạng miền Nam khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nói về Khu 8 - Trung Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trang 9

trong giai đoạn 1954 - 1960, thì từ sau năm 1975 đến nay đã có những công trình lớn

tập trung nghiên cứu như:

Nhóm tác giả Cao Văn Lượng, Phạm Quang Toàn, Quỳnh Cư trong Tìm hiểu

phong trào Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam, xuất bản năm 1981 của Nhà xuất bản

Khoa học Xã hội, Hà Nội đã nêu được khá đầy đủ và sinh động một Cao trào Đồng

Khởi đã nổ ra khắp cả miền Nam chống chế độ Mỹ - ngụy trong những năm 1959 -

1960 Tác phẩm đề cập đến phong trào Đồng Khởi toàn miền Nam nhưng chưa phân tích sâu sắc cũng như làm bật lên được những nét sáng tạo độc đáo của Khu 8 - Trung Nam Bộ trong những năm đầu đấu tranh giữ gìn bảo vệ, phát triển lực lượng cách mạng để tiến tới Đồng Khởi năm 1960

Tác phẩm Đồng Khởi ở Bến Tre của Quỳnh Cư do Nhà xuất bản TP Hồ Chí

Minh ấn hành năm 1985 đã khái quát về cuộc Đồng Khởi diệu kì, hào hùng của quân dân Bến Tre anh dũng

Năm 1988, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang cho ấn hành Cuộc kháng

cuộc kháng chiến anh dũng của quân dân tỉnh Tiền Giang trong hai cuộc kháng chiến

chống Pháp, Mỹ thần thánh

Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp năm 1990 cũng cho ấn hành sách Ba

mươi năm kháng chiến của quân dân Đồng Tháp (1945 - 1975), tác phẩm đã trình

bày cơ bản về cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ của quân dân tỉnh Đồng Tháp

Trong năm 1993 Thường vụ Tỉnh ủy Long An cho xuất bản cuốn Kiến Tường

chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân Kiến Tường anh hùng

Trong quyển Lịch sử Đồng Tháp Mười, do Võ Trần Nhã chủ biên được Nhà

xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1993 cũng có phần nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của các tỉnh Đồng Tháp Mười thuộc Khu 8 – Trung Nam

Bộ

Quyển Chung một bóng cờ (Về mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt

Trang 10

trình đấu tranh anh dũng của quân dân Khu Trung Nam Bộ trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ từ 1954 – 1960

Năm 1994 Thường vụ Tỉnh ủy Long An chỉ đạo biên soạn Long An lịch sử

kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) Tác phẩm đã trình bày về cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước anh dũng của quân dân Long An Trong đó giai đoạn 1954 –

1960 được khái quát cơ bản

Địa chí Đồng Tháp Mười do Hội đồng Khoa học Xã hội TP Hồ Chí Minh

biên soạn và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1996 đã có phần nói về

cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của các tỉnh Đồng Tháp Mười thuộc Khu 8 – Trung Nam Bộ

Năm 1997, Ban Chỉ đạo công trình lịch sử kháng chiến chống Mỹ Khu 8 -

Trung Nam Bộ xuất bản cuốn Đồng bằng khu Trung Nam Bộ chống Mỹ, cứu nước (tập

quan về Khu 8 - Trung Nam Bộ cũng như nêu bật được quá trình đấu tranh bất khuất anh dũng chống Mỹ - ngụy của quân và dân Khu 8

Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, cũng đề cặp đến quá trình đấu tranh gian khổ mà anh hùng của quân Khu 8 trong hơn 30 năm Tác phẩm đã khắc họa được những năm tháng đấu tranh gian khổ mà rất oanh liệt, đặc biệt là trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 - 1960 đã được đề cập rất cơ bản

Nguyễn Minh Đường chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm

2001 là một quyển sách quý nói về quá trình đấu tranh chống Mỹ cứu nước của Khu

8 - Trung Nam Bộ Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ, quân và dân Khu 8 đã vượt qua tất cả mọi khó khăn thiếu thốn và đã tạo ra nhiều cách đánh

giặc sáng tạo độc đáo, chính Khu 8 là nơi có nhiều đóng góp những kinh nghiệm quan trọng cũng như những bài học quý báu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ anh dũng cho cả miền Nam sau này

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang năm 2003 ấn hành sách Tuyên huấn Khu

Trang 11

8 - Trung Nam B ộ (1959 - 1975), 2 tập Tác phẩm là một tư liệu quý khái quát về

công tác tuyên huấn của Khu 8 - Trung Nam Bộ trong những năm chống Mỹ anh hùng Chính công tác tuyên huấn là một trong những mũi nhọn là vũ khí đấu tranh

sắc bén của quân và dân miền Nam nói chung và của Khu 8 nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - ngụy Công tác tuyên huấn đã góp phần quan trọng vào

thắng lợi chung của cuộc Đồng Khởi những năm 1959 - 1960

Tác giả Lê Hồng Lĩnh trong Cuộc Đồng Khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam,

cũng đã khái quát cơ bản về cuộc Đồng Khởi kì diệu của quân và dân miền Nam trong những năm tháng gian truân mà oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước Công trình nghiên cứu khá công phu đầy đủ về hoàn cảnh, nguyên nhân cũng như diễn tả lại diễn biến của Cao trào Đồng Khởi ở miền Nam

Năm 2010, Bộ Công an cùng với Tổng cục Xây dựng Lực lượng Công an Nhân dân và Viện Lịch sử Công an đã cho xuất bản cuốn Lịch sử An ninh Trung Nam

là một công trình nghiên cứu công phu về Khu 8 cũng như tình hình an ninh của toàn Khu 8 - Trung Nam Bộ những năm kháng chiến chống Mỹ - Ngụy

Trong quyển Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (1954 - 1975), tập 2, do Hội đồng

Chỉ đạo Biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến chỉ đạo biên soạn và được xuất bản năm 2010 cũng đã dành một phần khái quát về lịch sử kháng chiến của đồng bào Nam Bộ nói chung và của quân dân Khu 8 nói riêng Tác phẩm đã trình bày cơ bản

về cuộc đấu tranh của nhân dân Khu 8 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - ngụy

những năm đầu sau Hiệp định Genève cho đến Cao trào Đồng Khởi những năm 1959

- 1960 thắng lợi

Ngoài các tác phẩm và công trình nghiên cứu quan trọng đó thì các quyển

cũng lần lượt cho ấn hành và xuất bản Đây là những công trình nghiên cứu về lịch

sử của các tỉnh lúc trước thuộc Khu 8 - Trung Nam Bộ Trong giai đoạn lịch sử từ

1954 - 1960, trong các tác phẩm này cũng có dành phần nói về quá trình đấu tranh

Trang 12

giữ gìn lực lượng và diễn biến của Cao trào Đồng Khởi ở mỗi địa phương

Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu hay những bài viết phân tích về

cuộc đấu tranh hào hùng, anh dũng của quân và dân khu Trung Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là trong giai đoạn khốc liệt từ năm 1954 -

1960 Có thể thấy, với những công trình và các bài viết nghiên cứu đó ít nhiều đã đề

cập đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân Khu 8 – Trung Nam Bộ trong giai đoạn đầu từ năm 1954 kể từ sau Hiệp định Genève đến cao trào Đồng

Khởi nổ ra năm 1960 trong toàn Khu Tuy nhiên những công trình nghiên cứu đó chưa đi sâu vào khái quát và phân tích làm bật lên được quá trình đấu tranh giữ gìn

lực lượng cách mạng và tiến tới Đồng Khởi ở Khu 8 – Trung Nam Bộ trong giai đoạn 1954 – 1960

Với những thành tựu nghiên cứu quan trọng và quý giá đó, trên cơ sở kế thừa

những công trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khái quát và phục dựng lại quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng cũng như quá trình xây dựng, phát triển

lực lượng để tiến tới Đồng Khởi trong toàn Khu 8 - Trung Nam Bộ giai đoạn 1954 -

1960 Qua đó, chúng tôi đi vào phân tích những nét sáng tạo độc đáo của Khu 8 trong đấu tranh giữ gìn, xây dựng và phát triển lực lượng cũng như những sáng tạo trong Cao trào Đồng Khởi những năm 1959 - 1960

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng tiến

tới Đồng Khởi ở Khu 8 - Trung Nam Bộ (1954 -1960); cụ thể là các vấn đề:

- Những hoạt động phong phú sáng tạo của các hình thức đấu tranh giữ gìn, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở Khu 8 - Trung Nam Bộ

- Những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể trong quá trình đấu tranh giữ gìn, xây

dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở Khu 8 - Trung Nam Bộ

- Những đặc trưng sáng tạo trong phong trào Đồng Khởi ở Khu 8 những năm

1959 - 1960

Trang 13

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

- Về thời gian là quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng và tiến tới Đồng Khởi ở Khu 8 - Trung Nam Bộ từ năm 1954 đến năm 1960, cụ thể là từ sau khi Hiệp định Genève có hiệu lực (21/7/1954) đến thắng lợi vang dội của Cao trào Đồng Khởi nổ

ra trong toàn Khu những năm 1959 – 1960

- Về không gian là địa bàn Khu 8 - Trung Nam Bộ trong địa giới hành chính

thời chiến tranh, và nay bao gồm các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre

và An Giang

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu sử dụng

4.1 V ề phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp chung: chúng tôi khi nghiên cứu đề tài đã vận dụng những phương pháp và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Sử

dụng hai phương pháp nghiên cứu chung và quan trọng là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong đề tài nghiên cứu của mình

+ Phương pháp lịch sử là nhằm phục dựng lại quá trình đấu tranh giữ gìn, bảo

vệ, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở Khu 8 - Trung Nam Bộ trong giai đoạn từ 1954 - 1960 cũng như khái quát diễn tả lại diễn tiến của Cao trào Đồng Khởi

ở Khu 8 những năm 1959 - 1960

+ Phương pháp lôgic là đi vào phân tích đánh giá những nét sáng tạo độc đáo

của quân và dân Khu 8 trong quá trình đấu tranh giữ gìn, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng để tiến tới Đồng Khởi năm 1960 Đồng thời, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu mà Khu 8 đã sáng tạo ra trong thực tiễn đấu tranh cách

Trang 14

4.2 V ề nguồn tư liệu

Luận văn đã sử dụng các nguồn tư liệu sau:

- Những công trình tác phẩm nghiên cứu đầu tiên, tiêu biểu về Khu 8 - Trung Nam Bộ đã tạo nền tảng lớn giúp chúng tôi tìm hiểu đề tài một cách đầy đủ khái quát

từ đó đi sâu vào phân tích nghiên cứu bổ sung đầy đủ và sâu sắc hơn những vấn đề đặt ra trong đề tài luận văn của mình

- Hồi kí của những vị đã từng lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng chống Mỹ trong những năm đầu ở Khu 8, tiêu biểu là các đồng chí Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Thị Định, Lê Minh Đào đã góp phần rất lớn cho chúng tôi thực hiện tốt

luận văn này

- Nguồn tài liệu từ các bài viết trên các tạp chí như Tạp chí Thông tin Khoa

học Xã hội, Tạp chí Văn thư Lưu trữ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử Đảng , các hồi kí của các tác giả trong nước viết về Khu 8 - Trung Nam Bộ trong giai đoạn lịch sử này

- Nguồn tài liệu từ các kho lưu trữ đặc biệt là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II,

từ các Ban tuyên giáo Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh của các tỉnh Đồng Tháp, Long

An, Bến Tre, Tiền Giang, An Giang viết về lịch sử đấu tranh cách mạng ở mỗi địa phương thuộc Khu 8 - Trung Nam Bộ

- Ngoài ra, chúng tôi còn tìm đọc và khai thác tham khảo các tài liệu có chọn

lọc từ các bài viết, các trang tạp chí được đăng trên các website trên Internet có liên quan đến đề tài nghiên cứu

5 Đóng góp của luận văn

Đề tài “Quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng tiến tới Đồng Khởi ở Khu 8 -

dũng bất khuất của quân và dân Khu 8 - Trung Nam Bộ trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ - ngụy cứu nước trường kì

Luận văn đã phục dựng lại quá trình đấu tranh giữ gìn, xây dựng và phát triển

lực lượng cách mạng cũng như Cao trào Đồng Khởi nổ ra trong toàn Khu 8 những năm 1959-1960

Trang 15

Phân tích những nét sáng tạo độc đáo trong quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng, góp phần lý giải vì sao Cao trào Đồng Khởi đã nổ ra sớm hơn và giành được

những thắng lợi vang dội trong toàn Khu 8 so với những nơi khác và là điển hình của phong trào Đồng Khởi toàn miền Nam

Luận giải những bài học kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn đấu tranh cách

mạng mà khu Trung Nam Bộ đã sáng tạo ra trong quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng cũng như trong Cao trào Đồng Khởi nổ ra thắng lợi đồng loạt trong toàn Khu những năm 1959 - 1960

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, Luận văn

gồm có 3 chương như sau:

Chương 1: Khái quát về Khu 8 - Trung Nam Bộ và tình hình nhiệm vụ mới

Chương 2: Đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng ở Khu 8 - Trung Nam Bộ

Chương 3: Xây dựng và phát triển lực lượng tiến tới Đồng Khởi trong toàn

Trang 16

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHU 8 – TRUNG NAM BỘ VÀ TÌNH HÌNH NHI ỆM VỤ MỚI SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE

1.1 V ị trí địa lý, thiên nhiên và con người Khu 8 – Trung Nam Bộ

Khu 8 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (nay thuộc địa bàn 5 tỉnh: Long

An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang), địa hình phần lớn là đồng bằng,

chỉ trừ An Giang ở miền Thất Sơn có một số đỉnh núi mọc lên để tô điểm thêm cho

một vùng đất đã được dòng Cửu Long hiền hòa vung đắp thành một vùng đồng bằng

rộng lớn trù phú tốt tươi Nghề nông giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân nơi đây Là vùng có khí hậu cận xích đạo (mưa nhiều, nắng nóng) nên thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương

thực.Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang Ngày nay, các tỉnh thuộc Khu 8 là nơi sản xuất, xuất khẩu lương thực (lúa gạo) lớn

nhất của miền Nam và cả nước Khu 8 là nơi hội tụ sinh sống, cộng cư của các dân

tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer Trong đó người Kinh chiếm đa số Trung Nam Bộ là

một vùng kinh tế có nhiều tiềm năng hàng năm đã đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế của cả nước

Ở một vị trí đặc biệt quan trọng, Khu 8 được xem là bản lề nằm giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, nằm về phía Tây Nam của thành phố Sài Gòn, ở giữa vùng đất Nam Bộ Việt Nam Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Khu 8 chính

thức được thành lập cùng với các khu khác ở miền Nam Khu 8 phía Đông giáp với

biển Đông với chiều dài gần 100 km, phía Tây Bắc là biên giới giáp với Campuchia dài gần 300 km, phía Đông Bắc và Tây Nam giáp với hai khu 7 và 9 (thuộc miền Đông và miền Tây Nam Bộ)

Ngược dòng lịch sử thời triều Nguyễn, nơi đây từng là địa bàn hai tỉnh Định Tường và An Giang của Lục tỉnh Nam Kỳ Đến thời thời Pháp đô hộ, cho đến năm

1951, nơi đây là địa bàn của các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc Từ năm 1951 đến năm 1954, Trung ương giải thể các Khu 7, 8, 9, thành lập hai Phân liên khu miền Đông và miền

Trang 17

Tây Nam Bộ, địa bàn Khu 8 nằm trong các tỉnh Mỹ Tân Gò, Long Châu Sa của Phân liên khu miền Đông và trong các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Trà, Long Châu Hà của Phân liên khu miền Tây

Từ sau năm 1954, hai Phân liên khu của Nam Bộ giải thể, thành lập 4 khu là:

miền Đông, miền Trung, miền Tây và Sài Gòn - Chợ Lớn Khu 8 (miền Trung Nam

Bộ) gồm các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc Các

tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh thuộc khu miền Tây Sau Hội nghị Xứ ủy Nam

Bộ cuối năm 1956, tỉnh Bến Tre của miền Tây cùng với tỉnh Chợ Lớn của miền Đông được chuyển cho miền Trung Đầu năm 1957, Mỹ - Diệm chia lại ranh giới các

tỉnh thì Khu 8 gồm: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Mỹ Tho, An Giang và Bến Tre

Năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, thành phố

Mỹ Tho và huyện Gò Công của tỉnh Mỹ Tho được tách ra thành hai đơn vị cấp tỉnh

Tỉnh Long An được giao về Miền Cho đến năm 1973, Long An mới trở lại với Khu

8 Đến năm 1974, hai tỉnh An Giang và Kiến Phong giải thể Vùng đất hữu ngạn sông Hậu của An Giang chuyển cho Khu 9 (miền Tây Nam Bộ) Phần còn lại của hai

tỉnh cộng với phần đất Nam Sa Đéc do Khu 9 giao lại lập thành hai tỉnh mới là tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Khu 8 (miền Trung Nam Bộ) giải thể, trở thành địa bàn của 5 tỉnh: Tiền Giang, Long An,

Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang ngày nay

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, Khu 8 - Trung Nam Bộ là nơi “có mật độ dân

số cao, nhân dân đa số là người Kinh Vào năm 1954, khi Hiệp định Genève được ký

kết, dân số toàn Khu ước khoảng 2 triệu người Đến khi giải phóng miền Nam, dân

số khoảng 4 triệu người Dân tộc ít người có: người Khơme, người Chăm và người Hoa, tổng cộng xấp xỉ 8 vạn người Đây là miền đất có nhiều tôn giáo Phật giáo Hòa

Hảo có nhiều tín đồ nhất, chiếm 1/4 dân số toàn Khu” [30; tr.6] Các tôn giáo có số

tín đồ khá đông là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành và Cao Đài Ngoài ra còn có nhiều phái đạo nhỏ, mỗi phái có vài chục, vài trăm, vài nghìn tín đồ Vùng có nhiều tín đồ tôn giáo là các tỉnh An Giang, Kiến Phong, Sa Đéc (nay là hai tỉnh An Giang

Trang 18

và Đồng Tháp)

Khu 8 - Trung Nam Bộ được biết đến là vùng nông thôn đồng bằng, địa hình

trống trải, nhiều bưng trắp, sông rạch, kênh đào chằng chịt Khu vực phía Tây có ít đồi núi thấp Khu vực phía Đông và Nam là nơi tập trung dân cư đông đúc, kinh tế

dồi dào, ruộng vườn phì nhiêu Đó là vùng hạ lưu của hai con sông Cửu Long và Vàm Cỏ Còn khu vực phía Bắc, chiếm gần một nửa diện tích, là vùng Đồng Tháp Mười mênh mông, dân cư thưa thớt, mùa nắng thì đồng khô cỏ cháy, kênh rạch dậy phèn, mùa mưa thì nước từ thượng nguồn các sông Cửu Long, Vàm Cỏ tràn vào,

ngập sâu mênh mông, đưa một lượng lớn phù sa bồi đắp phì nhiêu Quốc lộ 4, kênh

Chợ Gạo là hai đường vận chuyển chiến lược nối Sài Gòn với miền Tây xuyên qua Khu 8 và cùng với những con sông, rạch lớn nhỏ thuộc hệ Cửu Long, Vàm Cỏ chia

cắt Khu 8 thành những vùng riêng biệt

Người dân Khu 8 - Trung Nam Bộ tuyệt đại bộ phận là nhân dân lao động cần

cù, chăm chỉ, bị bọn địa chủ, thực dân đế quốc áp bức, bóc lột nên giàu tinh thần

quật khởi và đoàn kết; cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu Khi thực dân Pháp mới xâm lược nước ta, địa bàn Khu 8 là nơi có phong trào chống Pháp rất sôi nổi với các phong trào của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Dương, Phan Tôn, Phan Liêm, v.v Từ những năm 30, Khu

8 là nơi các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Xứ ủy Nam Kỳ hoạt động và có ảnh hưởng rộng lớn Trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm

1940, lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập sau này, lần đầu tiên

xuất hiện ở xã Long Hưng, tỉnh Mỹ Tho

Sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kì tạo tiếng vang, phong trào cách mạng ở các tỉnh Khu 8 tạm lắng dịu bởi các hoạt động khủng bố đàn áp khốc liệt của chủ nghĩa phát xít và thực dân Nhưng đến đầu năm 1943, phong trào cách mạng ở nơi đây được

phục hồi, phát triển lớn mạnh và tạo tiền đề quan trọng tiến tới Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thắng lợi

Hòa cùng với miền Nam và cả nước, Cao trào Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm

1945 ở các tỉnh mà sau này thuộc Khu 8 đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ: Ở thị xã Tân

Trang 19

An, chiều ngày 21/8/1945, toàn bộ công sở, dinh cơ, trại lính, kho bạc, công xưởng, nhà máy điện, nhà máy nước đã về tay cách mạng Cờ búa liềm, cờ đỏ sao vàng

phấp phới tung bay trên các dinh thự, đường phố Sáng ngày, 22/8/1945, 4000 người

với tầm vông, giáo mác, mang dấu hiệu cờ đỏ sao vàng ở tỉnh lỵ và từ các quận Châu Thành, Thủ Thừa đổ về sân banh tham gia cuộc míttinh chào mừng cách mạng thành công [10; tr.139] Khởi nghĩa Tân An thành công đã trở thành phát pháo lệnh khởi nghĩa trên khắp 20 tỉnh còn lại của Nam Bộ Đúng như cố giáo sư Trần Văn Giàu đã

từng nói: “Tân An đi tiên phong trong tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở Nam Bộ” [10;

phải chấp nhận đầu hàng Đến chiều ngày 25/8/1945, cuộc khởi nghĩa ở các địa phương trong tỉnh đã thành công Toàn bộ tỉnh Sa Đéc, quận Hồng Ngự và cù lao Tây (thuộc tỉnh Châu Đốc), tổng Phong Thạnh Thượng (quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên), vùng Mỹ An, Thanh Mỹ (quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho) dưới sự lãnh đạo trực

tiếp của các Đảng bộ địa phương và Mặt trận Việt Minh nhân dân đã giành được chính quyền về tay mình Ủy ban Cách mạng lâm thời ở tỉnh, các quận, các xã lần lượt được thành lập để điều hành và quản lý xã hội [22; tr.7]

Ở tỉnh Châu Đốc, quần chúng nhân dân đã nổi dậy cướp chính quyền, đến

rạng sáng ngày 26/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi Và đến ngày 27 và 28/8 hai huyện còn lại là Tịnh Biên, Tri Tôn khởi nghĩa đã giành thắng lợi

Ở các xã thuộc huyện Mỏ Cày (Bến Tre), từ ngày 24/8/1945, lực lượng khởi nghĩa đã nổi dậy chiếm các trụ sở xã, giải tán tề, giành chính quyền và thôi thúc các nơi khác trong tỉnh nổi dậy giành chính quyền [14; tr.69] Đến ngày 26/8/1945, khởi nghĩa ở tỉnh Bến Tre đã giành thắng lợi và Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Bến Tre

đã ra mắt đồng bào

Trang 20

Ở tỉnh Mỹ Tho, đêm 24/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi Tỉnh ủy tổ chức cuộc

họp tại Tòa bố Mỹ Tho để xác định cơ cấu chính quyền nhân dân của tỉnh, triển khai ngay việc tổ chức míttinh lớn tại sân vận động Mỹ Tho, để chào mừng thắng lợi của cách mạng và ra mắt chính quyền của nhân dân Sáng ngày 25/8, một cuộc míttinh

lớn gồm hơn 30.000 người từ các quận đổ về sân vận động Mỹ Tho để chào mừng cách thắng lợi và chứng kiến lễ ra mắt của Ủy ban nhân dân tỉnh

Có thể thấy, Cao trào Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 ở các tỉnh thuộc Khu 8

đã diễn ra với khí thế mạnh mẽ, sôi nổi và giành được thắng lợi lớn Chính quyền cách mạng đã về tay nhân dân Quân dân các tỉnh phấn khởi vui mừng Nhưng niềm vui ấy chưa lâu, quân dân nơi đây lại phải tiếp tục đương đầu với khó khăn hơn trước

gấp bội lần và chuẩn bị bước vào một cuộc đấu tranh mới - cuộc kháng chiến chống

thực dân Pháp xâm lược trở lại

1.2 Khu 8 – Trung Nam B ộ đấu tranh và xây dựng trong kháng chiến

ch ống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Ngày 23/9/1945 khi thực dân Pháp tấn công Sài Gòn mở đầu cho công cuộc xâm lược trở lại ở Việt Nam thì cũng là lúc Nam Bộ nói chung và Khu 8 - Trung Nam Bộ nói riêng anh dũng đi đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lăng

Nằm ở một vị trí chiến lược quan trọng về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế của cả vùng Nam Bộ, Khu 8 - Trung Nam Bộ trở thành nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta với địch trong suốt cuộc kháng chiến trường kì 9 năm Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Khu 8 - Trung Nam Bộ hòa cùng cả nước anh dũng, kiên cường, bất khuất, bám trụ tiêu diệt kẻ thù xâm lược cho đến những tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi nơi đây

Trước tình thế đẩy mạnh chiến tranh leo thang lan rộng của Pháp, đầu tháng

10 năm 1945 tại Mỹ Tho, tỉnh ủy Mỹ Tho họp hội nghị với sự tham dự của Tôn Đức

Thắng, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Dương Khương, Nguyễn Văn Tiếp, hội nghị đã thành lập Ủy ban Kháng chiến tỉnh, củng cố lực lượng vũ trang, rút lực lượng vũ trang và vận động nhân dân ra khỏi thành phố, thực hiện “tiêu thổ kháng chiến” đồng

thời chủ trương xây dựng căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười

Trang 21

Ngày 25/10/1945, Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ đã họp tại Thiên Hộ (Cái Bè, Mỹ Tho) chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến Hội nghị đã quyết định gấp rút xây

dựng lực lượng, lấy du kích chiến tranh là chủ yếu, trừ gian, khôi phục chính quyền

bị tan vỡ Thực hiện theo Nghị quyết của Xứ ủy và Lời kêu gọi của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, quân dân Khu 8 - Trung Nam Bộ chủ trương xây dựng và phát triển

lực lượng chuẩn bị chống giặc

Ngày 10/12/1945, Hội nghị Quân sự họp ở ven sông Vàm Cỏ Đông thuộc Đức Hòa (Long An) Tại Hội nghị lịch sử này đã quyết định phân chia Nam Bộ thành 3 khu: khu 7, khu 8 và khu 9 Lúc này Khu bộ trưởng Khu 8 là Đào Văn Trường Tháng 2 năm 1946, các đồng chí lãnh đạo của khu 8, khu 9 họp liên tỉnh ở

Rạch Giá và đã chủ trương bám trụ địa bàn, dựa vào dân đánh du kích, rút lực lượng

ra Nam Trung Bộ để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ để trở về chiến đấu Tháng 3 năm 1946, Trần Văn Trà theo gợi ý của Lê Duẩn trở về Đồng Tháp Mười để xây

dựng lực lượng Sau khi đi các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn nắm tình hình Trần Văn Trà đã triệu tập hội nghị và quyết định: thống nhất lực lượng các tỉnh lại để xây

dựng Khu 8 do Trần Văn Trà làm khu bộ trưởng, xây dựng căn cứ Đồng Tháp Mười thành căn cứ của khu và giao cho Nguyễn Văn Trí phụ trách việc xây dựng Sau đó Nguyễn Văn Trí tiến hành nghiên cứu địa hình lập sơ đồ và chọn gò Bắc Chan làm căn cứ Bắc Chan thuộc xã Tuyên Thạnh cách thị trấn Mộc Hóa 4 km

Có thể thấy, từ cuối tháng 10 năm 1945 đến cuối tháng 4 năm 1946 thì song song với hành động của thực dân Pháp là đẩy mạnh mở rộng phạm vi chiếm đóng ra toàn Nam Bộ nói chung và Khu 8 - Trung Nam Bộ nói riêng thì quân và dân Khu 8 - Trung Nam Bộ nỗ lực cố gắng bảo toàn lực lượng, tập trung xây dựng căn cứ kháng chiến, bám trụ tiêu diệt kẻ thù xâm chiếm mở rộng Chiến Khu 8 đã được thành lập,

lực lượng vũ trang được củng cố, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của quân dân Khu 8 bước sang một thời kì đấu tranh mới với niềm tin tất thắng

ở tương lai

Thực dân Pháp sau khi đã chiếm được các thị xã của các tỉnh trong Khu 8 chúng thiết lập hệ thống đồn bót, căn cứ quân sự, xây dựng một hệ thống đồn bót

Trang 22

dày đặc, thiết lập hệ thống kiềm chế quân sự, tiến hành tuyển thêm quân, tay sai lôi kéo các thành phần phản động trong các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo để tăng cường

hệ thống chính quyền xâm lược, tổ chức lực lượng vũ trang phản động cho công

cuộc bình định của chúng Phong trào cách mạng của nhân dân Khu 8 - Trung Nam

Bộ đứng trước một tình thế nguy hiểm và khó khăn nghiêm trọng Địch kiểm soát

hầu hết các vùng trọng yếu của ta, vùng giải phóng bị thu hẹp dần, chúng tiến hành

khủng bố tiêu diệt lực lượng cách mạng và nhân dân rất dã man Trong tháng 7 năm

1946, quân Pháp đánh chiếm Mộc Hóa, sau khi căn cứ của Đồng Tháp Mười là Mộc Hóa bị chiếm đóng, Bộ Tư lệnh Khu 8 đã quyết định rời căn cứ về kênh Dương Văn Dương

Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cả nước bước vào cuộc kháng chiến và chiến đấu chia lửa với chiến trường Nam Bộ Khu 8 cùng với Nam

Bộ bước vào cuộc kháng chiến thần thánh để bảo vệ độc lập, tự do Chiến Khu 8 mà đặc biệt là Đồng Tháp Mười đã trở thành trung tâm của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ

Cơ quan lãnh đạo Đảng và chính quyền của toàn Nam Bộ được hình thành là đứng chân ngay tại trung tâm Đồng Tháp Mười Bộ Tư lệnh Khu 8 về đóng dọc kênh Dương Văn Dương sau ở Nhơn Ninh (kênh Năm Ngàn), ở Tân Hòa (kênh Cà Nhíp), quân xưởng Khu 8 được xây dựng ở Cây Vông, bệnh viện Nam Bộ ở Tháp Mười,

Tỉnh ủy Tân An ở Long Ngãi Thuận và đúng như các đồng chí lãnh đạo của Xứ ủy

đã nói: “Cả Nam Bộ đều có mặt ở Đồng Tháp Mười” [102; tr.346].

Bước sang năm 1947, Bộ Tham mưu quân viễn chinh Pháp cho rằng Nam Bộ

là “cái nút” của chiến lược đánh nhanh thắng nhanh nhằm kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Vì vậy, chúng quyết tâm bình định xong Nam Bộ trong năm

1947 Trước tình thế đó, Xứ ủy Nam Bộ đã ra chỉ thị cho các khu là: “Mở rộng và

công địch trên các chiến trường” [102; tr.347].

Chấp hành Chỉ thị đó thì việc xây dựng và chiến đấu bảo vệ căn cứ Đồng Tháp Mười - trung tâm của cuộc kháng chiến Nam Bộ trở thành nhiệm vụ hết sức

Trang 23

quan trọng của toàn quân dân trong Khu 8 lúc bấy giờ Để thực hiện tốt Chỉ thị quan

trọng đó, quân dân các địa phương trong toàn Khu 8 đã quyết tâm thực hiện thành công Cụ thể tại Hồng Ngự, các du kích chiến tranh phát triển mạnh, mỗi xã xây

dựng được một tiểu đội du kích tập trung Phong trào đắp cản phát triển điều khắp

Tại vùng căn cứ thuộc 4 xã Bình Thành, Tân Hộ Cơ, Tân Thạnh, Thông Bình quần chúng bắt cầu tre qua bưng Sa Rài để tiện việc đi lại Có thể nói cán bộ, quân và dân

ở Hồng Ngự đã trở thành pháo đài kháng chiến trên đồng nước Tháp Mười

Ở Mỹ Tho, Bộ Tư lệnh Khu 8 chỉ đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang vừa

tiến công bứt rút đồn bót nằm trong chiến khu Đồng Tháp Mười, vừa bung ra vùng ven và dọc các trục lộ giao thông tấn công tiêu diệt địch Ngày 14/1/1947, trung đội

quốc vệ đội của tỉnh phục kích diệt gọn một trung đội địch có hai tên Pháp chỉ huy đang tuần tra ở Giồng Đình, giết chết 37 tên địch [102; tr.347]

Ở Mộc Hóa và các huyện của Tân An vào đầu năm 1947, cơ quan huyện đội chính thức được thành lập Tháng 1 năm 1947 trung đội du kích tập trung huyện đánh tan một toán cướp có vũ trang tại Cây Cám Bàu Ma (Thạnh Trị) Bọn còn lại

chạy về Đức Huệ du kích kịp thời báo cho Chi đội 14 chặn đánh, thu hơn 30 súng

Du kích huyện đã kết hợp với du kích xã và ấp tuần tra canh gác, bao vây đồn địch[102; tr.349]

Trong năm 1947, quân dân Khu 8 đã giành được những chiến thắng lớn trong các trận đánh như trận Cổ Cò (Cái Bè, Mỹ Tho) ngày 22/1/1947 do Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy Chi đội 18 gồm 3 đại đội phối hợp với học viên trường Quân chính Khu 8, phục kích giao thông đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn Néon (một tiểu đoàn hùng mạnh của Pháp) đang trên đường hành quân về Sài Gòn sau cuộc càn quét dài ngày ở Chợ Mới (Long Châu Tiền), trong trận này ta đã “diệt 170 tên, bắt 15 tên, trong đó có trung quý Bernard người Đức, phá hủy 14 xe quân sự, thu trong đó có 8

xe thiết giáp, thu trên 100 súng” [103; tr.378]

Trận Giồng Dứa (Mỹ Tho), ngày 24/4/1947 do chính Khu bộ trưởng Khu 8 là

Trần Văn Trà chỉ huy giành thắng lợi lớn Trong trận này ta đã “diệt 14 xe địch và

lực lượng Pháp hộ tống, trong đó có đại tá chỉ huy Trocard, bắt sống 7 tên, thu nhiều

Trang 24

vũ khí và toàn bộ hậu cần Trong số những người bị ta bắt được có kỹ sư La Fouse, Đốc phủ Bích, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Trương Vĩnh Khánh” [51; tr.58] Trận thắng này đã gây chấn động nước Pháp, khiến Chính phủ Pháp phải ra lệnh quốc tang 7 ngày

Trận Chưn Đùng - Chợ Mới (Long Xuyên): tháng 7 năm 1947, một đoàn vũ trang tuyên truyền của kháng chiến gồm chi đội hải ngoại 4, Chi đội 18, hai đại đội

của Khu 9 và cán bộ quân dân chính địa phương về hoạt động tại vùng có nhiều đồng bào Hòa Hảo ở Lấp Vò - Chợ Mới Trong trận đánh này, ta đã đánh tan rã tiểu đoàn lính lê dương thuộc binh đoàn thiện chiến của tướng Nyô tại Chưn Đùng, bắt 2

từ binh, thu nhiều chiến lợi phẩm [103; tr.379]

Bước vào Thu Đông 1947, địch có chủ trương rút bớt các đồn bót lẻ ở Nam

Bộ để tập trung lực lượng lớn chuẩn bị tấn công Việt Bắc nên lợi dụng tình thế đó ta

tập trung du kích và lực lượng vũ trang đánh địch tiêu diệt đồn bót mở rộng vùng

giải phóng Phối hợp với chiến trường Việt Bắc Thu Đông 1947, trên chiến trường Khu 8 bộ đội và du kích đánh địch nhiều trận diệt đồn, chống càn quét và giao thông chiến Đáng chú ý là các trận sau đây: ở Bến Tre, ngày 19/5/1947, hai trung đội của Chi đội 19 phục kích ở Phú Lễ trên đường Ba Tri - Tân Xuân đã diệt 6 xe địch, thu

gần 100 súng Tháng 10/1947, Trung đoàn 99 của Khu 8 phối hợp với dân quân du kích địa phương diệt đồn Kênh Điều, tập kích diệt gần hết tiểu đoàn Âu Phi số 7 do tướng Nyô chỉ huy ở Băng Tra Chợ Lách (thuộc Mỏ Cày), bức rút hàng loạt đồn bót

Ở Gò Công, tháng 11/1947, địch huy động một tiểu đoàn lê dương cùng với 14 tàu

đổ bộ tiến công vào Gia Thuận nhằm tiêu diệt Tiểu đoàn 305 Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Sĩ đã chỉ huy Tiều đoàn 305 dàn trận tiêu diệt gần 100 tên thu nhiều súng Tại Chợ Gạo (Mỹ Tho), ngày 6/12/1947, Trung đoàn 20 cùng với một tiểu đội công an đã đánh bại cuộc càn quét của địch và diệt hơn 300 tên [103; tr.383]

Thất bại trong chiến dịch tấn công lên Việt Bắc Thu Đông 1947, Bộ Tham mưu quân viễn chinh Pháp đưa trở lại chiến trường Nam Bộ nhiều đơn vị cơ động

Âu Phi và tuyên bố “sẽ bình định xong Nam Kỳ vào tháng 6 năm 1948” [102; tr.351].

Quân Pháp mở nhiều cuộc hành quân lớn vào chiến Khu 8 mà đặc biệt là căn cứ

Trang 25

Đồng Tháp Mười nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ

Từ ngày 16-20/12/1947, Xứ ủy lâm thời tiến hành hội nghị nhận định sang năm 1948, quân Pháp sẽ tập trung đánh phá Nam Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng quanh đô

thị và các trục giao thông, lấn chiếm vùng căn cứ Vì vậy, Xứ ủy chủ trương ra sức xây dựng lực lượng vũ trang rộng khắp, đẩy mạnh chống bắt lính, làm tan rã địch, tăng cường phá giao thông địch, ra sức chiến đấu bảo vệ căn cứ và đường giao thông

vận chuyển của ta

Đầu năm 1948, quân Pháp mở cuộc hành quân lớn vào chiến khu Đồng Tháp Mười Từ ngày 14 - 18/1/1948, địch huy động bán Lữ đoàn lê dương số 13 gồm 11

tiểu đoàn bộ binh, 1 hải đội và công binh, 3 thiết đoàn, 4 pháo 195 ly mở cuộc hành quân “Vôga” thực hiện nhảy dù từ trên không và đổ quân từ tàu lên đánh vào Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Khu 8 đang đóng ở Giồng A Rặc và Giồng Lớn Với sự chuẩn bị sẵn ngay khi quân Pháp nhảy dù vừa chạm đất bộ đội ta đã nổ súng tiêu diệt 90 tên, thu

100 dù, sau đó phân tán bắn tỉa nơi địch trú quân gây cho địch nhiều tổn thất [103; tr.385] Ngày 18/1/1948 địch phải chấm dứt cuộc hành quân Đến ngày 12/2/1948, địch huy động 2000 quân càn vào khu vực kênh Nguyễn Văn Tiếp và các xã Tân Hòa, Nhơn Ninh, Tân Ninh Qua 4 ngày chiến đấu ta tiêu diệt 300 tên, thu 1 đại liên,

4 trung liên, 80 súng trường [102; tr.352]

Tháng 6 năm 1948, Bộ Tư lệnh Khu 8 chủ trương tập trung đánh một trận lớn

nhằm củng cố căn cứ địa và tập dượt cho chủ lực của Khu tỉnh và địa phương phối

hợp chiến đấu lớn Mặc dù bị quân dân ta đánh đau nhưng quân Pháp vẫn không chịu

từ bỏ âm mưu tấn công đánh phá vào chiến khu Đồng Tháp Mười Ngày 6/7/1948, địch dùng cả thủy lục không quân phối hợp đánh sâu vào Ngã 6, Thiên Hộ, Mỹ An, dùng máy bay oanh tạc và thả quân nhảy dù xuống kênh Năm Ngàn Trung đoàn 105 được lệnh của Bộ Tư lệnh Khu đã phối hợp với bộ đội địa phương và du kích tổ chức đánh địch nhiều trận quyết liệt trong suốt 11 ngày ở kênh Một Thước, Hàm Vồ,

Quan Cư ta đã “diệt 10 tên lính, thu hơn 50 súng các loại Ngày 1/8/1948, quân ta

Trang 26

307 đã đi vào lịch sử với chiến thắng Mộc Hóa làm vang dội toàn Nam Bộ và cả nước

Tháng 7 năm 1948 trên bờ kênh Năm Ngàn (xã Nhơn Ninh) giữa chiến khu bưng biền Đồng Tháp, Đại hội đại biểu Đảng bộ Nam Bộ được tiến hành đánh dấu

mốc lịch sử quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng và của cuộc kháng chiến ở Nam

Bộ Đại hội đã bầu Xứ ủy chính thức do Lê Duẩn làm Bí thư, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Đức Thuận phó Bí thư

Bước sang năm 1949, địch xúc tiến mạnh kế hoạch De Latua đóng đồn bót dày đặc dọc các trục lộ giao thông nhằm kiểm soát chặt chẽ nhằm vơ vét nhân tài ở vùng đông dân nhiều của này Chúng thực hiện việc bao vây kinh tế song song với

việc càn quét lớn và đánh biệt kích hòng cô lập đối phương và làm suy yếu căn cứ kháng chiến của ta

Từ ngày 1 - 8/6/1949, địch huy động đến 4000 quân, phần lớn là quân Âu - Phi, trong đó có 700 lính nhảy dù, 300 xe lội nước đo đại tá Paul Connier chỉ huy chia làm 4 mặt càn quét lớn vào Đồng Tháp Mười Biết được ý đồ của địch, Bộ Tư

lệnh Khu 8 đã chuẩn bị kế hoạch đánh lại Các trận địa đã được quân dân trong toàn Khu bày trí sẵn Cuộc chiến đấu đánh bại cuộc càn quét lớn của địch lần này diễn ra

rất ác liệt Trong trận này, lực lượng kháng chiến của ta đã tiêu diệt được “400 tên

địch, 6 xe lội nước” [103; tr.413] nhưng về phía ta cũng thiệt hại lớn “hơn 200 đồng bào bị giết, 70 đồng chí hy sinh, 700 căn nhà bị giặc đốt phá” [102; tr.357]

Đến đầu năm 1950, Xứ ủy Nam Bộ quyết định thành lập tỉnh căn cứ Đồng Tháp Mười gồm huyện Mộc Hóa của tỉnh Tân An, hai huyện Cái Bè, Cai Lậy của

Mỹ Tho và một phần huyện Cao Lãnh của tỉnh Sa Đéc Tỉnh lỵ đặt tại Mộc Hóa Nhiệm vụ của tỉnh là xây dựng Đồng Tháp Mười thành một vùng căn cứ vững mạnh

về mọi mặt, dự trữ lực lượng kháng chiến lâu dài Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, Bộ Tư lệnh Khu 8 tổ chức Ban phòng thủ Đồng Tháp Mười do Đặng Văn Tố làm trưởng ban sau đó chuyển thành Tiểu đoàn phòng thủ Đồng Tháp Mười Theo

chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Khu 8, Ban phòng thủ Đồng Tháp Mười đã huy động đào kênh, đắp nhiều lộ tạo thuận lợi cho bộ đội di chuyển và nhân dân đi lại

Trang 27

Ngày 19/6/1950, Pháp lại cho 88 tàu chở quân đánh phá vào Khu 8 và chủ

yếu là Đồng Tháp Mười Bộ Tư lệnh Khu 8 đã giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn Đồng Tháp Mười (Ban phòng thủ Đồng Tháp Mười cũ) cùng Liên trung đoàn 105 - 120

kết hợp bộ đội địa phương và du kích trong toàn căn cứ triển khai đánh địch Hơn 10 đại đội quân lê dương với biệt kích đã càn quét ồ ạt vào căn cứ của ta Du kích các

xã Nhơn Ninh, Mỹ Trung, Mỹ An, Thiên Hộ, Đốc Binh Kiều, Mỹ Hà, Mỹ Thành, Tân Ninh, Tân Hòa, Nhơn Hòa Lập dùng lựu đạn gài, địa lôi, tiêu hao địch rất hiệu

quả Quân Pháp phải rút quân chấm dứt cuộc càn quét thất bại của chúng

Từ sau chiến thắng Biên Giới cuối năm 1950, ta chuyển sang thế chủ động tấn công địch Quân Pháp ngày càng rơi vào thế bị động Để cứu vớt những thất bại và giành lại thế chủ động trên chiến trường Pháp tăng cường bắt lính, càn quét bình định làm cho ta gặp nhiếu khó khăn Ngày 19/12/1950, trước nỗ lực chiến tranh của Pháp, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi: “Chúng ta phải nhớ rằng: càng gần thất bại,

địch càng cố gắng, càng hung dữ, càng liều mạng Càng gần thắng lợi, ta càng gặp

Năm 1951, căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ mới để chỉ đạo và chỉ huy chiến trường, các khu 7, 8, 9 được giải thể và thành lập hai Phân liên khu miền Đông và

miền Tây, lấy sông Tiền làm ranh giới Các tỉnh được sáp nhập lại Tỉnh căn cứ Đồng Tháp Mười được giải thể Phần đất thuộc Cao Lãnh trở về tỉnh Long Châu Sa Các huyện Mộc Hóa, Cái Bè, Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tân Gò sau gọi là Mỹ Tho do đồng chí Phạm Hữu Lầu làm Bí thư Các huyện Mộc Hóa, Cái Bè, Cai Lậy được tổ chức

lại Đồng Tháp Mười như nằm gọn trong tỉnh Mỹ Tho Tỉnh ủy Mỹ Tho về đóng trụ

sở ở xã Nhơn Hòa Lập và Hậu Thạnh Tỉnh Bến Tre và Long Châu Hà thuộc về Phân liên khu miền Tây

Từ năm 1951, quân Pháp tiếp tục tăng cường đánh phá vùng Đồng Tháp Mười và cả Khu 8 hòng đè bẹp cuộc chiến đấu của bộ đội du kích và nhân dân ta Ngoài những cuộc hành quân lớn đánh phá càn quét, địch còn tổ chức nhiều đại đội, trung đội bí mật đánh sâu vào căn cứ gây nhiều thiệt hại khó khăn cho ta Ngoài ra,

Trang 28

chúng ra sức phá hoại kinh tế và các nút giao thông quan trọng vận chuyển lương

thực của ta Chúng đề ra khẩu hiệu là “bắn chết 1 con trâu bằng giết 10 Vệ quốc

đoàn” [102; tr.361] nhằm triệt để nguồn sức kéo chủ yếu của ta lúc bấy giờ Để đối

phó với âm mưu thâm độc đó của kẻ thù thì du kích và đồng bào ta đã tăng cường canh gác báo động Nhân dân đào hầm trong vườn và trên các trục lộ có địa hình cao

để làm nơi trú ẩn cho trâu gọi là hầm “cứu quốc”

Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1952, địch liên tiếp mở 3 cuộc càn lớn đánh sâu vào chiến khu Đồng Tháp Mười của Khu 8 Bộ đội ta thọc sâu vào vùng tạm chiếm tiêu diệt Tiểu khu Bình Đức (Tân An) “hạ 6 đồn, đánh thiệt hại nặng 2 đồn, diệt và làm bị thương hơn 2000 tên địch, bắt sống 120 tên, thu 30 trung tiểu liên, gần 300 súng trường, bắn hư và cháy 15 xe lội nước, thu thêm 1 pháo 37 ly Đêm 16 rạng sáng 17/6/1952, đại đội địa phương huyện Châu Thành (Mỹ Tho) tập kích vào trường hạ sĩ quan sát ranh thị xã Mỹ Tho, làm chủ trận địa, diệt và bắt 250 tên, thu hơn 250 súng và trên 100.000 đạn các loại Ở Cai Lậy, đại đội địa phương đánh đồn

Cẩm Sơn diệt hơn 100 tên, thu hơn 100 súng, hơn 10.000 viên đạn, diệt đồn Cống Trân (Mỹ Phước Tây), bót Hòa Hảo ở kinh 10 và đồn Mỹ Long Ở Cái Bè, bộ đội phá hủy 2 tàu địch, tiêu diệt một tiểu đội biệt kích Ở Mộc Hóa, ngày 27/2/1952, đồng chí Ngữ du kích xã Tuyên Thạnh phán đoán đúng đường đi của 100 xe lội nước

của địch từ Savayriêng qua Tuyên Thạnh đã gài 2 trái mìn diệt 2 xe lội nước và 20 tên địch trên xe” [102; tr.361-362]

Đến giữa năm 1952, Phân liên Khu ủy miền Đông ra chỉ thị đẩy mạnh công tác địch hậu ở vùng bị tạm chiếm Tháng 6 năm 1952, Tỉnh ủy Mỹ Tho mở hội nghị công tác địch hậu, hội nghị đề ra nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở, chuẩn bị điều

kiện để đẩy mạnh hoạt động vũ trang, đẩy mạnh địch ngụy vận, chỉ đạo nhân dân

chống bắt lính và thu thuế Đến mùa thu năm 1952, khắp các vùng địch hậu đều có cán bộ trên tăng cường về Các xã đều có chi bộ đảng, dân quân du kích mật Công tác địch ngụy vận triển khai rộng rãi và có hiệu quả Phong trào ở vùng tạm bị chiếm

mạnh dần lên Tháng 10 năm 1952, một cơn bão lốc lớn bất ngờ ập đến Đồng Tháp Mười đã tàn phá nhà cửa, ruộng vườn mùa màng của nhân dân Đời sống của quân

Trang 29

và nhân dân ta gặp nhiều khó khăn

Đứng trước tình thế khó khăn đó, Tỉnh ủy các tỉnh chỉ đạo cho các địa phương

khẩn trương khắc phục hậu quả bão lụt, củng cố ổn định căn cứ, hưởng ứng phong trào sản xuất cứu đói và phong trào quyên góp cứu tế đồng bào vùng bị lụt bão do

Xứ ủy Nam Bộ phát động được tiến hành rộng rãi trong toàn Khu Đến cuối năm

1952, ta cơ bản đã giải quyết xong nạn đói ở những vùng bị lũ lụt tàn phá Ở các vùng căn cứ đời sống mọi mặt của nhân dân địa phương, của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị vũ trang từng bước được ổn định

Bước sang năm 1953, những hoạt động chống địch càn quét đột nhập diễn ra

rất quyết liệt khi Pháp tiếp tục đánh mạnh vào vùng căn cứ của ta dọc bờ kênh Nguyễn Văn Tiếp, vùng du kích thuộc các huyện Vàm Cỏ, Thủ Thừa, Cái Bè, Cai

Lậy, vùng biên giới Việt Nam - Campuchia, vùng xung quanh căn cứ Đầu năm 1953, các tỉnh nhận được văn kiện chỉ thị công tác của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ và Phân liên Khu ủy miền Đông gửi xuống trong đó nêu rõ: “Công tác củng

địch” [130; tr.126] Mặt khác, Chỉ thị của Ủy ban Kháng chiến Hành chính phân khu

cũng nêu rõ 5 công tác chính phải thực hiện trong năm 1953 là:

“1 Tăng cường công tác địch hậu về mọi mặt, chú ý đặc biệt công tác dân

v ận, lấy việc đấu tranh kinh tế, chính trị, văn hóa làm chính

2 Phát động du kích chiến tranh, tiêu hao tiêu diệt sinh lực nhỏ của địch,

và căn cứ, đặc biệt là chống gián điệp và Commangdo

nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, để bồi dưỡng sức dân, tranh thủ đoàn kết nhân dân

Trang 30

h ội” [130; tr.127].

Tháng 1 năm 1953, Tỉnh ủy, Đảng bộ Mỹ Tho thống nhất 3 tỉnh Mỹ Tân Gò

tiến hành Đại hội đại biểu tại Bắc Chan xã Tuyên Thạnh, Mộc Hóa Đại hội nhận định nhiệm vụ trước mắt ở vùng tạm bị chiếm là đấu tranh bảo vệ người, của, chiến đấu nhỏ lẻ, liên tục không cho địch thực hiện được âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” Đối với vùng du kích nhiệm vụ trước

mắt là xây dựng cơ sở bí mật, các lực lượng, các cơ quan kể cả khối vũ trang Vùng

du kích diệt tề là chính, tranh thủ tề là phụ Vùng tạm chiếm tranh thủ tề là chính,

diệt tề là khi nào cần thiết chuyển vùng các biện pháp thực hiện chính sách mặt trận dân tộc thống nhất theo chiều hướng chống tả khuynh, trường kỳ mai phục, đả phá

hoạt động vũ trang làm phương hại, xáo trộn cơ sở

Tại các tỉnh Long Châu Sa, Gia Định Ninh việc quán triệt chỉ thị của cấp trên cũng được diễn ra tương tự Trên các khu vực căn cứ ngay từ đầu năm 1953,

cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra giằng co quyết liệt Ở các vùng tạm bị chiếm,

với chính sách “địch ngụy vận nhỏ”, “Cao Đài vận”, “Hòa Hảo vận” được triển khai sâu rộng và bước đầu có hiệu quả Có thể thấy, phong trào kháng chiến trong vùng bị

tạm chiếm ở Khu 8 nói chung và Đồng Tháp Mười phát triển thắng lợi

Tháng 5 năm 1953, Tỉnh ủy Mỹ Tho (lúc này bao gồm cả Gò Công, Tân An,

Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tháp Mười sáp nhập lại) triệu tập hội nghị quân sự tỉnh bên

bờ kênh Dương Văn Dương, thuộc xã Nhơn Hòa Lập Sau khi nhìn nhận những biểu

hiện lệnh lạc hữu khuynh trong thực hiện phương châm hai vùng, hội nghị đã đề ra

những nhiệm vụ cụ thể: củng cố, tổ chức lại ba thứ quân, quán triệt lại phương châm

ba vùng: vùng bị tạm chiếm thì đấu tranh hợp pháp đòi dân sinh dân chủ, chống bắt lính, nộp thuế Vùng du kích: kết hợp hoạt động hợp pháp với bất hợp pháp, bán hợp pháp, tùy tình hình tương quan lực lượng mà có chủ trương hoạt động sát hợp Vùng căn cứ, vùng độc lập: đẩy mạnh hoạt động vũ trang, kiên quyết chống bình định, càn quét, bảo vệ căn cứ, bảo vệ thành quả cách mạng

Tỉnh ủy Long Châu Sa cũng bắt đầu có những chỉ thị uốn nắn những lệch lạc

tả khuynh làm tổn thất đến phong trào cách mạng chung Từ cuối tháng 5 năm 1953,

Trang 31

việc triển khai nghị quyết mới của tỉnh ủy được tiến hành nhanh chóng trên địa bàn Đồng Tháp Mười và cả Khu 8 (lúc này thuộc Phân liên khu miền Đông gồm các tỉnh

Mỹ Tân Gò và Long Châu Sa và một số tỉnh thuộc Phân liên khu miền Tây chủ yếu

là Bến Tre và Long Châu Hà) Tháng 6 năm 1953, Tỉnh ủy Mỹ Tho và Tỉnh ủy Long Châu Sa tổ chức học tập xây dựng phương châm tác chiến kết hợp công tác cơ sở và địch ngụy vận

Ngày 25/6/1953, quân địch chia làm 3 cánh hành quân vào Đồng Tháp Mười

Trận địa tiêu diệt địch đã được ta chọn là tại kênh Bùi Khi địch đã lọt vào trận địa

của ta sắp sẵn, quân ta đồng loạt nổ súng tấn công chính diện từ các hướng, quân địch hoảng loạn, sau hơn hai mươi phút giao tranh trận chiến kết thúc, ta đã tiêu diệt

“hơn 100 tên, bắt sống 38 tên, thu hơn 100 súng và đồ dùng quân dụng quân sự

Có thể nói, chiến thắng kênh Bùi được xem là “trận hiệp đồng tốt giữa ba thứ quân,

đã mở ra cục diện mới, giành lại quyền chủ động chiến trường ở Phân liên khu miền Đông” [51; tr.115] Thắng lợi đó đã thổi một luồng sinh khí mới cho phong trào

kháng chiến đang trong bước chuyển thế ở Đồng Tháp Mười và toàn Khu 8 - Trung Nam Bộ Chiến thắng kênh Bùi đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân toàn khu

và thúc đẩy phong trào tiến công địch phát triển lan rộng sau đó Đến cuối năm 1953, nhiều xã trong vùng Đồng Tháp Mười và Khu 8 đã cơ bản thanh toán xong các tề, điệp, vùng giải phóng được mở rộng

Bên cạnh việc chiến đấu thì về mặt đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong Phân liên Khu ủy cũng không kém sôi nổi sinh động Các sách lịch sử, báo chí,

tiểu thuyết, truyện thơ, tạp chí văn nghệ được ấn hành xuất bản rộng rãi Ngành giáo

dục, y tế cũng phát triển mạnh mẽ

Ở Bến Tre (lúc này thuộc Phân liên khu miền Tây) đến đầu năm 1953, Bến Tre vẫn là một tỉnh bị địch chiếm đóng, được sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây và Nghị quyết Tỉnh ủy tháng 1 năm 1953, quân dân trong toàn tỉnh vùng lên chống địch Trong năm 1953, lực lượng vũ trang của tỉnh đã chiến đấu hơn

Trang 32

quét, di ệt 7 đồn bót, tiêu diệt và làm bị thương 2390 tên địch (có 195 sĩ quan)” [105;

tr.886]

Bước sang năm 1954, thực dân Pháp rút phần lớn lực lượng quân tinh nhuệ ở Nam Bộ ra chiến trường miền Bắc tập trung cho trận quyết chiến ở Điện Biên Phủ Lúc này dưới sự chỉ đạo của Phân liên Khu miền Đông và tỉnh Mỹ Tho ngày 27/1/1954, huyện Gò Công nổi dậy đồng loạt tấn công lấy đồn bót địch liên tiếp trong hai tuần và kết quả là quân dân Gò Công đã bức hàng “96 đồn bót, giải phóng

tr.142].Thắng lợi ở Gò Công đã có tác động tích cực đến các địa phương khác trong vùng Từ đầu tháng 9/1953 đến đầu tháng 3/1954, các lực lượng vũ trang của Mỹ

Tho đã “đánh 631 trận lớn nhỏ, tiêu diệt, bức hàng, bứt rút 217 đồn bót, bắn rơi một

tin và nhi ều loại đạn được khác” [130; tr.143]

Ở Mộc Hóa, bộ đội huyện cùng du kích địa phương đã phối hợp cùng đồng bào tiêu diệt hàng loạt đồn bót ở Ba Thu, Sóc Nóc, Sanmalây, Samrông, Châu Rà, Tóttét, Tàhót, Kôngpôngrồ, Tăng Lèo mở rộng vùng giải phóng Xoài Riêng đến sát

lộ 1 [102; tr.367]

Tại Long Châu Sa, Tiểu đoàn 311 cơ động tác chiến trên địa bàn Cao Lãnh, Tân Hồng Các đại đội đặc công đã bám sát đánh địch trên các con sông Bộ đội địa phương huyện cùng du kích xã với nhân dân đã diệt hàng chục đồn bót tháp canh, phá rã hệ thống tề ngụy, giải phóng nhiều vùng, nối thông các căn cứ địa trong tỉnh trên tuyến hành lang chiến lược từ miền Tây lên miền Đông Ngày 2/5/1954, Tiểu đoàn 311 cùng lực lượng vũ trang huyện Tân Hồng, Cao Lãnh chặn đánh cuộc càn quét của Tiểu đoàn 522 Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ và cuối cùng đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn “200 tên, bắn rơi một máy bay L.19” [130; tr.143]

Ở Bến Tre, với các đợt tấn công trong Đông Xuân từ tháng 1 đến hết tháng 5 năm 1954, trong vòng chưa đầy 6 tháng với 2 đợt tấn công nối tiếp nhau, nhân dân

Bến Tre đã vùng lên với ý chí kiên cường và đã “đập vỡ từng mảng hệ thống đồn bót

dày đặc như mạng nhện của địch, quét bộ máy ngụy quyền cơ sở ở gần hết vùng

Trang 33

nông thôn Chính quy ền cách mạng đã kiểm soát vùng nông thôn rộng lớn, chiếm 3/4 đất đai trong tỉnh” [105; tr.891] Đồng thời, góp phần quan trọng vào chiến thắng vĩ

đại ở Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Genève chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương

Ngày 7/5/1954, tin vui chiến thắng từ Điện Biên Phủ đã nhanh chóng lan

khắp mọi miền đất nước, toàn quân dân trong Khu náo nức vui mừng, tạo cho quân

và dân khí thế tấn công mạnh mẽ với kẻ thù, giải phóng đất nước Ngày 21/7/1954,

Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được

ký kết Đây là dấu chấm hết cho nỗ lực xâm lược trở lại Việt Nam của thực dân Pháp,

là bản hùng ca thắng lợi của quân và dân ta trong hơn 9 năm trường kì chiến đấu gian khổ nhằm bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của quân và dân ta trong đó có Khu 8 - Trung Nam Bộ đã thắng lợi Thực dân Pháp thất bại và chấp nhận rút quân về nước

Theo quy định của Hiệp định, Cao Lãnh (Kiến Phong - Đồng Tháp) đã trở thành một trong ba địa điểm tập kết của các đoàn đại biểu quân dân chính Đảng ở Nam Bộ tập kết ra miền Bắc Cuối tháng 10 năm 1954, tại bến Bắc Cao Lãnh, nhân dân lưu luyến tiễn đưa những người con anh hùng của mình xuống tàu ra Bắc Người

ở lại lưu luyến tiễn đưa Những người ra đi giơ hai ngón tay vẫy chào hứa hẹn 2 năm sau sẽ trở về sum họp Nhưng ai có ngờ đâu, sự chờ mong 2 năm sẽ gặp lại đó đã hóa thành 20 năm sau Nam - Bắc Việt Nam mới kết thành một mối Khi thực dân Pháp

vừa rút khỏi Việt Nam với dã tâm muốn thay chân Pháp, Mỹ đã nhảy vào Đông Dương Nhiệm vụ phía trước của cách mạng Việt Nam còn nặng nề, cách mạng miền Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới cực kì khó khăn hơn trước gấp bội lần Nhưng với những chiến công và thắng lợi đã đạt được trong 9 năm kháng chiến

chống Pháp giờ đây quân và dân miền Nam nói chung và Khu 8 - Trung Nam Bộ nói riêng đã có đủ bản lĩnh, tự tin và khí phách kiên cường để đương đầu với mọi khó khăn thử thách của cách mạng trong tình hình mới lúc bấy giờ

1.3 Hiệp định Genève và tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng ở Khu 8

Ngày 21/7/1954, Hiệp định Genève về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa

Trang 34

bình ở Đông Dương đã được ký kết Ngày 23/7/1954, những nội dung văn bản của

Hiệp định đã được phổ biến: “Việt Nam được hội nghị quốc long trọng công nhận

độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Nhưng trước mắt đất nước phải tạm chia

năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử trong toàn quốc để thực hiện thống nhất Trong thời

phía đối lập, mỗi bên phải bảo đảm thực hành tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh”[30;

tr.10] Có thể nói, những điều đã quy định trong Hiệp định Genève là một thắng lợi

lớn, là thành quả của những năm tháng chiến đấu anh dũng, ngoan cường đầy gian

khổ và hy sinh của toàn quân dân ta trong 9 năm trường

Trong niềm vui chung hòa bình được lập lại, nhưng người dân miền Nam không tránh khỏi nỗi lo: Liệu kẻ thù có chịu thực hiện những quy định đã ghi rõ trong Hiệp định Genève không? Bởi bản chất của đế quốc với dã tâm và âm mưu xâm lược là không bao giờ thay đổi Lúc này ở Khu 8 - Trung Nam Bộ, các công sở

ngụy quyền đều treo cờ rủ nhưng bọn sĩ quan, binh lính, tề, xã, ấp, nhân viên ngụy quyền, địa chủ ở miền Nam thì vui mừng vì chúng biết miền Nam vẫn còn thuộc quyền chúng quản lý Hiệp định Genève đã được ký kết, hòa bình đã được lập lại, nhưng miền Nam lại phải tạm thời thuộc quyền quản lý của địch Vì vậy, tâm trạng nhân dân còn thấp thỏm, không yên

Đứng trước tình hình như vậy, Khu 8 - Trung Nam Bộ đã họp Hội nghị cán

bộ quán triệt Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam về việc thi hành Hiệp định Genève Tinh thần của Nghị quyết là ngừng bắn thật sự Và tuyệt đối không để sơ hở cho địch lợi dụng phá hoại Pháp chịu thua đã ký Hiệp định nhưng Mỹ không chịu

ký và đang tìm cách nhảy vào thay chân Pháp Vì thế, nhiệm vụ trước mắt là nghiêm

chỉnh thi hành tập kết, chuyển quân đúng quy định thì mới chấm dứt chiến tranh, đẩy lùi được âm mưu của đế quốc Mỹ và tạo được điều kiện hiệp thương, tổng tuyển cử

thống nhất đất nước

Tất cả các cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân ở Khu 8 - Trung Nam Bộ

Trang 35

quyết tâm thực hiện lệnh ngừng bắn rất nghiêm túc và Cao Lãnh là khu tập kết 100 ngày theo Hiệp định Genève Tại Đồng Tháp Mười, mọi người hồ hởi san bằng đồn

bốt, cờ đỏ sao vàng mọc lên như nấm Hàng trăm xuồng ghe từ các ngả đi vào Đồng Tháp Mười, đưa đón những người từ các vùng địch tạm chiếm, thành phố, thị xã đến

với người thân đi kháng chiến Trong thời hạn 100 ngày chính quyền kháng chiến đã

giải quyết rất nhiều việc để người ra đi yên tâm, người ở lại cũng vững lòng như:

cho dân Các đoàn y tế khẩn trương khám bệnh, trị bệnh miễn phí Các đoàn văn công, điện ảnh biểu diễn văn nghệ, chiếu phim cách mạng liên tục, đều khắp các xã, ấp” [30; tr.14]

Ngày 30/10/1954, khi chuyến tàu cuối cùng của khu tập kết tại Cao Lãnh rời

bến thì sau đó không lâu, cảnh khói lửa chiến tranh lại tái diễn và rất đúng với dự đoán tại Hội nghị mở rộng lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II)

đã triệu tập từ ngày 15-17/7/1954, trước khi Hội nghị Genève bước vào giai đoạn

cuối Hội nghị đã từng nhận định: “Đế quốc Mỹ là một trở lức chính ngăn cản việc

nhân dân Đông Dương” [72; tr.225] Thực tế cho thấy, sau khi lực lượng của ta rút

đi thì liền ngay sau đó lực lượng ngụy quân và lực lượng giáo phái đã tràn ngập vào Đồng Tháp Mười Cảnh đầu rơi máu chảy lại diễn ra Tiểu đoàn ngụy 520 BVN (tiểu đoàn chính quy ngụy) đóng ở Gò Bắc Chan và kênh Dương Văn Dương Bọn Cao Đài Liên minh đóng dọc theo sông Vàm Cỏ Tây và xen kẽ với Tiểu đoàn 520 của

ngụy ở kênh Dương Văn Dương Mục đích của kẻ địch là tiêu diệt lực lượng cách

mạng Cao Đài Liên minh còn tuyên bố: “Quân đội Cao Đài chỉ biết Việt Minh cộng

cho lính rình rập, bắt bớ, tra tấn bất cứ ai chúng tình nghi Bắt được cán bộ hồi cư thì chúng chặt đầu, mổ bụng, moi gan; bắt được phụ nữ thì hãm hiếp Chỉ trong vòng

một tuần lễ ở Mộc Hóa đã có hàng trăm người bị bắt bị giết, bị đập chết rồi xỏ dây

kẽm vào lòng bàn tay buộc thành chùm ném xuống kênh Dương Văn Dương và sông

Trang 36

những người kháng chiến Quân Hòa Hảo do Nguyễn Giác Ngộ chỉ huy tràn ngập vùng Phong Thạnh Thượng, Chợ Mới, Long Xuyên Ngay từ chiều ngày 20/7/1954, quân của bọn Dân xã Đảng Ba Cụt tràn vào Thoại Sơn, Châu Đốc Đầu tháng 10 năm 1954, quân của Ba Cụt và quân Cao Đài đánh nhau quyết liệt suốt tuần lễ ở các

xã Ba Chúc, Lương Phi, Lê Tri, Giác Quan để giành nhau vùng Bảy Núi Quân Cao Đài phải rút chạy, quân của Ba Cụt thắng trận, tuyên bố Bảy Núi là căn cứ chống

cộng và “buộc dân chúng ở đây gọi chúng là Việt Minh mới” [47; tr.13]

Ngày 16/8/1954, tên Tỉnh trưởng tỉnh Gò Công ra lệnh bắn vào đoàn biểu tình

của quần chúng đang đi vào thị xã hoan hô hòa bình, hưởng ứng Hiệp định Genève Ngày 19/8/1954, ngụy quyền quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre đàn áp cuộc biểu tình của 1.500 người thuộc các xã trong quận đang đi vào quận lỵ mừng hòa bình, hoan hô

Hiệp định, kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến, ngày Quốc khánh 2/9 [14; tr.120] Ở

quận lỵ Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc khu tập kết vừa rút, chúng vừa vào tiếp quản đã đưa

lực lượng đến phá mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đứng trước tình hình địch ra sức khủng bố, đàn áp lực lượng cách mạng thì đến cuối tháng 10 năm 1954, đồng chí Nguyễn Minh Đường sau khi đi họp Hội nghị

Trang 37

thành lập Xứ ủy Nam Bộ ở Cà Mau về đã bắt tay vào việc bố trí, sắp xếp lại lực lượng cách mạng và đề ra nhiệm vụ mới trong tình hình mới ở Khu 8 lúc bấy giờ Nhiệm vụ đầu tiên của Liên Tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ là chuyển Đảng bộ vào bí

mật theo phương châm ngọn nhẹ, bí mật, trọng chất lượng Trước mắt là sắp xếp các

bộ máy Đảng bộ các cấp và cán bộ, đảng viên Theo chủ trương của Trung ương thì cán bộ chính quyền, quân sự, công an huyện, tỉnh đều đi tập kết hết, chỉ để lại cán bộ đảng, đoàn thể Ở Khu 8 nhiều cán bộ chính quyền, quân sự, công an có điều kiện bám dân vẫn được sắp xếp ở lại Về vũ khí, lệnh của Trung ương là mang đi hết nhưng Trung ương Cục chỉ thị mật cho để lại mỗi tỉnh trang bị 1 đại đội

Đến giữa tháng 1 năm 1955, tại căn cứ An Lục Song, Liên Tỉnh ủy Khu 8 - Trung Nam Bộ họp kiểm điểm tình hình và đề ra chủ trương chỉ đạo phong trào đấu tranh ở các nơi, nội dung chính như sau: “Địch vẫn đang đánh Đồng Tháp Mười ác

nông thôn đông dân để chống lại các chính sách thực dân mới của địch, bảo vệ cách

được cơ sở hạ tầng, chúng buộc phải để Đảng chi phối quản lý dân Nhưng chắc

Trang 38

v ệ hòa bình, hoan nghênh Hiệp định mạnh hơn nữa, duy trì phong trào liên tục và ngày càng đi vào chiều sâu” [30; tr.23-24]

Một nhiệm vụ cũng hết sức quan trọng được triển khai là “vận động nhân dân

đồng bào đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất đất nước, về lâu dài, mai phục chờ

trương đẩy mạnh đấu tranh giành quyền dân sinh, dân chủ cho quần chúng; lãnh đạo

quần chúng chống tăng tô, xáo canh, bảo vệ quyền làm chủ ruộng đất của nông dân;

thực hiện tốt công tác binh vận; thực hiện công nông binh liên hiệp

Chấp hành sự chỉ đạo của Trung ương và căn cứ vào tình hình thực tế ở miền Trung Nam Bộ chủ yếu là vùng nông thôn, Liên Tỉnh ủy đề ra phương châm hoạt

động cụ thể, sáng tạo trong giai đoạn này là “kết hợp bán hợp pháp, bất hợp pháp và

hành Hiệp định, đòi quyền dân sinh, dân chủ cho nhân dân.Đâyđược xem là một sự sáng tạo, một chủ trương rất đúng đắn phù hợp với tình hình cách mạng vào thời điểm nhạy cảm đó Với những chủ trương và nhiệm vụ đề ra đó Đảng bộ, Liên Tỉnh

ủy và nhân dân miền Trung Nam Bộ đã kiên quyết tiến hành đấu tranh với kẻ thù

buộc chúng phải thi hành Hiệp định Genève để tiến tới hiệp thương tổng tuyển cử

Trang 39

kháng chiến chống Pháp xâm lược Suốt cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp trường

kì, quân dân miền Trung Nam Bộ đã kiên cường, bất khuất, anh dũng đánh bại các cuộc tấn công mở rộng lãnh thổ của chúng ra toàn vùng, với những chiến công vang dội đã

lập được trong những năm tháng chiến tranh kháng Pháp, quân dân Khu 8 đã góp phần

rất lớn vào thắng lợi chung của cả nước Ngày 21/7/1954, khi Hiệp định Genève được

ký kết thì cũng là dấu chấm hết cho những nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp hòng

muốn quay trở lại đặt ách thống trị lên nhân dân Việt Nam một lần nữa

Sau khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ với dã tâm thay chân Pháp đã dựng lên chế

độ tay sai Ngô Đình Diệm, tiến hành xây dựng lực lượng ngụy quân, phá hoại Hiệp định Genève, trừ chối hiệp thương tổng tuyển cử, tiến hành tiêu diệt lực lượng cách

mạng và đàn áp nhân dân vô tội Tình hình cách mạng miền Nam nói chung và ở Khu 8 - Trung Nam Bộ lúc này đang đối mặt với những khó khăn thử thách hiểm nghèo Nhưng với truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của ông cha đã được hun đúc từ ngàn xưa đến nay, quân dân miền Trung Nam Bộ đã xúc tiến quá trình đấu tranh mạnh mẽ nhằm giữ gìn lực lượng, tiến tới xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng vững mạnh, đủ sức để đối phó với tình thế nguy hiểm lúc bấy giờ của cách mạng ở Khu 8 Và quá trình đấu tranh giữ gìn, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở Khu 8 - Trung Nam Bộ đã diễn ra hết sức khẩn trương với tinh thần và khí thế mạnh mẽ, quyết liệt ngay từ những ngày đầu sau Hiệp định Genève

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIỮ GÌN LỰC LƯỢNG CÁCH

M ẠNG Ở KHU 8 – TRUNG NAM BỘ SAU HIỆP ĐỊNH

GÈNEVE (1954 – 1958)

2.1 Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève ở Khu 8 – Trung Nam Bộ (1954

- 1956)

Hiệp định Genève về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông

Dương ký kết, ngày 22/7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Đấu tranh

để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân tộc cũng là một

Genève, lực lượng cách mạng và bộ đội của ta phải tập kết ra miền Bắc trong khi đó

miền Nam tạm thời còn nằm trong sự kiểm soát quản lý của địch Tình trạng này đã làm cho nhiều cán bộ chiến sĩ và nhân dân ta không khỏi hoang mang lo lắng về một tương lai sẽ rất khó khăn cho cách mạng miền Nam Nhận thấy được những tâm tư, bâng khuâng và lo lắng đó của quân và dân ta, Người động viên và nói: “Có người

đá là cứ ì ra không nhúc nhích Nhưng khi có nhiều người đồng tâm hiệp lực mà xô đẩy thì dù tảng đá đó to mấy, nặng mấy cũng phải lăn” [119; tr.173]

Trước những chuyển biến của tình hình cách mạng lúc bấy giờ, ngày 5/9/1954,

Bộ Chính trị đã họp và ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách

của Đảng, trong đó xác định nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn hiện tại là “lãnh

đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình,

l ập” [54; tr.48] Bộ Chính trị cũng đã xác định phương châm đấu tranh của cách

mạng miền Nam lúc này là “tranh thủ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp, kết hợp

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aachimdes L.A.Patti (2008), Why Vi ệt Nam? Tại sao Việt Nam?, Nxb Đà Nẵng 2. An Giang kháng chi ến (1987), t ập 1, Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang xu ất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why Vi ệt Nam? Tại sao Việt Nam
Tác giả: Aachimdes L.A.Patti
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
3. An Giang kháng chi ến (1987), t ập 2, Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang xu ất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang kháng chi ến
Nhà XB: Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang
Năm: 1987
4. An Giang kháng chi ến (1987), t ập 3, Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang xu ất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang kháng chiến
Tác giả: An Giang kháng chi ến
Năm: 1987
5. An Giang kháng chi ến (1987), t ập 4, Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang xu ất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang kháng chi ến
Nhà XB: Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang
Năm: 1987
6. An Giang kháng chi ến (1987), t ập 5, Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang xu ất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang kháng chi ến
Nhà XB: Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang
Năm: 1987
7. An Giang kháng chi ến (1987), t ập 6, Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang xu ất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang kháng chi ến
Nhà XB: Ban sưu tập sự kiện kháng chiến An Giang
Năm: 1987
8. Ban Biên t ập Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến (2008), L ịch sử Tây Nam Bộ kháng chi ến , t ập 1, (1945-1954), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến
Tác giả: Ban Biên t ập Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
9. Ban Biên t ập Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến (2008), L ịch sử Tây Nam Bộ kháng chi ến , t ập 2, (1955-1969), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến
Tác giả: Ban Biên t ập Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
10. Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Long An (2005), L ịch sử Đảng bộ tỉnh Long An (1930 - 2000), Nxb Chính tr ị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Long An (1930 - 2000)
Tác giả: Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Long An
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
13. Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2007), L ịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1954 - 1975, t ập 2, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1954 - 1975
Tác giả: Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang
Năm: 2007
16. Ban Ch ấp hành huyện Đảng bộ Đức Hoà (1996), L ịch sử đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân huy ện Đức Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân huyện Đức Hoà
Tác giả: Ban Chấp hành huyện Đảng bộ Đức Hoà
Năm: 1996
20. Ban Ch ấp hành Đảng bộ huyện Tri Tôn (2002), L ịch sử Đảng bộ huyện Tri Tôn 1945 - 2000 (sơ thảo), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tri Tôn xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Tri Tôn 1945 - 2000
Tác giả: Ban Ch ấp hành Đảng bộ huyện Tri Tôn
Năm: 2002
21. Ban Ch ấp hành Đảng bộ huyện Tịnh Biên (2002), L ịch sử Đảng bộ huyện Tịnh Biên 1930 - 2000 (sơ thảo), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tịnh Biên xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Tịnh Biên 1930 - 2000 (sơ thảo)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tịnh Biên
Nhà XB: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tịnh Biên
Năm: 2002
22. Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (2005), L ịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (1945 - 1954), t ập 2, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (1945 - 1954)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp
Nhà XB: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp
Năm: 2005
23. Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (1997), L ịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (1954 - 1975), t ập 3, Sơ thảo, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp và Nhà xuất b ản Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (1954 - 1975)
Tác giả: Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đồng Tháp
Năm: 1997
24. Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang (2011), L ịch sử Đảng bộ Tỉnh Tiền Giang (1927 - 1954), t ập 1, Nxb Chính tr ị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Tiền Giang (1927 - 1954)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
25. Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang (2011), L ịch sử Đảng bộ Tỉnh Tiền Giang (1954 - 1975), t ập 2 , Nxb Chính tr ị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Tiền Giang (1954 - 1975)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
26. Ban Ch ấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang (1998), Công tác binh v ận trong kháng chi ến chống Mỹ cứu nước ở tỉnh Tiền Giang , M ỹ Tho Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác binh vận trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở tỉnh Tiền Giang
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang
Nhà XB: Mỹ Tho
Năm: 1998
27. Ban Ch ấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1985), M ột số Văn kiện c ủa Đảng về chống Mỹ cứu nước , t ập 1, (1954 - 1965), Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số Văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Ban Ch ấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1985
29. Ban Ch ấp hành Đảng bộ huyện Mỏ Cày (1995), L ịch sử đấu tranh cách mạng huy ện Mỏ Cày, Ban Tuyên giáo huy ện ủy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Mỏ Cày
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Mỏ Cày
Nhà XB: Ban Tuyên giáo huyện ủy
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ diễn tiến cuộc hành quân của địch ở Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung ngày - quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng tiến tới đồng khởi ở khu 8   trung nam bộ (1954   1960)
Sơ đồ di ễn tiến cuộc hành quân của địch ở Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung ngày (Trang 190)
Hình thái ta và địch ở Kiến Tường 1954 – 1959 - quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng tiến tới đồng khởi ở khu 8   trung nam bộ (1954   1960)
Hình th ái ta và địch ở Kiến Tường 1954 – 1959 (Trang 205)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w