1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn nguyễn quang sáng

98 833 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 892,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cần được xem xét, đánh giá ở bình diện rộng hơn, ở mức độ bao quát hơn, có hệ thống hợp lý, đặt v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

HUỲNH THỊ BÍCH TRÌNH

PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ THUẬT VÀ TÌNH HUỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN

MÃ S Ố: 5 – 04 - 33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÙNG QUÝ NHÂM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2004

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

DẪN NHẬP 6

1 Lý do chọn đề tài: 6

2 Giới hạn của đề tài: 7

3 Lịch sử vấn đề: 8

4 Phương pháp nghiên cứu: 17

5 Những đóng góp của luận văn: 18

6 Kết cấu của luận văn: 18

CHƯƠNG 1: CÁC PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG 20

1 1 Vấn đề lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn 20

1.2 Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật ở tuyến tường thuật khách quan hóa trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng 22

1.2.1 Kiểu tường thuật lạnh lùng 22

1.2.2 Kiểu người tường thuật hòa mình với nhân vật 24

1.2.3 Kiểu tường thuật “ủy thác” việc kể cho nhân vật 28

1.2.4 Kiểu người tường thuật cổ giọng nói riêng 32

1.3 Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật chủ quan hoá trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng 36

1.3.1 Kiểu người tường thuật xưng “tôi” đóng vai trò người dẫn chuyện 36

1.3.2 Kiểu người tường thuật xưng “tôi” kề lại một câu chuyện mà trong đó anh ta vừa là người dẫn chuyện vừa là một nhân vật 41

1.3.3 Kiểu người tường thuật xứng “tôi” vừa kể chuyên vừa bình luận 46

1.3.4 Kiểu người tường thuật luôn tự xác định vai trò nhà văn của mình 49

CHƯƠNG 2: TÌNH HUỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG 51

2.1 Vai trò của tình huống trong truyện ngắn 51

2.2 Tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng 53

2.3 Các dạng tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng 56

2.3.1 Tình huống kịch 56

2.3.2 Tình huống tự nhận thức 66

2.3.3 Tình huống tương phản 81

2.3.4 Tình huống trở về 83

Trang 5

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài:

Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân Việt Nam đã thực sự được làm chủ vận mệnh của mình Nền văn học cách mạng được khai sinh, phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Từ sau cách mạng tháng Tám đã xuất hiện một lớp nhà văn mang sức sống và hơi thở của thời đại Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều nhà văn đã sẵn sàng có mặt ở những nơi thử thách quyết liệt của cuộc chiến tranh chống xâm lược, có những trang viết sinh động về nhân dân anh hùng, xứng đáng là nhà văn - chiến sĩ Đặc biệt, trong hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, các nhà văn đã có những đóng góp rất to lớn Trong đó có nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, kịch bản phim, nhưng thành công hơn cả trong thể loại truyện ngắn Ngay từ tác phẩm đầu

tay là tập truyện Con chim vàng ( 1958), ông đã được người đọc chú ý vì cách viết bình dị, tự

nhiên, tình cảm chân thành, xúc động Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng thường giàu kịch tính, cốt truyện có nhiều tình huống bất ngờ hoặc dữ dội Lời văn mộc mạc, giản dị, mang đậm nét phong cách Nam Bộ, giàu giá trị biểu cảm Đặc biệt Nguyễn Quang Sáng đã miêu

tả chân thực hình ảnh của nhân dân miền Nam anh hùng " thành đồng Tổ quốc" Qua những trang truyện ngắn của ông, chúng ta càng thêm yêu đất nước ta tươi đẹp, nhân dân ta anh hùng Cùng với nhà văn Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng đã vẽ nên bức tranh sống động về quê hương, con người Nam Bộ

Tác phẩm Nguyễn Quang Sáng hấp dẫn người đọc và được nhiều nhà nghiên cứu văn học quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết, chuyên luận đã viết về quá trình sáng tác, những đóng góp của Nguyễn Quang Sáng cho văn học cách mạng Các công trình này đã phân tích, đánh giá tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng về cách xây dựng hình tượng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ mang đậm màu sắc Nam Bộ, các chi tiết sống động, bất ngờ, giàu kịch tính nhưng giàu chất trữ tình Một số công trình viết về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng từ góc độ thi pháp nhưng chưa đầy đủ, cụ thể Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn chưa được quan tâm nhiều, chưa được đặt vào trong hệ thống để đánh giá, phân tích, chưa thấy được sự độc đáo trong phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Vì vậy, vấn đề

Trang 7

phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cần được xem xét, đánh giá ở bình diện rộng hơn, ở mức độ bao quát hơn, có hệ thống hợp lý, đặt vấn đề phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong mối quan hệ với các yếu tố nghệ thuật khác để hiểu được tài năng nghệ thuật, thấy được những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học nước nhà

2 Giới hạn của đề tài:

2.1 Đối tượng khảo sát:

Với đề tài khoa học đề ra, luận văn chỉ tập trung làm sáng rõ hơn vấn đề cơ bản xoay quanh phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng Nguyễn Quang Sáng sáng tác ưuyện ngắn trước và sau năm 1975 nhưng độc giả biết đến tên tuổi của ông qua những tập truyện ngắn trước năm 1975 nhiều hơn Chúng

tôi khảo sát 49 truyện dựa vào văn bản truyện của năm tập truyện ngắn : Chiếc lược ngà (Nhà xuất bản văn nghệ TP Hồ Chí Minh năm 1999); Người con đi xa (Nhà xuất bản tác phẩm mới năm 1977); Bàn thờ tổ của một cô đào (Nhà xuất bản văn nghệ TP Hồ Chí Minh năm 1985); Tôi

thích làm vua ( tác giả Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy - Nhà xuất bản văn nghệ TP Hồ Chí

Minh năm 1988); Con mèo của Foujita (Nhà xuất bản văn nghệ TP Hồ Chí Minh năm 1992);

và các tuyển tập Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Quang Sáng (Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 1996);

Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội năm 1996); Nguyễn Quang Sáng - tuyển tập (Nhà xuất bản văn nghệ TP Hồ Chí Minh năm 2000) Chúng tôi không thể tìm

được ba tập truyện ngắn Con chim vàng (Nhà xuất bản Kim Đồng năm 1958); Người quê hương

(Nhà xuất bản Văn học năm 1960); Bông cẩm thạch (Nhà xuất bản Giải phóng năm 1969) vì

sách in đã quá lâu, các thư viện không còn lưu lại 49 truyện ngắn mà chúng tôi khảo sát trong 5 tập truyện ngắn và các tuyển tập kể trên đã được sự khẳng định của hầu hết các nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng vì chúng rất tiêu biểu cho phong cách và tài năng của Nguyễn Quang Sáng

Ngoài đối tượng nghiên cứu chính, chúng tôi còn tiếp thu có chọn lọc những lời phê bình, đánh giá quan trọng, có liên quan từ các thành tựu nghiên cứu phê bình của những tác giả đi trước

2.2 Nội dung vấn đề:

Trang 8

Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống là một vấn đề khá phức tạp, thể hiện rõ nét phong cách riêng biệt của từng nhà văn Với khả năng có hạn của mình, chúng tôi khảo sát truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng ở hai vấn đề cơ bản: Các phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi tiếp thu những vấn đề có liên quan đến lời văn

nghệ thuật ở các công trình nghiên cứu và vận dụng lý thuyết từ Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Thi pháp học của M Bakhtin

3 Lịch sử vấn đề:

3.1 Phần mở đầu:

Độc giả trong và ngoài nước đều biết đến tên tuổi của nhà văn Nguyễn Quang Sáng qua nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, ký và kịch bản phim nhưng "hai thể

loại thành công trong đời viết văn của anh vẫn là truyện ngắn và kịch bản phim" [23;86]; ngay từ truyện

ngắn đầu tay Con chim vàng (viết năm 1956), Nguyễn Quang Sáng đã được dư luận chú ý và

đánh giá là cây bút văn xuôi đầy triển vọng Từ đó đến nay, Nguyễn Quang Sáng đã viết được 8 tập truyện ngắn và truyện ngắn của ông luôn thu hút sự quan tâm của các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu

Năm 1969, khi Ngọc Trai viết bài giới thiệu Đọc chiếc lược ngà cho tuyển tập nghiên cứu

phê bình Mười năm văn học chống Mỹ của Nhà xuất bản Giải Phóng thì người ta đã xem Nguyễn

Quang Sáng là nhà văn tài năng Từ đó đến nay, nhiều bài viết, nhiều bài nghiên cứu viết về

truyện ngắn của ông, đặc biệt là cuốn phê bình, bình luận văn học: Anh Đức, Nguyễn Quang

Sáng, Nguyên Ngọc, Đoàn Giỏi do Vũ Tiến Quỳnh biên soạn

Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng được tiếp cận và nghiên cứu ở cảm hứng thời đại, phong cách nghệ thuật và nội dung tư tưởng Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận văn, chúng tôi sẽ hệ thống những nhận định quan trọng, những ý kiến nổi bật trong những công trình nghiên cứu phê bình có liên quan đến đề tài

3.2 Để hệ thống những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật

và tình hu ống, chúng tôi phân ra những loại ý kiến sau đây:

3.2.1 Những nhận xét về văn, ngôn ngữ và cách kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng:

Trang 9

Năm 1969, trong bài phê bình Đọc chiếc lược ngà, Ngọc Trai đã lý giải một cách chân

tình lý do tại sao Chiếc lược ngà đã làm xúc động người đọc, có tác dụng cổ vũ và nâng cao

tâm hồn con người là do “lối viết văn tự nhiên, chân thật và bởi cả kỹ thuật xây dựng cốt truỵện vừa có tính

thơ, nhất là do cách đề cập và thể hiện những tư tưởng thời đại” [39;139] Nguyễn Quang Sáng đem lại

cho người đọc sự thích thú, lôi cuốn vì “ngay cả kịch tính, sức hấp dẫn riêng cửa nghệ thuật kể chuyện

c ủa Nguyễn Quang Sáng cũng vậy, nó không chỉ là sự khéo léo có tính chất kỹ thuật Lối kết thúc bết ngờ ở phần

lớn các truyện ngắn của anh như là một sự bùng nổ có tính chất phát hiện” [39;324] Việc tạo những tình

huống nghệ thuật giàu kịch tính không chỉ tạo sức hấp dẫn cho người đọc mà còn thông qua

đó thể hiện những tài năng của nhà văn trong việc khám phá hiện thực và bộc lộ tính cách nhân vật

Năm 1982, trong lời giới thiệu tiểu thuyết Mùa gió chướng, Hoàng Trung Thông nhận

định chung về việc sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng: “Một đặc

điểm nữa là Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng ngôn ngữ địa phương vào trong tác phẩm của mình một cách

nhuần nhuyễn” [36; 148] Ngôn ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có đặc điểm là

đã đưa vào tác phẩm ngôn ngữ đời thường giản dị, mộc mạc, mang màu sắc Nam Bộ rõ nét Nhận định này có tính khái quát trong việc tìm hiểu ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

Phùng Quý Nhâm trong Điều thấy thêm ở truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, đã tinh tế phát hiện

ra tính chất của lời văn, mạch văn khi cho rằng “lời văn tự nhiên, chân mộc ”(tr 87), “mạch

văn tự nhiên, thoáng, dí dỏm” (tr 90); “Đọc truyện anh sau này, ta vẫn thây dòng suy ngẫm, mạch văn

thoáng, cách kiến tạo truyện nhiều rẽ ngoặt vốn có ở thời kỳ trước, song lại thấy thêm khả năng khai mở trường

diện trong nghệ thuật viết truyện” (tr 91) Phùng Quý Nhâm cũng có nhận xét tương đồng với

Hoàng Trung Thông về ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Quang Sáng: “văn mạch thoáng, tự

nhiên Ngôn ngữ trong tác phẩm đạt được sự chuẩn xác của ngôn ngữ tiếng Việt mà vẫn giữ chất, giọng Nam

Bộ” [23; 95] Đây là nhận định chính xác về văn mạch và ngôn ngữ của truyện ngắn Nguyễn

Quang Sáng

Năm 1994, trong tập lý luận và phê bình văn học Tiếp cận văn học của trường Đại học Sư

phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Phùng Quý Nhâm nhận định về cảm hứng nghệ thuật

trong tập truyện ngắn Con mèo của Foujita: “Điều nhận thấy trước tiên là trong nguồn cảm xúc văn mạch

truyện ngắn của anh vẫn tuôn chảy theo hướng chính của cảm hứng nghệ thuật: tình yêu mặn mà, sâu đậm với

Trang 10

con người và vùng đất Nam Bộ, là khát vọng về đạo lý, về nhân bản” [41; 137] Đọc truyện ngắn

Nguyễn Quang Sáng, người đọc được tiếp xúc với những câu chuyện được xây đựng trên những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, nhiều khi căng thẳng đầy kịch tính Vẻ đẹp của vùng đất Nam Bộ, phẩm chất anh hùng, đôn hậu, lòng thủy chung son sắt của con người miền Nam được thể hiện rõ nét trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Phùng Quý Nhâm đã phát hiện tài tình nguồn cảm xúc và văn mạch của truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng - điều đã tạo nên sức hấp dẫn trong tác phẩm của ông trong mấy chục năm qua

Năm 1996, Bùi Việt Thắng trong lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn Quang Sáng - Còn lại

tình yêu - đã nhận định về lối viết văn của Nguyễn Quang Sáng: “Nếu nói văn là người” thì câu này

rất hợp với Nguyễn Quang Sáng Cái “chất Nam Bộ” thể hiện rất rõ trong văn của ông” [34; 15] Bùi Việt

Thắng đã phát hiện ra cái hồn Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Điều đó nói lên sự gắn bó máu thịt của nhà văn với vùng đất Nam Bộ tươi đẹp và anh hùng, nơi ông đã sinh ra và lớn lên Bùi Việt Thắng còn phát hiện ra những nét độc đáo, đặc sắc trong lối văn

Nguyễn Quang Sáng là ông có “một lối văn rất "hoạt", rất "động" Đọc văn của ông, thấy ẩn giấu sau

mỗi câu chữ là tiếng cười kể cả khi viết về những gay cấn, nguy hiểm nhất Tiếng cười đó làm thư giãn và thanh thản người đọc giúp họ khỏe hơn, yêu đời hơn Lại có cảm giác Nguyễn Quang Sáng viết "như chơi" - nghĩa là

từ ngòi bút ấy tuôn chảy cái mạch tình cảm tự nhiên của một người có bản lĩnh lại thấu thị nhiều điều trong cuộc

sống” [34;15] Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng không né tránh những đau thương, mất

mát, hy sinh - điều khó tránh khỏi trong cuộc chiến đấu ác liệt - nhưng vẫn tràn đầy niềm lạc quan, niềm tin vào chiến thắng trong tương lai Nhà văn muốn mang đến cho người đọc

lòng yêu đời, niềm tin tưởng để sống, chiến đấu Một số duyên trong tập Chiếc lược ngà đã thể

hiện nhận định của Bùi Việt Thắng là xác đáng Lối viết của Nguyễn Quang Sáng tự nhiên, dung dị mà sâu sắc chỉ có được ở một cây bút nghệ thuật già dặn

Với hơn 800 trang sách chọn lọc những tác phẩm tiêu biểu nhất trong hơn 40 năm cầm

bút của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Phan Đắc Lập viết Lời ngỏ giới thiệu Nguyễn Quang Sáng

- tuyển tập đã nhận xét thật thấu đáo: "Văn của Nguyễn Quang Sáng không phải là loại văn óng mượt Văn

cửa anh bình dị mà trong sáng Nhiều người đã nhận xét: Nguyễn Quang Sắng có biệt tài kể chuyện Tôi cũng thấy như vậy Bằng một lối văn mộc mạc, anh cứ thủ thỉ kể hết cuộc tình này đến cuộc tình khác như một người nông dân Nam Bộ kể chuyện đời xưa và chuyện tiếu lâm Ấy vậy mà với những trang viết mộc mạc ấy, Nguyễn Quang Sáng đã chạm tới những rung động vi diệu của tình yêu" [16; ] Đây là một nhận định xác đáng

của tác giả về lối văn giản dị và nghệ thuật kể chuyện tài tình của Nguyễn Quang Sáng

Trang 11

Bên cạnh những nhận xét về văn, ngôn ngữ, các nhà nghiến cứu phê bình còn chú trọng đến những đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Quang Sáng Đây là một thế mạnh của ngòi bút Nguyễn Quang Sáng giúp truyện ngắn của ông để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và không bị thời gian vượt qua

Năm 1969, tiếp cận tập truyện ngắn Chiếc lược ngà từ góc độ nghệ thuật, Nguyễn Nghiệp

viết: "Lối kể chuyện tưởng chừng như rất thoải mái; tùy hứng nhưng thực ra là đã thông qua bàn tay rất chủ

động của tác giả Quá khứ và hiện tại đan xen lẫn nhau, gắn bó với nhau theo logich bên trong của tính cách, bổ sung cho nha u soi rọi cho nhau làm cho tính cách càng trở nên hoàn chỉnh Những chi tiết đều được chọn lọc và

đã được khai thác đúng mức, hành động bên ngoài nói lên được tâm trạng bên trong, nhiều chỗ phảng phất gợi lại lối kể chuyện súc tích, cô đọng của Nguyễn Thi [27; 65] Đây là những nhận định quan trọng khi nghiên cứu lối kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

Trong bài Truyện ngắn miền Nam trên đà phát triển của cách mạng đăng trên Tạp chí văn học số 3,

năm 1972, Hà Minh Đức đã nhận định: “Mạch truyện của anh sáng sủa, cách dẫn chuyện sinh động, lôi

cuốn Cũng có lúc anh thích cái kỳ lạ hoặc cường điệu một khía cạnh nào đó trong tính cách nhân vật, khi đó ý nghĩa xã hội của câu chuyện bị hạn chế” [8; 82] Đây là nhận định về cách dẫn chuyện tự nhiên,

sinh động trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Cách dẫn chuyện này đã tạo nên sức hấp dẫn trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng

Dành một bài viết riêng nhận định tổng quát về Hiện thực mới ở các tỉnh phía Nam sau ngày

giải phóng qua một số truyện ngắn, năm 1982, tác giả Đinh Thị Bích Ngọc đặc biệt chú ý đến nhà

văn Nguyễn Quang Sáng Tác giả điểm qua những truyện ngắn tiêu biểu sáng tác sau năm

1975 của Nguyễn Quang Sáng và rút ra kết luận: “Một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng

tro ng tập Người con đi xa đã có những mặt thành công riêng trong nghệ thuật dẫn dắt câu chuyện, nên không gây sự nhàm chán của người đọc Truyện ngắn Bạn hàng xóm tạo được sự lôi cuốn do cách nhập đề khá đặc sắc ” Đinh Thị Bích Ngọc còn phát hiện ra sự thành công của Nguyễn Quang Sáng còn do

“ Cùng với lối kể chuyên khách quan, nhiều tác giả còn chú trọng những chi tiết và biểu tượng, kết hợp với những biểu hiện nội tâm của nhân vật để bộc lộ chủ đề tư tưởng của truyện như trong các truyện “Dấu chân” cửa

Trang 12

nghệ thành phố số 280 năm 1983): “Đa số tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng viết với dạng kể truyện

Người kể xưng “tôi”- “Tôi” chính là Nguyễn Quang Sáng, không phải một thứ tôi hư cấu Không biết đó là do

tự nhiên để dễ dàng cho người kể hay là một sự tính toán nghệ thuật? Chỉ biết là với cách ấy, Nguyễn Quang Sáng làm cho độc giả thấy có cái gì giản dị, thân mật, thật thà đáng tin cậy Bởi vì Nguyễn Quang Sáng không nấp đằng sau nhân vật, điều khiển ngầm mà anh chường mặt ra đứng sờ sờ ở đó, cùng với nhân vật Anh cũng là một nhân vật, một nhân vật tham gia tích cực vào câu truyện Độc giả bỡ ngỡ đi vào cái thế giới B 2 ấy, thấy ở

Nguyễn Quang Sáng một người bạn đường - không, một người dẫn đường thành thạo, vui vẻ, cởi mở” Nhận

định của Hoàng Như Mai là một đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu kiểu tường thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Người kể chuyện thường ở ngôi thứ nhất, xưng

“tôi” Nguyễn Quang Sáng đã nhập thân vào nhân vật trong truyện, tham gia vào các sự việc đang diễn ra Điểm nhìn của tác giả và điểm nhìn của nhân vật nhiều khi hòa nhập vào nhau Điều này làm cho truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng chân thực, sinh động và hấp dẫn đối với người đọc

Là người yêu thích tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng và có điều kiện lặng lẽ “theo dõi”

nhà văn nổi tiếng này, Bùi Việt Thắng năm 1996 làm công việc giới thiệu Tuyển tập Nguyễn

Quang Sáng qua Còn lại tình yêu đã khẳng định: “Người kể chuyện dù ở ngôi thứ ba thì đều giống nhau ở cái chất tự nhiên mà dí dỏm, tình cảm mà khách quan” [34;15] Nhận định của Bùi Việt Thắng phát

hiện ra một kiểu tường thuật khác trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng: người tường thuật không biểu thị trong văn bản, dẫn dắt câu chuyện từ ngôi thứ ba Người tường thuật không tham gia vào hành động nghệ thuật, mà chỉ đứng ở sau hành động đó để quan sát Nhưng dù người tường thuật ở ngôi thứ ba thì truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng vẫn mang những nét đặc sắc, độc đáo của nhà văn

Năm 1969, Ngọc Trai Đọc chiếc lược ngà - bài phê bình cho tuyển tập nghiên cứu phê bình của Mười năm văn học chống Mỹ, Nxb Giải Phóng đã xem “lối viết tế nhị vừa hiện thực ở sự chính

xác tro ng chi tiết, cụ thể trong sự kiện, lôgích khi miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật, tượng trưng ở lối nói bóng bẩy, có ngụ ý Một sự kiện, một chi tiết nào cũng có thể hiểu theo hai tầng nghĩa, nghĩa trắng và nghĩa đen là điểm độc đáo của nghệ thuật diễn tả Quán rượu người câm” [39;322] Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa

và làm nổi bật được cá tính đặc sắc của con người miền Nam ở Một chuyện vui là nhờ: “Cái lạc

quan hài hước toát lên toàn bộ câu chuyên biểu thị sức mạnh tinh thần, thế đứng trên đầu thù của nhân dân ta"

[39;324] Tiếp cận ở phong cách nghệ thuật, Ngọc Trai nhận định: “Nghệ thuật của Nguyễn Quang

Sáng giàu tính trữ tình và có một tầm khái quát nhất định Truyện của anh thường gợi cho người đọc suy nghĩ

Trang 13

sâu về những vấn đề thiết thân của cuộc sống Mỗi truyện của anh như một lá thư, một lời tâm sự mà anh muốn gởi gắm cho người đọc để nói những suy nghĩ của mình về cuộc sống, con người, đất nước miền Nam trong giai

đoạn kỳ diệu có một không hai này của lịch sử” [39;325] Ở nhận định này, Ngọc Trai đã thừa nhận

trong văn Nguyễn Quang Sáng có chất triết lý, đây là một điều quan trọng của bài viết

Nếu Ngọc Trai đọc Chiếc lược ngà thì Nguyễn Nghiệp tìm hiểu hình ảnh Đất nước và con

người miền Nam trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, vào năm 1977, đã nhận ra rằng: “Toàn

truyện là một bài thơ, trong đó chất hùng ca quyện chặt với chất trữ tình làm một, cái trữ tình riêng của tác giả

lẩn kín trong không khí khách quan của câu chuyện” [27;65]

Ở cuốn sách Văn học giải phóng miền Nam (Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên

nghiệp Hà Nội, 1976) Phạm Văn Sĩ viết: “Ngòi bút hiện thực của Nguyễn Sáng trở nên chuẩn xác nhẹ

nhàng, bình dị tự nhiên mà lắm khi duyên dáng bay bổng” [31;84] và “cũng có khi anh đưa yếu tố tượng

trưng vào việc thể hiện tính cách (cái câm của Ba Hoành)” Phạm Văn Sĩ đồng quan điểm với Ngọc

Trai khi cả hai đều nhận ra văn Nguyễn Quang Sáng có tính chất tượng trưng

Vân Thanh cũng có phát hiện giống với Ngọc Trai và Nguyễn Nghiệp khi cho rằng:

“ Có thể nói, truyện ngắn Nguyễn Sáng tuy đậm tính kịch nhưng vẫn mang nhiều chất trữ tình Không ít truyện

cửa anh được gội trong không khí của những kỷ niệm như Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch” [27 ; 58]

Trong chương viết về Bộ mặt cuộc sống trên tiền tuyến lớn và tầm vóc mới của cuộc chiến đấu (Văn

học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, xuất bản năm 1979) của nhiều tác giả đã nhận xét: “nhưng chất

thơ, niềm vui sống vẫn là nét nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Sáng khi anh kể cho ta nghe chuyện Người đàn

bà Đồng Tháp để cho thấy: “Thời bây giờ đánh với Mỹ, người mẹ muốn nuôi con cũng phải có súng” [37; 30]

Là người nghiên cứu về Nguyễn Quang Sáng trong nhiều năm, Phùng Quý Nhâm trong Điều thấy thêm ở truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, nhận xét: “Người đọc thấy rõ tư tưởng nhân bản,

tính giáo huấn ở truyện anh Dĩ nhiên, tính giáo huấn này tỏa ra từ sự năng sản của nghệ thuật xây dựng cốt

tr uyện, từ hình tượng, từ ngôn ngữ tác phẩm” [23 ; 91]

Năm 1991, Liên Phương nhận xét: “Bông cẩm thạch là một truyện ngắn mang nhiều yếu tố trữ

tình”

Tác gi ả văn học Việt Nam tập II (Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyên An, xuất

bản năm 1992) khái quát phong cách truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng: “Xuyên suốt các

Trang 14

tr ang truyện là một chất thơ đậm đà, có gì dữ dội, căng thẳng, mà tràn đầy niềm tin yêu ở sức sống, ở sức vươn

lên của con người dù gặp bao gian khổ” [22 ; 92 ]

Bùi Việt Thắng nhận xét về truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng viết trước năm 1975

như sau: “ như người ta nói "ròng ròng sự sống", một sự sống đa dạng cung bậc, màu sắc, có tiếng khóc và

tiếng cười, có khổ đau và hy vọng Một cuộc sống biến ảo đầy bất ngờ thú vị Dường như cái chất sống tự nhiên

như khí trời nên sự triết lý của nhà văn cũng từ đó mà tự nhiên, nhuần nhị” [34 ; 12 ] Ông cũng đưa ra ý

kiến của mình về 17 truyện ngắn viết sau năm 1975 của Nguyễn Quang Sáng: “Ở loạt truyện

ngắn này Nguyễn Quang Sáng lại như "phát sáng" trở lại - nghĩa là tung phá hơn nhưng rất uyển chuyển, vừa

giàu chất sống vừa thâm sâu triết luận, vừa cụ thể sinh động vừa rất gợi mở liên tưởng”

Nếu như Ngọc Trai, Nguyễn Nghiệp, Vân Thanh xem văn Nguyễn Quang Sáng có chất trữ tình kết hợp với lạc quan hài hước thì Bùi Viết Thắng cho rằng chất triết lý xuyên suốt các sáng tác trước và sau năm 1975 của Nguyễn Quang Sáng Đây là sự khám phá mới

mẻ đầy trân trọng về bút pháp trong văn Nguyễn Quang Sáng

Tiếp cận truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng ở mặt nghệ thuật, bài nhận định Truyện

ngắn miền Nam của Văn học giải phóng miền Nam, tác giả Phạm Văn Sĩ viết: “Tác giả tỏ ra nhạy cảm

tro ng việc nắm bắt những sự kiện tiêu biểu, tinh tế trong việc khai thác tính cách người Nam Bộ, nhất là những

na m nữ thanh niên mới lớn trong thời kỳ chống Mỹ Anh vận dụng rất khéo những xung đột mang tính thẩm mỹ như xung đột giữa người cha (anh Sáu) và đứa con gái (Thu) trong Chiếc lược ngà, xung đột giữa người mẹ và

cô con gái trong truyện Bông cẩm thạch” [31; 83] Nhận định của Phạm Văn Sĩ khẳng định thế mạnh

của ngòi bút Nguyễn Quang Sáng trong việc dựng nên những tình huống đầy kịch tính làm bộc lộ tính cách của nhân vật Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng có tính cách người Nam Bộ rõ nét Nhà văn tỏ ra tinh tế, khéo léo khi xây dựng tính cách của lớp nam nữ thanh niên trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ Điều này cho thấy truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng có điểm gặp gỡ với truyện ngắn của Nguyễn Thi

Năm 1977, trong bài Truyện ngắn Nguyễn Sáng, Vân Thanh đặc biệt chú trọng đến nghệ

thuật của truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng khi viết: “Người đọc được tiếp xúc nhiều hơn với những

câ u chuyện được xây dựng trên những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, lắm khi gay cấn, căng thẳng đầy tính kịch” [21 ; 52] Có thể nói rằng, tính kịch là điểm nổi bật trong nghệ thuật xây dựng tình

Trang 15

huống của Nguyễn Quang Sáng: “Giàu chi tiết sống, lắm tình huống bất ngờ, truỵện Nguyễn Quang

Sáng thường mang nhiều chất kịch Có thể xem đó là phong cách của anh Truyện của anh bao giờ cũng có khía cạnh làm cho người đọc hồi hộp, chờ đợi Kết thúc truyện bao giờ cũng đột ngột, người đọc khó đoán trước được” [21; 57]

Phong Lê Trên hành trình của 40 năm văn xuôi nhằm kiếm tìm ngôn ngữ và giọng điệu đã

phát hiện ra: “Ở Nguyễn Sáng khả năng tóm bắt các tình huống bài ngờ” [19 ; 51] Nguyễn Quang

Sáng có khả năng nắm bắt các sự việc, xây dựng các tình huống gay cấn làm cho truyện ngắn của ông có yếu tố bất ngờ Tài năng của Nguyễn Quang Sáng trong việc tạo nên những tình huống bất ngờ thể hiện rõ trong những truyện ngắn trước năm 1975

Năm 1991, Phùng Quý Nhâm đã nhận định về khả năng xây dựng các tình huống

trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng “nhà văn đã nắm bắt và thể hiện một cách sinh động hiện thực

cách mạng và những tư tưởng của thời đại chúng ta, cách dựng truyện tạo những tình huống bất ngờ, những chi tiết kỳ dị mà hợp lý, tính kịch đầy chất trữ tình” [24 ; 87] “Truyện ngắn của anh ít sự việc, cũng không nhiều nhân vật, nhưng quả là lắm tình huống, có khi tình huống khá gay cấn Nhân vật hành động trong tình huống đó

Và do vậy, truỵện của anh thường được coi là có kịch tính nhiều” [24; 93] Nhận định của Phùng Quý

Nhâm khẳng định tài năng của Nguyễn Quang Sáng trong việc tạo dưng nên những tình huống gay cấn, bất ngờ, giàu kịch tính Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng nhiều kịch tính nhưng lại đầy chất trữ tình Đây là một nhận định quan trọng, chính xác được chắt lọc từ việc nghiên cứu công phu truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng

Năm 1994, Phùng Quý Nhâm lại một lần nữa khẳng định tài năng của Nguyễn Quang

Sáng trong việc tạo các tình huống bất ngờ, nhiều kịch tính: “Đặc biệt là cách tạo những tình

huống bất ngờ mà hợp lý, là tính kịch trong truỵện” [42; 137] "Nét đáng chú ý ở tập truyện này không phải là

tạo dựng bố cục mà tạo dựng tình huống Tình huống bất ngờ mà hợp lý là nét đặc trưng trong kiến tạo truyện của nhà văn Điều này như nhất quán trong đời viết truyện ngắn của anh Chính các tình huống bất ngờ ấy làm cho cốt truyện có bước rẽ ngoặc Bước rẽ ngoặc này có khi là khắc đậm thêm tính cách nhân vật, có khi là định đoạt số phận nhân vật, có khi nâng lên như một khái quát nhân vật [42;141]

Năm 1966, Bùi Việt Thắng trong Còn lại tình yêu đã nhận định: " Cốt truyện thường tiêu

biểu hấp dẫn, chi tiết chọn lọc, tình huống đặc sắc và kịch tính cao Trong những truyện ngắn như thế, tác giả đã biết dồn nén tình thế làm gia tăng yếu tố bất ngờ hấp dẫn của tác phẩm” [34;12] Tình huống đặc sắc và

kịch tính cao, nhiều yếu tố bất ngờ là nét đặc sắc của tác phẩm Nguyễn Quang Sáng viết

Trang 16

trước năm 1975 Nhận định của Bùi Việt Thắng khẳng định thêm tài năng nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng Tác giả đã cung cấp thêm ý kiến xác đáng, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn của nhà văn tài năng này

Phan Đắc Lập nhận xét về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết trong và sau chiến tranh: “Dù viết về đề tài chiến tranh, hay chuyện đời thường, phần lớn các tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng đều hấp dẫn Sức hấp dẫn ấy do nhiều yếu tố: chủ đề, bố cục, chi tiết nhưng trước hết ở tác phẩm của anh là giàu kịch tính Thảo nào một số tác phẩm của anh rất thành công khi chuyển sang kịch bản điện ảnh và nghiễm nhiên anh trở thành một cây bút viết kịch bản phim có tài” [16] Phan Đắc Lập khẳng định truyện ngắn

Nguyễn Quang Sáng hấp dẫn người đọc trước hết là ở việc tạo nên những tình huống giàu

kịch tính Ý kiến của Phan Đắc Lập một lần nữa khẳng định tài năng trong việc xây dựng tình huống kịch trong truyện ngắn và chuyển thể tác phẩm truyện ngắn sang kịch bản điện ảnh của Nguyễn Quang Sáng

3.3 Nhận định chung:

Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, nhiều tác giả tìm hiểu, đánh giá từ hơn 30 năm qua Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng được nghiên cứu, tìm hiểu ở nhiều mức độ khác nhau và tiếp cận từ nhiều góc độ: thời đại, nội dung tư tưởng, phong cách nghệ thuật và thi pháp Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá cao truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng và thống nhất:

- Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng ngôn ngữ địa phương, đạt được sự chuẩn xác của ngôn ngữ tiếng Việt mà vẫn giữ được chất giọng Nam Bộ

- Văn Nguyễn Quang Sáng có tính lạc quan, dí dỏm, giàu chất trữ tình, thâm sâu triết

lý tạo nên phong cách riêng biệt khó lẫn

- Nghệ thuật kể chuyện được xây dựng trên những tình huống bất ngờ, gay cấn, kịch tính cao, kết thúc truyện bất ngờ

- Từ các công trình nghiên cứu của các tác giả, chúng tôi thấy rằng: số lượng nghiên cứu, khảo sát về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng chưa nhiều, chỉ xét đến một số truyện ngắn tiêu biểu Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước được nghiên cứu nhiều hơn truyện ngắn trong giai đoạn đất nước hòa bình, đi lên xây dựng chủ

Trang 17

nghĩa xã hội Đề tài về cuộc kháng chiến chống Mỹ, về người chiến sĩ cách mạng, về nhân dân miền Nam anh hùng được nghiên cứu nhiều hơn đề tài về cuộc sống đời thường Những lời nhận xét, đánh giá của các tác giả còn mang tính khái quát, chưa có sự so sánh, đối chiếu với một số nhà văn cùng giai đoạn, cùng kiểu sáng tác Việc giới thiệu, nhận định về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng còn tùy thuộc vào góc nhìn của từng tác giả Các nhà nghiên cứu chưa đặt ra vấn đề phân tích tác phẩm Nguyễn Quang Sáng dưới góc độ ngôn ngữ học, thi pháp học Tính đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về truyện Nguyễn Quang Sáng dưới góc độ phong cách học, đặc biệt là phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống Do đó, vấn đề này càng cần sự tìm tòi, khám phá nhiều hơn

- Chúng tôi nghĩ rằng, những khám phá, những nhận định của các tác giả, của các nhà nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng là cơ sở để chúng tôi tham khảo, vận dụng, khảo sát nhiều tác phẩm, khảo sát trong một hệ thống phân loại cụ thể Mục đích của việc tìm hiểu, khảo sát này là để làm nổi bật các phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và việc tạo các tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử đụng các phương pháp chủ yếu là phương pháp hệ thống và phương pháp phân tích - tổng hợp Đi vào khảo sát phương thức

tổ chức lời văn nghệ thuật như phương thức tổ chức khách quan hóa, phương thức tổ chức chủ quan hóa cùng các kiểu của chúng trong một hệ thống chung, phân tích những mối quan

hệ giữa các yếu tố với nhau Để khảo sát về tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, chúng tôi tiến hành khảo sát từng truyện ngắn, quan tâm đến ý thức sáng tạo tình huống của nhà văn, từ quan điểm loại hình, phân loại tình huống theo một số dạng cơ bản trong truyện ngắn của nhà văn này Đồng thời, chúng tôi đặt phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng vào giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và tiến trình chung của văn học dân tộc để tìm giá trị của vấn

đề Để có được những nhận xét có tính khái quát, tổng hợp, chúng tôi phải tiến hành phân tích các thành phần cơ bản của lời văn nghệ thuật ở mỗi kiểu trần thuật, phân tích sự biểu hiện của các dạng tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

Ngoài việc áp dụng phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp, chúng tôi còn chú ý tới phương pháp miêu tả, phương pháp thống kế và phương pháp so sánh

Trang 18

Phương pháp miêu tả làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật trong lời kể Chúng tôi

sử dụng phương pháp thống kê ở chừng mực nhất định, không nhất thiết phải có những nhận định rút ra Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu những hiện tượng tương đồng và khác biệt giữa Nguyễn Quang Sáng và một số tác giả đương thời Ở đề tài này, chúng tôi so sánh phương thức tổ chức và tình huống của truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng với phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống của truyện ngắn Sơn Nam, Anh Đức Những tác phẩm của hai nhà văn này đều dựa vào văn bản truyện : Tuyển tập

Truyện ngắn và bút ký Anh Đức (nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002) và tập truyện ngắn

Hương rừng Cà Mau (nhà xuất bản Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, in lần thứ hai, 1998)

5 Những đóng góp của luận văn:

Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống là những phương thức trình bày được tác giả lựa chọn để nêu lên tư tưởng mà mình muốn diễn đạt trong tác phẩm, những tình thế mà tác giả lựa chọn để làm nổi bật tính cách, tâm trạng, số phận của nhân vật vấn

đề này liên quan đến nhiều yếu tố nghệ thuật phức tạp của tác phẩm văn học Một số nhà nghiên cứu, một số bài viết đã bàn về vấn đề phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống nhưng nội dung chưa sâu sắc, chưa đầy đủ, chiếm số lượng không nhiều, còn mang tính chất khái quát, phân tích, đánh giá những tác phẩm đã quen thuộc với người đọc Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cũng nằm trong tình hình đó

Từ thực tế trên, khi thực hiện đề tài này, chúng tôi cố gắng góp một số ý kiến về vấn đề

phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Chúng tôi tìm hiểu nhiều tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng, đặt trong một hệ thống hợp lý để nhận xét, đánh giá Chúng tôi mong muốn đưa thêm một số ý kiến bổ sung vào những người đi trước đã khám phá, tìm tòi Thêm vào đó từ góc độ thi pháp, những yếu tố trong tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng sẽ được làm sáng tỏ hơn

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn có hai chương:

Trang 19

Chương 1: Các phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn

Quang Sáng

Chương 2: Tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

Trang 20

CHƯƠNG 1: CÁC PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG 1.1 Vấn đề lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn

Truyện ngắn thể hiện sự tích lũy dồi dào của bản thân nhà văn về ý nghĩ, nhận thức, kết quả của sự quan sát chăm chú và có trách nhiệm trước cuộc sống Truyện ngắn có sự việc, tình huống, cốt truyện, nhân vật Hành động truyện ngắn hạn chế trong số trang Có những truyện ngắn hay, trong mấy trang mà nói được cả một cuộc đời Có khi tác giả chỉ dựng vài khung cảnh đơn sơ, cốt truyện giản dị mà qua đó, người đọc biết được số phận, tính cách của nhân vật Dung lượng ngôn ngữ trong truyện ngắn không nhiều So với tiểu thuyết, truyện ngắn có sự dồn nén về ngôn ngữ, ít nhân vật, chi tiết chọn lọc, tâm lý nhân vật không miêu tả dài dòng, thường có một ý chính làm chủ đề, các chi tiết trong truyện thường xoay quanh chủ đề ấy, hầu như không có chi tiết thừa, lan man Truyện ngắn phản ánh tư tưởng sâu sắc của nhà văn khi một truyện có nhiều cảnh, nhiều việc, tác giả thường đóng vai người ngoài mà kể lại cho người đọc nghe Tác giả còn dùng hình thức mình kể chuyện về mình, mình nói tâm lý, tư tưởng của mình, thì được người đọc tin tưởng là có thật, là đúng Vì vậy, trong thể loại truyện ngắn, nghệ thuật kể chuyện của nhà văn rất quan trọng, góp phần to lớn vào việc thể hiện cái hay, cái đẹp của tác phẩm

Tác phẩm văn học là cầu nối giữa nhà văn và độc giả Những tư tưởng, tình cảm của tác giả qua lối kể chuyện trong tác phẩm đến với người đọc Lời kể chuyện trong tác phẩm luôn in đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, thể hiện tài năng nghệ thuật và phong cách tác giả Qua lời kể, người đọc hình dung, suy ngẫm, tưởng tượng, cảm xúc về nội dung tư tưởng mà

tác giả gửi gắm trong tác phẩm

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Lời văn của tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật Trong nghệ thuật, nhà văn hoàn thiện văn bản, tạo thành lời văn duy nhất hợp với ý tình định nói Lời văn nghệ thuật là hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học được tổ chức theo qui luật nghệ thuật riêng, tùy thuộc vào nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ và tài năng sáng tạo của nhà văn

Trang 21

Tác phẩm văn học được xây dựng trên chất liệu ngôn ngữ Đặc điểm nổi bật phân biệt lời văn nghệ thuật với lời nói giao tiếp thông thường là tính hình tượng G.N Pospelov trong

cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học đã khẳng định: “Lời văn của tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có tính

biểu cảm - đó là lời văn biểu cảm hình tượng” [36;55] Đời sống hiện thực được phản ánh qua lăng

kính chủ quan của nhà văn, tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn tư tưởng, tình cảm của nhà văn Tính hình tượng của lời văn nghệ thuật bắt nguồn từ chỗ đó là lời của một chủ thể

tư tưởng thẩm mỹ có tầm khái quát nhất định Vì vậy, lời văn nghệ thuật dễ làm cho người

đọc cảm xúc, yêu thích, trở thành lời nói của nhiều người Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm

văn học có khi là lời của nhà văn, lời của người kể chuyện, lời của các nhân vật Có khi tác giả nhập thân vào một người mẹ, một người vợ, một cô gái, anh bộ đội để phát biểu tư tưởng, cảm xúc của mình Lời văn nghệ thuật là của nhân vật trữ tình, không phải là một người thực tế Vì vậy, lời văn nghệ thuật rất phong phú, đa dạng, tinh tế

Lời văn nghệ thuật cô đọng, súc tích, gợi hình, gợi cảm, giúp cho người đọc cảm thụ cuộc sống một cách mới mẻ, sâu sắc Mỗi tác phẩm văn học có một lời văn nghệ thuật riêng Lời văn nghệ thuật của mỗi tác phẩm qui định ra cách dùng từ, đặt câu, sử dụng biện pháp

tu từ để tác phẩm nghệ thuật đạt giá trị thẩm mỹ cao Tầm quan trọng của lời văn nghệ

thuật đã được nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: “Lời văn là yếu tố quan trọng cho nghệ

thuật viết truyện ngắn Lời kể và phong cách kể chuyện là những điều được người viết truỵện ngắn đặc biệt chú ý khai thá c và xử lý, nhằm đạt hiệu quả mong muốn” [2;36] Lời văn nghệ thuật là lời của thế giới hình

tượng muốn được nói bằng ngôn từ Tính hình tượng của lời văn còn bắt nguồn từ sự truyền đạt, sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ thế giới, cảnh vật, con người được tái hiện trong tác phẩm

Lời văn nghệ thuật phải có tính tổ chức cao để giải phóng hình tượng của từ Lời văn nghệ thuật không thông báo giản đơn các việc xảy ra với nhân vật, mà còn tái hiện một phức hợp quan hệ chủ quan và khách quan trong sự kiện đó Tìm hiểu lời văn nghệ thuật là phải tìm hiểu câu văn, vì câu văn là đơn vị cơ bản của tác phẩm văn học Câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng mộc mạc, giản dị, sử dụng nhiều câu đơn, nhiều biện pháp tu từ,

có lúc nhẹ nhàng, dí dỏm, có lúc trầm lắng suy tư

Trang 22

Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cuốn hút người đọc từ cách kể đa dạng, chất liệu hiện thực phong phú, đậm đà bản chất nhân hậu và lòng yêu nước thiết tha của tác giả Vì thế, tìm hiểu lời văn nghệ thuật là tìm hiểu một bộ phận hình thức của tác phẩm

1.2 Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật ở tuyến tường thuật khách quan hóa trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

Ở phương thức tường thuật khách quan hóa theo quan điểm của Đinh Trọng Lạc:

“ Người tường thuật không được biểu thị trong văn bản, dẫn dắt câu chuyên từ ngôi ba Người tường thuật không thuộc vào các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật, không tham gia vào hành động nghệ thuật, mà chỉ đứng

sau hành động đó để quan sát” [17; 165];

Theo quan niệm trên, khảo sát 49 truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng ta thấy phương

thức tường thuật khách quan hóa chiếm 11/49 truyện ngắn Phương thức tường thuật này biểu hiện ở các kiểu tường thuật sau đây:

1.2.1 Kiểu tường thuật lạnh lùng

Trong kiểu tường thuật lạnh lùng, người kể hoàn toàn đứng ở bên ngoài, cố ý tạo ra một khoảng cách nhất định với câu chuyện, cố gắng tách mình ra khỏi ttuyện, không chú ý đến những biến cố xảy ra với nhân vật Điều này làm cho người đọc hoàn toàn tự do có

những suy nghĩ, đánh giá theo cách riêng không cần sự trợ giúp của người kể : " Lối kể lạnh

lùng cũng làm cho người đọc cảm thấy rằng hiện thực được phản ánh thực sự khách quan và do đó gây ấn

tượng mạnh mẽ" [17; 167] Xét 11 truyện ngắn được kể theo phương thức tường thuật khách

quan hóa thì chỉ duy nhất Con chim vàng thuộc kiểu tường thuật lạnh lùng

Chúng tôi xin đề cập đến truyện ngắn Con chim vàng

Ở truyện này, người kể dường như không quan tâm đến những biến cố của câu chuyện, thuật lại lai lịch, tình cảnh của nhân vật một cách hoàn toàn khách quan Người kể tuyệt đối không tham gia vào câu chuyện bi thảm của em bé ở đợ chăn trâu 12 tuổi tên là Bào Chỉ vì

mẹ em thiếu hai thúng thóc của tên hương quản trong làng mà Bào phải đến ở đợ cho nhà

nó Thằng Quyên - con mụ chủ - ao ước được chơi với con chim vàng thường đậu trên cây

trứng cá trước sân nhà Hai mẹ con nó buộc thằng Bào phải bắt đươc con chim quí Sau

nhiều lần thất bại và nhiều đêm trằn trọc nghĩ kế, Bào quấn lá cây đầy mình "ngụy trang" rồi

Trang 23

rình sẵn trên cây Cuối cùng, Bào cũng chộp được con chim vàng nhưng cả người và chim đều rơi xuống đất, chim tan xác còn Bào lịm đi trong vũng máu Vậy mà mụ chủ không hề mảy may để ý đến tính mạng của cậu bé đáng thương, mụ chỉ tiếc con chim đã chết Câu chuyện thảm thương này đã gián tiếp tố cáo bản chất bất nhân của bọn địa chủ đối với những người dân nghèo Người đọc xót xa, thương cảm cho số phận bi thảm của người nông dân dưới chế độ phong kiến bao nhiêu thì càng rùng mình kinh sợ trước sự độc ác của bọn địa chủ bấy nhiêu, ở đây người kể dường như hoàn toàn dửng dưng với câu chuyện, sử dụng

lời nói trực tiếp của nhân vật để nó tự bộc lộ bản chất của mình: "Lời văn trực tiếp hướng thẳng tới

đối tượng của nó, với tư cách là sự biểu hiện của cấp ý nghĩa cuối cùng của người nói" [5;195] Người kể

không bộc lộ thái độ, không một lời bình luận trước câu chửi ác độc của mụ hương

quản:“Con tao chơi chim sống chớ giỗ cha mày đâu mà bắn cho chim chết” Thậm chí, chứng kiến cảnh

cậu bé Bào rơi từ trên cao xuống, mặt đập vào gốc cây, máu tuôn ra lai láng, tác giả vẫn

lạnh lùng” hạ bút: “Hai chân Bào sụp vào không khí, tay bơi bơi Mặt Bào tối đen Bào rơi xuống như trái

thị Bào cố đem toàn lực vùng dậy, nhưng tay lại khuỵu xuống, đầu ngã xuống vũng máu” Cái giọng “vô

cảm”, “tàn nhẫn” ở những câu kết thúc truyện làm cho người đọc ghê tởm, căm thù bản chất

tàn nhẫn của mụ địa chủ: “Mắt Bào chập chờn thấy tay mẹ thằng Quyên thò xuống Tay Bào với tới, với

mãi, với mãi nhưng chẳng vớ được ai Té ra mẹ thằng Quyên thò tay nâng xấc con chim vàng Bào lại nghe tiếng

tắc lưỡi: “Trời con chim vàng của con tôi chết rồi!” Tác giả không sử dụng một từ ngữ biểu cảm nào

mà người đọc vẫn thấy được câu chuyện xảy ra đúng với hiện thực cuộc sống chứ không cần tác giả phải bình luận thêm Ấn tượng mạnh mẽ về số phận cậu bé con nhà nghèo và cảm giác được tự do “đồng sáng tạo” là nội dung câu chuyện chứ không phải do sức gợi hình, gợi cảm của các phương tiện tu từ bởi vì các câu văn ở đoạn văn trên đều là các phương tiện có sắc thái trung hòa

Con chim vàng là truyện ngắn đầu tiên và có lẽ duy nhất tác giả Nguyễn Quang Sáng sử dụng kiểu tường thuật lạnh lùng Nhờ sử dụng tài tình kiểu tường thuật này mà ngay từ khi câu chuyện mới xuất hiện, nó đã gây được tiếng vang lớn trong lòng độc giả, hứa hẹn sẽ là một cây bút truyện ngắn đầy tài năng

Cũng viết về đề tài tố cáo tội ác của bọn địa chủ, trong truyện ngắn Chuyến lưới máu, nhà

văn Anh Đức sử dụng phương thức tường thuật chủ quan hóa với kiểu người tường thuật xưng “tôi” kể lại một câu chuyện mà trong đó anh ta vừa là người dẫn chuyện vừa là một nhân vật Ở câu chuyện này, nhân vật xưng “tôi” - một người khách trọ nhà lão chủ lưới Tư

Trang 24

Hưng - là người chứng kiến và kể lại toàn bộ câu chuyện về một thằng bé ở đợ tên là Vọi Trong một chuyến đánh cá đêm giữa biển khơi, chẳng may chân trái thằng Vọi trượt khỏi ghe và bị kẹp vào giữa hai be ghe Lão chủ không cho thằng Vọi rời cáng lưới để rút chân

lên vì làm như thế, cá trong lưới sẽ tuột ra hết Nhà văn Anh Đức viết: “Tiếng thằng Vọi như kêu

van lão:

- Tui buông cho tui buông cáng!

Dưới ánh sao đôi mắt nó thất lạc Lão Tư Hưng hầu như không nghe tiếng kêu thảm thiết ấy Lão đang nghe tiếng cá dậy rộn trong lưới Trước mắt lão hiện ra vô số cá khoai, cá gộc Cá ấy sẽ cho lão vô vàn giấy bạc Lão Tư Hưng giậm chân một cái rầm trên sạp ghe Miệng lão còn đang nhai sò, huyết sò chưa chín ứa ra mép lão như máu người"

Bằng những lời nửa trực tiếp, nhà văn đã phơi bày bản chất bất nhân coi lợi ích cá nhân hơn tính mạng con người của lão chủ lưới Tư Hưng Lời văn vẫn là gián tiếp nhưng ý

thức, ngữ điệu là của lão chủ độc ác, hám tiền: “nghe tiếng cá rộn trong lưới”, “hiện ra vô số các

khoai, cá gộc”, “vô vàn giấy bạc” Hơn nữa, bản chất của Tư Hưng còn được thể hiện qua cách

cảm nhận, liên tưởng của người viết: “huyết sò chưa chín ứa ra mép lão như máu người” Cách so

sánh thật mới lạ, độc đáo làm cho người đọc thêm phẫn uất, ghê tởm, căm ghét lão Do đó, nhân vật Tư Hưng hiện lên thật sống động như đang ở trước mặt người đọc

1.2.2 Kiểu người tường thuật hòa mình với nhân vật

nhân vật thì “người tường thuật một mặt thì cố tách mình ra khỏi diễn biến câu chuyện, nhưng mặt khác, khi

cần thiết thì lại hòa mình vào với những nhân vật để phô bày toàn bộ cái thế giới nội tâm của con người Trong trường hợp này, người tường thuật càng chứng tỏ mình là người “uyên bác”, có thể biết được mọi chuyên trên đời, dù là trong ngõ ngách của tâm hồn” [17;168]

Trong kiểu tường thuật này, chủ thể kể chuyện thường hòa nhập vào những suy nghĩ , cảm xúc, hành động của nhân vật để tìm hiểu, khám phá thế giới nội tâm đa dạng, phong phú Những suy nghĩ thầm kín, những tình cảm tinh tế nhất của nhân vật được biểu hiện trong việc sử dụng hình thức lời nói nửa trực tiếp Lời nói nửa trực tiếp là lời tác giả phát biểu dựa theo tâm trạng và suy nghĩ của một nhân vật nhất định Đến một lúc nào đó, lời

Trang 25

phát biểu đó gần như là lời phát biểu của nhân vật, lời của tác giả và lời của nhân vật hòa quyện vào nhau khó phân biệt rạch ròi được, thậm chí từ ngữ, cách nói cũng đặc trưng cho nhân vật đó Kiểu tường thuật hòa mình với nhân vật làm cho người đọc cùng hòa mình với những suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật, cảm nhận được tài nghệ của tác giả khi mô tả những diễn biến tâm lý phức tạp trong tâm hồn con người Lời nửa trực tiếp là lời không đích thực trực tiếp của tác giả Thủ pháp nghệ thuật này làm cho điểm nhìn của tác giả và nhân vật hòa lẫn, tạo nên sức hấp dẫn, sinh động.của việc thể hiện đời sống nội tâm con người

Điểm lại các truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng, ta thấy có 6 truyện được kể theo

kiểu này Đó là các truyện Hạnh, Nhi đồng cụ, Đồng chí già ữở về, Người đàn bà Tháp Mười, Vợ chồng

ông già Sa Thét, D ấu chân

Ở phương thức tường thuật khách quan hóa, lời kể của chủ thể chiếm địa vị độc lập nên có trường hợp lời văn trở nên đơn điệu, buồn tẻ, ít có khả năng hấp dẫn, lôi cuốn sự say

mê của độc giả Để tránh được điều này, Nguyễn Quang Sáng thay đổi cách kể bằng việc hòa mình vào nhân vật, vào thế giới riêng của nó, kể bằng ngôn ngữ của chính nhân vật Điều đó làm cho mỗi nhân vật có giọng điệu riêng khó lẫn, gây ấn tượng sâu sắc nơi người đọc và tạo cho giọng kể thay đổi rất linh hoạt Trong trường hợp này, tác giả thường sử

dụng lời văn nửa trực tiếp Chẳng hạn: "Những đứa con của chị, lúc nào nó cũng quấn theo chị, chẳng

lẽ chị kéo một đàn con đi đánh với trực thăng? Và những lúc gay go, chị cũng chẳng muốn rời con Lãnh súng

mà không chiến đâu thì lãnh làm gì? Lãnh súng cho ra vẻ và làm oai với xóm làng chăng? Chị đã qua cái tuổi đó rồi Nếu chị dỗ được con nằm im trong hầm rồi trườn ra bắn lại thì khắc gì chỉ điểm cho nó Nó sẽ kéo lại từng

bầy, từng lũ, nó sẽ quần, sẽ bắn, hầm hố của con chị sẽ nát tan ra thôi" ( Người đàn bà Tháp Mười) Đây chính

là những suy tư, trăn trở, ray rứt của người mẹ hết mực thương con đang tự hỏi mình có nên lãnh súng để chiến đấu với trực thăng không Tuy câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba nhưng ngôn ngữ rõ ràng là của một người mẹ hướng tất cả mọi ý nghĩ, tình cảm của mình về đàn

con thân yêu: “ chẳng muốn rời con”, “dỗ được con”, “hầm hố của con”

Cũng kể ngôi thứ ba về Hạnh nhưng ngôn ngữ của nhân vật chiếm ưu thế ở một số đoạn độc thoại nội tâm Và đây là sự độc thoại đầy suy tư, trăn trở của cô gái mới chớm bước qua ngưỡng cửa tình yêu đầu đời:

“ Ở cái tuổi Hạnh, một cô gái hai mươi, không phải Hạnh không biết nghĩ đến tình yêu Hạnh nghĩ và khi nghĩ Hạnh lại nhớ đến Cảnh, nhưng thoáng rồi lại thôi Đôi lúc Hạnh thấy làm lạ cho mình, sao mình không

Trang 26

nghĩ đến Cảnh Hay là mình bội bạc như Lan nói Không! Một trăm lần không, một ngàn lần không! Mình có hứa hẹn đâu mà bạc, mình có yêu đâu mà bạc với bội Điều ấy trơng cô thật rõ ràng Nhưng có một điều mà cô không thể hiểu mình, nếu Cảnh ngỏ lời, Hạnh sẽ nói sao? Nghĩ đến đó Hạnh lại xua đi ”

Tác giả không trực tiếp nói lên những suy nghĩ của mình, mà thông qua lời của nhân vật, với mục đích là để miêu tả hiện thực một cách khách quan Người kể chuyện không chỉ

là người chứng kiến, mà còn là người trong cuộc, vì thế không chỉ khách quan kể lại những điều nhìn thấy, nghe thấy, mà còn nhập vào nhân vật, nói giọng nói, cảm xúc của nhân vật thông qua các độc thoại nội tâm của nhân vật Tác giả từ bỏ vai trò người dẫn chuyện để cùng đối thoại, trò chuyện với nhân vật và khoảng cách giữa tác giả với nhân vật đã được thu hẹp tối đa Lối trần thuật với đặc điểm này đã tạo nên khả năng vừa miêu tả hiện thực khách quan lại vừa đi sâu vào thế giới tâm hồn, vào suy nghĩ của nhân vật Tuy nhiên, lời

nửa trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng lại không nổi bật (lời của chủ thể kể

chuyện thường lấn át lời của nhân vật)

Như đã thống kê, phương thức tường thuật khách quan hóa chỉ chiếm với số lượng 11/49 truyện ngắn nên chủ thể kể chuyện trong tác phẩm Nguyễn Quang Sáng ít khi trần

thuật một cách khách quan hoặc hoàn toàn trung tính Bởi vì: “Nhiều lần người kể chuyện nhập

vào hoàn cảnh và thế giới nội tâm nhân vật, miêu tả tỉ mĩ hoặc kể bằng ý thức nhân vật” [15;271] Ở đây, lời

kể của chủ thể đã hòa nhập với lời của nhân vật, những suy nghĩ, những nét tính cách của nhân vật được thể hiện dưới kiểu lời nói nửa trực tiếp Lời văn nửa trực tiếp vẫn là gián tiếp nhưng ý thức, ngữ điệu là của nhân vật

Do đó, ta thấy rằng lời kể mang ý thức nhân vật đã chứng tỏ mối quan hệ tác giả với nhân vật trở nên gần gũi, mật thiết và làm cho tác phẩm đậm đà chất trữ tình, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc

Đây là dòng cảm xúc cuộn chảy về những kỷ niệm ngôi nhà cũ của ông Tư Huỳnh sau

30 năm hoạt động cách mạng xa quê hương trong Đồng chí già trở về:

“Ngô i nhà nơi ông sinh ra và lớn lên! Ông đã đứng trước cái thềm nhà ấy rồi, mà sao như một giấc mơ! Hàng rào mồng tơi mà ông và lũ nhỏ ngày xưa bẻ trái làm mực không còn nữa Cây vú sữa trước nhà bị đốn hay bị cháy, dấu vết của một gốc cây cũng không nhìn thấy Và cái mái tranh xưa, nay là mái tôn lạnh Khác hết nhưng ông không nhầm Ông dừng lại đúng chỗ, trước cửa nhà”

Trang 27

Đoạn văn trên vừa là lời của tác giả, vừa là suy nghĩ của nhân vật Tư Huỳnh sau 30 năm xa quê hương xứ sở, nay được trở về với ngôi nhà cũ của mình với biết bao xúc động, bồi hồi Lời nửa trực tiếp cho người đọc thấy được tình yêu quê hương, tình yêu gia đình tha thiết, gắn bó với những kỷ niệm đẹp đẽ và bình dị của nhân vật Tư Huỳnh Thời gian và những thăng trầm trong cuộc đời đã làm cảnh vật cũ thay đổi nhiều, nhưng ông Tư Huỳnh vẫn không nhầm, vẫn nhận ra ngôi nhà thân thuộc Người đọc được hòa cùng cảm xúc cùng nhân vật, cũng bồi hồi ngắm nhìn ngôi nhà cũ mà xúc động xốn xang

Trong truyện Vợ chồng ông già Sa Thét , sau cái quyết định đau đớn là đốt ngôi nhà thân

yêu của mình để phá hủy kho lương thực của giặc (chúng chứa gạo trong nhà), ông già Sa Thét xót xa:

Ông xót xa, ông lẩm bẩm nói, không phải nói với vợ mà nói với mình: “Cái thằng giặc, mày ác quá” Nó

l ấy cái sàn nhà ông làm nơi chứa gạo, hàng trăm bao ông đoán biết chúng sẽ đánh lâu Ông thấy cần thiết phải đốt kho gạo của nó Cái kho gạo lớn lại nằm ngay trong gian nhà sàn của ông Nếu phải đi đầu trong các cuộc biểu tình hoặc cầm lựu đạn cùng với đội du kích để đánh giặc, chẳng bao giờ ông bàn bạc với vợ Nhưng lần này, ông phải đốt cả cái ngôi nhà của mình ”

Kiểu tường thuật hòa mình với nhân vật cũng là một nét nổi bật trong truyện ngắn Anh Đức Chủ thể kể chuyện thường thâm nhập vào những hành động, suy tư của nhân vật, nhằm miêu tả đời sống nội tâm, cảm xúc tinh tế của nhân vật Để biểu hiện được điều này,

Anh Đức thường sử dụng lời nói nửa trực tiếp Trong truyện ngắn Giấc mơ ông lão vườn chim,

Anh Đức sử dụng lời nửa trực tiếp thể hiện tâm trạng của ông Tư Vườn Chim Lời nửa trực

tiếp là lời của người kể chuyện dựa theo sự quan sát tâm trạng và suy nghĩ của ông lão: “Lửa

tràn tới, réo nghe hù hù Bất ngờ, lửa bị chặn đứng, bởi cái mương vừa đào xong đó Ông Tư Vườn Chim đưa mắt nhìn nhìn ngọn lửa tiu nghỉu la liếm bờ bên kia, thầm nói: “tao chỉ cho mày cháy một lõm đó thôi, không để mày ch áy lấn ra đâu!” Và ông khoái trá nhận ra trái bom vừa rồi không phá hoại được bao nhiêu Xung quanh ông, rừng tràm vẫn vươn những thân trắng lốp, lá tràm vẫn xanh ngắt che rợp trên đầu Bọn máy bay phản lực

bây giờ không dám rà sát nữa” Lời nói nửa trực tiếp trong đoạn văn này cho thấy tâm trạng vui

mừng, kiêu hãnh của ông lão khi thấy bom đạn tàn bạo của quân thù không tàn phá nổi rừng tràm thân yêu của ông, Việc đào mương ở rừng tràm của ông đã có kết quả tốt đẹp Ngòi bút tài năng của Anh Đức còn hòa mình vào đời sống nội tâm của ông lão, miêu tả sinh động

giấc mơ của ông: “Lần này ông lão mơ thấy những cảnh ông chưa bao giờ mơ thấy Cả rừng tràm bừng lên

Trang 28

một sức sống mãnh liệt Lá tràm chưa có lúc nào xanh tươi đến thế, hương tràm chưa có lúc nào ngát hương đến thế Bông trằm rụng trắng cả mặt kinh Cái vườn chim của ông thì mới lạ lùng hết chỗ nói, tổ chim cứ đong đưa ken sát nhau đến nỗi khó mà nhìn thấy kẽ trời Ngoài cò và diệc còn có nhiều loại chim lạ lũ lượt bay về hàng đàn, con nào con nấy lông cánh cũng sặc sỡ muôn màu Ông lão cảm thấy người mình cứ lâng lâng, thấy như mình không còn ở cõi địa giới nữa mà đang phiêu diêu tới một miền thần tiên cực lạc Trong mơ, ông còn tới dự đắm cưới của cháu Chỗ đám cưới coi y như chỗ động tiên Tác giả cố gắng thâm nhập vào suy tưởng

của nhân vật, thâm nhập vào cả trong ý thức lẫn tiềm thức Sự hòa mình của tác giả - người

kể vào nhân vật đã khai thác được mọi tâm lý, tình cảm sâu kín của nhân vật Ông lão có tình cảm yêu thương, gắn bó thiết tha với rừng tràm và các anh bộ đội Rừng tràm là nơi chứng kiến những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời ông, với người vợ quá cố, với người con trai và người con dâu đã hy sinh Người cháu duy nhất của ông đã tiếp bước truyền thống của gia đình, trở thành anh bộ đội giải phóng

Ở hai đoạn văn trên, Anh Đức đã khám phá tâm trạng, tình cảm của ông Tư Vườn Chim qua độc thoại nội tâm và lời nửa trực tiếp Độc thoại nội tâm là tiếng nói bên trong tâm hồn của nhân vật, là ý nghĩ thầm kín, là lời tự nhủ thầm hoặc nhân vật nói to lên với mình Độc thoại nội tâm bộc lộ đời sống tinh thần của nhân vật, làm thể hiện rõ “con người bên trong” của nhân vật Câu nói thầm của ông lão: “Tao chỉ cho mày cháy một lõm đó thôi, không

để mày cháy lấn ra đâu” là độc thoại nội tâm Với mục đích khám phá chiều sâu tính cách con

người, Nguyễn Quang Sáng không dùng phương pháp độc thoại nội tâm nhiều để bộc lộ tính cách nhân vật như Anh Đức - nhà văn cùng giai đoạn, hay một số nhà văn thế hệ trước ( Nam Cao chẳng hạn) Ông ít khi trực tiếp khắc họa nội tâm của nhân vật mà chủ yếu phân tích tâm lý nhân vật, kiến giải hành động nhân vật trước các biến cố Nội tâm của nhân vật phát triển theo lôgich tình cảm, không nặng nề phân tích lý trí

1.2.3 Kiểu tường thuật “ủy thác” việc kể cho nhân vật

1.2.3.1. Trong kiểu tường thuật "ủy thác" việc kể cho nhân vật, người tường thuật “luôn

luôn muốn tách mình ra khỏi diễn biến của chuyện, dẫn dắt câu chuyện từ ngôi ba, nhưng đến một lúc nào đó muốn cho sự tường thuật được sinh động, lại ủy thác câu chuyện cho một trong các nhân vật, để nhân vật nói năng y nguyên như trong cuộc sống thực Trường hợp này, người tường thuật vẫn chứng tỏ mình là người “uyên bác” , có thể biết được mọi chuyện trên đời, dù là cách nói riêng biệt của mỗi loại người, mỗi con người cụ thể”

[17;170] Kiểu tường thuật này xen kẽ lời của người tường thuật với lời kể của nhân vật

Trang 29

Người tường thuật có ý thức tránh khỏi sự đơn điệu và thiếu khách quan, nếu câu chuyện chỉ được dẫn dắt từ ngôi thứ ba Vì vậy, thỉnh thoảng đến khi cần thiết, người kể tự ý rút lui cho nhân vật tự tìm đến độc giả Sự rút lui của chủ thể khi kể chuyện để ủy thác việc kể tiếp theo cho nhân vật giúp cho việc khắc họa tính cách, nội tâm của nhân vật được rõ nét Người đọc thấy mình như đang đối thoại trực tiếp với nhân vật, có ấn tượng về câu chuyện

là chân thực và sâu sắc Điều này chính là do việc sử dụng đan xen lời nói gián tiếp của tác giả - đồng thời là người kể chuyện - với lời nói trực tiếp của nhân vật

Trong kiểu tường thuật “ủy thác” việc kể cho nhân vật, người tường thuật có thể nhập vào những suy nghĩ, tư tưởng của nhân vật, trong trường hợp này, nhà văn sử dụng các hình thức của lời nói nửa trực tiếp Người tường thuật có thể “ủy thác” câu chuyện cho một nhân vật trong tác phẩm, khi ấy, lời nói trực tiếp của nhân vật được sử dụng Những điều này cho thấy khả năng biến thể của viễn cảnh tường thuật trong tác phẩm Các nhân vật tường thuật

từ ngôi ba có thể có những lập trường và quan điểm khác nhau về thời gian, không gian, về tâm lý Lời tường thuật ở những góc độ khác nhau, có khi lời tường thuật là lời giới thiệu gián tiếp của tác giả, chứng tỏ tác giả đã phân bố lại các chức năng tường thuật giữa một vài quan điểm kể, một vài góc độ nhìn Chính lối tường thuật này làm cho tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc, gợi sự cảm nhận tinh tế của người đọc

1.2.3.2 Trong số những truyện ngắn mà chúng tôi khảo sát (49 truyện), thì có 11 truyện tường thuật theo phương thức tường thuật khách quan hóa Tác giả có lúc trao cho nhân vật điểm nhìn trần thuật

Ở truyện Bông cẩm thạch, Nguyễn Quang Sáng gần như hoàn toàn “ủy thác” việc kể

chuyện cho nhân vật Mì (thực ra tên là Hạnh) và mẹ của cô Mì hiểu lầm mẹ lấy Việt gian, phản bội lại cha mình Mẹ của cô hết mực thương con, rất đau xót khi thấy con hiểu lầm về mình, nhưng chưa thể nói ra vì phải gìn giữ bí mật cho cách mạng Mì rất thương mẹ, nhưng

cô không chấp nhận việc mẹ sống với người chồng sau mà cô cho là “Việt gian” Mì giận

mẹ đã quên cha cô, quên mối thù cha cô bị kẻ thù giết hại dã man, quên con đường mà cha

cô đã chọn cho đến lúc hy sinh Cô bỏ nhà đi bộ đội, mang theo đôi bông cẩm thạch là vật

kỷ niệm ngày cưới của cha mẹ Mì cho rằng mẹ cô không xứng đáng được giữ đôi bông tai

đó Câu chuyện về người cha thân yêu của cô được tái hiện thật sống động nhưng không kém phần bi thương được Mì kể lại với cô bạn thân Tác giả dẫn dắt câu chuyện của Mì từ

Trang 30

ngôi thứ ba: “Mì mới lọt lòng được mấy ngày, mẹ còn yếu Dạo ấy nhằm tháng bảy Nước vừa tràn đồng,

nước lấp xấp, xuồng không đi được Giữa cách đồng, cha cô bỏ chân dưới nước, dụm hai đầu gối cho mẹ cô ngồi từ khuya tới tối Nghe mẹ kể, Mì như thấy cái cảnh ấy đang diễn ra trước mắt mình Mì thấy mình là một đứa nhỏ trên cánh tay của mẹ, mẹ đang ngồi trên hai đầu gối của cha và người của cha mỗi lúc mỗi lún sâu

xu ống bùn lầy, chung quanh là cánh đồng nước chảy ra mênh mông” Để cho câu chuyện thêm sinh

động, chủ thể kể chuyện tự ý rút lui để nhân vật Mì nói lên sự ấm ức và thái độ dứt khoát

của cô: “Ngày mai mình có thể gặp, nhưng mình không nhận đâu Liển đưa giùm tôi đôi bông tai này cho má

của mình, nhớ nói là mình gởi lại cho đứa em kế của mình, mình còn một đứa em gái, năm nay nó cũng lớn rồi”

Những đau khổ, tức giận trong tâm hồn Mì được chính cô bộc bạch, hướng tới sự đồng cảm của người đọc Sự rút lui của người tường thuật để ủy thác việc kể chuyện cho nhân vật

Mì đã làm cho nhân vật này được khắc họa đậm nét với tấm lòng yêu thương cha mẹ, thủy chung với cách mạng, tính cách cương trực, thẳng thắn

Chủ thể kể chuyện cũng không hề đứng ra “thanh minh” cho sự hiểu nhầm của Mì mà trao việc ấy cho người mẹ Câu chuyện lấy người chồng sau là một chiến sĩ phản gián nằm trong hàng ngũ của địch được chính người mẹ kể lại với anh chính trị viên đơn vị của Mì giữa tiếng súng nổ dữ dội của trận đánh:

“ Khi tôi nhìn lên thì sửng sốt Hóa ra người ấy là đồng chí Hồi kháng chiến, anh là cán bộ Liên Việt của quận - tôi thường gặp anh trong các cuộc họp Chẳng hiểu sao lúc đó tôi không thấy anh là kẻ thù, mặc dù anh đang làm việc trong tổ chức của giặc Anh nhìn tôi với đôi mắt - khó nói quá Vừa mừng vừa ngạc nhiên, vừa ứa nước mắt - Rồi sau đó, tôi biết anh được cơ sở đưa vào tổ chức của địch Tên quận trưởng là người bà con bên

ngoại của anh Nhờ anh mà tôi móc nối lại được cơ sở và lại bắt đầu hoạt động Sau đó, tôi xây dựng gia đình

với anh ấy”

Ở Người con đi xa, tác giả đã trao cho các nhân vật kể lại câu chuyện chú bé Đắc trốn

nhà đi bộ đội Sau ba mươi năm xa nhà theo quân giải phóng đánh đuổi kẻ thù, chú bé Đắc xưa kia nay đã là đại tá Trần Tấn Đắc Ngày trở về của ông đúng là ngày hội lớn của gia đình, làng xóm Trong nỗi vui mừng của buổi sum họp, mỗi người đều hồi tưởng lại ngày ông từ giã gia đình và những kỷ niệm về ông

Đây là dòng hồi tưởng của ông hàng xóm:

Trang 31

“ Thật ra cái hôm đó, cách đây đã ba mươi năm, ông có làm một con chó Món xào lăn thơm phức khiến ông nhớ chú nhỏ hàng xóm dễ thương, ông bước ra sau hè, nheo một con mắt gọi chú, và múc cho chú một chén đầy Ông gọi chú vì lòng thương và tính thảo ăn, chứ lúc đó ông nào có biết là chú nhỏ đi bộ đội Bây giờ nhớ lại ông tưởng như đó là món ăn của buổi tiễn đưa ”

Ngày đầu kháng chiến của đại tá cũng được một người khác nhớ lại một cách rõ nét:

“ Chú còn nhớ không? Buổi chiều bộ đội hành quân, chú đi ngang qua nhà tôi, vai chú mang chiếc nóp, cái nó p bằng cái lưng của chú, chú bận quần cụt, hai bên hông vắt hai trái lựu đạn Chú nhỏ nhứt nhưng chú đi đầu, phải hôn?”

Và đây là những dòng hồi ức của người cha về ngày đứa con trai nhỏ của mình trốn nhà theo bộ đội diệt giặc:

“ Ông nhớ - ba mươi năm trước, buổi sáng hôm ấy, như mọi ngày ông dậy sớm Đã đến giờ đến trường theo lệ của con, nhưng ông không thấy con đâu, ông lên tiếng gọi Không nghe tiếng trả lời, ông vào buồng, vẹt mùng, th ấy có một người trùm mền Ông tốc mền, nhưng không phải thằng Đắc đang nằm, thay vào đó là cái gối dài Ông hốt hoảng Đến lúc đó người chị thứ hai của nó mới nói:

- Thằng Đắc nó trấn theo bộ đội rồi cha à!

Tường thuật theo kiểu “ủy thác” cho nhân vật làm cho điểm nhìn của truyện rất linh

hoạt, có khi tác giả đứng ở ngoài để miêu tả, có khi nhập thân vào nhân vật Lúc tác giả ở

ngoài nhân vật thì dùng lời gián tiếp của chủ thể kể chuyện, lúc nhập vào nhân vật thì sử dụng lời nửa trực tiếp, lúc thì điểm nhìn là của người kể, có khi điểm nhìn “ủy thác” cho nhân vật này hay nhân vật khác Chính việc sử dụng điểm nhìn linh hoạt như vậy nên cách

kể chuyện thật sinh động, khéo léo và tăng thêm tính hiện thực cho câu chuyện được kể

“ Cha mình như vậy, nhưng má mình lại không xứng đáng” (Lời trực tiếp của nhân vật - điểm

nhìn của nhân vật Mì) Mì nói giọng căm giận, từng tiếng phát ra một cách khó khăn, nghe

the thè (Lời gián tiếp và điểm nhìn của chủ thể kể chuyện) “Chuyện đã vậy thì khóc làm gì” (Lời

trực tiếp của nhân vật Liển), cô nói để an ủi Rồi nói đay nghiến (lời gián tiếp của chủ thể)

-được rồi, mày để cho tao ngày mai, nếu tao tìm gặp bả, tao sẽ xòe bàn tay cho bả thấy đôi bông, nếu bả đưa tay cầm lấy thì tao nắm lại, tao sẽ đưa tận tay cho em mày (lời trực tiếp và điểm nhìn của nhân vật Liển)

Trang 32

Trong quá trình kể chuyện, để câu chuyện mang tính khách quan, chủ thể kể chuyện lần lượt chuyển từ quan điểm người này sang quan điểm người khác tạo nên một cái nhìn khá linh hoạt trong tác phẩm khi kể qua hình thức lời văn trực tiếp và gián tiếp

Ở kiểu tường thuật “ủy thác” cho nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, điểm nhìn của người kể và nhân vật không phải lúc nào cũng trùng nhau Khi kể chuyện, tác giả có thể dừng lại, tách mình ra khỏi diễn biến câu chuyện để những nhân vật khác tự kể

tiếp câu chuyện, ở truyện Bông cẩm thạch, đoạn đầu là điểm nhìn của tác giả bằng lời văn gián

tiếp, kế tiếp là câu chuyện của Mì và câu chuyện của mẹ cô Lúc này tác giả trao điểm nhìn cho nhân vật khi họ kể chuyện về mình để nhân vật dẫn dắt câu chuyện theo kiểu “truyện được lồng trong truyện” bằng lời văn gián tiếp và trực tiếp của người kể Có đoạn là lời chen vào của nhân vật Liển như là sự căm tức giùm cho cô bạn Câu chuyện cho thấy kẻ thù không chỉ tàn phá quê hương, xóm làng, gây chết chóc đau thương cho nhân dân mà còn gieo vào lòng người bao nỗi hiềm nghi chua xót trong quan hệ họ hàng, làng xóm, thậm chí ngay cả trong mẹ con sống dưới một mái nhà

Tác giả trao cho nhân vật chức năng trần thuật gián tiếp nên câu chuyện vẫn mang quan điểm của tác giả Như vậy câu chuyện của người mẹ với anh chính trị viên đơn vị về

người chồng sau của mình và việc Mì hiểu lầm mẹ lấy Việt gian trong Bông cẩm thạch là lời

gián tiếp (dù lời của một nhân vật phải là trực tiếp) Điều này Phương Lựu viết: “Lời của một

nhân vật thì phải là lời trực tiếp, nhưng tác giả lại trao cho nó chức năng trần thuật nên lại gián tiếp Là lời của nhân chứng hoặc của người trong cuộc, là lời kể có một sức thuyết phục riêng, có màu sắc cá tính và cảm xúc đậm đà, nhưng mang sứ mệnh trần thuật, nó phải thể hiện quan điểm cửa tác giả “ [21; 337] Chính nó tạo

nên lời gián tiếp hai giọng trong truyện của Nguyễn Quang Sáng

1.2.4 Kiểu người tường thuật cổ giọng nói riêng

1.2.4.1 Trong một số truyện ngắn, Nguyễn Quang Sáng sử dụng kiểu người tường thuật có giọng nói riêng Đây vẫn là kiểu người tường thuật khách quan hóa dẫn dắt câu

chuyện từ ngôi ba Theo Đinh Trọng Lạc, kiểu tường thuật này khác với kiểu người tường thuật lạnh lùng ở chỗ: “trong khi kể và tả về các sự kiện cùng các tính chất của chúng, người tường thuật có

giọng nói riêng không cố gắng né tránh việc bày tỏ thái độ của mình như ở người tường thuật lạnh lùng ( ) Người tường thuật có giọng nói riêng không bỏ lỡ dịp nào để biểu hiện tính cách của mình Trong khi trình bày

Trang 33

các thực tế khách quan xung quanh anh ta luôn luôn tìm cách nói lên quan điểm, thái độ, tình cảm, cách đánh giá của mình Không phải phát biểu một cách trực tiếp mà sử dụng giọng nói riêng, những đặc điểm riêng trong lời nói cá nhan để gián tiếp cho người đọc hiểu” [17;176]

1.2.4.2 Ở truyện ngắn Quán rượu người câm, Nguyễn Quang Sáng tập trung miêu tả

những năm nhân dân miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ-Diệm đầy gay go, quyết liệt Tác giả khắc họa tính cách nhân vật Ba Hoành, một đảng viên dũng cảm, kiên cường Trước

mặt đồng đội và kẻ thù anh trân trọng sự hy sinh của cháu gái: “Anh Ba Hoành chụp lấy cái đầu

lưỡi của cháu gái và nhổ một bãi nước miếng vào mặt tên phản bội, anh để cái đầu lưỡi nhỏ lên bàn tay, bàn tay

xoè ra, anh đưa chầm chậm qua mắt anh em, tay anh lẩy bẩy run và nước mắt anh cứ xối ra” Câu trích dẫn

này thể hiện nỗi đau đớn, xót thương của “tác giả” - người kể trước cái chết oanh liệt của cháu gái và sự cảm phục nỗi đau của anh Ba Hoành Anh có lòng yêu quê hương nồng nàn, tinh thần đấu tranh bất khuất, kết hợp với sự thông minh, chủ động Anh đã lợi dụng sự tra tấn dã man của địch, lẩn vào trong im lặng Anh đóng vai một người câm thật khéo léo,

khiến cho kẻ thù phải thất bại “Chúng đánh người cốt để moi lấy lời khai, người tù này câm rồi, đánh

nữa chỉ mệt xác, bỏ tù cho tốn cơm, chúng thả anh ra” Lời văn tường thuật khách quan nhưng nội

dung, ngữ điệu là của tác giả Nhà văn vừa miêu tả gián tiếp hành động của kẻ thù, vừa lồng vào đó lời bình luận của mình Anh Ba Hoành đã bước đầu chiến thắng Kẻ thù dù mưu mô xảo quyệt đến đâu cũng không moi anh được nửa lời

Khi miêu tả cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đang ở giai đoạn đầy cam go, thử thách, nhà văn luôn tìm cách nói lên quan điểm, tình cảm, cách đánh giá của mình Tác

giả xen vào những đoạn triết lý bằng lời văn gián tiếp hai giọng: “Anh câm không phải do tạo

hóa, mà do con người, do kẻ thù Con người khi trở thành kẻ thù thì họ ác hơn tạo hóa Bọn giặc đánh anh đến câm, nhưng lại để cho anh nghe được Khổ thản cho anh quá! Những chuyện chung quanh, toàn bất bình, nên anh không phải nghe nhiều, chì cần nghe vài ngày thôi, chuyện này, chuyện nọ cứ dồn ép vào, đến mức anh không còn sức chứa nữa, ngực anh sẽ vỡ tung ra” Tác giả không kể và tả một cách hờ hững, thờ ơ

mà kể và tả với những tình cảm vừa đau xót vừa căm phẫn Qua trang viết, người đọc thấy hiện lên hình ảnh của kẻ thù man rợ, sự chịu đựng của anh trước những cảnh đau thương của đồng bào dưới sự khủng bố dã man của kẻ thù Tác giả lên án sự tra tấn hiểm độc của kẻ thù đối với người đảng viên trung kiên, dũng cảm đồng thời bày tỏ sự cảm thông, yêu

thương anh Nhà văn nêu lên một triết lý sâu sắc: “Con người khi đã trở thành kẻ thù thì họ ác hơn

tạo hóa” Tạo hóa muốn cho con người câm đỡ khổ nên cho họ điếc luôn để khỏi phải nghe

Trang 34

những chuyện buồn chung quanh Kẻ thù thật độc ác Chúng dùng bù loong đập vào cổ anh

Ba Hoành khiến anh phải câm, nhưng chúng lại để cho anh nghe đủ thứ chuyện về tội ác của chúng, về lòng căm thù và sức quật khởi của nhân dân Hiện thực khốc liệt của cuộc đấu tranh cứ dội vào anh, anh nghe thấy mà không thể nói ra được, không thể bày tỏ với ai Ở

truyện ngắn Ông Đạo Tưởng, nhà văn lại kể tiểu sử của ông Đạo Tưởng, việc chữa bệnh cứu

dân, lập am hành đạo đến việc ông tự xưng là “Minh Hoàng Quốc” rồi bị giặc giết chết

Bằng lời văn gián tiếp hai giọng tác giả đánh giá: “Bao năm tu luyện bùa ngải, một viên đạn đồng

bằng đầu đũa, mộng lớn của ông bỗng tan biến như khói hương trong am trong cơn gió” Ông sống ở vùng

đất còn nhiều lạc hậu, lại không đượchọc hành đầy đủ, tưởng chỉ có tu luyện võ nghệ, có bùa ngải là thắng được quân giặc có vũ khí hiện đại “tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ” Cảm

hứng phê phán mang tính triết lý được nhà văn trao điểm nhìn cho nhận vật người bạn: “Ông

Đạo muốn làm vua nước Nam, nhưng ông không biết biên giới nước Nam mình từ đâu đến đâu Nước Nam có bao nhiêu sông lớn, bao nhiêu núi cao, ông cũng không rành Ông tưởng đánh được đồn Tân Châu thì cả quân

Pháp đầu hàng Ông tội thay” Nhà văn thể hiện tình cảm đau xót, nuối tiếc trước cái chết của

ông Đạo Tưởng, có ý trách ông trong nhận thức còn non nớt về chính trị và phương pháp đấu tranh khỏi nghĩa Ý tưởng tốt đẹp của ông là đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, nhưng lực lượng chỉ có một số tín đồ, tách khỏi cộng đồng dân tộc, tách khỏi cuộc đấu tranh của cả

dân tộc nên việc ông bị thất bại là tất yếu Ý tưởng của ông đã trở thành một “Đạo Tưởng”

Nguyễn Quang Sáng sử dụng kiểu tường thuật có giọng nói riêng một cách sáng tạo Nhà văn không bị ràng buộc vào những điểm nhìn nhất định, mà luôn thay đổi vị trí, có thể nói những gì mà mình nghe được, quan sát được, thể hiện tình cảm của mình, dự đoán về tương lai Tác giả vừa miêu tả nét mặt cử chỉ của nhân vật Ba Hoành - ông chủ quán rượu bị câm - vừa phân tích những gì nhân vật nhìn thấy: “Uống xong, mặt ông không đỏ mà tái, ông ngồi

im, miệng há hốc, mắt lờ đờ, ông nhìn ra dòng sông Sông Cửu Long lúc nào cũng có sóng Sóng đang nổi lên từ dưới đáy, người ta gọi đó là sóng ngầm Nhìn sóng đến chán, ông gục đầu xuống quầy như một chủ quán bán

khuya phải ngủ gục” Anh là người câm nhưng tai vẫn nghe được chuyện đời, lòng vẫn đau xót,

căm phẫn khi nghe tin đồng bào mình bị giặc sát hại Chất men rượu không làm anh nguôi

đi lòng căm thù giặc cao độ Sự câm lặng của anh Ba Hoành, sự im lặng bao trùm lên quê hương anh làm cho người đọc đau xót, thương cảm Đó là sự im lặng dồn nén của đồng bào miền Nam trong thời kỳ đen tối Trong im lặng ấy có những đợt sóng ngầm đang trào lên

Trang 35

trong lòng anh và đồng bào Sóng là hình ảnh tượng trưng báo hiệu cho phong trào đồng khởi của nhân dân miền Nam sắp nổ ra

Kiểu tường thuật có giọng nói riêng làm cho câu chuyện được kể trở nên sinh động, hấp dẫn người đọc, làm cho người đọc hiểu đánh giá các sự việc được miêu tả đúng như cách hiểu, cách đánh giá của tác giả

Truyện ngắn của Sơn Nam cũng có kiểu tường thuật có giọng nói riêng như truyện

ngắn của Nguyễn Quang Sáng Chẳng hạn, trong truyện ngắn Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Sơn

Nam đã kể lại câu chuyện bắt cá sấu của ông Năm Hên có màu sắc như truyện cổ tích Nhà

văn miêu tả khách quan hình ảnh đàn cá sấu hung dữ: “Cái ao lớn ước chừng một công đất, bên bờ,

dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn Sấu nổi lên; chen vào bức tranh ấy những vệt đen chi chít: con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần

công đại bác” Trong khi miêu tả hiện thực khách quan, Sơn Nam luôn tìm cách bày tỏ tình

cảm, cách đánh giá của mình Lời nói của người tường thuật được đánh dấu về mặt tu từ học, phép liệt kê so sánh đầy ấn tượng giúp cho người đọc hình dung được cuộc sống đầy hung hãn nhưng lạ lùng của cá sấu Chúng là con vật gây bao tai họa cho con người trên con đường mưu sinh, lập nghiệp Phương pháp bắt cá sấu đơn giản, đầy thông minh của ông Năm Hên cùng giọng hát ảo não, rùng rợn của ông làm cho câu chuyện thêm màu sắc huyền

bí Tác giả thể hiện tình cảm, cảm xúc một cách gián tiếp trong lời nói cá nhân của mình để

người đọc hiểu (lời văn gián tiếp hai giọng): “nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây Đó là vài cụ già, bà

lão chạnh lòng nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè cùa mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đám sấu này Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết

của họ không chớ?” Người đọc xúc động trước những gian nan thử thách, những đau thương

mà ông cha ta đã trải qua trong quá trình khai phá miền đất cực nam của Tổ quốc, mở mang

thêm bờ cõi Đằng sau truyện ngắn Bắt sấu rừng U Minh Hạ cũng như cả tập truyện Hương rừng

Cà Mau, người đọc thấy thấp thoáng một người kể có tình yêu nước nồng nàn, yêu nhân dân

sâu sắc, trân trọng những giá trị văn hoa tinh thần của dân tộc “Sơn Nám chỉ mượn những hình

ảnh đã mất để nhắc nhở một điều không thể đánh mất, quý giá hơn nhiều: đó là lòng yêu nước - một thứ tình

cảm hồn nhiên, bình dị, bàng bạc trong Hương rừng Cà Mau” (Hoàng Phủ Ngọc Phan)

Trang 36

Dùng kiểu tường thuật có giọng nói riêng, nhưng truyện ngắn của Sơn Nam không đi vào miêu tả những biến động dữ dội trong nội tâm nhân vật như truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng

1.3 Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật chủ quan hoá trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng

Theo Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc thì đây là phương thức tường thuật mà

“ người tường thuật đã được cá thể hoá, dẫn dắt câu chuyện từ ngôi một sô ít: "tôi" Người tường thuật cũng là một trong các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật Người tường thuật chính là "người bình luận bên trong", đồng

thời cũng chính là người tham gia vào sự việc đang diễn ra” [17; 165]

Khảo sát 49 truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng viết trước và sau năm 1975, chúng tôi thây có 38 truyện tường thuật theo phương thức chủ quan hoa, trong đó truyện và đề tài người lính chiếm số lượng lớn Nó chiếm tỷ lệ 3/4 so với phương thức tường thuật khách quan hóa, đây là điều đáng lưu ý ở nhà văn Nguyễn Quang Sáng Trong 38 truyện này có các kiểu tường thuật tiêu biểu mà chúng tôi xin trình bày sau đây:

Trong kiểu tường thuật này, người kể không được nếu một cách cụ thể trong tác phẩm

Người kể chỉ là “một hình tượng giả định, được tác giả sử dụng làm một người trung gian tưởng tượng ra

giùm độc giả và cái được mô tả” [17;182] Người kể không tham gia vào sự phát triển của các sự

kiện, các biến cố của tính cách nhân vật trong tác phẩm, hầu như không cho người đọc chút thông tin nào về bản thân anh ta Người tường thuật xưng "tôi" luôn giữ vai trò trung gian của một người đã chứng kiến các sự việc, hạn chế việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình, tạo cho câu chuyện được kể mang tính khách quan Người tường thuật cố giấu mình hết mức, ít bình luận, tạo cho người đọc suy ngẫm, đánh giá, tự rút ra ý nghĩa của câu chuyện,

tự nhận xét về nhân vật, cách sử dụng ngôn ngữ, xây dựng cốt truyện của tác giả

Truyện viết về người lính chiếm số lượng lổn trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng Nhiều tác phẩm trong tuyến tường thuật chủ quan hóa dẫn dắt câu chuyện từ ngôi thứ nhất "tôi" Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nguyễn Quang Sáng đã

từng là người lính ở chiến trường Nam Bộ Cho nên nhà văn viết về nhân vật xưng "tôi" như

Trang 37

đang viết về chính mình, thể hiện những trải nghiệm của mình trong hai cuộc kháng chiến, phơi bày tâm tư của chính mình Trong dòng tâm tư của nhân vật, sự liên tưởng và hồi ức có một vị trí quan trọng Những kỷ niệm hiện lên trong ký ức của nhân vật Tác giả ít tham gia

ý kiến đánh giá, nhận xét, nhằm đảm bảo tính khách quan trong tường thuật

Trong kiểu tường thuật xưng "tôi" đóng vai trò người dẫn truyện, chúng tôi xét đến 3

truyện Chiếc lược ngà, Chuyện nhỏ đất Củ Chi (đề tài người lính), Sự tích một bài ca (đề tài người

nông dân anh hùng) Toàn bộ biến cố, cốt truyện uỷ thác cho nhân vật tự kể, nhân vật xưng

"tôi" không tham gia vào sự phát triển của câu chuyện Người kể chỉ đóng vai trò dẫn dắt, giới thiệu về nhân vật, hoàn cảnh câu chuyện xảy ra, những mâu thuẫn, xung đột nhân vật

có chứng kiến, tham gia Mạch truyện được phát triển tự nhiên, cảm xúc được lồng qua hồi tưởng, qua giọng kể của nhân vật Quan điểm, tư tưởng, tình cảm của tác giả được thể hiện gián tiếp qua lời kể của nhân vật trong truyện

Truyện ngắn Chuyện nhỏ đất Củ Chi, chủ thể xưng "tôi" không tham gia vào diễn biến câu

chuyện, là người được nhân vật Hà kể cho nghe chuyện cô gặp một anh bộ đội trẻ Sau đó, nhân vật xưng "tôi" được Hà kể cho nghe cô đã nhận được lá thư của anh bộ đội ấy Khi Hà

dừng lại câu chuyện để thổi lửa, nhân vật xưng "tôi" lại giục: “Tiếp đi!Hà!” Cuối cùng, truyện

trở về hiện tại, tác giả để nhân vật Hà băn khoăn, day dứt: “Chỉ là cô gái mới về đất Củ Chi, ở nhờ

nhà của Diệu, chứ không phải là cô gái Củ Chi như anh ấy nghĩ” Người kể hạn chế cảm xúc của mình,

chỉ có một câu nói về tình cảm, suy nghĩ của mình khi nghe câu chuyện của Hà: “Tôi nằm im,

nhưng câu chuyên của Hà đang khuấy lên trong tôi những ước mơ, những ước mơ chưa rõ ràng nhưng nhẹ

nhàng, lâng lâng ” Người kể chuyện đã "ủy thác" câu chuyện cho nhân vật tự kể Người kể chuyện là người trong cuộc nên cách kể có lời văn mang nét riêng của tình cảm, cá tính của nhân vật, vừa thể hiện cảm xúc của người viết, nhằm gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, thể hiện được ý tưởng của tác phẩm Trong câu chuyện của Hà, có sự vui vẻ, hồn nhiên

của Ngân - bịch gạo: “Bàng hoàng vì lá thư mùi mẫn hay vì con người của anh ta vậy bồ? Không già,

không tr ẻ, không đẹp, không xấu, cỡ ba mươi Con trai tuổi ba mươi Cha, nó ngon như trái chín hườm hườm

có lời nhắc nhở bạn của Sương đen: “Vừa phải thôi bồ!, Con nhỏ này sao bữa nay vô duyên quá vậy?”,

cho thấy cô có tính hiền lành, chững chạc, ít sôi nổi, đùa nghịch như cô bạn gái Lời của nhân vật Hà xưng tên mình hướng tới người đối thoại như nói chuyện với người đọc, lại thể

hiện nỗi buồn xen với niềm quý trọng anh bộ đội và tình thương đối với bạn: “Giá như Diệu

chưa có chồng!” Hà e thẹn khi đã viết thư gặp lại anh, lại thấy buồn khi thấy mình là kẻ vô

Trang 38

ích, kẻ đứng ngoài Cô vừa xấu hổ, mặc cảm lại vừa mơ ước về tình yêu: “Nghĩ cũng kỳ, có

nhiều lúc Hà cứ ao ước sao Hà không phải là Diệu trong lúc ấy, hoặc Diệu sao không phải là Hà trong lúc này”

Câu chuyện được kết thúc “có hậu” qua câu nói tinh nghịch của Ngân: “Ởbên này có một chiếc

C 130 sắp cất cánh Ai muốn bay thì sang đây” Tác giả mượn lời nhân vật để nói lên quan điểm của

mình: dù trong hoàn cảnh chiến tranh thảm khốc hay trong cảnh lao động vất vả, con người không thể sống thiếu tình yêu, đặc biệt là đối với tuổi trẻ Niềm tin vào cuộc sống, vào tình yêu giúp con người sống đẹp, thân ái với nhau hơn

Còn câu chuyện Chiếc lược ngà được kể vào “một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà

nhỏ giữa Tháp Mười mà xung quanh nước đã lên đầy ” Ở thời hiện tại, người kể xưng "tôi" kể lại câu

chuyện của “một đồng chí già” - một chiến sĩ lão thành từng trải qua biết bao niềm vui, nỗi buồn trong hai cuộc kháng chiến Rồi sau đó, người kể hoàn toàn trao quyền kể chuyện cho đồng chí già - ông Ba - vừa là người chứng kiến, vừa là “nhân vật chính” của câu chuyện

Chuyện xảy ra đã hơn một năm rồi, mà mỗi lần nhớ lại, tôi cứ bàng hoàng như vừa thấy một giấc mơ ”, ông

già cất tiếng - giọng trầm đục, đầu hơi cúi xuống, trầm lặng, mặt ngước nhìn ra mênh mông Ngay từ mấy dòng đầu ấy của tác phẩm, Nguyễn Quang Sáng đã tạo được không khí cho câu chuyện Ông không trực tiếp kể mà dùng nhân vật người già và giọng kể trầm ấm, cảm động dẫn dắt bạn đọc tiếp xúc với câu chuyện Do đó, truyện ngắn hiện đại mà cứ âm vang như một truyện cổ tích, một huyền thoại với biết bao nhân vật, bao chi tiết, tình huống bất ngờ mà kỳ diệu Tiếp theo, qua dòng hồi tưởng của ông Ba, ta biết rằng hơn một năm về trước ông cùng đồng đội của mình dừng chân ở một trạm giao liên Tại đây, câu chuyện về

cô giao liên của trạm đã trở thành huyền thoại tuyệt đẹp về trí thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần sẵn sàng xả thân vì sự an toàn của những cán bộ cách mạng Rồi, từ chiếc lược ngà

- kỷ vật thiêng liêng của người đồng chí, người bạn thân thiết, người cha rất mực thương con mà tâm trí ông Ba hiện lên hình ảnh bé Thu tám tuổi ương bướng, ngang ngạnh Và cuối truyện, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, cô giao liên - bé Thu ngày nào - quần áo bê bết bùn đất, bước ra khỏi chỗ nguy hiểm, nét mặt phơi phới, tiến về phía ông Ba, tiến lại gần bạn đọc chúng ta - nhân vật được khắc họa thật sống động, cứ lung linh, khi gần, khi xa, lúc

ở hiện tại, khi lùi về qua khứ

Ở truyện này, chủ thể kể hoàn toàn không tham gia vào câu chuyện mà chỉ đóng vai trò dẫn chuyện, đưa đẩy cho sự tiến triển câu chuyện được mạch lạc Bằng giọng văn thủ thỉ, tâm tình, chủ thể kể xưng "tôi" như nhập hồn cùng người kể chuyện - ông Ba, từ đó,

Trang 39

cuốn bạn đọc theo Đôi lúc, lời kể của ông Ba còn hướng đến độc giả bằng lời văn gián tiếp

hai giọng: “Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật thì cũng đã đành một lẽ,

còn người chết cũng phải chết bí mật nữa!” Lời của ông Ba nói với đồng đội khi kể chuyện, hay

đấy chính là lời nhắn gửi thiêng liêng của ông Sáu gửi cho người ruột thịt, gửi lại tất cả chúng ta Sống rồi hy sinh, khổ đau và lặng lẽ, song bom đạn của kẻ thù không bao giờ có

thể chia cắt hay phá hủy nổi những tình cảm thiêng liêng nhất của con người như tình cha con, tình đồng chí Nhờ những đoạn hướng đến độc giả như vậy mà câu chuyện trở nên hấp dẫn, sinh động chứ không đơn điệu, buồn tẻ và độc giả có cảm giác mình đang được chia sẻ, dõi theo biến cố của câu chuyện Ông Ba - vừa là người kể chuyện, vừa là nhân vật trong truyện được khắc họa bởi biết bao hành động, lời nói, ý nghĩ, bao hồi tưởng băn khoăn và cả những đợi chờ, mong ước thật đậm nét, gần gũi như người tri kỷ, bạn đồng hành dẫn dắt chúng ta

Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về Chiếc lược ngà và mấy lời nói cuối cùng

của ông - giọng trầm ấm, khoan thai - cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích Ông Ba rất gần gũi với tác giả, là người “phát ngôn” cho những suy nghĩ, trải nghiệm, tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm đến chúng ta Phải là người từng trải, đã sống hết mình với công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị mà cảm động như vậy Qua cuộc đời mỗi nhân vật, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói với chúng ta rằng: trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam nhất là tình cha con, tình đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống mãi mãi bất diệt như chiếc lược ngà của bé Thu, không bao giờ có thể mất đi!

Ở truyện Sự tích một bài ca vào truyện với cách kể chủ quan hóa, người kể chuyện xưng

"tôi" đang ngắm nhìn con sông mà trước đây là đường giao liên giữa hai chiến trường thì gặp lại anh Bảy - một cán bộ lãnh đạo của chiến trường Tháp Mười, anh Bảy nhờ nhân vật xưng "tôi" chữa lời cho một bài ca Bài ca ca ngợi tấm gương trung kiên của người đảng viên tên là Nguyễn Văn Trung - tức anh Bảy - làm cho người kể chuyện xưng "tôi" có phần thất vọng Anh Bảy cho biết người đáng ca ngợi là anh Dần chứ không phải anh Điều này

thật là bất ngờ khiến óc tò mò của nhân vật xưng "tôi" bị kích thích và câu chuyện về “Sự tích

Trang 40

một bài ca” được kể lại theo dòng hổi tưởng của anh Bảy Đến đây, chủ thể kể chuyện hoàn

toàn trao quyền kể lại câu chuyện cho anh Bảy Câu chuyện về anh Dần tự nhận mình là tỉnh uy viên Nguyễn Văn Trung khi bị địch bắt, sẵn sàng "thế mạng" mình để bảo vệ tính mạng của người cán bộ chủ chốt của cách mạng được kể bằng giọng kể đầy đau đớn, xót xa

của một người chịu ơn: “Cửa phòng khám đóng lại rồi, mà tôi vẫn bàng hoàng; Anh nhận lây tên tôi để

đương đầu với quân địch Nhà tù âm âm tối tối Tôi tưởng tượng cái phòng tra, tưởng tượng tư thế anh đứng trước kẻ thù Cuộc hỏi cung và tra tấn kéo dài”

Không đơn thuần kể lại tấm gương hy sinh anh dũng của anh Dần một cách khách quan, anh Bảy - bây giờ xưng "tôi" kể lại câu chuyện cọn bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc

của mình đối với một người nông dân: “Không đủ trình độ làm tỉnh ủy viên, anh là một đảng viên

thường nhưng chính anh là người dạy cho tôi bài học dũng cảm của người cộng sản ”

Đây là lời gián tiếp hai giọng của người kể chuyện thể hiện sự khâm phục, trân trọng của mình trước phẩm chất kiên cường, bất khuất của anh Dần Sau câu chuyện của anh Bảy, tác giả khéo léo trao lại

quyền dẫn chuyện cho người kể chuyện ban đầu: “Nghe anh Bảy đọc lại lời nói lối của bài ca vọng

cổ, tôi tưởng như tôi cũng đang ngồi trong nhà tù những cặp mắt nhoi nhói trong bóng tối Anh Sáu già, chân

xiềng, tay còng đang đứng giữa anh em Tôi tưởng như tôi đang nghe giọng của anh, giọng anh cất lên:

Quê hương ta, ôi trời đen ảm đạm

Người tôi bỗng nổi gai”

Cuối truyện, lời của chủ thể kể chuyện hướng tới người đối thoại: “Tôi ghi lại câu chuyện

của anh, hy vọng thành một truyện ngắn, sẽ gởi lên anh đọc, chẳng biết có được không?”

Cả ba truyện kể trên và hầu hết các truyện được kể theo kiểu tường thuật xưng "tôi" đóng vai trò người dẫn chuyện đều là "truyện được lồng trong truyện" Các truyện mở đầu bằng lời giới thiệu của người kể "tôi" hầu như không tham gia vào biến cố câu chuyện rồi sau đó hoàn toàn "ủy thác" toàn bộ câu chuyện cho nhân vật tự kể Do đó, lời suy tư của nhân vật mang màu sắc cá thể đậm nét chứ không hoàn toàn "vô cảm", "thờ ơ như kiểu tường thuật khách quan lạnh lùng Lời nói gián tiếp của chủ thể kể luôn trực tiếp hướng tới người đối thoại như một độc giả trung thành của mình, nó phải có lời của người kể kèm theo suy nghĩ, cảm xúc của người kể đối với các sự việc trong câu chuyện Do đó, ngôn ngữ người kể phải không được lấn át ngôn ngữ nhân vật

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Ph an Cự Đệ (1945-1995), 50 năm văn xuôi cách mạng, Tạp chí văn học số 1 1 -1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm văn xuôi cách mạng
8. Hà Minh Đức (1972), Truyện ngắn Miền Nam trên đà phát triển của cách mạng, Tạp chí văn học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Miền Nam trên đà phát triển của cách mạng
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 1972
10. Nguy ễn Văn Hạnh (1966), Suy nghĩ về truyện ngắn, Tạp chí văn học số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về truyện ngắn
Tác giả: Nguy ễn Văn Hạnh
Năm: 1966
12. Phan Hoàng (2000), Những dấu ấn trên bước đường văn học, tuyển tập Nguyễn Quang Sáng, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dấu ấn trên bước đường văn học
Tác giả: Phan Hoàng
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2000
16. Phan Đắc Lập, Lời ngỏ, Nguyễn Quang Sáng - Tuyển tập, Nxb văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời ngỏ
Nhà XB: Nxb văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh
19. Phong Lê (1985), Trên hành tr ình của 40 năm văn xuôi : ngôn ngữ và giọng điệu, Tạp chí văn học số 5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên hành trình của 40 năm văn xuôi : ngôn ngữ và giọng điệu
Tác giả: Phong Lê
Năm: 1985
20. Phong Lê ( 1974), Con đường lớn của văn xuôi cách mạng Miền Nam, Tạp chí văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường lớn của văn xuôi cách mạng Miền Nam
23. Phùng Quý Nhâm(1991), Điều thấy thêm ở truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, Thẩm định văn học, Nxb văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều thấy thêm ở truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng
Tác giả: Phùng Quý Nhâm
Nhà XB: Nxb văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1991
28. Nguyễn Quang Sáng (12-5-1982), Bài phát biểu của nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập LBCHXHCNXV, Văn nghệ tạp chí số 250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập LBCHXHCNXV
29. Nguyễn Sáng (1974), Ý nghĩa nhỏ về truyện ngắn Miền Nam, Tạp chí văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa nhỏ về truyện ngắn Miền Nam
Tác giả: Nguyễn Sáng
Năm: 1974
30. Nguyễn Quang Sáng (12-10-2000), Bạn đọc là những người bình bầu vô tư, trung thực nhất Văn nghệ Thành Phố số 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạn đọc là những người bình bầu vô tư, trung thực nhất
31. Phạm Văn Sĩ (1976), Truyện ngắn Miền Nam, Văn học giải phóng Miền Nam, Nxb ĐH và THCN Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Miền Nam
Tác giả: Phạm Văn Sĩ
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN Hà Nội
Năm: 1976
34. Bùi Việt Thắng (1994), V ấn đề tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Tạp chí văn học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Năm: 1994
37. Hoàng Trung Thông (1983), Mùa gió chướng một tác phẩm xuất sắc, Tạp chí văn học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa gió chướng một tác phẩm xuất sắc
Tác giả: Hoàng Trung Thông
Năm: 1983
40. Ngọc Trai (1972), Đọc Chiếc Lược Ngà, Mười năm văn học chống Mỹ, Nxb Giải Phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Chiếc Lược Ngà
Tác giả: Ngọc Trai
Nhà XB: Nxb Giải Phóng
Năm: 1972
1. Lại Nguyên Ân ( 1984), Văn học và phê bình, Nxb mới hội nhà văn Việt Nam Khác
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác
6. Lê Tư Chỉ (1996), Để phân tích truyện ngắn, Nxb trẻ Khác
9. N.A Gulaiep (1982), Lý luận văn học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Khác
11. Lê Bá Hán (1977), Cơ sở lý luận văn học (tập II ), Nxb giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w