1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương thức biểu hiện nhân vật anh hùng trong thủy hử của thi nại am

219 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề tạo dựng nhân vật anh hùng là vấn đề trung tâm của tiểu thuyết Thủy Hử, nhưng hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về phương thức biểu hiện nhân vật an

Trang 1

- -

NGUYỄN NGỌC NHƯ Ý

PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN

NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG THỦY HỬ

CỦA THI NẠI AM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thàn h phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

- -

NGUYỄN NGỌC NHƯ Ý

PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN

NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG THỦY HỬ

CỦA THI NẠI AM

Chuyên ngành : Văn học Trung Quốc

Mã số : 62.22.30.50

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học

PGS TRẦN XUÂN ĐỀ

TS ĐINH PHAN CẨM VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thành phố HCM, ngày 10 tháng 12 năm 2012

Tác giả luận án

Nguyễn Ngọc Như Ý

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM ANH HÙNG TRONG THỦY HỬ 19

1.1 Giới thuyết về quan niệm anh hùng 19

1.1.1 Khái niệm anh hùng 19

1.1.2 Lược sử khái niệm anh hùng qua các thời đại Trung Hoa 22

1.2 Quan niệm anh hùng trong văn học Trung Quốc 33

1.2.1 Từ cảm thức thẩm mỹ về người anh hùng thăng hoa thành hình tượng anh hùng 33

1.2.2 Tiểu thuyết chương hồi và việc thể hiện quan niệm anh hùng 41

1.3 Quan niệm anh hùng trong Thủy Hử 46

1.3.1 Những tiền đề văn hoá, lịch sử và văn học 46

1.3.2 Quan niệm anh hùng trong Thủy Hử nhìn từ quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người của Thi Nại Am 52

1.3.3 Quan niệm anh hùng trong Thủy Hử nhìn từ phương diện đặc trưng thể loại 67

Chương 2 ĐẶC TRƯNG THẨM MỸ CỦA NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG THỦY HỬ 76

2.1 Khái niệm về nhân vật và chức năng của nhân vật trong văn học 76

2.1.1 Khái niệm về nhân vật 76

2.1.2 Chức năng của nhân vật trong văn học 78

2.1.3 Chức năng của nhân vật anh hùng trong Thủy Hử 78

2.2 Hệ thống nhân vật anh hùng trong Thủy Hử 90

Trang 5

2.3 Đặc trưng thẩm mỹ của hình tượng nhân vật anh hùng trong

Thủy Hử 101

2.3.1.Những bức chân dung kỳ hình dị tướng 101

2.3.2 Phẩm chất, tính cách anh hùng 104

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG THỦY HỬ 122

3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 122

3.1.1 Khái niệm cốt truyện 122

3.1.2 Đặc điểm cốt truyện Thủy Hử 122

3.2 Nghệ thuật tạo dựng kết cấu 128

3.2.1 Khái niệm kết cấu 128

3.2.2 Đặc điểm kết cấu Thủy Hử 129

3.3 Nghệ thuật tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật 139

3.3.1 Thời gian nghệ thuật 139

3.3.2 Không gian nghệ thuật 143

3.4 Nghệ thuật xây dựng hình tượng người kể chuyện 147

3.4.1 Hình tượng người kể chuyện trong Thủy Hử 148

3.4.2 Điểm nhìn của người kể chuyện và việc khắc họa nhân vật anh hùng trong Thủy Hử 158

3.4.3.Giọng điệu của người kể chuyện và việc khắc họa nhân vật anh hùng trong Thủy Hử 171

KẾT LUẬN 183

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 188

TÀI LIỆU THAM KHẢO 189 PHỤ LỤC

Trang 6

ĐHSP : Đại học sư phạm Nxb : Nhà xuất bản TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

Tr : Trang

Trang 7

khi trái ngược nhau Vì vậy, ngay từ lúc mới ra đời, Thủy Hử phải chịu số

phận hết sức éo le trên chính quê hương của nó Cuối đời Minh, tác phẩm liên

tiếp bị cấm lưu hành, vì bị xem là “hối đạo chi thư”, sách dạy làm kẻ cướp Các triều vua Thuận Trị, Khang Hy, Càn Long cũng ban lệnh cấm Thủy Hử

Khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, dưới sự lãnh đạo

của Mao Trạch Đông, Thủy Hử được xem là tác phẩm có tính gợi dẫn về

chính trị Nhưng cũng chính vì mục đích chính trị mà trong và sau cách mạng văn hóa, số phận của tác phẩm cũng bao phen thăng trầm, có lúc bị cấm vì bị cho rằng chứa đựng những lời đen tối, phản nghịch Gần đây, cư dân trên

mạng cũng tranh luận gay gắt vì đánh giá của một vị giáo sư người Úc: "Thủy

Hử là tác phẩm mang nhiều ý nghĩa tiêu cực"(Bill Jenner) Điều đó cho chúng

ta thấy rằng, đã hơn 5 thế kỷ trôi qua, việc thẩm định và tiếp nhận tác phẩm

cũng như đánh giá các nhân vật anh hùng trong Thủy Hử vẫn còn chưa thống

nhất Sở dĩ có sự khác nhau đó vì các ý kiến đã tiếp cận tác phẩm từ các góc nhìn khác nhau, nên việc lý giải nhân vật cũng không giống nhau Có nhà nghiên cứu bắt đầu từ tâm lý xã hội để phân tích quan hệ phát sinh giữa áp bức dân tộc và văn học bình dân Trong khi đó, tâm lý tiếp nhận của đông đảo công chúng văn học thường đồng nhất nhân vật văn học với con người ngoài

Trang 8

đời Vấn đề hình tượng người anh hùng trong tác phẩm cũng có nhiều luận bàn Tìm hiểu về thế giới nhân vật anh hùng, đặc biệt là phương thức biểu

hiện nhân vật anh hùng trong Thủy Hử là điều mong muốn của người viết khi

thực hiện luận án này

Mặc dù còn nhiều bàn cãi, tranh luận, nhưng có thể nói: sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng của tuyệt phẩm này trong lịch sử văn học Trung Quốc là điều

không thể phủ nhận Tác phẩm được đánh giá là bộ tiểu thuyết võ hiệp trường thiên đầu tiên của văn học Trung Quốc, có một giá trị riêng biệt và một vị trí

nhất định Thủy Hử đã phần nào vượt ra khỏi tính thời đại và sự giới hạn về

không gian, thời gian, trở thành nguồn cảm hứng của các thể loại nghệ thuật khác như hí khúc, kịch, truyện kể cải biên Tác phẩm có giá trị như tiểu thuyết bản lề giữa truyện kể sử thi và tiểu thuyết hiện đại Để có cái nhìn khách quan

và công bằng, thiết tưởng cần tìm hiểu tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa lịch

sử cùng với đặc trưng thể loại và quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm Tìm hiểu và lý giải nhân vật anh hùng với tư cách vừa là khách thể thẩm mỹ vừa là chủ thể thẩm mỹ là một hướng đi thú vị nhằm trả về cho nhân vật môi trường của chính nó trong bản chất của hình tượng nhân vật văn học Vấn đề tạo dựng nhân vật anh hùng là vấn đề trung tâm của tiểu thuyết

Thủy Hử, nhưng hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ

thống về phương thức biểu hiện nhân vật anh hùng trong tác phẩm Ở đây, chúng tôi hiểu phương thức biểu hiện là những biện pháp nghệ thuật góp phần khắc họa hình ảnh người anh hùng trong tác phẩm Việc nghiên cứu phương

thức biểu hiện nhân vật anh hùng trong Thủy Hử sẽ góp phần làm rõ hơn thế

giới nghệ thuật cùng với những nguyên tắc cắt nghĩa con người và cuộc sống trong tác phẩm nói riêng và tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc nói chung

Đó là những lý do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài này

Trang 9

1.2 Về mặt thực tiễn

Trong chương trình giảng dạy ở các cấp học hiện nay của nước ta từ đại học, cao đẳng đến trung học phổ thông, văn học Trung Quốc chiếm một vị trí đáng kể Việc nghiên cứu nhân vật anh hùng, phương thức biểu hiện nhân vật

anh hùng trong Thủy Hử của luận án có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy văn

học Trung Quốc nói riêng, văn học nước ngoài nói chung của chúng tôi và những ai quan tâm sau này

Hơn nữa, những đặc trưng thẩm mỹ của hình tượng người anh hùng thể hiện lý tưởng, ước mơ của con người trong một thời đại nhất định Văn học Việt Nam trong sự phát triển và giao lưu với văn hóa phương Đông đã chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa Thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ

có điều kiện so sánh đối chiếu với hình tượng người anh hùng trong văn học trung đại Việt Nam qua thực tế giảng dạy của mình

Hình tượng các anh hùng trong Thủy Hử vẫn có sức hấp dẫn đối với con

người ở mọi thời đại Họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng mà không hề tính toán thiệt hơn để cứu khốn phò nguy, dẹp tan bất bình trong thiên hạ.Trong hiện thực của đời thường, người ta thường tỏ ra cảm thông với những người yếu thế nhưng lại đi theo kẻ mạnh Nét đẹp thú vị của các anh hùng Lương Sơn Bạc là lòng dũng cảm, tài nghệ vô song của họ thăng hoa thành tình thương và sức mạnh luôn hướng về quần chúng nhân dân bị áp bức, bất công Câu chuyện của các anh hùng Lương Sơn Bạc sẽ luôn có giá trị nhân sinh sâu sắc, và, trong một chừng mực nào đó, vẫn có một ý nghĩa giáo dục nhất định Đây là đề tài mà chúng tôi say mê và cảm thấy thú vị, nghiên cứu nó cũng đáp ứng nhu cầu của đông đảo bạn đọc Việt Nam yêu mến văn học Trung Quốc

Trang 10

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tỉ mỉ, hệ thống về phương thức biểu hiện

nhân vật anh hùng trong Thủy Hử Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu lịch sử

vấn đề, chúng tôi nhận thấy tính chất anh hùng, nhân vật anh hùng trong tác phẩm này luôn thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình văn học Chúng tôi xin trình bày một cách tổng quát các hướng nghiên cứu cũng như một số ý kiến tiêu biểu của các nhà nghiên cứu, phê bình

2.1 Các công trình nghiên cứu ở Trung Quốc đã được dịch ở Việt Nam

2.1.1 Hướng nghiên cứu qua việc phân tích tác phẩm

Đó là các công trình văn học sử, các giáo trình văn học như:

- Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, tập thể 74 tác giả biên

soạn Bùi Hữu Hồng dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2000

- Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, Dư Quan Anh, Tiền Chung Thư,

Phạm Ninh do Lê Huy Tiêu, Lương Duy Thứ, Nguyễn Trung Hiền, Lê Đức Niệm dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995

- Văn học sử Trung Quốc, tập 3, Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh chủ

biên, Phạm Công Đạt dịch, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2000

- Tiểu thuyết sử thoại qua các thời đại Trung Quốc của Trương Quốc

Phong do Thái Trọng Lai dịch, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001

- Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn do Lương Duy Tâm dịch,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002

Trong các công trình này, chúng tôi tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu Trung Quốc về tiến trình vận động cũng như diện mạo của văn học cổ Trung Quốc, vốn thường được ca ngợi qua các thời kỳ như sau: “Tiên Tần tản

Trang 11

văn, Hán phú, Đường thi, Tống Từ, Nguyên khúc, Minh Thanh tiểu thuyết”1

Các tác giả đã đề cập đến sự xuất hiện của nhân vật anh hùng trong văn học nhưng chỉ mới dừng lại dưới góc nhìn lịch sử văn học Tuy nhiên, đó là những

ý kiến vô cùng quí báu để chúng tôi định hướng về nội dung cũng như cách

nhìn nhận đánh giá về hình tượng nhân vật anh hùng trong Thủy Hử Chúng

tôi đặc biệt chú ý hai ý kiến có tính gợi mở để tìm hiểu hình tượng nhân vật anh hùng trong Thủy Hử sau đây:

1 Trong Văn học sử Trung Quốc, Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh, cho rằng nhân vật trong Thủy Hử là nhân vật “tính cách hóa”

2 Còn Trương Quốc Phong - tác giả của Tiểu thuyết sử thoại các thời đại Trung Quốc lại nhấn mạnh đến tác động của hoàn cảnh lên tính cách

nhân vật Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất ở quan niệm nhân vật trong Thủy Hử được biểu hiện, mô tả thế giới nội tâm thông qua hành

động và lời nói của họ

2.1.2 Hướng nghiên cứu theo lối phê bình tác phẩm

Trong công trình Luận bàn Thủy Hử, bao gồm nhiều tác giả như Kim

Thánh Thán, Dư Quan Anh, Tiền Chung Thư, chúng tôi tiếp thu phép đọc

Thủy Hử, những nhận xét, lời bình luận về nhân vật của các tác giả, đặc biệt là

Kim Thánh Thán Ông nhấn mạnh đến vẻ đẹp của người anh hùng ở hành động, đạo đức, phẩm chất chứ chưa đồng tình và tìm hiểu lý tưởng của họ

2.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài khác đã được dịch ở Việt Nam

Tiểu thuyết Trung Quốc nói chung và Thủy Hử nói riêng đã được nhiều

học giả trên khắp thế giới nghiên cứu Tuy nhiên chỉ một số ít những thành tựu nghiên cứu này được dịch ra Tiếng Việt Trong tầm đọc mà chúng tôi tìm hiểu được, một vài công trình sau đây là điển hình:

1 Tản văn nhà Tần, phú nhà Hán, thơ đời Đường, ca từ nhà Tống, điệu khúc nhà Nguyên, tiểu thuyết triều Minh và Thanh

Trang 12

1 V.I Xêmanôp trong Tiểu thuyết anh hùng Trung Quốc và vai trò của

nó trong việc hình thành nền văn học mới đã tìm hiểu về nguyên nhân

hình thành đặc điểm của tiểu thuyết anh hùng Trung Quốc thế kỷ XIV - XVI Tác giả có liên hệ và xem xét về hình tượng người anh hùng trong

sự khúc xạ của nhiều hệ tư tưởng khác nhau, đó là tư tưởng chính thống phong kiến và quan niệm của quần chúng nhân dân

2 B.L.Riftin trong Sử thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian ở Trung Quốc xem xét mối quan hệ giữa tác phẩm Thủy Hử với truyền

thống biên niên sử và truyền thống văn học dân gian Qua công trình

khảo cứu này, tác giả nhấn mạnh, trong Thủy Hử, yếu tố văn học dân

gian vẫn đậm hơn yếu tố biên niên sử

3 A.Riftin trong Sử thi anh hùng Trung Quốc xem xét mối quan hệ giữa

tác phẩm thành văn với truyện kể sau này, trong đó chủ yếu xem xét

cách tổ chức tác phẩm Tam Quốc diễn nghĩa đã có ảnh hưởng đến các người kể chuyện sau này ra sao Kết cấu Thủy Hử cũng đôi chỗ được đề

cập đến ở một vài phương diện để đối chiếu minh họa

2.3 Các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam

2.3.1 Hướng nghiên cứu của các công trình văn học sử

Nghiên cứu văn học sử Trung Quốc ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng Một vài công trình tiêu biểu là:

- Lịch sử Văn học Trung Quốc, Trương Chính, Lương Duy Thứ, Bùi Văn

Ba, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1971

- Lịch sử Văn học Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003

- Văn học Trung Quốc, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998

Trong những công trình nghiên cứu trên, dưới góc nhìn văn học sử, các

tác giả đề cập đến lý tưởng anh hùng qua phân tích các nhân vật Thủy Hử như

một trong những nội dung chính của tác phẩm Về phương diện nghệ thuật

Trang 13

của Thủy Hử, các tác giả cũng đưa ra một số nhận định xác đáng, có tính gợi

mở cho chúng tôi tiếp nối Tuy nhiên, những nhận định đó chưa tạo thành một chỉnh thể, làm nổi rõ quan niệm nghệ thuật của tác phẩm

2.3.2 Hướng nghiên cứu của các công trình chuyên khảo và các bài nghiên cứu trên tạp chí

- Luận bàn Thủy Hử, Á Nam Trần Tuấn Khải, Lương Duy Thứ, Trần

Xuân Đề, Lê Ngọc Tú, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999

- Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, Trần Xuân Đề, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

1996

- Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc, Lương Duy Thứ, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2000

- Và một số công trình chuyên khảo, các bài viết khác

Trong những công trình nghiên cứu điển hình trên, ngoài nội dung về nhân vật anh hùng, các tác giả đi vào khai thác các thủ pháp xây dựng nhân

vật, kết cấu xung đột và tìm hiểu đặc trưng thi pháp của Thủy Hử Tuy vậy,

hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ mới đi vào cấp độ vĩ mô của tác phẩm

mà chưa bàn đến một cách hệ thống phương thức thể hiện nhân vật anh hùng trong Thủy Hử

Ngoài ra, còn có các công trình bàn luận trực tiếp đến nhân vật anh hùng trong Thủy Hử, chẳng hạn:

- Nhân vật Thủy Hử, của Ngô Nguyên Phi, Nxb Đồng Nai, 1999

- 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, của Lý Mộng Hà, Nxb Đồng Nai, 1994

Nhìn chung, những công trình này đi theo hướng tiếp cận, phân tích, bình

luận các nhân vật anh hùng sau mỗi hồi trong Thủy Hử Do đó, chúng chưa

chỉ ra được qui luật nội tại của hệ thống cấu trúc các nhân vật anh hùng

2.4 Hướng nghiên cứu phê bình Thủy Hử ở Trung Quốc

Ở Trung Quốc, tình hình nghiên cứu Thủy Hử diễn ra rất sôi nổi trong

Trang 14

suốt thời gian từ khi tác phẩm xuất hiện cho đến thời kỳ đương đại Quả vậy,

từ khi ra đời đến nay, Thủy Hử đã có một số phận hết sức kỳ lạ trong đời sống

xã hội và phê bình văn học Nhìn trong tiến trình tiếp nhận tác phẩm, chúng ta thấy rõ được điều đó Lúc đầu mọi người xem nó là tấm gương trung nghĩa, đến cuối thời Minh bị xếp vào mục cấm thư Đời nhà Thanh các anh hùng

Thủy Hử được ca ngợi và tôn sùng có phần cường điệu: Thủy Hử là tác phẩm

xướng dân chủ, dân quyền chi manh nha” (khởi xướng phong trào dân chủ dân quyền) Đầu thời Dân quốc, Thủy Hử được khen ngợi là “cổ xúy bình dân cách mệnh” (hô hào cho cuộc cách mạng bình dân), sau thời cách mạng, tác phẩm lại có giá trị như là “nông dân khởi nghĩa đích giáo khoa thư” (sách giáo khoa về khởi nghĩa nông dân) Nhưng rồi, Thủy Hử bị bài xích là một tác phẩm hướng dẫn“đầu hàng chủ nghĩa đích phản diện giáo tài”(tài liệu giảng dạy phản động của chủ nghĩa đầu hàng) Trong quá trình sưu tầm tài liệu nghiên cứu về Thủy Hử, với điều kiện có hạn của mình, chúng tôi nhận thấy,

nhìn theo chiều lịch đại, có thể hình dung một cách khái quát cách nhìn nhận

và đánh giá Thủy Hử trong hướng nghiên cứu phê bình của người Trung Quốc

như sau:

Trước phong trào Ngũ tứ, lịch sử nghiên cứu về Thủy Hử có thể phân ra

hai giai đoạn: Từ thế kỷ 20 trở về trước, hướng nghiên cứu chủ yếu mang tính truyền thống Từ thế kỷ 20 trở về sau, hướng nghiên cứu của phần lớn các học giả mang tính hiện đại Trong phê bình, nghiên cứu truyền thống, bình điểm

là hình thái phê bình có tính chất định hướng cho độc giả tiếp nhận tác phẩm,

lấy độc giả làm “bản vị” Từ đời Minh đến đời Thanh, bình điểm Thủy Hử có

các tác giả: Dư Tượng Đẩu, Diệp Trú, Kim Thánh Thán, Lý Trác Ngô v.v…

Các ý kiến này được sưu tập trong tác phẩm Thủy Hử nghiên cứu luận văn tập

1 Phong trào đấu tranh của sinh viên ngày 4 tháng 5 năm 1919 ở Trung Quốc

Trang 15

do Tác gia Xuất bản xã ấn hành năm 1957

Trong đó, bình điểm của Dư Tượng Đẩu có tính chất phê bình cảm tính, phản ánh khuynh hướng tiếp thụ của tầng lớp thị dân, ghi lại những cảm

tưởng về các nhân vật trong Thủy Hử Tác giả nhìn nhân vật từ góc nhìn đạo đức luận, lấy “nhân”, “hiếu”, “trung”, “nghĩa” làm tiêu chuẩn đánh giá

Diệp Trú ra sức công kích đạo học, phản đối lễ giáo là giả dối, đề cao nhân tính chân thực tự nhiên Từ cái hư ngụy và vô dụng của đạo học tiến

hành đánh giá một số nhân vật thông qua giá trị của “chân” và “giả” Đó là sự

đối lập giữa hình tướng bên ngoài và những giá trị chân thực bên trong hoặc ngược lại Từ điểm nhìn này nhà phê bình đã lý giải hàng loạt nhân vật bằng cái nhìn vượt lên tri kiến thông thường như trường hợp của Lỗ Trí Thâm, Tống Giang, Lý Quỳ Cách tiếp cận này của Diệp Trú có điểm gần với Kim Thánh Thán Do vậy, chúng ta hiểu vì sao họ gọi Tống Giang là “giả đạo học, chân cường đạo” (giả làm kẻ học đạo, nhưng thật chất là cường đạo), nhìn thấy cái chỗ “vô câu vô thúc, xuất tính nhi vi” (tính không chịu buộc ràng,

thích gì làm nấy) không câu nệ tiểu tiết để sau này thành Phật của Lỗ Trí Thâm, khẳng định cái thô lỗ chân thật của Lý Quỳ trong đối sánh song hành với Tống Giang Diệp Trú phê phán Tống Giang có một nét tính cách nổi bật trong đối nhân xử thế dùng những thủ đoạn mua chuộc tức là giả dối và lừa

đảo Kim Thánh Thán cũng nhìn nhận Tống Giang là “thập ác bất xá” (mười

ác không chừa - tức là không việc ác nào không làm), lấy “chân”, “giả” để phủ định Tống Giang, từ đó tiến một bước phủ định toàn diện sự “trung nghĩa” của nhân vật này Đây cũng là một cách tiếp cận đi từ lễ giáo để nhận

ra mặt trái của nó sẽ hình thành một dạng người kiểu ngụy quân tử, miệng lúc nào cũng trung hiếu nhân nghĩa nhưng luôn truy cầu danh lợi, làm những việc bất nhân bất nghĩa Các tác giả phản đối lễ giáo hư ngụy đã chèn ép nhân tính

tự nhiên của con người nhưng lại lấy Nho học làm vũ khí cơ bản phê bình và

Trang 16

phán xét các vấn đề xã hội trong tác phẩm Do đó, trong nội dung phê bình của họ tất nhiên không thể tránh khỏi mâu thuẫn Lý tưởng chính trị về một xã hội thái bình với minh quân lương tướng mâu thuẫn sâu sắc với thực tế cuộc sống bấy giờ: vua thì vô đạo, nhân dân thì lầm than khốn khổ Vì vậy, chính nghĩa cần phải được thực hiện bằng con đường phi nghĩa, nên họ vừa phủ nhận các anh hùng Lương Sơn Bạc theo quan điểm của Nho gia lại vừa ca

ngợi Kim Thánh Thán không thừa nhận trong lục lâm giang hồ tồn tại “trung nghĩa” nhưng hiện thực cuộc sống và cảm hứng ngợi ca các anh hùng Lương

Sơn Bạc đã ra ngoài quan niệm tưởng chừng bất di bất dịch đó

Một đóng góp nữa của Diệp Trú trong khi bình điểm Thủy Hử là sự

dung hợp giữa hai tư tưởng Nho gia và Phật giáo, đem tinh thần đạo đức của nhà Nho ca ngợi thành biểu hiện của Phật tính ở nơi phẩm chất của nhân vật

Lý Trác Ngô và Kim Thánh Thán cũng xuất phát từ quan niệm đạo đức luận anh hùng nhưng điểm khác biệt là họ còn phân tích các nhân vật anh hùng nhìn từ phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết ở các khía cạnh: tính hư cấu, văn phép Điều đáng lưu ý ở đây là Kim Thánh Thán chú ý đến vai trò và nhấn mạnh đến tài năng của người sáng tác Ông chia ra thành hai loại người: một là thánh nhân, hai là tài tử Tài năng của tài tử văn chương thể hiện ở khí

lực rất lớn, thậm chí phải đạt đến mức “tâm tuyệt khí tận” Trong Thủy Hử tam tự tam Kim Thánh Thán ca ngợi vị trí tuyệt đỉnh của văn chương trong Thủy Hử, không có tác phẩm nào vượt qua được nó Vì vậy ông dồn toàn bộ tâm huyết và niềm say mê vào bình điểm Thủy Hử, chú ý đến cả thiên,

chương, cú, tự trong tác phẩm Tổng bình hồi 24, ông chỉ ra sự kết nối tài tình

giữa các chương gọi là “thiên chương chi pháp” (văn pháp nối mạch giữa các

chương hồi) Ngoài ra, ông còn nghiên cứu cú pháp, tự pháp: tỉ mỉ thống kê những từ lặp đi lặp lại nhiều lần trong mỗi hồi để chỉ ra giá trị biểu đạt của nghệ thuật của ngôn từ Nhìn chung hướng nghiên cứu này đã chú ý đến cả

Trang 17

hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật, có những thành tựu nhất

định Tìm hiểu về văn phép của Thủy Hử, Kim Thánh Thán bước đầu đã chỉ

ra đặc trưng nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, nhưng chưa nghiên cứu dưới góc nhìn của lý thuyết tự sự hiện đại, chưa thấy được vai trò của người kể chuyện cùng với điểm nhìn nghệ thuật cũng như giọng điệu trần thuật trong tác phẩm

Cuộc vận động Tân văn hóa thời Ngũ tứ có ý nghĩa như một cuộc cách mạng văn hoá thời đại trong lịch sử Trung Quốc Theo đó, phê bình và lý luận văn học cũng có những bước phát triển mới Có hai phương diện của cuộc vận

động ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp nhận và phê bình Thủy Hử truyện: Thứ

nhất là đề xướng văn Bạch thoại, thứ hai là ảnh hưởng các trào lưu văn học mới của phương Tây, bao gồm cả lý luận văn học Cuộc vận động văn học Bạch thoại, đặc biệt là đề cao những tiểu thuyết cổ đại khiến người ta hứng

thú hơn khi thưởng thức Thủy Hử cùng với một số tác phẩm khác Sự đổi mới

về lý luận văn học và phê bình văn học đã khiến cho công việc phê bình Thủy

Hử có những nét mới về phương pháp và tư tưởng Chúng tôi tìm thấy ý kiến

về Thủy Hử của các nhà nghiên cứu tập trung trong công trình Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết bình luận tập do Bắc Kinh xuất bản xã ấn hành năm 1957

Trong tuyển tập bình luận này, mỗi nhà phê bình có điểm nhìn và quan

niệm riêng của mình về Thủy Hử Trong Lời tựa mới cho Thủy Hử, Trần Độc

Tú nhấn mạnh hai điểm: một là bản chất của tiểu thuyết, hai là kỹ thuật viết tiểu thuyết Vì vậy, điều mà Trần Độc Tú quan tâm nhất là thủ pháp nghệ

thuật trong Thủy Hử Ông cho rằng lý tưởng của Thủy Hử là rất mù mờ,

không có ý nghĩa thâm sâu nào cả Điều này cho thấy Trần Độc Tú đánh giá

quá thấp sự phong phú và thâm viễn về mặt tư tưởng của Thủy Hử Ông cường điệu giá trị của Thủy Hử về mặt nghệ thuật cũng chính là đánh giá quá

Trang 18

cao giá trị biểu đạt về văn Bạch thoại Đây cũng chính là cách lý giải đầy

thiên kiến về Thủy Hử truyện

Học giả Hồ Thích thì khác, những ý kiến của ông gần như hoàn toàn tương phản với Kim Thánh Thán và các nhà phê bình xưa nay Ông phản đối Kim Thánh Thán khi nhà phê bình dùng “bút pháp của Khổng Tử khi viết về Xuân Thu” để đánh giá Thủy Hử, và cho rằng kiểu phê bình này là một

chướng ngại lớn cho văn học Những quan điểm của Hồ Thích khi lý giải về

Thủy Hử dựa vào quy trình khảo cứu văn bản Thủy Hử cùng với việc tìm hiểu

về môi trường, lịch sử, văn hóa của tác phẩm Ông lý giải từ những tiền đề về chính trị, văn hóa, lịch sử của thời đại đã tác động đến tư tưởng và nội dung của tác phẩm Phương pháp dùng góc độ lịch sử khách quan để đánh giá tác phẩm như thế này rất ít gặp ở các nhà phê bình văn học trước đó Ngoài ra,

Hồ Thích còn chỉ ra những hạn chế về mặt nghệ thuật, không vì yêu thích

Thủy Hử mà ông bỏ qua những khuyết điểm của nó

Những lời bình luận của Lỗ Tấn về Thủy Hử có ảnh hưởng rất lớn trong thời kỳ cách mạng văn hóa Trong bài Sự biến thiên của lưu manh, Lỗ Tấn đơn cử Thủy Hử để chứng minh rằng những hiệp sĩ theo đuổi chính nghĩa

đã dần dần biến mất khỏi Trung Hoa, thậm chí bọn lưu manh đã nổi lên để biến thành trâu ngựa cho kẻ thống trị Trong xã hội phong kiến, Lương Sơn

không giống với các đảng cường đạo khác ở chỗ là “Thế thiên hành đạo”

(thay trời hành đạo), nhưng “khắp trong bốn bể, không ai không phải là bầy tôi của vua” Anh em Lương Sơn thần phục vua Tống, tự nhiên biến mình thành một kẻ nô tài Đứng trên góc độ là nhà phê bình để đánh giá Thủy Hử,

nói chung, lập trường của Lỗ Tấn có chỗ giống Hồ Thích cho rằng nội dung của tác phẩm này chính là sự phản ánh lịch sử cụ thể Cơ sở lý luận này là luận điểm: văn học phản ánh hiện thực cuộc sống

Tạ Vô Lượng trong Thủy Hử nghiên cứu luận văn tập cho rằng, Thủy

Trang 19

Hử phản ánh tư tưởng cách mạng bình dân Ông vận dụng tư tưởng cách

mạng cận hiện đại, tư tưởng triết học siêu nhân của Nietzsche, tư tưởng nữ

quyền để đánh giá về Thủy Hử Ông đưa khái niệm cách mạng vào trong Thủy

Hử Ông cho rằng bất kỳ một dạng thức văn học nào đó sản sinh đều có

những nguyên nhân tâm lý nhất định Tạ Vô Lượng đã bắt đầu từ tâm lý xã hội để để phân tích quan hệ phát sinh giữa áp bức dân tộc và văn học bình dân Thủy Hử là tiếng nói phẫn uất của một thời đại có nền chính trị cực kỳ

thảm khốc, vì vậy sức mạnh phản kháng sục sôi trong tác phẩm đã phản ánh tâm lý bất bình của đông đảo quảng đại quần chúng nhân dân Ông cũng cho

rằng Thủy Hử là bộ tiểu thuyết miêu tả vũ lực siêu nhân và tích cực cổ xúy

cho cách mạng bình dân Trong trường hợp này nhà phê bình đã đứng trên lập trường đấu tranh giai cấp và tư tưởng cách mạng để phân tích tác phẩm là không thích hợp Bởi vì từ góc nhìn đó, tác giả đã vượt ra khỏi tính thời đại,

ra khỏi môi trường văn hóa của tác phẩm, nên những kết luận có thể rơi vào cực đoan, phiến diện

Với tư cách là một học giả, Trịnh Chấn Phong bàn về Thủy Hử trên cơ

sở những gì khảo cứu được từ văn bản Trong ý kiến của nhà nghiên cứu này

có một điểm khác biệt với mọi người là hình tượng anh hùng không hề tham

nữ sắc Loại quan niệm anh hùng không gần nữ sắc là một hiện tượng phổ biến trong văn hóa Trung Quốc So sánh với văn học Phương Tây, người anh hùng sẵn sàng vì người phụ nữ mình yêu đã hiến thân, thậm chí vì họ mà tiến hành chiến tranh…Trịnh Chấn Phong kết luận, một câu chuyện anh hùng lãng mạn chân thực hầu như chưa được sáng tạo ở Trung Quốc Cách nghĩ của Trịnh Chấn Phong rõ ràng là chịu ảnh hưởng quan niệm về ái tình của người phương Tây

Tháng 7 năm 1932, Tạp chí Xã hội học đã đăng bài Phân tích Thủy Hử dưới góc nhìn xã hội học của Đào Từ Huệ Đây là một tiểu luận nghiên cứu

Trang 20

về Thuỷ Hử khá sâu sắc kể từ sau vận động Ngũ tứ Đào Từ Huệ đã xuất phát

từ góc độ xã hội học Trung Hoa để lý giải cơ sở nghệ thuật của tiểu thuyết và

từ đó tiến hành phê phán hiện thực Ông cho rằng, Trung Quốc là một nước chú trọng lễ giáo, người làm trai cần phải có chí làm rạng danh tổ tông, báo hiếu cho cha mẹ và trung thành với vua Trung hiếu đã trở thành chuẩn mực đạo đức bất di bất dịch, mỗi người trong nước đều muốn trở thành một trung thần hiếu tử Tống Giang đã lợi dụng tâm lý này, dựng Trung Nghĩa đường thay trời hành đạo, lấy trung nghĩa báo quốc Có điều, những cách làm thực tế của hảo hán Lương Sơn lại hoàn toàn xa lạ với trung hiếu đạo đức: phá nhà đốt xóm, bắt trói mệnh quan triều đình, không thể chấp nhận là trung nghĩa với triều đình được Đào Từ Huệ kết luận, mọi người sùng bái trung nghĩa nên không biết rằng Tống Giang là một hảo hán giả trung giả nghĩa! Ông đã tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn của phương pháp xã hội học nhưng về phương diện nội dung tư tưởng, Đào Từ Huệ ảnh hưởng một cách sâu sắc quan niệm của Kim Thánh Thán

Tham khảo trên trang Web “Trung Quốc văn học”1 đăng tải các bài

viết nghiên cứu về Thủy Hử của các nhà phê bình đương đại Trung Quốc,

chúng tôi nhận thấy một trong những vấn đề được bàn luận nhiều nhất là vấn

đề nữ tính và hình tượng phụ nữ, kế đến là thảo luận về tước hiệu của nhân

vật anh hùng, tranh luận Thủy Hử phản ánh đời sống nông dân hay thị dân và đặc biệt là vấn đề văn bản học Thủy Hử Một số bài viết đã khai thác nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh hùng trong Thủy Hử truyện Liên quan đến hình tượng hiệp khách, có các bài viết của Ninh Giá Vũ “Thủy Hử truyện

và văn hóa lục lâm Trung Quốc” (Tạp chí “Văn nghệ di sản”, 1995); Lý Chân Du với bài “Di phong của du hiệp với Thủy Hử” (ĐHSP Bắc Kinh học

báo, 1992) Các bài viết này đều tập trung phân tích bản sắc du hiệp trong các

1 (www literature.org.cn)

Trang 21

hình tượng anh hùng Lương Sơn Bạc Năm 2001, trên Nam khai học báo có

đăng tải bài của Lỗ Đức Tài “Hiệp trong lịch sử và hiệp trong tiểu thuyết”

Trong bài viết đó, tác giả tập trung nghiên cứu sự biến thiên của văn hóa võ

hiệp cổ đại và ảnh hưởng đến Thủy Hử truyện như thế nào Có lẽ, Tống Giang

được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất chẳng hạn các bài “Thử dùng phương

pháp hệ thống để nghiên cứu hình tượng Tống Giang” của Chu Thư Văn

(Thương Nhiêu sư phạm học báo, 1985), “Trung Nghĩa khó vẹn toàn- thử

luận về tính cách mâu thuẩn của Tống Giang” của Lý Anh Nhiên (Thạch Gia

Trang Sư phạm học báo, 2000) Âu Dương Kiện lại dùng phương pháp so sánh để nghiên cứu 3 hình tượng Sài Tiến, Tiều Cái và Tống Giang trong bài

Luận về Sài Tiến, Tiều Cái, Tống Giang” (in trong sách Thủy Hử tân nghị,

1983) Năm 2010, Giang Hán Đại học học báo đăng bài “Tổng thuật về 30

năm nghiên cứu so sánh Tam Quốc diễn nghĩa và Thủy Hử” của Hứa Dũng Cường, trong đó khẳng định, từ Tam Quốc diễn nghĩa qua Thủy Hử, nghệ

thuật xây dựng hình tượng người anh hùng đã có sự phát triển rõ rệt Thi Nại

Am đã có ý khai thác có chừng mực đời sống nội tâm của nhân vật, do vậy

nhân vật Thủy Hử “đời” hơn, chân thực hơn so với Tam Quốc diễn nghĩa Về

nhân vật Lý Quỳ, Vương Cúc Hồng trong bài “Hình tượng Lý Quỳ trong

Thủy Hử truyện” (Hồ Nam Cao đẳng chuyên khoa học hiệu báo, 2003) kết

luận: “Vốn xuất thân từ nông dân nên những ưu điểm của Lý Quỳ đều từ bản chất nông dân mà ra, những khuyết điểm của anh ta cũng từ đó mà xuất phát” Trong bài “Luận về sự dung hợp văn hóa Nam Bắc trong hình tượng

Lý Quỳ”, (Tạp chí học thuật luận đàn, 2007), tác giả Hạng Dụ Vinh kết luận:

tuyệt đại bộ phận anh hùng trong Thủy Hử truyện là sự kết hợp giữa văn hóa

Nam và Bắc Ngoài ra còn có một số bài viết về hình tượng nghệ thuật xây dựng hình tượng Công Tôn Thắng, Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng…nhưng nhìn chung vẫn chưa có những phát hiện mới so với những nghiên cứu đã có

Trang 22

Có thể nói, qua những bài viết này, những kiến giải về nhân vật anh

hùng trong Thủy Hử của các nhà nghiên cứu đương đại Trung Quốc vẫn chưa

hoàn toàn thoát khỏi thi pháp học cổ điển có từ thời Lý Trác Ngô, Kim Thánh Thán Phần nhiều các bài viết đều tập trung chú ý vào những khía cạnh về mặt

tư tưởng, tính cách nhân vật mà ít quan tâm đến các phương thức biểu hiện nghệ thuật

Tóm lại, qua các khuynh hướng nghiên cứu đã đề cập trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận tác phẩm từ nhiều góc độ khác nhau Điều đó đã tạo sự đa dạng về các khuynh hướng tiếp cận tác phẩm Tuy nhiên, chưa có một công trình nào mang tính hệ thống nghiên cứu về

phương thức biểu hiện nhân vật anh hùng trong Thủy Hử Luận án của chúng

tôi bước đầu tìm hiểu vấn đề này, theo hướng áp dụng lý thuyết tự sự học để nghiên cứu một tác phẩm cổ điển phương Đông, hy vọng mở ra một cách nhìn

mới về Thủy Hử, một tác phẩm có số phận thăng trầm kỳ lạ trong lịch sử tiếp

nhận văn học ở ngay chính trên quê hương Trung Quốc của nó và cũng như ở Việt Nam

3 M ục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm một số mục tiêu sau:

- Trước hết, luận án tìm hiểu quan niệm nghệ thuật và những yếu tố văn hóa chi phối cách tổ chức thế giới nghệ thuật của Thủy Hử

- Sau đó chỉ ra đặc trưng thẩm mỹ và phương thức biểu hiện nhân vật anh hùng trong Thủy Hử Trong công trình này chúng tôi tìm hiểu nhân

vật anh hùng nhìn từ phương diện lý thuyết tự sự học hiện đại

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc trưng thẩm mỹ hình tượng

Trang 23

nhân vật anh hùng và các phương thức thể hiện nhân vật anh hùng trong tác

phẩm Thủy Hử

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Việc xây dựng nhân vật anh hùng trong Thủy Hử vừa thể hiện tài năng

của tác giả cũng như thể hiện truyền thống văn hóa triết học và quan điểm thẩm mỹ của dân tộc Trung Hoa Trong luận án này, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một số đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của hình tượng anh hùng và phương

thức thể hiện nhân vật anh hùng trong tác phẩm

Về tư liệu dùng để nghiên cứu, chúng tôi chưa tiếp xúc được với nguồn

tư liệu cấp 1 (gốc) mà dùng nguồn tư liệu cấp 2 (qua các bản dịch)

Về tác phẩm dùng để khảo sát, ở Việt Nam ta có nhiều bản Thủy Hử

được dịch Rất tiếc, trong tay chúng tôi không có bản dịch 120 hồi toàn văn

Vì vậy, trong thời gian có hạn, chúng tôi chọn khảo sát ở văn bản Thủy Hử

(4 tập) 70 hồi do Á Nam - Trần Tuấn Khải dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1994

Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo thêm văn bản Hậu Thủy Hử, trọn bộ 3

tập, 49 hồi do Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga dịch, Nxb Hà Nội, 1992, để

có một cái nhìn bao quát hơn về quan niệm anh hùng

4 P hương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

1 Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê để nắm bắt những yếu tố lặp lại trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện, kết cấu…

2 Phương pháp so sánh - đối chiếu: Với phương pháp này, chúng tôi chỉ

ra nét riêng biệt của Thủy Hử với các tiểu thuyết cổ điển cùng thời về

quan niệm anh hùng, phương thức biểu hiện nhân vật anh hùng

3 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đây là bước quan trọng để tìm ra

quan niệm anh hùng, hình tượng người anh hùng thể hiện qua những

Trang 24

dấu hiệu thẩm mỹ đặc trưng của tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu tự sự học và thi pháp học, giúp khám phá nghệ thuật trần thuật và các biện pháp khắc họa hình tượng anh hùng trong tác phẩm

5 Đóng góp của luận án

Gợi ý từ những khoảng trống trong phương thế tiếp thụ như đã và đang

có đối với Thủy Hử, người viết thực hiện công trình nghiên cứu này với mong

muốn:

1 Luận án hướng đến tìm hiểu một số phương thức thể hiện nhân vật anh hùng trong tác phẩm như nghệ thuật tổ chức không – thời gian, nghệ thuật tạo dựng kết cấu, nghệ thuật xây dựng hình tượng người kể chuyện Qua đó, cho ta thấy những đặc trưng trong nghệ thuật thể hiện

hình tượng người anh hùng của Thủy Hử nói riêng, thể loại truyền kỳ

anh hùng nói chung

2 Luận án góp phần hệ thống hóa bức chân dung hình tượng người anh hùng trong Thủy Hử dưới cái nhìn của thi pháp học – tự sự học hiện

đại Từ đó góp thêm một cách nhìn, hướng tiếp cận hình tượng nhân vật anh hùng trong Thủy Hử

6 C ấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận án bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở hình thành quan niệm anh hùng trong Thủy Hử

- Chương 2: Đặc trưng thẩm mỹ của nhân vật anh hùng trong Thủy Hử

- Chương 3: Một số biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật anh hùng trong Thủy Hử

Trang 25

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM ANH HÙNG

1.1 Giới thuyết về quan niệm anh hùng

Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, “anh": là vua loài hoa;

"hùng": là vua loài thú; Anh hùng là người hào kiệt xuất chúng”

Theo Từ điển từ và nghĩa Hán Việt của Giáo sư Nguyễn Lân, “anh: Hoa đẹp, vẻ đẹp, người tài năng xuất chúng; hùng: Loài thú khỏe nhất,

dũng cảm

Anh hùng:

1 Người có tài đức đã lập nên sự nghiệp lớn lao

2 Người có thành tích xuất sắc

3 Dũng cảm tuyệt vời, sẵn sàng hy sinh cho chính nghĩa

Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb VHTT, 1999, do Nguyễn Như Ý chủ biên:

“Anh hùng:

1 Người có tài năng nổi bật và khí phách đặc biệt to lớn, làm nên những việc phi thường

2 Người có công lao đặc biệt với đất nước, nhân dân”

Như vậy, "anh hùng" là một khái niệm chỉ những người có khí phách

lớn, có tài năng, có thể lực hơn người và một tinh thần dũng cảm gan dạ làm nên những việc lớn lao được mọi người kính phục Secnưsepxki đã từng nói,

“C ái đẹp chính là cuộc sống” Nghĩa là, bản thân cuộc sống với hiện thực

muôn màu, muôn vẻ của nó là những biểu hiện của cái đẹp Trong đó, những con người anh hùng là biểu tượng của cái đẹp lý tưởng đáng yêu đáng quý nhất của nhân dân trong một thời đại lịch sử Bởi vì, sự nghiệp của họ, thành

Trang 26

quả của họ đều là “sản phẩm của nhân dân, là yêu cầu thời đại, là kết tinh

tr uyền thống từ bao đời”…[60, tr.8] Vì vậy, quan niệm về người anh hùng

cũng là sản phẩm tất yếu của lịch sử, của văn hóa Lối sống, phẩm chất của họ luôn gắn liền ý chí và hành động anh hùng theo một quan niệm đạo đức của một thời kỳ lịch sử nhất định

Lần theo ngọn nguồn của lịch sử tư tưởng, văn học Trung Quốc để tìm đến khởi điểm của khái niệm anh hùng là một công việc thú vị Thực ra, quan niệm anh hùng, hành động anh hùng, phẩm chất anh hùng, đã sớm ra đời trong quá trình phát triển của xã hội loài người Đó là biểu tượng của cái đẹp của những con người biết hiến dâng trái tim cháy bỏng của mình cho nhân loại Hình ảnh Promete bị xiềng, chàng dũng sĩ Hécquyn cũng như những câu chuyện về Nghiêu, Thuấn minh quân hay Cổn, Vũ trị thủy mãi mãi vẫn là những huyền thoại bất tử trong tâm thức của loài người Ở Trung Quốc, từ trong truyền thuyết cổ đại đã lưu truyền những câu chuyện về các nhân vật anh hùng như Hoàng Đế, Hậu Nghệ, Nghiêu, Thuấn, Cổn, Vũ…Bóng dáng của họ xuất hiện sừng sững trong thần thoại, truyền thuyết cổ đại - có ý nghĩa như một thứ tôn giáo nguyên thủy, một loại khoa học sơ khai của con người

Nó giải thích thế giới, thể hiện niềm tin và sự sùng kính chất phác của nhân dân về những con người anh hùng kiệt xuất khai thiên lập địa, giúp dân đào

núi lấp sông, diệt trừ yêu quái Thiên Bản kinh huấn sách Hoài Nam Tử có

đoạn kể lại sự tích của một vị anh hùng thời cổ như sau:

Đến thời vua Nghiêu, mười mặt trời mọc cùng một lúc, cháy lúa má, giết cỏ cây, dân không có gì ăn Các loài thú Khiết luân, Tạc xỉ, Cửu anh, Đại phong, Phong hy, Tu xà…đều làm hại dân Vua Nghiêu bèn sai Nghệ giết Tạc xỉ ở đồng bằng Trà Hoa, giết Cửu anh trên sông Hung Thủy, giết Đại phong ở đầm Thanh Khâu, trên thì bắn rụng chín mặt trời, dưới thì giết Khiết luân, chém Tu xà ở Động Đình bắt

Trang 27

Phong hy ở Tang Lâm Muôn dân đều hoan hỉ, đưa Nghiêu lên làm thiên tử Từ đó khắp nơi nơi đều có đạo lý [5, tr.13]

Có anh hùng là có đạo lý Trong cuộc chiến đấu đầy thử thách, gian khổ của con người trước thiên nhiên vô cùng huyền bí và khủng khiếp đã xuất hiện nhiều hành động phi thường Nó mang tính lý tưởng của những con người biết đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân Như vậy, anh hùng là một hiện tượng xã hội mà vấn đề cốt lõi là đạo đức và cái đẹp Quan niệm anh hùng gắn với tinh thần đạo lý, đã có ngay trong tư duy nguyên sơ của người xưa Nhưng mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi dân tộc đều có riêng một quan niệm đánh giá về người anh hùng Các nhà mỹ học trước Mác cho rằng:

Cái anh hùng không thuộc về vai trò của quần chúng trước lịch

sử, đó chỉ là sự nghiệp của vĩ nhân, các vĩ nhân đó lại luôn bị phủ một lớp màn thần thánh khiến cho phạm trù cái anh hùng cũng có tính chất mơ hồ Thậm chí người ta còn dồn tất cả sự sùng bái ấy cho một cá nhân vô hình, một đấng cao siêu Thượng

đế là người sáng tạo ra vũ trụ và là người thuần thục nhất tính cao cả (Hegel) [chuyển dẫn theo 80]

Từ quan niệm này mà các nhà mỹ học cho rằng: “chỉ có thần anh hùng” đặc biệt là Thượng đế! Thực chất của khái niệm anh hùng là gì và thế nào là một người anh hùng? Anghen đã lớn tiếng phản bác các quan niệm mang tính thần bí trên, đưa nó về với trần thế con người trong bản chất

“người anh hùng” đích thực Ông cho rằng:

Một anh hùng siêu thực nào đó chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng

và mô phỏng từ anh hùng trong thực tế mà thôi Thần linh chẳng qua là sự mô phỏng, phản ánh hoặc ít hoặc nhiều mơ hồ và lệch lạc về bản thân con người [chuyển dẫn theo 80]

Trang 28

Hay nói khác hơn những nhân vật thần thoại có thể là những con người

có thật, có thể là những tù trưởng kiệt xuất trong xã hội thị tộc Sự tích của họ được nhân dân truyền tụng trong quá trình nó được thần thoại hóa Vậy hiện tượng anh hùng là hiện tượng chỉ riêng con người, nó có giá trị khách quan rộng lớn và hết sức tích cực Cái anh hùng luôn gắn với cái đẹp bên trong và

là sự thể hiện cao độ cái đẹp Bản chất anh hùng thường được thể hiện ra ngoài thông qua các hành động Các hành động đó đóng góp tích cực vào sự phát triển, tiến bộ của toàn xã hội Bởi vậy, anh hùng là một khái niệm vừa thuộc phạm trù thẩm mỹ lại vừa thuộc phạm trù đạo đức Người ta thường nói: Thời thế tạo anh hùng Điều đó có nghĩa, ở một điều kiện lịch sử xã hội nhất định nào đó mới có khả năng và điều kiện để bộc lộ tính cách và những hành động anh hùng Thực tế không có một mẫu người anh hùng chung cho mọi thời đại, mọi lập trường tư tưởng, mọi giai cấp…xét trên phạm trù đạo đức lẫn thẩm mỹ thì người anh hùng luôn mang tính lịch sử cụ thể, mang dấu

ấn văn hóa, tâm lý, thị hiếu của con người trong mọi thời đại Lý tưởng của người anh hùng là lý tưởng của thời đại, chịu sự chi phối và tác động hệ tư tưởng nhân dân cũng như hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Nhìn trong thực

tế phát triển của lịch sử tư tưởng và văn hóa nhân loại, chúng ta không thấy có một mẫu người anh hùng chung cho mọi thời đại, mà sẽ có quan niệm anh hùng, biểu tượng anh hùng, nhân vật anh hùng trong một thời kỳ lịch sử nhất định Nhìn trong tiến trình phát triển của lịch sử Trung Hoa, quan niệm về anh hùng cũng có sự vận động theo qui luật của nó

Khảo sát qua thư tịch cổ, chúng tôi thấy từ “anh hùng” xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc Thời Hán mạt - Tam Quốc, có tác phẩm Anh hùng ký của Vương Xán (177-217), Nhân vật chí của Lưu Thiệu (180-245) chuyên bàn về

anh hùng.Vương Xán trong Anh hùng ký không chỉ ghi chép về các nhân vật

Trang 29

lịch sử như Viên Thiệu, Viên Thuật, Tào Tháo, Lưu Biểu…mà còn ghi chép

về nhân vật nghịch thần như Đổng Trác…Riêng Lưu Thiệu trong Nhân vật

chí có một định nghĩa rõ ràng về "anh hùng":

Phù thảo chi tinh tú giả vi anh, thú chi đặc quần giả vi hùng Cố nhân chi văn võ mậu dị, thủ danh vu thử Thị cố thông minh tú xuất vị chi anh, đảm lực quá nhân vị chi hùng, thử kỳ đại thể chi biệt danh giả…” 1

Dịch nghĩa:

Thứ tinh hoa tươi đẹp nhất trong loài hoa cỏ gọi là anh, giống vật đặc sắc nhất nổi trội trong loài thú gọi là hùng Người có tài năng văn võ nổi trội hàng đầu, được lấy tên như vậy Vì thế người có tài trí xuất chúng trong luân thường đạo lý được gọi là

“a nh”, kẻ có lòng gan dạ sức khỏe địch chúng được gọi là

“h ùng” Đây là sự phân biệt đại thể trong cách xưng hô 2

Theo quan niệm này, thì người có văn võ dị thường (“Cố nhân chi văn

vũ mậu dị”) là anh hùng Vậy thì ý nghĩa của khái niệm văn võ khác thường ở

đây được hiểu như thế nào? Tác giả lý giải trong phần luận anh hùng như sau:

Hà d ĩ luận kỳ nhiên? Phù thông minh giả anh chi phân giả, bất đắc hùng chi đảm, tắc thuyết bất hành Đảm lực giả hùng chi phân giả, bất đắc anh chi trí, tắc sự bất lập 3

Dịch nghĩa:

Tại sao lại nói như vậy? Thông minh thuộc về tố chất của

“anh”, chưa từng nhận được sự gan dạ của “hùng”, thì học thuyết kiến giải của nó sẽ không thể tiến hành được Gan dạ là tư chất của “hùng”, chưa từng nhận được trí tuệ của “anh” thì sự

1Lưu Thiệu, Nhân vật chí, (2004,) Người dịch: Dương Thu Ái, Nguyễn Kim Hanh, hiệu đính: Võ Minh Hải,

Nxb Văn hoá Thông tin Hà Nội, tr95

2Lưu Thiệu, Nhân vật chí, (2004,) Người dịch: Dương Thu Ái, Nguyễn Kim Hanh, hiệu đính: Võ Minh Hải,

Nxb Văn hoá Thông tin Hà Nội, tr98

3Lưu Thiệu, Nhân vật chí, (2004,) Người dịch: Dương Thu Ái, Nguyễn Kim Hanh, hiệu đính: Võ Minh Hải,

Nxb Văn hoá Thông tin Hà Nội, tr95

Trang 30

nghiệp của nó chưa thể thành công được 1Do đó:

“ Anh hùng phải có “thông, minh, đảm, lược”: “thông năng mưu thủy, minh năng kiến cơ, đảm năng quyết chi, lực năng quá nhân” Tạm dịch: Thông - có thể bày mưu lược; Minh - có thể nhận lấy thời cơ; Đảm - có khả năng quyết đoán; Lực - có thể hơn người Trong đó, “thông” và “minh” được gọi là “anh”,

“đảm” và “lực” được gọi là “hùng” [Chuyển dẫn theo 111]

Trong tác phẩm này, Lưu Thiệu luận về anh hùng ở những nội dung sau: Thứ nhất, ông nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa các tố chất làm nên vẻ đẹp của “anh” và “hùng” Nét nổi bật của “anh” là trí tuệ xuất chúng, của

“hùng” là sức mạnh và lòng can đảm phi thường Thứ hai, nội dung của luận bàn này đi vào giới thuyết về các khái niệm về “anh” và “ hùng” chú ý đến tư chất tài năng của người anh hùng trong mối tương quan giữa anh tài và hùng tài giữa văn và võ Một nhân cách anh hùng vĩ đại không thể thiếu vắng một trong hai yếu tố này Thứ ba, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của tố chất

“anh” vì trí tuệ thông minh là mấu chốt dẫn đường đi đến thành công Thứ tư,

là vẻ đẹp trí tuệ của người anh hùng lãnh tụ, muốn làm nên nghiệp lớn ngoài những tố chất của anh tài và hùng tài còn phải có con mắt đánh giá và biết

trọng dụng người tài theo khả năng thứ bậc, tất sẽ dẫn đến thành quả của sự nghiệp anh hùng hưng thịnh và khởi phát, công trạng anh hùng sẽ được hiển hách Quan niệm về anh hùng trong Nhân vật chí đã hình thành khái niệm

tương đối rõ ràng là vì vậy

Về mặt thời gian, có thể thấy, hai tác giả Vương Xán và Lưu Thiệu sống cùng thời với các nhân vật lịch sử như: Tào Tháo (155-220), Tào Phi (187-226), Lưu Bị (161-223) Rất có khả năng cả hai người đều có cơ hội tiếp xúc với các nhân vật lịch sử này Tào Tháo cũng đã từng luận về anh hùng

1Lưu Thiệu, Nhân vật chí, (2004,) Người dịch: Dương Thu Ái, Nguyễn Kim Hanh, hiệu đính: Võ Minh Hải,

Nxb Văn hoá Thông tin Hà Nội, tr98

Trang 31

Gia Cát Lượng trong bài Long Trung đối cũng đánh giá Lưu Bị là “anh hùng trong thời loạn nghĩ đến người hiền như khát nước” Cho nên có thể nói,

“ khái niệm "anh hùng" đến thời Tam Quốc mới chính thức được hình thành”1 Qua những tài liệu trên, chúng ta thấy một điểm thú vị: khái niệm

“anh hùng” của người Trung Quốc ban đầu gắn với những nhân vật lịch sử, chủ yếu là nhìn vào tài năng với “thông minh đảm lược” mà không hề nói đến

“đức”, chí ít cũng không đặt hành vi đạo đức trở thành một tiêu chuẩn của người anh hùng

Trong công trình Anh hùng và danh sĩ, Hạ Xương Quần cho rằng: cái

danh xưng anh hùng xuất hiện vào thời Hán Linh Đế trong khởi nghĩa Hoàng Cân, các quan thái thú thứ sử địa phương vô cùng hủ bại, chính trị địa phương không hề ổn định, quyền lực chính trị và quân sự rơi vào tay quan lại địa phương Phàm có những ai khuông phò nhà Hán, an định thiên hạ, văn võ toàn tài, có tài kinh bang tế thế đều được xưng là anh hùng Cũng theo Hạ Xương Quần, thời nhà Tần cùng với sáu nước, giữa vua và bầy tôi chưa có sự phân định danh phận cụ thể, do vậy mà hào kiệt chi sĩ ai ai cũng có thể phản

Tần, thế nên mới có câu “Chư hầu tịnh khởi, hào kiệt tương lập” (Chư hầu

đồng loạt nổi dậy, hào kiệt xuất hiện khắp nơi) Như vậy, bên cạnh khái niệm anh hùng còn có xuất hiện một khái niệm “hào kiệt” nhưng ý nghĩa thì đã có nét khác Trong khái niệm “hào kiệt” có nét nghĩa nhấn mạnh đến trí tuệ của con người Trí tuệ vượt quá mười người thì gọi là "kiệt", vượt quá vạn người thì gọi là "hào" Hào kiệt vẫn có thể nổi dậy chống chính quyền Khi nhà Hán xác lập với với hơn 400 năm tồn tại, quan hệ quân thần đã được xác lập rõ ràng nên nhà Hán cho dù loạn lạc hơn trăm năm vẫn không bị phế truất Các nhân vật lịch sử như Đổng Trác, Tào Tháo, Viên Thiệu tuy không nghe lời vua nhưng vẫn không có gan phế bỏ nhà Hán để xây dựng đế hiệu riêng cho

1Dương Tử Nhan (2008), Luận Tam Quốc Khí và Thuỷ hử khí , Học báo sư phạm Nam Dương

Trang 32

mình Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, ngoài khái niệm "hào kiệt" nhấn mạnh đến trí tuệ, ở Trung Quốc có thêm khái niệm “thánh hiền” với yêu cầu

“đức tài kiêm bị”, nhưng chung qui lại vẫn khác với ý nghĩa của khái niệm

"anh hùng" Ban đầu, khái niệm “anh hùng” không có liên quan gì với đạo đức nhưng sau khi xuất hiện, nó chịu ảnh hưởng bởi 3 thế lực: giai cấp thống trị, tôn giáo, và sức mạnh của quần chúng nhân dân Giai cấp thống trị muốn lợi dụng anh hùng để củng cố thế lực và quyền lực, biến anh hùng thành một công cụ bảo hộ cho chính quyền Tôn giáo muốn dùng biểu tượng anh hùng

để khuếch trương ảnh hưởng Nhân dân gởi gắm niềm tin của mình hy vọng thông qua anh hùng sẽ làm cho đất nước thái bình thịnh trị Nhưng có lẽ, quan trọng nhất vẫn là ảnh hưởng từ tư tưởng của thế lực thống trị, do vậy anh hùng còn “nhận” thêm một nhiệm vụ nữa là khuông phò nhà Hán Nội hàm của “hào kiệt” không đủ thỏa mãn nhu cầu của thời đại, danh sĩ càng trở nên

vô dụng vì loại này chủ yếu “độc thiện kỳ thân” do đó, khái niệm "anh hùng" được đề cao trong đời Hán - mạt là vì vậy Từ đó, một quan niệm chính thống

về anh hùng ra đời, chủ yếu thông qua những minh quân, hiền thần, lương tướng Những nhà tiểu thuyết lịch sử cũng chịu sự chi phối của quan niệm anh hùng này mà có sự biến đổi về chân diện mạo của anh hùng cho phù hợp với nhu cầu lịch sử Điều này cũng giải thích vì sao cha con Tào Tháo lại trở thành Hán tặc và trở thành gian hùng trong lịch sử Tào Phi thay đổi triều đại, phế Hán lập Ngụy, như vậy là không trung thành với nhà Hán, kết quả là bị bách tính ghét bỏ, hình ảnh bị méo mó đến hàng ngàn năm nay với danh xưng

“gian hùng” Đồng thời, những kẻ nhất tâm toàn ý hướng về nhà Hán như Lưu Bị, Quan Công…lại được mỹ hóa để biến thành anh hùng điển hình và được sùng bái từ khi họ xuất hiện cho đến bây giờ [111] Nhìn một cách tổng quát quan niệm về người anh hùng trong lịch sử Trung Quốc đã có ngay từ buổi ban sơ của lịch sử, vận động trong sự tương tác với các cơ tầng văn hóa

Trang 33

hình thành nên tiến trình chuyển hóa mang tính đặc thù:

Từ thời cổ đại: Có lẽ, hình ảnh đầu tiên về người anh hùng được thể hiện ngay trong những thiên thần thoại li kỳ hấp dẫn của dân tộc Trung Hoa Đó là những nhân vật huyền sử như Tam hoàng, Ngũ đế, Cổn, Đại Vũ có công khai

mở tư tưởng, thống nhất lãnh thổ, trị thủy giúp dân mở mang thủy lợi, điều hòa việc cấy cày dọc các bờ sông lớn trên lãnh thổ Trung Hoa cổ đại Những

tư tưởng này được thể hiện khá sâu sắc qua các thiên điển, mô, cáo trong

Thượng Thư Hình tượng người anh hùng thời kỳ này có thể nói là người anh

hùng bộ lạc, hành động vì lợi ích cộng đồng Ý thức về quyền và lợi dường như chưa được đặt ra một cách sâu sắc Vào cuối thời kỳ nhà Ân -Thương, đầu Tây Chu quan niệm anh hùng được phát triển thêm một bước tiến, đó là sự hình

thành của hệ ý thức phân quyền, cát cứ phong kiến Do đó, quan niệm về người anh hùng cũng có những thay đổi về mặt bản chất, người anh hùng trong xã hội chiếm hữu nô lệ và thời kỳ quá độ sang xã hội phong kiến được biểu hiện một cách cụ thể qua hình ảnh những dũng tướng chiến đấu vì lợi ích cộng đồng, và đặc biệt là nhu cầu chiếm hữu nô lệ, đất đai và công cụ lao động

- Thời Xuân thu - Chiến quốc: Thời điểm chuyển giao giữa thời kỳ Xuân

thu và Chiến quốc đã xuất hiện một giai tầng đó là Sĩ Sĩ xuất hiện với nhiều

vai trò khác nhau: họ có thể là những hiệp sĩ tận trung báo đáp ơn tri ngộ của các bậc minh chủ như Kinh Kha, Dự Nhượng…, là những con người đem hết tài năng của mình thực hiện lý tưởng chính trị như Tín Lăng Quân, Bình Nguyên Quân, Phạm Lãi…; hoặc là những người có tư tưởng canh tân, chú ý phát triển kinh tế phục vụ lợi ích cho các tiểu quốc phong kiến và tiến tới ý đồ tranh bá như Quản Trọng, Thương Ưởng, Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công… Đặc biệt, với sự xuất hiện của phong trào “bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng), “bách hoa tề phóng” (trăm hoa đua nở), quan niệm anh hùng được soi chiếu trên nhiều bình diện khác nhau Từ đó, chúng ta có thể thấy được quan

Trang 34

niệm về anh hùng ở thời kỳ này được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau đồng thời cũng phản ánh được sự phức tạp về tư tưởng, đa dạng trong cách nhìn nhận đánh giá người anh hùng

Trong Xuân Thu - C hiến Quốc văn hóa đại quan, Lý Thiếu Lâm cho rằng: “Từ góc độ xã hội mà khảo sát, Sĩ phần nhiều đều lấy võ làm sự nghiệp”

[110, tr.45] Sơ kỳ Xuân thu, Quản Trọng - người phụ tá cho Tề Hoàn Công

đã qui định nhiệm vụ chủ yếu của kẻ sĩ là huấn luyện binh sĩ và tác chiến Sách Quốc Ngữ, phần Tề Ngữ có viết: “Xuân dĩ cưu chấn tộc, Thu dĩ xưng trị binh Tốt ngũ chỉnh vu lý, quân lữ chỉnh vu giao” [chuyển dẫn từ 110] Ý nghĩa của nó là: “Kẻ sĩ vào mùa xuân lấy việc săn bắt để huấn luyện quân sự, mùa thu cũng lấy việc săn bắt để tiến hành chỉnh huấn đội ngũ” Như vậy, tác chiến tức là “thủ thì cùng chắc chắn, chiến thì cùng dũng mãnh” Từ thời

Xuân thu đến hậu kỳ Chiến quốc, bản sắc xã hội của kẻ sĩ đã dần dần biến đổi, một số kẻ sĩ là văn sĩ đảm nhiệm vai trò mưu thần, môn khách Cũng

trong Xuân Thu - C hiến Quốc văn hóa đại quan, Lý Thiếu Lâm cho rằng giai đoạn này “kẻ sĩ phân hóa thành 3 loại rõ rệt sau đây: Loại thứ nhất chủ yếu phụ thuộc vào gia tộc của bậc sĩ khanh đại phu, hoặc là gia thần của sĩ khanh đại phu, hoặc phục vụ trong công thất Loại thứ hai là thoát ly hẳn với các gia tộc của sĩ khanh đại phu mà trở thành những kẻ độc lập, trở thành quan lại trong công thất, hoặc trở thành gia thần cho các gia tộc quý tộc khác Loại thứ ba là phục vụ binh dịch cho triều đình, thời chiến là lính, thời bình

là huấn luyện binh sĩ hoặc canh nông” [110, tr.20] Như vậy, theo tài liệu trên

đây, chúng ta có thể thấy được quan hệ từ võ sĩ đến gia thần của các danh gia vọng tộc trong mối quan hệ thần chủ hay nói khác hơn là mối quan hệ có tính chất tôn chủ với môn khách Đây là giai đoạn chuyển biến từ võ sĩ sang văn sĩ

rõ nhất là thời Xuân thu - Chiến quốc

- Thời Tần - Hán: Sau tư trào “bãi truất bách gia, độc tôn Nho học” của

Trang 35

vương triều Hán, quan niệm về người anh hùng mới được nhìn nhận một cách toàn diện trên cơ sở hệ qui chiếu Nho giáo Hình ảnh danh sĩ và vẻ đẹp của họ chủ yếu cũng phân thành hai loại cơ bản như sau: loại thứ nhất có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, có nghĩa khí hơn người như Hạng Vũ, giỏi võ biền như Anh

Bố, Bành Việt, Phàn Khoái Loại thứ hai thức thời, biết ứng biến như Hàn Tín, mưu lược như Trương Lương, Tiêu Hà, Trần Bình

- Thời Tam Quốc- Ngụy Tấn: Kẻ sĩ phải là người biết ứng biến, thức thời làm minh chủ đứng trên thiên hạ Với tinh thần minh triết bảo thân, người danh sĩ luôn ý thức vấn đề tri túc, biết tiến thoái cho phù hợp với thời thế

- Đến thời Tùy Đường Ngũ Đại, hình ảnh kẻ sĩ là những con người võ nghệ siêu quần, có tài kinh bang tế thế, luôn trí quân và tôn thờ minh chủ

- Thời Tống – Nguyên, về mặt tư tưởng, kẻ sĩ đã bắt đầu có tư tưởng dân chủ, tự do chống lại cường quyền Họ là người có lý tưởng trí quân trạch dân, túc trí đa mưu

Sang đến đời Minh, có thể nói đây là đỉnh cao của quan niệm anh hùng Người anh hùng phải đầy đủ phẩm chất phi thường về tài năng và tấm lòng Trong đó, đặc biệt là túc trí đa mưu, tài năng phi phàm và tâm nguyện kinh bang tế thế Họ xuất thân từ mọi tầng lớp khác nhau nhưng gặp nhau ở một điểm là luôn thực hiện và nuôi dưỡng tư tưởng trừ gian diệt bạo, bảo quốc an dân Thanh gươm và gót ngựa thiên lý của họ có thể dong ruổi khắp nơi để bảo vệ công lý, binh vực kẻ yếu, chống lại cường quyền Như vậy, trong một chừng mực nào đó, quan niệm anh hùng ở thời Minh mang đậm tinh thần dân chủ, thể hiện sức sống mãnh liệt của quần chúng nhân dân trong lòng xã hội phong kiến

Thêm nữa, cần chú ý rằng, khái niệm anh hùng dường như trong khá nhiều trường hợp cũng được dùng trong ý nghĩa giao thoa với nội hàm của từ

"hiệp khách" Thật vậy, rất nhiều ý kiến thống nhất rằng, Thủy Hử là tiểu

Trang 36

thuyết hiệp nghĩa, nhân vật Thủy Hử là những hiệp khách Lỗ Tấn trong Diễn biến tiểu thuyết Trung Quốc cho rằng, những tác phẩm hiệp nghĩa đời Thanh đều từ Thủy Hử mà ra, những nhà nghiên cứu hiện đại thì cho rằng: Thủy Hử

là tiểu thuyết nghĩa hiệp đầu tiên trong lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc Cũng rất nhiều ý kiến thống nhất rằng, thông qua những phản kháng, đấu tranh với

ác bá và quan phủ, Thủy Hử đã thể hiện con đường rất phổ biến của giới hiệp

sĩ giang hồ

một điểm đáng lưu ý: bắt đầu từ Sử ký, hình tượng hiệp khách

đã được ca tụng: “Nay bọn du hiệp, tuy nết không hợp với chính nghĩa, nhưng lời họ nói ra thì chắc chắn, việc làm của họ thì quả quyết, đã hứa thì nhất định làm, không tiếc tính mạng để cứu người ra khỏi nơi nguy khốn Sau chi

đã xông pha vào nơi nguy hiểm cứu người, họ lại không khoe tài, lấy việc kể

ơn làm thẹn, như vậy thì xem ra cũng có nhiều điều đáng khen”1

Nhưng

có một thực tế là, hiệp khách không nhất thiết phải giỏi võ công mà quan

trọng nhất vẫn là "nghĩa" "Nghĩa" là bản chất của "hiệp" Người xưa có câu

"Nghĩa phi hiệp bất lập, hiệp phi nghĩa bất thành", cho thấy võ công chỉ xếp

vào hạng thứ yếu Địa vị của Tống Giang và các hảo hán Lương Sơn cho thấy điểm này Tống Giang là người dùng "nghĩa” để hành hiệp, do vậy với

tư cách là một viên tiểu lại, xuất thân cũng chẳng lấy gì làm cao quý, trong tay lại chẳng có quyền lực gì, thậm chí chẳng đáng được gọi là "túc trí đa mưu", võ nghệ cũng tầm thường, chỉ có điều là dám xả thân vì nghĩa nên mới có biệt danh "Cập thời vũ", được các hảo hán tín phục mà được tôn làm thủ lĩnh Nhưng "hiệp" cũng không thể thiếu "vũ", bởi đã ra tay hành hiệp thì đương nhiên có lúc sẽ phải đụng đến pháp luật, phải cần đến sức mạnh và lúc ấy, võ nghệ sẽ trở thành phương tiện để thực hiện hành vi trượng nghĩa

Nói chung, cho dù có bị thống trị lợi dụng (như trường hợp Kinh Kha),

1Tư Mã Thiên (1988), Sử ký – Du hiệp liệt truyện, Nxb Văn học, tr.768

Trang 37

nhưng hiệp khách vẫn là đối tượng mà kẻ thống trị muốn triệt tiêu Do vậy mà

từ Sử ký trở về sau, hầu như không có bộ sử chính thống nào tiếp tục ghi chép

về hình tượng hiệp khách nữa khiến người ta có cảm giác là "hiệp" không tồn tại nữa Nhưng chính sử là một chuyện, lịch sử lại là chuyện khác Hiệp khách vẫn tồn tại trong cuộc đời, trong thơ ca và sáng tác văn học nói chung… Có điều, để phù hợp với sự tiếp nhận của xã hội, mặc dù vẫn đề cao tự do nhưng bản thân "hiệp" đã có sự thay đổi, vừa có ý thức phóng túng ngang tàng

nhưng cũng vừa có ý thức kiến công lập nghiệp Bài Thiếu niên hành của

Trương Tịch đời Đường đã xây dựng một hình tượng hiệp khách theo ý nghĩa này:

“ Trảm đắc danh vương hiến quế cung, Phong hầu ky đệ nhất nhật trung”

Tạm dịch: Chém đầu những công hầu danh tướng dâng hiến lên cung điện (vua), Ấn phong hầu có được trong một ngày

Tất nhiên, cũng có những hình tượng hiệp khách chỉ thực hiện sứ mệnh

một cách tự do, không lấy công danh sự nghiệp làm trọng như trong Hiệp khách hành của Lý Bạch:

Sự liễu phất y khứ Thâm tàng thân dữ danh

Tạm dịch: Việc xong phủi áo bỏ đi, Ẩn tàng thật sâu hình hài và danh tính

Thời Tống, giai cấp thống trị trọng văn hơn võ nên sĩ đại phu phong kiến lao vào con đường thi cử nên cả xã hội thiếu hẳn sự nhiệt tình với hình tượng hiệp khách Trong văn học, hình tượng hiệp khách gần như vắng bóng Đến thời Minh Thanh, hiệp khách lại trở thành thị vệ của hoàng gia, thành những kẻ bảo tiêu Có thể xem đây là một lối rẽ của hiệp khách và đã không ít tiếng chê bai về họ trong thời kỳ này, thậm chí có người còn cho rằng hiệp khách thời

Trang 38

Minh Thanh đã đi ngược với tinh thần của hiệp khách truyền thống

Có thể nói, trong mối quan hệ giữa triều đình và xã hội nói chung, hình tượng hiệp khách vừa thể hiện sự phản kháng, vừa thể hiện sự thoả hiệp Trong Thủy Hử, từ hồi 1 đến 70 là thể hiện sự phản kháng, hồi 71 trở đi là thể

hiện sự thoả hiệp

Như vậy, anh hùng và hiệp khách tuy có nhiều điểm tương đồng, chẳng hạn họ gặp nhau ở lý tưởng hiến thân, coi chết như về… Anh hùng thường nghĩa khí, do vậy anh hùng có khi là hiệp khách; hiệp khách có khi là anh hùng Nhưng có điều, khi hiệp khách mang tính cách của anh hùng thì họ không còn là hiệp khách nữa, do vậy có thể nói, Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm vốn là hiệp khách, nhưng sau khi lên Lương Sơn Bạc, họ không còn là hiệp khách thuần tuý nữa mà đã biến thành anh hùng Thiết nghĩ, có thể phân định anh hùng và hiệp khách theo tiêu chí sau:

- Hiệp khách là người diệt ác phò thiện, cứu khổn phò nguy, là kiểu người "thấy việc bất bình chẳng tha", ẩn thân giang hồ, hành vi hiệp nghĩa mang tính chất cá nhân, đơn độc

- Anh hùng làm công việc giết tướng đoạt ải, mục đích là giải cứu nguy nan quốc gia, duy trì và bảo vệ trật tự thể chế, làm quan làm tướng

- Anh hùng ít khi ra tay đơn độc mà thường xuất hiện giữa đám đông Tóm lại, từ góc độ lịch sử và tư tưởng, chúng ta có thể nhận thấy rằng, quan niệm về người anh hùng trong văn hoá Trung Hoa là một hiện tượng văn hoá đặc biệt, nó không chỉ phản ánh tinh thần nghĩa hiệp, cứu thế độ nhân mà còn là biểu tượng cao đẹp của con người xã hội, con người cộng đồng theo quan niệm của Nho học Từ một hiện tượng văn hoá, hình ảnh người anh hùng đã bước vào trang sách và trở thành hình tượng văn học độc đáo, góp phần làm nên dáng vẻ hùng dũng của thế giới nghệ thuật tiểu thuyết cổ điển Minh Thanh

Trang 39

1.2 Quan niệm anh hùng trong văn học Trung Quốc

tượng anh hùng

Mối quan hệ giữa cảm thức thẩm mỹ về người anh hùng và hình tượng anh hùng luôn diễn ra hết sức gắn bó, chặt chẽ, trong mọi nền văn học, từ Đông sang Tây, đặc biệt, trong những tác phẩm viết về người anh hùng Từ nguồn mạch của tâm thức văn hóa dân tộc, những hình tượng anh hùng là sự thăng hoa, kết tinh, hội tụ mỹ cảm Mỗi thời đại có một hệ quy chiếu, tiêu chuẩn khác nhau về người anh hùng Nhưng ở thời đại nào, ở nền văn hóa nào, những hình tượng ấy đều thể hiện rõ lý tưởng thẩm mỹ của con người thời đại Với tài năng của người nghệ sĩ, chúng được chuyển hóa thành những hình tượng nghệ thuật sinh động, sắc nét trong thế giới nghệ thuật đặc sắc của các tác phẩm văn học Vẻ đẹp của các anh hùng Trung Hoa thường là những biểu tượng quần hùng tráng mỹ Điều này có thể lý giải từ tâm thức văn hóa của dân tộc Trong dòng chảy của văn hóa Trung Hoa, kết đọng ở chiều sâu của nó là những cảm thức thẩm mỹ mang tính đặc thù Trong đó, đáng chú ý

là cảm thức vũ trụ của con người trong văn hóa Phương Đông Do vậy, tầm vóc của người anh hùng mang dấu ấn của con người vũ trụ Cho nên, nét đẹp của người anh hùng trong văn học Trung Quốc thường được ca ngợi thành những biểu tượng quần hùng tráng mỹ có sức mạnh vô song, tài năng phi thường, trí tuệ siêu phàm, trác việt Một điểm thú vị khác của văn hóa Trung Hoa là cảm thức cộng đồng rất mạnh Chính từ cảm thức cộng đồng này đã hình thành nên những biểu tượng anh hùng mang tính sử thi Đây không phải

là nghịch lý mà là hệ quả tất yếu Vì vậy, nét đẹp của người anh hùng mang tính sử thi thể hiện dấu ấn những quan niệm thẩm mỹ truyền thống của văn hóa Trung Hoa

Trang 40

Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, trong mục từ “anh hùng” (héros)

đã có những nhìn nhận, đánh giá mang tính khái quát về những hình tượng anh hùng trong văn hóa, văn học phương Tây Theo công trình này:

Anh hùng thường là con của cuộc giao phối giữa một vị thần với một người trần, người anh hùng tượng trưng sự kết hợp giữa các lực lượng trên trời và dưới đất Nhưng anh ta đương nhiên không được hưởng sự bất tử của thánh thần, tuy vẫn giữ cho đến khi chết một khả năng siêu tự nhiên: một vị thần bị giáng thế hay con người được phong thần

Công trình nghiên cứu văn học Dẫn giải ý tưởng văn chương của tác

giả người Pháp Henri Benac, cũng có những gợi mở thú vị về kiểu hình tượng nhân vật anh hùng trong văn học Châu Âu Theo ông, có thể phân loại các kiểu anh hùng thành 3 dạng:

- Ở thời cổ đại: đấng anh hùng là một nhân vật nửa thần thánh, vì có cha

hay mẹ có nguồn gốc thần thánh, hoặc là một người được thăng lên

hàng nửa thần thánh vì tài năng lỗi lạc (Homère, Platon )

- Theo nghĩa hiện đại: anh hùng là người hi sinh thân mình vì một sự

nghiệp lớn vượt quá sự nghiệp của bản thân mình (vì Chúa, vì Tổ quốc,

vì danh dự, vì tự do, vì công lí )

- Theo nghĩa thuần túy văn học: người anh hùng trong tiểu thuyết hay

trong kịch là nhân vật chính (không nhất thiết nhân vật này phải có

những phẩm chất của người anh hùng theo nghĩa hiện đại này)

Công trình của Henri Benac tiếp cận hình tượng người anh hùng theo nghĩa hiện đại Từ đó, ông nêu ra những phẩm chất của người anh hùng, thể hiện trên các phương diện: tâm hồn cao thượng và những phẩm chất khác

Chúng tôi muốn điểm qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả phương Tây về hình tượng anh hùng để thấy rằng: vấn đề từ cảm thức thẩm

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thi Nại Am (1994), Thủy Hử , Á Nam Trần Tuấn Khải dịch, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủy Hử
Tác giả: Thi Nại Am
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1994
2. Thi Nại Am - La Quán Trung (1992), Hậu Thủy Hử , NXB Văn học, Hà Nội. (dịch từ nguyên bản Thủy Hử toàn truyện 120 hồi, do Trung Hoa thư cục xuất bản Bắc Kinh 1960 - 1976) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu Thủy Hử", NXB Văn học, Hà Nội. (dịch từ nguyên bản "Thủy Hử
Tác giả: Thi Nại Am - La Quán Trung
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1992
3. André Chieng (2007), Bàn về thực tiễn của Trung Hoa cùng với Francois Jullien, Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thực tiễn của Trung Hoa cùng với Francois Jullien
Tác giả: André Chieng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2007
4. Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ Văn học , NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2003
5. Dư Quan Anh - Tiền Chung Thư - Phạm Ninh (2003), Lịch sử Văn học Trung Quốc tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn học Trung Quốc tập II
Tác giả: Dư Quan Anh - Tiền Chung Thư - Phạm Ninh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
6. Trịnh Ân Ba, Trịnh Thu Lôi (2002), Văn học Trung Quốc, Lê Hải Yến dịch, NXB Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Tác giả: Trịnh Ân Ba, Trịnh Thu Lôi
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2002
7. Lê Huy Bắc (2002), Giải phẫu văn chương trong nhà trường , NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu văn chương trong nhà trường
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2002
8. Lê Huy Bắc (2001), “ Kết cấu vòng tròn trong Tam Quốc diễn nghĩa và Thủy Hử” , tạp chí N ghiên cứu Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Kết cấu vòng tròn trong "Tam Quốc diễn nghĩa "và "Thủy Hử
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2001
9. Trần Lê Bảo (2004), “ Nhóm nhân vật điển hình trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc”, Nghiên cứu Văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Nhóm nhân vật điển hình trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc”, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2004
10. M.Bakhtin. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
11. Phạm Tú Châu (1999), “Việc nghiên cứu ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo trong mấy bộ tiểu thuyết tiêu biểu của Trung Quốc", in trong Đi giữa đôi dòng , NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc nghiên cứu ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo trong mấy bộ tiểu thuyết tiêu biểu của Trung Quốc
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
12. Phan Bội Châu (1973), Khổng Học Đăng, Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng Học Đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Năm: 1973
13. Huỳnh Ngọc Chiến (2002), Lai rai chén rượu giang hồ , NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lai rai chén rượu giang hồ
Tác giả: Huỳnh Ngọc Chiến
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
14. Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý chủ biên, Lương Duy Thứ dịch, (1994), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc , NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý chủ biên, Lương Duy Thứ dịch
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1994
15. Lý Quốc Chương (2003), Nho gia và Nho học, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho gia và Nho học
Tác giả: Lý Quốc Chương
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
16. Việt Chương (1995), Chân dung nhân vật Tam Quốc diễn nghĩa chí , NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung nhân vật Tam Quốc diễn nghĩa chí
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 1995
17. Đoàn Trung Còn (1950), Tứ Thơ Luận Ngữ, Trí Đức Tòng Thơ, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ Thơ Luận Ngữ
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Năm: 1950
18. Huyền Cơ (2007), Luận về chữ Nhân, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận về chữ Nhân
Tác giả: Huyền Cơ
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2007
19. Nguyễn Huy Cố (2006), Khi Trung Quốc làm thay đổi thế giới, NXB Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi Trung Quốc làm thay đổi thế giới
Tác giả: Nguyễn Huy Cố
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2006
20. Giáp Văn Cường (1995), Lão Tử đạo đức huyền bí, NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão Tử đạo đức huyền bí
Tác giả: Giáp Văn Cường
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w