Với những lợi thế về thổ nhưỡng, nguồn nước, khí hậu và đặc biệt là kinh nghiệm sản xuất của người dân, Bình Tân sẽ tập trung phát triển ngành trồng trọt tạo ra những nông sản hàng hóa c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ THANH NGUYÊN
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
HÀNG HÓA Ở HUYỆN BÌNH TÂN,
TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ THANH NGUYÊN
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA Ở
HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: Địa lí
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Vũ Quế Hương
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn ký và ghi rõ họ tên
Võ Thị Thanh Nguyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua luận văn tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Vũ Quế Hương đã nhiệt tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn đúng thời hạn;
Chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở GD&ĐT Vĩnh Long, Ban giám hiệu trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trường Đại học sư phạm TPHCM cùng các Thầy, Cô đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học;
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng nghiệp vụ Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm thông tin Sở nông nghiệp & Phát triển nông thôn Vĩnh Long, Chi cục thủy sản Vĩnh Long, Huyện ủy Bình Tân, Phòng Nông nghiệp huyện Bình Tân đã nhiệt tình cung cấp số liệu, thông tin để tôi có thể hoàn thành được luận văn đúng thời hạn;
Đặc biệt, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, những người bạn thân đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi suốt thời gian học!
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
_
CNCB: công nghiệp chế biến
CNH: công nghiệp hóa
CNH, HĐH: công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN – TTCN: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long
KHCN: khoa học công nghệ
KHKT: khoa học kỹ thuật
KT-XH: kinh tế - xã hội
HĐH: hiện đại hóa
GlobalGAP: Global Good Agricultural Pratices
GTSXNN: giá trị sản xuất nông nghiệp
SXNN: sản xuất nông nghiệp
SXNNHH: sản xuất nông nghiệp hàng hóa
VAC: mô hình sản xuất kết hợp giữa vườn - ao - chuồng
VietGAP: Vietnamese Good Agricultural Pratices
WTO: World Trade Organization
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tình hình phát triển ngành thủy sản từ năm 2005 –
1.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá cố định phân
theo ngành kinh tế (đơn vị: triệu đồng)
32
2.1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phân theo
ngành kinh tế trên địa bàn Bình Tân từ năm 2008 –
2011 (đvt: triệu đồng)
45
2.2 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế ở
Bình Tân từ năm 2008 – 2011 (đvt: người)
46
2.3 Tỷ lệ lao động nông nghiệp Bình Tân từ năm 2008 –
2011
60
2.4 Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản của Bình
Tân từ năm 2008 – 2011 theo giá hiện hành (đvt:%)
68
2.6 Tổng hợp chi phí – lợi nhuận (đồng/ha) của hộ sản
xuất lúa cả năm 2011
73
2.7 Diện tích cây màu huyện Bình Tân từ năm 2008 –
2011 (đvt: ha)
75
Trang 72.8 Hiệu quả kinh tế từ nuôi heo (đvt: 1.000 đồng/con) 80 2.9 Hiệu quả kinh tế từ nuôi gà (đvt: 1.000 đồng/con) 81 2.10 Diện tích và sản sản lượng cá tra ở Bình Tân từ năm
3.1 Mục tiêu tăng trưởng GTSX nông, lâm, thủy sản của
tỉnh Vĩnh Long theo giá hiện hành (%)
93
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1.1 Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản
Vĩnh Long từ năm 2000 – 2010
35
1.2 Biểu đồ cơ cấu giá trị nông lâm thủy sản tỉnh Vĩnh
Long năm 2005, năm 2010
36
2.2 Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh
tế Bình Tân từ năm 2008-2011 theo giá hiện hành
43
2.3 Biểu đồ cơ cấu giá trị nông, lâm, thủy sản của Bình
Tân năm 2008, 2011 theo giá hiện hành (đơn vị %)
44
2.4 Bản đồ đánh giá mức độ thích nghi cây màu và cây
công nghiệp huyện Bình Tân năm 2011
57
2.5 Bản đồ đánh giá mức độ thích nghi trồng lúa và
nuôi trồng thủy sản huyện Bình Tân năm 2011
Trang 9ở Bình Tân từ năm 2008 – 2011 2.10 Diện tích và sản lượng mè ở Bình Tân từ năm
3.1 Biểu đồ thể hiện cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh
Vĩnh Long năm 2015, 2020 theo giá thực tế
94
3.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu nông, lâm, thủy sản của
huyện Bình Tân năm 2015, 2020 theo giá thực tế
96
Trang 10MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục tiêu của đề tài 2
2.2 Nhiệm vụ của đề tài 2
3 GIỚI HẠN VỀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
3.1 Giới hạn về nội dung 3
3.2 Giới hạn về thời gian 3
3.3 Giới hạn về lãnh thổ 3
4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
5 HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
5.1 Hệ thống quan điểm nghiên cứu 6
5.2 Các phương pháp nghiên cứu 7
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 8
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Cơ sở lí luận 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
Chương 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA Ở HUYỆN BÌNH TÂN 41
2.1 Khái quát chung về huyện Bình Tân 41
2.2 Vai trò của SXNNHH trong sự phát triển KT – XH ở huyện Bình Tân 48
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển SXNNHH ở huyện Bình Tân 54
2.4 Hiện trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở huyện Bình Tân 64
2.5 Ảnh hưởng của SXNNHH đến chất lượng cuộc sống người nông dân và nông thôn 84
2.6 Những thách thức trong phát triển SXNNHH ở huyện Bình Tân 85
Trang 11Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
HÀNG HÓA Ở HUYỆN BÌNH TÂN GIAI ĐOẠN 2013 - 2020 91
3.1 Quan điểm và định hướng phát triển SXNNHH ở huyện Bình Tân 91
3.2 Một số giải pháp phát triển SXNNHH ở huyện Bình Tân 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
1 KẾT LUẬN 110
2 KIẾN NGHỊ 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
-
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phát triển SXNNHH là quy luật chung của sự phát triển KT-XH Đối với nông nghiệp, phát triển SXHH sẽ là nền tảng vững chắc tạo nên sự thay đổi toàn diện đời sống KT-XH ở khu vực nông thôn
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi phát triển KT-XH nông thôn là mục
tiêu trọng tâm Trong nhiều kì Đại Hội, chủ trương “đẩy nhanh CNH, HĐH nông
nghiệp và nông thôn” và hình thành các vùng nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp
với nhu cầu của thị trường, điều kiện sinh thái của từng vùng luôn được nêu ra Đặc biệt sau khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, SXNNHH đã phát triển rất nhanh góp phần thay đổi diện mạo nông nghiệp, nông thôn ở nước ta; mà trước hết
là thay đổi phương thức sản xuất, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân
Tỉnh Vĩnh Long có vị trí địa lý nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, ở trung tâm ĐBSCL Nơi đây có đất đai khá màu mỡ nên thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp và thủy sản Trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh, SXNN giữ vai trò quan trọng do đó luôn nhận được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của cấp ủy Đảng Trong những năm gần đây, nền kinh tế Vĩnh Long đang chuyển dịch theo hướng tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh phát triển KT-XH Trong quy hoạch phát triển KT-
XH đến năm 2015 của Vĩnh Long, Bình Tân được chọn là vùng SXNNHH lớn của tỉnh Với những lợi thế về thổ nhưỡng, nguồn nước, khí hậu và đặc biệt là kinh nghiệm sản xuất của người dân, Bình Tân sẽ tập trung phát triển ngành trồng trọt tạo ra những nông sản hàng hóa chủ lực có tính cạnh tranh cao trên thị trường
Hiện tại, hoạt động SXNN của Bình Tân có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa và hiện đại: giảm diện tích lúa kém hiệu quả, tăng diện tích màu chuyên canh, luân canh; tăng diện tích cây ăn trái có giá trị kinh tế cao;
Trang 13đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản; phát triển chăn nuôi; hình thành các mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, từng bước nâng cao thu nhập cho người nông dân Tuy nhiên, còn một số tồn tại nhất định như: quy mô sản xuất còn phân tán, nhỏ lẻ mặc dù bước đầu đã hình thành được một số vùng chuyên canh; tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản tự phát ven sông Hậu gây ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng; liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản còn yếu kém; công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho nông sản còn yếu, đặc biệt chưa có nông sản nào có thương hiệu mặc dù rất nổi tiếng như khoai lang, dưa hấu, bắp, rau đặc sản
Xuất phát từ thực tế phát triển SXNNHH ở Bình Tân hiện nay, đề tài nghiên
cứu“Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long”
sẽ góp phần đưa ra những định hướng, giải pháp để thúc đẩy SXNN ở huyện Bình Tân phát triển theo hướng hàng hóa nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Bình Tân từ đó đưa ra định hướng và giải pháp cho việc phát triển SXNNHH giai đoạn
2013 - 2020
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Làm rõ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về sản xuất nông nghiệp hàng hóa
- Đánh giá nguồn lực và hiện trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở huyện Bình Tân
- Định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển SXNNHH huyện Bình Tân giai đoạn 2013 – 2020
Trang 143 GIỚI HẠN VỀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Giới hạn về nội dung
Luận văn sẽ tập trung phân tích một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chính của huyện Bình Tân và những thách thức trong SXNNHH ở Bình Tân hiện nay Trên cơ sở đó đề ra định hướng và giải pháp phát triển SXNNHH ở huyện Bình Tân
3.2 Giới hạn về thời gian
Nguồn số liệu sử dụng phân tích trong luận văn chủ yếu từ năm 2008 cho đến năm 2011
3.3 Giới hạn về lãnh thổ
Luận văn đi sâu nghiên cứu về không gian sản xuất nông nghiệp hàng hóa của huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Phát triển SXNNHH là quy luật chung của sự phát triển KT-XH, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả nước Đặc biệt, trong giai đoạn đầu thực hiện CNH, HĐH đất nước, SXNNHH là con đường duy nhất giải phóng nông dân và nông thôn thoát khỏi tình trạng lạc hậu
Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển SXNNHH được đăng trên các tạp chí kinh tế nông nghiệp, tạp chí Công sản, tạp chí Triết học…; trên các đầu sách, luận văn của một số tác giả như:
“Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam thực trạng và giải pháp”
năm 2003 của TS Trần Xuân Châu Tác giả đã nêu lên một số vấn đề lý luận chung
về nền nông nghiệp hàng hóa, kinh nghiệm của một số nước và vùng lãnh thổ trong việc đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa; thực trạng phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra; trên cơ sở đó tác giả đưa
ra những giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
Trang 15ở nước ta Tuy nhiên do sách được viết vào đầu những năm 2000 nên một số giải pháp mà các tác giả nêu ra không còn phù hợp với tình hình hiện nay
Đề tài “Những biện pháp kinh tế, tổ chức và quản lí nhằm phát triển kinh tế
nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Miền Trung” năm
1997 của TS Nguyễn An Tiêm; “Giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An” luận văn thạc sĩ năm
2007 của Phạm Nguyệt Thương Nhìn chung, công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã nêu được cơ sở lí luận chung về nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp; đánh giá được thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở một vùng, địa phương; từ đó đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế NNHH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hóa…, tuy nhiên một số nội dung mang nặng tính lý thuyết chưa được cụ thể bằng kết quả khách quan
Bên cạnh đó, một số sách nghiên cứu chuyên sâu về nông nghiệp được luận văn sử dụng phục vụ cho công tác nghiên cứu như:
Giáo trình “Kinh tế nông nghiệp” năm 2006 của PGS.TS Vũ Đình Thắng
Thông qua sách, tác giả giới thiệu về cơ sở lí luận chung về kinh tế nông nghiệp, thực trạng phát triển và chiến lược phát triển nông nghiệp của Việt Nam; giới thiệu
về hệ thống kinh tế nông nghiệp Việt Nam; những cơ sở lý thuyết kinh tế học vi mô
về nông nghiệp; kinh tế sử dụng các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp; tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp; đặc điểm sản xuất hàng hóa, chuyên môn hóa trong nông nghiệp và thâm canh nông nghiệp; phân tích thị trường nông nghiệp; thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp; quản lí nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp… Nhìn chung, giáo trình đã phân tích rất sâu và tổng quát về đặc điểm kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
“Kinh tế nông nghiệp Lý thuyết và thực tiễn” năm 2003 của TS Đinh Phi
Hổ Tác giả giới thiệu vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế; kinh tế các nguồn lực sản xuất nông nghiệp; trọng tâm là giới thiệu các lý thuyết sản xuất nông nghiệp, lý thuyết thay đổi và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, lý thuyết
Trang 16thị trường nông sản và sự can thiệp của Chính phủ, lý thuyết thị trường tín dụng nông thôn, lý thuyết phát triển nông nghiệp bền vững Mặc dù hơi nặng về lý thuyết nhưng từ những công thức mà tác giả đưa ra chứng minh sẽ giúp người làm nông nghiệp biết được giá trị đích thực của kinh tế nông nghiệp khi trực tiếp tham gia sản xuất
Giáo trình “Kinh tế Việt Nam” năm 2008 do GS.TS Nguyễn Văn Thường
chủ biên Giáo trình gồm 14 chương, trong đó chương 10 nói về nông nghiệp Trong chương nông nghiệp, tác giả giới thiệu về vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế; những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp Việt Nam; nông nghiệp Việt Nam
từ khi đổi mới đến nay; định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam
Ở Vĩnh Long đã có một số đề tài, công trình liên quan đến vấn đề này như:
Đề tài “Nghiên cứu xác định sản phẩm chủ lực tỉnh Vĩnh Long đến năm
2015” năm 2011 do PGS.TS Trần Quốc Khánh làm chủ nhiệm Đề tài đã nêu được
cơ sở khoa học về xây dựng sản phẩm chủ lực trong phát triển KT-XH của Vĩnh Long; đánh giá thực trạng sản phẩm chủ lực của tỉnh Vĩnh Long trong đó có các sản phẩm nông nghiệp; xây dựng định hướng chiến lược phát triển các sản phẩm chủ lực của tỉnh Vĩnh Long đến năm 2015
Dự án “Quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020”
năm 2012 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long Dự án đánh giá các nguồn lực, những nhân tố mới tác động đến SXNN tỉnh Vĩnh Long; đánh giá hiện trạng và diễn biến SXNN một cách cụ thể ở các khía cạnh: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hiện trạng sản xuất nông nghiệp, tổ chức quản lí SXNN; từ các dự báo ảnh hưởng đến phát triển SXNN tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020, quan điểm và mục tiêu phát triển nông nghiệp, phân vùng nông nghiệp dự án đưa ra các phương án quy hoạch nông nghiệp cùng với các giải pháp thực hiện cho tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011-2020
Đối với huyện Bình Tân, đã có dự án “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH
huyện Bình Tân đến năm 2020” (năm 2010) của Ủy Ban nhân dân huyện Bình Tân
Trang 17Dự án đã đánh giá được các điều kiện tự nhiên và những nhân tố tác động đến phát triển KT-XH; thực trạng phát triển KT-XH trong đó có đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp của Bình Tân; từ quan điểm và mục tiêu phát triển dự án đã đưa
ra các phương án quy hoạch cụ thể cho từng ngành và lĩnh vực cùng với các giải pháp thực hiện
Tuy nhiên trong ngành nông nghiệp, cụ thể là SXNNHH ở Bình Tân hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào
5 HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Hệ thống quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Đây là quan điểm đặc trưng của nghiên cứu địa lý Trong tự nhiên cũng như KT-XH, các đối tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại với nhau Ngành nông nghiệp được xem là hệ thống sản xuất bao gồm nhiều hệ thống nhỏ: nông, lâm, ngư nghiệp cấu thành và đồng thời nó lại là một bộ phận của hệ thống lớn hơn đó là hệ
thống các ngành kinh tế Vì vậy, theo quan điểm hệ thống, nghiên cứu SXNNHH ở Bình Tân phải được xem xét trong mối quan hệ với các ngành kinh tế của huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và các đơn vị lãnh thổ khác
5.1.2 Quan điểm tổng hợp, lãnh thổ
Theo quan điểm tổng hợp lãnh thổ, trong mỗi đơn vị lãnh thổ nhất định, các yếu tố tự nhiên, KT-XH đều có tác động qua lại lẫn nhau Tuy nhiên, có sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến mỗi sự vật và hiện tượng
Theo quan điểm lãnh thổ, nghiên cứu SXNNHH huyện Bình Tân phải được xem xét trong mối quan hệ với các nhân tố tự nhiên, KT-XH cũng như các ngành sản xuất khác nhau trong hệ thống các ngành kinh tế của huyện
Trang 185.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các quá trình KT-XH không ngừng vận động trong không gian và biến thiên theo thời gian Để định hướng đúng đắn sự phát triển tương lai của chúng cần phải vận dụng quan điểm quan điểm lịch sử
Quan điểm lịch sử cho phép nghiên cứu, xem xét quá trình phát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hàng hóa nói riêng trên địa bàn huyện Bình Tân trong quá trình vận động thay đổi theo thời gian và không gian Thấy được nguồn gốc phát sinh, phát triển từ đó đánh giá chính xác các quá trình này trong giai đoạn hiện tại và tìm ra những giải pháp tối ưu, hài hòa trong việc hoạch định các hướng phát triển trong tương lai
5.1.4 Quan điểm kinh tế và phát triển bền vững
Những bức xúc về môi trường hiện nay đòi hỏi nghiên cứu bất cứ vấn
đề nào liên quan đến sự phát triển kinh tế cũng cần phải đảm bảo đạt được cả 3 mục tiêu: kinh tế - xã hội - môi trường Nghiên cứu SXNNHH của Bình Tân cũng không nằm ngoài xu hướng tất yếu này Việc phân tích các khía cạnh về lợi ích kinh tế nói riêng của SXNNHH ở Bình Tân luôn được gắn liền với lợi ích kinh tế xã hội và môi trường chung của cả huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và cả nước
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn đã sử dụng một loạt phương pháp sau:
Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích: Đây là những phương
pháp quan trọng, xuyên suốt trong quá trình thực hiện đề tài Bằng cách thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thống kê, sách báo, tạp chí…liên quan đến vấn đề phát triển SXNNHH của huyện Bình Tân, nhiều kết quả quan trọng của đề tài đã được đưa ra
Trang 19Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Bản đồ - biểu đồ là một kênh thông tin quan
trọng đặc biệt đối với ngành địa lý Các nghiên cứu địa lý KT-XH được khởi đầu bằng bản đồ và kết thúc cũng bằng bản đồ, bản đồ là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn, xúc tích, trực quan góp phần minh họa, làm rõ hơn vấn đề của đối tượng
nghiên cứu Ngày nay, việc ứng dụng phương pháp GIS (hệ thống thông tin địa lý)
khiến việc xây dựng các bản đồ ngày càng dễ dàng hơn Trong luận văn, phương pháp GIS được sử dụng để xây dựng các bản đồ: Bản đồ hành chính huyện Bình Tân năm 2011, Bản đồ hiện trạng sản xuất nông nghiệp huyện Bình Tân năm 2011, Bản đồ đánh giá mức độ thích nghi cây màu và cây công nghiệp huyện Bình Tân năm 2011, Bản đồ đánh giá mức độ thích nghi trồng lúa và nuôi trồng thủy sản huyện Bình Tân năm 2011 phục vụ cho việc nghiên cứu SXNNHH huyện Bình Tân
Phương pháp thực địa: Là phương pháp cần thiết để thu thập được thông tin
một cách chính xác và cập nhật, đây cũng và là phương pháp phổ biến trong nghiên cứu địa lý Sử dụng phương pháp này giúp tránh được những kết luận chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực tiễn Qua quá trình khảo sát thực địa, người nghiên cứu có thể đánh giá, xác định độ chính xác của tài liệu đã có, đồng thời bổ sung kịp thời
những nội dung và số liệu mới được phát hiện trong khi đi điền dã
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
(i) Luận văn đã tổng quan được cơ sở lí luận về sản xuất nông nghiệp hàng hóa và áp dụng vào địa bàn nghiên cứu
(ii) Luận văn đã làm rõ những thế mạnh và hạn chế, đồng thời phân tích thực trạng phát triển SXNNHH ở huyện Bình Tân ở cả hai góc độ thuận lợi và khó khăn
Từ đó, phát hiện những thách thức đối với sự phát triển SXNNHH của huyện Bình Tân trong giai đoạn tới
(iii) Luận văn đã đưa ra một số định hướng và giải pháp phát triển SXNNHH
ở huyện Bình Tân trong giai đoạn 2013 – 2020
Trang 207 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 115 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục và mục lục, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Chương 2: Hiện trạng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Bình Tân
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp hàng hóa ở huyện Bình Tân giai đoạn 2013 – 2020
Trang 21PHẦN NỘI DUNG
- Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm chung về sản xuất nông nghiệp
1.1.1.1 Các khái niệm chung:
* Khái niệm về nông nghiệp:
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật Bởi vì, một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học
- cây trồng, vật nuôi Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn [26, tr5]
Vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất rất đặc biệt với tư liệu sản xuất chủ yếu là đất trồng, đối tượng sản xuất chính là cây trồng và vật nuôi Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp; hiểu theo nghĩa rộng nó bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản
Trong nông nghiệp có hai loại chính, việc xác định nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng vì có liên quan đến hướng chuyên môn hóa sản xuất, mở rộng các vùng chuyên canh:
Nông nghiệp thuần nông (nông nghiệp sinh nhai) là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp thuần nông
Trang 22Nông nghiệp chuyên sâu: là sự chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc và lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động nêu trên trong nông nghiệp chuyên sâu là sự
cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi hay các sản phẩm được chế biến từ trồng trọt và chăn nuôi…
Xét về mặt lịch sử phát triển, ngày nay nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi nông nghiệp truyền thống, loại nông nghiệp chủ yếu tạo ra LTTP cho con người hay thức ăn cho gia súc Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngoài LTTP truyền thống phục vụ cho con người còn có các loại như: sợi dệt, chất đốt, da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và bất hợp pháp…
* Khái niệm sản xuất nông nghiệp:
SXNN được hiểu là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây chính và chăn nuôi Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ, kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi
Như vậy, SXNN là loại hình đặc biệt, người sản xuất ra sản phẩm (LTTP) vừa tạo ra vật phẩm tiêu dùng cho chính họ mà trước hết để tái sản xuất sức lao động và duy trì sự sống, vừa dùng để làm giống, thức ăn cho gia súc, là hàng hóa đem trao trổi mua bán tại thị trường
1.1.1.2 Khái niệm sản xuất nông nghiệp hàng hóa
SXNNHH là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa, là kiểu tổ chức KT-XH sản xuất ra nông sản (nông, lâm, ngư nghiệp) không phải để tự mình tiêu dùng mà
Trang 23để trao đổi, mua bán trên thị trường, vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội, vừa có lợi nhuận cho người sản xuất ra nó để tái sản xuất mở rộng và hiện đại hóa nền
nông nghiệp [5, tr12]
Tùy vào hình thức tổ chức, mục đích sản xuất của người nông dân có thể phân SXNNHH thành 2 loại:
SXNNHH giản đơn: đây là hình thức sản xuất ở trình độ thấp, được thể hiện
trước hết ở mục đích của người sản xuất chủ yếu là để tiêu dùng, việc tạo ra sản phẩm nông nghiệp được gọi là nông sản hàng hoá trong hình thức này chỉ là ngẫu nhiên không phải mục đích chính của người sản xuất Các nông sản hàng hóa có được là phần thừa ra ngoài nhu cầu tiêu dùng cho bản thân người sản xuất Ngoài ra trong SXNNHH giản đơn trình độ của lực lượng sản xuất xã hội còn lạc hậu, phân công lao động xã hội chưa phát triển SXNNHH giản đơn được tiến hành bởi những nông dân sản xuất nhỏ dựa trên chế độ sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và chủ yếu dựa vào sức lao động của bản thân nông dân là chính
SXNNHH lớn: điều khác biệt cơ bản giữa SXNNHH giản đơn và SXNNHH
lớn trước hết thể hiện ở mục đích của người sản xuất Trong SXNNHH lớn, ngay từ trước khi tiến hành sản xuất, mục đích tạo ra nông sản để bán được đã khẳng định,
đó là quá trình tất nhiên, không phải là sự kiện ngẫu nhiên Sự khác nhau giữa hai hình thức sản xuất còn được thể hiện ở trình độ phân công lao động và trình độ kỹ thuật cao trong SXNNHH lớn
Trong đề tài, SXNNHH được hiểu là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa Dựa vào sự kết hợp của nhiều nhân tố: tự nhiên, khoa học kỷ thuật - công nghệ, thị trường, nguồn lao động, chính sách phát triển…, để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa (nông, lâm, thủy sản) chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất Thông qua việc ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa trong sản xuất, SXNNHH góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn
Trang 24Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, SXNNHH với quy mô ngày càng lớn, đầu tư trang thiết bị, ứng dụng tiến bộ KHKT ngày đi vào chiều sâu để tạo ra khối lượng lớn sản phẩm với chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu
Việc đẩy nhanh phát triển SXNNHH sẽ thúc đẩy việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tìm kiếm các phương tiện, các phương pháp tối ưu nhằm tạo động lực cho sự phát triển đột phá SXNNHH còn góp phần tăng nhanh năng suất; giá trị nông sản hàng hóa; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2 Xu thế tất yếu của quá trình phát triển SXNNHH
Kinh tế nông nghiệp đã trải qua những bước phát triển từ trình độ tự cấp, tự túc, sản xuất nhỏ có đặc trưng điển hình là sở hữu tư nhân, manh mún về ruộng đất
Theo nhận định của C.Mác, "chế độ sở hữu ruộng đất nhỏ loại trừ sự phát triển
những sức sản xuất xã hội của lao động, những hình thái xã hội của lao động, sự tập trung tư bản xã hội, việc chăn nuôi theo quy mô lớn, việc ứng dụng khoa học một cách tiến bộ vào nông nghiệp" Thực tế cho thấy, lực lượng sản xuất và KHKT
không ngừng phát triển Đặc biệt, KHKT trong thời đại hiện nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và hầu như tất cả các quốc gia, dân tộc đều tranh thủ ứng dụng thành tựu của nó để phát triển Trong SXNNHH lại đặt ra nhu cầu thúc đẩy sự phát triển của KHKT, công nghệ hiện đại đó là xu hướng tất yếu
Trong lịch sử phát triển, sau mỗi cuộc phân công lao động, nền sản xuất xã hội lại được chia tách ra thành nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Từ đó, con người lao động
và lao động được chuyên môn hóa Mặt khác, con người có nhu cầu tiêu dùng rất nhiều sản phẩm lao động của nhiều ngành nghề, chứ không giới hạn ở một số sản phẩm lao động của một vài ngành nghề nào đó Những năm gần đây, tại nhiều nước
có nền nông nghiệp phát triển, người ta tính ra rằng, nông nghiệp cần tới sản phẩm của khoảng từ 90 đến 100 ngành công nghiệp khác nhau để làm tư liệu sản xuất và phục vụ sản xuất Càng ngày nông nghiệp càng cần đến những tư liệu sản xuất công
Trang 25nghiệp hơn, còn những tư liệu sản xuất do sức lực và phương tiện của chính nó sản xuất ra lại giảm đi Điều này chứng tỏ nông nghiệp cần hàng hóa của ngành kinh tế khác, do đó cũng cần sản xuất ra sản phẩm hàng hóa để đổi lấy tiền, rồi dùng tiền này mua hàng hóa, sản phẩm của những ngành kinh tế khác Điều đó cho thấy, nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc vốn không có mua bán, trao đổi hàng hoá, nếu còn tồn tại trong thời đại hiện nay là một phi lý Vì thế, nó phải được chuyển lên SXHH, và việc chuyển này mang tính tất yếu, hợp quy luật
Nền kinh tế nông nghiệp SXHH có khả năng đáp ứng được nhiều nhu cầu, đem lại không ít lợi ích cho xã hội nói chung và người lao động nói riêng Nó ưu việt, tiến bộ hơn hẳn so với nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc Bởi vậy, đối với nước ta, việc chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa
là vấn đề cấp bách trong thời kỳ đổi mới, thời kì CNH, HĐH
Để chuyển kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá, cần
có những điều kiện cơ bản:
- Phân công lao động xã hội là điều kiện để tồn tại sản xuất hàng hóa Trong
sản xuất hàng hóa, người sản xuất một mặt phải tạo ra những hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của xã hội; mặt khác bản thân lao động của người sản xuất còn phải hợp thành một bộ phận không thể tách rời hay một phần của tổng số lao động mà xã hội
đã chi phí Lao động của người sản xuất phải phục tùng sự phân công lao động trong xã hội Có như vậy quá trình sản xuất mới được vận hành một cách đồng bộ, tương hỗ lẫn nhau
- Thị trường là một nhân tố làm xuất hiện sản xuất hàng hóa Thông qua sự
trao đổi sản phẩm giữa các cộng đồng, dần dần biến những sản phẩm ấy thành hàng hóa Thị trường và phân công lao động xã hội là những nhân tố cơ bản làm xuất hiện sản xuất hàng hóa Bởi vì, đã có kinh tế hàng hóa thì đồng thời phải có mua bán, trao đổi sản phẩm Do đó, tất yếu phải có thị trường
Trang 26- Tài chắnh là một nhân tố, điều kiện không kém phần quan trọng để chuyển sang sản xuất hàng hóa Vì cả người sản xuất, người mua đều cần tiền để đầu tư sản xuất và kinh doanh
- Tiến bộ KHKT, công nghệ là một nhân tố quan trọng để chuyển sang sản
xuất hàng hóa Việc áp dụng tiến bộ KHKT, công nghệ vào sản xuất hàng hóa sẽ tạo nên năng suất cao, sản phẩm nhiều về lượng và tốt về chất, giá thành hạ, hiệu quả và giá trị kinh tế cao Xem thường hoặc chưa coi trọng đúng mức vai trò của tiến bộ khoa học, thiếu quan tâm, chú ý áp dụng, cải tiến kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất hàng hóa nói chung, trong nền kinh tế SXNNHH nói riêng thì chắc chắn sẽ phải trả giá
Song, vấn đề đặt ra là những yếu tố ấy không tự xuất hiện Chắnh sự phát triển của lực lượng sản xuất mới làm cho sản xuất phát triển Sản xuất phát triển mới dẫn đến phân công lao động xã hội và đòi hỏi ứng dụng KHKT, công nghệ hiện đại vào sản xuất Sản xuất phát triển mới làm ra nhiều của cải vật chất dư thừa để đem bán, trao đổi ngoài phần phục vụ nhu cầu trực tiếp của người sản xuất từ đó thị trường ra đời Do vậy, cần đặc biệt chú ý phát triển lực lượng sản xuất trong kinh tế nông nghiệp Đây phải được coi là nền tảng cho bước chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá [27]
1.1.3 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sản phẩm của phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội diễn ra liên tục và phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, bao gồm hai hình thức cơ bản có quan hệ tương tác với nhau: phân công lao động xã hội theo ngành và phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Sự phát triển của phân công lao động xã hội theo ngành kéo theo sự phát triển
Trang 27của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ và ngược lại Sự phát triển đó là thước
đo trình độ phát triển chung của mỗi dân tộc Phân công lao động xã hội và chế độ
sở hữu tạo ra cơ cấu các thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho người sản xuất kinh doanh năng động hơn, cho phép khai thác các tiềm năng và lợi thế có hiệu quả hơn Như vậy xét trên tổng thể cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ,
cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành: Cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp
thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Trong từng ngành lớn này lại có các phân ngành kinh tế cụ thể tương đối độc lập nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau
- Nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ phục vụ nông nghiệp Trong trồng trọt lại phân ra: trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả Trong chăn nuôi gồm có: chăn nuôi gia súc, gia cầm Những ngành trên được phân ra thành những ngành nhỏ hơn có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình phát triển tạo thành cơ cấu ngành nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) Dịch vụ phục vụ nông nghiệp là ngành kinh tế gắn liền với tiến trình
CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn, ngày càng phát triển với nhiều chủng loại
phong phú: làm đất, thu hoạch, dịch vụ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức
ăn, kho chứa, sơ chế nông sản… Sự phát triển của dịch vụ nông nghiệp làm cho hoạt động kinh tế ở nông thôn ngày càng phong phú và đa dạng, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác ở nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đạt hiệu quả cao
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ phục vụ nông nghiệp Đây là mối quan hệ phản ánh sự phát triển một cách toàn diện nhằm đạt hiệu quả cao của sản xuất kinh doanh nông nghiệp Ngoài ra, cơ cấu ngành nông nghiệp còn biểu hiện mối quan hệ giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến nông sản
Trang 28- Lâm nghiệp là ngành có ý nghĩa quan trọng về mặt môi trường, kinh tế của quốc gia Lâm nghiệp bao gồm: trồng rừng, khai thác và chế biến gỗ Trong những giải pháp ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay, phát triển lâm nghiệp là một trong những giải pháp được ưu tiên lựa chọn nhằm cân bằng môi trường sống, đảm bảo cho một nền kinh tế phát triển bền vững
- Thuỷ sản là một ngành kinh tế quan trọng cấu thành ngành kinh tế nông nghiệp ở nước ta Thuỷ sản bao gồm: nuôi trồng, khai thác, đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản Đó là một ngành kinh tế có lợi thế để phát triển, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến và bảo vệ môi trường sinh thái
Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo vùng lãnh thổ: là tỷ lệ phân bố của
các ngành kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh thổ sao cho thích hợp và sử dụng có hiệu quả lợi thế của vùng
Trên thế giới, các vùng kinh tế nông nghiệp được hình thành và phát triển căn cứ vào những điều kiện tự nhiên, KT-XH và chiến lược phát triển quốc gia đối với từng khu vực Mục đích của việc xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng một cách hợp lý là nhằm bố trí các ngành theo vùng sao cho thích hợp và sử dụng
có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của từng vùng
Ở nước ta có: vùng chuyên canh cây công nghiệp ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên; vùng chuyên canh cây lương thực ở ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng; vùng lâm nghiệp ở trung du miền núi phía Bắc, vùng nuôi trồng - khai thác thủy hải sản ở duyên hải miền Trung, ĐBSCL
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế: là tỷ lệ phân bố của các
thành phần kinh tế tham gia tổ chức sản xuất kinh tế nông nghiệp
Các thành phần kinh tế nông nghiệp ra đời và phát triển do yêu cầu của sản xuất và nâng cao đời sống của dân cư nông thôn Trên cơ sở yêu cầu và khả năng phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, các thành phần kinh tế hợp tác với nhau,
Trang 29đan xen vào nhau một cách đa dạng với nhiều loại quy mô, trình độ và hình thức khác nhau
Ở Việt Nam, tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp có nhiều thành phần kinh tế như: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể; kinh
tế hộ gia đình Trong đó, kinh tế hộ gia đình là đơn vị sản xuất kinh doanh chính,
là lực lượng chủ yếu trực tiếp tạo ra các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản cho nền kinh
tế quốc dân
Kinh tế nông nghiệp là một chu trình khép kín mà các khâu của quá trình tái sản xuất liên quan chặt chẽ với nhau từ sản xuất đến chế biến và dịch vụ Vì vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần được hiểu trong mối quan hệ giữa sản xuất, chế biến và
dịch vụ phục vụ nông nghiệp Do đó, cơ cấu kinh tế nông nghiệp phản ánh các mối
quan hệ được xác lập theo một tỷ lệ cân đối cả về số lượng và chất lượng giữa các khâu của quá trình tái sản xuất nông nghiệp Trong đó, khâu SXNN là khâu quyết
định, nhưng khâu chế biến cũng rất quan trọng, vì nó làm tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp Với tư cách là cầu nối giữa sản xuất và chế biến, dịch vụ vừa cung cấp lại vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất và người chế biến Duy trì các mối quan hệ tỷ lệ giữa sản xuất - chế biến - dịch vụ không những đảm bảo cho SXNN diễn ra bình thường mà còn làm tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất hàng hóa và nhất là tăng giá trị nông sản hàng hóa xuất khẩu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ một trạng thái nhất định tới trạng thái phát triển tối ưu để đạt được hiệu quả mong muốn, thông qua sự điều khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan [28, tr22]
Ở Việt Nam, khi nói đến cơ cấu SXNN thì thường xét cơ cấu theo ngành và thành phần kinh tế Trong luận văn chỉ tập trung làm rõ cơ cấu kinh tế theo ngành nhằm làm rõ sự phát triển của các ngành kinh tế nông nghiệp ở Bình Tân
Trang 301.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Phát triển SXNNHH ngày nay phụ thuộc nhiều vào yếu tố KHCN, người sản xuất có thể ít nhiều “nhân tạo hóa” các yếu tố tự nhiên nhưng về căn bản vẫn phải dựa vào tự nhiên – đối tượng lao động số một của SXNN Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của SXNNHH bao gồm: vị trí địa lí, đất, khí hậu, nguồn nước
* Vị trí địa lí:
Vị trí địa lí là nhân tố hàng đầu quyết định điều kiện hình thành và phát triển SXNNHH của một vùng, lãnh thổ Hiện nay, vị trí địa lí được đánh giá là nguồn lực mềm trong phát triển KT-XH của từng địa phương, quốc gia Việc phân tích đầy đủ
ý nghĩa của vị trí địa lí của một lãnh thổ sẽ giúp cho việc tổ chức sản xuất, phân công lao động xã hội đạt hiệu quả cao Trong SXNNHH, một địa phương có vị trí địa lí nằm gần các thị trường lớn, các trung tâm thành phố, các khu công nghiệp, dân cư, trục giao thông chính… là một thuận lợi rất lớn trong tiêu thụ nông sản hàng hóa tạo ra Ngược lại, nếu một địa phương có lợi thế SXNN nhưng vị trí lại không thuận lợi (do cách xa thị trường, giao thông khó khăn…) sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ nông sản và tính cạnh tranh của nông sản cũng sẽ thấp hơn so với những địa phương có vị trí thuận lợi, từ đó gây trở ngại cho việc hình thành và phát triển nền NNHH tại địa phương đó
* Đất:
Trong SXNN nói chung và cả SXNNHH điều kiện quan trọng hàng đầu quyết định cho hoạt động sản xuất đó là đất đai Đất đai chính là tư liệu sản xuất chính của nông nghiệp Mặc dù KHCN đã có nhiều tiến bộ (như người sản xuất nông nghiệp có thể không cần đất), tuy nhiên đất vẫn giữ vai trò quan trọng và là nhân tố quyết định đến tổ chức sản xuất nông nghiệp chung và SXNNHH nói riêng
Do đó, các tiêu thức của đất đai cần được phân tích, đánh giá về mức độ thuận lợi
Trang 31hay khó khăn cho SXNNHH như: tổng diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp; đặc điểm về chất đất; đặc điểm về địa hình, về cao độ của đất đai Điểm cơ bản cần lưu
ý khi đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai là phải gắn với từng loại cây trồng cụ thể Rất có thể một đặc điểm nào đó của đất đai là khó khăn cho phát triển loại cây trồng này, nhưng lại là thuận lợi cho phát triển loại cây khác Đồng thời cũng cần xem xét trong từng thời vụ cụ thể trong năm về ảnh hưởng của đất đai đối với sản xuất một loại cây trồng cụ thể
* Khí hậu
Điều kiện khí hậu có ý nghĩa quyết định về tổ chức sản xuất và sự chuyên môn hóa trong SXNNHH Những thông số cơ bản của khí hậu như: nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình, độ ẩm không khí; thời gian chiếu sáng, chế độ gió, những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như sương muối, mưa đá, tuyết rơi, sương mù đều phải được phân tích, đánh giá về mức độ ảnh hưởng đến sự phát triển của từng loại cây trồng cụ thể
* Nguồn nước
Ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét Nguồn nước bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, hoặc khả năng đưa nước từ nơi khác đến vùng sản xuất mà chúng ta đang xem xét Lợi thế về nguồn nước cho phép vùng SXNNHH chủ động tổ chức sản xuất được diễn ra quanh năm
Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên được xem như cơ sở tự nhiên của phân công lao động trong nông nghiệp Đa phần chuyên môn hoá theo vùng trong nông nghiệp cho đến thời đại ngày nay, đều xuất phát từ sự khác biệt về điều kiện
tự nhiên, trong đó chủ yếu xuất phát từ sự khác biệt về khí hậu và nguồn nước Sự chuyên môn hoá giữa vùng này và vùng khác trong một quốc gia, hoặc giữa quốc gia này với quốc gia khác trên phạm vi thế giới, cơ bản đều xuất phát từ sự khác biệt của điều kiện khí hậu Đó là cơ sở tự nhiên cho sự phân công lao động quốc tế
Trang 321.1.4.2 Những nhân tố kinh tế - xã hội
* Lao động
Lao động đóng vai trò chủ động trong việc phát triển SXNNHH Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm cùng với những kiến thức, KHKT của người lao động sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng về sản phẩm trong SXNNHH Để người lao động nông nghiệp phát huy hết năng lực của mình trong phát triển NNHH cần có một khung cảnh xã hội năng động, dân chủ và một trình độ tổ chức quản lý kinh tế -
xã hội văn minh, tiến bộ và ngày càng hiện đại
* Thị trường
Thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của SXNNHH, chính thị trường đã tạo ra nhu cầu, động lực cho người sản xuất ra nông sản hàng hóa Thị trường hoạt động theo các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu…; ngoài ra còn phụ thuộc vào văn hóa, phong tục tập quán, trình độ phát triển của dân cư xã hội… điều này đòi hỏi người sản xuất phải nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật kinh tế để hoạt động sản xuất của mình đạt hiệu quả kinh tế cao
Trong SXNNHH cần xây dựng thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp và thị trường sản phẩm đầu ra Không thể chỉ coi trọng thị trường sản phẩm đầu ra, mà coi nhẹ thị trường các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, vật tư kỹ thuật, công nghệ, tư liệu sản xuất…) Thực tiễn cho thấy rằng, nếu sản xuất ra những nông sản không đạt yêu cầu về chất lượng, sản phẩm có giá thành cao, thì dù công tác tiếp thị được tiến hành hoàn hảo đến mấy cũng là vô ích
* Giao thông vận tải
Giao thông vận tải cũng có tác động quan trọng đến sự tồn tại và phát triển đối với SXNNHH vì đáp ứng nhu cầu vận chuyển khối lượng lớn hàng hóa nông sản từ những vùng sản xuất ra thị trường tiêu thụ Điều kiện về giao thông vận tải còn quyết định đến giá thành của nông sản, nếu giao thông thuận lợi thì giá thành
Trang 33của nông sản hàng hóa sẽ thấp đi và khả năng cạnh tranh sẽ được nâng lên Vì vậy,
dù là nhân tố bên ngoài nhưng các vùng SXNNHH phải thích ứng với điều kiện của giao thông vận tải; sự thích ứng ở đây không mang tính bất biến như đối với điều kiện tự nhiên vì điều kiện giao thông vận tải ngày càng được giải quyết tốt hơn, nhờ khả năng đầu tư để xây dựng hệ thống giao thông ngày càng tăng
* Khoa học công nghệ - kỹ thuật
Những tiến bộ của KHCN nhất là công nghệ sinh học, công nghệ gen trong sản xuất và cung ứng giống cây trồng, vật nuôi mới đã tạo ra cuộc cách mạng trong nông nghiệp Nhiều loại giống cây, con có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt cho phép tăng qui mô sản lượng hàng hoá mà không cần mở rộng diện tích canh tác Các loại giống mới có sức kháng chịu dịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi; ổn định sản lượng sản phẩm hàng hoá Đặc biệt, trong công nghệ ghép mắt của cây trồng đã trưởng thành vào gốc cây trồng non đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các vùng chuyên canh cây trồng dài ngày mau chóng cho sản phẩm, rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản của vườn cây, ổn định tính năng di truyền những phẩm chất tốt của cây cung cấp mắt ghép, đồng thời lại có sức sinh trưởng cao của gốc cây non Với công nghệ mới đó, các loại cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp dài ngày đang có những bước tăng trưởng cao trong những năm gần đây
Sự phát triển của quy trình công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm đang tạo ra những điều kiện có tính cách mạng để vận chuyển sản phẩm đi tiêu thụ tại những thị trường xa xôi thay vì tiêu thụ tại chỗ Cũng qua công nghệ sản phẩm có thời gian tiêu thụ lâu thay vì chỉ được tiêu dùng trong một khoảng thời gian ngắn vào thời vụ thu hoạch, thì hiện nay có điều kiện để tiêu thụ nông sản dài hơn, thậm chí là quanh năm Công nghiệp chế biến góp phần đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng cuối cùng Ví dụ, thay vì chỉ tiêu thụ dứa quả tươi, ngày nay, công nghiệp chế biến còn cung cấp cho thị trường dứa khoanh, dứa miếng và đặc biệt là nước dứa cô
đặc thông qua quá trình chế biến đã làm tăng giá trị nông sản [26, tr176]
Trang 34* Ngoài ra đường lối, chính sách phát triển kinh tế cũng đóng vai trò quan
trọng đối với sự phát triển SXNNHH Sự thuận lợi hay khó khăn về nguồn vốn đầu
tư, chuyển giao KHKT, xúc tiến thương mại, thị trường… đối với SXNNHH đều do đường lối, chính sách phát triển của từng quốc gia, địa phương quyết định
1.1.5 Ý nghĩa kinh tế của việc phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Thứ nhất, thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động trong nông nghiệp
SXNNHH tạo ra sản phẩm rất đa dạng bao gồm sản phẩm từ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Mỗi ngành lại có phân ngành nhỏ hơn chẳng hạn như trong ngành nông nghiệp lại phân thành trồng trọt và chăn nuôi; trong trồng trọt có cây lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày… Khi phát triển SXNNHH sẽ thúc đẩy phân công lao động ngày càng sâu sắc không chỉ ở nhóm ngành cụ thể, mà cả vùng nông nghiệp cũng sẽ được phân thành vùng nhỏ hơn; phân công lao động còn tạo được mối liên kết chặt chẽ với các ngành công nghiệp và dịch vụ đặc biệt là công nghiệp nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp Nhìn chung trong nền kinh tế NNHH, tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng lao động công nghiệp nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp ngày càng tăng; đối với ngành nông nghiệp thì nông nghiệp thuần túy giảm, chăn nuôi và thủy sản tăng Việc phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp hợp lí sẽ góp phần làm tăng tỷ suất giá trị nông sản, ổn định và nâng cao chất lượng đời sống cho nông dân
Thứ hai, kích thích quá trình đổi mới công nghệ trong sản xuất Đặc điểm
chung của SXNNHH là tạo ra nông sản đáp ứng cho nhu cầu của thị trường Chính thị trường đã đặt ra những yêu cầu về chất lượng và số lượng của nông sản vì thế để nông sản được tiêu thụ thuận lợi đặc biệt là ở thị trường quốc tế buộc người sản xuất phải đẩy nhanh ứng dụng những tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất để đạt năng suất, chất lượng cũng như giá trị nông sản ngày một cao hơn
Thứ ba, làm thay đổi diện mạo kinh tế nông nghiệp – nông thôn Để thực
hiện thành công CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn trước hết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa thì người nông dân mới có
Trang 35thể thay đổi tập quán sản xuất, tiếp cận KHKT, các mô hình, phương thức sản xuất hiện đại Đẩy nhanh thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa trong nông nghiệp – nông thôn rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam từ sau đổi mới đến nay
1.2.1.1 Các chủ trương, chính sách chủ yếu
Giai đoạn 1986 – 1990: Đại hội Đảng lần VI (1986) được xem là bước ngoặt
đưa nền kinh tế nước ta chuyển sang phát triển theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Sự điều chỉnh cấu trúc nền kinh tế đã tạo điều kiện để phát triển
đa dạng ngành kinh tế gắn với phát triển ổn định, hướng nông nghiệp vào xuất khẩu đưa nền kinh tế từng bước thoát khỏi tình trạng bao cấp lạc hậu Bước đầu đã giải quyết được cơ bản nhu cầu lương thực của xã hội, có dư dự trữ và xuất khẩu Tuy nhiên cơ cấu sản xuất vẫn nặng về thuần nông, tỷ suất giá trị hàng hóa nông sản đạt thấp
Giai đoạn 1991 –2000: Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa VII đã ban hành nghị định tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn Đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng SXHH trong quá trình CNH, HĐH là nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; phát triển kinh tế nhiều thành phần; thực hiện chính sách giao quyền sử dụng đất thúc đẩy nền nông nghiệp nước ta có bước phát triển mới
Giai đoạn 2001 – 2010: chiến lược phát triển kinh tế đất nước dựa trên việc
đẩy mạnh CNH, HĐH, đẩy nhanh tăng trưởng công nghiệp trên cơ sở phát triển song song nông nghiệp Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, tập trung vào 3 khía cạnh: nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển mạng lưới giao thông [5, tr 116]
Trang 36Năm 2007, khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO nền kinh tế nước ta thật
sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế và chịu tác động từ nền kinh tế quốc tế Các cam kết khi gia nhập WTO đã tác động rất lớn đến sản xuất nông nghiệp Việt Nam
Từ việc quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh, ứng dụng KHKT hiện đại, sử dụng các giống cho năng suất và chất lượng cao, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP giúp cho nông sản Việt Nam ngày có chỗ đứng trong thị trường quốc
tế Nhiều hàng hóa nông sản đã gia tăng thị phần và chiếm vị trí cao trên thế giới
như: hạt điều, hạt tiêu chiếm vị trí thứ nhất, lúa gạo, cafe chiếm vị trí thứ hai, cao su thứ tư, chè thứ năm và thủy sản thứ bảy…
1.2.1.2 Những thành tựu cơ bản của SXNNHH ở Việt Nam hiện nay
* Sản xuất lương thực tiếp tục tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường
Từ năm 2005 – 2010, GTSX nông nghiệp đều tăng nhưng tốc độ tăng trưởng không đều, bình quân là 4,3%/năm Đến cuối năm 2010, sản lượng lương thực của
cả nước đạt hơn 44,6 triệu tấn, nâng mức lương thực bình quân đầu người lên 513
kg Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để một nước đang phát triển thực hiện đẩy mạnh CNH thật sự Xuất khẩu gạo đạt 6,9 triệu tấn khẳng định được vấn đề đảm bảo an ninh lương thực và vai trò cung cấp lương thực cho thế giới của Việt Nam
Ngoài cây lương thực, các sản phẩm trồng trọt khác cũng có mức tăng trưởng khả quan đặc biệt là nhóm cây ăn quả, cao su, cafe, chè, hồ tiêu diện tích tăng đều qua các Riêng cây điều nhiều năm liền được xem là cây có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam nhưng hiện nay diện tích và giá trị sản lượng giảm mạnh do thị trường tiêu thụ thu hẹp
Đóng góp vào việc tăng sản lượng lương thực và sản lượng các cây trồng khác chủ yếu dựa vào các nhân tố sau:
- Nguồn vốn đầu tư phát triển nông lâm, thủy sản từ Nhà nước tăng qua các năm, năm 2010 chiếm khoảng 6,9% tổng vốn đầu tư phát triển (theo giá cố định)
Trang 37- Áp dụng rộng rãi các thành tựu công nghệ sinh học, đặc biệt là áp dụng các loại giống mới vào sản xuất
- Các diễn biến về giá cả nhìn chung có lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp Ðặc biệt năm 2008 giá cả nông sản thế giới (nhất là lương thực) tăng cao đều này đã kích thích quá trình sản xuất trong nước
- Các điều kiện tự nhiên trong những năm gần đây khá thuận lợi cho việc mở rộng phát triển sản xuất nông nghiệp
* Chăn nuôi phát triển toàn diện theo hướng SXHH
Từ năm 2005 - 2010, ngành chăn nuôi nước ta có rất nhiều biến động Ảnh
hưởng của dịch bệnh (cúm H5N1, bệnh “lỡ mồm, long móng” ở gia súc, dịch “heo
tai xanh”…) hoạt động chăn nuôi của hộ gia đình thu hẹp lại Cụ thể:
Chăn nuôi trâu, bò: số lượng đàn có giảm kể từ năm 2009, tuy nhiên sản
lượng vẫn tăng qua các năm Hiện nay, chăn nuôi bò lấy sữa có hướng phát triển nhanh, năm 2010 sản lượng sữa tươi 306,7 nghìn tấn, tăng 1,6 lần so với năm 2005 Nhiều địa phương trong cả nước có các chính sách hỗ trợ người nuôi con giống, lãi suất, tập huấn kỹ thuật nuôi
Chăn nuôi lợn: chiếm vị trí quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi, tổng đàn
gần 27,4 triệu con (2010) Với ưu thế là nhu cầu thị trường nội địa lớn đã kích thích sản xuất phát triển Tuy nhiên những biến động về giá cả thức ăn, giá tiêu thụ, dịch bệnh trong vài năm gần đây đã ảnh hưởng lớn đến tâm lí người nuôi, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, thậm chí các trang trại cũng đắn đo khi phát triển đàn
Chăn nuôi gia cầm: sau khi dập tắt được dịch cúm (2005), tăng trưởng đều
qua các năm, bình quân tăng 7,7%/năm Sản phẩm trứng gia cầm tăng mạnh, năm
2010 đạt 6896,9 triệu quả tăng 1,7 lần so với năm 2005 Hiện nay, chăn nuôi gia cầm phát triển theo hình thức trang trại kết hợp với trồng trọt và nuôi trồng thủy sản tạo thành quy trình sản xuất khép kín đạt hiệu quả rất cao
* Khai thác và chế biến lâm sản từ rừng trồng có bước tăng trưởng mạnh
Trang 38Giai đoạn từ 2005 - 2010, diện tích trồng rừng của nước ta tăng khá, bình quân hàng năm trồng mới hơn 200 nghìn ha Năm 2010, diện tích rừng trồng tập trung cao nhất đạt 252,5 nghìn ha; sản lượng gỗ khai thác tăng đạt 4.043 nghìn m3
tăng 1,3 lần so với năm 2005 GTSX lâm nghiệp trong trung bình tăng 2,9%/năm (theo giá cố định) Nhiều mô hình sản xuất lâm nghiệp được triển khai cho nhân dân như mô hình trồng rừng kết hợp khoanh nuôi hoặc mô hình VACR… từng bước xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc miền núi
Gỗ và các sản phẩm chế biến từ gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực đóng góp quan trọng trong giá trị xuất khẩu của nước ta Năm 2010 giá trị xuất khẩu đạt 3.436 triệu USD, tăng 2,2 lần so với năm 2005 Việc phát triển ngành lâm nghiệp có ý nghĩa KT-XH, môi trường, chính trị, an ninh – quốc phòng rất quan trọng ở nước ta đặc biệt là ở các vùng đồi núi biên giới
* Sản xuất thủy sản với quy mô ngày càng lớn và trở thành ngành mũi nhọn tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta
Với nhu cầu rất lớn từ thị trường thế giới cùng với điều kiện, môi trường nuôi, những năm qua diện tích nuôi trồng thủy sản nước ta mở rộng theo hướng thâm canh Từ năm 2005 - 2010, sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản liên tục tăng, năm 2010 đạt 153.170 tỷ đồng (theo giá thực tế) trong đó nuôi trồng chiếm hơn 60%
Bảng 1.1: Tình hình phát triển ngành thủy sản từ năm 2005 - 2010
Trang 39(Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê năm 2010)
* Kinh tế trang trại đã trở thành động lực của phát triển SXNNH
Kinh tế trang trại đóng vai trò quan trọng với quy mô sản xuất ngày càng lớn, gắn với thị trường Theo thống kê tính đến ngày 01 tháng 7 năm 2011 cả nước
có 20.065 trang trại (theo tiêu chí mới) sản xuất với mô hình, kỹ thuật tiên tiến đảm bảo chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu ĐBSCL
và Đông Nam Bộ là 2 vùng có nhiều trang trại nhất cả nước với 11.617 trang trại chiếm 58,3% (2010), bình quân 1 trang trại sử dụng 7,9 ha đất nông nghiệp Kinh tế trang trại phát triển góp phần tạo việc làm, giải quyết việc làm cho gần 100 nghìn lao động thường xuyên và nhiều lao động thời vụ, tạm thời ở các địa phương Tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại năm 2011 đạt gần 39 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 6% giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản), bình quân đạt 1.942 triệu đồng/trang trại [1]
Ngoài phát triển trang trại, việc hình thành các vùng sản xuất tập trung phù hợp với yêu cầu sinh học của các loại cây trồng như: cafe, điều, chè, cao su, vải, sầu riêng, xoài, thanh long… tạo điều kiện thuận lợi trong tổ chức sản xuất, thu hoạch,
Trang 40bảo quản và chế biến nông sản; đồng thời nâng cao giá trị nông sản hạn chế được những thất thoát trong quá trình sản xuất
* Thị trường được mở rộng kích thích quá trình đầu tư, mở rộng sản xuất
Ngoài các thị trường lớn là EU, Hoa Kì, Nhật Bản, Australia, Trung Quốc… Việt Nam đang đẩy mạnh xúc tiến thương mại với các thị trường ở khu vực Tây Á
và Châu Phi Bên cạnh đó, thị trường nội địa cũng được quan tâm chú trọng hơn đặc biệt trong thời kì kinh tế thế giới có nhiều khó khăn như hiện nay Nhiều chương
trình được Bộ Chính trị phát động như “Người Việt dùng hàng Việt”, “Hàng Việt
về với nông thôn” đã kích thích tiêu dùng nội địa Kim ngạch xuất khẩu các mặt
hàng nông, lâm, thủy sản của nước ta qua các năm đều tăng Tuy nhiên từ năm 2005 – 2010, cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản giảm Đều này phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chiến lược xuất khẩu của nước ta: đẩy mạnh tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp, giảm tỷ trọng xuất khẩu nhóm nông lâm thủy sản
Bảng 1.2: Giá trị xuất khẩu hàng nông lâm, thủy sản giai đoạn 2001 – 2010 Năm
Tổng kim ngạch XK (triệu USD)
Giá trị xuất khẩu nông- lâm - thủy sản (triệu USD)