Châu Thành đang trong quá trình công nghiệp nông nghiệp và nông thôn, nền kinh tế có sự phát triển đa dạng, tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch phù hợp với xu hướng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Văn Thắng
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE:
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Văn Thắng
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE:
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Địa lí học
Mã số : 60 31 05 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS MAI HÀ PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Mai Hà Phương Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn, cũng như kết quả luận văn của mình
TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013
Nguyễn Văn Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và nghiên cứu, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học - TS Mai Hà Phương đã tận tình chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Địa lí, Trường ĐHSP TP
Hồ Chí Minh đã giảng dạy, đào tạo, cung cấp kiến thức và những tài liệu quý giá Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học và các phòng ban khác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và thầy cô đồng nghiệp trong trường THPT Nguyễn Đình Chiểu nơi tôi công tác đã ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô, chú lãnh đạo và cán bộ, nhân viên các Phòng, Ban ngành của UBND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã nhiệt tình cung cấp tài liệu liên quan đến đề tài và giúp đỡ tôi trong quá trình thực địa, điều tra phục vụ đề tài
Cuối cùng, xin cám ơn bạn bè và người thân đã nhiệt tình ủng hộ, động viên, khích
lệ, chia sẻ những khó khăn và là nguồn động lực cần thiết để tôi hoàn thành đề tài luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Văn Thắng
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lí do ch ọn đề tài 6
2 M ục tiêu nghiên cứu 6
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu 7
4 Gi ới hạn nghiên cứu 7
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
6 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 10
7 C ấu trúc luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ13 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế 13
1.1.1 Các khái niệm 13
1.1.2 Các nguồn lực ảnh hưởng đến phát triển kinh tế 17
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế 21
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế 25
1.2.1 Phát triển kinh tế ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long 25
1.2.2 Phát triển kinh tế ở tỉnh Bến Tre 27
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE 33
2.1 Các ngu ồn lực phát triển kinh tế 33
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 33
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 33
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 41
2.1.4 Đánh giá chung về các nguồn lực phát triển kinh tế 52
2.2 Th ực trạng phát triển kinh tế huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre giai đoạn 2001 - 2011 54
2.2.1 Khái quát chung 54
2.2.2 Phát triển kinh tế theo ngành 57
2.2.3 Phát triển kinh tế theo lãnh thổ 93
2.2.4 Đánh giá chung 95
Trang 6CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HUY ỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE ĐẾN NĂM 2020 99
3.1 Định hướng phát triển 99
3.1.1 Cơ sở đề xuất định hướng 99
3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế 103
3.2 Các gi ải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế 120
3.2.1 Huy động và khai thác nguồn vốn 120
3.2.2 Đào tạo phát huy nguồn nhân lực 121
3.2.3 Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ 122
3.2.4 Chiến lược về thị trường 123
3.2.5 Đổi mới cơ chế chính sách, nâng cao năng lực quản lý 124
3.2.6 Bảo vệ và cải thiện môi trường 124
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 128
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 130
PH Ụ LỤC 132
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Địa lý kinh tế là một ngành khoa học xã hội, nghiên cứu các hệ thống lãnh thổ kinh
tế xã hội nhằm rút ra những đặc điểm và quy luật hình thành và hoạt động của chúng để vận dụng vào tổ chức không gian (lãnh thổ) tối ưu các hoạt động kinh tế xã hội trong thực tiễn
Nghiên cứu địa lý kinh tế có những đóng góp rất quan trọng về mặt lý luận, phương pháp, cũng như thực tiễn tổ chức không gian kinh tế - xã hội
Ở nước ta, huyện là đơn vị hành chính trực tiếp quản lý cấp xã/phường, thị trấn và tiếp cận với cấp tỉnh Huyện vẫn được coi là đơn vị cơ bản để phát triển kinh tế Phát triển kinh tế huyện có mối quan hệ chặt chẽ và là một mắt xích trong sự phát triển kinh của tỉnh, vùng và quốc gia Nghiên cứu phát triển kinh tế cấp huyện là một trong những vấn đề rất được quan tâm Đến tháng 11/2012, trên cả nước ta có 700 đơn vị hành chính cấp huyện Mỗi đơn vị hành chính cấp huyện có những đặc điểm và sắc thái riêng, tạo nên sự đa dạng cho nền kinh tế của đất nước
Châu Thành là một huyện nằm ở phần phía Bắc tỉnh Bến Tre và được xem là huyện cửa ngỏ của tỉnh Bến Tre Châu Thành đang trong quá trình công nghiệp nông nghiệp và nông thôn, nền kinh tế có sự phát triển đa dạng, tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch phù hợp với xu hướng chung Trong bối cảnh chung của đất nước hiện nay, Châu Thành đang đứng trước những vận hội lớn, nhưng cũng có nhiều thách thức không nhỏ Do đó việc đánh giá đầy đủ tiềm năng và thực trạng kinh tế của huyện là một vấn đề cấp thiết để từ đó xác định các mục tiêu, phương hướng phát triển trong giai đoạn mới, nhằm cân đối, hài hòa các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Đây là điều kiện
để nền kinh tế huyện hòa nhập vào quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Bến Tre nói riêng và
cả nước nói chung Vì thế, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển kinh tế huyện Châu Thành,
tỉnh Bến Tre: Hiện trạng và giải pháp” để thực hiện luận văn Thạc sĩ, với mong muốn góp
phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế, đề tài tập trung đánh giá những thuận lợi cũng như khó khăn của các nguồn lực và phân tích thực trạng phát triển kinh tế của huyện Châu Thành giai đoạn 2001-2011 Trên cơ sở đó đề xuất định hướng và
Trang 9đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế huyện Châu Thành đến năm
2020
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển kinh tế để vận dụng vào địa bàn cấp huyện
- Đánh giá các nguồn lực ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của huyện Châu Thành
- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế huyện Châu Thành giai đoạn 2001-2011
- Đề xuất định hướng và đưa ra các giải pháp cho phát triển kinh tế của huyện Châu Thành đến năm 2020
4 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các nguồn lực phát triển kinh tế và
thực trạng phát triển kinh tế theo ngành và lãnh thổ ở huyện Châu Thành
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Đây là quan điểm quan trọng trong nghiên cứu địa lý học Đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống, gồm nhiều phân hệ có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Một phân hệ thay đổi sẽ ảnh hưởng đến vận động của toàn hệ thống Huyện Châu Thành được coi là một hệ thống được đặt trong hệ thống lớn hơn là tỉnh Bến Tre và huyện Châu Thành như một hệ thống bao gồm các phân hệ cấp thấp hơn: các xã, thị trấn, ấp Do đó, cần phải tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống và trong cùng một hệ thống Ngoài ra,
Trang 10khi nghiên cứu các nguồn lực tự nhiên: khí hậu, tài nguyên đất, địa hình, tài nguyên nước là các hợp phần của hệ thống địa lý tự nhiên huyện Châu Thành Các nguồn lực KT - XH là những hợp phần trong hệ thống địa lý KT - XH của huyện Trong mỗi địa hệ và giữa các địa
hệ với nhau đều có những mối quan hệ tương tác
5.1.2 Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ
Quan điểm này đặc trưng cho nghiên cứu địa lý Các hiện tượng địa lý KT – XH rất phong phú và đa dạng Chúng có quá trình hình thành, phát triển trong mối liên hệ nhiều chiều giữa bản thân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúng với các hiện tượng khác Áp dụng quan điểm này cho phép nghiên cứu các vấn đề kinh tế huyện một cách toàn diện và chặt chẽ Ngoài ra, trong nghiên cứu một đối tượng địa lý cụ thể cần phải gắn với lãnh thổ, nghĩa là phải phân tích tổng hợp các nhân tố tự nhiên và KT - XH ảnh hưởng tới đối tượng nghiên cứu đó
Nghiên cứu kinh tế huyện Châu Thành cần đặt nó trong mối quan hệ với các hệ thống tự nhiên và xem xét sự phân hóa của nó trong không gian của huyện
5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh:
Khi nghiên cứu các đối tượng địa lý nhất thiết phải đặt đối tượng nghiên cứu trong tiến trình lịch sử Khi xem xét một hiện tượng địa lý KT – XH phải nghiên cứu quá khứ để
lý giải ở mức độ nhất định cho hiện tại và dự báo phát triển trong tương lai Nghiên cứu phát triển kinh tế huyện Châu Thành trong giai đoạn 2001 – 2011 cho phép chúng ta hiểu biết đầy đủ và sâu sắc tình hình phát triển kinh tế từ năm 2001 đến 2011, đồng thời dự báo
và định hướng sự phát triển trong tương lai Trong phát triển kinh tế, hoạt động sản xuất là một quá trình lâu dài, vận động theo thời gian, theo sự biến đổi của các nhân tố KT – XH Hiện trạng nền kinh tế là kết quả của xu hướng sản xuất trong những giai đoạn trước đó Do
đó, đặc điểm và xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện đại là cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển trong giai đoạn tiếp theo
5.1.4 Quan điểm kinh tế:
Quan điểm này được thể hiện qua một số chỉ tiêu kinh tế cụ thể được sử dụng để đánh giá như: tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, Trong nghiên cứu phát triển kinh tế huyện Châu Thành áp dụng quan điểm này để có thể thấy rõ hơn các chỉ tiêu về kinh tế cụ thể
5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững:
Trang 11Ngày nay, phát triển KT –XH phải xuất phát và dựa trên quan điểm phát triển bền vững Phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên, chống ô nhiễm
môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội Phát triển kinh tế phục vụ nhu cầu hiện tại không được không được làm ảnh hưởng đến lợi ích phát triển của thế hệ tương lai Kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư Do đó, quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững
về cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Đối với huyện Châu Thành nghiên cứu phát triển kinh tế phải đặt trong mối quan hệ giữa ba bộ phận cấu thành phát triển bền vững
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp này nhằm tổng hợp, đối chiếu các số liệu đã thu nhập Những con số thống kê không những chỉ thể hiện mặt lượng mà chúng còn có mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội Thông qua việc phân tích các số liệu thống kê và những mối liên hệ giữa chúng, ta có thể thấy được bản chất, đặc điểm của các hiện tượng
và quy luật kinh tế - xã hội Thông qua phương pháp thống kê, ta có thể phản ánh những mặt khác nhau, tốc độ phát triển theo thời gian và không gian của hoạt động sản xuất
5.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu
Khi nghiên cứu địa lý, nhất là địa lý KT - XH thì vấn đề quan trọng là thu
thập và xử lý tài liệu Phương pháp này cho phép người nghiên cứu thu thập, tổng hợp, phân tích có lựa chọn các loại tài liệu, số liệu đã xuất bản của các cơ quan, ban ngành của huyện Châu Thành, của tỉnh Bến Tre và trên mạng internet Các tài liệu, số liệu được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, được phân tích và xử lí cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu giữa các tài liệu, đặc biệt là giữa các số liệu có sự so sánh giữa các mốc thời gian và giữa các đơn vị lãnh thổ
5.2.4 Phương pháp bản đồ và sử dụng công nghệ GIS
Trang 12Phương pháp bản đồ là phương pháp đặc thù trong nghiên cứu địa lý học Từ kết quả thu được, thành lập bản đồ mô tả hiện trạng kinh tế, sự phân bố các hiện tượng địa lý kinh
tế, các mối quan hệ lãnh thổ trong không gian, mối quan hệ giữa chúng và những định hướng phát triển kinh tế Do đó bản đồ thể hiện rõ nhất kết quả tổng hợp của đề tài Sử dụng công nghệ GIS để xây dựng các bản đồ một cách chính xác, khoa học và đáp ứng yêu cầu của đề tài
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu vấn đề phát triển KT – XH là một nội dung quan trọng trong địa
lý học Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, nhiều giáo trình, tạp chí được xuất bản ít nhiều có đề cập đến tình hình phát triển KT -
XH Đối với kinh tế học C.Mác và Ph.Ăngghen đã có những đóng góp to lớn, sự ra đời của học thuyết “giá trị thặng dư” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhận thức, quan điểm về phát triển kinh tế, học thuyết kinh tế của C.Mác đã đưa ra 4 yếu tố nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế Nhiều học giả Phương Tây cũng đã cống hiến cho nhân loại nhiều học thuyết về phát triển kinh tế có giá trị như W.Rostow (người Mỹ) với lí luận về các giai đoạn phát triển kinh tế, lí luận về cơ cấu kinh tế (kết cấu kinh tế) của Lewis, Feller, Ranis
Ở Việt Nam, từ khi bắt đầu đổi mới, Đại hội Đảng VI (1986) đã đưa ra quan điểm là phải tập trung ưu tiên phát triển kinh tế Đã có nhiều nghiên cứu chuyên ngành, nhiều nhà khoa học đã viết về phát triển KT - XH Đó là Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương, Viện Kinh tế Việt Nam, Các tạp chí nghiên cứu sâu sắc về KT - XH: Tạp chí nghiên cứu kinh tế, Thời báo kinh tế Việt Nam; nhiều giáo trình viết về kinh tế phát triển của Trường Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội), trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Phát triển KT - XH trên quan điểm địa lý học cũng được đề cập nghiên cứu, có thể kể đến các giáo trình: Địa lý kinh tế - xã hội đại cương do Nguyễn Minh Tuệ chủ biên; Địa lý kinh tế -
xã hội Việt Nam (phần đại cương) do GS Nguyễn Viết Thịnh và GS.TS Đỗ Thị Minh Đức biên soạn, Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam do GS Lê Thông chủ biên,…
Nghiên cứu KT - XH của một vùng như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó
có tỉnh Bến Tre đã có các công trình tiêu biểu là:
“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006
Trang 13“Qu y hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012 – 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu nước biển dâng”, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, năm 2006
“ Quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”, Bộ Bộ xây dựng, năm 2005
Các công trình nghiên cứu và tài liệu trên đây đã đề cập tới vấn đề phát triển kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó tập trung đánh giá nguồn lực phát triển kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phân tích thực trạng phát triển kinh tế của vùng Từ
đó, đưa ra những định hướng phát triển theo ngành, theo lãnh thổ trong giai đoạn tiếp theo
Nghiên cứu về kinh tế tỉnh Bến Tre cho đến nay đã có 1 số công trình được công bố như sau:
“Q uy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020” Ủy ban nhân
dân tỉnh Bến Tre, năm 2008
“Quy ho ạch phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020” Sở Công thương
tỉnh Bến Tre, năm 2011
“Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn tỉnh Bến Tre trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa: Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Địa lý chuyên ngành Địa
lý học của Phạm Văn Đông (Trường Đại học sư phạm TP HCM, 2011)
“Phát triển cây ăn trái tỉnh Bến Tre: Tiềm năng và định hướng”, Luận văn Thạc sĩ
Địa lí học của Nguyễn Thị Cẩm Thúy (Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, 2011)
“Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Bến Tre”, Luận văn thạc sĩ Địa lý
học của Trần Thị Thạy (Trường Đại học Sư phạm TP HCM, 2011)
Các công trình này tập trung phân tích các điều kiện cho phát triển kinh tế và tình hình phát triển kinh tế theo ngành và lãnh thổ toàn tỉnh
Nghiên cứu về phát triển kinh tế cấp huyện là đề tài chưa được nhiều học viên cao học, chuyên ngành Địa lí học, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh lựa chọn Các đề tài về cấp huyện chủ yếu:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng): Thực trạng và định hướng”, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học của Nguyễn Chí Tuấn (Trường Đại học
Sư phạm TP.HCM, 2012)
“Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh”, Luận văn
Thạc sĩ chuyên ngành Địa lí học của Nguyễn Thành Lập (Trường Đại học
Trang 14Sư phạm TP.HCM, 2011)
Về huyện Châu Thành, từ khi đổi mới đến nay đã có một số báo cáo, nhiều tạp chí, nhiều chương trình, mục tin trên mạng internet nói về tình hình phát triển kinh tế của huyện Những thông tin về tình hình phát triển kinh tế huyện Châu Thành giai đoạn 2001 – 2011 và đến 2020 được đề cập trong một số tài liệu có độ tin cậy cao, như: Quy hoạch tổng thể KT -
XH huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) đến năm 2020, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre, huyện Châu Thành, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH hàng năm, từng giai đoạn và các mục tiêu giải pháp, kế hoạch năm sau Ngoài ra, có thể tìm thấy thông tin giá trị từ một số nghiên cứu: Địa lý địa phương tỉnh Bến Tre, và một số sách, báo, tạp chí viết về tỉnh Bến Tre Trong đó, tài liệu có giá trị phải kể tới: Báo cáo tổng hợp của Chi cục thống kê huyện Châu Thành, Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre; Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Châu Thành lần X; Kế hoạch phát triển KT - XH huyện Châu Thành giai đoạn 2011 - 2015 của UBND huyện Châu Thành, Huyện uỷ Châu Thành và một
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của
đề tài được cấu trúc thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế
- Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển kinh tế huyện Châu Thành giai đoạn
2001 - 2011
- Chương 3: Định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế huyện Châu Thành đến năm 2020
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Khi sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một nước tăng lên bằng bất kỳ cách nào thì đó được coi là tăng trưởng kinh tế
Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người
Bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là
sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học công nghệ và nguồn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý
Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia không theo đuổi những giá trị giống nhau
Có những nước coi trọng sự tăng trưởng về số lượng, về thu nhập và tổng sản phẩm hơn là những thay đổi về chất lượng, về cơ cấu kinh tế xã hội và về chất lượng cuộc sống, đó là quan điểm tăng trưởng thuần túy
Những con số thể hiện sự tăng trưởng không phản ánh sự vận động đi lên của xã hội, không cho phép biết được tình hình phân phối thu nhập quốc dân, cơ cấu kinh tế xã hội, tính năng động của công nghiệp và tình hình phúc lợi xã hội Hay nói cách khác khái niệm tăng trưởng kinh tế thuần túy chỉ chú trọng đến số lượng Vì vậy, để đánh giá sự phát triển kinh
tế mang tính tổng hợp hơn, toàn diện và theo chiều sâu hơn, người ta đưa ra khái niệm “Phát triển”
1.1.1.2 Phát triển kinh tế
Trang 16“Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất; nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia” [ 10]
Theo cách hiểu như vậy, nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo 3 tiêu chí:
Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình
quân trên một đầu người Đây là tiêu chí thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh
tế (tăng trưởng kinh tế), là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu chí phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Đối với các nước đang phát triển, đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được Quá trình thay đổi cơ cấu ngành kinh tế là theo hướng tiến bộ, bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế tạo cơ sở cho việc đạt được tiến bộ xã hội một cách sâu rộng Đó cũng là quá trình gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực khoa học công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực của đất nước
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội từ kết quả của sự tăng trưởng kinh tế
Như vậy, mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải
là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng,
sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình
độ dân trí giáo dục của người dân… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển
1.1.1.3 Cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế:
Hiện nay trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế Phân tích quá trình phân công lao động xã hội, C Mác cho rằng: “Cơ cấu kinh
tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định
Trang 17của lực lượng sản xuất vật chất” “Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu kinh tế của xã hội” “Cơ cấu là một sự phân chia
về chất và một tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội” [10]
Cơ cấu kinh tế được hiểu là mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện KT – XH nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất kinh tế trong quá trình phát triển
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có mối quan hệ hữu
cơ tương đối hợp thành và mỗi thành phần có vị trí, tỷ trọng tương ứng
Như vậy, cơ cấu kinh tế được hiểu là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lượng, cả về số lượng lẫn chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam (1995): “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành,
lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [15]
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về cơ cấu kinh tế nhưng nhìn chung đều thể hiện rõ các mặt chủ yếu sau:
- Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia
- Số lượng và tỉ trọng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân
- Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành
Cơ cấu nền kinh tế bao gồm ba bộ phận cơ bản hợp thành: Cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các bộ phận kinh tế, dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa chúng và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không phải là cố định Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hay sự thay đổi
về quan hệ tỉ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế Nguyên nhân do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế không đồng đều Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái
Trang 18khác cho phù hợp với môi trường phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả
về chất và lượng trong nội bộ cơ cấu kinh tế
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên nền tảng cơ sở một cơ cấu hiện có, do
đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế mới Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự thay đổi cơ cấu trên ba mặt: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ Nhằm mục đích hướng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu KT – XH đã xác định cho từng thời kì phát triển
1.1.1.4 Nguồn lực
Nguồn lực là một khái niệm có nội hàm rất rộng Nó bao gồm toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, phát triển KT – XH của một quốc gia
“Nguồn lực phát triển KT – XH là tổng thể vị trí địa lý và nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực con người cũng như các yếu tố phi vật thể
kể cả ở trong và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển KT – XH” [15]
Hiện nay, nguồn lực trở thành thuật ngữ sử dụng phổ biến trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng như trong các công trình, tài liệu nghiên cứu, các phương tiện thông tin và cả trong đời sống hàng ngày Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực nhưng cơ bản chúng đều thống nhất ở những điểm sau:
- Nguồn lực là tiền đề không thể thay thế được để phát triển KT – XH của mỗi quốc gia
- Nguồn lực có vai trò thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển kinh tế
- Nguồn lực tạo điều kiện đa dạng hóa cơ cấu nền kinh tế với việc hình thành các ngành chuyên môn hóa trên cơ sở khai thác các lợi thế so sánh thông qua sản phẩm hàng hóa được sản xuất hàng loạt, đáp ứng nhu cầu của thị trường
Nhìn chung mỗi vùng lãnh thổ có thế mạnh riêng về nguồn lực Nhờ quá trình phân công lao động xã hội theo lãnh thổ mà mỗi vùng lãnh thổ đó sẽ có những hàng hóa tiêu biểu, góp phần hội nhập vào thị trường trong, ngoài nước và phát triển bền vững
Từ các nội dung trên cho thấy nguồn lực có những đặc điểm sau:
Trang 19Một là, nguồn lực tạo ra một nền kinh tế không phải chỉ bao gồm các yếu tố sản xuất
vật chất mà còn có các yếu tố chính trị - xã hội Trong nền kinh tế hiện đại, các yếu tố chính trị - xã hội có vị trí hết sức quan trọng
Hai là, cơ cấu của nguồn lực không cố định mà có sự biến động (về thành phần, vai trò và vị trí của từng yếu tố) cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của xã hội loài người
1.1.2 Các nguồn lực ảnh hưởng đến phát triển kinh tế
Hiện nay, có rất nhiều nguồn lực tham gia vào quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia hay vùng lãnh thổ Do vậy, khi nghiên cứu, người ta thường phân chia nguồn lực thành các nhóm để phân tích, đánh giá các đặc điểm, tính chất của chúng để
từ đó có giải pháp thích hợp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực đó vào quá trình phát triển kinh tế Sự phân loại các nguồn lực phát triển cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau
Dựa vào tính chất của nguồn lực, người ta chia nguồn lực phát triển thành hai nhóm: nguồn lực sản xuất vật chất và nguồn lực chính trị - xã hội
1.1.2.1 Nhóm nguồn lực sản xuất vật chất:
Nhóm này bao gồm: nguồn lực tự nhiên (vị trí địa lý, điều kiện và tài nguyên thiên nhiên), nguồn nhân lực, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực tài chính (vốn) Đây là các nguồn lực trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Nhưng mức độ tham gia của các nguồn lực phụ thuộc trước hết vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tính chất của từng loại sản phẩm và hiệu quả sử dụng các nguồn lực phát triển Ngoài ra mức độ tham gia của các nguồn lực vào quá trình sản xuất còn phụ thuộc vào cơ chế quản lý và hệ thống chính sách của nhà nước
Nguồn lực tự nhiên:
- Vị trí địa lý:
Nguồn lực này tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, vị trí địa lí là nguồn lực góp phần định hướng phát triển có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế, xây dựng mối quan hệ song phương hay
đa phương của mỗi quốc gia
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
Đây là nguồn lực gồm các yếu tố (hay thành phần) của tự nhiên mà con người có thể khai thác sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Số lượng và quy
Trang 20mô tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển của sức sản xuất Sức sản xuất ngày càng phát triển thì phạm vi tài nguyên ngày càng được mở rộng
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, đất, sinh vật và khoáng sản Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia, là nguồn lực cơ bản và tiền đề cho quá trình sản xuất, tạo ra của cải phục vụ đời sống con người Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên là điều kiện cần nhưng chưa đủ và chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả Mặt khác để khai thác có hiệu quả thì việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng Trong đó bao gồm đánh giá về mặt số lượng, chất lượng, công nghệ, kĩ thuật khai thác và tính hiệu quả kinh tế Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận Vì thế bên cạnh việc sử dụng tiết kiệm cần phải khai thác một cách có hiệu quả trên cơ sở bảo vệ, tái tạo tài nguyên thiên nhiên tiến tới phát triển bền vững
Nguồn nhân lực:
Nguồn lao động là nguồn lực quan trọng có ý nghĩa đặc biệt và đóng vai trò quyết định đối với việc phát triển kinh tế Nguồn lao động không chỉ tạo nên của cải vật chất nuôi sống con người mà còn sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng vào quá trình sản xuất
Vai trò của nguồn lao động đối với việc phát triển kinh tế và phân bố sản xuất thể
hiện ở hai khía cạnh sau:
- Nguồn lao động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử dụng có hiệu quả và phát triển các nguồn lực khác trong quá trình phát triển kinh tế Đây là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của bất kỳ hoạt động kinh tế nào, là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm, tạo
ra sự tăng trưởng cho các ngành kinh tế Quy mô, kết cấu, trình độ và sự phân bố là điều kiện hình và phát triển các ngành kinh tế Trong điều kiện hiện nay, nguồn lao động có chất lượng cao là điều kiện phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ cao vào các ngành sản xuất và đời sống Sự phân bố nguồn lao động tác động đến sự phân bố các ngành kinh tế nhất là các ngành đòi hỏi nhiều lao động
- Nguồn lao động là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ xã hội tham gia tạo cầu cho nền kinh tế Quy mô, cơ cấu tiêu dùng của nguồn lực này ảnh hưởng lớn đến quy mô,
cơ cấu sản xuất các ngành kinh tế, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Khoa học và công nghệ:
Trang 21Khoa học và công nghệ có vai trò thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, điều này thể hiện qua các nội dung sau:
- Khoa học và công nghệ làm mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế: mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm thay đổi chất lượng nguồn lao động theo hướng tiến bộ và mở rộng việc huy động vốn phục
vụ cho việc phát triển kinh tế Khoa học và công nghệ tác động đến việc khai thác các nguồn lực khác và tạo điều kiện chuyển chiến lược phát triển kinh tế theo chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào
- Khoa học và công nghệ thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Sự phát triển mạnh của khoa học và công nghệ dẫn đến phân công lao động trở nên sâu sắc, làm xuất hiện nhiều ngành (lĩnh vực) kinh tế mới có hàm lượng chất xám cao và tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tiến bộ (thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong các ngành kinh tế)
- Khoa học và công nghệ góp phần tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường Việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra hàng loạt sản phẩm mới với chất lượng cao, giá thành hạ, đủ sức đứng vững trên thị trường Một nước mạnh về tiềm lực khoa học và công nghệ sẽ có nhiều lợi thế trong việc chiếm lĩnh thị phần thế giới
Nguồn vốn:
Trong một quá trình sản xuất, vốn là yếu tố đầu vào nhưng lại là kết quả đầu ra của các quá trình sản xuất trước đó Nguồn vốn là nguồn lực tạo điều kiện quyết định để mở rộng và tăng cường đầu tư cho các ngành kinh tế, nâng cao trình độ kĩ thuật, công nghệ theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự gia tăng nhanh các nguồn vốn, việc phân bố và
sự dụng chúng một cách có hiệu quả sẽ tác động rất lớn đến tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nhiều việc làm, tăng cường xuất khẩu và tích lũy vốn cho nền kinh tế
Vốn đầu tư thường được huy động từ hai nguồn trong nước và ngoài nước Nguồn vốn đầu tư trong nước có ý nghĩa quyết định bao gồm: vốn từ ngân sách nhà nước, từ các doanh nghiệp và từ trong dân Nguồn vốn đầu tư ngoài nước có vai trò rất quan trọng đối với các nước đang phát triển khi bước vào thời kì công nghiệp hóa, đặc biệt là trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay
1.1.2.2 Nhóm nguồn lực chính trị - xã hội:
Nhóm này bao gồm rất nhiều yếu tố có tác động tích cực đến tăng trưởng và phát
Trang 22triển kinh tế nếu như được khai thác một cách hợp lí, có hiệu quả
Có thể nêu một số yếu tố cơ bản như sau:
Thể chế chính trị:
Đây là nguồn lực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Những lợi thế về thể chế chính trị có khả năng thu hút mọi nguồn lực cả trong lẫn ngoài nước phục vụ cho mục tiêu phát triển KT – XH Sự ổn định về chính trị là môi trường hấp dẫn các đầu tư Ngược lại, thể chế chính trị không ổn định, sẽ kéo theo suy thoái kinh tế
và tệ nạn xã hội gia tăng Như vậy, thể chế chính trị có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng, phát triển KT – XH và biểu hiện sự tập trung của kinh tế
Cơ chế, đường lối chính sách:
Đây là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển kinh tế Cơ chế quản lý và đường lối chính sách phù hợp, mang tính đột phá sẽ huy động t các nguồn lực Nếu chính sách thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn thì cũng không thể huy động, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngoài ra
cơ chế quản lý và chính sách không hợp lý sẽ dẫn đến khai thác, sử dụng lãng phí các nguồn lực và hiệu quả kém, kinh tế suy thoái, thậm chí dẫn đến khủng hoảng
Đặc điểm tôn giáo, truyền thống, dân tộc, tính cộng đồng:
Đây là các nguồn lực mang tính nhân văn, là sức mạnh tinh thần Nó khuyến khích mọi thành viên xã hội tự rèn luyện, nâng cao năng lực và ý chí để hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Tính cộng đồng cao sẽ tạo ra sức mạnh tập thể lớn hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả KT – XH
Kinh nghiệm về tổ chức và quản lí sản xuất:
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay, việc vận dụng các kiến thức khoa học, nắm bắt nhu cầu thị trường và kinh nghiệm quản lý vào quá trình tổ chức sản xuất
sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao và sản phẩm hàng hóa có chất lượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường Do vậy, kinh nghiệm tổ chức sản xuất kinh doanh không chỉ là yếu tố sản xuất đơn thuần, mà còn là nguồn lực rất quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
Ngoài ra, tiếp cận theo phạm vi lãnh thổ quốc gia, chia các nguồn lực phát triển thành hai nhóm là: nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn lực nước ngoài có ý nghĩa rất quan
Trang 23trọng đối với mọi quốc gia Nhưng nguồn lực nước ngoài chỉ bao gồm có nhóm nguồn lực sản xuất vật chất và kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất từ bên ngoài tác động vào Các nguồn lực trong nước bao gồm nhóm nguồn lực sản xuất vật chất và nhóm nguồn lực chính trị - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn lực trong nước nhiều hay ít, mạnh hay yếu phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của mỗi quốc gia Như vậy, thể chế chính trị, cơ chế, đường lối chính sách, đặc điểm dân tộc, tôn giáo, truyền thống, tính cộng đồng là các yếu tố nguồn lực phát triển riêng có của mỗi quốc gia, dân tộc, chứ không thể trao đổi, mua bán hay áp đặt dưới bất kỳ hình thức nào
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế
1.1.3.1 Các tiêu chí chung:
- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output):
Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định Tổng giá trị sản xuất có thể được tính theo hai cách Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các ngành trong toàn
bộ nền kinh tế Thứ hai, tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC -
Intermediational Cost) và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ (VA - value
added)
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product):
Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kì nhất định (thường là một năm) Đại lượng này thường được tiếp cận theo các cách khác nhau:
Về phương diện sản xuất: GDP là tổng giá trị gia tăng của các ngành, các khu vực sản xuất và dịch vụ trong nước sau khi đã trừ đi các chi phí trung gian
Về phương diện tiêu dùng: GDP được xác định là tổng giá trị của tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình (C); Các khoản chi tiêu của chính phủ (G); Tổng đầu tư tích lũy tài sản (I); Giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch nhập khẩu (X - M)
Về phương diện thu nhập: GDP được xác định trên cơ sở các khoản hình thành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, gồm: thu nhập của người có sức lao động dưới hình thức tiền công và tiền lương (W); thu nhập của người có đất cho thuê (R); thu nhập của người có tiền cho vay (In); thu nhập của người có vốn (Pr); khấu hao vốn cố định (Dp) và thuế kinh doanh (Tl)
- Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross National Income):
Trang 24Là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân của một nước tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này bao gồm các khoản thu nhập do đầu tư ở nước ngoài gửi về và trừ đi phần giá trị sản phẩm mà nền kinh tế quốc gia phải trả cho người nước ngoài dưới dạng lợi nhuận họ đã đầu tư vào nền kinh tế
- Thu nhập quốc dân (NI - National Income):
Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định Thu nhập quốc dân chính là tổng thu nhập quốc dân sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế Thu nhập quốc dân phản ánh phần của cải thực sự mới đư
ợc tạo ra hàng năm
- Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI - National Disposable Income):
Là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy thuần trong một thời kì nhất định Thực tế thu nhập quốc dân sử dụng là thu nhập quốc dân sau khi đã điều chỉnh các khoản thu, chi về chuyển nhượng hiện hành giữa các đơn vị thường trú và không thường trú
- Thu nhập bình quân đầu người:
Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu tổng thu nhập quốc nội và tổng thu nhập quốc dân còn được sử dụng để đánh giá mức thu nhập bình quân đầu người của mỗi quốc gia Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi của dân số Quy mô
và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và so sánh mức sống dân
cư với nhau
- Cơ cấu kinh tế:
+ Cơ cấu ngành (lĩnh vực) kinh tế:
Cơ cầu ngành kinh tế (gọi tắt là cơ cấu ngành) là tổng hợp các ngành (lĩnh vực) của nền kinh tế được sắp xếp theo một tương quan tỉ lệ nhất định Nói cách khác, cơ cấu ngành thể hiện số lượng, tỉ trọng của các ngành (lĩnh vực) tạo nên nền kinh tế Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế nói chung và trình độ phát triển sức sản xuất nói riêng Chỉ số về tỉ trọng giữa các ngành (lĩnh vực) cấu thành nền kinh tế cũng thể hiện trình độ phát triển hàng hóa
Có rất nhiều ngành là các bộ phận tạo thành nền kinh tế Về cơ bản, nền kinh tế được cấu trúc gồm 3 nhóm ngành (hay khu vực) sau đây:
Trang 25- Khu vực 1: gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
- Khu vực 2: gồm có công nghiệp và xây dựng
- Khu vực 3: dịch vụ
Tóm lại, cơ cấu ngành chính là tương quan về tỉ trọng giữa 3 khu vực tạo nên nền kinh tế của một quốc gia
+ Cơ cấu thành phần kinh tế:
Là tương quan theo tỉ lệ giữa các thành phần kinh tế tham gia vào các ngành, lĩnh vực hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế Trong đó chế độ sở hữu là nền tảng để hình thành cơ cấu thành phần kinh tế Để có một cơ cấu hợp lí cần phải dựa trên cơ sở hệ thống
tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu để cấu trúc sao cho cơ cấu ấy có khả năng thúc đẩy sức sản xuất và phân công lao động xã hội hợp lý
Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay tồn tại 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
có ưu thế, liên quan đến phân bố dân cư, phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng Trong cơ cấu ngành cũng có bóng dáng của cơ cấu lãnh thổ Tiêu chuẩn đánh giá cơ cấu lãnh thổ là hiệu quả về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Là sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển Về thực chất, đó là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt biểu hiện (ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế) nhằm hướng sự phát triển của cả nền kinh tế vào các chiến lược KT - XH đã được đề ra cho từng thời kì cụ thể Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giúp cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc và có khả năng hội nhập với khu vực và thế giới
- Cơ cấu theo lao động:
Trang 26Sự phân chia lao động theo ngành phản ánh tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia Ở các nước đang phát triển, lao động chủ yếu hoạt động trong khu vực 1; khu vực 2, 3 còn thấp Các nước phát triển thì ngược lại, lao động chủ yếu trong khu vực 3, khu vực 1 chiếm
tỉ trọng thấp
- Năng suất lao động:
Năng suất lao động cấp quốc gia được đánh giá bằng GDP trên tổng số lao động đang làm việc trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) và GDP theo từng nhóm ngành trên tổng số lao động đang làm việc theo từng nhóm ngành tương ứng
1.1.3.2 Các tiêu chí riêng cho cấp huyện:
- Giá trị sản xuất:
Là kết quả hoạt động của các ngành sản xuất tạo ra các sản phẩm vật chất trong một thời gian nhất định Giá trị sản xuất theo ngành kinh tế bao gồm: GTSX theo các nhóm ngành nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; GTSX của các ngành phân theo thành phần kinh tế ; GTSX của các ngành phân theo vùng lãnh thổ GTSX theo các nhóm ngành kinh tế là một trong những chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng GTSX:
Là chỉ tiêu đo lường, thể hiện mặt định lượng tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ ở quy
mô cấp huyện Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất được tính theo giá so sánh một năm cố định gọi là năm gốc (ví dụ: ở nước ta thường lấy giá so sánh năm 1994)
- Cơ cấu GTSX và sự chuyển dịch cơ cấu GTSX theo ngành kinh tế:
Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhỏ (cấp huyện) người ta sử dụng chỉ tiêu cơ cấu giá trị sản xuất thay cho cơ cấu kinh tế Cơ cấu giá trị sản xuất cho biết quy mô, tỉ trọng các ngành, lãnh thổ trong giá trị sản xuất của toàn huyện Qua đó xác định được vai trò và trình độ phát triển KT – XH của huyện Sự chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất cho thấy sự điều chỉnh, chuyển biến của nền kinh tế huyện theo chiều hướng nào, phù hợp hay không phù hợp
- Năng suất lao động:
Năng suất lao động cấp huyện được đo bằng GTSX trên tổng số lao động đang làm
việc và GTSX của từng nhóm ngành trên tổng số lao động làm việc theo từng nhóm ngành Mức tăng năng suất lao động phản ánh rõ nét hiệu quả sản xuất của từng ngành và thu nhập của người lao động
Trang 271.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế
1.2.1 Phát triển kinh tế ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSCL nằm trong hành lang kinh tế ven biển trong Tiểu vùng sông Mê Kông Do
đó, vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp và thủy sản, đồng thời triển khai kế hoạch phát triển du lịch, kinh tế biển - đảo, đẩy mạnh hợp tác kinh tế với TP Hồ Chí Minh, các nước khu vực vùng vịnh Thái Lan và các nước trong khu vực tiểu vùng sông Mê Kông Từ nhiều năm nay, ĐBSCL đã đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia và góp phần quan trọng vào thị trường lương thực toàn cầu Trong vùng đã hình thành và phát triển được một
số cụm ngành quan trọng liên kết nông – công nghiệp và thương mại như lúa gạo, tôm, cá, trái cây rau quả góp phần tăng giá trị xuất khẩu của vùng
Về quy mô kinh tế, năm 2011 tổng sản phẩm trong nước (theo giá thực tế) của vùng ĐBSCL là 367.932,9 tỷ đồng, chiếm khoảng 18,5% GDP cả nước Trong giai đoạn 2001 –
2011, tăng trưởng kinh tế ở mức cao, trung bình 11,7%/năm Trong đó, của khu vực 1 chiếm 6,3%, khu vực 2 chiếm 17,5 % và khu vực 3 là 14,8 % GDP bình quân đầu người khá cao
và tăng mạnh qua các năm, từ 3,7 triệu đồng – năm 2001 lên 5,4 triệu đồng – năm 2005 và đạt 10,3 triệu đồng - năm 2011
Cơ cấu kinh tế của vùng mang tính thuần nông, năm 2010 (theo giá hiện hành): khu vực 1 chiếm 40,6%, khu vực 2 chiếm 25,0% và khu vực 3 là 34,4% Trong giai đoạn 2001 –
2011, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch tích cực: tỉ trọng của khu vực 1 đã giảm 13,4%, khu vực 2 tăng 7,4% và khu vực 3 tăng 6,2% Tuy nhiên, khu vực 1 vẫn còn chiếm trên 40% trong GDP và khu vực 2 còn thấp
Trang 281.2.1.2 Các ngành kinh tế:
- Nông – lâm – thủy sản:
Giá trị sản xuất nông nghiệp của vùng chiếm 33,3% giá trị sản xuất nông nghiệp của
cả nước và chiếm 40,6% GDP vùng (2011) Tăng trưởng nông nghiệp (tính theo giá trị sản xuất) vào khoảng 3,3% trong giai đoạn 2001 – 2011 Giá trị sản xuất nông nghiệp của vùng năm 2011 đạt 59.439,6 tỉ đồng, tăng 1,5 lần so với năm 2001 (theo giá so sánh năm 1994) Cây lương thực giữ vai trò đặc biệt quan trọng, chiếm 49,6% sản lượng lương thực cả nước Trong đó, cây lúa đóng góp 99,1% trong sản lượng lương thực của vùng và 54,7% của cả nước Trên 80% lượng gạo
xuất khẩu của cả nước là của vùng ĐBSCL
Về lâm nghiệp, năm 2011 vùng này cũng chiếm 14,8% giá trị sản xuất lâm nghiệp của cả nước
Thủy sản là thế mạnh của vùng Năm 2011, sản lượng thủy sản của vùng đạt 3.167.481 tấn, chiếm 58,3% sản lượng và 67,2% giá trị sản xuất thủy sản của
cả nước
Hiện nay, các nông sản thế mạnh của vùng là: lúa gạo, thủy sản, trái cây và rau quả Trong vùng đã hình thành một số sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao như: lúa gạo, cá tra, tôm
- Công nghiệp:
ĐBSCL là vùng trọng điểm về sản xuất lương thực, thực phẩm của cả nước Do đó, vùng có nhiều thuận lợi để phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến nông sản và thủy sản
Giá trị sản xuất công nghiệp của vùng năm 2010 đạt 301.806,37 tỉ đồng (giá thực tế), chiếm khoảng 10% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Trong giai đoạn 2001-2011, tốc độ tăng trưởng công nghiệp hàng năm của vùng đạt 15,8% cao hơn mức trung bình của
cả nước (15%)
Về cơ cấu, phần lớn công nghiệp của vùng là công nghiệp chế biến nông sản, với giá trị sản xuất 274.495,99 tỉ đồng (năm 2011) chiếm 90,9% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn vùng Trong khi đó công nghiệp khai thác chỉ chiếm 0,5%, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước là 8,2% và xử lý nước thải - rác thải 0,4% Các ngành công nghiệp thế mạnh là xay xát lương thực, chế biến thủy sản xuất khẩu, chế biến rau quả và các sản phẩm công nghiệp nông thôn
Trang 29Toàn vùng hiện có 88 khu công nghiệp tập trung, chiếm 29,7% số khu công nghiệp của cả nước Đây là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của vùng, góp phần thu hút đầu
tư, đẩy nhanh công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho người dân ở địa phương
- Dịch vụ:
Ngành dịch vụ đóng góp ngày càng quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung của vùng Tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành đạt 6,2% trong giai đoạn
2001 - 2011 Năm 2011, ngành dịch vụ chiếm tới 34,4% GDP của toàn vùng
Hiện nay, mạng lưới giao thông trong vùng khá hoàn chỉnh và đồng bộ với nhiều trục
và hướng khác nhau, tạo sự kết nối giữa các địa phương và liên vùng Năm 2011, vùng chiếm 26,2% (561,1 triệu lượt người) số lượt hành khách vận chuyển, 11,7% (86,9 triệu tấn) khối lượng hàng hóa vận chuyển, 22,3% (16.065,3 triệu lượt người.km) số lượt hành khách luân chuyển và 10,2% (7269,6 triệu tấn.km) khối lượng hàng hóa luân chuyển của cả nước
Thương mại của vùng ngày càng phát triển Năm 2011, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (giá thực tế) chiếm 17,6% (352591,0 tỉ đồng) cả nước Tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn 2001 – 2011 là 21%, gần bằng mức tăng của cả nước (22%) Toàn vùng ĐBSCL đạt kim ngạch xuất khẩu năm 2011 là 8,01 tỉ USD, tăng 16,5% so với năm 2010 Kim ngạch nhập khẩu đạt 3,12 tỉ USD, tăng 24,8% so với năm 2010 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo, thủy sản, rau quả, hàng may mặc và nhập khẩu chủ yếu là nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh Các tỉnh, thành phố có kim ngạch xuất khẩu cao là Long An, Cần Thơ, Cà Mau, An Giang, Tiền Giang và Đồng Tháp
Du lịch vùng ĐBSCL trong những năm gần đây phát triển nhanh và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của vùng Năm 2011 các tỉnh, thành phố trong vùng đã đón hơn 17,4 triệu lượt khách, trong đó có 1,4 triệu lượt khách quốc tế, tăng 11,48% so với năm 2010 Doanh thu toàn ngành đạt trên 3.500 tỉ đồng, tăng 23,68% so với năm 2010 Các điểm điểm du lịch của vùng phát triển nhanh về số lượng, chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của du khách
1.2.2 Phát triển kinh tế ở tỉnh Bến Tre
1.2.2.1 Khái quát
Tỉnh Bến Tre nằm ở phần phía Đông của vùng ĐBSCL, có diện tích tự nhiên là 2357,7 km2, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh
Trang 30Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông Lãnh thổ tỉnh Bến Tre được tạo thành bởi 3 cù lao lớn: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh Với địa hình tương đối bằng phẳng, tài nguyên đất phong phú, khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mạng lưới sông ngòi dày đặc, nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng, phong phú và tài nguyên du lịch khá đặc trưng,… Bến Tre có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế nhất là lĩnh vực nông nghiệp, phát triển giao thông, thủy lợi và du lịch
Với dân số đông - 1.257.782 người, mật độ dân số khá cao - 533 người/km2 (2011) là nguồn cung lao động dồi dào cho các ngành kinh tế địa phương
Hiện nay, nền kinh tế của Bến Tre đang phát triển nhanh và đạt được nhiều thành tựu Tổng sản phẩm nội tỉnh liên tục tăng Năm 2011, GDP của tỉnh là 29.783,7 tỉ đồng (giá thực tế), tăng gấp 5 lần so với năm 2001 Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 22,27%/năm trong giai đoạn 2006 – 2011, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng ĐBSCL và cả nước
Về cơ cấu kinh tế, năm 2011 ngành nông – lâm – thủy sản chiếm 50,76%, công nghiệp - xây dựng chiếm 16,57% và dịch vụ chiếm 32,68% Như vậy, ngành nông – lâm – thủy sản trong cơ cấu GDP của tỉnh vẫn chiếm tỉ trọng cao hơn so với vùng ĐBSCL và cả nước, còn công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm tỉ trọng thấp hơn Trong giai đoạn 2001 – 2011, tỉ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng 3,73% và dịch vụ tăng 12,17%, còn tỉ trọng ngành nông – lâm – ngư nghiệp giảm 15,89% Sự chuyển dịch này là kết quả thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương
Thu nhập bình quân đầu người tăng liên tục qua các năm, đến năm 2011 GDP/người đạt 23,6 triệu đồng/người (giá thực tế) tăng 5,2 lần so với năm 2001 (4,5 triệu đồng/người)
và cao hơn nhiều so với bình quân chung của vùng ĐBSCL
1.2.2.2 Các ngành kinh tế:
- Nông – lâm – thủy sản:
Bến Tre có đất phù sa màu mỡ, mạng lưới sông ngòi dày đặc và tiếp giáp biển, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Đến năm 2011, giá trị sản xuất của khu vực 1 đạt 15116,7 tỉ đồng (giá thực tế), chiếm 50,76% giá trị sản xuất của tỉnh Tốc độ tăng trưởng trung bình của khu vực 1 khá cao với mức 21,33%/năm trong giai đoạn 2006 – 2011 và đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa
Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản, ngành nông nghiệp chiếm 66,2%, ngành thủy sản chiếm 33,3% còn ngành lâm nghiệp chỉ chiếm 0,5% Trên địa bàn tỉnh đang tồn tại nhiều hình thức sản xuất nông – lâm – thủy sản khác nhau, trong đó hình
Trang 31thức kinh tế trang trại và hợp tác xã thủy sản, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp hoạt động có hiệu quả nhất và đã tác động tích cực đến sự phát triển chung của nông nghiệp Hiện nay Bến Tre có 82 trang trại, 101 hợp tác xã và 10 tổ hợp tác
- Công nghiệp:
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre có những bước phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò ngày càng quan trọng vào sự phát triển KT – XH của tỉnh Giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng nhanh, năm 2011 đạt 4.934,5 tỉ đồng (giá thực tế) tăng gấp 6,5 lần so với năm 2001 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 – 2011 là 22,37%/năm cao hơn vùng ĐBSCL và cả nước
Về cơ cấu ngành công nghiệp, năm 2011, nhóm ngành chế biến chiếm tỉ trọng lớn nhất, với 89,38% và có xu hướng ngày càng tăng, nhóm ngành khai thác chiếm tỉ trọng không đáng kể, với 4,91% và có xu hướng giảm, còn nhóm ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, với 5,71%
Về cơ cấu công nghiệp phân theo thành phần kinh tế: thành phần kinh tế ngoài Nhà nước chiếm tỉ trọng cao nhất và có xu hướng tăng (năm 2006: 54,50%; năm 2011: 60,73%), thành phần kinh tế Nhà nước chiếm tỉ trọng thấp nhất và có xu hướng giảm (năm 2006: 40,74%; năm 2011: 11,38%), còn khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh (năm 2006: 4,77%; năm 2011: 27,89%)
Một số ngành công nghiệp trọng điểm của tỉnh hiện nay là: chế biến thủy sản, chế biến dừa, chế biến thức ăn chăn nuôi, hóa chất, cơ khí, điện tử, thiết bị điện, vật liệu xây dựng, khai thác cát, may mặc – da giầy,…
Hiện nay ở Bến Tre đã bắt đầu hình thành các khu vực tập trung công nghiệp và làng nghề TTCN Đến năm 2011 toàn tỉnh có 2 khu công nghiệp đang hoạt động (Giao Long, An Hiệp) Theo Quy hoạch thì đến năm 2020 Bến Tre có thêm 5 khu công nghiệp nữa (Phú Nhuận, Phước Long, Thanh Tân, An Nhơn, Thành Thới) Đồng thời, đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh sẽ có 14 cụm công nghiệp vừa và nhỏ cùng 18 làng nghề TTCN Hầu hết các KCN, cụm công nghiệp thường phân bố gần các trục đường giao thông, bến cảng, nguồn nguyên liệu, phân bố đều các huyện, thành phố trong tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Bến Tre thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tăng cường mối liên kết giữa các tỉnh/thành phố trong vùng ĐBSCL và vùng Đông Nam Bộ
- Dịch vụ:
Trang 32Dịch vụ là ngành kinh tế chiếm tỉ trọng cao trong GDP và đóng góp ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế chung của tỉnh Bến Tre Trong giai đoạn 2001-2011, tỉ trọng của ngành đã tăng từ 20,51% lên 32,68% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2011 đạt 18603,1 tỉ đồng, tăng 5,8 lần so với năm 2001 Hoạt động ngoại thương tăng trưởng khá nhanh, năm 2011 giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 367,874 triệu USD, tăng 3,8 lần so với năm 2006 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu hàng công nghiệp nhẹ, TTCN và nông nghiệp như: chỉ xơ dừa, hàng dệt may, gạo, cơm dừa nạo sấy, hàng thủy sản… Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng Các quốc gia, vùng lãnh thổ chiếm tỉ trọng cao trong xuất khẩu là: Nhật, Trung Quốc, Mỹ, Ai Cập, Hàn Quốc, Đức Giá trị hàng hóa nhập khẩu cũng liên tục tăng, năm 2011 đạt 120,139 triệu USD, tăng 5,3 lần so với năm 2006 Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là vải, phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị, giấy các loại Thị trường nhập khẩu chủ yếu là Nhật, Trung Quốc, Thái Lan, Hung-ga-ri, Đài Loan
Hoạt động du lịch trong thời quan có nhiều chuyển biến tích cực và dần khẳng định
vị thế của mình trong ngành du lịch của vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung Số lượng khách du lịch tăng nhanh, năm 2011 đạt 743.401 lượt người, tăng 1,5 lần so với năm
2007 (481.128 lượt người) Doanh thu du lịch lữ hành năm 2011 đạt 31,2 tỉ đồng, tăng 3,7 lần so với năm 2007 (8,3 tỉ đồng) Hiện nay, hoạt động du lịch của tỉnh chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành với các hoạt động du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và một số điểm du lịch về di tích lịch sử, lễ hội, ẩm thực ở các huyện trong tỉnh như: Khu lăng
mộ Nguyễn Đình Chiểu (Ba Tri), Khu Di tích lịch sử Đồng Khởi (Mỏ Cày Nam), Đền thờ
Nữ tướng Nguyễn Thị Định (Giồng Trôm), Tượng đài Đồng Khởi (TP Bến Tre), đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam (Thạnh Phú), đình Bình Hòa (huyện Giồng Trôm), đình Phú Lễ (huyện Ba Tri), nhà cổ ở xã Đại Điền (huyện Thạnh Phú), …
Hệ thống giao thông vận tải đang từng bước phát triển, các tuyến đường quốc lộ đi qua tỉnh, các tuyến đường tỉnh, huyện được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới để đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và phát triển kinh tế địa phương Khối lượng vận chuyển, luân chuyển hàng hóa và hành khách ngày càng tăng cao Năm 2011, khối lượng hành khách vận chuyển đạt 39.898 nghìn người, tăng 1,6 lần, khối lượng luân chuyển khách đạt 1.188.600 nghìn người.km, tăng 1,4 lần so với năm 2006 và khối lượng hàng hóa vận chuyển 4710 nghìn tấn, tăng 1,7 lần, khối lượng luân chuyển 473.329 nghìn tấn.km, tăng 1,8 lần so với năm 2006
Trang 33Ngành bưu chính viễn thông phát triển nhanh và ổn định, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân trong đời sống và sản xuất Số thuê bao điện thoại năm 2011 là 1.186.098 thuê bao, tăng 8,6 lần so với năm 2006 Mạng lưới dịch vụ bưu điện được đầu tư
và không ngừng phát triển, hiện nay toàn tỉnh có 65 bưu điện phân bố rộng khắp ở các địa
phương trong tỉnh
T iểu kết chương 1
Nghiên cứu phát triển kinh tế là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các quốc gia và
vùng lãnh thổ, nhất là các nước đang phát triển Ở nước ta, huyện vẫn được coi là đơn vị cơ
bản để phát triển kinh tế Phát triển kinh tế huyện có mối quan hệ chặt chẽ và là một mắt xích trong sự phát triển kinh của tỉnh, vùng và quốc gia
Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá phát triển kinh tế, tuy nhiên các chỉ tiêu quan trọng cho cấp huyện là: GTSX, tốc độ tăng trưởng của GTSX, cơ cấu GTSX và sự chuyển dịch cơ cấu GTSX theo ngành
Từ thực tiễn phát triển kinh tế của vùng ĐBSCL và tỉnh Bến Tre, cho thấy muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế cần phải huy động, khai thác tổng hợp các nguồn lực Trong đó nguồn lực vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, vốn, khoa học kĩ thuật có vai trò quan trọng hàng đầu Đẩy nhanh tăng trưởng và phát triển kinh tế phải gắn với quá trình CNH – HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỉ trọng khu vực 2, khu vực 3; khai thác mọi nguồn lực vào quá trình sản xuất và phát huy sự tham gia của các thành phần kinh tế Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh cần có cơ chế, chính sách phù hợp, chú trọng đào tạo, thu hút nguồn nhân lực, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật,… và phải chú ý giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội
và bảo vệ môi trường
Trang 35CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE 2.1 Các nguồn lực phát triển kinh tế
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ
Châu Thành là một trong 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố của tỉnh Bến Tre,
có diện tích tự nhiên 230,38 km2 (chiếm 9,9% diện tích toàn tỉnh), dân số năm 2011 là 159.588 người (chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh) và mật độ dân số 692 người/km2
Huyện Châu Thành nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bến Tre, có giới hạn tọa độ địa lí
10014’23’’ - 10020’18’’vĩ độ Bắc và 1060
08’69’’ - 106027’15’’kinh độ Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Tiền Giang qua ranh giới tự nhiên là sông Tiền, phía Nam giáp huyện Mỏ Cày Bắc qua ranh giới tự nhiên là sông Hàm Luông, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Bình Đại, TP Bến Tre và huyện Giồng Trôm, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Tiền Giang và huyện Chợ Lách qua ranh giới tự nhiên là sông Tiền
Huyện Châu Thành có 1 thị trấn và 22 xã Thị trấn Châu Thành là trung tâm hành chính của huyện, cách TP Bến Tre 10 km Từ huyện Châu Thành có thể giao lưu thuận lợi với nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh bằng đường bộ thông qua quốc lộ 60, tỉnh lộ 883, tỉnh lộ 884 và đường thủy với các sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và kênh Giao Hòa
Với vị trí nằm sát TP Bến Tre và đối diện TP Mỹ Tho qua sông Tiền, đồng thời với các trục giao thông quan trọng trên, Châu Thành được xem là huyện ven của khu đô thị TP Bến Tre, là cửa ngõ của tỉnh Bến Tre để giao lưu với các địa phương khác trong Vùng kinh
tế trọng điểm ĐBSCL và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hiện nay, cầu Rạch Miễu đã
và đang phát huy vai trò cửa ngõ của huyện Châu Thành
Ngoài ra, với vị trí là đỉnh của tam giác châu sông Tiền, có đất đai màu mỡ và nguồn nước ngọt hầu như quanh năm, Châu Thành còn là huyện trọng điểm phát triển kinh tế vườn của tỉnh, đồng thời phát triển mạnh du lịch sinh thái, gắn với các trung tâm dịch vụ - thương mại, các khu, cụm công nghiệp quy mô lớn Hơn thế nữa, Châu Thành còn là một trong những huyện có nhiều đóng góp vào quá trình CNH - HĐH và đảm bảo tốc độ tăng trưởng nhanh của KT - XH tỉnh Bến Tre
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Trang 362.1.2.1 Địa hình:
Lãnh thổ huyện Châu Thành được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long Địa hình tương đối bằng phẳng, chênh lệch cao trình giữa vùng thấp nhất với vùng cao nhất chỉ khoảng 50 cm - 60 cm Độ cao địa hình biến động phổ biến trong khoảng 0,8 m - 1,5 m, trong đó vùng ven sông Tiền có độ cao 1,0 m - 1,2 m và có xu hướng cao dần về phía Đông; vùng ven sông Hàm Luông có độ cao từ 1,3 m
- 1,5 m; vùng đồng bằng giữa 2 sông cao 0,8 m - 1,3 m Về cơ bản có thể phân biệt thành các khu vực địa hình sau:
- Vùng thấp có độ cao dưới 1,0 m bị ngập nước khi triều lên, bao gồm một số diện tích đất ruộng ở lòng chảo xa sông Do bị ngập nước khi triều lên nên vùng này được bồi tụ phù sa từ các dòng sông lớn hàng năm, đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa, rau màu
và một số loại cây công nghiệp và cây ăn quả
- Vùng cao có độ cao 1,0 m - 2,0 m, bị ngập nước trong các đợt triều cường tháng 9 -
10 âm lịch, được lên liếp lập vườn (chống ngập) Đây là vùng ít chịu ảnh hưởng của triều cường, thuận lợi cho phát triển các vườn cây như: vườn dừa, vườn trái cây
Như vậy, địa hình bằng phẳng là điều kiện thuận lợi để Châu Thành phát triển kinh
tế, nhất là lĩnh vực nông nghiệp Ngoài ra, kết hợp với mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc tạo cảnh quan sông nước đặc trưng có giá trị phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái sông nước - miệt vườn
Tuy nhiên, ở vùng địa hình thấp thường xuyên bị ngập nước khi triều cường nên đất
bị glây hóa mạnh, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng cây trồng và thủy sản
2.1.2.2 Đất
Huyện Châu Thành có 3 nhóm đất chính là nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn và nhóm đất tác nhân
Bảng 2.1 Diện tích các loại đất trên địa bàn huyện Châu Thành năm 2011
1.117
640
4,89 2,80
3 Đất tác nhân:
Trang 37Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Châu Thành
- Nhóm đất phù sa, chỉ có 1 loại là Đất phù sa glây yếu, chiếm 1,96% diện tích, phân
bố ở các xã: Giao Long, Giao Hòa, An Phước, An Hóa Loại đất này có khả năng thoát nước trên bề mặt kém, mực nước ngầm nông, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nặng, tỉ lệ sét vật lí thường từ 45% - 60% nên khả năng giữ nước và phân tốt Đất có khả năng giữ ẩm
về mùa khô nhưng thoát nước kém vào mùa mưa Tầng đất dưới thường xuyên tiếp xúc với mực nước ngầm hoặc ngập nước liên tục do trồng lúa nước và chịu điều kiện yếm khí nên hình thành tầng sét glây Độ pH biến động trong khoảng từ 4,5 - 5,0 Hàm lượng mùn và nitơ tổng số khá Kết cấu đất thích hợp cho việc trồng lúa nước Do loại đất này nằm khá xa
ở phía trong bờ đê, không được bồi phù sa từ lâu, hay bồi không đáng kể, lại do trồng lúa nước lâu đời nên đất có những biến đổi về chất Tầng glây có độ sâu lớn từ 60 - 80cm, thuận lợi cho việc trồng lúa vì đất có khả năng giữ ẩm tốt Đây là loại đất đến nay vẫn cho hai vụ lúa chính ổn định với năng suất khá
- Nhóm đất phèn chiếm 7,69% diện tích, là nhóm đất có diện tích lớn thứ hai sau
nhóm đất tác nhân (đất phèn lên liếp và sông rạch) Đất phèn ở đây thuộc phụ nhóm đất phèn hoạt động (SJ) đã được hình thành tầng Jarosite (tầng phèn) tầng đất có chứa các ổ phèn màu vàng hoặc vàng rơm, bao gồm 2 loại:
+ Đất phèn hoạt động nông: phấn bố chủ yếu tại các xã Quới Sơn, Giao Long, Phú
An Hòa
+ Đất phèn hoạt động sâu: phân bố tại các xã Hữu Định, Tam Phước, An Hòa, An Hiệp
Nhóm đất phèn thường có lượng hữu cơ khá cao, chứa nhiều độc tố (SO3, SO42-,
Fe2+, Fe3+, Al3+) và rất chua Các độc tố trong đất phèn rất biến động và thay đổi theo mùa khá rõ rệt Mùa khô, nhiệt độ cao, không mưa, mực thủy cấp hạ thấp, đất bị khô hạn, làm cho quá trình oxy hóa diễn ra mạnh và độc tố trong đất tăng nhanh Mùa mưa, nước mưa và nước lũ về rửa trôi các độc tố trong đất và chảy xuống hệ thống kinh rạch làm cho độc tố trong đất giảm đi Tuy nhiên, độc tố trong hệ thống kênh rạch trong vùng lại cao lên, nhất là sau mùa mưa từ 20 đến 30 ngày Diện tích đất phèn hoạt động sâu ít hơn đất phèn hoạt động nông
Trang 38Hiện nay đất phèn tầng sâu hầu hết đã được đưa vào khai thác sử dụng Đất phèn tầng nông đang được khai thác trồng lúa và hoa màu, diện tích hoang hóa còn rất ít do công tác thủy lợi trong huyện (khả năng dẫn ngọt và tiêu thủy) được chú trọng đầu tư
- Nhóm đất tác nhân, bao gồm 2 loại:
+ Đất lập liếp: chiếm 73,79% diện tích, hầu hết là các loại đất phù sa được lên liếp,
phân bố trên khắp địa bàn huyện Đào mương lên liếp để trồng cây lâu năm là hình thức phổ biến ở huyện Châu Thành nói riêng, tỉnh Bến Tre và vùng ĐBSCL nói chung Tuy nhiên, kiểu lên liếp tùy thuộc vào từng loại đất và mô hình canh tác Phần lớn đất đai có thành phần cơ giới nặng, mùn và đạm từ khá đến giàu, lân và kali trung bình, độ phì từ khá đến cao, sau khi lên liếp thích nghi cho phát triển kinh tế vườn và các loại rau màu
+ Sông rạch: chiếm 16,56% diện tích, có vai trò quan trọng trong quá trình bồi lắng phù sa Đây là nơi đón nhận, dự trữ và cung cấp phù sa cho bờ (liếp) vườn Với hệ thống sông, rạch chằng chịt đã góp phần cung cấp nguồn phù sa màu mỡ cho vùng đất nông nghiệp của Huyện
Trong tổng quỹ đất, nhóm đất nông nghiệp có 16.046 ha, chiếm 69,65% diện tích tự nhiên và phần lớn diện tích đất dành cho trồng trọt Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 15.978 ha, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản 50 ha và đất nông nghiệp khác -18 ha
Bình quân đất nông nghiệp/người nông thôn là 971 m2, trong đó có 120 m2 đất cây hàng năm và 850 m2 đất cây lâu năm, thuộc vào loại rất thấp Đây là nguyên nhân gây khó khăn cho thực hiện các vùng chuyên canh với quy mô lớn cũng như áp dụng hình thức cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, quỹ đất đều được đưa vào khai thác sử dụng, đất chưa sử dụng xem như sắp hết Nhóm đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu diện tích đất tự nhiên nhưng chỉ số đất nông nghiệp trên đầu người thuộc vào loại thấp do mật độ dân số cao
2.1.2.3 Khí hậu:
Nằm trong vùng ĐBSCL, huyện Châu Thành chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa Khí hậu phân hóa thành hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt Mùa mưa có nền nhiệt thấp, mưa nhiều, độ ẩm cao, trùng với gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng V đến tháng
XI Mùa khô có khí hậu nóng (nhiệt độ cao nhất vào tháng II, III) trùng với gió Đông Bắc, kéo dài từ tháng XII đến tháng IV năm sau
- Nhiệt độ:
Trang 39Châu Thành có nền nhiệt cao và ổn định quanh năm Nhiệt độ trung bình hàng năm 27,10C, tháng cao nhất có nhiệt độ trung bình 28,70C (tháng V) và thấp nhất là 24,10C (tháng XI) Biên độ nhiệt thấp, chênh lệch nhiệt độ tối đa giữa các tháng vào khoảng 3,30
C Nền nhiệt dồi dào, tổng nhiệt độ trung bình năm tới 9.000 - 9.5000C, bức xạ Mặt Trời khá cao từ 120 - 130 Kcal/cm2/năm Trong năm thường có 8 - 9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 270C (trong đó có 2 tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trên 300C) và chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 240C (không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 200C) Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đặc trưng ở huyện là kinh tế vườn
- Chế độ mưa:
Huyện có lượng mưa thuộc vào loại trung bình thấp của vùng ĐBSCL, với lượng mưa trung bình năm 1.400 - 1.600 mm Do vậy khả năng xuất hiện hạn đầu vụ và giữa vụ hè thu là thường xuyên
Lượng mưa phân bố không đều theo mùa và các tháng trong năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (từ tháng V đến tháng XI) chiếm khoảng 92% lượng mưa cả năm Mưa nhiều nhất vào các tháng VII, VIII, IX, X và lượng mưa dao động từ 218 mm đến 311 mm Mưa lớn kéo dài nhiều giờ nếu kết hợp với thủy triều lên sẽ gây ngập một số vùng thấp hoặc những khu vực không có đê bao Tuy nhiên do nước dâng gây ngập theo thủy triều và trong thời gian ngắn (3 - 4 giờ) nên ít ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi Mùa khô kéo dài từ tháng XII đến tháng tháng IV năm sau, lượng mưa rất thấp, trung bình khoảng 20 mm, chiếm khoảng 8% tổng lượng mưa cả năm, trong năm thường có 1 - 2 tháng không có mưa
Do đó vào mùa khô, mưa ít kết hợp với gió từ biển thổi vào đất liền làm cho nước biển xâm nhập sâu vào trong đất liền gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, nhất là vùng đất phèn và vùng trồng hoa màu, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn trái Lượng mưa trung bình giữa các năm không đều nhau, có năm lượng mưa tới 2.005 mm (2010), năm lượng mưa thấp nhất chỉ khoảng 1.317 mm (2009) Ngoài ra lượng mưa trung bình những tháng cao nhất và thấp nhất giữa các năm cũng thay đổi
- Nắng:
Số giờ nắng trung bình khoảng 2.500 – 2.700 giờ/năm Nền nhiệt cao, thời gian chiếu sáng dài và khá đồng đều giữa các tháng Trong đó mùa khô số giờ nắng trung bình 6 – 7 giờ/ngày, mùa mưa số giờ nắng ít hơn 5 – 6 giờ/ngày Số giờ nắng trung bình trong một tháng khoảng 24 ngày Đây là điều kiện thuận lợi để canh tác nhiều vụ cây trồng trong năm
Trang 40- Chế độ ẩm:
Độ bốc hơi ở Châu Thành thuộc loại cao của vùng ĐBSCL, trong các tháng mùa mưa, độ bốc hơi trung bình khoảng 4,2 - 4,6 mm/ngày; các tháng mùa khô khoảng 4,3 - 6,4 mm/ngày Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình hàng năm khoảng 79,12% Những tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng VIII, IX, X (86%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng II, III, IV (76%) Độ ẩm cao, nguồn nước phong phú nên rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Chế độ gió:
Châu Thành chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Trong mùa mưa, từ tháng V đến tháng XI, gió Tây - Tây Nam hoạt động mạnh, đến mùa khô hướng gió chuyển từ Bắc đến Đông Bắc, đến cuối mùa khô có hướng Đông đến Đông Nam với tốc độ bình quân 2,0 – 4,7 m/s, có thời điểm gió mạnh nhất đạt 10 – 12 m/s Trong mùa khô có gió chướng là gió Đông
- Đông Bắc xảy ra từ tháng X đến tháng IV năm sau, thường gây tác hại như nước dâng triều, xâm nhập mặn
- Bão, lũ lụt:
Huyện Châu Thành cũng như các địa phương khác ở vùng ĐBSCL đều nằm ngoài khu vực chịu ảnh hưởng chính của bão nhưng có những năm vào các tháng IX, X, XI cũng chịu ảnh hưởng nhẹ của các cơn bão cuối mùa Tuy nhiên, những năm gần đây cũng đã ghi nhận được một số cơn lốc có tốc độ gió lớn tại một số khu vực trong huyện, có ảnh hưởng nhất định đến đời sống và sản xuất trên địa bàn
2.1.2.4 Thủy văn
Nước mặt:
Châu Thành có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, phân bố rộng khắp trên toàn huyện Do vị trí nằm ở giữa các sông chính của tỉnh Bến Tre nên huyện Châu Thành chịu ảnh hưởng bởi 3 sông lớn là sông Hàm Luông, sông Tiền và sông Ba Lai với chế độ bán nhật triều
- Sông Tiền (chiếm 10,5% lưu lượng sông Mê Kông) và sông Hàm Luông (chiếm 14% lưu lượng sông Mê Kông) chịu sự chi phối mạnh bởi lũ thượng nguồn sông Mê Kông
và thủy triều biển Đông Lưu lượng nước vào mùa mưa là 3.360 m3/s và mùa khô giảm mạnh còn 829 m3/s Đây vừa là trục tiêu chính của toàn bộ khu vực vào mùa lũ nhưng cũng đồng thời là trục xâm nhập mặn vào khu vực