Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển kinh tế biển những năm gần đây rất được chú trọng, có thể kể ra những công trình nghiên cứu liên quan như: “Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Quan Văn Út
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Quan Văn Út
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Kết quả luận văn chưa từng được ai công bố trong
bất kì công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Quan Văn Út
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quyển luận văn này, ngoài những nổ lực hết mình của bản thân tác giả Bên cạnh đó, còn có sự giúp đỡ và hỗ trợ từ nhiều cá nhân, tập thể và các đơn vị, nhân đây tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành của bản thân đến:
Lời đầu tiên, tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS
Trịnh Duy Oánh – Giảng viên trường Đại học Sài Gòn – Người hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình góp ý, chỉ bảo, chỉnh sửa và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Địa Lý, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, cùng các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tác giả trong chương trình sau đại học, đã nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ, cũng như định hướng luận văn Xin cảm ơn Phòng sau đại học, thư viện nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu của các cơ quan, đơn vị và các tác giả khác Xin chân thành cảm ơn tất cả các tác giả của các tài liệu tôi đã tham khảo Bên cạnh đó, tôi vô cùng cảm kích và cảm ơn các đơn vị: Cục thống kê Bạc Liêu; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu; Sở Nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu; Sở Kế hoạch và Đầu
tư tỉnh Bạc Liêu;… đã nhiệt tình cung cấp thông tin tư liệu và số liệu, tạo mọi điều kiện giúp tác giả thu thập thông tin hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp
đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Q uan Văn Út
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
L ỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT 6
M Ở ĐẦU 7
1 Lý do ch ọn đề tài 7
2 M ục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu 8
4 Nh ững công trình nghiên cứu liên quan 9
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 C ấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 15 1.1 M ột số quan niệm và khái niệm về biển 15
1.1.1 Biển và đại dương 15
1.1.2 Phạm vị không gian biển 17
1.1.3 Quan niệm về vùng ven biển 17
1.2 Kinh t ế biển 19
1.2.1 Khái niệm kinh tế biển 19
1.2.2 Cơ cấu kinh tế biển 22
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển 32
1.2.4 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến kinh tế biển và vùng ven biển 34
1.2.5 Tổ chức lãnh thổ (không gian) kinh tế biển 37
1.2.6 Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế biển 39
1.3 Kinh nghi ệm phát triển kinh tế biển quốc gia và vùng 40
1.3.1 Phát triển kinh tế biển Việt Nam 40
1.3.2 Phát triển kinh tế biển vùng đồng bằng sông Cửu Long 46
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN T ỈNH BẠC LIÊU 51
2.1 Khái quát chung v ề tỉnh Bạc Liêu 51
2.2 Ti ềm năng phát triển kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu 55
2.2.1 Tiềm năng về vị trí địa lí vùng biển và ven biển 55
2.2.2 Tiềm năng về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 56
Trang 62.2.3 Tiềm năng về kinh tế - xã hội 66
2.2.4 Đánh giá về điều kiện và tiềm năng phát triển 70
2.3 Th ực trạng phát triển một số ngành kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu 72
2.3.1 Ngành thủy hải sản 72
2.3.2 Khai thác khoáng sản biển 84
2.3.3 Ngành lâm nghiệp 88
2.3.4 Ngành dịch vụ, du lịch 90
2.3.5 Ngành giao thông vận tải biển 93
2.4 V ị trí kinh tế biển trong nền kinh tế tỉnh Bạc Liêu 96
2.5 M ột số vấn đề liên quan trong phát triển kinh tế biển và vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu 99
2.5.1 Vấn đề khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển 99
2.5.2 Phòng chống thiên tài, bảo vệ môi trường biển và ven biển 99
2.5.3 Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển 100
2.5.4 Về bảo vệ an ninh – quốc phòng vùng biển 101
2.5.5 Vấn đề ứng phó với BĐKH tác động đến kinh tế biển và VBVBBL 101
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN T ỈNH BẠC LIÊU 103
3.1 Cơ sở khoa học xây dựng định hướng và giải pháp 103
3.1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 103
3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020 105 3.1.3 Chủ trương, chính sách phát triển kinh tế biển của tỉnh Bạc Liêu 106
3.2 Các định hướng phát triển kinh tế biển chung 107
3.2.1 Tổ chức không gian phát triển kinh tế biển 107
3.2.2 Định hướng phát triển các ngành kinh tế biển 108
3.2.3 Phát triển nguồn nhân lực 118
3.2.4 Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và dân cư ven biển 118
3.2.5 Khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 119
3.2.6 Xây dựng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và dự báo phát triển kinh tế biển, vùng biển ven biển tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 120
3.2.7 Quốc phòng, an ninh 120
3.3 Các gi ải pháp chủ yếu 121
3.3.1 Quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế biển 121
3.3.2 Hoàn thiện chính sách và hệ thống quản lí và khai thác biển 121
3.3.3 Huy động nguồn vốn đầu tư trong và ngoài tỉnh 122
Trang 73.3.4 Về phát triển khoa học, công nghệ 122
3.3.5 Xúc tiến đầu tư và mở rộng thị trường 123
3.3.6 Về môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu 124
3.3.7 Gắn phát triến kinh tế biển với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đảm bảo an sinh xã hội 125
3.4 Ki ến nghị 126
KẾT LUẬN 128
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 130
PH Ụ LỤC 132
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DWT Đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của tàu thủy ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
EU Liên minh châu Âu NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn NTTS Nuôi trồng thủy sản
QL1A Quốc lộ 1A
TP Thành phố CTCN Chất thải công nghiệp UBND Uỷ ban nhân dân USAID Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ VBVBBL Các huyện thị ven biển Bạc Liêu
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, khi diện tích lục địa ngày càng thu hẹp, nguồn tài nguyên trên
lục địa đang bị khai thác một cách kiệt huệ, thì biển và đại dương chính là lối thoát cho bế
tắc về nơi sinh sống, nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu cho con người Nhiều nhà kinh tế
học cho rằng “nền kinh tế tương lai của loài người trước hết là nền kinh tế gắn với biển”
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là “Thế kỷ của đại dương” Chính vì vậy mà ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia có biển (kể cả các quốc gia không có biển) cũng đều chú ý đến việc nghiên cứu, khai thác nguồn lợi từ biển trong quá trình phát triển kinh tế đất nước,
nhằm hội nhập chung với xu hướng quốc tế
Nằm trên bán đảo Đông Dương, rìa phía Tây của biển Đông, Việt Nam là một quốc gia
biển Vùng biển Việt Nam trên biển Đông rộng khoảng 1 triệu km2
, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền Bờ biển Việt Nam dài hơn 3260 km, trung bình 100 km2 đất liền thì có 1 km đường
bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới) Ven bờ biển có hơn 3000 đảo lớn nhỏ các loại,
với tổng diện tích 1720 km2
Vùng biển Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển và là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng Với vị trí chiến lược địa chính trị vô cùng quan trọng trong giao lưu và hợp tác quốc tế, thuận lợi trong thu hút đầu tư Các tài nguyên ở biển và ven biển khá phong phú và đa dạng Trong đó,
một số tiềm năng lớn như dầu khí, hải sản, điều kiện xây dựng cảng, tài nguyên du lịch…là
những nguồn lợi quan trọng Tất cả các yếu tố đó đã giúp cho Việt Nam có nhiều thế mạnh
để phát triển kinh tế biển Đã từ bao đời nay, biển đã là cái nôi gắn bó mật thiết và chặt chẽ
với mọi hoạt động sống và sản xuất của dân tộc ta và ngay nay biển chính là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước hội nhập quốc tế
Bạc Liêu là tỉnh được tái thành lập từ tỉnh Minh Hải, chính thức thành lập vào ngày 01/01/2007 Vùng biển và ven biển tỉnh Bạc Liêu nằm trong khu vực bán đảo Cà Mau nối
liền với vịnh Thái Lan, tiếp giáp với vùng biển của nhiều nước Đông Nam Á có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế và củng cố an ninh quốc phòng Bạc Liêu có bờ
biển dài 56 km từ xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu (giáp huyện Vĩnh Châu, Sóc Trăng) đến thị trấn Gành Hào huyện Đông Hải (giáp tỉnh Cà Mau); nội thủy khoảng 3645
km2, vùng lãnh hải khoảng 1136 km2 Bạc Liêu có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển vì
nằm giữa hai vùng sinh thái mặn và ngọt Trong Nghị quyết của tỉnh ủy đã xác định phát
Trang 10triển kinh tế biển là trọng tâm của thế kỷ XXI, phấn đấu trong 10 năm tới tỉnh sẽ có thế
mạnh về kinh tế biển và làm giàu từ biển Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nhiều năm qua
đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ, trong đó có sự đóng góp của các ngành kinh tế
biển và vùng ven biển Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế biển của tỉnh chỉ mới được khởi động và còn nhiều vấn đề bất cập trong quá trình phát triển Kinh tế biển trong cơ cấu kinh
tế của tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của biển Nhận thức được tầm quan trọng
và vai trò của kinh tế biển tỉnh nhà trong tương lai, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Phát tri ển kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu: Tiềm năng, thực trạng và giải pháp” nhằm góp phần nhỏ
những hiểu biết của tôi cho sự quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian
tới
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 M ục tiêu nghiên cứu
Vận dụng những cơ sở lý luận về biển và phát triển kinh tế biển trên thế giới và Việt Nam vào nghiên cứu phát triển kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu, nhằm đạt những mục tiêu sau:
- Khảo sát và đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế biển của tỉnh Bạc Liêu
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển các ngành kinh tế biển của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2002 – 2011
- Đưa ra định hướng và những giải pháp phát triển kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu trong
thời gian tới
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận và những nội dung có liên quan đến phát triển kinh tế biển được đúc kết trên thế giới và Việt Nam
- Thu thập thông tin, số liệu, tư liệu và khảo sát thực tế để đánh giá tiềm năng làm cơ
sở cho việc phân tích và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển của tỉnh Bạc Liêu
- Căn cứ vào những phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu, tìm ra những hạn chế và bất cập trong phát triển chưa tương xứng với tiềm năng kinh
tế biển Từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp tốt và khả thi
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: được xác định là vùng biển và tiếp giáp với biển của tỉnh
Bạc Liêu bao gồm các đơn vị hành chính cấp huyện (TP): TP Bạc Liêu, huyện Hòa Bình,
ện Đông Hải
Trang 11- Thời gian nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu kinh tế biển của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2002 – 2011
- Nội dung nghiên cứu: đánh giá tiềm năng và phân tích thực trạng khai thác tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển Đánh giá những lợi thế so sánh về điều kiện phát triển và những kết quả đạt được và những khó khăn hạn chế trong quá trình phát triển các ngành kinh tế biển làm cơ sở cho xây dựng định hướng phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn của tỉnh: ngành thủy sản, ngành du lịch, nghề muối biển, công nghiệp khai thác và
chế biến và các lĩnh vực liên quan
4 Những công trình nghiên cứu liên quan
Kinh tế biển là một bộ phận có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam, đồng thời là xu hướng phát triển của thời đại Vì vậy, kinh tế biển ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan nhưng chủ
yếu là mang tầm vĩ mô Những công trình nghiên cứu này sẽ là cơ sở và tài liệu tham khảo
để tác giả hoàn thành đề tài này
- Ở Việt Nam: Kinh tế biển đã được chính phủ xác định là chiến lược phát triển và
có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Vì vậy, việc nghiên
cứu phát triển kinh tế biển những năm gần đây rất được chú trọng, có thể kể ra những công trình nghiên cứu liên quan như: “Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở nước ta” của
Võ Nguyên Giáp; Nghiên cứu về “Địa lí biển Đông” của Nguyễn Văn Âu; “Tìm hiểu về
ngành kinh tế biển có thể kể đến “Biển và cảng biển thế giới” của Phạm Văn Giáp; “Rừng -
Ở nghiên cứu cấp quốc gia có thể kể đến các đề tài, công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng như “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển và các hải đảo Việt Nam đến
năm 2010” của Viện Chiến lược Phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đề tài này đánh giá
các nguồn lực và thực trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 1995 và đưa ra phương hướng, giải pháp quy hoạch phát triển cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế biển và
tổ chức không gian kinh tế biển đến năm 2010 Thứ hai là đề tài “Cơ sở khoa học cho việc
tích vai trò, vị trí, nguồn lực và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam,
Trang 12từ đó đưa ra các phương hướng, giải pháp và các mô hình phát triển điển hình cho các vùng
trọng điểm của dải ven biển nước ta đến năm 2015, tầm nhìn 2020 Thứ ba là “Hội thảo
của các tác giả là lãnh đạo các cấp, các ngành và các nhà nghiên cứu trong cả nước đã trình bày rất nhiều vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế biển Việt Nam với nhiều quan điểm và hướng tiếp cận khác nhau Thứ tư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tổ chức hội thảo “Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển thủy
góp của các tác giả đối với phát triển kinh tế biển, tổ chức không gian và tập trung phân tích các định hướng và giải pháp phát triển ngành thủy sản
Về phía Chính phủ cũng đã ban hành nhiều nghị quyết và chỉ thị liên quan đến phát triển kinh tế biển của đất nước như: Ngày 06/05/1995 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 03-NQ/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt; Ngày 22/09/1997 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ đó, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020,
phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển…
- Đối với tỉnh Bạc Liêu: Kinh tế biển đã được xác định là lợi thế và mục tiêu phát
triển của tỉnh nhà Năm 2008, UBND tỉnh Bạc Liêu đã ban hành “Đề án phát triển kinh tế
thể hóa Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và cũng nhằm mục tiêu phát triển kinh tế
biển và vùng ven biển Bạc Liêu
Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu tham khảo rất hữu ích và có giá trị cho
việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài của tác giả Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về kinh tế biển còn rất ít, đặc biệt là kinh tế biển Bạc Liêu vẫn chưa có đề tài nào được thực
Trang 13Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin là phương pháp luận khoa học Trong quá trình nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế biển cần có sự xem xét trong sự phát triển của lĩnh vực khoa học này với sự phát triển của các lĩnh vực khoa học Từ đó, xem xét các lĩnh vực này có liên quan trong sự
vận động, phát triển kinh tế - xã hội theo những quy luật khách quan và trong mối quan hệ
biện chứng qua lại, gắn kết chặt chẽ với nhau
Địa lý kinh tế học nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất trong một hệ thống, các
mối quan hệ tác động qua lại với môi trường xung quanh Quan niệm hệ thống được sử
dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu Trước hết, kinh tế biển là một bộ phận của nền kinh tế nói chung, nó có quan hệ với nhiều ngành khoa học khác Mặt khác, bản thân kinh tế
biển cũng bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau hợp thành và trong nội bộ
của nó cũng có sự liên kết và gắn bó chặt chẽ, tác động lẫn nhau Bên cạnh đó, kinh tế biển
chỉ phát triển khi có sự gắn kết giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế chung lại với nhau thành một hệ thống thống nhất Vì vậy, khi nghiên cứu chúng ta phải đặt vấn đề phát triển trong mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại của các yếu tố tạo thành một hệ thống hoàn
chỉnh, phải coi việc phát triển kinh tế biển như là một hệ thống thành phần nằm trong hệ
thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển
Trong thực tế, các sự vật và hiện tượng luôn luôn có sự phân hóa theo không gian làm cho chúng có sự khác biệt nhau giữa khu vực này và khu vực khác Nghiên cứu kinh tế biển
tỉnh Bạc Liêu cũng vậy, cần chú ý mối quan hê liên ngành và mối quan hệ không gian tổ
chức của các ngành kinh tế biển để có sự phát triển đồng bộ Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế biển của tỉnh Bạc Liêu cũng không thể tách rời vấn đề phát triển kinh tế biển của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước
Mọi sự vật không ngừng vận động và biến đổi Sự phát triển kinh tế - xã hội và kinh tế
biển trong quá khứ, hiện tại có ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội và kinh tế biển trong tương lai Trong từng giai đoạn khác nhau, có thể ngành kinh tế biển này giữ vai trò chủ đạo nhưng trong giai đoạn khác ngành kinh tế biển khác đóng vai trò quyết định sự phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung Do đó, nghiên cứu kinh tế biển
phải đặc biệt chú ý mối quan hệ quá khứ - hiện tại để có cơ sở vững chắc để định hướng cho
Trang 14tương lai, làm rõ được bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề biển phải dựa trên quan niệm sinh thái và phát triển bền vững Nguồn tài nguyên biển như hải sản, các tài nguyên du lịch biển, rừng, không phải là vô
tận Phát triển kinh tế biển phải đi đôi với sử dụng hợp lý kết hợp với bảo vệ và tái tạo tài nguyên, chống gây ô nhiễm môi trường, có sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với
tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người không chỉ trong
hiện tại mà phải không làm ảnh hưởng đến thế hệ tương lai
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Để hoàn thành luận vặn tốt nghiệp này, tác giả phải thu thập nguồn tài liệu, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, tạp chí, báo cáo, văn kiện, cơ sở dữ liệu của các ngành, các cấp,… có liên quan Nguồn tư liệu thu thập được rất nhiều và đa dạng nên khi sử
dụng vào luận văn phải có tính chọn lọc các tư liệu phù hợp với mục đích và nội dung nghiên cứu Đồng thời, tác giả phải thường xuyên cập nhật thông tin, tư liệu mới để tăng tính thực tế khách quan và hiệu quả nghiên cứu của đề tài
những nhiệm vụ và mục tiêu của đề tài đã đặt ra
Thực địa là phương pháp truyền thống và rất quan trọng trong nghiên cứu địa lí Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp này để kiểm tra độ chính xác, độ tin
cậy giữa lý thuyết từ các nguồn tài liệu đã thu thập được và thực tế Từ đó, giúp tác giả có cái nhìn khách quan hơn về vấn đề nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và điều
kiện cho phép, tác giả đã tiến hành thực địa, thực hiện các phương pháp quan sát, mô tả, ghi chép sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế biển trên địa bàn 3 huyện có biển của
tỉnh Bạc Liêu
Trang 155.2.4 Phương pháp biểu đồ - bản đồ
Phương pháp biểu đồ - bản đồ là phương pháp đặc thù của khoa học địa lí, bởi vì mọi nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội đều có sử dụng phương pháp này Ý nghĩa to lớn của nó là góp phần giải quyết nhiều nội dung nghiên cứu như đánh giá các nguồn lực, phân tích thực
trạng theo ngành và theo lãnh thổ Biểu đồ - bản đồ là cơ sở thể hiện một cách trực quan, khoa học mối quan hệ về thời gian, không gian, sự thay đổi và phát triển của các đối tượng
và yếu tố liên quan trong phát triển kinh tế biển Sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn
đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn Ngày nay, bản đồ được hoàn thiện
và đem lại hiệu quả cao trong nghiên cứu nhờ kỹ thuật viễn thám và hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Hệ thống thông tin địa lí (GIS) là hệ thống đa dạng dùng để lưu trữ, xử lý, phân tích,
tổng hợp, điều hành và quản lý những dữ liệu không gian Đồng thời cho phép lấy và trình bày thông tin dưới dạng dễ tiếp nhận, trao đổi và sử dụng Các phần mềm và ứng dụng GIS là công cụ đắc lực cho việc số hóa bản đồ, xây dựng các lớp dữ liệu thuộc tính và không gian, thành lập các bản đồ chuyên đề phù hợp với việc thể hiện các nguồn lực phát triển, thực trạng phát triển các ngành và định hướng phát triển các ngành kinh tế biển của tỉnh Bạc Liêu trong
hiện tại và tương lai
Phương pháp dự báo được sử dụng dựa trên cơ sở xem xét, tính toán từ các số liệu và nguồn tư liệu đã thu thập được và sự phát triển có tính quy luật của các sự vật và hiện tương phát triển kinh tế biển của tỉnh trong quá khứ đến hiện tại và dự báo cho tương lai
6 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn được chia làm 3 phần:
Trang 16Ph ần mở đầu
Ph ần nội dung: Bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về biển và phát triển kinh tế biển
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển tỉnh Bạc Liêu
Ph ần kết luận
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ BIỂN 1.1 M ột số quan niệm và khái niệm về biển
1.1.1 Biển và đại dương
Trái đất là một hành tinh nước, vì biển và các đại dương chiếm khoảng 71% diện tích
bề mặt của nó Biển và đại dương đã được các nhà khoa học công nhận là cội nguồn của sự
sống trên Trái đất, bởi lẽ biển và đại dương có nhiều chức năng quan trọng liên quan tới sự
sống trên Trái đất Như đã biết, biển và đại dương chứa đựng nhiều hệ thống tự nhiên ở
những cấp độ và qui mô khác nhau Vì vậy, hiểu biết chính xác khái niệm về chúng giúp các nhà nghiên cứu và quản lý biết đúng đối tượng nghiên cứu và quản lý của mình ngay từ khi
bắt đầu công việc
Theo sự tưởng tượng của người Babylon và người Ai Cập cổ thì tên gọi “đại dương”
bắt nguồn từ tên riêng của con sông thần thoại Okêan Con sông này bao quanh các vùng đất
nổi mà hình dạng như một cái dĩa bằng phẳng Tuy nhiên, với sự phát triển của ngành hàng
hải dần dần cho thấy rằng, rõ ràng “đại dương” không phải là một con sông bao quanh các
lục địa mà đó chính là biển Ngày nay, đã có sự phân biệt và cách hiểu rõ ràng về biển và đại dương Để hiểu rõ hơn vấn đề trước hết ta cần biết về khái niệm thủy vực
Thủy vực (water - body) là một vùng trũng bất kỳ trên bề mặt Trái đất có chứa nước
thường xuyên bất kể nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, với các hình thái và qui mô khác nhau
Đại dương thế giới (word ocean) là toàn bộ các thủy vực có chứa nước mặn của Trái
đất và không phân biệt ranh giới Như vậy, trên hành tinh chúng ta chỉ tồn tại một đại dương
thế giới
Đại dương (ocean) là những thủy vực nước mặn có qui mô lớn trong đại dương thế
giới Nó cũng là những bộ phận quan trọng của đại dương thế giới và được phân định tương đối bởi ranh giới “nhân tạo” Thông thường, ranh giới về phía lục địa của đại dương được phân định với các vùng biển phía trong bởi các hệ thống đảo, tương ứng với các đới phá hủy
cấu trúc địa chất của rìa lục địa ở phía dưới
Trước kia, dựa vào truyền thuyết người ta đã chia ra thành 7 đại dương là: Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Đại Tây Dương, Nam Đại Tây Dương, Bắc Thái Bình Dương,
Trang 18Nam Thái Bình Dương và Đại Dương Nam Cực Đến năm 1845, tên của 3 đại dương: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mới được thừa nhận chính thức Đến nay, người ta chia ra và thừa nhận 4 đại dương chính: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương
Biển (sea) là một loại hình thủy vực nước mặn của đại dương thế giới, nằm sát các đại
lục và ngăn cách với đại dương ở phía ngoài bởi hệ thống đảo, bán đảo và ở phía trong bởi
bờ lục địa (còn gọi là bờ biển - shoreline) Do nằm sát lục địa và chịu ảnh hưởng của các quá trình lục địa (chủ yếu thông qua hệ thống sông ngòi), nước biển thường có thành phần
và tính chất khác với nước đại dương Cho nên trong các văn liệu, người ta còn gọi chúng là các biển rìa (marginal sea)
Theo thuật ngữ Địa lí (Nguyễn Dược - Nguyễn Trung Hải, NXBGD - 2001) đã đưa ra
khái niệm biển như sau: “Biển là bộ phận của đại dương, nằm gần hoặc xa đất liền nhưng có
những đặc điểm riêng khác với vùng nước của đại dương bao quanh (như nhiệt độ, độ mặn,
chế độ thủy văn, các vật liệu trầm tích đáy, các sinh vật…)”
Ngày nay, theo cách hiểu thông thường có thể thấy biển là một bộ phận biệt lập của đại dương, nó được phân biệt bởi những đặc điểm tự nhiên, chủ yếu là bởi những đặc điểm
thủy văn và khí hậu Biển có thể nằm giữa hai lục địa, ăn sâu vào lục địa hoặc tách ra khỏi đại dương bởi các bán đảo, đảo và địa hình ngầm
Điểm khác nhau cơ bản giữa biển và đại dương là kích thước, biển thì nhỏ hơn đại dương Biển thường là phần mở rộng của đại dương và là phần nối của đại dương và đất liền, khi biển rời xa hẳn khỏi đất liền thì lúc đó người ta gọi là đại dương
Tùy thuộc vào đặc tính của sự tiếp xúc giữa lục địa và đại dương, các biển được phân chia thành ba nhóm:
- Các biển trong lục địa: các biển này ăn sâu vào trong lục địa, nằm ở thềm lục địa và
Trang 19trưng của các biển này là sự chia cắt mạnh mẽ của đường bờ, sự chênh lệch rõ rệt của độ sâu, hoạt động địa chấn và hoạt động núi lửa mạnh mẽ
Như vậy, dù có nhiều cách hiểu dựa trên quan điểm tiếp cận về biển và đại dương khác nhau nhưng nó vẫn là khối nước khổng lồ bao quanh các lục địa Ngày nay, biển và đại dương cung cấp cho con người một kho tàng khổng lồ về thực phẩm, khí đốt, hóa chất, vật
liệu, điều hòa môi trường, phát triển du lịch và giải trí là nền tảng để phát triển kinh tế - xã
hội và tạo dựng nền văn minh cho loài người
1.1.2 Phạm vị không gian biển
Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật biển (Third United Nations
Cuối cùng một Công ước về luật biển hay Hiệp ước về luật biển được hình thành, sau nhiều
lần chỉnh sửa cho đến năm 1982 Kết quả là một công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994 Nội dung Công ước bao gồm một loạt điều khoản Những điều khoản quan trọng
nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo, và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, và dàn
xếp các tranh chấp Công ước đặt ra giới hạn cho các khu vực, tính từ đường cơ sở (baseline)
được định nghĩa rõ ràng, bao gồm các bộ phận:
Ngoài ra, còn có vùng biển quốc tế (vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của
do hàng không, đặt dây cáp và ống ngầm, đánh bắt cá, nghiên cứu khoa học nhưng phải tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác cũng như tuân thủ các quy định có liên quan đến
công ước Luật biển năm 1982
1.1.3 Quan niệm về vùng ven biển
Vùng ven biển (hay còn gọi là dải ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển…) là
một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn gốc phát sinh,
Trang 20về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa… Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về vùng ven biển vẫn còn chưa được
thống nhất, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học cả trong khoa học tự nhiên và trong khoa học kinh tế Theo các tài liệu nước ngoài, có các thuật ngữ sau:
- Nga: Vùng duyên hải
- Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte)
- Anh: Vùng ven biển (Coastal zone)
- Trung Quốc: Vùng diên hải hay Vùng duyên hải
Như vậy, quan niệm việc phân định và tiêu chí để xác định ranh giới vùng ven biển
của mỗi nước cũng khác nhau Dưới đây là một số khái niệm về vùng ven biển được chọn
lọc từ nhiều quốc gia và từng lĩnh vực khoa học cụ thể
Trong “Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lí tự nhiên (bốn thứ tiếng Nga, Anh,
cứu môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhưng hạn chế khi nghiên cứu về địa lí, nhân
khẩu học và kinh tế học, không nêu được những ảnh hưởng của biển đến các hoạt động kinh
tế biển
Tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển Việt Nam” tháng
12 năm 1992, Giáo sư Joe Baker của viện khoa học biển Autralia đã đưa ra định nghĩa: “Vùng
và lục địa nhưng vẫn còn hạn chế khi nghiên cứu về các tác động kinh tế - xã hội trong quá trình khai thác lợi thế của biển
Trong nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN cho rằng: “Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể
nói đó là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông, suối
và các vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn” Định nghĩa này tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự
nhiên và tài nguyên vùng ven biển Song, đối với nghiên cứu vấn đề về dân cư, kinh tế - xã
Trang 21hội của lãnh thổ này lại gặp nhiều khóa khăn trong việc thu thập và tính toán các số liệu thống
kê
Trong báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC), GS TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các Chương trình điều tra nghiên cứu biển của Việt Nam từ
năm 1997 - 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “Vùng ven biển Việt Nam chạy
được xác định bởi ranh giới hành chính các huyện có bờ biển, điều này thuận lợi cho thu thập tài liệu, số liệu cho các nghiên cứu về kinh tế - xã hội và dân cư
Khi phân tích các tác động kinh tế - xã hội và môi trường của phần lãnh thổ sát biển với các vùng bị nhiễm mặn cho thấy các hoạt động kinh tế - xã hội của dân cư mang những sắc thái đặc thù gắn với nguồn lợi ven biển Quá trình khai thác thềm lục địa, phát triển các lĩnh
vực kinh tế hướng tới mở rộng kinh tế đối ngoại qua đường hàng hải của dân cư các quốc gia
có biển cho thấy các định nghĩa chung về vùng ven biển phải đề cập không chỉ đến những tiêu chí khách quan về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển, mà còn phải
phản ánh được các vấn đề về dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội Đồng thời, phải tuân
thủ những điều luật quốc tế và quốc gia về xác định chủ quyền, ranh giới và các vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia trên biển Như vậy, có thể phân định vùng ven biển là toàn bộ đất
liền ven biển và các hải đảo trên phần biển hải phận và vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia Đó là không gian để bố trí các hoạt động kinh tế - xã hội hướng biển
Tóm lại, vùng ven biển là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển Vùng ven biển ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, và hội nhập quốc tế
của quốc gia trên biển Thực tiễn phát triển kinh tế biển nước ta cho thấy, vùng ven biển bao
gồm dải các đơn vị hành chính lãnh thổ có biển, vùng đảo và nội thủy thuộc đơn vị hành chính quản lí tương ứng và có mối liên hệ không gian như mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc, các cảng biển, đồng thời là cơ sở hậu cần cho quản lí và khai thác các đảo - quần đảo
xa bờ và ngoài khơi
1.2 Kinh tế biển
1.2.1 Khái niệm kinh tế biển
Kinh tế biển là một bộ phận của nền kinh tế chung, các ngành kinh tế biển ngày càng
có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người Cho đến nay, việc xác định
Trang 22khái niệm và nội dung kinh tế biển vẫn là vấn đề nhiều tranh cãi Hiện nay, có nhiều quan
niệm khác nhau về kinh tế biển, tùy theo hướng tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu của các tác
giả, dưới đây là một số quan niệm về kinh tế biển:
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Hường (Tạp chí hoạt động khoa học kỹ thuật – số 5 năm
1996) đã viết: “Kinh tế biển là một lĩnh vực bao trùm gồm nhiều ngành hoạt động liên quan
đến biển như: thủy sản, du lịch, giao thông vận tải, dầu khí,… nhằm khai thác toàn bộ lợi ích mà bi ển có thể mang lại để phát triển đất nước”
Hiện nay thế giới thống nhất kinh tế biển là nền kinh tế tổng thành của các ngành công nghiệp do môi trường biển đem lại Môi trường biển được định nghĩa là những vùng biển có
chủ quyền: mặt nước ven bờ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế Môi trường biển là một chức năng gồm cả công nghiệp và địa lí Ngày nay, khi xem xét kinh tế biển, người ta thường đề cập đến kinh tế vùng ven biển ở một mức độ cần thiết, để có một khái niệm mang tính quy ước khi phân tích
Quan niệm kinh tế biển theo nghĩa hẹp: “Kinh tế biển bao gồm toàn bộ hoạt động kinh
d ịch vụ tiềm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; kinh tế đảo”
Quan niệm kinh tế biển theo nghĩa rộng (quan niệm hiện nay thường dùng trong phân tích kinh tế biển): “Bao gồm cả các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển kể trên và các hoạt
động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: đóng
phát tri ển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên biển – môi trường biển”
Quan niệm kinh tế biển theo nghĩa rộng cũng phù hợp với thông lệ quốc tế Ví dụ trong thống kê hàng năm về kinh tế biển của Trung Quốc cũng bao gồm: hàng hải, khai thác
dầu và khí thiên nhiên ngoài khơi, các bãi biển, công nghiệp muối, đóng tàu biển, viễn thông và vận tải biển, du lịch biển, giáo dục và khoa học biển,… Như vậy, quan niệm kinh
tế biển theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng đã chỉ ra các ngành nghề, các hoạt động của kinh
tế biển
Từ các quan niệm về kinh tế biển như đã nêu cho chúng ta thấy đặc điểm của kinh tế
biển khác so với một số lĩnh vực kinh tế khác đó là:
Trang 23- Kinh tế biển là một lĩnh vực kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực Bao gồm nhiều ngành, nghề khác nhau, có quan hệ và tác động lẫn nhau
- Quá trình phát triển của kinh tế biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện về vị trí địa
lí, tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển, các nhân tố khí hậu… Kinh tế biển chịu sự tác động rất lớn của thiên nhiên, bão lũ…
- Kinh tế biển phát triển chủ yếu nhờ vào việc khai thác tài nguyên, khoáng sản là chính Ví dụ như khai thác dầu khí, đánh bắt thủy sản, du lịch,…
- Kinh tế biển là lĩnh vực kinh tế mà ở đó mọi hoạt động chủ yếu diễn ra trên biển và ven biển Do vậy, tác động rất lớn đến môi trường sinh thái biển
- Trong kinh tế biển các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò đầu tàu trong một số ngành
trọng yếu của kinh tế biển như tìm kiếm, khai thác, chế biến dầu khí; khai thác khoáng sản
biển và ven biển; cảng biển… Với vốn đầu tư lớn, sử dụng lao động và công nghệ chất lượng cao, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, nhiệm vụ mở đường, hỗ trợ cho các ngành kinh tế phát triển, khai thác có hiệu quả tài nguyên biển
- Hoạt động kinh tế biển mang tính liên vùng, biểu hiện thông qua vận tải biển, khai thác đánh bắt thủy sản… không chỉ dừng lại trong phạm vi vùng biển của địa phương mà
diễn ra trên phạm vi thềm lục địa thuộc chủ quyền quốc gia có biển
Trong đề án: “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và các hải
đảo Việt Nam đến năm 2010” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì (1995 – 1996), các tác giả
cho rằng: “Kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và
khi nói đến kinh tế biển không thể tách vùng biển với vùng ven biển và ngược lại” Khái
niệm này đã chỉ ra các hoạt động kinh tế biển và không gian của kinh tế biển bao gồm cả hai
bộ phận là không gian biển và không gian dải đất liền ven biển Như vậy trong phát triển kinh tế biển không thể tách rời với vùng ven biển, việc tách rời kinh tế biển và vùng ven
biển thành hai lĩnh vực riêng biệt là vô cùng khó khăn trong phát triển Có thể hiểu đơn giản như các khái niệm trên, môi trường biển cung cấp nguyên liệu và là môi trường cho một số ngành gắn trực tiếp với biển phát triển như hàng hải và du lịch trên biển đảo, nhưng các hoạt động sản xuất, phục vụ khai thác, dịch vụ hỗ trợ cho các ngành trên phát triển đều nằm trên
Trang 24dải đất liền ven biển Bên cạnh đó có nhiều ngành có lien quan gián tiếp đến biển như đóng tàu, lọc dầu, …
Tóm lại, kinh tế biển và kinh tế ven biển không thể hoàn toàn tách biệt nhau, có chăng thì sự khác nhau cơ bản của hai khái niệm này chính là về không gian phát triển, từ đó sẽ có
cơ cấu ngành kinh tế khác nhau, sẽ có những ngành chung của hai lĩnh vực này và có những ngành mang tính đặc thù của một không gian nhất định
Theo đó, đối với lãnh thổ Việt Nam, kinh tế biển và vùng ven biển là các hoạt động kinh tế ở dải ven biển, có thể tính theo địa bàn các xã ven biển, các huyện ven biển hoặc cũng có thể là các tỉnh ven biển – có biên giới đất liền tiếp giáp với biển, bao gồm các các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trên phạm vi địa bàn lãnh thổ này
1.2.2 Cơ cấu kinh tế biển
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Từ định nghĩa này có thể nhấn mạnh đến hai nội dung chủ yếu:
thứ nhất, đó là tổng thể các bộ phận (thành phần) hợp thành; thứ hai, chúng có mối quan hệ
hữu cơ tương đối ổn định Cơ cấu nền kinh tế có 3 bộ phận hợp thành: cơ cấu ngành kinh tế,
cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ kinh tế
Đối với cơ cấu kinh tế biển, từ nhiều nghiên cứu quốc tế về biển đã đi đến tổng kết cấu trúc kinh tế biển thường người ta phân chia chủ yếu theo cơ cấu ngành kinh tế biển và phân chia cơ cấu lãnh thổ (không gian) kinh tế biển
Cơ cấu ngành (lĩnh vực) kinh tế là một bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân Đây là tổng hợp các ngành (lĩnh vực) của nền kinh tế được sắp xếp theo một tương quan tỉ lệ nhất định Nói cách khác, cơ cấu ngành thể hiện số lượng, tỉ trọng của các ngành (lĩnh vực) tạo nên nền kinh tế và giữa chúng có mối quan hệ tương quan, thể hiện trình độ phát triển của nền kinh tế
Có rất nhiều ngành tạo thành nền kinh tế Về đại thể, chúng được phân thành ba nhóm ngành sau đây: Khu vực 1 bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; Khu vực 2 bao
gồm công nghiệp và xây dựng; Khu vực 3 là dịch vụ Cần chú ý thêm, trong nền kinh tế có
cơ cấu ngành thì trong bản thân từng ngành cũng tồn tại cơ cấu đó Chẳng hạn, cơ cấu ngành của ngư nghiệp là tương quan tỷ trọng giữa đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản,…
Trang 25Cơ cấu kinh tế biển ngày nay được các nhà khoa học về biển trong nhiều đề tài khác nhau đã coi kinh tế biển là một bộ phận của nền kinh tế chung của các quốc gia, vùng lãnh
thổ có biển Đồng thời, bản thân kinh tế biển là một ngành kinh tế tổng hợp gồm nhiều bộ
phận cấu thành và giữa các bộ phận đó có mối quan hệ tương quan chặt chẽ với nhau
Xét về cơ cấu ngành kinh tế biển có rất nhiều cách phân chia khác nhau nhưng nhìn chung nội dung thì tương tự nhau, tùy theo cách sắp xếp các nhóm ngành Các nhóm ngành chính của kinh tế biển bao gồm: 1 Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); 2
5 Làm mu ối
Hiện nay, tùy theo tiềm năng và thế mạnh của từng quốc gia, khu vực có biển có thể
bổ sung thêm các ngành kinh tế biển khác như ngành kinh tế đảo, ngành kinh tế lấn biển
Những ngành này chủ yếu đáp ứng cho nhu cầu về du lịch và tạo thêm nhiều diện tích cư trú thêm cho loài người trên Trái đất
Cơ cấu ngành kinh tế biển thể hiện trình độ sự phân công lao động xã hội của kinh tế
biển, đồng thời thể hiện trình độ phát triển về kinh tế biển của các quốc gia, vùng lãnh thổ
có biển trên cơ sở phát triển mạnh các ngành thiên về khai thác tài nguyên hay các ngành thiên về yếu tố khoa học, kỹ thuật Nhìn chung, các ngành kinh tế biển nói chung đã có sự phát triển mạnh mẽ qua các giai đoạn cho đến nay
Kinh t ế hàng hải: Ngành hàng hải ra đời, biển chẳng những là cầu nối giữa các
châu lục, các quốc gia mà còn là tài sản vô giá của Trái đất Từ sau những cuộc phát kiến địa lí lớn, ngành hàng hải mới chính thức ra đời và phát triển khá nhanh cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, với sự trao đổi hàng hóa giữa chính quốc và các nước thuộc địa,
giữa các nước có nền kinh tế phát triển và các nước kém phát triển
Vận tải biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên, con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng miền, các quốc gia với nhau trên thế giới Cho đến nay, vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế
Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển không lớn, nhưng vì đường dài nên
hiện nay đường biển đảm đường tới 3/5 khối lượng luân chuyển hàng hóa của tất cả các phương tiện vận tải trên thế giới Không chỉ có các tuyến viễn dương có ý nghĩa quan trọng,
mà cả các tuyến vận tải ven bờ cũng có ý nghĩa đối với các nước có đường bờ biển
Trang 26Đại dương bao la nhưng các tuyến đường hàng hải lại chỉ tập trung ở một số tuyến quan trọng: Bắc Đại Tây Dương nối châu Âu với Bắc Mỹ, Địa Trung Hải – châu Âu qua kênh đào Suez; thông qua kênh Panama nối châu Âu và bờ Đông Hoa Kỳ và châu Á; đường
biển Nam Phi nối châu Âu qua châu Mỹ với châu Phi; đường biển Nam Mỹ nối châu Âu và
Bắc Mỹ với Nam Mỹ; đường Biển Bắc Thái Bình Dương nối Tây Hoa Kỳ với Nhật Bản và Trung Quốc, đường biển Nam Thái Bình Dương từ Tây Hoa Kỳ đến Ôxtrâylia, Niu Dilân, Inđônêxia và Nam Á; đường biển từ vùng vịnh Pecxich qua mũi Hảo Vọng (Nam Phi) đến châu Âu và châu Mỹ danh tiếng cho các tàu chở dầu khổng lồ không đi qua được kênh đào Suez
Vận tải đường biển là loại phương tiện vận tải hàng hóa chủ yếu nhất trong thương
mại quốc tế Trước khi thế giới bước vào kỷ nguyên của các chuyến bay liên lục địa thì vận chuyển hành khách bằng tàu biển khá quan trọng, nhất là ở Bắc Đại Tây Dương, nối châu
Âu và Bắc Mỹ Vào năm 1838, vượt Đại Tây Dương hết 15,5 ngày (tàu Great Western), thì đến đầu thế kỷ XX chỉ còn 4,5 ngày (tàu Mauritania, 1907) và đến năm 1952 chỉ còn 3,5 ngày (tàu United States) Nhưng cũng từ thời điểm đó, vận tải hàng không đã chiếm mất vị trí độc tôn của tàu vận tải khách xuyên Đại Tây Dương Hiện nay, chỉ còn một số tàu chở khách viễn dương nhằm mục đích du lịch, các phà biển (ferries) hay các tàu chở khách nhỏ
như các nước quần đảo Inđônêxia, Philippin, các nước vùng Caribê Trong khi việc chuyên
chở hành khách bằng đường biển giảm sút thì việc chuyên chở dầu mỏ, các hàng hóa khác
lại tăng lên nhanh chóng Việc chuyên chở các loại khoáng sản, gỗ, ngũ cốc,… vẫn còn chiếm một khối lượng lớn, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, việc chuyên chở các loại hàng
chế biến ngày càng tăng mạnh
Khoảng ½ khối lượng hàng vận chuyển trên đường biển quốc tế là dầu mỏ và các sản
phẩm dầu mỏ Việc chở dầu bằng các tanke luôn đe dọa ô nhiễm môi trường Toàn thế giới có hàng nghìn tàu chở dầu có trọng tải trên 100 nghìn tấn đang hoạt động Tàu chở dầu chở tới hơn 300 loại sản phẩm dầu mỏ và mỡ Mỗi khi lấy hàng, người ta xả nước vào các khoang để
rửa sạch tàu rồi trút nước và cận bẩn xuống biển
Hiện nay, có khoảng 100.000 tàu biển có tải trọng trên 100 tấn đang hoạt động khắp
Thế giới, trong đó ½ làm nhiệm vụ vận tải, còn ½ làm nhiệm vụ dịch vụ Cùng với sự mở
rộng buôn bán quốc tế, đội tàu biển đã tăng lên cả về số lượng và trọng tải trung bình
Đối với địa lí vận tải đường biển, mạng lưới các cảng biển có ý nghĩa căn bản Cảng
biển là nơi tàu biển đỗ tiện lợi và an toàn, nơi có thể tiến hành bốc dỡ hàng hóa và xếp hàng
Trang 27mới Thông thường các cảng tự nhiên được xây dựng ở bờ vịnh nước sâu hay ở các cửa sông Người ta thường phân loại các cảng thành cảng địa phương, cảng khu vực hay cảng
quốc tế, cảng chuyển tải, cảng bách hóa hay cảng chuyên dụng
Lịch sử của ngành đường biển thế giới cho thấy kinh tế biển luôn được coi là ngành mũi nhọn, trong đó vai trò chủ đạo là cảng biển Nơi nào có cảng biển, nơi đó sẽ là thành
phố với kinh tế, công nghiệp và giao thương phát triển Cảng biển phồn vinh, kinh tế biển càng mạnh
Cảng biển là kết cấu hạ tầng quan trọng của kinh tế hàng hải, nó phải đi trước một bước để thúc đẩy các ngành kinh tế biển khác phát triển Vì vậy, cần phải có một quy hoạch
cụ thể, phù hợp vì hoạt động của một cảng biển tồn tại đến hàng trăm năm hoặc lâu hơn thế
Chẳng hạn cảng Rotterdam của Hà Lan hình thành từ những năm 1860 đến nay đã hơn 150
mà vẫn còn sầm uất, hiện nay vẫn là cảng lớn nhất châu Âu và còn nhiều cảng khác như:
cảng London của Anh, cảng Hamburg của Đức, cảng Antwerp của Bỉ cũng tương đồng ý nghĩa đó
Cảng nằm trong một hệ thống phân phối hàng hóa Vì vậy, để phân tích sự phát triển
và hoạt động của cảng, người ta phải quan tâm đến hậu phương (hinterland) và vùng trước
cảng (foreland) Vùng trước cảng xác định sự tham gia của cảng vào nền kinh tế thế giới
Hiện nay, thế giới có khoảng 6000 – 7000 cảng đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng 100 cảng
có ý nghĩa toàn cầu
Ngành kinh tế đóng tàu luôn bị lôi kéo bởi kinh tế cảng, vì kinh tế cảng là khách hàng
của kinh tế đóng tàu và đây cũng là một nhân tố quan trọng trong phát triển ngành hàng hải
thế giới Thế giới có hơn 50 nước có ngành công nghiệp đóng tàu và đứng đầu những nước này là Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Brasil… với số lượng tàu đóng mới ngày càng nhiều và trọng tải ngày càng lớn Nhật Bản là cường quốc số một thế giới về ngành công nghiệp đóng tàu, với sản lượng chiếm khoảng 50% thế giới, vượt cả các nước phát triển khu
vực Tây Âu
Thành tựu đóng tàu của thế giới trong những năm gần đây có sự dao động không lớn về
cả số lượng tàu mới và tổng trọng tải của chúng Loại tàu đóng mới rất đa dạng: cả tàu biển và tàu sông, riêng tàu biển có 4 loại chính:
+ Tàu chở hàng: hàng chất đốt, hàng rời, tàu dầu, tàu container…
+ Tàu kỹ thuật: cầu nối, tàu nạo vét, tàu kéo đẩy, tàu khoan,…
+ Tàu đánh cá: tàu đánh cá xa bờ, tàu đánh cá gần bờ, tàu chế biến…
Trang 28+ Tàu khách: tàu khách vượt đại dương, tàu khách nội địa…
Nhìn chung, ngành công nghiệp đóng tàu từ năm 1960 trở lại đây có rất nhiều đột phá:
về mặt trọng tải tới 500.000 – 600.000 DWT, về mặt thể loại rất đa dạng như tàu phá băng nguyên tử, tàu ngầm, tàu chiến hạm, tàu đánh cá xa bờ 1000 CV… Đây cũng chính là nguyên nhân xuất hiện nhiều cảng siêu sâu trên thế giới
H ải sản: nguồn lợi hải sản là thế mạnh đặc trưng của biển và khi nói về kinh tế biển
không thể không nhắc đến vai trò, vị trí của nó Ngành hải sản bao gồm các lĩnh vực như: khai thác, nuôi trồng, chế biến
Theo thống kê của FAO, hiện nay toàn thế giới có hơn 160 quốc gia làm kinh tế thủy
sản, trong đó có hơn 20 quốc gia có sản lượng đánh bắt cá biển trên 1 triệu tấn/năm thuộc châu Á, châu Âu, châu Mỹ
Sản lượng khai thác thủy sản từ nửa sau thế kỷ XX cho đến này ngày càng tăng nhanh Vào những năm 1950, sản lượng khai thác gần 20 triệu tấn thì đến những năm đầu thế kỷ XXI, sản lượng khai thác đạt gần 100 triệu tấn Các nước có sản lượng đánh bắt thủy sản lớn
nhất thế giới là Trung Quốc (gần 18 triệu tấn), Pêru (gần 8 triệu tấn), Hoa Kỳ (5 triệu tấn),
Nhật Bản (4,8 triệu tấn), Inđônêxia (4,3 triệu tấn), Chilê (4 triệu tấn), Ấn Độ (3,9 triệu tấn), Liên Bang Nga (3,7 triệu tấn), Thái Lan (2,9 triệu tấn) và Na Uy (2,8 triệu tấn) Đến năm
2009, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng khai thác hải sản trên biển, xếp thứ 12 trên thế giới về năng lực đánh bắt với sản lượng luôn ổn định ở mức 1,5 – 1,8 triệu tấn/năm
Các ngư trường khai thác thủy sản chủ yếu của thế giới là Biển Bắc, Đông Bắc Đại Tây Dương, Tây Bắc Đại Tây Dương, Trung Tâm Tây Đại Tây Dương, Tây Nam Đại Tây Dương, Bắc Địa Trung Hải, Đông Ấn Độ Dương, Tây Bắc Thái Bình Dương, Đông và Đông Bắc Thái Bình Dương, Tây Nam Thái Bình Dương
Ngành khai thác thủy sản đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ Cần phải có đội tàu đánh cá lớn với tàu chế biến đi kèm, lưới tốt, thiết bị hiện đại thăm dò luồng cá, các
cảng cá, xí nghiệp sửa chữa tàu, chế tạo ngư cụ, các cơ sở hậu cần dịch vụ…
Tuy nhiên, việc khai thác thủy sản quá mức ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản Vì
vậy, vấn đề khai thác hợp lý kết hợp với bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thủy sản có ý nghĩa to lớn Một số ngư trường, chẳng hạn bãi cá thu Grand Banks ngoài khơi phía đông Canada, đã bị khai thác vượt quá khả năng phục hồi Đánh bắt cá quá mức đã trở thành một
vấn đề lớn Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, hơn 25% ngư trường trên thế giới bị khai
Trang 29thác quá mức, 50% bị đánh bắt hết công suất và 75% cần được cấm hoặc giảm tốc độ đánh
bắt ngay lặp tức để đảm bảo nguồn cá cho tương lai Tuy nhiên đánh bắt từ biển vẫn cung
cấp cho thế giới tới 2/3 sản lượng thủy sản
Ngành nuôi trồng đã và đang phát triển nhanh chóng với vị thế ngày càng cao Rõ ràng, nguồn tài nguyên biển là có giới hạn, lại đang bị con người khai thác quá mức Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới, việc phát triển nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng
Sản lượng thủy sản nuôi trồng của thế giới từ năm 1950 đến nay tăng gấp 3 lần, đạt trên 48 triệu tấn Các loại thủy sản được nuôi ở các vùng nước lợ và nước mặn ngày càng
phổ biến với nhiều loài có giá trị cao về thực phẩm, về kinh tế đã trở thành đối tượng nuôi
trồng để xuất khẩu như tôm (tôm sú, tôm hùm,…), cua, cá…
Ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh ở các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn
Độ, Nhật Bản, Philippin, Việt Nam… Ngoài ra còn có các nước khác như Bănglađet, Hàn
Quốc, Chilê,…
Hoạt động chế biến thủy hải sản, đây là biện pháp tốt nhất nhằm bảo quản các sản
phẩm thủy hải sản từ hoạt động đánh bắt và nuôi trồng, mặt khác nó cũng làm nâng cao giá
trị sản phẩm Nguồn nguyên liệu hải sản dồi dào cung cấp cho các ngành công nghiệp chế
biến, tạo một bước khởi đầu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phát triển Trên thế giới, ngành công nghiệp chế biến hải sản rất phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, góp phần tăng giá trị của các nguồn tài nguyên trong lòng biển cả
Khai thác d ầu khí ngoài khơi: trong điều kiện thuận lơi, trải qua những biến đổi
địa chất, dầu mỏ được hình thành và tích tụ ở các lớp đá phù hợp (côlectơ) có độ nứt nẻ hay
có độ rỗng và có khả năng chứa dầu Tập hợp các vỉa dầu ở một khu vực nhất định của vỏ Trái đất tạo nên mỏ dầu Người ta khai thác dầu từ các giếng với lỗ khoan hẹp khoan trong
đá cho tới vỉa chứa dầu Sau khi được khoan tới vỉa chứa dầu, dầu thô được hút lên mặt đất Khi vỉa dầu còn đủ áp lực thì dầu theo giếng đi lên và tràn ra mặt đất Khi áp suất trong vỉa
tuột xuống, giếng không tự phun được, người ta phải dùng bơm Dầu từ vỉa được hút và
bơm lên các bể chứa rồi được vận chuyển bằng đường ống tới các trung tâm lọc, hóa dầu
Dầu mỏ và các sản phẩm của nó được dùng làm nhiên liệu chiếm vị trí số một trong số các loại nhiên liệu do dễ sử dụng, vận chuyển và có khả năng sinh nhiệt cao (10.000 – 11.500 kcal/kg) Dầu mỏ, khí đốt là nguồn năng lượng mới, chỉ thực sự được sử dụng nhiều
Trang 30vào nửa sau thế kỷ XX, từ 2% năm 1860 lên 4% năm 1900, đến 26% năm 1940 và 44% năm 1960 rồi đạt cực đại vào thập kỷ 80 gắn liền với sự phát triển của ngành giao thông vận
tải, công nghiệp hóa chất, đặc biệt là hóa dầu… Dầu mỏ được coi là “vàng đen” của nhân
loại
Khí thiên nhiên trong một thời gian dài bị coi thường Khí đồng hành ở các mỏ dầu đã
bị đốt đi một cách phí phạm Ngày nay, khí thiên nhiên là nhiên liệu sạch, có hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi trường hơn so với việc sử dụng than và dầu nên được tận dụng một cách triệt để
Tây Nam Á là khu vực có tiềm năng cực lớn về dầu mỏ và chiếm tới 65% trữ lượng
của Thế giới Tiếp theo với trữ lượng nhỏ hơn nhiều là châu Phi (9,3%), Liên Xô cũ và Đông Âu (7,9%), Trung và Nam Mỹ (7,2%) Nếu phân theo nhóm nước thì hơn 80% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu tập trung ở các nước đang phát triển Trữ lượng khí đốt nhiều nhất cũng thuộc về Tây Nam Á, Liên Xô cũ và Đông Âu, châu Phi, Viễn Đông – ASEAN
Nhờ những tiến bộ về khoa học kỹ thuật mà con người ngày càng phát hiện thêm nhiều
mỏ dầu – khí mới, làm cho trữ lượng của chúng tăng lên đáng kể Theo đánh giá của các chuyên gia, trữ lượng ước tính của dầu mỏ từ 400 đến 500 tỉ tấn, còn trữ lượng chắc chắn khoảng 140 tỉ tấn và khoảng 190 nghìn tỉ m3 khí đốt
Công tác thăm dò, khai thác và lọc hóa dầu đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao,
vốn đầu tư lớn, khả năng quản lý giỏi về kinh tế Vì thế, việc điều hành quản lý công tác thăm dò khai thác và chế biển dầu hiện nay là độc quyền của một số công ty và tâp đoàn dầu khí lớn như Exxon, Shell, Mobil, BP,… Các nước đang phát triển giàu nguồn tài nguyên này đều phải hợp tác, liên doanh và chia sẻ quyền lợi với các công ty dầu mỏ hàng đầu thế
giới
Dầu khí là tài nguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội nhất của biển Hiện nay, tại các khu
vực có tiềm năng dầu khí lớn, đang có các hoạt động khai thác với quy mô ngày càng lớn, góp phần quan trọng vào việc thay đổi cơ cấu năng lượng của thế giới Bên cạnh đó, khí thiên nhiên cũng là một nguồn tài nguyên to lớn, có thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng của các ngành công nghiệp
Du lịch biển: theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO, 1994): “Du lịch là một
người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức,… và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm sống”
Trang 31Du lịch biển là ngành du lịch nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của du khách Các tài nguyên phục vụ hoạt động du lịch biển bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên (các bãi biển, hệ thống các đảo và quần đảo, nguồn nước, tài nguyên sinh vật,…) và tài nguyên du lịch nhân văn (các lễ hội, hoạt động thể thao…), có thể khai thác, phát triển nhiều loại hình du lịch tham quan, nghĩ dưỡng, chữa
bệnh, nghiên cứu, giải trí, thể thao,…
Kiểu địa hình ven bờ, đặc biệt là các bãi cát ven biển, đảo thường được gọi là các bãi
biển Địa hình tự nhiên đa dạng của dải ven biển tạo ra những thắng cảnh đẹp Các bãi biển,
hệ thống các đảo và quần đảo đóng một vai trò quan trọng trong việc sử dụng tiềm năng tự nhiên của biển vào mục đích nghỉ ngơi và du lịch biển
Các bãi biển hấp dẫn du khách và thuận lợi phát triển các loại hình du lịch tắm biển, lặn
biển, thể thao biển, nghỉ dưỡng chữa bệnh cần có các điều kiện: có bãi cát trắng, mịn, chiều dài và chiều rộng lớn, có độ dốc từ 1 – 30, nước biển có độ trong suốt cao từ 3 – 5 m, độ mặn
từ 2,5 – 4 %, đảm bảo các tiêu chuẩn lý hóa sinh không bị ô nhiễm, độ sâu của bãi tắm không quá 1,5 m, độ sâu của các vùng ven bờ phát triển du lịch lặn biển thường từ 20 – 30 m
Những bãi biển có độ dốc lớn hơn 30, độ sâu trên 1,5 m, độ mặn trên 4% hoặc nhỏ hơn 2,5%, sóng cao trên 1,5 m, độ trong suốt dưới 0,5 m, nước bị ô nhiễm đều không thuận lợi cho hoạt động tắm biển
Ngoài ra, để phát triển du lịch biển nhân tố khí hậu cũng rất quan trọng Khí hậu ấm
áp, nhiều nắng thuận lợi cho phát triển du lịch biển Khí hậu vùng ven biển thường là môi trường nghỉ dưỡng an toàn cho du khách Chính sự phân bố các vùng khí hậu khác nhau đã
tạo ra mức độ thuận lợi khác nhau trong việc sử dụng các bãi biển vào mục đích nghỉ ngơi
và du lịch Theo các nhà khí hậu học, vùng ven biển có khí hậu rất thuận lợi cho hoạt động
du lịch vì nhiệt độ ở đây cũng không quá nóng và cũng không quá lạnh như ở lục địa
Tài nguyên sinh vật vùng ven biển đa dạng, phong phú, là tiền đề phát triển loại hình
du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học như: hệ thống rừng ngập mặn, san hô,… Bên cạnh đó, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, các làng nghề truyền thống đã gắn
chặt với đời sống người dân vùng biển đang là một lợi thế khai thác du lịch biển, nhất là nghệ thuật ẩm thực vùng ven biển, một sắc thái rất riêng của vùng biển là một tài nguyên du lịch
tạo sức hấp dẫn và lôi cuốn du khách một cách mạnh mẽ
Tài nguyên nước ở vùng ven biển cho phép khai thác nhiều loại hình du lịch tùy thuộc vào lưu lượng dòng chảy, chế độ sóng có thể khai thác các loại hình du lịch như tắm biển
Trang 32(loại hình phổ biến nhất), lặn, tham quan đáy biển hoặc các hoạt động thể thao diễn ra trên
biển như thuyền buồm, lướt ván, du thuyền,…
Hiện nay, du lịch biển đang trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch, đem
lại nguồn thu lợi lớn, góp phần tăng thu nhập cho người dân cũng như nguồn ngân sách
Theo UNWTO (T ổ chức du lịch thế giới), có hơn 70% số khách rất thích đi du lịch biển
Khai thác mu ối biển: là một nghề truyền thống và giữ vị trí quan trọng đối với
đời sống nhân dân vùng ven biển Muối thu được từ nước biển có các tinh thể nhỏ hoặc lớn hơn muối mỏ Trong tự nhiên, muối có thể thu được bằng cách cho bay hơi nước biển dưới ánh nắng trong các ruộng muối
Tài nguyên muối và các hóa phẩm biển chủ yếu là các loại muối như: NaCl, MaCl, MgSO, CaSO, CaCO,… Trong đó, chủ yếu là NaCl là nguồn thực phẩm tối cần thiết của
cuộc sống và nguyên liệu để điều chế các hóa phẩm công nghệ khác từ nước biển như Magiê, Clo, Brôm, Kali hay sản xuất axit clohydric,…
Kinh t ế lấn biển: toàn bộ bề mặt đất có 510 triệu km2, trong đó có 149 triệu km2
tức khoảng 29,2% là đất liền được sử dụng làm không gian sống cho con người Dân số thế
giới ngày càng tăng và tăng rất nhanh, diện tích bề mặt đất sử dụng cho mục đích là không gian sống của con người ngày càng bị thu hẹp bởi những mục đích khác nhau Vì vậy, diện tích đất bình quân trên đầu người ngày càng bị thu hẹp Lúc này con người phải tiến ra biển
để khai thác 71% diện tích còn lại trên Trái đất cho sự sống của toàn nhân loại Vì vậy, lấn
biển là xu thế tất yếu của thời đại
Trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia thực hiện chính sách lấn biển Các công trình lấn
biển đã góp phần đáp ứng nhu cầu về nhà ở và phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trong khi chinh phục tự nhiên, con người cũng phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn về môi trường và xã hội
Hiện nay, trên thế giới có nhiều dự án lấn biển đã và đang được đưa vào sử dụng,
những dự án này được diễn ra những nước phát triển và cả những nước đang phát triển
Hiện nay, có hai biện pháp lấn biển được sử dụng là:
- Quai đê hạ thấp mực nước, làm khô đất, cải tạo đất trên khô với nhiều chất xúc tác hóa học khác nhau
- Quai đê ngăn mặn, cải tạo đất bằng hệ thống nước ngọt
Cường quốc lấn biển số một thế giới là Hà Lan, 1/3 diện tích của nước này có được là
do lấn biển Điển hình cho những dự án lấn biển đó là những công trình phục vụ cho việc
Trang 33phát triển kinh tế biển như dịch vụ, xây dựng cảng biển, tạo ra diện tích trồng trọt, nuôi trồng
thủy sản, xây dựng công trình đô thị, cơ sở hạ tầng, lấy đất sử dụng cho mục đích sinh sống
của con người Chính phủ Hàn Quốc bỏ nhiều tiền cho công trình lấn biển ở Saemageaum Đất nước nhỏ bé Monaco chỉ vỏn vẹn với diện tích 2 km2 cũng tìm cách mở rộng diện tích
bằng cách lấn ra biển Địa Trung Hải thêm 15 ha với các giải pháp tôn trọng hệ sinh thái biển
Tại Singapo khoảng 20% diện tích mới của dải này là đất lấn biển, sân bay quốc tế Kansai là sân bay đầu tiên trên thế giới được xây dựng trên đất lấn biển từ năm 1987…
Ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, hiện có rất nhiều dự án lấn biển được
tiến hành Đa số các hoạt động lấn biển trong thời gian qua chủ yếu phát triển cơ sở hạ tầng
để hình thành các khu dân cư đô thị và khu giải trí cao cấp ven biển: khu đô thị lấn biển Hải
Âu – Kiên Giang, khu đô thị lấn biển Đa Phước – Đà Nẵng, dự án quai đê lấn biển Tiên Lãng – Hải Phòng
Lấn biển đã và đang đem lại những hiệu quả kinh tế cho toàn nhân loại Tuy nhiên,
vấn đề này đã tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên, cần phải có chiến lược phát triển được xét trong cái tổng thể, có mối liên hệ với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nhằm đem lại
hiệu quả cao nhất về kinh tế, môi trường, xã hội
Theo định nghĩa về kinh tế biển, cơ cấu lãnh thổ hay không gian kinh tế biển bao gồm hai bộ phận là không gian trên biển và lãnh thổ của dải đất liền ven biển Theo đó, không gian trên biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, là môi trường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển,… phạm vi dải đất liền ven biển là không gian tổ chức các hoạt động sản xuất và phục vụ khai thác biển
Tuy nhiên, cũng có cách quan niệm khác về cơ cấu lãnh thổ kinh tế biển Theo đó, lãnh thổ kinh tế biển tập trung chủ yếu vào các mảng không gian: 1 không gian ven bờ (ven
biển và ven bờ); 2 không gian biển; 3 không gian đảo; và 4 không gian đại dương Đối với kinh tế biển nói chung, cả bốn mảnh không gian này đều rất quan trọng vì nó cung cấp
những tiềm năng với lợi thế khác nhau cho phát triển kinh tế
Không gian vùng b ờ: bao gồm hai bộ phận là không gian vùng ven biển và
không gian vùng ven bờ có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế biển Không gian vùng ven biển là “bàn đạp” tiến ra biển, là hậu phương hỗ trợ các hoạt động trên biển thông qua các trung tâm kinh tế đảo Không gian vùng ven bờ là mảng không gian cực kì quan
trọng để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là đối với phát triển thủy sản Vùng này là nơi cư
Trang 34trú tự nhiên, sinh đẻ và ươm nuôi ấu trùng của nhiều thủy sinh vật (90% các loài thủy hải
sản sống ở vùng thềm lục địa và biển xa có tập tính gắn bó với vùng ven bờ) Các hệ sinh thái quan trọng (rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng nhập mặn,…) đều tập trung ở vùng này, cung cấp tiềm năng bảo tồn đa dạng sinh học biển và nguồn giống hải sản tự nhiên cho nghề khai thác, nuôi trồng thủy hải sản
Không gian bi ển: là một không gian rộng lớn để phát triển các hoạt động hàng
hải và khai thác mỏ (chủ yếu là dầu khí) Đó là không gian phát triển ngành khai thác hải
sản, không gian bố trí các công trình biển như giàn khoan dầu khí, các công trình biển khác
để xúc tiến nuôi trồng thủy sản; là nơi diễn ra các hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế Phát triển không gian biển phải gắn chặt với kinh tế đảo, các trung tâm kinh tế vùng ven
biển, đồng thời bảo vệ môi trường biển
Không gian đảo: là nơi quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi thủy
sản, phát triển nghề cá, nuôi trồng thủy hải sản (các đầm phá nông quanh các đảo, quần đảo)
và du lịch sinh thái biển Để sử dụng không gian hợp lý cho phát triển kinh tế cần xác định
chức năng theo thế mạnh của từng đảo để tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế hải đảo Trên thế giới có 10 đảo được xếp hạng “đắt nhất”, trong khi đó Việt Nam chưa tận dụng tốt không gian này để phát triển kinh tế
Không gian đại dương: là nơi diễn ra các hoạt động viễn dương, khai thác đại
dương,… có ý nghĩa rất quan trọng nếu không nói là quyết định trong nền kinh tế biển của
các nước trên thế giới Ở nước ta, việc khai thác không gian đại dương còn nhiều hạn chế
Như vậy, mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ, tùy theo thế mạnh về tài nguyên biển, trình
độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ khác nhau sẽ có thế mạnh và chính sách khai thác các mảng không gian biển khác nhau Đối với các nước phát triển thì mảng không gian đảo và đại dương sẽ là phương hướng lựa chọn hàng đầu trong tương lai Hai
mảng không gian này rất rộng lớn, lại có nhiều tiềm năng và các nước này có đủ tiềm lực về tài chính và khoa học kỹ thuật để khai thác chúng Ngược lại, các nước đang phát triển sẽ chú trọng mảng không gian vùng bờ và vùng biển hơn vì nó dễ khai thác hơn và phù hợp
với chính sách đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước này
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển
Kinh tế biển là một phức hợp các ngành, các lĩnh vực và bộ phận kinh tế gắn với biển
có liên quan và tương tác lẫn nhau trong quá trình phát triển Việc phát triển kinh tế biển có
Trang 35mang lại hiệu quả kinh tế cao hay không còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố, có thể tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế biển như sau:
V ị trí địa lí: đối với phát triển kinh tế biển, vị trí địa lí là điều kiện hết sức cần
thiết cho mọi quốc gia Vị trí này được xét ở hai góc độ, một là vị trí có biển hay gần biển,
nếu có biển là điều kiện để phát triển trực tiếp các ngành kinh tế biển, còn chỉ gần biển thì
sẽ xây dựng định hướng hợp tác với quốc gia có chủ quyền biển đó Hai là, vị trí địa lí – kinh tế biển chiến lược, một quốc gia có vị trí biển chiến lược sẽ là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu cho phát triển kinh tế biển Vị trí địa lí là nhân tố địa lợi cho quá trình phát triển vận tải biển và cảng biển phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Tài nguyên bi ển và vùng ven biển: là điều kiện cần thiết cho mọi quốc gia trong
phát triển kinh tế biển Có thể nói, tài nguyên biển và vùng ven biển có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển các ngành, nghề, tạo ra nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu cuộc
sống cho con người, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần đóng góp cho tăng trưởng kinh tế Vì vậy, cần phải đánh thức các tiềm năng tài nguyên của biển và ven biển mang lại, đưa ra giải pháp, chiến lược khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong tài nguyên biển và vùng ven biển có thể kể đến quy mô và chất lượng của tài nguyên
Nếu quốc gia có bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dượng, tài nguyên thiên nhiên giàu có, nhiều bãi biển đẹp, nhiều vịnh nước sâu… Đó là điều kiện tốt cho phát triển tổng hợp kinh tế biển
Ngu ồn nhân lực: làm tăng năng suất lao động, tạo ra giá trị sản phẩm hàng hóa Do
vậy, nguồn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và kinh tế biển nói riêng Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết
quả khai thác tiềm năng nguồn lợi biển và vùng ven biển
Cơ chế chính sách phát triển: có thể thúc đẩy hoặc kiềm hãm sự phát triển kinh
tế - xã hội, trong đó có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế biển Đặc biệt, chính sách phát triển của nhà nước trong công tác nghiên cứu, tổ chức quy hoạch phát triển kinh tế biển: Đây có thể coi là nhân tố “đủ” để phát triển kinh tế biển và quyết định thành công của kinh
tế biển
V ốn và trình độ khoa học – công nghệ: là đòn bẩy của quá trình sản xuất và
kinh doanh, nâng cao năng suất và hiệu quả, sức cạnh tranh của sản xuất, kinh doanh, có vai trò rất quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 36Vốn có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế biển Để khai thác tiềm năng thế mạnh
từ biển góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và sớm đưa đất nước có biển thành nước công nghiệp, giàu lên từ biển
Khoa học – công nghệ trong lĩnh vực biển rất quan trọng Phát triển kinh tế biển không
thể tách rời với khoa học, công nghệ vì nó là điều kiện để khai thác tốt các tiềm năng kinh tế
biển, giữ vững chủ quyền biển – đảo Như vậy, quốc gia có lợi thế về biển và được đầu tư
tốt khoa học, công nghệ sẽ khai thác tốt hơn, hiệu quả cao hơn,…
Th ị trường: là nhân tố thúc đẩy ngành thương mại phát triển, đặc biệt là hoạt động
ngoại thương có vai trò rất quan trong trong xu thế hội nhập hiện nay Mở rộng thị trưởng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước hợp tác kinh doanh, mở rộng đầu tư phát triển, thúc đẩy nền kinh tế đất nước tăng trưởng và phát triển Nhờ có thị trường, các sản phẩm hàng hóa của quốc gia có điều kiện xâm nhập và cạnh tranh ở thị trường thế giới Do vậy, thị trường có vai trò rất quan trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế nói chung
và của kinh tế biển nói riêng
Ho ạt động kinh tế đối ngoại: việc phát triển kinh tế biển không chỉ phụ thuộc
vào những nhân tố sẵn có của vùng lãnh thổ có biển, các điều kiện bên trong chỉ mới là điều
kiện “cần” Hiện nay, để kinh tế biển phát triển thì các điều kiện bên ngoài, đặc biệt là hoạt động đối ngoại có ảnh hưởng rất lớn và được xem là điều kiện “đủ” Điều này được thể hiện
rất rõ từ việc đầu tư ban đầu cho phát triển kinh tế biển cũng cần vốn ngoại tệ và khoa học công nghệ tiên tiến từ các quốc gia phát triển, đến các sản phẩm tạo ra của kinh tế biển cũng được tiêu thụ thông qua hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài Vì vậy, hiện nay kinh tế đối ngoại được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển
Như vậy, phát triển kinh tế biển cần xem xét dưới nhiều gốc độ khác nhau và cần phân tích mối liên hệ của các nhân tố ảnh hưởng, nhằm đưa ra giải pháp quy hoạch thích hợp
nhất, mang lại hiệu quả tối ưu nhất
1.2.4 Bi ến đổi khí hậu ảnh hưởng đến kinh tế biển và vùng ven biển
Biến đổi khí hậu (BĐKH), với biểu hiện chính là sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu và mực nước biển dâng, được coi là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ
21 Những tác động tiềm tàng của BĐKH đối với các quốc gia đang nhận được sự quan tâm trên phạm vi toàn cầu Trong đó, sự ảnh hưởng của BĐKH đến vùng ven biển và kinh tế
biển là rất to lớn vì đây là vùng môi trường nhạy cảm và chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
Trang 37Thách thức ngày càng tăng về BĐKH toàn cầu đòi hỏi thế giới hành động ngay bây giờ Để ứng phó với BĐKH, thế giới đang thực hiện cùng một lúc hai hành động là giảm thiểu và thích ứng với BĐKH
Khái ni ệm: hiện nay có rất nhiều khái niệm được đưa ra về BĐKH, trong giới hạn
nội dung đề tài, tác giả xin được trích dẫn hai khái niệm có nội dung khá bao quát về BĐKH trên thế giới và trong nước
Theo Điều 1, điểm 2 của Công ước khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC) năm 2002,
Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (2008) định nghĩa BĐKH “là sự biến đổi
Nguyên nhân gây BĐKH: khí hậu biến đổi do hai nhóm nguyên nhân
Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm sự biến động các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển
Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ sự thay đổi
mục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người
Tác động của BĐKH đến kinh tế biển và vùng ven biển: trong bối cảnh BĐKH,
sinh kế của hàng trăm triệu người dân trên toàn thế giới sẽ bị đe dọa nghiêm trọng bởi
những hệ quả của BĐKH Từ đó gây ra các tác động nghiêm trọng đến cuộc sống của người nghèo và những người cận nghèo ở các vùng núi và đồng bằng và đặc biệt là vùng ven biển trên phạm vi toàn cầu
Với lợi thế về vị trí địa lí và tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái ven biển, vùng ven
biển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế
giới Các hệ sinh thái ven biển tồn tại ở phần tiếp giáp giữa môi trường đất liền và môi trường biển, do đó chúng rất đa dạng và năng động nhất trên Trái đất Vì vậy, vùng ven biển được xem là vùng địa lí môi trường dễ bị tổn thương nhất Bên cạnh đó, vùng ven biển là
một cực quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội bởi sự tập trung đông dân cư và các
Trang 38hoạt động kinh tế Hiện nay, tính trên toàn thế giới, có khoảng 2,7 tỷ người sinh sống ở vùng ven biển, chiếm khoảng 40% dân số thế giới (USAID, 2009) Kinh tế biển đã trở thành
một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nhiều quốc gia trên thế giới bởi những đóng góp to lớn của vùng ven biển vào nền kinh tế trên các khía cạnh như thương mại, du lịch, phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, giải trí và tạo việc làm Điều này cho thấy vùng ven biển có vai trò rất to lớn cả về mặt sinh thái và kinh tế - xã hội đối với nhiều quốc gia trên thế giới Ngay cả khi không phải đối mặt với BĐKH, vùng ven biển đã phải đối mặt với
những áp lực hiện tại
BĐKH toàn cầu đã, đang và sẽ tác động đến cộng đồng ven biển và hệ sinh thái biển trên nhiều khía cạnh khác nhau Các tác động của BĐKH sẽ tiếp tục làm khuếch đại và trầm
trọng hơn những áp lực hiện tại đối với vùng ven biển, từ đó làm tăng thêm thách thức về
quản lý bền vững vùng ven biển trong bối cảnh nguồn lực có hạn
Những ảnh hưởng chính của BĐKH lên vùng ven biển, bao gồm sự gia tăng mực nước
biển, sự thay đổi nhiệt độ bề mặt nước biển, sự gia tăng tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan, sự thay đổi lượng mưa và hiện tượng axít hóa đại dương, đang đặt ra những mối đe
dọa nghiêm trọng đến các quốc gia có mức tập trung cao về dân số và các hoạt động kinh tế ven biển Vùng ven biển dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH là các đảo thấp và các đồng bằng ven biển ở các nước phải gánh chịu ảnh hưởng của các cơn bão biển và nước
biến dâng
Nhìn chung, BĐKH sẽ gây ảnh hưởng lên vùng ven biển và các hoạt động kinh tế biển trên 2 phương diện là hệ sinh thái ven biển và các hoạt động kinh tế - xã hội của con người
- Tác động đến các hệ sinh thái ven biển: các hệ sinh thái ven biển bao gồm rừng ngập
mặn, rạn san hô, cửa sông, thảm cỏ biển, cồn cát là những hệ sinh thái có tính đa dạng sinh
học cao và chức năng sinh thái vô cùng quan trọng với con người Các hệ sinh thái này đang
chịu các áp lực ngày càng gia tăng bởi những thay đổi bất thường của khí hậu BĐKH sẽ gây ra hệ quả chung là sự phân bố, tính đa dạng sinh học và năng suất của các hệ sinh thái
sẽ bị suy giảm Khi các chức năng sinh thái này suy giảm, các hệ sinh thái ven biển trở nên
bị suy yếu và ít có khả năng phục hồi trước những tác động ngày càng tăng của BĐKH
- Tác động của BĐKH lên các hoạt động kinh tế - xã hội của con người: sự suy giảm
chức năng sinh thái và hệ sinh thái biển sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khỏe, các hoạt động kinh tế - xã hội và phúc lợi của hàng tỷ người dân ven biển sống phụ thuộc vào các hàng hóa và dịch vụ mà các hệ sinh thái này cung cấp Tất cả các hoạt động
Trang 39kinh tế biển sẽ chịu tác động chung của BĐKH Ví dụ, BĐKH làm cho ảnh hưởng đến các ngư trường đánh bắt và sản lượng đánh bắt của ngư dân Tình trạng nước xâm nhập mặn vào các tầng nước ngầm ven biển một mặt gây ảnh hưởng đến hoạt động nông nghiệp (đất
bị nhiễm mặn), mặt khác gây ảnh hưởng đến các hoạt động nuôi trồng (do môi trường sống
của thủy sinh thay đổi) Có thể thấy rằng, những tác động của BĐKH, kết hợp với những áp
lực hiện tại về phát triển và sự suy yếu trong quản lý, sẽ làm cho các cộng đồng ven biển dễ
bị tổn thương nhiều hơn
1.2.5 Tổ chức lãnh thổ (không gian) kinh tế biển
Theo sách “Địa lí kinh tế - xã hội: Từ điển khái niệm – thuật ngữ” (1983) của
E.B.Alaev đã đưa ra nhận thức chung của các nhà Địa lí Xô Viết về tổ chức lãnh thổ kinh tế -
xã hội như sau: “Tổ chức kinh tế - xã hội trong nghĩa rộng của từ này bao gồm các vấn đề
liên quan đến phân công lao động theo lãnh thổ, phân bố các lực lượng sản xuất, các sự
kinh t ế - xã hội…”
Các nhà khoa học phương Tây, theo hướng kinh tế thị trường thường sử dụng thuật
ngữ “tổ chức không gian kinh tế - xã hội” thì cho rằng Có thể hiểu tổ chức không gian kinh
tế - xã hội là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng
nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế, chính
trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao
và năng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ
Tổ chức lãnh thổ (không gian) kinh tế biển với tư cách là một bộ phận của tổ chức không gian kinh tế - xã hội, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm
bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường đất nước Ngoài ra, không gian biển là không gian đặc biệt chiến lược quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội
Trang 40lưới cảng biển và hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt ven biển nối liền các vùng miền trong nước và các nước láng giềng như Lào và Campuchia… Nó cũng tạo cho chúng ta tổ
chức phát triển không gian biển một cách tối ưu khoa học, trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế về nguồn lợi từ biển để phát triển kinh tế - xã hội trên từng vùng lãnh thổ
Khác với trên đất liền, không gian kinh tế biển rộng mở, tiềm năng không gian biển cho phát triển còn rất lớn, tập trung chủ yếu vào các mảng, không gian vùng bờ (ven biển và ven
bờ), không gian biển, không gian đảo, không gian đại dương Với chiến lược phát triển kinh tế
biển Việt Nam đến năm 2020, dưới đây chỉ đề cập đến ba mảng không gian vùng bờ gắn với
sự phát triển kinh tế biển Quốc gia
Vùng bi ển và ven biển phía Bắc (Móng Cái – Ninh Bình) là cửa ngõ ra biển của
các tỉnh phía Bắc, gồm 23 huyện của 5 tỉnh có biển từ Quảng Ninh đến hết bờ biển tỉnh Ninh Bình, diện tích 9083 km2, dân số năm 2010 là hơn 5 triệu người Trong bối cảnh hiện nay, với
vị thế quan trọng của vùng biển phía Bắc, nơi tiếp giáp trực tiếp với Trung Quốc đang có nhiều biến động Tiểu vùng này sẽ chú ý đầu tư để tổ chức phát triển không gian kinh tế biển
và vùng ven biển theo hướng có thể làm đối trọng với các thị trường trong khu vực Đồng
thời, khai thác có hiệu quả hơn nữa các nguồn lực của vùng như cảng biển, vận tải biển, du
Đà Nẵng thành trung tâm kinh tế biển mạnh của vùng và là một trong ba trung tâm kinh tế
biển nước ta
Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ với 9 huyện, thị thuộc 2 tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu và TP Hồ Chí Minh, diện tích 2279,5 km2, dân số 1,9 triệu người (2005) Với định hướng phát triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm kinh tế hướng ra biển, xây dựng hành lang kinh tế, các khu công nghiệp, đặc biệt là tuyến quốc lộ 51
Vùng bi ển và ven biển Tây Nam Bộ là cửa ngõ của các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long, với 33 huyện, thị thuộc 7 tỉnh, kéo dài từ Tiền Giang đến Cà Mau và Hà Tiên (Kiên Giang) Diện tích 14.923,6 km2
, dân số 5,6 triệu người (2005) Định hướng xây dựng Phú
Quốc thành trung tâm kinh tế lớn, là bàn đạp hướng ra biển của tiểu vùng, hướng đến năm