1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010

155 1,4K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 3,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới hạn nghiên cứu - Về nội dung Đề tài tập trung đánh giá tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, các điều kiện để phát triển du lịch và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS LÊ THÔNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài em đã nhận được rất nhiều

sự giúp đỡ của các cá nhân và tổ chức:

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Thông, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này, người đã cho em nhiều bài học quý báu bề phương pháp nghiên cứu khoa học, sự nhiệt tình, tâm huyết với công việc

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Minh Tuệ đã luôn động viên, khuyến khích và cho em những đóng góp quý báu

Em cũng xin cảm ơn Phòng Sau đại học trường Đại Học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa học này

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cơ quan ban ngành: ủy ban nhân dân, sở Văn hóa – Thông tin – Du lịch, Trung tâm xúc tiến du lịch Nghệ An đã cung cấp những

tư liệu thiết yếu phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu đề tài này

Và cuối cùng, xin gửi lời biết ơn bố mẹ, cảm ơn các anh chị đồng nghiệp, bạn

bè đã luôn đồng hành giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn Mặc dù, đã có những nỗ lực nhất định, nhưng do hạn chế nghiên cứu của bản thân và ảnh hưởng của điều kiện khách quan, đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em xin kính mong nhận được sự cảm thông và chỉ đạo tận tình của Quý Thầy Cô và các bạn!

TP Hồ Chí Minh, 20.09.2012

Học viên

Hà Thị Thuần

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục bảng số liệu

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch 10

1.1.2 Chức năng của du lịch 17

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển du lịch 19

1.1.4 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 Thực tiễn hoạt động du lịch Việt Nam 31

1.2.2 Hoạt động du lịch vùng Bắc Trung Bộ 36

Chương 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN 42

2.1 Vị trí tỉnh Nghệ An trong chiến lược phát triển du lịch 42

2.2 Tài nguyên du lịch 44

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 44

2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 55

2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 70

2.3.1 Hệ thống giao thông vận tải 70

2.3.2 Hệ thống cung cấp điện 72

2.3.3 Hệ thống bưu chính, viễn thông 72

2.3.4 Hệ thống cấp, thoát nước 73

2.4 Các điều kiện kinh tế - xã hội khác 73

2.5 Đánh giá chung 74

2.5.1 Thời cơ và thuận lợi 74

2.5.2 Thách thức và hạn chế 76

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN 78

3.1 Vị trí của du lịch nghệ an trong nền kinh tế của tỉnh 78

Trang 5

3.2 Hoạt động du lịch theo ngành 79

3.2.1 Nguồn khách 79

3.2.2 Cơ sở lưu trú 84

3.2.3 Doanh thu 88

3.2.4 Lao động 90

3.2.5 Vốn đầu tư 91

3.2.6 Hoạt động xúc tiến đầu tư du lịch 92

3.3 Thực trạng phát triển lãnh thổ du lịch 93

3.3.1 Điểm du lịch 93

3.3.2 Tuyến du lịch 100

3.3.3 Cụm du lịch 103

3.2.4 Trung tâm du lịch – Thành phố Vinh 108

3.4 Đánh giá tổng hợp hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 110

3.4.1 Thành tựu 110

3.4.2 Hạn chế 111

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020 113

4.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển 113

4.1.1 Quan điểm phát triển 113

4.1.2 Mục tiêu 114

4.1.3 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An đến năm 2020 115

4.2 Các giải pháp chủ yếu phát triển du lịch nghệ an đến năm 2020 121

4.2.1 Tổ chức thực hiện quy hoạch du lịch 121

4.2.2 Vốn, đầu tư 123

4.2.3 Chính sách sản phẩm du lịch 123

4.2.4 Thị trường và xúc tiến quảng bá du lịch 125

4.2.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 126

4.2.6 Cơ chế, chính sách và kiện toàn hệ thống quản lý Nhà nước 127

4.2.7 Hợp tác khu vực và quốc tế 128

4.2.8 Phát triển du lịch bền vững 130

KẾT LUẬN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

PHỤ LỤC 1

Trang 6

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1 Số lao động du lịch trong ngành du lịch Việt Nam 35

Bảng 1.2: Khách du lịch đến Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 - 2010 39

Bảng 1.3 Số lao động trong ngành du lịch của vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 – 2010 40

Bảng 2.1: Xếp hạng ưu tiên theo tiêu chí trong hệ thống bảo tồn 54

Bảng 2.2 Di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng và mật độ phân theo huyện, thị xã và thành phố 56

Bảng 2.3: Danh mục các lễ hội tỉnh Nghệ An 59

Bảng 3.1: Quy mô và cơ cấu GDP tỉnh Nghệ An phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 (Giá thực tế) 78

Bảng 3.2: Nguồn khách du lịch đến Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 80

Bảng 3.3: Cơ sở lưu trú tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 84

Bảng 3.4 Số lượng khách sạn được xếp hạng năm 2010 85

Bảng 3.5: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 90

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 33

Biểu đồ 1.2: Khách du lịch nội địa giai đoạn 2000 – 2010 33

Biểu đồ 1.3: Doanh thu du lịch vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 – 2010 39

Biểu đồ 3.1 Khách du lịch đến Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 82

Biểu đồ 3.2: Doanh thu ngành du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 88

DANH MỤC HÌNH Hình 1.3: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch 20

Hình 2.1 Lèn Hai Vai (thuộc huyện Diễn Châu) 46

Hình 2.2: Sao La – động vật quý hiếm ở Nghệ An 51

Hình 2.3 Đua thuyền trong lễ hội du lịch Cửa Lò 62

Hình 2.4: Biểu diễn nghệ thuật tại Lễ hội Làng Sen 63

Hình 2.5: Sản phẩm từ dệt thêu thổ cẩm truyền thống ở Quỳ Châu 66

Hình 2.6: Cá Mát sông Giăng – Cam Xã Đoài 69

Trang 8

đó, du lịch đang trở thành mục tiêu phát triển chung hướng tới ở các quốc gia

Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhất là sau Đổi mới (năm 1986), nhiều tiềm năng du lịch đã trở thành hiện thực Nhiều thẳng cảnh (Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu, Sa Pa, Đà Lạt,…); nhiều di tích lịch sử, văn hóa (Hoàng thành Thăng Long, Thừa Thiên Huế, đô thị cổ Hội An, các lễ hội văn hóa, Festival…) đã trở thành những địa điểm thu hút khách du lịch Cùng với đổi mới, Việt Nam đã tích cực hội nhập và mở cửa nền kinh tế như một sự phát triển tất yếu, hợp quy luật Và trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung, du lịch được xác định là một ngành “kinh tế mũi nhọn” Trên cơ sở đó, nhà nước đã tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cho từng vùng và định hướng khai thác phát triển một số cụm, tuyến du lịch mới có ý nghĩa thiết thực đối với địa phương

Nghệ An là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển các sản phẩm du lịch, loại hình

du lịch đa dạng, phong phú như du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa - lịch

sử, tín ngưỡng tâm linh Đặc biệt, Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại; có hệ thống rừng nguyên sinh với khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận và

Trang 9

có bãi biển trải dài 82km; nhiều địa danh di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đẹp… Tuy nhiên, trong những năm qua sự phát triển ngành du lịch Nghệ An chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Hình ảnh thương hiệu du lịch Nghệ An chưa được định vị rõ nét trong tâm thức khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế; các sản phẩm lưu niệm phục vụ khách mẫu mã đơn điệu, chất lượng chưa cao Điều này đã ảnh hưởng một phần đến doanh thu du lịch và sức thu hút du khách, nhất là

du lịch quốc tế

Xuất phát từ những thực tế đó, nhận thấy việc rà soát tài nguyên, đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nghệ An là một việc làm cấp

thiết Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn

2000 - 2010” để nghiên cứu, những mong đánh thức được tiềm năng, và tìm ra hướng đi mới cho ngành du lịch ở Nghệ An trong xu thế hội nhập giữa các vùng, các khu vực và quốc tế

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch ở Việt Nam và các tỉnh Bắc Bộ giai đoạn 2000 – 2010 để vận dụng vào việc nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Nghệ An

- Kiểm kê, đánh giá tiềm năng du lịch ở địa phương và phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2010 Từ đó, làm sáng tỏ những lợi thế

so sánh và hạn chế đối với việc tổ chức và phát triển du lịch của tỉnh

Trang 10

- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch tới năm 2020 nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Nghệ An

3 Giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung

Đề tài tập trung đánh giá tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, các điều kiện để phát triển du lịch và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ (các tuyến, điểm, cụm, khu du lịch, trung tâm du lịch với các sản phẩm đặc trưng)

- Về phạm vi lãnh thổ

Phạm vi nghiên cứu là địa bàn tỉnh Nghệ An (gồm mười bảy huyện lỵ, hai thị xã và một thành phố) Ngoài ra, đề tài còn có thể mở rộng nghiên cứu sang các tỉnh lân cận để thấy được mối liên hệ và so sánh giữa các tỉnh, đặc biệt là những tỉnh trong khu vực Bắc Trung Bộ

Một trong những khía cạnh đầu tiên là nghiên cứu các yếu tố tác thành và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch Những công trình nghiên cứu đầu tiên về

du lịch có tầm quan trọng trên thế giới có thể kể đến là những nghiên cứu về các loại hình du lịch, khảo sát về vai trò lãnh thổ, lịch sử, những nhân tố ảnh hưởng chính đến hoạt động du lịch… của Poser (1939), Christaleer (1955)… được tiến hành ở Đức năm 1930 Tiếp theo đó là các công trình đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí của Mukhina (1973); nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của

Trang 11

các điểm du lịch Khadaxkia (1972) và Sepfer (1973) Các nhà địa lí cảnh quan học của trường Đại học tổng hợp Matxcơva như E.D Xmirnova, V.B Nhefedova… đã nghiên cứu các vùng cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô (cũ) Các nhà nghiên cứu Tiệp Khắc như Mariot (1971), Salavikova (1973) đã tiến hành đánh giá

và thành lập bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Ngoài ra các nhà địa lí Canada như Vônfơ (1966)… cũng đã tiến hành đánh giá các loại tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu du lịch đã được quan tâm là vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch, các nhà địa

lí du lịch trên thế giới đã có nhiều công trình nổi tiếng về vấn đề này được xem là kim chỉ nam – là cơ sở lý luận có tính kế thừa cho các nghiên cứu về sau I.I Pirojnik (1985) – nhà địa lí du lịch người Bêlarút đã phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch các vùng du lịch là đối tượng qui hoạch và quản lí M Buchovarop (Bungari), N.X Mironhenke (Anh)… đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch các cấp hoặc tổng hợp thể lãnh thổ du lịch và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch

Trong những năm gần đây, khi những lợi ích của du lịch trở nên rõ ràng hơn cũng như tác động của nó với hàng loạt vấn đề nảy sinh mang tính toàn cầu thì việc nghiên cứu du lịch gắn với sự phát triển vùng lại càng trở nên cần thiết Ở Pháp, Jean – Lozoto (1990) đã nghiên cứu và phân tích các tụ điểm du lịch Các nhà địa lí Anh, Mĩ gắn công việc nghiên cứu lãnh thổ du lịch với những dự án du lịch trên một miền hay một vùng cụ thể Nhìn chung, nhiều nhà địa lí đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch là các hệ thống lãnh thổ hoặc tổng hợp lãnh thổ du lịch, tức là xác định các hệ thống địa bàn phát triển du lịch trên lãnh thổ và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch

4.2 Ở Việt Nam

Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến nay các công trình nghiên cứu địa lí du lịch nhìn chung vẫn chưa nhiều Phần lớn tập trung các vấn đề về tổ chức lãnh thổ không gian du lịch, cơ sở lý luận và

Trang 12

phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như: Vũ Tuấn Cảnh,

Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương…

Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như:

Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì nghiên cứu

(1991), “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993);

“Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ” do

Vũ Tuấn Cảnh và Lê Thông (1994); “Địa lí du lịch Việt Nam” – Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2010); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ

(1999); “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ

biên (2000)…

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu, một số dự án, đề tài cấp Nhà nước, các báo cáo trong các cuộc hội thảo về du lịch của Việt Nam Dưới góc độ địa

lí học, ở trình độ thạc sĩ cũng có nhiều luận văn nghiên cứu theo hướng này, tiêu

biểu như các luận án thạc sĩ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hà Tĩnh” (2009) của Nguyễn Quốc Lập, Đại học sư phạm Hà Nội; “Phát triển du lịch tỉnh Kon Tum

trong xu thế hội nhập” (2010) của Thái Huỳnh Anh Chi, Đại học sư phạm Hà Nội;

“Phát triển du lịch tỉnh Hưng Yên trong xu thế hội nhập” (2011) của Phạm Thủy

Quỳnh, Đại học sư phạm Hà Nội; và một số bài báo có giá trị trên các tạp chí Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận

4.3 Ở Nghệ An

Với sự phát triển non trẻ của ngành du lịch địa phương, các công trình nghiên

cứu về du lịch tỉnh Nghệ An mới chỉ dừng lại ở một số báo cáo như: “Quy hoạch

tổng thể phát triển du lịch Bắc Bộ” do Bộ VHTTTT Du lịch nghiên cứu; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An 1996 - 2010” và “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2006 – 2020” do Sở Du lịch Nghệ An kết

hợp với Viện nghiên cứu phát triển Du lịch Việc nghiên cứu đánh giá tổng quan hoạt động du lịch tỉnh mà đặc biệt là phân tích đánh giá sâu sắc các loại tài nguyên

Trang 13

phục vụ hoạt động du lịch ngày nay hầu như chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ

và cập nhật

5 Q uan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu du lịch Theo quan điểm này, mỗi một đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống có nhiều yếu tố cấu thành, và có mối quan hệ mật thiết với nhau Khi nghiên cứu một đối tượng phải đặt nó trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ thống cao hơn cũng như với cấp phân vị thấp hơn Với ý nghĩa đó, du lịch tỉnh Nghệ An xét về mặt lãnh thổ được xem là một phân hệ trong hệ thống lãnh thổ du lịch của vùng du lịch Bắc Bộ; xét về khía cạnh ngành, là bộ phận trong hệ thống kinh tế - xã hội của toàn tỉnh Đồng thời, nó bao gồm các cấp phân vị thấp hơn là các điểm, tuyến, cụm, vùng du lịch Chỉ cần một thay đổi nhỏ của phân hệ sẽ tác động đến hoạt động, phát triển chung của toàn hệ thống

5.1.2 Quan điểm tổng hợp

Xuất phát từ chỗ coi hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau, do đó việc vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trên quan điểm đó, khi đánh giá về tài nguyên du lịch phải được xem xét một cách tổng hợp kể cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn; cũng vậy trong quá trình khái quát về thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Nghệ

An cũng phải phân tích các khía cạnh: lượt khách, doanh thu, lao động… Từ quan điểm tổng hợp để có thể nhìn nhận, đánh giá các đối tượng du lịch một cách đồng

bộ, hình thành nên các điểm, tuyến , cụm, vùng du lịch hiệu quả, đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường

5.1.3 Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm

vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng Xem xét hoạt động du lịch

Trang 14

trong mối quan hệ với đặc điểm lãnh thổ nhằm khái quát được đặc trưng của du lịch trên từng địa bàn nghiên cứu Và để mang lại hiệu quả tổ chức kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khac biệt trong từng đơn vị lãnh thổ từ đó tạo ra được sản phẩm du lịch đặc trưng, khai thác thế mạnh, khắc phục những hạn chế

5.1.4 Quan điểm lịch sử và viễn cảnh

Mỗi một hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội nói chung và địa lí du lịch nói riêng đều tồn tại trong một thời gian nhất định, nghĩa là có quá trình phát sinh, phát triển

và suy vong Nghệ An là mảnh đất có nền văn hóa bản địa đặc sắc được hình thành lâu đời, cùng với truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường và nét độc đáo của thiên nhiên tạo cho vùng đất này một giá trị riêng Các đặc điểm này được khai thác phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lịch của tỉnh Nghệ

An nói riêng Sử dụng quan điểm lịch sử, viễn cảnh để tìm hiểu quá trình khai thác, thực trạng phát triển của hoạt động du lịch tỉnh nhà; từ đó nhằm tiếp tục kế thừa, phát huy những thành quả, rút ra bài học kinh nghiệm và có kế hoạch phát triển

trong tương lai

5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm này đòi hỏi sự phát triển phải được bền vững cả ba mặt: kinh tế,

xã hội và môi trường Theo đó, việc khai thác nguồn tài nguyên, tổ chức các hoạt động du lịch đạt hiệu quả kinh tế phải quan tâm tới vấn đề bảo vệ cảnh quan môi trường, gìn giữ và tôn tạo các giá trị văn hóa và quan tâm đến lợi ích của cộng đồng dân cư bản địa Cần có những biện pháp tổ chức, quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hóa – xã hội của địa bàn tỉnh từ hoạt động du lịch

5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lí phân tích tài liệu

Phương pháp này cho phéo kế thừa, tích lũy thành tựu của quá khứ Đây là phương pháp được sử dụng hầu như xuyên suốt trong đề tài, bao gồm hai giai đoạn: thu thập tài liệu và xử lí tài liệu Nguồn tài liệu được sử dụng trong đề tài có thể gồm các dạng: tài liệu chuyên khảo, các văn bản pháp luật, nghị quyết, nghị định; số

Trang 15

liệu thống kê từ các cơ quan ban ngành; một số luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu của các tác giả đi trước; và một số trang báo điện tử Kết quả của quá trình thu thập và xử lí tài liệu sẽ ảnh hưởng đến kết quả của quá trình nghiên cứu, tính chính xác và tính khoa học của đề tài

5.2.2 Phương pháp thực địa

Sử dụng phương pháp này để có được cái nhìn trực quan, xác thực và toàn diện về vấn đề; tránh được những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn và có cơ hội để so sánh, kiểm chứng độ chính xác của những tư liệu thu thập trong phòng Quá trình thực hiện đề tài đòi hỏi phải tiến hành nhiều đợt thực địa đến các tuyến, điểm du lịch Trong đó, lựa chọn một số điểm du lịch gần địa bàn thành phố, một số điểm ở các huyện vùng xa; một số điểm du lịch đã được khai thác và một số điểm tiềm năng Đồng thời, trực tiếp gặp gỡ thu thập thông tin, kiến thức không có trên sách vở từ người dân bản địa, các cơ quan ban ngành

6 Đóng góp chủ yếu của đề tài

- Tổng quan và hệ thống hóa vấn đề lý luận và thực tiễn về địa lí du lịch; trên cơ

sở đó vận dụng vào nghiên cứu cụ thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An

- Đánh giá được những thuận lợi và khó khăn của các điều kiện phát triển

du lịch ở tỉnh Nghệ An Đưa ra bức tranh hoạt động du lịch và các sản phẩm du lịch, các loại hình du lịch tỉnh Nghệ An

Trang 16

- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu góp phần khai thác tài nguyên, phát triển du lịch hiệu quả và bền vững

7 C ấu trúc luận văn

Luận văn gồm các phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục

Trong đó, phần nội dung của luận văn sẽ được trình bày trong bốn chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch

- Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An

- Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2010

- Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nghệ An đến năm

2020

Trang 17

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

đã công bố du lịch là ngành kinh tế lớn nhất thế giới Đối với nhiều quốc gia du lịch nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và là nguồn thu ngoại tệ quan trọng Bởi những lẽ đó, du lịch là một đề tài hấp dẫn và đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu Tuy nhiên, dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh như vậy, song do tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với sự khác biệt về ngôn ngữ và bản chất phức tạp của hoạt động này; cho đến nay nhân thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Đúng như Giáo sư, Tiến sĩ Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định : “ Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”

Thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp

với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) – xuất hiện khoảng năm 1800,

mypuzm (tiếng Nga) Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán: Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi tourism là du lãm với ý nghĩa đi chơi để nâng cao nhận thức [27]

Về khái niệm, có thể thấy sự biến đổi nhận thức thông qua một số khái niệm

du lịch tiêu biểu sau đây:

Năm 1930, Glusman (Thụy Sĩ) định nghĩa: Du lịch là sự chinh phục không

gian của những người hướng đến những điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư

Trang 18

dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đế sự di chuyển đó Năm 1941,

Hunziker và Kraff (Thụy Sĩ) cho rằng: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và hiện

tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ [27]

Dưới con mắt các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Tuy nhiên mỗi học giả có những nhận định khác nhau Các nhà kinh tế du lịch thuộc trường Đại học Kinh tế Praha (Cộng hòa Séc) mà đại diện là Mariot coi : “du lịch là tổng hợp các hoạt động

kĩ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ở ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường xuyên”

Theo hội đồng trung ương về du lịch của Cộng hòa Pháp 1978, tiêu chí chính

để phân biệt giữa hoạt động du lịch và hoạt động giải trí đơn thuần là di chuyển từ

24 tiếng trở lên và động cơ tìm sự vui vẻ Ở đây du lịch là khái niệm thiên về tiếp cận kinh tế, còn nếu thiên về tiếp cận xã hội thì sẽ có khái niệm giải trí

Không chỉ các nhà kinh tế, các chuyên gia nghiên cứu về du lịch thuộc lĩnh vực khác như lĩnh vực địa lí cũng thấy yếu tố kinh tế là không thể thiếu được trong khái niệm du lịch Trong quá trình hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng, ngoài tiếp cận cộng đồng mới đảm bảo cho sự phát triển lâu dài Dựa trên tiếp cận này Michael M Coltman đã định nghĩa “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch” [29]

Gần đây hơn, trong “Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan”, với một nội dung chi tiết, nhà đia lí người Bêlarut – Pirojnik đã đưa ra một khái niệm khá hoàn

thiện: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên

quan với sự di chuyển và cư trú tạm thời bên ngoài nơi thường trú nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ”

Trang 19

Như vậy, có thể thấy sự biến đổi trong nhận thức về nội dung bản chất của thuật ngữ du lịch Tựu chung lại, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt mang ý nghĩa thông thường là hiện tượng xã hội chỉ việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận như là hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế - sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra

b Khách du lịch

Khái niệm “Khách du lịch” hay “Du khách”, xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp

vào cuối thế kỉ XVIII Tới nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về khách du lịch Theo tổ chức Du lịch thế giới, khách du lịch là những người có các đặc trưng:

- Là người đi khỏi nơi cư trú của mình

- Không theo đuổi mục đích kinh tế

- Đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên

- Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tùy theo quan niệm của từng nước [28]

Điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm Khách du lịch

là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục tiêu như nghỉ ngơi,

kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình

Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa

* Khách du lịch quốc tế

Tại hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch được tổ chức ở Roma (Ý) năm 1963,

Ủy ban thống kê của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm khách du lịch quốc tế: là

người thăm viếng một số nước khác ngoài nơi cư trú của mình với bất kỳ lí do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm

Trang 20

Khái niệm khách viếng thăm quốc tế bao gồm hai thành phần: khách du lịch quốc tế (International tourist) – là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ (hoặc sử dụng ít nhất một tối trọ) Và khách tham quan quốc tế (International excursionist) – là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít hơn 24 giờ (hoặc là không sử dụng một tối trọ nào)

* Khách du lịch nội địa:

Định nghĩa khách du lịch nội địa sớm nhất được nêu ra vào năm 1957 và

1958 Lúc bấy giờ cuộc hội thảo di Cục du lịch của chính phủ Canada cùng Hội liên hợp tổ chức du lịch chính phủ quốc tế cùng triệu tập và hội nghị của nhóm chuyên

gia thống kê du lịch tổ chức ở Madrid quy định khách nội địa là: “Bất cứ ai cư trú ở

một nước (không xét tới quốc tịch) tới một nơi nào đó ngoài nơi người đó cư trú ở trong nước người đó để tiến hành du lịch không dưới 24 giờ hoặc không dưới một đêm, mà mục đích lữ hành không phải là các hoạt động thăm viếng theo đuổi để có thù lao”[5] Tuy nhiên, khái niệm khách du lịch nội địa được xác định không giống nhau ở các nước khác nhau về khoảng cách chuyến đi và thời gian lưu trú

c Tài nguyên du lịch

* Khái niệm tài nguyên du lịch

Theo Pirojnik (Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan), du lịch là một ngành định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung, khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch

Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005, khoản 4, điều 4, chương I: “Tài

nguyê n du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch”

Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa

lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này

Trang 21

được sử dụng trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”[19]

* Đặc điểm tài nguyên du lịch

- Tính phong phú và đa dạng: Đặc điểm này là cơ sở để tạo nên sự phong phú của sản phẩm du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch

- Sự kết hợp giữa giá trị hữu hình và vô hình: Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị vật chất là phương tiện hữu hình, hình thành nên các sản phẩm du lịch, mà còn chứa đựng những giá trị vô hình Giá trị này được thể hiện qua sự cảm nhận, cảm xúc tâm lý và sự thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời còn được thể hiện qua kênh thông tin mà khách du lịch nhận được về sản phẩm

- Tính dễ khai thác: hầu hết các tài nguyên du lịch vốn đã có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người tạo nên Do đó, chỉ cần đầu tư không lớn đã có thể tôn tạo, tăng them vẻ đẹp và tạo ra điều kiện thuận lợi nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên này

- Tính thời vụ: Thời gian có thể khai thác và thời điểm khai thác các loại tài nguyên thường không giống nhau và thay đổi trong năm tùy thuộc chủ yếu bởi yếu

tố khí hậu và tập quán dân gian Điều này đã chi phối và quyết định tính mùa trong

du lịch

- Tính bất biến về mặt lãnh thổ: đối với sản phẩm được tạo ra từ loại tài nguyên du lịch này thì du khách phải đến tận nơi để tận hưởng và thưởng thức; tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng, dòng du lịch tập trung đến loại tài nguyên đó và là thế mạnh đặc trưng của từng địa phương

- Khả năng sử dụng nhiều lần: nếu tuân theo các quy luật tự nhiên, sử dụng hợp lý và áp dụng những biện pháp bảo vệ chung thì tài nguyên du lịch là một loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

* Phân loại tài nguyên du lịch

Để khai thác hợp lí và có hiệu quả tài nguyên du lịch theo hướng bền vững cần tiến hành phân loại tài nguyên du lịch một cách phù hợp và mang tính khoa học Hiện nay có rất nhiều cách phân loại khác nhau của nhiều tác giả và các cơ quan nghiên cứu du lịch ở nước ta cũng như quốc tế Sau đây là một vài cách phân loại:

Trang 22

- Tổ chức du lịch Thế giới (UNWTO,1997) đã xây dựng hệ thống phân loại tài nguyên du lịch thành 3 loại, 9 nhóm gồm: loại cung cấp tiềm tang (gồm 3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện đại (gồm 3 nhóm: đường sá, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kĩ thuật (gồm 3 nhóm tính năng: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực)

- Ở nước ta, cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, một số tác giả (Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương…) trong quá trình đánh giá tài nguyên du lịch Việt Nam đã phân chúng thành hai nhóm:

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu; nguồn nước; sinh vật Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích văn hóa lịch sử; các lễ hội; các đối tượng gắn với dân tộc học; các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác [19]

d Sản phẩm du lịch

* Khái niệm sản phẩm du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, hợp thành bởi nhiều bộ phận kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của du khách trong chuyến du lịch Do đó, sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách; được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực là: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó [29]

Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch Trong đó, tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn Còn dịch vụ du lịch, xét dưới góc độ là quá trình tiêu dùng của khách du lịch,

có thể được tổng hợp theo các nhóm cơ bản sau:

- Dịch vụ vận chuyển: Du lịch gắn với những chuyến đi và sự di chuyển nên không thể thiếu loại dịch vụ này Nó bao gồm việc đưa khách đến điểm du lịch và di chuyển trong phạm vi điểm đến

Trang 23

- Dịch vụ lưu trú, ăn uống: cơ sở thuê buồng, giường phục vụ hoạt động nghỉ

ở lại và ăn uống – loại nhu cầu không thể thiếu của du khách Đây là hoạt động kinh doanh đáng kể trong du lịch

- Dịch vụ tham quan, giải trí: là một bộ phận quan trọng tạo nên sự hấp dẫn, thu hút và lôi kéo khách du lịch Đảm bảo cho khách du lịch sử dụng tối ưu thời gian rỗi và tăng thu nhập cho nhà kinh doanh du lịch

- Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm: đây cũng là hoạt động tăng tính hấp dẫn, để lại dấu ấn cho sản phẩm du lịch và là nhu cầu không thể thiếu của nhiều du khách

- Ngoài ra, còn có các dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung, bao gồm:

+ Dịch vụ thu gom, sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một sản phẩm du lịch Thể hiện qua việc các cơ sở mua lại những dịch vụ khác nhau, sắp xếp, phối hợp chúng thành một chương trình du lịch trọn gói hoặc đơn giản

+ Dịch vụ bán lẻ sản phẩm du lịch: cung cấp thông tin và bán lẻ các sản phẩm du lịch cho khách du lịch

* Đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch

- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp: nó kết hợp các loại dịch vụ do nhiều đơn vị cá nhân, thuộc các ngành khác nhau cung cấp

- Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình: tuy sản phẩm du lịch bao gồm cả yểu tố hữu hình và vô hình, nhưng yếu tố hữu hình là hàng hóa chiếm tỉ trọng nhỏ, trong khi yếu tố vô hình là dịch vụ thường chiếm 80 – 90% về giá trị Do

đó, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn, thường mang tính chủ quan và phụ thuộc vào khách du lịch

- Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch

Do đó, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch, mà thực tế buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình

- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian Không bán được cũng có nghĩa là không thể lưu kho và hầu như không còn giá trị, do đó phần lớn sản phẩm du lịch tự tiêu hao

Trang 24

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể tập trung vào thời gian nhất định, tạo nên tính mùa trong hoạt động kinh doanh du lịch

- Sản phẩm du lịch không có tính đồng nhất: các nhân viên không thể tạo ra những sản phẩm như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau Khách du lịch khác nhau trong những thời gian, bối cảnh khác nhau cũng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm du lịch [19]

- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch nội địa, du lịch quốc tế

- Theo vị trí địa lí các cơ sở du lịch: du lịch nghỉ biển, nghỉ núi

- Theo việc sử dụng các phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, máy bay, ô

tô, tàu thủy, tàu hỏa

- Theo thời gian của cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, dài ngày

- Theo lứa tuổi: du lịch thanh niên, thiếu niên, gia đình

- Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, cá nhân

1.1.2 Ch ức năng của du lịch

a Chức năng xã hội

Chức năng xã hội của du lịch thể hiện trước hết ở chỗ, du lịch tạo ra nhiều công

ăn việc làm và là công cụ giảm nghèo khá hiệu quả Du lịch là ngành thu hút lao động rất lớn Theo thống kê của UNWTO, lao động trực tiếp và gián tiếp phục vụ

du lịch hiện chiếm hơn 10,7% tổng lao động trên toàn thế giới Tại Việt Nam, hàng năm, ngành du lịch tạo ra them 15.000 – 20.000 chỗ làm việc trực tiếp trong các khách sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ du lịch Với sự phát triển của du lịch, dân

cư có nhiều cơ hội tìm việc làm ngay tại địa bàn mình sinh sống với thu nhập cao,

và cũng có nhiều cơ hội được đào tạo nghề, được hưởng thụ hạ tầng kỹ thuật tốt

Trang 25

Du lịch còn góp phần thỏa mãn những nhu cầu tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống, phục hồi sức khỏe, tái sản xuất khả năng lao động và tăng cường sức sống cho nhân dân Trong một chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng cường khả năng lao động của con người Theo các công trình nghiên cứu về y sinh học của Crivosev, Dorin (1981), nhờ chế độ nghỉ ngơi và

du lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư giảm trung bình 30% Đặc biệt, bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% Một số khu điều dưỡng khẳng định rằng, nước khoáng của những vùng này có thể chữa được bệnh lao phổi, bệnh scorbut do thiếu Vitamin C, các bệnh về da liễu, chảy máu lợi… Bên cạnh đó, du lịch còn có tác dụng giáo dục tính thẩm mỹ, tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc khi trực tiếp được tiếp xúc với các thắng cảnh của đất nước, các công trình văn hóa, di tích lịch sử dân tộc Đồng thời, du lịch là điều kiện

để mọi người xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn và tăng tính đoàn kết cộng đồng Đối với quan hệ quốc tế, du lịch là cơ hội để mở rộng, củng cố, thắt chặt tình hữu nghị thân ái giữa các quốc gia trên thế giới

b C hức năng kinh tế

Du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước Theo thống kê của UNWTO, thu nhập du lịch chiếm trên 10% GDP của thế giới [28] Hơn nữa thu nhập tạo ra trong ngành du lịch là “thu nhập kép”, khi phát triển một cơ sở dịch vụ này sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt các hoạt động kinh tế khác Theo “Economics of leisure and tourism” (John Tribe): Cứ mỗi USD tiêu dùng của khách du lịch sẽ tạo ra khoảng 2 – 3 USD thu nhập gia tăng [28] Du lịch còn là ngành kinh tế có đóng góp quan trọng vào nguồn thu của chính phủ thông qua nghĩa vụ thuế Đây còn là ngành xuất khẩu tại chỗ với nhiều ưu thế nổi trội, góp phần quan trọng vào việc thu ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán quốc

tế

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, sự phát triển du lịch giúp đa dạng hóa và kích thích sự phát triển của các ngành kinh tế khác: giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại… Ngoài ra, còn tăng cường cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất

Trang 26

kĩ thuật cho cộng đồng Tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân

Ở một khía cạnh gián tiếp, du lịch còn tác động đến kinh tế của một quốc gia thông qua việc phục hồi sức khỏe, khả năng lao động và đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt [19]

c Chức năng sinh thái

Chức năng sinh thái của du lịch thể hiện qua việc tạo môi trường sống ổn định

về mặt sinh thái, giúp con người sống hòa hợp với thiên nhiên Tiềm năng tự nhiên đối với du lịch của lãnh thổ góp phần tối ưu hóa tác động qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên trong điều kiện công nghiệp hóa, đô thị

Du lịch góp phần vào việc bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên, giúp khai thác tốt hơn, có hiệu quả hơn các không gian đẹp, cảnh quan thiên nhiên; thúc đấy việc nghiên cứu, phát hiện công nhận thêm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn mới, tăng cường đầu tư làm phong phú thêm các không gian du lịch; làm tăng khối lượng

và chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Hơn thế nữa, du lịch còn nâng cao nhận thức của con người về giá trị của tự nhiên, thay đổi thái độ và hành vi đối với môi trường thiên nhiên

d Chức năng chính trị

Du lịch như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế,

mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề về

du lịch được đưa ra năm 1967 là “Du lịch – giấy thông hành của hòa bình”

1.1.3 Các nhân t ố ảnh hưởng sự phát triển du lịch

a Vị trí địa lí

Vị trí địa lí là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch Ý nghĩa của vị trí đối với sự phát triển du lịch thể hiện qua sự ảnh hưởng của nó đến đặc điểm một vài thành phần của môi trường địa lí – khí hậu, mạng lười thủy văn, thực vật là tiền đề cho sự phát triển các loại hình du lịch khác nhau; nhiều khi chính

do vị trí thuận lợi mà quyết định hướng các luồng du lịch tới một nước hay một vùng nào đó [9] Theo August Losch, đối với các hoạt động chủ yếu, yếu tố quyết

Trang 27

định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn

Vị trí địa lí bao gồm vị trí về mặt lãnh thổ và vị trí kinh tế - chính trị, khi phân tích cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế

b Tài nguyên du lịch

Hình 1.3: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch

(Nguồn: Địa lí Du lịch Việt Nam)

* Tài nguyên tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta có sức hấp dẫn phát triển du lịch Các đối tượng tự nhiên cần quan tâm khi nghiên cứu du lịch là: địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật Theo Luật du lịch (Điều 13, chương II): “Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm

các yếu tố địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên

có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

- Địa hình: Hình dạng bề mặt đất ảnh hưởng đến du lịch với sự hấp dẫn của danh thắng tự nhiên, cũng như khả năng xây dựng các cơ sở du lịch thuộc các loại hình khác nhau Khi phân tích ảnh hưởng của địa hình với hoạt động du lịch người ta chú

ý đến hai yếu tố là hình thái địa hình và các dạng địa hình đặc biệt

VH -

LS

Lễ hội Dân tộc

học

Nhân văn khác

DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

DI SẢN HỖN HỢP

Trang 28

I.A Vedenin (1975) cho rằng khu vực có các kiểu địa hình các tương phản về mặt hình thái thì phong cảnh càng đẹp và được đánh giá càng cao đối với du lịch

Và trên thực tế, các dạng địa hình tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình ít gây được cảm hứng cho khách du lịch Trong các dạng địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch

Ngoài các dạng địa hình chính, các dạng địa hình đặc biệt có ý nghĩa đối với du lịch cần được quan tâm là dạng địa hình Karst và địa hình ven bờ Một trong những kiểu Karst được quan tâm nhất đối với du lịch là hang động Karst Đối với kiểu địa hình ven bờ đây là dạng tài nguyên có thể khai thác phát triển du lịch với nhiều mục đích khác nhau thông qua chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của các bãi biển để phát triển du lịch (chiều dài – rộng, độ mịn của cát, độ dốc, độ trong, độ mặn…)

- Khí hậu: Đối với hoạt động du lịch, đặc điểm khí hậu sinh học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Các chỉ tiêu khí hậu được quan tâm nhất là nhiệt độ không khí và

độ ẩm không khí Ngoài ra, các tiêu chí sinh học khác được chú ý là yếu tố gió, áp suất, khí quyển, ánh nắng mặt trời Bên cạnh đó, cần lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt chi phối tới các kế hoạch du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích

Điều kiện khí hậu còn tác động đến tính mùa trong du lịch Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng Các địa phương khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau

Ngoài ra, điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi hoặc các hoạt động du lịch Yếu tố khí hậu còn tác động gián tiếp đến hoạt động du lịch qua tác động đến độ bền tài nguyên du lịch, làm phong hóa nhanh các công trình, các di tích lịch sử - văn hóa và thay đổi diện mạo cảnh quan tự nhiên

- Thủy văn: Tài nguyên nước phục vụ du lịch bao gồm nước trên mặt, nước dưới đất và nước khoáng Trong đó, nguồn nước trên mặt có ý nghĩa to lớn nhất Ngoài

ra, cần phải nói đến nguồn nước khoáng với những thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, chất khí, nguyên tố phóng xạ…), hoặc có một số tính chất vật lý

Trang 29

(nhiệt độ, độ pH…) có tác dụng đối với sức khỏe con người; đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh

- Sinh vật: Tài nguyên sinh vật là dạng tài nguyên đặc biệt, có giá trị tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, khám phá và nâng cao nhận thức cho du khách Đối với một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học thì tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở tính đa dạng sinh học, sự bảo tồn các nguồn gen quý giá đặc trưng cho các vùng tự nhiên khác nhau trên thế giới

* Tài nguyên nhân văn

Tài nguyên nhân văn là những đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ nhu cầu du lịch Đối với du lịch, người ta khai thác các giá trị nhân văn sau: các di tích văn hóa – lịch sử, lễ hội, các đối tượng dân tộc học và các giá trị nhân văn khác

Theo điều 13, chương II, Luật du lịch năm 2005: “Tài nguyên nhân văn gồm

truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

Khi đánh giá đối tượng nhân văn này, cần quan tâm các tiêu chí: Tổng số di tích các loại trên lãnh thổ; số di tích được xếp hạng quốc gia; mật độ di tích trên một đơn vị diện tích [16] Mỗi chỉ tiêu có một ý nghĩa khác nhau Chỉ tiêu đầu tiên đánh giá về số lượng di tích, hai chỉ tiêu sau đánh giá về chất lượng di tích Đây là những chỉ tiêu quan trọng để phân tích khả năng khai thác, phát triển du lịch của các di tích văn hóa – lịch sử

Trang 30

- Lễ hội

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc hướng về một sự kiện trọng đại, ôn lại truyền thống, giải quyết nỗi âu lo Lễ hội là một yếu tố văn hóa quan trọng trong đời sống xã hội, ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc từng nét văn hóa đó chứa đựng những tính chất, đặc trưng riêng, mang hơi thở vào cuộc sống của xã hội đó Nó phù hợp với điều kiện sống cụ thể, nó nảy sinh và bị chi phối bằng các hình thức, phương thức lao động, hoàn cảnh sống và môi trường

tự nhiên

Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội Thời gian diễn ra lễ hội thường khác nhau Nói chung, xuất hiện vào thời điểm thiêng liêng của sự chuyển tiếp giữa các mùa Ở một chừng mực nhất định, lễ hội cũng tạo ra tính mùa của du lịch [17] Phân tích giá trị của lễ hội với du lịch người ta thường tập trung các tiêu chí: Thời gian diễn ra lễ hội (mùa nào, tháng nào), độ dài của lễ hội; địa điểm tập trung

lễ hội; ý nghĩa của lễ hội (ý nghĩa địa phương, quốc gia) và đặc biệt là khả năng đón khách và kinh doanh du lịch [16]

- Các đối tượng gắn với dân tộc học

Sự huyền bí, nét đặc sắc của các đối tượng dân tộc học ngày càng thể hiện rõ giá trị của mình đối với các nhà du lịch trên hành trình tìm kiếm, gặp gỡ, nuôi dưỡng các nền văn hóa ấy, đồng thời “không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc mình” Các đối tượng dân tộc học có ý nghĩa đối với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống – sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc…

Khi đánh giá đối tượng dân tộc, các tiêu chí được quan tâm là: tổng số dân trên lãnh thổ; các dân tộc và cơ cấu dân tộc; đặc điểm phong tục tập quán của các dân tộc và khả năng hình thành loại hình, sản phẩm du lịch từ đối tượng đó [16]

- Các tài nguyên nhân văn khác

+ Các làng nghề: làng nghề truyền thống là tinh hoa về mặt công nghệ, kĩ thuật của một vùng thể hiện qua các sản phẩm có tính khu biệt, qua cách sống, các phong

Trang 31

tục tập quán, văn hóa ứng xử của cộng đồng Làng nghề và các nghề thủ công truyền thống từ lâu đã trở thành đối tượng của hoạt động du lịch, nơi con người hướng tới để khám phá, tìm hiểu và chiêm nghiệm sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các giá trị vật chất và tinh thần một cách hài hòa và sinh động nhất

+ Một số các đối tượng văn hóa khác cũng thu hút khách với mục đích tham quan, nghiên cứu như: trung tâm của các viện khoa học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, biểu diễn

ba lê, các cuộc thi hoa hậu… Các đối tượng văn hóa thường tập trung ở các thủ đô

và thành phố lớn vì thế các thành phố này mặc nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia, vùng – khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch

+ Các thành tựu kinh tế của đất nước hoặc vùng cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch…

c Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, đối với du lịch cở sở hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó nổi bật là mạng lưới và phương tiện giao thông Ngoài ra, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện nước cũng

là một phần không thể thiếu, có vai trò phục vụ trực tiếp hoạt động du lịch

- Hệ thống giao thông vận tải: Du lịch gắn với sự di chuyển của con người, vì vậy nó phụ thuộc trực tiếp vào giao thông Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu

+ Khi đánh giá mạng lưới giao thông cần quan tâm các chỉ tiêu: tổng chiều dài tuyến đường, mật độ đường, các tuyến đường chính

+ Các phương tiện giao thông chủ yếu là: đường ô tô, đường sắt, đường thủy, đường hàng không Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng, đáp ứng nhu cầu

đa dạng của du khách

- Hệ thống thông tin liên lạc: đảm bảo sự giao lưu của khách du lịch trong nước

và quốc tế thông qua việc trao đổi các dòng tin tức xã hội Vẫn đề này được thỏa

Trang 32

mãn bằng nhiều loại hình thông tin khác nhau: thông tin vệ tinh, internet, điện thoại, điện báo, bưu điện… Sự thuận tiện của mạng lưới thông tin liên lạc đảm bảo sự thông suốt trong các giao dịch kinh doanh du lịch, giúp cho hoạt động du lịch trở nên phổ biến, hiệu quả hơn

- Hệ thống điện: Các nhà máy điện, cơ cấu mạng lưới điện, khả năng đảm bảo điện của địa phương cho các hoạt động của các điểm, khu, cụm, trung tâm du lịch,

sự cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu tiêu thụ điện trong toàn vùng… có ý nghĩa lớn, bởi các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của khách du lịch Hoạt động du lịch – một hoạt động mang tính hưởng thụ, nghỉ ngơi, giải trí để tái sản xuất sức lao động thì nhu cầu về điện là rất lớn

- Hệ thống cấp, thoát nước: Bao gồm nguồn nước cho sinh hoạt và các dịch vụ

du lịch Nguồn nước trong cơ sở hạ tầng cần được lưu ý ở hai khía cạnh: khả năng cung cấp nước, chất lượng nguồn nước và hệ thống cung cấp nước đáp ứng nhu cầu

du lịch

d Các nhân tố kinh tế - xã hội – chính trị

* Đường lối chính sách phát triển du lịch: đường lối, chính sách của mỗi quốc gia được xem là kim chỉ nam cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia đó Đối với du lịch đường lối, chính sách cũng thể hiện rõ vai trò của mình Nó có thể là động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch nếu định hướng đúng, phát triển hợp quy luật, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của ngành kinh tế này nếu không xây dựng được chính sách đúng đắn, không có thiện chí tạo điều kiện khai thác tiềm năng Đường lối, chính sách sẽ là cơ sở tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và thuận lợi cho hoạt động du lịch Từ đó, kích thích quá trình giao lưu, tăng cường hoạt động đầu tư phát triển du lịch

* Các nhân tố kinh tế - xã hội khác

Tác động đến hoạt động du lịch còn có hàng loạt các nhân tố khác như: sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tình hình chính trị hòa bình ổn định, dân cư và lao động tất cả các yếu tố này đều có tác dụng là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động du lịch tăng trưởng nhanh hoặc kìm hãm ngành kinh tế này chậm phát triển

Trang 33

1.1.4 Ch ỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp Do đó, việc xây dựng bộ chỉ tiêu gồm các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch là một việc làm quan trọng; đảm bảo việc đánh giá một cách tương đối đầy đủ và khách quan đối tượng du lịch qua các tiêu chí thành phần Trong quá trình phát triển du lịch, nhận thấy có thể chia ra hai nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu nguồn lực phát triển và chỉ tiêu thực trạng phát triển du lịch

1.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá nguồn lực phát triển du lịch

a Vị trí địa lí: là chỉ tiêu quan trọng trong nhóm nguồn lực phát triển du lịch Vị

trí địa lí được đánh giá dưới hai khía cạnh:

- Về mặt giới hạn lãnh thổ, vị trí địa lí ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm tự nhiên và mức độ tập trung giá trị nhân văn của điểm du lịch, quyết định khả năng tiếp cận điểm du lịch; được đánh giá thông qua khoảng cách thời gian đi đường và các loại phương tiện giao thông có thể sử dụng đến điểm du lịch

- Về mặt kinh tế - chính trị, điều kiện kinh tế và tình hình chính trị ổn định tại khu vực diễn ra hoạt động du lịch có tác động gây cản trở hay tạo điều kiện thuận lợi kích thích hoạt động này diễn ra mạnh mẽ

Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, các vị trí địa lí đặc biệt (có cửa khẩu, hải cảng…) sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các tuyến du lịch xuyên quốc gia, thúc đẩy việc tiếp cận, trao đổi, giao lưu, thâm nhập sâu vào nền kinh tế văn hóa thế giới

b Tài nguyên du lịch: được đánh giá qua sự hấp dẫn, tính mùa vụ và độ bền vững của điểm đến Tiêu chí này đánh giá khả năng khai thác và quyết định mức độ

hoạt động du lịch Tùy theo đặc điểm của từng loại tài nguyên mà lựa chọn loại hình

du lịch, hình thức kinh doanh và thời gian hoạt động du lịch phù hợp

* Sức hấp dẫn: là một trong tiêu chí hàng đầu thể hiện được tính thẩm mỹ, đặc

sắc, độc đáo, sự kết hợp hài hòa các yếu tố thành phần; góp phần thỏa mãn nhu cầu

và đáp ứng tâm lý tìm đến với cái đẹp của du khách

- Đối với tài nguyên du lịch tự nhiên: tính hấp dẫn được đánh giá tổng hợp, với

sự kết hợp hài hòa của các yếu tố địa hình, khí hậu, thủy văn và sinh vật Mà cụ thể

Trang 34

là được xác định bằng sự phân hóa đa dạng hình thái địa hình kết hợp các dạng địa hình đặc biệt; điều kiện khí hậu tương đối ôn hóa phù hợp với đặc điểm sinh học của con người, vắng mặt các hiện tượng thời tiết bất thường; sự có mặt của hệ thống sông, ao, hồ, suối tự nhiên hoặc nhân tạo có giá trị tạo môi trường du lịch trong lành, tô điểm cho cảnh quan; và đặc biệt là các hệ sinh thái đặc hữu, điển hình tồn tại dưới dạng vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển, các điểm tham quan sinh vật…

- Đối với tài nguyên du lịch nhân văn: tính hấp dẫn khách du lịch là tiêu chí có tính chất tổng hợp được xác định bằng nét độc đáo về mỹ thuật, nghệ thuật và kiến trúc của các công trình văn hóa (quốc tế, quốc gia hoặc địa phương); bề dày thời gian của di tích lịch sử (cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại); nét huyền bí, hấp dẫn trong các phong tục, nếp sống, trang phục, văn hóa nghệ thuật…của các tộc người;

sự độc đáo, tinh tế của các làng nghề; các đặc sản địa phương và sự đa dạng phong phú, ấn tượng của các sự kiện văn hóa – thể thao khác

* Tính mùa của hoạt động du lịch: tính chất mùa vụ là một trong những đặc điểm đặc trưng của hoạt động du lịch Sự thường xuyên hay gián đoạn của hoạt động du lịch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phương hướng khai thác, đầu tư, kinh doanh phục vụ du lịch Thời gian hoạt động du lịch chủ yếu chịu sự chi phối của điều kiện khí hậu tại điểm, vùng du lịch Được xác định bởi số thời gian thích hợp nhất của các điều kiện khí hậu đối với sức khỏe của khách du lịch và số thời gian thuận lợi nhất cho việc triển khai các hoạt động du lịch

Trong những trường hợp mà số thời gian thích hợp nhất của điều kiện khí hậu với sức khỏe con người và số thời gian thuận lợi cho hoạt động du lịch có khác biệt thì lấy số thời gian thuận lợi cho hoạt động du lịch làm tiêu chí đánh giá

* Độ bền vững của tài nguyên du lịch: là tiêu chí thể hiện khả năng bền vững

của các thành phần, bộ phận tự nhiên và nhân văn trước áp lực của hoạt động du lịch, của khách du lịch và của các đối tượng khác hoặc thiên tai

Tiêu chí này được đánh giá qua số lượng các thành phần tự nhiên bị phá hoại, khả năng phục hồi, sự cân bằng sinh thái và sự đảm bảo hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên của các tài nguyên du lịch tự nhiên Đồng thời còn được đánh giá qua

Trang 35

số lượng các công trình văn hóa, các di tích lịch sử còn được bảo tồn qua thời gian

mà không bị phá hoại bởi môi trường nhiệt đới ẩm, thiên tai và chiến tranh; sự gìn giữ nguyên vẹn các giá trị văn hóa của các lễ hội, các dân tộc, các làng nghề, đảm bảo cho các hoạt động du lịch được diễn ra liên tục

c Cơ sở hạ tầng: tiêu chí này có ý nghĩa quyết định mức độ hoạt động du lịch

Đây là cơ sở để biến các tiềm năng du lịch trở thành hiện thực và hạn chế các tác động tiêu cực làm tổn hại đến môi trường tự nhiên cũng như môi trường nhân văn Chỉ tiêu này được đánh giá qua sự có mặt cũng như chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách về mạng lười và phương tiện giao thông; khả năng cung cấp điện nước cho hoạt động sản xuất và kinh doanh du lịch; khả năng đáp ứng giao lưu trao đổi thông tin liên lạc cho các hoạt động kinh tế và du lịch

1.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá thực trạng phát triển du lịch

Với chức năng nghiên cứu khía cạnh không gian của hoạt động du lịch, việc đánh giá thực trạng phát triển của một điểm đến du lịch cũng phải được xem xét dưới khía cạnh lãnh thổ thông qua các phân vị là: điểm du lịch, tuyến du lịch, cụm

du lịch và trung tâm du lịch Bên cạnh đó, du lịch là một ngành kinh tế, để đánh giá được sự tăng trưởng cũng như vai trò của du lịch đối với nền kinh tế - xã hội của một địa phương, vùng lãnh thổ thì việc xây dựng bộ chỉ tiêu hoạt động theo ngành gồm các tiêu chí đánh giá về lượt khách, doanh thu, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động là rất cần thiết

a Chỉ tiêu hoạt động theo ngành

* Nguồn khách: Khách du lịch là một trong năm phân hệ quan trọng của hệ thống lãnh thổ du lịch Có thể nói sự có mặt của du khách đồng nghĩa với “sự sống” của một điểm du lịch

Khi đánh giá về tiêu chí này, trước hết người ta quan tâm đến tổng lượt khách qua các năm và tốc độ tăng trưởng bình quân (trong đó, phân biệt khách nội địa và khách quốc tế) Tiếp đó, mục đích du lịch là một tiêu chí cần được phân tích Đối với khách du lịch quốc tế, mục đích du lịch bao gồm: du lịch thuần túy, thăm thân, thương nhân và các mục đích khác Đối với khách nội địa, mục đích du lịch chủ yếu

Trang 36

được phân theo: du lịch nghỉ biển, tham quan, lễ hội, chữa bệnh và các mục đích khác Xác định được số lượng khách theo các mục đích du lịch là định hướng quan trọng trong việc hoạch định chiến lược, vạch định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh phù hợp, đem lại hiệu quả cao Cơ cấu khách du lịch còn được xem xét dưới góc độ phương tiện đi lại, gồm: đường bộ, đường biển, đường hàng không Các yếu tố này là cơ sở thiết kế các tuyến du lịch đảm bảo đáp ứng với nhu cầu và điều kiện của du khách Ngoài ra còn thúc đẩy việc nâng cấp, xây dựng các

cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cũng như các hoạt động kinh tế khác Cuối cùng, đối với đánh giá tiêu chí nguồn khách cần xác định được mức độ chi tiêu và thời gian lưu trú của khách du lịch tại một điểm đến

Trong các chỉ tiêu trên, tiêu chí số lượt khách cho phép đánh giá về khía cạnh

“lượng” của hoạt động du lịch, trong khi đó tiêu chí mức độ chi tiêu và thời gian lưu trú lại đánh giá về mặt “chất” của ngành này Từ đó cho thấy, trong quá trình phát triển du lịch không chỉ cần quan tâm thu hút lượng khách lớn mà còn phải đặt việc tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách là mục tiêu quan trọng của ngành

* Cơ sở vật chất – kĩ thuật: Là điều kiện quan trọng đảm bảo hoạt động kinh doanh du lịch được tiến hành hiệu quả Mức độ tiện nghi và đa dạng của cơ sở vật chất – kỹ thuật tại các điểm đến tỷ lệ thuận với khả năng tăng nguồn thu và kéo dài thời gian lưu trú của du khách Trong đó, cơ sở lưu trú và ngành kinh doanh lưu trú

là chỉ tiêu quan trọng – một trong ba trụ cột của ngành du lịch Cơ sở lưu trú được đánh giá qua số phòng, buồng, mức tăng trưởng hàng năm, công suất sử dụng phòng; số khách sạn được xếp sao và số khách sạn phân theo hình thức quản lý Ngoài ra, sự có mặt của các cơ sở vui chơi giải trí, mua sắm, các cơ sở phục vụ ăn uống có vai trò đảm bảo các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, góp phần lấp đầy khoảng thời gian đi du lịch bằng nhiều hoạt động thú vị, thoải mái, tạo nên sự độc đáo và ấn tượng riêng cho mỗi sản phẩm du lịch

* Doanh thu: Du lịch thể hiện chức năng kinh tế của mình qua đóng góp doanh thu hàng năm Thu nhập từ du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do du khách chi trả, đó là doanh thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ

Trang 37

khác…Đối với những điểm du lịch mới hình thành và chưa phát triển cao, doanh thu du lịch chủ yếu tập trung vào cơ sở lưu trú Trên thực tế, tất cả các khoản này không phải chỉ do ngành du lịch trực tiếp thu mà còn do nhiều ngành khác có tham gia các hoạt động du lịch thu, do đó chỉ tiêu doanh thu du lịch thường không phản ánh hết đóng góp của ngành cho nền kinh tế

* Nguồn lao động: lao động trong ngành du lịch là yếu tố quan trọng để hoạt động du lịch được diễn ra, và có tính quyết định lớn đối với sự thành công của hoạt động kinh doanh Tiêu chí này được đánh giá qua tổng số lao động, mức độ tăng trưởng qua các năm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động Số lượng lao động đảm bảo khả năng phục vụ khách và chất lượng lao động quyết định mức độ hài lòng của du khách, đây là tiêu chí để đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch

b Chỉ tiêu hoạt động theo lãnh thổ (cấp tỉnh)

* Điểm du lịch: Là cấp phân vị thấp nhất, là kết quả đầu ra trước tiên trong hệ thống lãnh thổ du lịch Các điểm du lịch trước hết được phân tích qua sự có mặt của một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa, lịch sử hoặc kinh tế - xã hội), cơ sở

hạ tầng phục vụ du lịch và mức độ hoạt động du lịch tại điểm du lịch Hai tiêu chí này sẽ quyết định điểm du lịch là điểm đang khai thác hay điểm tiềm năng Dựa vào

sự hấp dẫn của tài nguyên và sự hoàn thiện của kết cấu hạ tầng mà người ta xếp hạng các điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương Ngoài ra, tiêu chí thời gian lưu trú tại điểm du lịch cũng khá quan trọng, thể hiện mức độ phát triển và khả năng hấp dẫn du khách tại điểm đó

* Tuyến du lịch: Là một đơn vị tổ chức không gian du lịch, được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô, chức năng Việc xây dựng các tuyến du lịch thông thường dựa trên các tuyến đường giao thông sẵn có, hệ thống đô thị, các cơ

sở lưu trú cũng như giá trị các điểm đến Do đó việc đánh giá tuyến du lịch cũng thông qua các tiêu chí cụ thể: tên, chiều dài tuyến; các điểm du lịch trên tuyến; thời gian hoạt động của tuyến và các sản phẩm du lịch chủ yếu

Căn cứ vào phạm vi hoạt động của tuyến du lịch, có thể phân loại tuyến du lịch

là tuyến nội tỉnh hay liên tỉnh; tuyến du lịch quốc gia hay quốc tế Và dựa vào đặc

Trang 38

điểm hoạt động của điểm du lịch trên tuyến có thể xác định được các tuyến du lịch tiềm năng

* Cụm du lịch: Là nơi tập trung nhiều điểm du lịch với mật độ tương đối lớn Các tiêu chí để đánh giá cụm du lịch là hạt nhân của cụm, các điểm du lịch, sản phẩm du lịch đặc trưng

Việc xác định cụm du lịch là cụm đang hoạt động hay cụm tiềm năng được dựa trên cơ sở đánh giá nguồn tài nguyên, khả năng khai thác và thực trạng hoạt động của các điểm du lịch cũng như mức độ liên kết của các điểm trong cụm

* Khu du lịch: Theo quy định tại khoản 7, điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiểu quả về kinh tế, xã hội và môi trường”

* Trung tâm du lịch (của quốc gia và địa phương): là nơi tập trung khá đa dạng các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng tương đối phong phú và đặc biệt có vai trò thu hút khách du lịch và tạo nguồn thu rất lớn Được coi là hạt nhân phát triển du lịch của địa phương Tiêu chí khi phân tích thực trạng của một trung tâm du lịch là nêu được các sản phẩm du lịch của trung tâm và đánh giá vai trò của trung tâm du lịch

trong sự phát triển du lịch địa phương

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Th ực tiễn hoạt động du lịch Việt Nam

Được hình thành từ những năm 60, cho đến nay ngành kinh tế du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế quan trọng của nước ta Trong những năm gần đây, cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới, du lịch Việt Nam đang thực sự chuyển mình, ghi lại những dấu ấn đẹp trên bản đồ du lịch thế giới và được đánh giá là điểm đến

an toàn, thân thiện, đầy hấp dẫn đối với cộng đồng du lịch thế giới

Việt Nam nổi bật với nét độc đáo của vị trí địa lí, gần trung tâm Đông Nam Á, vừa gắn chặt lục địa vừa thông ra đại dương Trên nền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, Việt Nam là nơi gặp gỡ giao thoa của các luồng di cư động – thực vật; đem lại

sự giàu có và đa dạng về mặt sinh thái tự nhiên Đây là điều kiện hình thành và phát triển phong phú các loại hình du lịch gắn với các hệ sinh thái đặc trưng; hệ sinh thái biển – đảo, hệ sinh thái sông – hồ, hệ sinh thái rừng – hang động Cùng với đó, sự

Trang 39

giao lưu tiếp xúc của nền văn hóa bản địa với dân cư xung quanh cũng như truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu đời đã tạo cho Việt Nam một vẻ đẹp của bản sắc văn hóa đậm màu, của truyền thống dân tộc hồn hậu, là vốn quý để khai thác, phát triển các loại hình du lịch văn hóa Đến nay, Việt Nam đã có 12 di sản vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là di sản thế giới Đặc biệt, năm 2012 Vịnh Hạ Long đã trở thành một trong bảy kỉ quan thế giới mới Hơn thế nữa, Việt Nam còn nằm trong khu vực có nền kinh tế phát triển năng động, có vị trí thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế, hội nhập củng cố và mở rộng các mối quan hệ song phương, đa phương góp phần phát triển hiệu quả để du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn

Có thể nói hoạt động du lịch ở Việt Nam bắt đầu rất sớm, từ những chuyến du ngoạn của các vua chúa ngày xưa trên hành trình mở mang bờ cõi; được định hình

rõ nét hơn trong thời kì đô hộ của thực dân Pháp với việc khai thác nhiều thắng cảnh đẹp, khí hậu ôn hòa và xây dựng hàng loạt biệt thự, khách sạn nghỉ dưỡng Cho đến khi Công ty du lịch Việt Nam được thành lập, vào ngày 09/07/1960 đã chính thức đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam như một ngành kinh tế độc lập Trong quá trình hội nhập và phát triển, du lịch Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn và đạt được nhiều bước phát triển quan trọng

a Khách du lịch:

- Khách quốc tế:

Sự phát triển của ngành du lịch gắn bó mật thiết với dòng khách du lịch Nhìn chung lượt khách du lịch không ngừng tăng lên với nhịp độ ngày càng nhanh Từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây đã diễn ra “sự bùng nổ” du lịch với tốc độ tăng trưởng rất nhanh, đặc biệt là lượng khách quốc tế Năm 2000 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 2,14 triệu lượt, đến năm 2005 lên 3,48 triệu lượt và năm 2010, lần đầu tiên khách du lịch quốc tế vượt qua mốc 5,0 triệu lượt Tốc độ tăng trưởng của khách du lịch quốc tế giai đoạn 2000 – 2010 đạt 8,9%/năm Song trong 2 năm 2002 và 2009 tăng trưởng âm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đại dịch cúm AH1N1

Trang 40

Bi ểu đồ 1.1: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
Hình 1.3 Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch (Trang 27)
Hình 2.1. Lèn Hai Vai (thu ộc huyện Diễn Châu) - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
Hình 2.1. Lèn Hai Vai (thu ộc huyện Diễn Châu) (Trang 53)
Hình 2.2: Sao La –  động vật quý hiếm ở Nghệ An - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
Hình 2.2 Sao La – động vật quý hiếm ở Nghệ An (Trang 58)
Hình 2.3 . Đua thuyền trong lễ hội du lịch Cửa Lò - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
Hình 2.3 Đua thuyền trong lễ hội du lịch Cửa Lò (Trang 69)
Hình 2.4: Bi ểu diễn nghệ thuật tại Lễ hội Làng Sen - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
Hình 2.4 Bi ểu diễn nghệ thuật tại Lễ hội Làng Sen (Trang 70)
Hình 2.5: S ản phẩm từ dệt thêu thổ cẩm truyền thống ở Quỳ Châu - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
Hình 2.5 S ản phẩm từ dệt thêu thổ cẩm truyền thống ở Quỳ Châu (Trang 73)
Hình 2.6 : Cá Mát sông Giăng – Cam Xã Đoài - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
Hình 2.6 Cá Mát sông Giăng – Cam Xã Đoài (Trang 76)
Phụ lục 1: Sơ đồ định nghĩa khách du lịch quốc tế của WTO – 1981 - phát triển du lịch tỉnh nghệ an giai đoạn 2000 – 2010
h ụ lục 1: Sơ đồ định nghĩa khách du lịch quốc tế của WTO – 1981 (Trang 143)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w