Vận dụng quan điểm này, tính toàn vẹn lãnh thổ của hệ sinh thái được coi trọng, trong đó các tác động của du lịch đến khả năng chịu đựng của hệ sinh thái cần được tính đến, đảm bảo sự ph
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Khánh Linh
Trang 4Xin chân thành cám ơn BGH và các đồng nghiệp trường THPT Mỹ Phước Tây, Cai Lậy, Tiền Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng, Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân yêu, bạn
bè đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013
Tác giả
Nguy ễn Thị Khánh Linh
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
M Ở ĐẦU 8
1 Lý do ch ọn đề tài 8
2 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài 9
3 M ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Gi ới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu 10
5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 10
6 Nh ững đóng góp mới của luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ DU L ỊCH BỀN VỮNG 13
1.1 Khái ni ệm và những nội dung liên quan 13
1.1.1 Khái niệm về du lịch 13
1.1.2 Sản phẩm du lịch 14
1.1.3 Các loại hình du lịch 14
1.1.4 Thị trường du lịch 14
1.1.5 Khách du lịch 15
1.1.6 Nguồn nhân lực du lịch 15
1.1.7 Xúc tiến du lịch 15
1.1.8 Khái niệm phát triển bền vững 15
1.1.9 Phát triển du lịch bền vững 16
1.2 Các yêu c ầu phát triển du lịch bền vững 17
1.2.1 Hệ sinh thái 17
1.2.2 Hiệu quả 18
1.2.3 Công bằng 18
1.2.4 Bản sắc văn hoá 18
1.2.5 Cộng đồng 18
1.2.6 Cân bằng 18
1.2.7 Phát triển 18
1.3 Nh ững nguyên tắc đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững 18
Trang 61.3.1 Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững 18
1.3.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải 19
1.3.3 Phát triển du lịch gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng 19
1.3.4 Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội 19
1.3.5 Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương 20
1.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương 20
1.3.7 Thường xuyên trao đổi tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan 20
1.3.8 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường 21
1.3.9 Tăng cường quảng bá tiếp thị một cách có trách nhiệm 21
1.3.10 Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu 21
1.4 Nh ững dấu hiệu nhận biết của phát triển du lịch bền vững 22
1.4.1 Số lượng các khu, điểm du lịch được bảo vệ 22
1.4.2 Áp lực lên môi trường tại các điểm du lịch 22
1.4.3 Cường độ hoạt động tại các điểm du lịch 22
1.4.4 Tác động xã hội từ hoạt động du lịch 22
1.4.5 Quá trình thực hiện quy hoạch 23
1.4.6 Sự hài lòng của du khách và cộng đồng địa phương 23
1.4.7 Mức độ đóng góp của du lịch vào sự phát triển của kinh tế địa phương 23
1.4.8 Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch theo hướng bền vững 23
1.4.9 Nâng cao tính trách nhiệm trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch 24
1.5 Sơ lược về phát triển du lịch bền vững trên thế giới và Việt Nam 24
1.5.1 Tình hình phát triển du lịch bền vững trên thế giới 24
1.5.2 Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH CÀ MAU 32
2.1 Khái quát v ề tỉnh Cà Mau 32
2.1.1 Vị trí địa lý và lãnh thổ 32
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 33
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 35
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch tỉnh Cà Mau 36
2.2.1 Tài nguyên du lịch 36
2.2.2 Dân cư và lao động 44
2.2.3 Kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch 45
2.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các điều kiện phát triển bền vững du l ịch tỉnh Cà Mau 52
Trang 72.4 Th ực trạng phát triển du lịch tỉnh Cà Mau 54
2.4.1 Tổ chức các điểm và các loại hình du lịch 54
2.4.2 Lao động ngành du lịch 59
2.4.3 Đầu tư trong du lịch 61
2.4.4 Công tác quản lý của Nhà nước về du lịch 62
2.5 Nh ững kết quả đạt được của ngành du lịch Cà Mau 63
2.5.1 Khách du lịch 63
2.5.2 Doanh thu du lịch 68
2.6 Nh ững dấu hiệu phát triển bền vững của du lịch tỉnh Cà Mau 70
2.7 Nh ững dấu hiệu phát triển không bền vững của du lịch tỉnh Cà Mau 71
2.7.1 Vấn đề khai thác tài nguyên 71
2.7.2 Vấn đề môi trường và các sự cố trong hoạt động du lịch 72
2.7.3 Vấn đề sản phẩm du lịch 74
2.7.4 Vấn đề tổ chức, quản lý du lịch 75
2.8 Nh ững nguyên nhân cơ bản của sự phát triển không bền vững 76
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH CÀ MAU THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 80
3.1 Căn cứ đưa ra định hướng 80
3.2 Nh ững định hướng để phát triển du lịch tỉnh Cà Mau theo hướng bền vững 81
3.2.1 Những định hướng chung 81
3.2.2 Các định hướng cụ thể 82
3.2.3 Định hướng phát triển các loại hình du lịch 92
3.2.4 Định hướng quy hoạch kiến trúc cho du lịch 94
3.3 Nh ững giải pháp phát triển du lịch Cà Mau theo hướng bền vững 95
3.3.1 Nâng cao nhận thức về phát triển du lịch bền vững 95
3.3.2 Bảo vệ tài nguyên và môi trường 96
3.3.3 Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch 97
3.3.4 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật 98
3.3.5 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực 99
3.3.6 Tiếp thị, tuyên truyền, quảng bá du lịch 100
3.3.7 Giải pháp về cơ chế chính sách 101
3.3.8 Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước về du lịch 103
3.3.9 Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch 103
3.3.10 Tăng cường các hoạt động bảo vệ tài nguyên - môi trường 104
Trang 83.3.11 Tăng cường liên kết với các tỉnh và vùng lân cận 106
3.4 Nh ững kiến nghị để phát triển du lịch Cà Mau theo hướng bền vững 107
3.4.1 Đối với chính phủ và cơ quan Trung ương 107
3.4.2 Đối với chính quyền địa phương 107
K ẾT LUẬN 109
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 111
PH Ụ LỤC 113
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOT : Build-Operation -Transfer (Xây dựng- kinh doanh - chuyển giao)
DLST : du lịch sinh thái
DTSQ : dự trữ sinh quyển
ĐBSCL : đồng bằng sông Cửu Long
IUCN : international union for conservation of nature and natural resources - liên minh
quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên
TNDLTN : tài nguyên du lịch tự nhiên
và phát triển thế giới WTTC : The World Travel and Tourism council - Hội đồng du lịch thế giới
WTO : World Trade Organization - Tổ chức du lịch thế giới
Trang 10MỞ ĐẦU
Ngày nay, cuộc sống của con người đã vươn ra khỏi sự ràng buộc của nhu cầu sinh
tồn, hướng đến nhu cầu hưởng thụ và phát triển Nền kinh tế phát triển, thu nhập người dân nâng lên Vì vậy, mọi người sau thời gian làm việc, học tập cần khôi phục thể lực, thư giãn tinh thần để nâng cao hiệu suất công việc Do đó hoạt động du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội Đối với nước ta Đảng và Nhà nước đã
xác định “du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc,
có tính liên ngành, liên vùng và xã h ội hóa cao” (Pháp lệnh Du lịch, 1999) và đề ra mục tiêu
“phát tri ển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” (Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX, 2001) và “phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng
trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Chỉ thị 46/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng khóa VII, 1994)
Trong suốt 40 năm hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ và hiện đã trở thành một ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế
quốc dân Tuy nhiên, việc khai thác các tài nguyên phục vụ phát triển du lịch bên cạnh
những tác động tích cực cũng dần bộc lộ những ảnh hưởng tiêu cực: vô tình đã góp phần làm suy thoái chất lượng tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái, đe dọa sự tồn tại của các
hệ sinh thái tự nhiên đặc hữu, thay đổi tập quán sinh hoạt của loài người Phát triển du lịch
bền vững chính là giải pháp duy nhất khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường, hạn
chế khả năng làm suy thoái tài nguyên, duy trì tính đa dạng sinh học Trước tình hình phát triển mạnh mẽ du lịch của cả nước, du lịch Cà Mau đã chuyển mình và phát triển cùng với
xu hướng bền vững ấy
Cà Mau từ lâu đã được biết đến là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi và lưu truyền biết bao huyền thoại về một thời khai hoang, mở cõi của ông cha Cà Mau hiện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của vùng đồng bằng sông Cửu Long (gồm Cần Thơ - An Giang - Kiên Giang - Cà Mau) Các tiềm năng về tự nhiên, lịch sử và kinh tế - xã hội ấy đang được tỉnh
từng bước đầu tư, khai thác để phục vụ cho ngành du lịch Tuy nhiên, du lịch Cà Mau trong
thời gian qua vẫn chưa được khai thác đúng tiềm năng, bên cạnh những thành quả đạt được
vẫn còn nhiều hạn chế và có một số biểu hiện thiếu bền vững Đứng trước hiện trạng trên tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Cà Mau theo hướng bền vững”
Trang 112 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài
Trên th ế giới: Du lịch hiện nay được xem là một trong những ngành kinh tế rất được
quan tâm Vì vậy, hoạt động du lịch được rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học và các nhà
quản lí quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, mãi đến những năm 80 của thế kỷ XX khái niệm
“phát triển bền vững” mới được xuất hiện và đầu những năm 90 khái niệm về “du lịch bền
vững” mới được đề cập
T ại Việt Nam: Nghiên cứu về du lịch mới chỉ được đề cập vào những năm 90 với một
số công trình nghiên cứu: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”, “Du lịch và kinh doanh du
lịch” Còn “du lịch bền vững” là một khái niệm còn khá mới mẻ, đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch trên khía cạnh bền vững như: “Du lịch bền vững”, “Du lịch sinh thái –
những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam”, “Cẩm nang về phát triển du lịch
bền vững”
Đề tài liên quan đến du lịch Cà Mau có: “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tỉnh
Cà Mau” và một số công trình nghiên cứu khác về du lịch Cà Mau đã phát họa rất sâu ở một khía cạnh cụ thể về du lịch Cà Mau Tuy nhiên, các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu một cách
hệ thống và xây dựng phương pháp luận về phát triển du lịch tỉnh Cà Mau, đặc biệt là chưa định hướng rõ nét về phát triển du lịch Cà Mau trong tương lai Từ thực trạng phát triển ngành du lịch Cà Mau hiện nay thì việc nghiên cứu đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Cà Mau
theo hướng bền vững” trên cơ sở khảo sát đánh giá và đề ra giải pháp phù hợp nhằm đẩy
mạnh phát triển du lịch Cà Mau Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tình hình phát triển du lịch của tỉnh, từ đó định hướng cho ngành du lịch có những bước đi
hiệu quả nhất Việc nghiên cứu phát triển bền vững áp dụng cho một tỉnh còn rất ít được chú
trọng Hầu hết các công trình chủ yếu tập trung vào nghiên cứu “Du lịch sinh thái-một loại
hình du l ịch thân thiện với môi trường và có tính bền vững” Chính vì vậy, cần có nhiều hơn
nữa những đề tài nghiên cứu sâu hơn cho du lịch bền vững của từng tỉnh
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững của thế giới và Việt Nam vào nghiên cứu phát triển du lịch Cà Mau và đưa ra những định hướng phát triển theo hướng bền vững
3.2 Nhi ệm vụ
Trang 12+ Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch bền vững trên thế giới và
Việt Nam vận dụng vào thực tế phát triển du lịch tỉnh Cà Mau
+ Thu thập, tổng hợp, thống kê tư liệu, tài liệu, số liệu có liên quan đến đề tài
+ Phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Cà Mau trên quan điểm phát triển bền vững
+ Trên cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, các định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia, của tỉnh Cà Mau, kiến nghị một số giải pháp phát triển du
lịch tỉnh Cà Mau theo hướng bền vững
+ N ội dung: Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu tổng quan các cơ sở lý luận cho
việc phát triển du lịch bền vững Phân tích tiềm năng, hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch Cà Mau theo hướng bền vững
+ Không gian: Được giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh Cà Mau trong mối quan hệ
với các vùng lân cận
+ Th ời gian: Luận văn nghiên cứu sâu về hoạt động du lịch tỉnh Cà Mau trong giai
đoạn 2000 - 2012 làm căn cứ đưa ra định hướng
5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Quan điểm hệ thống giúp chúng ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toàn bộ hệ thống du lịch nói chung
Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở phức tạp gồm nhiều thành phần có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất hỗn hợp, có đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản Vì vậy, quan điểm hệ thống luôn quán triệt trong nghiên cứu luận văn
5.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các đối tượng nghiên cứu của địa lý không thể tách rời một lãnh thổ cụ thể với những đặc trưng riêng Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở của các nguồn tài nguyên, các dịch vụ cho du lịch Quan
Trang 13điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích các tiềm năng và những tác động nhiều mặt cho sự phát triển du lịch Cà Mau theo hướng bền vững
5.1.3 Quan điểm sinh thái bền vững
Phát triển du lịch bền vững phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái là rất quan
trọng Mục tiêu của du lịch bền vững là bảo vệ tài nguyên và môi trường, tăng cường bảo
tồn các tài nguyên tự nhiên, tôn tạo các tài nguyên nhân văn đảm bảo sự phát triển bền vững
về sau Vận dụng quan điểm này, tính toàn vẹn lãnh thổ của hệ sinh thái được coi trọng, trong đó các tác động của du lịch đến khả năng chịu đựng của hệ sinh thái cần được tính đến, đảm bảo sự phát triển du lịch trên cơ sở môi trường được bảo tồn một cách có hiệu quả
và bền vững Từ đó, quan điểm sinh thái bền vững được quán triệt xem như là một quan điểm chủ đạo trong nghiên cứu của luận văn
5.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Tất cả các sự vật, hiện tượng đều có sự vận động biến đổi theo quy luật tự nhiên Nghiên cứu quá khứ để có những đánh giá đúng đắn ở hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển và có cơ sở đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển trong tương lai Vận
dụng quan điểm này để phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển
hệ thống du lịch, các phân hệ cũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp khác nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau tạo điều kiện để hoàn thành luận văn có cơ sở khoa học
5.2.1 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu lưu trữ quốc gia và trung ương, tài liệu của các cơ quan trong tỉnh Cà Mau; của Sở Văn Hóa - Thể Thao - Du Lịch Cà Mau; Trung tâm xúc tiến thương mại du lịch và đầu tư
tỉnh Cà Mau Các tài liệu thống kê được cập nhật, bổ sung, chọn lọc phù hợp với nội dung
cần nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Là phương pháp đặc thù của nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý du lịch nói riêng Phương pháp này xuyên suốt trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu Một số nội dung được xúc tích hơn, dễ so sánh, rõ ràng hơn nhờ sự hỗ trợ của các bản đồ, biểu đồ
5.2.3 Phương pháp thực địa
Trang 14Đây là một phương pháp truyền thống của địa lý học, được sử dụng rộng rãi trong địa
lý du lịch nhằm tích lũy tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức lãnh thổ du lịch Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp này luôn được coi trọng nhằm có được cái nhìn thực tế về đặc trưng lãnh thổ nghiên cứu Phương pháp này còn được thực
hiện kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học
5.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này được coi là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu khoa học hiện đại Trong nghiên cứu du lịch, các thông tin thu thập được qua điều tra giúp các nhà nghiên
cứu tổng hợp ý kiến, các quan điểm đa dạng từ du khách, cư dân, các nhà quản lý một cách khách quan mà quan sát của một người không thể có được Cùng với phương pháp thực địa, phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích các hiện tượng thực tế
Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững trên thế
giới và Việt Nam, làm tiền đề cho việc nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Cà Mau Phân tích
tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Cà Mau
Kiến nghị một số giải pháp phát triển du lịch bền vững tỉnh Cà Mau
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
trở nên gần gũi với con người hơn
Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch Đầu tiên, du lịch được
hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc nhóm người, rời khỏi nơi ở của mình trong khoảng
thời gian ngắn, đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh
Năm 1985, I.I Pirogionic đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân
cư trong thời gian rỗi liên quan đến việc di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao trình độ
nh ận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [11]
Ở Việt Nam, theo luật Du lịch ban hành vào tháng 6/2005, có hiệu lực từ ngày
01/01/2006, “du l ịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định nghĩa “Du lịch theo nghĩa hành động,
được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các
d ịch vụ xung quanh hoạt động này Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khi ển”
Trang 161.1.2 S ản phẩm du lịch
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005 (ban hành ngày 14/6/2005), sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
Có thể phân loại sản phẩm du lịch thành hai loại dựa theo đặc tính tiêu thụ của khách hàng như sau: Sản phẩm du lịch trọn vẹn và sản phẩm du lịch riêng lẻ
Đối với sản phẩm du lịch riêng lẻ có thể phân biệt các nhóm sản phẩm sau: Sản phẩm
du lịch đặc thù; Sản phẩm du lịch thiết yếu và sản phẩm du lịch mang tính bổ trợ
1.1.3 Các lo ại hình du lịch
1.1.3.1 Khái ni ệm loại hình du lịch
Theo tác giả Trương Sỹ Quý thì loại hình du lịch có thể được định nghĩa như sau:
“Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó”
1.1.3.2 Các lo ại hình du lịch
Các loại hình du lịch được phân loại như sau:
- Theo ph ạm vi lãnh thổ của chuyến du lịch: Du lịch quốc tế, du lịch nội địa
- Theo nhu c ầu trong thực hiện hành vi du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng, giải trí; Du lịch thể
thao; Du lịch chữa bệnh; Du lịch vì mục đích văn hóa; Du lịch sinh thái; Du lịch tôn giáo;
Du lịch về thăm thân nhân, quê hương; Du lịch thương gia; Du lịch công vụ; Du lịch quá
mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch
Trang 171.1.5 Khách du l ịch
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ những trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến (Điều 4, Luật Du lịch, 2005)
1.1.6 Ngu ồn nhân lực du lịch
Nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián
tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch Do đó, khi đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ngành du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch
biến tương đối rộng rãi
Năm 1980, IUCN - Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có
khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các điều kiện khó khăn cũng như thuận
lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn hạn và dài hạn
Đến năm 1987, WCED - Ủy ban môi trường và phát triển thế giới - do bà Grohalem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong bản báo cáo “Tương
lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những
điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
h ệ mai sau”
Trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất tháng 6/1992 tại Rio De Janeiro, “phát triển
b ền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, h ệ kinh tế và hệ xã hội”
Trang 18Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình
hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức và
việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển
Tuy hiện có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, song tựu trung
lại, tất cả đều thống nhất ở các nội dung sau:
“ Phát tri ển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về 3 mặt: Kinh tế - xã hội môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện
t ại nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh t ế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”
1.1.9 Phát tri ển du lịch bền vững
1.1.9 1 Quan niệm về phát triển du lịch bền vững
Xu thế phát triển du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước
sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn
Khái niệm “phát triển du lịch bền vững” xuất hiện khoảng từ 10 năm trở lại đây trên
cở sở cải thiện và nâng cấp khái niệm “du lịch mềm” (soft tourism), được nhiều quốc gia và
hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có một khái niệm
thống nhất và đầy đủ về “du lịch bền vững”
Năm 1996, Diễn đàn lãnh đạo các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp lữ hành –
du lịch (WTTC – The World Travel and Tourism council) đưa ra khái niệm: “Du lịch bền
vững là sự đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”
Ở Việt Nam, phát triển bền vững được thể hiện trong chỉ thị 36/CT của bộ Chính Trị,
ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25/6/1998: Mục tiêu và các quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một bộ phận cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững
Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển du lịch phải được định hướng và quản lý theo phương châm: Kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên
cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch tự nhiên; chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch
Trang 19nhân văn; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tránh hiện đại hóa hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích, xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch
1.1.9 2 Du lịch bền vững và du lịch không bền vững
Có những loại hình du lịch được coi là bền vững hơn các loại hình khác Trong khi
đó, du lịch tình dục hoặc du lịch 3-S (Sun, Sea and Sand: nắng, biển, cát) ở hầu hết các nước cho thấy không bền vững Tuy nhiên, phần lớn các loại hình du lịch đều có thể phát triển với quy mô lớn, do đó trở nên không bền vững (ví dụ, số lượng người đi du lịch săn bắt, câu cá quá đông ở một khu du lịch) Phần lớn, các mô hình du lịch có thể làm cho bền vững hơn thông qua những thay đổi định lượng hoặc định tính
Để củng cố khái niệm du lịch bền vững, nhiều nghiên cứu đã xem xét các tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố được coi là không bền vững
Trong hoạt động thực tiễn, cần xem xét các vấn đề làm giảm tính bền vững của du lịch, đồng thời so sánh các hoạt động bền vững với các hoạt động không bền vững Những yếu tố bền vững và không bền vững liệt kê ở trên không mang tính bắt buộc Chúng phụ thuộc nhiều vào liều lượng, vào khả năng quản lý và kiểm soát của Nhà nước, vào khả năng
tự kiểm soát của ngành du lịch
Phát triển du lịch bền vững phải tiếp cận và thực hiện một cách toàn diện, hài hoà các yêu cầu sau:
Trang 201.2.2 Hi ệu quả
Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và lao động bỏ ra trong hoạt động kinh doanh du lịch Hiệu quả liên quan đến việc đánh giá các phương thức, biện pháp đo lường chi phí, thời gian, lợi ích của cá nhân xã hội thu được thông qua hoạt động du lịch Việc này đòi hỏi quy mô và sự ổn định thích hợp của các thị trường du lịch
1.2.3 Công b ằng
Bình đẳng và thừa nhận các nhu cầu cá nhân, hộ gia đình, các nhóm xã hội, giữa thế
hệ hiện tại và thế hệ tương lai, giữa con người và thiên nhiên
1.2.6 Cân b ằng
Phát triển du lịch phải tạo được sự liên kết, cân đối và hài hoà giữa kinh tế và môi trường, giữa nông nghiệp và du lịch, giữa các loại hình du lịch liên ngành để tạo hiệu quả tổng hợp
1.2.7 Phát tri ển
Khai thác các tiềm năng làm tăng khả năng cải thiện chất lượng cuộc sống
Tăng trưởng là kết quả của sự phát triển, nhưng không đồng nghĩa với sự khai thác
triệt để và phá huỷ môi trường [14]
1.3.1 Khai thác s ử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững
Phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo lưu lại cho các thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không kém hơn so với những gì mà các thế hệ trước được hưởng
Trang 21Vì vậy, trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đi của các loại sinh vật, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái có giá trị du lịch như các rừng nguyên sinh, các rạn san hô,… Ngăn chặn sự phá hoại các giá trị văn hoá lịch sử, truyền thống dân tộc; Phát triển và thực thi các chính sách môi trường hợp lý trong mọi lĩnh vực của du lịch; Bảo vệ và ủng hộ việc thừa hưởng các di sản văn hoá và lịch sử của các dân tộc, tôn trọng các quyền lợi của người dân địa phương trong việc khai thác các tài nguyên du lịch
1.3.2 H ạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải
Tiêu thụ quá mức các nguồn tài nguyên dẫn đến sự huỷ hoại môi trường địa phương,
đi ngược lại sự phát triển bền vững lâu dài của ngành công nghiệp du lịch Giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc hồi phục tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng của du lịch
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải
từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung
1.3.3 Phát tri ển du lịch gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch Sự đa dạng của môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội là một thế mạnh tránh việc quá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn Đa dạng
là trụ cột chính của ngành công nghiệp du lịch Đa dạng là một nhân tố quan trọng quyết định sự lựa chọn nơi tham quan của du khách, là mối quan tâm, là nguồn lợi của các nhà điều hành du lịch Nơi nào có tính đa dạng cao về thiên nhiên, văn hoá và xã hội, nơi đó sẽ
có khả năng cạnh tranh cao về du lịch và có sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sự phát triển Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội là rất quan trọng đối với du lịch bền vững, là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch
1.3.4 Phát tri ển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa
Trang 22phương Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh
tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đảm bảo môi trường
1.3.5 Chia s ẻ lợi ích với cộng đồng địa phương
Để phát triển kinh tế – xã hội nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng việc khai thác các tiềm năng tài nguyên là tất yếu Tuy nhiên, thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ quyền lợi với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn Điều này buộc cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên của mình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên
và tổn hại đến môi trường sinh thái Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung Ngành
du lịch hỗ trợ tích cực các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến các giá trị và chi phí
về mặt môi trường thì mới bảo vệ được các nền kinh tế địa phương Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển du lịch bền vững
1.3.6 Khuy ến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
Cư dân địa phương, nền văn hoá, lối sống và truyền thống của địa phương là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch tới điểm du lịch Khi cộng đồng được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch thì sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng là chủ nhân và là người có trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu vực Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch
1.3.7 Thường xuyên trao đổi tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan
Trao đổi tham khảo ý kiến quần chúng là một quá trình nhằm dung hoà giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm lớn hơn của cộng đồng địa phương, với những tác động tiềm ẩn của sự phát triển lên môi trường tự nhiên, văn hoá – xã hội Quá trình tham khảo ý kiến trong trường hợp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến thức và các nguồn lực địa phương Việc tham khảo ý kiến trên diện rộng vì lợi ích của cả cộng đồng địa phương,
Trang 23du khách, và các ngành công nghiệp là việc làm hết sức cần thiết đối với mục tiêu phát triển
du lịch bền vững
1.3.8 Chú tr ọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường
Đối với bất kỳ sự phát triển nào, con người luôn đóng vai trò quyết định Một lực lượng lao động được đào tạo có trình độ nghiệp vụ không những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ nghiệp vụ, có hiểu biết cao về văn hoá, môi trường là yếu tố quan trọng nếu không
nói là quyết định để đảm bảo cho chất lượng của sản phẩm du lịch, là một trong những nguyên tắc then chốt đối với sự phát triển du lịch bền vững
1.3.9 Tăng cường quảng bá tiếp thị một cách có trách nhiệm
Quảng bá tiếp thị luôn là một hoạt động quan trọng đối với phát triển du lịch, đảm bảo sự thu hút khách, tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch Chiến lược tiếp thị du lịch bền vững bao gồm việc xác định, đánh giá và luôn rà soát lại mặt cung của tài nguyên thiên nhiên và nhân văn Việc quảng cáo, tiếp thị cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm có thể nâng cao nhận thức hiểu biết, sự cảm kích, lòng tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, xã hội và các giá trị nhân văn nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng đáng kể sự thoả mãn của khách đối với các sản phẩm
du lịch Điều này sẽ góp phần làm giảm những tác động tiêu cực từ hoạt động thu hút khách, đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển du lịch
1.3.10 Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu
Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan Trong quá trình phát triển nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nảy sinh sẽ có những tác động cần phải nghiên cứu để có những giải
pháp phù hợp điều chỉnh sự phát triển Như vậy, việc thường xuyên cập nhật các thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là cần thiết, không chỉ đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường,… Công tác nghiên cứu là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là những ngành có nhiều mối quan hệ trong phát triển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, môi trường
và văn hoá – xã hội như ngành du lịch
Trang 24Những nguyên tắc cơ bản trên đây nếu được thực hiện đầy đủ sẽ là đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển bền vững, là chìa khoá cho sự thành công lâu dài của ngành du lịch [2],[14], [18]
1.4.1 S ố lượng các khu, điểm du lịch được bảo vệ
Số lượng các khu, điểm du lịch được đưa vào danh sách bảo vệ, tôn tạo được coi là một trong số các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của ngành du lịch Khu vực nào, quốc gia nào càng có nhiều các khu, điểm du lịch được bảo tồn, tôn tạo chứng tỏ rằng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia đó càng gần với mục tiêu phát triển bền vững
1.4.2 Áp l ực lên môi trường tại các điểm du lịch
Việc quản lý áp lực từ hoạt động du lịch lên môi trường là việc xác định những giới hạn biến đổi có thể chấp nhận được về môi trường Việc thực hiện các thủ tục đánh giá tác động môi trường càng nghiêm túc thì việc thực thi nội dung của phát triển bền vững càng có hiệu quả
1.4.3 Cường độ hoạt động tại các điểm du lịch
Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo xác định được cường độ hoạt động của các điểm du lịch sao cho không vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn về môi trường, tiêu thụ năng lượng
và “sức chứa” Việc giới hạn lượng khách đến trong một chu kỳ phát triển là một vấn đề quan trọng và cần thiết, điều này sẽ giúp cho việc duy trì và bảo vệ sự đa dạng sinh học, đảm bảo cung cấp đủ nguồn năng lượng vừa phục vụ sinh hoạt của cộng đồng vừa đảm bảo phục vụ nhu cầu du khách
1 4.4 Tác động xã hội từ hoạt động du lịch
Các tác động xã hội từ hoạt động du lịch thể hiện trên 2 khía cạnh, tác động đến đời sống xã hội, và tác động đến môi trường văn hoá Thước đo các ảnh hưởng này dựa trên việc nghiên cứu tốc độ tăng trưởng dòng khách du lịch, yếu tố mùa vụ du lịch, tỷ lệ du khách trên số lượng cư dân địa phương, khả năng tự phục hồi về văn hoá xã hội của cộng đồng địa phương Một trong những tác động từ hoạt động du lịch đến đời sống xã hội đó là
tỷ lệ tội phạm trên số lượng khách du lịch Số lượng du khách gia tăng là một trong những nguyên nhân nảy sinh ra các loại tội phạm xã hội như móc túi, cướp giật, mại dâm, ma
Trang 25tuý,… Các biện pháp về xử phạt hành chính, trật tự an ninh xã hội được ban hành là thước
đo tính bền vững từ các tác động xã hội của hoạt động du lịch
Để phát triển du lịch bền vững dưới góc độ văn hoá, việc thực hiện quy hoạch du lịch phải đảm bảo sao cho các sản phẩm văn hoá truyền thống, các ngành nghề thủ công và nghệ thuật dân gian tiếp tục tồn tại và hưng thịnh mà không bị mai một đi
1.4.5 Quá trình th ực hiện quy hoạch
Việc xây dựng kế hoạch và thực thi các dự án quy hoạch du lịch đóng một vai trò quan trọng Tại một khu du lịch, sự tồn tại của một dự án quy hoạch được tổ chức thực hiện nghiêm túc sẽ là nền tảng quan trọng cho việc duy trì sự bền vững về mặt kiến trúc của một điểm du lịch
Bên cạnh đó, cần thiết phải có sự phối hợp đồng bộ về quan điểm và các hỗ trợ kỹ thuật tương ứng giữa Chính phủ và các ban ngành của địa phương trong việc tổ chức và giám sát thực hiện các dự án quy hoạch du lịch nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
1.4.6 S ự hài lòng của du khách và cộng đồng địa phương
Việc đánh giá mức độ thoả mãn của người dân địa phương và của du khách là cơ sở đánh giá việc thực thi nội dung của phát triển bền vững Để đảm bảo cho việc thực hiện nội dung này, ngành du lịch rất cần thiết phải tiến hành các hoạt động điều tra phỏng vấn các đối tượng du khách và cộng đồng địa phương Kết quả điều tra, nghiên cứu sẽ cho chúng ta những cơ sở, căn cứ chính xác trong việc đánh giá khả năng phát triển bền vững của hoạt động du lịch
1.4.7 M ức độ đóng góp của du lịch vào sự phát triển của kinh tế địa phương
Một dự án phát triển du lịch được hình thành sẽ là tiền đề cho việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế thông qua các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các dự án bảo tồn tôn tạo các nguồn tài nguyên, các dự án đầu tư cho giáo dục,… Việc phát triển du lịch phải đảm bảo thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các địa phương có diễn ra hoạt động du lịch
1.4.8 Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch theo hướng bền vững
Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ phục vụ du lịch theo hướng bền vững về mặt chuyên môn bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp giỏi, khả năng giao tiếp tốt, thông thạo ngoại
Trang 26ngữ, cần trang bị những kiến thức về sinh thái học, quản lý môi trường, kinh tế môi trường, luật môi trường và hệ thống kiến thức sâu rộng về xã hội Về mặt kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ ngành trở thành các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau hiểu được những mối
quan hệ sinh thái và có thể giúp đỡ mọi người đặc biệt là du khách trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên tốt hơn
1.4.9 Nâng cao tính trách nhi ệm trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch
Đối với phát triển du lịch bền vững, hoạt động tuyên truyền, quảng bá lại quan trọng Tăng cường tính trách nhiệm trong công tác tuyên truyền, quảng bá đối với cả khách du lịch
và các cộng đồng địa phương, sẽ góp phần hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực lên tâm lý của
du khách khi tham gia vào các hành trình du lịch cũng như việc tạo tâm lý thoải mái hơn cho cộng đồng địa phương mạnh dạn tham gia kinh doanh du lịch [22]
1.5 Sơ lược về phát triển du lịch bền vững trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình phát tri ển du lịch bền vững trên thế giới
1.5.1.1 Những kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững ở một số nước trên thế giới
Triển khai “Chương trình Nghị sự 21 về Du lịch: Hướng tới phát triển bền vững về môi trường”, cùng với việc công bố rộng rãi tới các Chính phủ, ngành du lịch toàn cầu, các
tổ chức phi Chính phủ, các cơ quan thông tấn báo chí, Hội đồng Lữ hành Du lịch Thế giới,
Tổ chức Du lịch Thế giới và Hội đồng Trái đất đã tiến hành hàng loạt các buổi hội thảo khu vực nhằm nâng cao nhận thức và hướng dẫn để chương trình có thể áp dụng triển khai rộng rãi trên khắp thế giới
Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã xây dựng
và ban hành những chính sách, chiến lược về phát triển du lịch bền vững để đảm bảo cho sự phát triển trong tương lai lâu dài của ngành du lịch Những cam kết của các Chính phủ các nước về bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững đã khẳng định mối quan tâm cao của các nước đến vấn đề môi trường, tài nguyên và sự sống còn của ngành du lịch
Tại Ecuado, dự án Du lịch Sinh thái bản địa ở Ryo Blanco đã có biện pháp để giảm bớt mật độ xây dựng nhà trọ tại khu vực trung tâm nhằm hạn chế tác động tiêu cực xảy ra giữa khách du lịch và người dân địa phương Các điểm đón khách ở đây xây dựng cách trung tâm cộng đồng khoảng 1 km
Trang 27Tại Senegan, dự án Du lịch Nông thôn tổng hợp Hạ Casamance lại chú ý đến vấn đề hạn chế công suất phục vụ của nhà trọ, “khống chế công suất được đón tối đa 20-40 khách/lần và chỉ được xây dựng ở các làng có dân số bằng hoặc lớn hơn 1000 người” chứ không cho phép tăng công suất các nhà trọ cũ
Các nhà trọ và các khu du lịch ở Nepal được Nhà nước “cho vay ưu đãi để xây dựng các nhà vệ sinh sạch sẽ” Các điểm thu rác được bố trí hợp lý và có chỉ dẫn cụ thể Các chủ nhà nghỉ đã được dự án hỗ trợ về tài chính như cấp vốn vay với lãi suất thấp và kỹ thuật để quản lý và xử lý các chất thải rắn này một cách thích hợp Trong dự án ACAP của Nepal, nhiều chương trình giáo dục đã được xây dựng và nhân rộng để nâng cao nhận thức cho du khách Người ta đã thông tin về “điều cần và những điều không nên làm” cho khách du lịch tới địa điểm này
Vấn đề khác liên quan đến việc quản lý khu, điểm du lịch là phải tiết kiệm nhiên liệu
và năng lượng thay thế củi đốt Nhận thức được vấn đề này, tại Nepal dự án ACAP đã đưa
ra chương trình năng lượng thay thế củi đun, trước mắt là khuyến khích việc sử dụng dầu
hỏa trong các cơ sở lưu trú để phục vụ các nhu cầu của khách du lịch Trong đó ACAP đã cung cấp một khoản vay với lãi suất thấp cho những người có nhu cầu chấp nhận cung cấp
dầu với giá thấp nhất; chuyên chở các bếp dầu cũng như hỗ trợ việc sửa chữa và bảo dưỡng
bếp
Chính phủ và các cơ quan hữu quan Thái Lan phát động phong trào phát triển du lịch sinh thái, gắn du lịch với bảo vệ môi trường, cảnh quan và các giá trị truyền thống của đất nước Chính phủ Thái Lan đã kêu gọi các khu làng mạc ở vùng nông thôn hãy giữ nguyên
vẻ đẹp nguyên sơ của mình, bảo vệ cây cối và giảm tiếng ồn Các ngôi nhà cổ cùng lối kiến trúc truyền thống được yêu cầu bảo vệ, ở các khu nghỉ mát và các địa điểm du lịch ngày càng có nhiều các khu nhà tranh, nhà gỗ được dựng lên thay vì các nhà cao tầng, khách sạn kiểu Tây Âu đắt tiền Các bãi biển được làm vệ sinh sạch sẽ, khu nghỉ có thiết kế xây dựng bảo đảm trung thực nhất với truyền thống văn hoá Thái Lan Ông Ho Kwan Ping, chủ tịch khu du lịch lớn ở Phuket đã từng nói: “Sự hấp dẫn của Thái Lan là đặc trưng văn hoá độc đáo của đất nước, chứ không phải là sự lai căng các nét văn hoá Tây Âu Chính vì vậy, phải làm cho các khu du lịch Thái Lan mang nhiều dáng dấp của nền văn hoá Thái Lan hơn, từ khách sạn cho tới các món ăn Khách du lịch tới một nước vì họ muốn có được những kinh nghiệm thực tế mang đậm màu sắc của nước đó, chứ không phải là đến để thấy lại những gì
đã có ở nước họ” Phong trào giữ gìn bản sắc văn hoá Thái được thực hiện từ cấp vĩ mô tới
Trang 28vi mô, từ cấp ngành du lịch cho đến từng khu du lịch, từng cá nhân tham gia trong hoạt
động du lịch Không chỉ như thế mà trong chiến dịch tiếp thị Amazing Thái Lan năm 1999,
TAT (cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan) còn phát hành những ấn phẩm quảng cáo riêng biệt đặc trưng cho văn hoá dân tộc Thái, ẩm thực Thái nhằm thu hút khách du lịch đến nước này và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc dân tộc
Tại Malaysia, chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân được tiến hành ở 5 làng: Desa Murni Sangang, Desa Murni Sonsang, Desa Murni Kerdau, Desa Murni Ketam, Desa Murni Perangap Chỉ 90 phút đi ô tô từ trung tâm Kuala Lumpur là du khách có thể tiếp cận được với khu làng này Mục đích chính của chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân giúp cho du khách được tiếp xúc, trao đổi và trực tiếp tham gia vào đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Malaysia bản địa và nhằm tạo điều kiện duy trì và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của người Malay cũng như góp phần nâng cao mức sống cho người dân địa phương Tại đây, du khách có thể tham gia trực tiếp vào lễ cưới cổ truyền của người bản xứ trong vai trò của người làm chứng hoặc chủ hôn, tham gia vào các chương trình dã ngoại ngoài trời như câu cá, cắm trại,… của học sinh phổ thông, tham gia vào các trò chơi cổ truyền của người bản xứ, hoặc tham gia vào chế biến các món ăn cho các thành viên trong gia đình
Nhìn chung, nhiều nước trên thế giới và các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương ít nhiều đều đã có một vài kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững dựa trên ba mục tiêu cơ bản là: Đáp ứng nhu cầu của cộng đồng địa phương trong việc nâng cao mức sống trong tương lai gần và xa Thoả mãn các nhu cầu của số lượng khách du lịch đang ngày càng tăng lên và tiếp tục hấp dẫn họ đạt được sự thoả mãn đó Bảo vệ và giữ gìn môi trường thiên nhiên, văn hoá, xã hội để đạt được hai mục tiêu trên [13]
1.5.1.2 Một số bài học về phát triển du lịch thiếu bền vững
Ở Siem Reap, Campuchia, nơi có khu đền Angkor Wat nổi tiếng thế giới, những tác động tiêu cực của một ngành du lịch phát triển quá nhanh nhưng được quản lý kém đã bộc
lộ rõ Các khách sạn mọc lên như nấm, năm 2002 tổng công suất phòng chỉ có 2.500, cuối năm 2006 đã có khoảng 8.000 phòng nhưng hiện nay đã tăng lên tới 5.000 phòng Nguồn điện không đủ để cung cấp cho nhu cầu của cư dân địa phương, hệ thống xử lý rác thải yếu kém, các dòng sông bị ô nhiễm bởi nguồn nước thải chưa xử lý Thêm vào đó là mối lo ngại rằng việc tiêu thụ một lượng nước lớn có thể làm cạn kiệt các mạch nước ngầm dẫn đến sụt
lỡ đất và kéo theo việc sụp đổ của các ngôi đền Angkor Wat Đây là những vấn đề nghiêm trọng và mặc dù một số dự án lớn đang được hình thành nhưng không có một nhóm cộng
Trang 29đồng địa phương nào đứng ra tuyên truyền vận động cho việc phát triển bền vững
Đất nước Thái Lan đã đón trên dưới 15 triệu lượt du khách quốc tế hàng năm Tuy nhiên cái giá mà ngành du lịch nước này phải trả cho 15 triệu lượt khách cùng hàng tỉ đô la
do họ mang lại là rất lớn Đầu tiên là ô nhiễm môi trường Du lịch Thái Lan luôn tự hào đã
mở cửa cho tất cả mọi người Nhưng cũng giống như bất kỳ một điểm đến nào trên thế giới,
du lịch bao giờ cũng phải trả giá bằng sự hy sinh của môi trường Điều này được thấy rõ ở các biển của Thái Lan Ở Pattaya, mỗi buổi sáng có hàng trăm du khách bắt tàu ra đảo tắm biển Trên đường ra các đảo, ở gần bờ biển, người ta neo một chiếc xà lan lớn để khách có thể chơi các trò chơi dù lượn Cộng với tour du lịch, ca-nô, chiếc xà lan đã khuấy động một vùng biển Pattaya đáng lý sẽ sạch hơn nếu không có chúng
Tương tự, biển Phuket quá tải bởi hàng ngàn du khách và rất nhiều chuyến ca-nô tốc
độ cao ra vào đã khiến những lớp san hô bị chết do ô nhiễm môi trường, tạo thành các mảng
đá sắc lẹm, dễ dàng cắt đứt da mỗi khi du khách chạm tới Vì vậy, ở các bãi biển rất cạn của Phuket, khách thường loanh quanh ở ven bờ Ngoài ra, những chuyến tàu chở khách ra khơi ngắm san hô và cá cũng được cảnh báo sẽ hủy hoại môi trường tự nhiên ở đây
Thái Lan đã trả giá một cách đầy đau đớn cho cái gọi là công nghiệp du lịch tình dục, khi đại dịch HIV/AIDS từng hoành hành ở đây những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước Rất nhiều sách, nhiều phóng sự của báo chí phương Tây nói về cuộc đời của các cô gái quán bar ở Thái và hậu quả của nó là những thế hệ con lai không được thừa nhận, bị bỏ rơi [18]
1.5.2 Phát tri ển du lịch bền vững ở Việt Nam
1.5.2.1 Tình hình phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Việt Nam là đất nước nằm ở khu vực Đông Nam Á có lãnh thổ rộng 329.560 km2, dân số đông tới hơn 80 triệu người và có một tiềm năng to lớn để phát triển du lịch Vẻ đẹp độc đáo và sự đa dạng của cảnh quan tự nhiên, giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học của một
số khu rừng nguyên thuỷ nhiệt đới còn tồn tại một số vùng, truyền thống lịch sử chống ngoại xâm hào hùng, nền văn hoá phong phú và đặc sắc, sự cởi mở và hiếu khách của người Việt Nam đã tạo nên những hấp dẫn to lớn đối với các du khách nước ngoài nhất là khách
du lịch phương Tây muốn đi du ngoạn những miền đất xa xôi ở các nước đang phát triển để được chiêm ngưỡng những vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ còn sót lại và tìm hiểu những nét độc đáo về văn hoá của người dân bản địa
Mặc dù có những tiềm năng to lớn như vậy, nhưng trong một thời gian dài trước khi tiến hành các cải cách kinh tế (trước 1986) có rất ít khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
Trang 30Năm 1981 chỉ có 4.134 du khách nước ngoài đến thăm Việt Nam Tình hình đã thay đổi một cách rõ rệt kể từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế và tiến hành các cải cách kinh tế sâu rộng theo định hướng thị trường Những cải cách kinh tế đã tạo ra cho du lịch một cơ hội mới để phát triển Khách du lịch và doanh thu du lịch tăng nhanh: khách quốc tế từ 250 ngàn lượt (năm 1990) lên 2,9 triệu lượt (năm 2004), tăng hơn 10 lần, khách nội địa từ 1 triệu lượt lên
14 triệu lượt, tăng 14 lần Thu nhập từ du lịch tăng trung bình 11,6%/năm từ 2.240 tỷ đồng năm 1991 lên 26.000 tỷ đồng năm 2004, tương đương 1,7 tỷ USD Đây là mức tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới Du lịch phát triển tác động mạnh mẽ đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phân công lao động xã hội, góp phần tăng thu nhập dân cư, thực hiện xoá đói giảm nghèo đối với nhiều địa phương trong nước Hoạt động du lịch đã thu hút được nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia Du lịch phát triển đã góp phần quảng bá về đất nước con người, sự phát triển kinh
tế xã hội của Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước
Tuy nhiên, sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, đặc biệt là sau vụ khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001, tình hình chính trị thế giới trở nên phức tạp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động du lịch trên toàn thế giới
Thêm vào đó, ảnh hưởng của dịch bệnh SARS và cúm gà bùng phát ở nhiều quốc gia, lãnh thổ trong đó có Việt Nam, thảm hoạ sóng thần ngày 26/12/2004 gây thiệt hại lớn cho nhiều nước ở Nam Á, Đông Nam Á, tình hình giá xăng dầu thế giới leo thang làm cho giá cả nhiều mặt hàng gia tăng,… ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển của ngành du lịch toàn cầu trong đó có Việt Nam
Kinh tế thế giới có xu hướng phục hồi và phát triển trong năm 2004 tạo điều kiện cho ngành du lịch toàn cầu có bước phát triển mới Các nước trong khu vực đều có chiến lược
ưu tiên phát triển du lịch, tập trung dùng du lịch làm động lực thúc đẩy kinh tế, có cơ chế chính sách hấp dẫn và rất linh hoạt để tạo điều kiện cho phát triển du lịch, phát huy lợi thế trong cạnh tranh quốc tế đặt du lịch nước ta vào thế cạnh tranh gay gắt [15], [17]
Ngày nay ngành du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân, mang lại thu nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà gián tiếp đối với các ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập cho các cộng đồng dân cư địa phương Tốc độ tăng trưởng nhanh về thu nhập: năm 1990 thu nhập du lịch nước ta mới đạt 1.350 tỷ
Trang 31đồng thì đến năm 2009, con số đó ước đạt 70.000 tỷ đồng, gấp trên 50 lần.Lượng khách du lịch quốc tế cũng tăng 17 lần từ 250.000 lượt (năm 1990) lên xấp xỉ 4,253 triệu lượt (năm 2008) Khách du lịch nội địa ước tăng 20 lần, từ 1 triệu lượt năm 1990 lên khoảng 20,5 triệu lượt năm 2008 Số lượng người Việt Nam đi du lịch nước ngoài ngày càng tăng, bình quân
giai đoạn 2000 - 2008, trên 30.000 người/năm Năm 2012 lượng khách quốc tế đến Việt Nam là 6.847.678 lượt, tăng 13,86% so với năm 2011
1.5.2.2 Những dấu hiệu phát triển thiếu bền vững
Trong giai đoạn 1986 – 1995 nhờ có cải cách kinh tế du lịch Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, từ sau 1996 đã xuất hiện những dấu hiệu của sự phát triển không bền vững So với năm 1996 số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong năm 1997 đã giảm sút
Do tác động xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á sự tăng trưởng của du lịch Việt Nam trong năm 1998 đã giảm đi 8 – 10 % so với năm trước Điều đáng chú ý là 63% khách
du lịch quốc tế đã rời Việt Nam sớm hơn so với kế hoạch và phần lớn trong số họ (80%) đã nói rằng họ không muốn quay trở lại thăm Việt Nam một lần nữa Nhiều khách sạn và nhà khách ở các trung tâm du lịch lớn đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn do thiếu vắng khách du lịch quốc tế Tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 1997 đã tràn ngập hiện tượng “thừa phòng, thiếu khách” và tỉ lệ phòng cho thuê trong tổng số phòng hiện
có của các khách sạn giảm mạnh, từ khoảng 80% trong khoảng thời gian 1992 – 1994 xuống còn 64% năm 1996 và thậm chí chỉ còn 55% trong đầu năm 1999 Từ 1997 đã xuất hiện một tình hình đáng buồn là đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong lĩnh vực du lịch sau giai đoạn tăng rất mạnh (1986 - 1996) đã giảm đáng kể
Các dòng du lịch tập trung quá mức vào các trung tâm lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, vịnh Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, trong khi đó du lịch ở nhiều vùng xa vùng sâu, nơi có tiềm năng to lớn về du lịch, đặc biệt du lịch sinh thái thì chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chêch lệch giữa các vùng và các khu vực trong việc phát triển du lịch ngày càng trở nên sâu sắc Việc xây dựng một cách bừa bãi và không có
kế hoạch, sự gia tăng rác và các loại phế thải, sự phá huỷ san hô làm vật liệu xây dựng đã làm giảm sút chất lượng môi trường du lịch Nhiều chuyên gia nghiên cứu về môi trường đã cho rằng các trung tâm du lịch biển của Việt Nam, nơi tập trung tới 80% các hoạt động du lịch và nghỉ ngơi của Việt Nam, hiện đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm dầu, kim loại nặng cũng như chất thải hữu cơ chủ yếu do các hoạt động công nghiệp, vận tải biển và khai thác dầu gây ra Sự ô nhiễm nước biển đã tác động xấu cho các hệ sinh thái có giá trị cao như hệ
Trang 32sinh thái rừng ngập mặn ở các vùng sình lầy ven biển và hệ sinh thái san hô Nhiều người kinh doanh trong lĩnh vực du lịch vì quá tập trung vào các lợi ích kinh tế trước mắt đã khai thác không hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch của địa phương Tại một số nơi du lịch, văn hoá độc đáo của người dân địa phương ít nhiều đã bị tổn hại, khi vùng xa xôi này đột ngột
mở cửa cho khách du lịch nước ngoài tới thăm mà không có sự chuẩn bị đầy đủ đến mức cần thiết Có thể xem việc suy giảm tính thuần chất vốn có của chợ Tình ở Sa Pa do phải phục vụ cho các nhu cầu của khách nước ngoài là một bằng chứng rõ rệt về điều này
Theo nhận định của các chuyên gia, du lịch Việt Nam chưa phát triển đủ sức và rộng như Thái Lan để có thể thấy ra rằng những tác động về mặt xã hội bị xáo trộn Dịch vụ mua sắm cũng chưa đủ thu hút để tạo ra "thảm họa môi trường" túi ni-long,… Tuy nhiên, các vấn
đề về môi trường và cảnh quan đã có thể là hồi chuông cảnh báo Bây giờ khó tìm được ở Việt Nam một bờ biển hoang sơ, khi các bãi biển đẹp đã bị những nhà hàng, khách sạn băm nát Không chỉ cảnh quan bị phá vỡ mà những bất cập trong quản lý cũng khiến mơi trường
ở những khu vực này bị ô nhiễm Trước đây, rừng dừa ven biển Mũi Né rất đẹp, đó là rừng dừa đẹp nhất Việt Nam, thì nay đã bị phá gần như hoàn toàn để lấy đất cho khách sạn Trong khi đáng lý nó phải được bảo tồn để phục vụ du lịch Một trong những tiêu chí cho biết đâu là một bãi biển đẹp chính là tầm nhìn Nhưng khắp các bãi biển ở nước ta, tầm nhìn đều bị che khuất bởi xây dựng Chẳng hạn như Mũi Né, Vũng Tàu, các bãi biển ở Quảng Nam,… Du khách nước ngoài đã nhiều lần lên tiếng về vấn đề ô nhiễm môi trường ở vịnh
Hạ Long khi nơi đây tận thu khai thác du lịch Váng dầu từ du thuyền, nhất là rác thải, chai
lọ, túi ni-long trong vịnh,… đến nay vẫn chưa được xử lý bài bản để hạn chế Sông Dương Đông ở Phú Quốc cũng rất nhiều rác Ở vịnh Nha Trang, dịch vụ đi tàu ra đảo ngắm san hô
ít nhiều cũng ảnh hưởng đến môi trường Các bản người dân tộc ở Sapa đang bị bê tông hóa
để tiện phục vụ du khách, mất đi bản sắc vốn đã tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách quốc
tế Tình trạng này cũng giống ở Hội An, khi ngày càng nhiều người dân ở địa phương khác đến đây mua nhà để làm du lịch Do đó góp phần đánh mất bản sắc của cư dân bản địa Nhưng du lịch làm cho xấu đi nhanh nhất có lẽ là ở Đà Lạt Rất nhiều thắng cảnh ở đây đến nay không còn do chịu sự tác động của con người,… Nhiều người nghĩ làm du lịch ở ta dễ quá, nên làm một cách manh mún, chủ yếu "ăn" vào thiên nhiên, nên không có tính bền vững
Đi cùng với phát triển du lịch là những trả giá về cảnh quan môi trường, xã hội, nhưng vấn đề chúng ta phải biết cách hạn chế những trả giá đó Theo các doanh nghiệp lữ
Trang 33hành, để tránh phải trả giá nặng nề, họ cần có chính sách để thực thi cho phù hợp Chẳng hạn, vấn đề sử dụng bao ni-long ra sao; tuân thủ quy định môi trường du lịch biển như thế nào,… Bên cạnh đó, ngành du lịch cũng cần phải rà sót lại tất cả những quy hoạch hiện nay
để có điều chỉnh hợp lý [15]
Phát triển bền vững là một xu thế tất yếu trong mọi lĩnh vực Du lịch bền vững là một
bộ phận của phát triển bền vững Trên thực tế cho thấy chúng ta không chỉ nghĩ, làm, phục
vụ cho đời sống hiện tại để được thỏa mãn tất cả các nhu cầu, hưởng được những lợi ích to lớn nhất mà quên đi tương lai con cháu chúng ta có còn tài nguyên để khai thác, có được thụ hưởng những gì tốt đẹp hay phải gánh lấy những hậu quả mà chúng ta đã để lại Chính vì vậy, phát triển bền vững trở thành một thông điệp vô cùng quý giá kêu gọi mỗi chúng ta dù đang hoạt động ở bất kỳ vị trí nào, ngành nào cũng cần quan tâm đến lợi ích cho cả hiện tại
và tương lai Riêng phát triển du lịch bền vững tuy còn khá mới mẻ nhưng nó có một giá trị khoa học và thực tiễn rất lớn vì con người ngày nay rất quan tâm đến nhu cầu hưởng thụ, khám phá cảnh quan thế giới, ngoài mục đích du lịch để vui chơi, xả Stress còn vì lợi ích sức khỏe hay công việc thông qua nhiều loại hình du lịch Vì vậy phát triển du lịch bền vững là một chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển ngành công nghiệp không khói này ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trước xu thế chung ấy cùng với những bất cập mà ngành du lịch Cà Mau trong những năm qua đã mắc phải thì việc phát triển bền vững ngành du lịch là một mục tiêu mà tỉnh cần hướng đến
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH CÀ
MAU
Trước năm 1975, tỉnh Ca Mau có tên gọi là tỉnh An Xuyên Sau ngày thống nhất đất nước, tỉnh Cà Mau (An Xuyên) và Bạc Liêu được hợp nhất thành tỉnh Minh Hải Kỳ họp
thứ 10 Quốc hội khoá 9 (ngày 6/11/1996) đã phê chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải thành hai
tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu và việc tách tỉnh được thực hiện từ ngày 01/01/1997
2.1.1 V ị trí địa lý và lãnh thổ
Cà Mau là tỉnh cực nam của Tổ quốc, được tái lập vào ngày 01/01/1997, tách ra từ
tỉnh Minh Hải Tỉnh Cà Mau có tọa độ địa lý như sau: Điểm cực Nam có tọa độ khoảng
8030’ vĩ Bắc, thuộc xã Đất Mũi huyện Ngọc Hiển Điểm cực Bắc có tọa độ khoảng 90 10’ vĩ
Bắc thuộc xã Tân Bằng huyện Thới Bình Điểm cực Tây có tọa độ khoảng 1040 43’ kinh
Đông thuộc xã Đất Mũi huyện Ngọc Hiển Điểm cực Đông có tọa độ khoảng 1050 25’ kinh Đông thuộc xã Tân Thuận huyện Đầm Dơi
Tỉnh Cà Mau có ba mặt giáp biển: phía Đông giáp biển Đông, phía Nam và phía Tây giáp vịnh Thái Lan Phía Bắc của Cà Mau giáp hai tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang Cách thành phố Hồ Chí Minh 370 km
Nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, điểm cuối của quốc lộ 1A và hệ thống giao thông thủy phát triển mạnh, Cà Mau có điều kiện thuận lợi trong giao lưu, hợp tác kinh tế
với các vùng trong cả nước và các nước trong khu vực Tỉnh Cà Mau cũng nằm trong hành
rộng”(GMS), với trục giao thông xương sống từ Hà Tiên (Cửa khẩu Xà Xía) – Quốc lộ 63 –
Cà Mau – Năm Căn – Đất Mũi trong đó khu vực Mũi Cà Mau là điểm đến của tuyến giao thông này Từ đó mở ra cho Cà Mau những khả năng phát triển kinh tế nói chung và phát triển ngành du lịch nói chung Đặc biệt tạo khả năng kết nối với các khu vực lân cận trong phát triển ngành du lịch là rất lớn
Lãnh thổ Cà Mau có dạng hình chữ “V” đặc trưng, gồm hai bộ phận: phần đất liền và vùng biển chủ quyền rộng lớn Trên đất liền, Cà Mau có tổng diện tích tự nhiên khoảng 5.329km2 (2005), bằng 13,1% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm 1,58% diện tích
cả nước Tổng chiều dài đường bờ biển lên đến 254km, trong đó đoạn giáp Biển Đông dài
Trang 35106km, còn lại 148km giáp Vịnh Thái Lan Trong vùng biển Cà Mau cũng có khá nhiều đảo như Hòn Đá Bạc (Trần Văn Thời), Hòn Chuối, Hòn Bươn (Phú Tân) thuộc biển Tây; Hòn Khoai (Ngọc Hiển) thuộc Biển Đông Riêng cụm đảo Hòn Khoai có diện tích lớn nhất (khoảng 5km2), cách đất liền khoảng 18km Cụm đảo này gồm 4 đảo nhỏ là đảo Đồi Mồi,
Hòn Sao, Hòn Gò và đảo lớn nhất là Hòn Khoai
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên
+ Địa hình: Do nằm trong một bộ phận của địa hình ĐBSCL nên địa hình của tỉnh
Cà Mau nhìn chung mang những nét cơ bản của địa hình toàn miền như thấp (trung bình từ 0,5-1m so với mực nước biển), bằng phẳng, độ dốc không đáng kể (khoảng 1cm/km) và nhiều sông ngòi, kênh rạch (khoảng 1-2km/km2) Diện tích tự nhiên của tỉnh hay bị ngập nước vào mùa mưa
+ Khí H ậu: Đặc trưng cơ bản của khí hậu Cà Mau là nền nhiệt cao và ổn định, hầu
như không có sự phân hóa nhiệt độ theo mùa Trong khi đó, chế độ mưa lại có sự phân hóa theo mùa rõ rệt tương ứng với hai mùa đối lập nhau: mùa mưa chiếm đến 90% tổng lượng mưa cả năm còn mùa khô lại hay xảy ra tình trạng khô hạn và thiếu nước Khí hậu Cà Mau còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa châu Á và đây chính là yếu tố quyết định đến tính chất mưa mùa của tỉnh Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh vào khoảng 26,50C, ở mức trung bình so với toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long Biên độ dao động nhiệt năm khoảng hơn 20
C
+ Thủy, hải văn: Với hơn 250 km đường bờ biển và có vị trí địa lý đặc biệt, Cà Mau
là tỉnh duy nhất trong cả nước ta chịu ảnh hưởng chi phối của hai chế độ triều khác nhau: bán nhật triều ở biển Đông và nhật triều không đều ở biển Tây Biên độ triều ở biển Đông tương đối lớn: 3,0m đến 3,5m vào các ngày triều cường và 1,8 đến 2,2m vào ngày triều kém
Hệ thống sông ngòi của Cà Mau khá dầy đặc Bên cạnh một số con sông khá lớn như Tam Giang, Bảy Háp, Gành Hào, Sông Đốc, Trẹm… Cà Mau còn có chung đặc điểm của vùng đồng bằng sông Cửu Long là có mạng lưới kênh rạch chằng chịt rất thuận lợi cho phát triển giao thông thủy Trên địa bàn toàn tỉnh Cà Mau có 11 con sông lớn với tổng chiều dài 416km Lớn nhất trong số đó là con sông Tam Giang (Cái Lớn) dài 58km, sâu 20m và nhỏ nhất là sông Bạch Ngưu dài 30km…
Chế độ thủy văn của hệ thống sông ngòi, kênh rạch ở đây chịu ảnh hưởng trực tiếp
Trang 36của triều quanh năm do địa hình thấp và có nhiều cửa sông thông ra biển Cửa Bồ Đề (sông Tam Giang), cửa Bảy Háp (sông Bảy Háp), cửa Ông Đốc (sông Đốc) là những cửa sông rộng nhất ở đây (500m), cửa sông Gành Hào rộng 300m… Phần lớn các sông nội hạt Cà Mau đều chảy ra biển theo chế độ nhật triều và bán nhật triều Phía ngoài cửa sông ảnh hưởng của thủy triều mạnh, ảnh hưởng này giảm dần khi vào sâu trong nội địa
Nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Cà Mau khá phong phú với 7 tầng chứa nước Trong đó, năm tầng từ tầng 2 đến tầng 6 là các tầng chứa nước mềm không bị nhiễm mặn Tổng lượng nước ngầm khai thác khoảng hơn 17 vạn m3/ ngày đêm bằng khoảng 1/30 trữ lượng tiềm năng
+ Biển đảo: Chiều dài đường bờ biển Cà Mau chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước,
trong đó có 107 km bờ biển Đông và 147 km bờ biển Tây Vùng biển của tỉnh rộng trên 71.000 km2, tiếp giáp với vùng biển các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, là trung tâm
của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á Vùng biển Cà Mau có các đảo Hòn Đá Bạc (huyện
Trần Văn Thời), Hòn Chuối, Hòn Buông (huyện Cái Nước), thuộc biển Tây; Hòn Khoai (huyện Ngọc Hiển) thuộc biển Đông Hòn Khoai là một cụm đảo gồm 4 đảo: Đồi Mồi, Hòn Sao, Hòn Gò và lớn nhất là đảo Hòn Khoai Cụm đảo cách đất liền khoảng 18 km, với diện tích xấp xỉ 5 km2 Các đảo này có vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối để khai thác kinh
tế biển và là điểm tựa tiền tiêu để bảo vệ Tổ quốc Đồng thời đây đều là những địa điểm du lịch lý tưởng cho du khách khi đến với dải đất cuối cùng của Tổ quốc
Ngoài tài nguyên đảo, quần thể du lịch sinh thái mũi Cà Mau - bãi Khai Long - cửa biển ông Trang cũng là những địa điểm thu hút đông đảo khách du lịch Nằm về phía đông nam mũi Cà Mau, bãi biển Khai Long có bờ cát mịn dài trải khoảng 16 km, chiều rộng cách
bờ từ 1 - 2 km Bãi bồi Cà Mau được bồi đắp nên bởi triều biển Đông và biển Tây, đang tiến nhanh ra biển hằng năm Cùng với quá trình bồi tụ, các khu rừng ngập mặn hình thành một cách tự nhiên, với nguồn lợi thủy hải sản vô cùng phong phú Khu bảo tồn thiên nhiên Ông Trang nằm trong khu Ramsar của thế giới rất thích hợp cho hoạt động nghiên cứu khoa học
và tìm hiểu về hệ sinh thái đất ngập nước ven biển điển hình
+ Sinh vật: Với diện tích 71.000 km2 vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và
quyền tài phán của Việt Nam do tỉnh quản lý cùng hơn 100.000 ha rừng nơi có đa dạng sinh học cao
Rừng Cà Mau chủ yếu là loại rừng ngập mặn ven biển có ý nghĩa quan trọng đặc biệt
ở nước ta hiện nay Diện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau chiếm 77% tổng diện tích rừng ngập
Trang 37mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh rừng ngập mặn, Cà Mau còn có một diện tích lớn (khoảng 35ha) rừng tràm phát triển trên đất phèn thuộc địa phận các huyện U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội
Tỉnh Cà Mau có 9 đơn vị hành chính Trong đó, thành phố Cà Mau là thành phố loại
3, trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá của cả tỉnh Từ khi thực hiện chính sách mở cửa
nền kinh tế, với những lợi thế của địa phương, Cà Mau đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
ổn định, đặc biệt với sự hình thành của cụm khí - điện - đạm Giai đoạn 1996-2005 tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 9,57%, trong đó giai đoạn 2001-2007 đạt trên 12,45%/năm GDP 2008 tăng trên 13% so với năm 2007 Tốc độ tăng GDP năm 2009 là 11,52%, giá trị GDP đạt 19.150 tỷ đồng GDP đầu người đạt trên 1.000 USD/ năm, đến năm
2011 đạt 1.120 USD/người/năm Cơ cấu kinh tế có những chuyển biến mạnh mẽ với tỷ
trọng của khối công nghiệp - xây dựng và dịch vụ ngày càng cao Tốc độ phát triển kinh tế
của Cà Mau liên tục cao so với mức trung bình của cả nước và là một điểm sáng điển hình
của phát triển kinh tế xã hội vùng
Nhiều dự án đầu tư xây dựng đang được thi công như: các tuyến đường ôtô về trung tâm xã, xây dựng bệnh viện, trường học, thủy lợi, hạ tầng đô thị,… Xây dựng cầu theo đề án xây dựng 1.588 cầu giao thông nông thôn đến nay đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 604 cây cầu Một số dự án Trung ương đầu tư trên địa bàn đã hoàn thành đưa vào sử dụng hoặc được đẩy nhanh tiến độ như: Cầu trên tuyến quốc lộ 1A đoạn Đầm Cùng- Năm Căn, cầu Gành Hào 2, nhà máy đạm Cà Mau, đặc biệt là tuyến đường Quản Lộ - Phụng Hiệp nhằm rút ngắn hành trình Cà Mau - Cần Thơ
Theo số liệu của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thông báo kết
quả sơ bộ tỉnh Cà Mau có 1.205.108 người Đến đầu năm 2011, quy mô dân số Cà Mau ở ngưỡng gần 1.214.900 người Mật độ dân số của Cà Mau là 229 người/km2, đứng thứ 8/13
tỉnh trong khu vực ĐBSCL Sau 10 năm, dân số của tỉnh tăng khoảng 86.278 người Dân số
sống ở thành thị là 247.087 người, chiếm 20,50% Tỷ lệ nữ là 49,63% với 598.058 người, trong đó nữ thành thị chiếm 51,04% tổng số dân thành thị, nữ nông thôn chiếm 49,26% tổng
số dân nông thôn
Hoạt động lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường được quan tâm nên có chuyển biến tích cực Nhiều chương trình xã hội hóa giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể
Trang 38thao đang được đẩy mạnh, thu hút các thành phần kinh tế và nhân dân tham gia Tỉnh Cà Mau tổ chức “Tuần lễ văn hóa - du lịch đất Mũi”, tổ chức Hội thảo “Bảo tồn các giá trị dự
trữ sinh quyển và hỗ trợ cư dân vùng ven biển Mũi Cà Mau trước biến đổi khí hậu”, công bố Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau,… Trong tương lai Cà Mau sẽ hứa hẹn mang đến nhiều thay đổi về mặt kinh tế - văn hóa - xã hội để tương xứng với tiềm năng vốn có
của tỉnh
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch tỉnh Cà Mau
2.2.1 Tài nguyên du l ịch
2.2.1.1.Tài nguyên du l ịch tự nhiên
Các điều kiện tự nhiên ở đây kết hợp với nhau tạo cho Cà Mau nguồn tài nguyên du
lịch tự nhiên phong phú Tuy nhiên, để các tài nguyên này được khai thác hết tiềm năng vốn
có của nó thì đòi hỏi các cấp chính quyền phải có những biện pháp tích cực hơn từ đầu tư khai thác có hiệu quả các điểm, tuyến du lịch đến đầu tư về đội ngũ nhân viên ngành du
lịch Đồng thời tỉnh phải có kế hoạch phải dự báo, khắc phục được phần nào những ảnh hưởng xấu của điều kiện tự nhiên tới hoạt động du lịch
Địa hình: Nếu trong quá khứ, địa hình Cà Mau cũng như địa hình toàn miền BSCL
đều chịu tác động của hai nhóm yếu tố là sông và biển thì bộ mặt địa hình ngày nay của Cà Mau phần lớn chỉ chịu tác động của nhóm yếu tố biển Điều này khác hẳn với nhiều địa phương khác như Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, bởi hầu hết
những nơi này, địa hình hiện tại chủ yếu chịu tác động của nhóm các yếu tố sông với quá trình bồi đắp là chính trong khi ở Cà Mau, vị trí cách xa sông Tiền và sông Hậu nên tác động bồi lắng phù sa cũng như ảnh hưởng của nhóm các yếu tố sông không đáng kể mà thay vào đó, tác động của nhóm các yếu tố biển lại thể hiện rõ rệt hơn Địa hình chủ yếu là đồng
bằng giáp biển, có nhiều sông rạch chằng chịt, tạo ra nhiều nhóm đất như: Phèn, mặn, phèn nhiễm mặn, than bùn, bãi bồi Mỗi nhóm đất lại thích hợp với mỗi loại cây trồng khác nhau, tạo nên những hệ sinh thái đa dạng phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch Hàng năm, vùng đất Mũi Cà Mau phù sa lấn ra biển trên 50 m, tạo nên những cánh rừng xanh bạt ngàn
vô tận VQG Mũi Cà Mau là khu Ramsar thứ năm của Việt Nam được Tổ chức Môi trường thế giới công nhận là khu Ramsar mới thứ 2.088 của thế giới Trước đó là Khu Ramsar VQG Xuân Thủy (Nam Định), Bàu Sấu thuộc VQG Cát Tiên (Đồng Nai), Hồ Ba Bể ở tỉnh Bắc Kạn và VQG Tràm Chim (Đồng Tháp) Đây là vùng đất ngập mặn ven biển, tuy không
Trang 39đa dạng về chủng loài nhưng có những đặc thù riêng về hệ động, thực vật Vườn có 93 loài chim, 26 loài thú, 43 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư, 233 loài thủy sản Trong đó có nhiều loài quý hiếm như bồ nông chân xám, cò trắng Trung Quốc, giang sen, rái cá, rùa hộp lưng đen, cầy giông đốm lớn, rùa răng, rùa ba gờ, rùa cổ bự, ba ba Nam Bộ…Chính những lợi thế trên
đã tạo cho ngành du lịch Cà Mau có thêm những tiềm năng du lịch hấp dẫn du khách bốn phương
Toàn tỉnh có 254 km đường bờ biển, chiếm 7,8% chiều dài đường bờ biển của cả nước Trong đó có 107 km bờ biển Đông và 147 km bờ biển Tây (vịnh Thái Lan) Vùng biển Cà Mau có một số cụm đảo gần bờ như cụm đảo Hòn Khoai, cụm đảo Hòn Chuối và đảo Đá Bạc,… có vị trí chiến lược quan trọng Các đảo này không những có vai trò cầu nối
để khai thác kinh tế biển mà còn là tiềm năng vô giá trong khai thác và phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái cho Cà Mau
Khí hậu: Cà Mau có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt trung bình
năm cao Cà Mau có khí hậu phân thành hai mùa mưa, khô rõ rệt Hàng năm, mùa mưa kéo dài khoảng 7 tháng từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài 5 tháng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Tổng lượng mưa năm ở đây đạt xấp xỉ 2.400 mm và tập trung chủ yếu vào thời gian mùa mưa (chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm) Qua đó có thể thấy Cà Mau có
một nền khí hậu ổn định rất thuận lợi trong quá trình khai thác du lịch vì có mùa khô dài,
trời quang đãng tạo sự thuận lợi cho giao thông đường bộ, hàng không, kích thích nhu cầu
đi tham quan, nghĩ dưỡng cho du khách Tuy nhiên, sự phân hóa mùa đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động du lịch, đặc biệt các khu du lịch vào mùa mưa
H ệ thống thủy văn: Cà Mau tiếp giáp hai biển: Biển Đông và biển Tây (Vịnh Thái
Lan) Điều này làm cho tỉnh có nét đặc biệt so với các địa phương khác: mỗi ngày có thể
ngắm Mặt trời hai lần “mọc” và “lặn” trên biển Nét đặc trưng nhất của vùng biển Cà Mau
là khá nông, bãi biển thoải, độ mặn trung bình khoảng 34o
/oo và rất giàu tài nguyên sinh vật Mặt phía tây giáp Vịnh Thái Lan với đường bờ biển ít bị chia cắt, dài khoảng 145
km, chạy gần như thẳng theo hướng bắc – nam và có nhiều cửa sông lớn đổ ra như: cửa Hội (U Minh), cửa Ông Đốc (Trần Văn Thời), Mỹ Bình (Phú Tân), Bảy Háp (Năm Căn), Ông Trang (Ngọc Hiển),… Riêng đoạn từ cửa Bảy Háp đến Đất Mũi, bờ biển khá khúc khuỷu, bị chia cắt mạnh do cửa sông mở rộng tạo ra những vịnh ven bờ Đây cũng là đoạn bờ biển đang được bồi tụ rất nhanh Du khách có thể thả hồn theo những cơn sóng biển khi tham gia tour du lịch đi bằng canô chạy dọc bờ biển
Trang 40Mặt đông nam và nam tiếp giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 106km Ven biển
có nhiều sông rạch đổ ra tạo thành nhiều cửa sông rộng và sâu như cửa Gành Hào (Đầm Dơi), cửa Hố Gùi (Năm Căn), cửa Bồ Đề (Ngọc Hiển),… Nhìn chung, cả hai biển của Cà Mau đều có chế độ triều không đều, nhưng so với Biển Đông thì biển Tây có biên độ triều nhỏ hơn, trung bình chỉ khoảng 1m Tuy nhiên, cả hai vùng biển này đều có những ngư trường với trữ lượng hải sản rất phong phú, nhất là ngư trường bãi bồi Mũi Cà Mau là một trong những ngư trường tôm lớn nhất của cả nước góp phần làm đa dạng thêm cho sản phẩm du lịch Cà Mau có hệ thống sông ngòi khá dày đặc tạo sự thuận lợi cho ngành du lịch phát triển loại hình du lịch sông nước, kết hợp chèo thuyền với thưởng ngoạn cảnh đẹp hoang sơ
Hệ động thực vật: Rừng ngập mặn và rừng tràm ở Cà Mau có năng suất sinh học cao
nhất trong tất cả các loài rừng tự nhiên, không chỉ có giá trị cao về kinh tế, phòng hộ, bảo vệ môi trường mà còn là tiềm năng vô giá đặc trưng để phát triển DLST cho vùng đất Cà Mau
Rừng Cà Mau là loại rừng ngập nước gồm rừng ngập mặn được phân bố ven biển và tập trung nhiều ở huyện Ngọc Hiển; rừng ngập lợ chủ yếu nằm sâu trong nội địa thuộc các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình Hệ sinh thái rừng Cà Mau có nhiều loài động thực vật quý hiếm, năng suất sinh học cao, có tầm quan trọng bảo tồn thiên nhiên, có giá trị nghiên cứu khoa học và có ý nghĩa cân bằng môi trường sinh thái cho sự phát triển bền vững của cả khu vực
Hệ sinh thái rừng ngập mặn hiện nay có diện tích 62.000 ha, chiếm 2/3 rừng ngập mặn của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có vai trò phát triển nuôi trồng thủy sản và cân bằng sinh thái ven biển, bảo tồn tính đa dạng sinh học vùng rừng ngập mặn ven biển Ở rừng ngập mặn có 64 loài thực vật, thành phần ưu thế là cây đước, vẹt, mắm, dá; về động vật hiện có 12 loài thú, 12 loài bò sát, 8 loài ếch nhái, 67 loài chim, 25 loài tôm, 258 loài cá nước mặn Hiện có nhiều loài chim tập trung ở nhiều sân chim lớn như sân chim Đầm Dơi, sân chim Cái Nước, sân chim tại thành phố Cà Mau
Hệ sinh thái rừng tràm diện tích 34.600 ha, có vai trò quan trọng là vùng đệm để ổn định đất, thủy văn, nuôi tôm cá nước ngọt, ong, trăn, nai, heo rừng, và có tác dụng điều hòa khí hậu, bảo tồn tính đa dạng sinh học vùng rừng ngập nội địa Rừng ngập lợ cây tràm chiếm ưu thế tuyệt đối, dưới tán rừng có nhiều loài dây leo và cây nhỏ khác Các loài động vật như nai, heo rừng, khỉ, chồn, Các loài bò sát như trăn, rắn, rùa, trúc (tê tê), Có 60 loài cá nước ngọt và cá nước lợ Đặc biệt, ong mật rừng tràm nhiều và hàng năm cho khai