Nguồn tài liệu được sử dụng trong đề tài bao gồm các tài liệu chuyên khảo, các văn bản liên quan về du lịch, các số liệu thống kê của các cơ quan ban ngành, một số luận văn, khóa luận, đ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LU ẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong
lu ận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong b ất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
LÊ XUÂN QUY ẾN
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong th ời gian học tập và hoàn thành luận văn này, Tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình và những lời động viên của gia đình, quý thầy cô và các bạn Với lòng kính tr ọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám Hi ệu, Phòng đào tạo sau đại học, khoa Địa Lí của Trường Đại Học Sư
Ph ạm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình
h ọc tập và hoàn thành luận văn
Ti ến sĩ Trần Văn Thông, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên
và t ạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Toàn b ộ thầy, Cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, nền tảng vững chắc
để thực hiện luận văn này Các anh, chị ở sở Văn hóa, Thể thao du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã cung cấp cho Tôi những tư liệu quý giá để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành c ảm ơn các thầy, cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Xuân Quyến
Trang 5DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- MICE : Loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự
kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác
- VHTTDL : Văn hóa thể thao du lịch
- VKTTĐPN : Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 6M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
Tác gi ả luận văn 1
L ỜI CẢM ƠN 2
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
M ỤC LỤC 4
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lí do ch ọn đề tài 6
2 M ục tiêu nghiên cứu 7
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu 7
4 Ph ạm vi nghiên cứu 7
5 L ịch sử nghiên cứu đề tài 7
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 8
7 C ấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 11
1.1 Các lí lu ận cơ bản về du lịch 11
1.1.1 Định nghĩa về du lịch 11
1.1.2 Định nghĩa một số hình thức du lịch đặc thù 12
1.1.3 Tài nguyên du lịch 12
1.1.4 Các loại hình du lịch 13
1.1.5 Sản phẩm du lịch 15
1.1.6 Chức năng của du lịch 16
1.1.7 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 17
1.1.8 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật 26
1.2 T ổ chức lãnh thổ du lịch 29
1.2.1 Điểm du lịch 29
1.2.2 Khu du lịch 30
1.2.3 Cụm du lịch 30
1.2.4 Trung tâm du lịch 30
1.2.5.Tuyến du lịch 31
1.3 Khái quát v ề thực tiễn phát triển du lịch 31
1.3.1 Ở Việt Nam 31
1.3.2 Ở Đông Nam bộ 34
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA – VŨNG
TÀU GIAI ĐOẠN 2002 – 2012 36
2.1 V ị trí địa lý 36
2.2 Các ngu ồn lực phát triển du lịch 36
2.2.1 Tài nguyên du lịch 36
2.2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 45
2.2.3 Lao động du lịch (số lượng và chất lượng) 50
2.2.4 Khả năng đầu tư phát triển du lịch 52
2.3 Th ực trạng phát triển du lịch tỉnh BR - VT giai đoạn 2002 – 2012 54
2.3.1 Phát triển du lịch theo ngành 54
2.3.2 Phát triển du lịch theo lãnh thổ 61
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÀ RỊA – VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2020 68
3.1 Định hướng phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020 68
3.1.1 Cơ sở để xây dựng định hướng 68
3.1.2 Các chỉ tiêu dự báo 70
3.1.3 Các định hướng phát triển du lịch chủ yếu 73
3.2 Các gi ải pháp thực hiện 79
3.2.1 Giải pháp về vốn - đầu tư cho phát triển du lịch 79
3.2.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch 79
3.2.3 Giải pháp sản phẩm du lịch 80
3.2.4 Giải pháp xúc tiến quảng bá, mở rộng thị trường du lịch 82
3.2.5 Hoàn thiện cơ chế chính sách du lịch cho phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch83 3.2.6 Giải pháp quy hoạch 83
3.2.7 Giải pháp liên kết với các tỉnh và cả nước 84
3.2.8 Giải pháp phát triển du lịch bền vững 84
3.3 Ki ến nghị 85
3.3.1 Kiến nghị đối với Trung ương 85
3.3.2 Kiến nghị đối với địa phương 85
K ẾT LUẬN 87
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 8PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Thế giới ngày nay có nhiều biến đổi với những bước nhảy vọt về khoa học công nghệ; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh hơn ở các nước đang phát triển; xu thế hợp tác toàn cầu là tất yếu; nền kinh tế thế giới tiếp tục phát triển; đời sống của người dân không ngừng được nâng cao Trong bối cảnh đó, nhu cầu đi du lịch của người dân là nhu cầu khách quan và tăng trưởng nhanh
Du lịch trên phạm vi toàn cầu đã phát triển nhanh và trở thành một trong năm ngành kinh tế hàng đầu thế giới Theo số liệu của Tổ chức Du lịch Thế giới, năm 2012 trên thế giới
có trên 1 tỷ người đi du lịch, ngành du lịch chiếm 9% đối với GDP toàn cầu, thu hút 8,3% tổng số lao động của thế giới Do lợi ích nhiều mặt mà du lịch mang lại nên nhiều nước đã tận dụng tiềm năng và lợi thế của mình để phát triển du lịch, tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất trong nước, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch Việt Nam đã vươn lên, tham gia chủ động trong hội nhập du lịch quốc tế; thiết
lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch nhiều mặt với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và thế giới Du lịch nước ta là thành viên của tổ chức Du lịch thế giới, còn hiệp hội
Du lịch Châu Á - Thái Bình Dương (PATA), của Hiệp hội Du lịch Đông Nam Á (ASEANTA)
Du lịch đươc xem như là ngành “công nghiệp không khói” sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động du lịch mang lại những bước tăng trưởng quan trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo việc làm cho xã hội, góp phần đảm bảo an sinh
xã hội BR – VT là địa phương có ngành du lịch được khai thác sớm ở nước ta Tỉnh có nhiều thế mạnh để phát triển du lịch, nhiều tiềm năng để phát triển du lịch như: biển, rừng, núi, suối nước nóng, đặc biệt là biển với các bãi cát dài thoai thoải, nước trong xanh quanh năm
BR – VT có cảnh quan thiên nhiên độc đáo và khí hậu trong lành, tương lai vẫn là nơi
lý tưởng để mọi người tìm đến để đắm mình trước biển Bên cạnh đó, Tỉnh có vị trí địa lý
rất thuận lợi nằm trong vùng KTTĐPN, là cửa ngõ thông ra biển của các tỉnh Đông Nam
Bộ, có hệ thống đường biển, đường sông và đường hàng không rất thuận tiện
Với những lợi thế trên lượng khách đến với BR – VT ngày càng đông, là một trong những địa phương có lượng khách nội địa nhiều nhất nước ta Và cũng chính vì tài nguyên
Trang 9du lịch được khai thác sớm, không có sự đa dạng hóa sản phẩm du lịch nên chưa thu hút được nhiều du khách quốc tế cũng như thời gian lưu trú khách khách nội địa thấp Ngành du lịch BR – VT chưa phát triển đúng với tiềm năng vốn có từ lợi thế của Địa phương Đó là lí
do Tôi chọn đề tài “ Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Hiện trạng và giải pháp” làm luận văn thạc sỹ, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong sự phát triển ngành Du lịch Tỉnh nhà
2 M ục tiêu nghiên cứu
Đúc kết lý luận và thực tiễn phát triển du lịch để phân tích hiện trạng phát triển du lịch
tỉnh BR– VT; trên cở sở đó để xây dựng các định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh
BR – VT đến năm 2020
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Tổng quan và đúc kết cơ sở lý luận lí luận về phát triển du lịch
Khảo sát, kiểm kê nhằm thu thập tư liệu về các nguồn lực phát triển du lịch của tỉnh
BR – VT
Phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh BR – VT giai đoạn 2002 – 2012
- Xây dựng các định hướng và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch tỉnh
BR – VT trong giai đoạn 2013 -2020
4 Ph ạm vi nghiên cứu
Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển du lịch
Không gian: Trên địa bàn tỉnh BR – VT
Thời gian: Phân tích hiện trạng giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến 2020
5 L ịch sử nghiên cứu đề tài
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ( 2005) Viện quy hoạch Đô Thị Nông Thôn – Bộ Xây Dựng; Nghiên
c ứu phát triển loại hình du lịch Mice tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2008), Trường trung học
nghiệp vụ Du lịch Vũng Tàu – chủ nhiệm đề tài Phùng Đức Vinh; Đánh giá tiềm năng và
xây d ựng định hướng phát triển bền vững khu du lịch sinh thái Bình Châu - Phước Bửu, tỉnh
Bà R ịa – Vũng Tàu, ( 2009) Nguyễn Thị Hồng; Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững huy ện Côn Đảo ( 2009) Lê Thị Lợi; Tài nguyên du lịch Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thực trạng
Trang 10và gi ải pháp khai thác để phát triển các loại hình du lịch (2011), Biền Thị Hoàng Anh -
Trường cao đẳng Sư Phạm Bà Rịa – Vũng Tàu
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6 1 Các quan điểm nghiên cứu
6 1.1 Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống được hình thành từ nhiều phân hệ: phân hệ
du khách, phân hệ tài nguyên du lịch, phân hệ công trình kỹ thuật, phân hệ cán bộ nhân viên
du lịch và phân hệ điều hành Quan điểm hệ thống giúp chúng ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toàn bộ hệ thống du lịch nói chung
6 1.2 Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng địa lý được phân bố trong một lãnh thổ
nhất định sẽ có những đặc điểm riêng Xem xét hoạt động du lịch trong mối quan hệ với đặc điểm của lãnh thổ nhằm khái quát được đặc trưng của du lịch trên từng địa bàn nghiên cứu
Để mang lại hiệu quả cao trong phát triển du lịch cần tìm ra được sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ, từ đó đưa ra được các hướng phát triển du lịch phù hợp, tạo ra được các sản
phẩm du lịch đặc trưng cho lãnh thổ, khai thác những thế mạnh và khắc phục những hạn
chế
6 1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mỗi sự kiện, mỗi hiện tượng địa lý kinh tế - xã hội diễn ra đều có mối quan hệ chặt chẽ
với lịch sử phát sinh và phát triển của chúng Sự phát triển của du lịch BR – VT cũng không
nằm ngoài quy luật ấy Vì thế, cần quán triệt quan điểm lịch sử - viễn cảnh để phân tích và lí
giải thấu đáo bản chất của sự phát triển du lịch địa phương trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
6 1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Đây là quan điểm bao trùm và có tính định hướng trong nghiên cứu phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và du lịch nói riêng Quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi khi phân tích, đánh giá và đề xuất phát triển du lịch phải chú ý đảm bảo hài hòa đồng thời cả 3 mặt: kinh
tế, xã hội và môi trường
Trang 11đề trên cơ sở nhận thức đầy đủ các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình phát triển của các đối tượng trên cùng một lãnh thổ
6 2 Các phương pháp nghiên cứu
6 2.1 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu thông tin du lịch
Sau khi thu thập tài liệu, tác giả xử lý và phân tích tài liệu theo nội dung cơ bản của đề tài Nguồn tài liệu được sử dụng trong đề tài bao gồm các tài liệu chuyên khảo, các văn bản liên quan về du lịch, các số liệu thống kê của các cơ quan ban ngành, một số luận văn, khóa
luận, đề tài nghiên cứu của các tác giả trước, một số tạp chí, trang báo điện tử, một số văn
bản pháp luật, văn bản báo cáo,…
6 2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Thực hiện phương pháp thực địa, tác giả có cơ sở thực tế để so sánh và kiểm chứng tính xác thực của vấn đề nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhiều lần đi
khảo sát các tuyến, điểm tài nguyên và điểm du lịch của Tỉnh Qua đó tìm hiểu tình hình phát triển du lịch các địa điểm thông qua người dân, du khách và các cấp quản lý
6.2.4 Phương pháp GIS (thông tin địa lý)
Phương pháp bản đồ cho phép thể hiện các đối tượng địa lý trên một lãnh thổ nhất định một cách trực quan Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả sử dụng kỹ thuật GIS và phần mềm MapInfo 10.5 để xây dựng bản đồ hành chính, bản đồ tài nguyên du
lịch và bản đồ thực trạng phát triển du lịch và bản đồ quy hoạch du lịch BR – VT
7 C ấu trúc luận văn
• Phần mở đầu
• Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh BR – VT giai đoạn 2002 – 2012
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh BR – VT đến năm 2020
• Phần kết luận
Trang 12• Tài liệu tham khảo
• Phụ lục
Trang 13C HƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc thuật ngữ này Điều này đúng như nhận định của
một chuyên gia về du lịch: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả thì có bấy nhiêu định nghĩa”
Thoạt đầu du lịch chỉ được hiểu là đi khỏi nơi cư trú thường xuyên nhằm thực hiện
một công việc gì đó Theo tiếng Hy Lạp, du lịch được gọi là “ Tonos” - có nghĩa là đi một vòng, hay “Tour” (Theo tiếng Pháp) có nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi,… Ở Việt Nam, thuật ngữ du lịch được phiên âm theo tiếng Hán, trong đó từ “du” có nghĩa là đi chơi,
từ “lịch” có nghĩa là sự từng trải như vậy, nhìn chung về nguồn gốc của thuật ngữ này là
cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nơi khác và quay trở lại
Theo Liên Hiệp Quốc Tế các tổ chức lữ hành chính thức IUOTO (International Union
of Official Travel Organization) định nghĩa: “ Du lịch được hiểu là một hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một công việc kiếm tiền sinh sống” Tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch tại Roma - Italia (21/08- 05/09/1963) thì đề cập đến các mối quan hệ với du lịch: “Du lịch tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế
bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân, hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở nước ngoài với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không
phải nơi làm việc của họ”
Theo I.I Pirojnik (1985) cho rằng: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
thời gian rỗi liên quan với di chuyển và lưu tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên
nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa
Trang 14Như vậy, có thể thấy rõ được sự khác nhau về quan niệm du lịch Tuy nhiên theo thời gian các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện của nước ta hiện nay, quan niệm
phổ biến được công nhân rộng rãi là quan niệm được trình bày trong Luật du lịch Việt Nam Trong Luật du lịch Việt Nam thì du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.[6]
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng trong điều kiện của nước ta hiện nay thì khái niệm về du lịch được trình bày trong Luật du lịch Việt Nam ngày càng được sử dụng
Theo Nguyễn Minh Tuệ định nghĩa về tài nguyên du lịch như sau: “Tài nguyên du lịch
là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp với du khách, đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch
một cách hiệu quả và bền vững”[15]
Phân lo ại tài nguyên du lịch
Theo lu ật du lịch Việt Nam thì tài nguyên du lịch được phân thành 2 nhóm:
Tài nguyên du l ịch tự nhiên: bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật
Tài nguyên du l ịch nhân văn: gồm có các loại di tích, lễ hội, làng nghề, văn hóa - văn ngh ệ dân gian, ẩm thực,…
Trang 151.1.4 Các lo ại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa
ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây
Phân lo ại theo phương thưc hợp đồng
Trang 16Du lịch người cao tuổi
Phân lo ại theo độ dài chuyến đi
Trang 171.1.5 S ản phẩm du lịch
Định nghĩa
Sản phẩm du lịch là một tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách
du lịch trong chuyến đi du lịch
Sản phẩm du lịch= Tài nguyên du lịch + Hàng hóa và dịch vụ du lịch.[14]
Tóm lại có thể hiểu chung, sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cho du khách, nó được tạo nên bởi các yếu tố tự nhiên và nhân văn trên cơ
sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng, cơ sở nào đó
Cơ cấu của sản phẩm du lịch:
Nội dung cơ cấu của sản phẩm du lịch rất phong phú, đa dạng, liên quan đến rất nhiều ngành nghề và có thể phân ra các thành phần chủ yếu sau:
Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách): bao gồm các điểm du
lịch, tuyến du lịch để thỏa mãn nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn của du khách Đó là
những cảnh quan thiên nhiên đẹp, nổi tiếng, các kỳ quan, các di sản văn hóa thế giới, các di tích lịch sử mang đậm nét đặc sắc văn hóa của quốc gia, các vùng,…[14]
Cơ sở du lịch (điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch): bao gồm mạng lưới cơ
sở lưu trú như khách sạn, làng du lịch để phục vụ cho nhu cầu lưu trú của du khách, cửa hàng phục vụ ăn uống, cơ sở kỹ thuật phục vụ cho vui chơi giải trí của khách du khách, hệ
thống các phương tiện vận chuyển nhằm phục vụ cho việc đi lại của du khách[14]
Dịch vụ du lịch: đây được xem là hạt nhân của sản phẩm du lịch, việc thực hiện nhu
cầu chi tiêu du lịch của du khách không tách rời các loại dịch vụ mà nhà kinh doanh du cung cấp Sản phẩm du lịch mà nhà kinh doanh du cung cấp cho du khách ngoài một số sản
phẩm vật chất hữu hình như ăn, uống thì phần nhiều thể hiện bằng các loại dịch vụ Dịch vụ
du lịch là một qui trình hoàn chỉnh, là sự liên kết hợp lí các dịch vụ đơn lẻ tạo, do vậy phải
tạo ra sự phối hợp hài hòa, đồng bộ trong toàn bộ chỉnh thể để tạo ra sự đánh giá tốt của du khách về sản phẩm du lịch hoàn chỉnh[14]
Trang 18Du lịch còn góp phần thỏa mãn những nhu cầu tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc
sống, hồi phục sức khỏe, tái sản xuất khả năng lao động cho con người Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định, nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch hợp lí, bệnh tật của dân
cư hiện nay so với thời kì trước trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh
thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% [15]
quốc tế[8]
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, sự phát triển du lịch giúp đa dạng hóa và kích thích sự phát triển của các ngành kinh tế khác: giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại…Ngoài ra, còn tăng cường cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật cho
cộng đồng, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân
1.1.6.3 Ch ức năng sinh thái
Trang 19Thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du
lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục môi trường thiên nhiên xung quanh Việc tham quan các danh lam thắng cảnh và môi trường thiên nhiên có ý nghĩa với
du khách Tạo điều kiện cho du khách hiểu biết về tự nhiên và hình thành thói quen bảo vệ môi trường
Du lịch và môi trường có quan hệ mật thiết với nhau, du lịch góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện để phát triển du lịch
1.1.6.4 Ch ức năng chính trị
Chức năng chính trị của du khách thể hiện ở vai trò của nó như một nhân tố củng cố hòa bình, thúc đẩy giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở những khu vực khác nhau trên thế giới hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo tình hữu nghị giữa các dân tộc
1.1.7 Nh ững nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch
Đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch
nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lí, cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế
1.1.7.2 Tài nguyên du l ịch
Du lịch là ngành có định hướng rõ rệt về tài nguyên Tài nguyên du lịch ảnh hưởng
trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ, đến việc hình thành chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế của
hoạt động du lịch
Trong hoạt động du lịch thì tài nguyên du lịch là nhân tố quan trọng nhất Có thể hiểu tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hóa lịch sử, các giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du
lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du
lịch
Trang 20Tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng, vì thế có nhiều cách phân loại tùy thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau
Tài nguyên du l ịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta Môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nghỉ ngơi được khai thác phục vụ du lịch
Các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh nhất đến du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên sinh vật
* Địa hình
Địa hình là một thành phần quan trọng của tự nhiên, là sản phẩm của các quá trình địa
chất lâu dài Đối với hoạt động du lịch, bề mặt địa hình là nơi diễn ra các hoạt động của du khách, là nơi xây dựng các công trình phục vụ du khách (cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí,
cơ sở hạ tầng ) Đặc điểm địa hình góp phần quy định các loại hình du lịch Quan trọng
nhất là yếu tố hình thái địa hình và các kiểu địa hình đặc biệt, kết hợp với các di tích tự nhiên có sức hấp dẫn du khách Đồng thời địa hình phối hợp với các yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển
Các đơn vị hình thái chính của địa hình là miền núi và đồng bằng Khách du lịch thường ưa thích những nơi có phong cảnh đẹp và đa dạng, những vùng có nhiều đồi núi và
họ thường tránh những nơi đơn điệu, tẻ nhạt
Trong các loại địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với khu du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch Trong tài nguyên du lịch miền núi, cùng với địa hình, khí hậu và động –
thực vật tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng như dài ngày
Ngoài các dạng địa hình chính, các kiểu địa hình đặc biệt có giá trị rất lớn cho tổ chức
du lịch như kiểu địa hình Karst và kiểu địa hình bờ biển
Kiểu địa hình Karst: là kiểu địa hình được tạo thành do dự lưu thông của nước trong các đã dễ hòa tan Một trong các kiểu Karst được quan tâm nhất đối với du lịch là hang động Karst Những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động Karst rất hấp dẫn khách du
lịch Đây chinh là một nguồn tài nguyên du lịch, một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi
dễ dàng Ngoài hang động Karst, các kiểu địa hình Karst ngập nước cũng có giá trị lớn đối
với du lịch
Trang 21Các kiểu địa hình bờ biển: có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Địa hình ven bờ có
thể tận dụng khai thác du lịch với các mục đích khác nhau: tham quan du lịch theo chuyên
đề khoa học, nghỉ ngơi an dưỡng, tắm biển, thể thao nước
* Khí hậu
Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với du lịch, bao gồm hai
chỉ tiêu chính: nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lí hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt
trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt
Để đánh giá cụ thể các điều kiện khí hậu đối với hoạt động du lịch, ngoài các đặc điểm chung của từng khu vực, cần thiết phải đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện đó tới sức
khỏe con người và các địa hình du lịch Những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách
du lịch ưa thích Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khác nhau Để xác định mức
độ thích nghi của khí hậu đối với con người các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu khí
hậu sinh học
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các huyến du lịch hoặc hoạt động
dịch vụ về du lịch Tuy nhiên, những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch
du lịch cũng cần phải lưu ý, ví dụ như bão, gió mùa Đông Bắc, lũ lụt trong mùa mưa Tính theo mùa của du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân tố khí hậu Theo đó, hoạt động du lịch
có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng (mùa du lịch cả năm, mùa đông, mùa hè)
sống, điều hòa khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch (làm dịu khí hậu ven bờ )
Trong tài nguyên nước, nguồn nước khoáng có ý nghĩa rất lớn đối với du lịch Đây là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh Nước khoáng là nước
Trang 22thiên nhiên chứa một số thành phần vật chất đặc biệt hoặc có một số tính chất vật lí có tác
dụng sinh lí đối với con người
Nước khoáng được phân thành các loại sau:
- Nhóm nước khoáng Cacbonic: là nhóm nước khoáng quý có công dụng giải khát rất
tốt và chữa một số bệnh như cao huyết áp, sơ vữa động mạch nhẹ, các bệnh về hệ thần kinh ngoại biên
- Nhóm nước khoáng Silic: có công dụng đối với các bệnh đường tiêu hóa, thần kinh,
giới sinh vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu
cuộc sống
Để phục vụ các mục đích du lịch khác nhau (tham quan, săn bắn, thể thao, nghiên cứu khoa học ), các tài nguyên động – thực vật phải đạt được một số chỉ tiêu nhất định
Các khối rừng tự nhiên cũng như nhân tạo có ý nghĩa rất lớn trong việc điều hòa khí
hậu tạo nên môi trường trong sạch cho hoạt động du lịch Rừng phòng hộ, các quần thể thực
vật ven sông, hồ ở vùng đồng bằng và thung lũng có giá trị đối với loại hình du lịch cuối
tuần Đối với du khách, những loại thực vật không có ở đất nước họ thường có sức hấp dẫn
mạnh
Thế giới động vật vô cùng phong phú cũng có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với du lịch
nhận thức và du lịch săn bắn
* Di sản thiên nhiên thế giới
Theo công ước về Di sản thế giới, “Di sản thiên nhiên là các công trình thiên nhiên được hợp thành bởi những thành tạo vật lí, sinh học hoặc những nhóm thành tạo có giá trị
Trang 23toàn cầu về mặt thẩm mĩ hay khoa học,bởi các thành tạo địa chất và địa mạo, được phân định ranh giới rõ ràng làm nơi sinh sống của các loài thực vật, động vật đang bị đe dọa có giá trị toàn cầu về mặt khoa học hoặc bảo tồn; cũng như các địa điểm tự nhiên hoạc các vùng tự nhiên được phân định ranh giới rõ ràng, có giá trị toàn cầu về mặt khoa học, bảo tồn
cảnh quan ngoạn mục hoặc là một khu bảo tồn số lượng lớn các loài động vật hoang dã
Một di sản thiên nhiên được đệ trình vào danh sách các Di sản thế giới sẽ được coi là
có giá trị nổi bật toàn cầu theo tôn chỉ, mục đích của Công ước về Di sản thế giới
Tài nguyên du l ịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn được hiểu ngắn gọn là các đối tượng và hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại, có giá trị văn hóa, tinh thần và phục vụ nhu cầu
du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn có những đặc điểm khác biệt so với tài nguyên du lịch
tự nhiên
Theo Luật Du lịch Việt Nam “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tại của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có
thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [6]
Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị nhận thức nhiều hơn Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn Số người quan tâm đến loại hình này thường có văn hóa cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn Loại tài nguyên này thường tập trung ở các điểm quần cư là các thành phố lớn, với ưu thế là hầu như không có tính mùa vụ,
ít phụ thuộc vào tài nguyên, tùy thuộc theo sở thích từng người
Các loại tài nguyên du lịch nhân văn
* Di sản văn hóa thế giới
Di sản văn hóa thế giới là một trong những tài nguyên nhân văn quan trọng nhất, được coi là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch
Có những tiêu chuẩn riêng để đánh giá di sản văn hóa thế giới Nhìn chung, các di sản
Trang 24văn hóa thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hóa của một dân tộc Một quốc gia mà có di tích được công nhận là di sản văn hóa thế giới sẽ là một tôn vinh lớn cho dân
tộc ấy, là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế
* Di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch
sử để lại Di tích lịch sử văn hóa, anh lam thắng cảnh được phân chia thành:
- Di tích văn hóa khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại Đa số các di tích này nằm trong lòng đất, còn được gọi là di chỉ khảo cổ bao gồm di chỉ
cư trú và di chỉ mộ táng
- Di tích lịch sử: những đặc điểm lịch sử của mỗi quốc gia và dân tộc được ghi dấu ở
những di tích lịch sử, bao gồm:
+ Di tích ghi dấu về văn tộc học
+ Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng
+ Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược
+ Di tích ghi dấu những kỉ niệm
+ Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động
+ Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến
- Di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tích gắn với công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Chúng không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc
mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần
- Danh lam thắng cảnh: là những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban cho Các danh lam
thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ, thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay, khối óc của con người tạo dựng nên và chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di tích lịch sử văn hóa Chúng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động du lịch Ở nước ta, hầu hết các danh lam tháng cảnh đều có chùa thờ Phật
* Lễ hội
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh
hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng
về một sự kiện lịch sử trọng đại, hoặc là để giải quyết những lo âu, những khao khát, những ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được
Trang 25Lễ hội đã tạo nên “tấm thảm muôn màu Mọi sự ở đó đều đan quyện vào nhau, thiêng liên và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng”
Lễ hội gồm hai phần: Phần nghi lễ và phần hội
- Phần nghi lễ: là những nghi lễ nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian
và không gian
- Phần hội: diễn ra những hoạt động điển hình của tâm lí cộng đồng, văn hóa dân tộc,
chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên
Lễ hội xuất hiện vào thời điểm linh thiên của sự chuyển tiếp giữa hai mùa, đánh dấu sự
kết thúc một chu kì lao động, bước sang một chu kì mới
Nghiên cứu, đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích phát triển du lịch, cần chú ý những đặc điểm sau:
+ Tính mùa của lễ hội: Các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân Thời gian tiến hành lễ hội khoảng 1 – 2 tháng hoặc có khi chỉ vài ngày
+ Quy mô của lễ hội: Các lễ hội có quy mô lớn nhỏ khác nhau Điều này ảnh hưởng tới
hoạt động du lịch nhất là khả năng thu hút khách du lịch
+ Các lễ hội thường được tổ chức tại các di tích lịch sử văn hóa Điều đó cho phéo khai thác hiệu quả hơn cả di tích và lễ hội vào mục đích du lịch
* Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Có thể nói du lịch dân tộc vẫn còn là những bí ẩn mà mỗi du khách đều muốn khám phá Những đặc thù của từng dân tộc, đó chính là những tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, thói quen
ăn uống, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc vẫn luôn có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch
Đồng thời những nét đặc sắc và phong phú của các yếu tố về dân tộc học có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định các loại hình du lịch đa dạng như du lịch văn hóa, du lịch về
cội nguồn, du lịch cộng đồng
* Làng nghề thủ công truyền thống
Nghề và làng nghề thủ công truyền thống: đã trở thành một tài nguyên du lịch nhân văn được khai thác phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch Nghề thủ công truyền thống với
Trang 26những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo của dân lao động mà còn thể hiện
những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người
* Các tài nguyên du lịch nhân văn khác
- Các đối tượng văn hóa, thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện: Đó chính là các trung tâm khoa học, các trường đại học, thư viện lớn, bảo tàng, trung tâm tổ chức liên hoan âm nhạc, phim ảnh quốc tế, các sự kiện thể thao đều có sức hút thu hút khách du lịch
tới tham quan, nghiên cứu, vui chơi với nhiều mục đích khác nhau Do vậy, những thành
phố có các đối tượng văn hóa trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia, vùng và khu vực đồng thời là những hạt nhân của các trung tâm du lịch
- Ngoài ra các đặc sản địa phương và các món ăn dân tộc với nghệ thuật chế biến cao cũng là những tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, đặc biệt hấp dẫn du khách
Như vậy, sự phát triển của du lịch có mối liên hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch Du lịch không thể phát triển nếu thiếu tài nguyên và tách rời khung cảnh môi trường du lịch hoạt động Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành các chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế
của hoạt động du lịch
1.1.7.3 Các nhân t ố kinh tế - xã hội và chính trị
Dân cư và lao động
Dân cư và lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã hội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Số dân càng đông thì số người tham gia vào các hoạt động du lịch càng nhiều
Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Ngoài ra, cần nghiên cứu cơ cấu dân
cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch
S ự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu
cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Nền sản xuất xã hội càng phát triển thì nhu cầu về du lịch của dân cư càng lớn, chất lượng dịch vụ càng đa dạng
Trong nội bộ nền kinh tế, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp
và cả giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch
Trang 27Công nghiệp phát triển tạo những tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, làm tăng khả năng đi du lịch Đồng thời, sản xuất ra được những vật liệu đa dạng để xây dựng các cơ sở dịch vụ và hàng loạt hàng hóa các loại đáp ứng nhu cầu của khách
Nông nghiệp cũng có ý nghĩa rất lớn vì du lịch không thể phát triển nếu như không đảm bảo việc ăn uống cho khách du lịch Trong những ngày du lịch, du khách cần có nguồn
thực phẩm đa dạng từ nông nghiệp, trong đó các món đặc sản đã trở thành tài nguyên du
lịch
Giao thông cũng là một trong những tiền đề quan trọng để phát triển du lịch Nhờ
mạng lưới giao thông hoàn thiện mà du lịch có điều kiện phán triển với tốc độ nhanh Ngày nay, con người có thể rút ngắn các khoảng cách về địa lí bằng phương tiện giao thông hiện đại, cho phép tiết kiệm thời gian đi lại và kéo dài thời gian lưu trú Bên cạnh tốc độ, sự đảm
bảo về an toàn, tiện nghi, cùng giá thành hạ làm cho hoạt động vận tải ngày càng đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành du lịch [15]
Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội
Du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển được trong bầu không khí hòa bình, ổn định trong tình hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại, du lịch cóc tác
dụng đến việc cũng cố hòa bình Thông qua du lịch quốc tế, con người thể hiện nguyện
vọng của mình được sống, lao động trong hòa bình và tình hữu nghị
Điều kiện đảm bảo về y tế trước các dịch bệnh cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lí và nhu
cầu của du khách Bên cạnh đó, các tai biến thiên nhiên (động đất, sóng thần ) gây mất an toàn cũng là những yếu tố gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách du lịch của các quốc gia và vùng lãnh thổ
Nhu c ầu nghỉ ngơi du lịch
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành
một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch mang tính chất kinh tế - xã hội và là sản phẩm của sự phát triển xã hội, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe và khả năng lao động, thể
chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sống
Các m ạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế
Những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ trong thế kỉ XX và sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa là những yếu tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và
hoạt động du lịch
Trang 28 Đô thị hóa
Trong quá trình đô thị hóa, bên cạnh những đóng góp tích cực, còn rất nhiều mặt trái làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người như tiếng ồn, lao động căng thẳng Từ những mặt trái đó, nghỉ ngơi, giải trí trở thành một trong những nhu cầu không thể thay thế được của người dân thành phố Nhu cầu này đã làm xuất hiện một loạt các loại hình du lịch, đặc biệt
là du lịch ngắn ngày đã trở nên phổ biến [15]
Điều kiện sống
Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt tới trình độ nhất định
Một trong những yếu tố then chốt là mức thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội Không có mức thu nhập cao thì khó có thể nghĩ đến việc nghỉ ngơi, du lịch Nhìn chung, ở các nước phát triển có mức thu nhập bình quân trên đầu người cao, nhu cầu và hoạt động du
lịch phát triển mạnh mẽ
Th ời gian rỗi
Du lịch trong nước và quốc tế không thể phát triển được nếu con người thiếu thời gian
rỗi Nó thực sự trở thành mộ trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch
Thời gian rỗi là thời gian cần thiết để con người nâng cao học vấn, phát triển trí tuệ, hoàn thành các chức năng xã hội, tiếp xúc với bạn bè và vui chơi giải trí [15]
1.1.8 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẫy cho mọi hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động
du lịch Trong cơ sở hạ tầng, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan
trọng hàng đầu Đồng thời, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới cung cấp điện – nước sạch cũng là những thành phần phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch
* Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải
Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Chính vì
thế, du lịch phụ thuộc vào giao thông (mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông) Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được khi thiếu nhân tố giao thông Việc phát triển giao thông cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch
Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận lợi, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng biệt
Trang 29tác động tích cực đến hoạt động du lịch Giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho du khách dễ dàng đi theo lộ rình đã lựa chọn; giao thông đường sắt rẻ tiền; giao thông đường không tuy đắt tiền nhưng nhanh và tiết kiệm được thời gian đi lại; giao thông đường thủy tuy chậm nhưng kết hợp với tham quan giải trí dọc sông hoặc ven biển [15]
* Hệ thống thông tin liên lạc
Hệ thống thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động
du lịch Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc
tế Trong hoạt động du lịch, thông tin liên lạc đảm bảo việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữa các vùng, các nước Đặc biệt trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng càng không thể thiếu được thông tin liên lạc Mạng lưới thông tin liên lạc ngày càng trở nên phong phú và hiện đại hơn trước đã tạo những điều kiện tiện ích, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian, giảm giá thành sản phẩm cho du khách Đây là những điều kiện thuận lợi hấp dẫn du khách và triển khai hoạt động kinh doanh của các công ty du lịch.[15]
* Mạng lưới cung cấp điện – nước sạch
Hệ thống các công trình cấp điện và nước sạch là điều kiện cần thiết đảm bảo nhu cầu
tối thiểu của khác du lịch tại các điểm đến Hệ thống điệ đảm bảo cho các hoạt động du lịch
diễn ra thường xuyên và liên tục Hệ thống thiết bị xử lí cấp thoát nước, giảm lượng chất
thải và xử lí chất thải đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật quy định vừa tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu về nước sạch cho du khách và các hoạt động du lịch, vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách Đồng thời đó cũng là một trong những yêu cầu quan trọng để
mỗi doanh nghiệp du lịch, mỗi địa phương, mỗi quốc gia phát triển du lịch bền vững [15]
Cơ sở vật chất – kĩ thuật
Cơ sở vật chất – kĩ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra sản
phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu
cầu khách du lịch Chính vì có vai trò quan trọng như vậy nên sự phát triển ngành du lịch bao giờ cũng găn liền với việc xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật
Cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất – kĩ thuật của ngành và một số ngành kinh tế quốc dân tham gia vào phục vụ du lịch như thương mại, dịch vụ
* Cơ sở lưu trú du lịch
Trang 30Theo Luật Du lịch Việt Nam “cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khác lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch
chủ yếu” [6]
Có nhiều loại hình cơ sở lưu trú, nhưng nhìn chung các cơ sở lưu trú bao gồm: “khách
sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà
ở có phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác”[6]
Trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch thì khách sạn đóng vai trò quan trọng và mang lại nguồn lợi lớn nhất Chính vì vậy, trong kinh doanh lưu trú du lịch, kinh doanh khách sạn chiếm vị trí hàng đầu
* Mạng lưới cửa hàng ăn uống, dịch vụ thương mại
Đây là một bộ phận trong cơ sở vật chất – kĩ thuật phục vụ du lịch Mục đích là đáp ứng nhu cầu về ăn uống, mua sắm hàng hóa của khách du lịch (trong nước cũng như quốc
tế) bằng việc bán các mặc hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác
* Cơ sở thể thao
Cơ sở thể thao là một bộ phận của cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch Chúng có tác dụng
tạo điều kiện thuận lợi cho kì nghỉ của du khách, làm cho kì nghỉ đó trở nên tích cực hơn Các cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng thể thao hay trung tâm thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi loại (bể bơi, xe đạp nước,
cầu trượt nước, cho thuê xe ô tô )
Ngày nay, công trình thể thao là một bộ phận không thể tách rời khỏi cơ sở vật chất –
kĩ thuật của các trung tâm du lịch Chúng làm tăng hiệu quả sử dụng của khách sạn, khu nghỉ ngơi và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch
* Cơ sở y tế chữa bệnh
Các cơ sở y tế chữa bệnh có mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ
bổ sung tại các điểm du lịch Cơ sở vật chất – kĩ thuật ở đây bao gồm các trung tâm chữa
bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng ), các phòng y tế với các trang thiết bị trong đó (phòng tắm hơi, massage, )
* Cơ sở vui chơi giải trí hoạt động thông tin văn hóa
Các cơ sở này nhằm mục đích giúp cho khách vui chơi, giải trí, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội, tạo điều kiện giao tiếp, quản bá về truyền thống, thành tựu văn hóa của các dân
tộc Chúng bao gồm các cơ sở vui chơi giải trí, các trung tâm văn hóa, thông tin, phòng
Trang 31chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triễn lãm và có thể được bố trí hoặc trong khách sạn
hoặc hoạt động độc lập tại các trung tâm du lịch
* Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác
Cơ sở này là điều kiện bổ sung, giúp cho khách sử dụng hiệu quả hơn thời gian du
lịch, tạo thêm sự thuận tiện khi họ lưu trú tại điểm du lịch Các dịch vụ bổ sung bao gồm
trạm xăng dầu, trạm cấp cứu (ở biển hoặc núi), xưởng sữa chữa dụng cụ thể thao, hiệu cắt tóc, giặt là, tiệm thẩm mĩ, các cửa hàng dịch vụ về ảnh
Tại các điểm du lịch, chúng góp phần làm tăng tính đồng bộ của hệ thống dịch vụ du
lịch Chính các dịch vụ này trong hệ thống cơ sở vật chất – kĩ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra và thực hiện toàn bộ sản phẩm du lịch
Tóm lại, các nhân tố ảnh hưởng nói trên là động lực thúc đẩy cho hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ Mỗi một nhân tố có những chức năng và đặc điểm tác động khác nhau Tuy nhiên, chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, cùng tác động lên các hoạt động du
lịch Sự hiện diện của tấc cả các nhân tố chính là đảm bảo cho hoạt động phát triển du lịch
mạnh mẽ nhất, nếu thiếu một trong những nhân tố trên, sự phát triển của du lịch sẽ không
thể diễn ra một cách bình thường mà có thể bị ngưng trệ
1.2 T ổ chức lãnh thổ du lịch
Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch được sử dụng rất khác nhau giữa các nước Đối với nước ta, trong báo cáo Quy hoạch tổng thể Du lịch Việt Nam đến năm 2010, các nhà khoa học đã đưa ra 5 cấp phân vị trên quy mô lãnh thổ quốc gia bao gồm: điểm du lịch – trung tâm du lịch - tiểu vùng du lịch – á vùng du lịch – vùng du lịch Điều 4, chương I,
Luật Du lịch Việt Nam ( 2005) còn đưa thêm khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch trong
thực tế ở quy mô nhỏ hơn như cấp Tỉnh.Trong phạm vi cấp tỉnh như BR - VT có các hình
thức tổ chức lãnh thổ du lịch chính sau:
1.2.1 Điểm du lịch
Là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ,
sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn Điểm du lịch là nơi tập trung
một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Điểm du lịch có thể phân thành 2 loại: điểm du lịch tài nguyên và điểm du lịch chức năng
Trang 32Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”[6] Thời gian lưu lại của khách du lịch ở điểm du lịch tương đối ngắn (không quá 1 - 2 ngày) vì sự hạn chế của đối tượng du lịch ( trừ các điểm du lịch với chức năng
chữa bệnh, nhà nghỉ của cơ quan ) Các điểm du lịch cần còn có thể phân thành 4 nhóm: điểm du lịch tự nhiên, điểm du lịch văn hóa, điểm du lịch đô thị và điểm đầu mối giao thông
Còn theo cấp quản lí thì có điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương
Điểm du lịch quốc gia phải đủ các điều kiện sau: có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp
dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất 100 nghìn lượt khách tham quan một năm
Điểm du lịch địa phương phải đủ các điều kiên sau: có tài nguyên di lịch hấp dẫn đối
với nhu cầu tham quan cuả khách du lịch; có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có
khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 10 ngìn lượt khách tham quan một năm
1.2.2 Khu du l ịch
“ Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.”[6]
Hiện nay ở nước ta phổ biến các khu du lịch được xây dựng trên nền tảng các cảnh quan tự nhiên hấp dẫn, các di tích hoặc cụm di tích văn hóa – lịch sử, nơi có các danh lam
thắng cảnh… và xây dựng thêm các công trình nhân tạo khác để phục vụ nhu cầu ăn, nghỉ
và vui chơi của du khách
1.2.3 C ụm du lịch
Cụm du lịch là một khu vực tập trung nhiều điểm du lịch và mật độ tương đối dày, có
sản phẩm du lịch chuyên môn hóa với hạt nhân và các điểm du lịch bao quanh Dựa trên
thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật, khả năng khai thác tài nguyên du lịch mà xác định ra cụm du lịch đang hoạt động và cụm du lịch tiềm năng
1.2.4 Trung tâm du l ịch
Đây là một cấp hết sức quan trọng Đặc trưng của nó là nguồn tài nguyên du lịch tương đối tập trung và được khai thác một cách cao độ Trung tâm du lịch có cơ sở hạ tầng
Trang 33và cơ sở vật chất kĩ thuật tương đối đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để đón, phục
vụ và lưu khách lại trong thời gian dài
Trung tâm du lịch có quy mô nhất định về mặt diện tích, có thể tương đương với lãnh
thổ cấp tỉnh hay một thành phố trực thuộc tỉnh Có 2 loại trung tâm du lịch, đó là trung tâm
có ý nghĩa quốc gia ( như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng) và trung tâm có
ý nghĩa vùng, địa phương ( Thái Nguyên, Vinh, Quy Nhơn…)
1.2.5.Tuy ến du lịch
Các tuyến du lịch được coi là một sản phẩm du lịch đặc biệt “ Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”[6] Tuyến du lịch là một đơn
vị tổ chức không gian du lịch được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô, chức năng, sự đa dạng của các đối tượng du lịch với nhau trên lãnh thổ Cơ sở cho việc xác định tuyến là điểm du lịch và hệ thống giao thông Các tuyến du lịch về mặt không gian lãnh thổ
có thể chia thành nhiều loại như: tuyến du lịch quốc gia nối các điểm, các khu du lịch có ý nghĩa quốc gia với các cửa khẩu quốc tế, tuyến du lịch nội vùng nối các điểm, khu du lịch trong nội vùng du lịch với nhau, tuyến du lịch liên vùng nối các điểm, khu du lịch giữa các vùng du lịch với nhau, các tuyến du lịch địa phương, nội tỉnh…
1.3 Khái quát v ề thực tiễn phát triển du lịch
1.3.1 Ở Việt Nam
Nước ta có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và hấp dẫn Với những danh lam thắng cảnh như: Hạ Long, Sapa, Phong Nha-Kẻ Bàng, Vân phong, nhiều bãi tắm như: Sầm Sơn, Thiên Cầm, Non Nước, Mỹ Kê, Mũi Né, Vũng Tàu , vịnh đẹp và nổi tiếng như Hạ Long, Nha Trang, Xuân Đài, cùng với các đảo gần bờ như Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc là thế mạnh nổi trội của Việt Nam đối với phát triển du lịch biển đảo Việt Nam còn có các di sản văn hóa như: Cố Đô Huế, Hội An, Hoàng Thành Thăng Long, Cồng Chiêng Tây Nguyên, Thánh Địa Mỹ Sơn là những điểm sáng, điều kiện rất thuận lợi về tài nguyên du lịch nhân văn Đây là thế mạnh đối với phát triển dịch vụ
du lịch
Trang 34Từ thập niên 60 của thế kỉ trước, ngành du lịch nước ta mới trở thành một ngành kinh
tế độc lập, từ đó có những bước phát triển nhanh chóng, du lịch đã khẳng định vị thế là một ngành kinh tế mũi nhọn
Giai đoạn 2001 – 2009, tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh,
khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do áp dụng các biện pháp tích cực tháo gỡ kịp
thời, nên lượng khách và thu nhập du lịch hằng năm vẫn tiếp tục tăng Khách quốc tế tăng từ 2,33 triệu lượt lên gần 3,5 triệu lượt (tăng 1,5 lần); khách nội địa tăng 7 từ 11,7 triệu lượt lên 25,0 triệu lượt (tăng gấp 2,1 lần) người Việt Nam đi du lịch nước ngoài ước khoảng trên
1 triệu lượt Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch (hiện chiếm khoảng 4% GDP cả nước) Năm 2004, Du lịch Việt Nam được Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong số 174 nước; Việt Nam được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới
Đến năm 2010, nước ta đã đón 5,05 triệu lượt khách quốc tế, tăng 34,6% so với năm
2009, khách nội địa đạt 28 triệu lượt, tăng 12% Năm 2010, lần đầu tiên khách du lịch quốc
tế vào Việt Nam đã vượt trên 5 triệu lượt (5,05 triệu lượt) Năm 2011 với sự kiện bầu chọn
vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên thế giới được nhiều người bình chọn vào tốp dẫn đầu
đã góp phần nâng cao vị thế và uy tín của du lịch Việt Nam trên trường quốc tế Kết thúc năm 2012, ngành Du lịch đã đón và phục vụ 6,847 triệu lượt khách quốc tế, tăng 11%; 32,5 triệu lượt khách nội địa, tăng 8%; tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 160 nghìn tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2011[1]
Trang 35Nguồn: Bộ VHTTDL Trên cơ sở những kết quả đã đạt được của năm 2012, năm 2013 Du lịch Việt Nam đặt
ra mục tiêu đón 7,2 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng 5,15% so với năm 2012; phục vụ
35 triệu lượt khách nội địa, tăng 7,69%; tổng thu từ khách du lịch đạt 190 nghìn tỷ đồng, tăng 18,75 Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới
Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận được của du lịch Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua và những đóng góp ngày một tăng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Song song đó là những tồn tại như một “hồi chuông” cảnh báo, đồng thời cũng là
một tất yếu của quá trình phát triển du lịch cần chú ý tới những vấn đề sau:
Vấn đề về khách du lịch: đặc biệt là khách quốc tế, đây luôn là đối tượng được du lịch quan tâm vì nó tác động trực tiếp đến thu nhập du lịch Trong khi đó thời gian qua, du lịch
Việt Nam chỉ quan tâm tới số lượng khách mà chưa chú ý tới chất lượng nguồn khách
Vấn đề về sản phẩm du lịch: sản phẩm du lịch là một yếu tố rất quan trọng quyết định
hiệu quả kinh doanh du lịch Một sản phẩm tốt có chất lượng và phù hợp với nhu cầu của khách sẽ bán được giá cao mang lại hiệu quả kinh tế lớn Việt Nam là nơi có tiềm năng du
Trang 36lịch phong phú, đang dạng, vì thế cần tạo ra sản phẩm du lịch đặc sắc mang bản sắc riêng và phù hợp với nhu cầu của khách, đặc biệt ở các thị trường trọng điểm
Thực tế cho thấy hoạt động tuyên truyền, quảng bá bị hạn chế, thiếu định hướng cả về
thị trường lẫn thời điểm tiến hành, quảng cáo mà chưa quan tâm đến nhu cầu của thị trường, mang nặng tư tưởng áp đặt Quảng cáo sản phẩm du lịch theo kiểu “thổi phồng lên” chưa đúng với bản chất về nội dung và chất lượng
Cùng với quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển du lịch Đặc biệt từ 1999
với sự ra đời của Pháp Lệnh Du lịch và đến 2005 là Luật Du lịch đã đi vào cuộc sống Sự ổn định chính trị và chính sách ngoại giao cởi mở làm bạn với các nước và vùng lãnh thổ trên
thế giới cùng với sự nhận thức đúng đắn, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước là những yếu
tố rất thuận lợi mở đường cho du lịch phát triển
1.3.2 Ở Đông Nam bộ
Trong những năm qua, du lịch ĐNB đã có bước tăng trưởng vượt bậc cả về lượng khách và sự đa dạng về loại hình du lịch, chỉ tiêu quy mô, chất lượng dịch vụ, tạo việc làm Năm 2010, toàn vùng đón tiếp và phục vụ trên 3,6 triệu lượt khách quốc tế, chiếm 25% trong cơ cấu ngày khách quốc tế đến Việt Nam và 18 triệu lượt khách nội địa, chiếm 27% trong cơ cấu ngày khách nội địa Tổng thu từ du lịch vùng ĐNB năm 2010 đạt trên 31.500
tỷ đồng chiếm 28% tổng thu nhập du lịch cả nước.Tuy nhiên, trọng điểm du lịch chỉ tập trung ở TP.HCM và BR - VT dẫn đến tình trạng không đồng bộ giữa các địa phương Các địa bàn như Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước phát triển còn tự phát, bị động về thị trường, sản phẩm du lịch chưa phong phú, sức cạnh tranh thấp, tài nguyên và môi trường du lịch suy giảm, công tác đầu tư phát triển du lịch về cơ sở hạ tầng, bảo tồn, tôn tạo tài nguyên còn hạn chế, chưa xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển
Để khắc phục điều này, những năm qua, các địa phương đã tổ chức nhiều hội thảo, nghiên cứu để lập định hướng phát triển nhưng hiệu quả mang lại chưa cao Trong 15 năm trở lại đây, hầu hết các địa phương đều đã có quy hoạch phát triển du lịch nhưng thực chất quy hoạch đó mới chỉ đưa ra một số định hướng cơ bản, các chỉ tiêu phát triển chủ yếu cũng như khoanh vùng không gian một vài khu, điểm du lịch mà chưa làm được vai trò hoạch định phát triển ngành Việc quản lý và thực hiện quy hoạch du lịch ở các địa phương còn lỏng lẻo thiếu triệt để và kém hiệu quả Các địa phương phát triển du lịch một cách thiếu
Trang 37đồng bộ và có sự chênh lệch lớn trong phát triển du lịch giữa các địa phương, mạnh nhất là TP.HCM và BR - VT, các địa phương còn lại vẫn loay hoay trong phát triển du lịch
Trang 38C HƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA
2.1 V ị trí địa lý
BR – VT về phía Bắc giáp 3 huyện Long Thành, Long Khánh, Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp huyện Hàm Tân
tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp Biển Đông Ở vị trí địa lí này, tạo điều kiện cho tỉnh BR –
VT trở thành một cửa ngỏ, đầu cầu quan trọng của vùng kinh tế Nam Bộ hướng ra biển Đông, nằm trên đường giao lưu quốc tế đường hàng không, đường biển
Lãnh thổ của Tỉnh bao gồm phần phía Đông của miền Đông Nam Bộ, trên phần đất
liền có tọa độ địa lý là 10o05‘ - 10o48‘ vĩ độ Bắc và 107o - 107o35‘ kinh độ Đông Đặc biệt, lãnh thổ của tỉnh còn bao gồm cả quần đảo Côn Lôn ( huyện Côn Đảo) ở phía Nam biển Đông cách Vũng Tàu 180km
Tỉnh BR – VT thuộc vùng Đông Nam Bộ, là một trong 7 tỉnh thành phố của VKTTĐPN, được xác định là vùng động lực và trên thực tế là vùng kinh tế phát triển năng động nhất cả nước BR - VT là một cực của tam giác tăng trưởng kinh tế trọng điểm phía Nam Trong quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam xác định BR - VT là một trong
những khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch của cả nước, một địa bàn du lịch có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống tuyến điểm du lịch Nam Trung Bộ - Nam Bộ nói riêng
và của cả nước nói chung
Vị trí địa lí cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển tương đối hoàn thiện là cơ sở để
những năm qua, du lịch BR - VT giữ vai trò là một trung tâm nghỉ dưỡng cuối tuần lớn nhất vùng Đông Nam Bộ
2.2 Các ngu ồn lực phát triển du lịch
2.2.1 Tài nguyên du l ịch
2.2.1.1 Tài nguyên du l ịch tự nhiên
Địa hình
Địa hình nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ nên nét nổi
bật về địa hình là thấp dần từ bắc xuống nam, phổ biến 3 dạng địa hình: miền đồi núi thấp,
Trang 39bậc thềm phù sa cổ và đồng bằng ven biển lẫn bãi cát, cồn cát, bãi lầy…một vài nơi nhô lên
những ngọn núi đá hoa cương dựng đứng…
Nhìn tổng thể, địa hình có hướng dốc ra biển Tuy nhiên, ở sát biển vẫn có một số núi cao Bờ biển trải dài có nhiều bãi cát đẹp (Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm…) Những núi đá
ăn sâu ra biển tạo nên những mũi đá, bờ biển được tạo bởi những vách đá dựng đứng, nhất
là khu vực Vũng Tàu Mũi đá là nơi có nhiều gió để du khách đến hóng mát gọi là mũi Nghinh Phong
Toàn tỉnh có 305 km đường bờ biển, trong đó Côn Đảo có hơn 200km Các bãi tắm tập trung chủ yếu ở thành phố Vũng Tàu, Vũng Tàu trở thành phố Biển, gắn liền với thương
hiệu du lịch biển Các bãi tắm ở Xuyên Mộc và Côn Đảo mới được khai thác du lịch trong
thời gian gần đây 72 km là bãi cát bằng phẳng có thể được sử dụng như những bãi biển
sạch và đẹp
Đảo Côn Đảo có tiềm năng thế mạnh để phát triển du lịch có nhiều bãi tắm đẹp tuyệt
vời như: bãi Đất Dốc, Bãi Cạnh, bãi Đầm Trầu, bãi Hòn Cau, bãi Hòn Tre Thêm vào đó là vườn Quốc gia Côn Đảo với nhiều loài thực vật và thú quý hiếm Nói đến Côn Đảo, ai cũng
biết nơi đây có hệ thống nhà tù với nhiều trại giam lớn như: trại Phú hải, Phú Sơn, Phú Tường, Phú Bình, chuồng cọp, chuồng bò, cùng khu nhà Chúa Đảo và khu nghĩa trang Hàng Dương
BR - VT như một quần thể thiên nhiên hài hoà, sơn thuỷ hữu tình, có những dãy Núi
Lớn - Núi Nhỏ - Minh Đạm, Núi Dinh che chắn, xa xa biển Đông có Côn Đảo bao bọc, ở
gần có Long Sơn quy tụ
B ảng 2.1 Danh mục các bãi biển có khả năng khai thác du lịch
Trang 409 Bãi Long Hải Long Điền
Khí hậu
Khí hậu của Tỉnh mang tính chất cận xích đạo, tính chất nóng, ẩm ổn định quanh năm,
ba mặt giáp biển Đông nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển nên khí hậu điều hòa, mát mẻ Nhiệt độ trung bình năm từ 25 - 270 C, ít gió bão lớn, biển ấm quanh năm[12]
Vũng Tàu có hai mùa rõ rệt tuỳ thuộc vào gió, gió thổi theo hai chiều gần như ngược nhau, trừ những ngày chuyển tiếp Gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa, tốc độ gió trung bình 2 – 4m/s Gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô, tốc độ gió trung hình 3 – 5 m/s Trong mùa khô có một số ngày gió chướng (tập trung từ tháng 12 đến tháng 3, tổng cộng khoảng
30 ngày trong năm), tốc độ gió vào những ngày này có thể đạt tới 8 – 10m/s, gây ra sóng cao 3 - 4m, không thuận lợi cho tắm biển
Nhiệt độ nước biển ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 24 – 290 C, nhiệt độ tầng đáy khoảng 26,5 - 270 C Số giờ nắng trong năm dao động trong khoảng 2.370 – 2.850 giờ và phân phối đều các tháng trong năm Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (khoảng 1.500mm) và phân bố không đều theo thời gian, tạo thành hai mùa rõ rệt
Đối chiếu với bảng chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người thì khí hậu BR -VT nhìn chung mát mẻ, rất phù hợp với du lịch, đặc biệt là du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng và chơi thể thao trên biển: lưới ván, lướt ván diều, thuyền buồm…
B ảng 2.2 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người
bình năm (0
C)
Nhiệt độ TB tháng nóng
nhất (0
C)
Lượng mưa TB năm (mm)