1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp hồ chí minh

193 1,6K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục con đường nghiên cứu này trong lĩnh vực ngôn ngữ học, chúng tôi muốn thêm một tiếng nói, thêm một địa hạt, thêm một cách nhìn về hiện tượng song ngữ xã hội Việt - Hoa.. Từ giữa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguy ễn Thị Bích Ngọc

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguy ễn Thị Bích Ngọc

Chuyên ngành : Ngôn ng ữ học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS NGUY ỄN VĂN KHANG

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do cá nhân tôi thực hiện Tôi xin hoàn toàn

chịu trách nhiệm về những điều mình viết ra ở đây

Người cam đoan

Nguyễn Thị Bích Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học cao học và làm luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của

rất nhiều người Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Các thầy giáo, cô giáo của tôi, đặc biệt là GS.TS Nguyễn Văn Khang đã tận tình

chỉ dạy, hướng dẫn tôi đi đúng đường

Bạn bè, gia đình đã động viên giúp tôi bước qua những khúc đường khó

Các cộng tác viên, những người tôi gặp trong quá trình đi điều tra thực tế đã cộng tác và cho tôi những kiến thức quý báu

Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi xin được trân trọng và biết ơn những góp ý chân thành của thầy cô

Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 18 tháng 10 năm 2013

Nguyễn Thị Bích Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

M ỤC LỤC 3

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

M Ở ĐẦU 7

1 Lý do ch ọn đề tài 7

2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

3 L ịch sử vấn đề 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 9

7 C ấu trúc của luận văn 10

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN 11

1.1 Nh ững nét khái quát về hiện tượng song ngữ 11

1.1.1 Song ng ữ xã hội 11

1.1.2 Ngu ồn gốc của hiện tượng song ngữ 15

1.1.3 S ự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong xã hội song ngữ 18

1.2 C ảnh huống ngôn ngữ 22

1.2.1 Khái ni ệm cảnh huống ngôn ngữ 22

1.2.2 Nh ững nét chính về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung và ở Quận 5, TP HCM nói riêng 25

1.3 Nh ững nét khái quát về tiếng Hán và phương ngữ Hán liên quan đến đề tài nghiên c ứu 26

1.3.1 Ti ếng Hán 26

1.3.2 Phân lo ại phương ngữ Hán trong tiếng Hán hiện đại 27

1.3.3 Phương ngữ Hán trong cộng đồng người Hoa ở Quận 5, TP HCM 29

1.4 Ti ểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2: TRẠNG THÁI SONG NGỮ VIỆT – HOA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở QUẬN 5, TP HỒ CHÍ MINH 31

2.1 Khái quát v ề đặc điểm tự nhiên và xã hội Quận 5, TP HCM 31

2.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên 31

2.1.2 Đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội 32

2.2 Người Hoa ở quận 5, TP HCM 36

Trang 6

2.2.1 L ịch sử di cư và vai trò của người Hoa ở Quận 5 36

2.2.2 Phân b ố dân cư 38

2.2.3 Đời sống của người Hoa ở Quận 5, TP HCM 41

2.3 Nh ững nét cơ bản về tiếng Hoa ở Quận 5, TP HCM 44

2.3.1 Ti ếng Hoa của người Hoa ở TP HCM 44

2.3.2 Ti ếng Hoa của người Hoa ở Quận 5, TP HCM 44

2.4 Năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của người Hoa ở Quận 5, TP HCM 45

2.4.1 Gi ới hạn đối tượng khảo sát 45

2.4.2 Ý th ức tự giác tộc người và tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa ở Quận 5, TP HCM 47

2.4.3 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa 51

2.5 Ngôn ng ữ chọn dùng trong giao tiếp gia đình của người Hoa ở Quận 5, TP HCM 59

2.5.1 Ngôn ng ữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ giới tính59 2.5.2 Ngôn ng ữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ tuổi tác60 2.5.3 Ngôn ng ữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ nơi sinh62 2.5.4 Ngôn ng ữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ nơi ở 63

2.5.5 Ngôn ng ữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân, theo góc độ học vấn65 2.5.6 Ngôn ng ữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân từ góc độ nghề nghi ệp 65

2.6 Ngôn ng ữ chọn dùng trong giao tiếp với khách của người Hoa ở Quận 5, TP HCM 66

2.6.1 Ngôn ng ữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ giới tính 66

2.6.2 Ngôn ng ữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ tuổi tác 67

2.6.3 Ngôn ng ữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nơi sinh 68

2.6.4 Ngôn ng ữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nơi ở 68

2.6.5 Ngôn ng ữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ học vấn 69

2.6.6 Ngôn ng ữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nghề nghiệp70 2.7 Ngôn ng ữ được chọn dùng để thể hiện nội tâm của người Hoa ở Quận 5, TP HCM 70

2.7.1 Đặt vấn đề 70

2.7.2 Ngôn ng ữ được chọn dùng trong ghi chép riêng 71

2.7.3 Ngôn ng ữ được chọn dùng để ca hát một mình 74

2.7.4 Ngôn ng ữ được chọn dùng để cầu cúng, tế lễ 76

2.7.5 Ngôn ng ữ được chọn dùng để suy nghĩ 77

Trang 7

2.8 Ti ểu kết chương 2 78

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC TIẾNG HOA VỚI TƯ CÁCH LÀ TIẾNG MẸ ĐẺ TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở QUẬN 5, TP HỒ CHÍ MINH 80

3.1 Đặt vấn đề 80

3.2 Khái quát tình hình d ạy và học tiếng Hoa chính qui tại Quận 5, TP HCM 80

3.2.1 Trước 1975 80

3.2.2 Sau 1975 84

3.2.3 Nh ững thuận lợi, khó khăn trong việc dạy tiếng Hoa trong nhà trường ở Quận 5, TP HCM 88

3.3 Năng lực song ngữ của học sinh người Hoa 89

3.3.1 Đối tượng khảo sát 89

3.3.2 Năng lực ngôn ngữ của HS người Hoa 89

3.3.3 Nh ững khó khăn của HS người Hoa khi học tiếng Việt 92

3.4 Ý ki ến của học sinh và phụ huynh người Hoa đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường 92

3.4.1 Ý ki ến của học sinh người Hoa đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường92 3.4.2 Ý ki ến của phụ huynh người Hoa với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường 94 3.4.3 Th ực trạng giáo dục tiếng Hoa trong cộng đồng 95

3.5 Ti ểu kết chương 3 97

K ẾT LUẬN 98

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 101

PH Ụ LỤC 107

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CB – CNV Cán bộ - công nhân viên

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

1) Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc và đa ngôn ngữ Với chủ chương bình đẳng dân tộc trong đó có bình đẳng về ngôn ngữ, các ngôn ngữ ở Việt Nam có sự phân bố về chức năng: Tiếng Việt đảm nhiệm vai trò “quốc ngữ”, làm phương tiện giao tiếp chung giữa các dân tộc, làm ngôn ngữ chính trong các hoạt động bộ máy nhà nước, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong khoa học kĩ thuật, công nghệ và là ngôn ngữ chính thức trong giáo dục 53 ngôn ngữ của 53 dân

tộc ít người là ngôn ngữ giao tiếp trong nội bộ dân tộc bên cạnh tiếng Việt “Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ

phổ thông” (Quyết định 53 CP) Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước

Việt Nam đã tạo đà cho công cuộc bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa tiếng Việt; bảo

tồn và phát huy các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam Xét ở góc độ ngôn ngữ, cũng nhờ đó mà tạo nên cảnh huống đa ngữ tại các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam

2) Với tư cách là tiếng mẹ đẻ của dân tộc Hoa, tiếng Hoa ở Việt Nam được bảo

tồn và phát huy, trở thành công cụ giao tiếp của người Hoa bên cạnh tiếng Việt Vì

thế, trạng thái song ngữ Việt – Hoa là không thể tránh khỏi trong cộng đồng người Hoa Theo đó, những hệ quả của trạng thái song ngữ này là tất yếu Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này

3) Luận văn này, chúng tôi chọn Quận 5 của TP Hồ Chí Minh, nơi cộng đồng người Hoa sinh sống tập trung (chiếm tới 41,42% số dân của quận) làm đối tượng

khảo sát: “Những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ Việt -

Hoa tại quận 5, TP Hồ Chí Minh”

2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

M ục đích: Thông qua khảo sát cảnh huống song ngữ Việt – Hoa ở Quận

5-TP.HCM, chúng tôi muốn góp phần nghiên cứu trạng thái song ngữ xã hội của người Hoa ở Việt Nam, như sự phân bố chức năng giữa tiếng Việt với tiếng Hoa; góp phần vào nghiên cứu trạng thái đa ngữ xã hội của ngôn ngữ học xã hội

Nhi ệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

sau:

- Hệ thống hóa kiến thức về lí luận liên quan đến đề tài

- Khảo sát đặc điểm về trạng thái song ngữ Hoa - Việt của người Hoa trong giao tiếp

- Khảo sát đặc điểm về dạy học tiếng Hoa với tư cách là tiếng mẹ đẻ

3 L ịch sử vấn đề

Đề tài người Hoa ở miền Nam Việt Nam nói chung và người Hoa ở Chợ Lớn nói riêng đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước ở nhiều khía cạnh khác nhau Trước 1975 có thể kể đến một số công trình sau:

Th ế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ của Đào Trinh Nhất, xuất bản

năm 1924 Tác phẩm này đã khái quát quá trình di dân của người Hoa và vai trò của

họ trong việc phát triển kinh tế miền Nam

Người Hoa ở miền Nam Việt Nam của Tsai Maw Kuey (1965), luận án tiến sĩ

Đại học Sorbonne - Pháp Trong luận án này, tác giả mô tả khá toàn diện về đời sống

xã hội người Hoa ở nhiều mặt: lịch sử di cư, sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội của người Hoa ở miền Nam Việt Nam; đặc biệt tác giả nhấn mạnh hoạt động kinh tế cũng như vị trí kinh tế của người Hoa ở miền Nam Việt Nam

Sau 1975, đặc biệt là từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề người

Hoa càng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Với Các nhóm cộng đồng người Hoa

ở Việt Nam, tác giả Châu Hải đã giới thiệu những nét chính về quá trình di cư của

người Hoa đến Việt Nam, các hình thức liên kết, sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội

của người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Á

Tuy đề tài người Hoa ở miền Nam Việt Nam được khá nhiều học giả quan tâm nhưng các tác giả chủ yếu nghiên cứu khía cạnh đời sống văn hóa xã hội Mãi tới

năm 1994, trong cuốn Xã hội người Hoa ở TP HCM sau năm 1975, Mạc Đường

mới nhắc vài nét sơ lược tình hình giáo dục của người Hoa

Thời gian gần đây cũng có nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ ở các trường Đại học

Sư phạm TP.HCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, Học viện Ngôn

ngữ… lấy đề tài nghiên cứu liên quan đến người Hoa nhưng chỉ có một luận án

Trang 11

ngữ tại An Giang (Trên cứ liệu song ngữ Việt - Hoa) cùa Hoàng Quốc Tiếp tục con

đường nghiên cứu này trong lĩnh vực ngôn ngữ học, chúng tôi muốn thêm một tiếng nói, thêm một địa hạt, thêm một cách nhìn về hiện tượng song ngữ xã hội Việt - Hoa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của luận văn là những người Hoa sống tại Quận 5, TP HCM Hiện nay Quận 5 có 15 phường được đánh theo thứ tự từ 1 đến 15 theo hướng

từ Đông sang Tây, diện tích 4.14 km², dân số 174.154 người (trong đó có 72.142 người Hoa) Chúng tôi tiến hành khảo sát ở một số khu phố, con hẻm ở từng phường nhưng đặc biệt quan tâm phường 6, 7, 11, 13, 14, 15 vì đây là những phường có đông người Hoa sinh sống

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội bằng anket kết

hợp với quan sát và phỏng vấn sâu; phương pháp quy nạp trong nghiên cứu, hệ thống hóa vấn đề; phương pháp phân tích định lượng, có sử dụng phần mềm quản lý dữ liệu

và thống kê SPSS (Statistic Package for Social Science) trong xử lí số liệu; phương pháp đối chiếu và thống kê Bên cạnh đó chúng tôi cũng sử dụng các thủ pháp thu

thập, phân tích tư liệu mà ngôn ngữ học truyền thống thường sử dụng

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lí luận

Luận văn nghiên cứu trạng thái song ngữ Việt – Hoa ở Quận 5 , TPHCM

nhằm mục đích góp thêm một thực tế nghiên cứu hiện tượng song ngữ xã hội từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội Từ đó thêm một tiếng nói làm sáng tỏ những khái

niệm của ngôn ngữ học xã hội như cảnh huống ngôn ngữ, vấn đề giao tiếp trong xã

hội song ngữ, tiếp xúc ngôn ngữ, vay mượn ngôn ngữ Bên cạnh đó luận văn cũng mong góp một phần nhỏ giúp những nhà quản lí hoạch định chính sách ngôn ngữ, định hướng giáo dục song ngữ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn trước tiên là để giúp giáo viên giảng dạy tiếng

Việt ở phổ thông có đối tượng là học sinh người Hoa, hiểu rõ cảnh huống ngôn ngữ,

Trang 12

đặc điểm nói năng, thái độ ngôn ngữ của học sinh và phụ huynh người Hoa Từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy, nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh người Hoa Mặt khác, kết quả nghiên cứu này còn giúp những nhà quản lý giáo dục, lãnh đạo Quận Ủy Quận 5, TP HCM có cái nhìn đầy đủ hơn về tình hình tiếng nói,

chữ viết của người Hoa ở trên địa bàn Trên cơ sở đó những người có trách nhiệm đưa ra những chính sách bảo tồn tiếng nói dân tộc, xem xét đầu tư cho giáo dục song

ngữ một cách phù hợp

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Trình bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu của luận văn Bên cạnh

đó giới thiệu những nét khái quát về tiếng Hán, phương ngữ Hán liên quan đến người Hoa ở Việt Nam

Chương 2: Trạng thái song ngữ Việt - Hoa của cộng đồng người Hoa ở Quận 5 - TP HCM

Giới thiệu khái quát về cộng đồng người Hoa ở quận Quận 5, TP HCM Đánh giá năng lực, thái độ lựa chọn ngôn ngữ của người Hoa trên cơ sở khảo sát đặc điểm giao tiếp bằng phiếu điều tra

Chương 3: Tình hình giáo dục tiếng Hoa với tư cách là tiếng mẹ đẻ tại cộng đồng người Hoa ở Quận 5 - TP HCM

Lịch sử giáo dục tiếng Hoa của người Hoa ở Quận 5, TP HCM Năng lực ngôn

ngữ của học sinh, thái độ ngôn ngữ của học sinh trong nhà trường

Trang 13

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Nh ững nét khái quát về hiện tượng song ngữ

1.1.1 Song ng ữ xã hội

Xã hội ngày càng phát triển, vách ngăn khoảng cách địa lý ngày càng mờ nhạt,

thế giới ngày càng tương thông Thấu hiểu ngôn ngữ cũng là một trong những lý do khiến cho người ở quốc gia, dân tộc này gần gũi hơn với người ở quốc gia, dân tộc khác Từ giữa thế kỷ XX trở về trước, ngôn ngữ học truyền thống gọi hiện tượng một

người, một cá nhân ngoài biết tiếng mẹ đẻ còn biết thêm một thứ tiếng của dân tộc

hay quốc gia khác là người song ngữ Vậy nên khái niệm song ngữ xã hội vừa dùng

để chỉ hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ của người song ngữ vừa dùng để

chỉ hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ để giao tiếp trong xã hội Cuối thế

kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, cục diện chính trị thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, cộng thêm sự ra đời của Internet nên một người ở quốc gia, dân tộc này dễ dàng học, sử dụng ngôn ngữ của một quốc gia dân tộc khác Theo thời gian, số người không chỉ biết thêm một mà nhiều ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ ngày càng tăng Từ đó nảy sinh khái niệm “đa ngữ” và “người đa ngữ” Tuy nhiên theo Nguyễn Văn Khang [40, tr.113] ngay cả trước kia, khi sử dụng thuật ngữ “song ngữ” cũng đã bao hàm cả “đa ngữ” trong đó Trong luận văn này chúng tôi chọn cách gọi “song

ngữ” và song không chỉ có nghĩa là hai mà có thể là hơn hai

Như trên vừa trình bày thì ba khái niệm tiếng mẹ đẻ, người song ngữ và hiện

tượng song ngữ có liên quan mật thiết với nhau

Bao giờ cũng vậy khi nói đến hiện tượng song ngữ luôn luôn có một ngôn ngữ được coi là “ngôn ngữ thứ nhất” Nói đến ngôn ngữ thứ nhất, người ta thường nghĩ ngay đến tiếng nói đầu tiên, tiếng của cha mẹ nói khi sinh ra con Đương nhiên

Tiếng mẹ đẻ được dùng để chỉ tiếng của cha mẹ, tiếng của dân tộc Nếu hiểu như vậy

chúng ta thử giả dụ: anh A người Hoa lấy chị B là người Việt, con họ sinh ra ở Quận

5, TPHCM chỉ biết nói tiếng Việt mà không biết nói tiếng Hoa Sau đó gia đình chuyển đến Mỹ sinh sống, đứa bé đi học trường Mỹ nói tiếng Anh Mỹ quên dần tiếng

Việt Vậy tiếng mẹ đẻ của đứa trẻ là tiếng gì?

Trang 14

Theo định nghĩa rộng thì bất cứ thứ tiếng nào mà không có truyền thống chữ

viết thì đều được coi máy móc là phương ngữ của một ngôn ngữ địa phương và đứa

trẻ mà nói thứ ngôn ngữ địa phương nhóm nhỏ chưa có chữ viết đó lập tức sẽ được coi là tiếng mẹ đẻ của nó (cho dù đứa trẻ ấy không biết nhiều lắm về ngôn ngữ

này)

Theo định nghĩa hẹp, tiếng mẹ đẻ là tiếng nói dùng trong gia đình (bất kể

trình độ phát triển của thứ tiếng ấy như thế nào) Đây là cách nhìn nhận tiếng mẹ đẻ

từ tình hình ngôn ngữ ở Ấn Độ Ấn Độ là quốc gia có tới 200 ngôn ngữ được xếp loại (còn thực tế có khoảng 1625 ngôn ngữ và phưong ngữ) Ấn Độ lại là một quốc gia có

lập trường đa nguyên về giáo dục song ngữ vì thế cần phải có một khái niệm mang tính thực tế về tiếng mẹ đẻ

Từ một cách nhìn nhận khác, U Weinreich cho rằng, nhóm người nói tiếng mẹ

đẻ là nhóm người trong điều kiện song ngữ chỉ học được một trong các ngôn ngữ là ngôn ngữ thứ nhất

Theo A Martinet, nếu chỉ lấy cảm giác để gán cho một ngôn ngữ nào đó là ngôn ngữ thứ nhất thì đó là một việc làm không hợp chuẩn, vì các cảm giác này không ổn định theo thời gian Có thể, khi người ta còn bé thì họ cho ngôn ngữ này là ngôn ngữ thứ nhất, nhưng khi lớn lên, do hàng loạt các nhân tố xã hội trong đó chủ

yếu là môi trường ngôn ngữ, người ta lại có thể cho ngôn ngữ khác là ngôn ngữ thứ

nhất Từ đó A.martinet đi đến kết luận, cần kiên quyết gạt bỏ quan điểm cho rằng,

khái niệm tiếng mẹ đẻ được bảo tồn ở vị trí thống trị của một con người từ thời thơ ấu cho đến lúc chết

Một số nhà nghiên cứu khác như V.Page lại cho rằng, trong xã hội đa ngữ mà

một người từ lúc biết đến hai hoặc hơn hai ngôn ngữ thì khái niệm tiếng mẹ đẻ chỉ có giá trị tương đối không ổn định Vì: Một là việc xác định tiếng mẹ đẻ sẽ dựa trên cảm giác của người nói, hai là coi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất thì tiếng mẹ đẻ được

học trước tiên so với các tiếng khác

Nhiều khi tiếng mẹ đẻ còn phụ thuộc vào nhóm, tộc người nhất định, tức là liên quan đến ý thức tộc người, đó là ý thức tự xưng, tự nhận dân tộc, và cũng vậy, đó là ý

thức tự nhận tiếng mẹ đẻ [40, tr.118-119]

Trang 15

Với một hiện tượng, một khái niệm tưởng như đơn giản, nhưng ở trong xã hội song ngữ, con người phải di chuyển, thay đổi môi trường sống, thay đổi ngôn ngữ,

hội nhập thế giới nên theo thời gian việc xác định tiếng mẹ đẻ cho thế hệ sau (thế hệ

tiếp theo) là điều không hề đơn giản Chính vì vậy tổ chức giáo dục và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) khi xem xét vấn đề giáo dục bằng bản ngữ đã đưa ra khái

niệm tiếng mẹ đẻ:

Tiếng mẹ đẻ “là ngôn ngữ mà con người được học trong những năm đầu của

đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên” “Tiếng mẹ

đẻ không cần phải là thứ tiếng mà cha, mẹ đứa bé dùng cũng không cần phải là ngôn

ngữ ngẫu nhiên mà đứa trẻ học để nói, bởi vì có những hoàn cảnh đặc biệt làm cho nó vào một tuổi rất sớm đã bỏ một phần hay bỏ hoàn toàn ngôn ngữ đó” (UNESCO 1968) Với định nghĩa này thì chúng ta đã có thể tìm được câu trả lời cho trường hợp

giả dụ ở trên Ngoài ra, UNESCO cũng đưa ra khái niệm Tiếng bản xứ và Người

không có tiếng mẹ đẻ để nói rõ hơn một số vấn đề liên quan đến tiếng mẹ đẻ

Ti ếng bản xứ (Vernacular - cách gọi khác là thổ ngữ): “Đó là tiếng mẹ đẻ của

một nhóm bị một nhóm khác nói một thứ tiếng khác thống trị về xã hội hay chính trị Chúng tôi không coi ngôn ngữ của một nhóm thiểu số trong một nước là bản ngữ nếu

đó là ngôn ngữ chính thức của nước khác” (UNESCO 1968)

SWONAL (speakers without a native language; người không có tiếng mẹ đẻ)

Năng lực ngôn ngữ chủ yếu của người không có tiếng mẹ đẻ không phải là ở tiếng mẹ

đẻ của họ cũng không phải ở ngôn ngữ thứ hai mà họ học được mà là ở ngôn ngữ trung gian Người không có tiếng mẹ đẻ thường sống ở xã hội mà ngôn ngữ thứ hai

của họ đang thịnh hành trong giao tiếp Ví dụ, đối với hậu duệ của người Hoa ở Bắc

Mĩ thì ngôn ngữ thứ nhất của họ là tiếng Hán nhưng hầu như không có ai biết tiếng Hán mà chỉ biết tiếng Anh theo kiểu pha trộn

N gười song ngữ là nhân tố trung tâm của hiện tượng song ngữ xã hội Người

song ngữ là người ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết và có thể sử dụng một hoặc nhiều ngôn

ngữ khác trong quá trình giao tiếp Làm sao để đánh giá mức độ “biết” của “người song ngữ”?

Quan điểm thứ nhất, các nhà ngôn ngữ học Mỹ cho rằng, song ngữ là việc nắm

Trang 16

như nhau hai ngôn ngữ Theo Fishman, J.A (1966), song ngữ là phản ánh sự biết nói năng trong giao tiếp nhờ vào phương tiện của hơn một ngôn ngữ Khi năng lực ngôn

ngữ của cá nhân sử dụng ngôn ngữ thứ hai (gồm một hay hơn một ngôn ngữ) đạt đến trình độ thuần thục (co-ordinated) thì được coi là người song ngữ hoàn toàn Thuần

thục có nghĩa là khả năng nắm bắt một cách chủ động, tự do như nhau hai ngôn ngữ đến mức có thể tư duy trực tiếp bằng từng ngôn ngữ mà không cần tư duy chuyển

d ịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác [40, tr.115] Đạt đến trình độ như vậy, thì

các cá nhân song ngữ có thể sử dụng các ngôn ngữ một cách tự nhiên tùy vào bối

cảnh giao tiếp cụ thể mà không cảm thấy có sự chênh lệch về khả năng sử dụng giữa các ngôn ngữ có nghĩa là không cần phải trải qua khâu dịch lại trong giao tiếp hoặc trong tư duy Trên thực tế không nhiều người có khả năng nắm vững một cách hoàn

hảo hai ngôn ngữ Với tiêu chí này thì người song ngữ hoàn toàn rất ít Theo Holmogrob A.I (1972), ở Liên Xô (cũ) trước đây số người có năng lực song ngữ như

vậy chỉ chiếm khoảng 2 đến 5% Theo Gai Xing Zhi (1997) - giáo sư ở Học viện Dân

tộc Vân Nam –Trung Quốc, chỉ có những trẻ em ngay từ khi sinh ra ở môi trường song ngữ thì mới hy vọng là người song ngữ hòan toàn [40.tr 116] Trẻ em người Hoa

ở Quận 5 TPHCM có hoàn cảnh song ngữ khá thuận lợi để trở thành người song ngữ hoàn toàn nhưng thực tế điều tra cho thấy không nhiều trẻ em và người lớn có năng

lực song ngữ đạt đến mức thuần thục Vậy nên cách đánh giá trên chỉ là một cái nhìn mang tính lý tưởng hóa, những cá nhân có năng lực sử dụng thuần thục hai ngôn ngữ được coi là “người song ngữ lý tưởng”

Nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí “thuần thục” thì chúng ta sẽ bỏ qua nhiều hiện tượng đa ngữ mang tính phổ biến trên thế giới Trên thực tế, có rất nhiều người song

ngữ trừ ngôn ngữ thứ nhất được coi là “có kỹ năng tự phát”, đối với các ngôn ngữ còn lại chỉ cần hiểu biết và nắm vững ở một trình độ nhất định ở mức độ hạn định (Osgood,1965) Như vậy yêu cầu đối với người song ngữ là ngoài tiếng mẹ đẻ thì các ngôn ngữ khác phải đạt đến mức độ sử dụng để giao tiếp được trong lĩnh vực mà mình quan tâm Kiểu người song ngữ này được gọi là người song ngữ không hoàn

toàn (người song ngữ bộ phận, người song ngữ có điều kiện) So với người song ngữ hoàn toàn, năng lực hay trình độ song ngữ của người song ngữ không hoàn toàn ở

Trang 17

mức độ thấp hơn nhiều, nhưng nó lại chính là hiện tượng song ngữ phổ biến Ví dụ, trong những trẻ song ngữ ở Quận 5, TP HCM, có trẻ khi ở nhà vừa dùng tiếng Việt

vừa dùng tiếng Hoa phương ngữ để nói chuyện với người trong gia đình, khi đến trường thì hoàn toàn dùng tiếng Việt để trao đổi với thầy cô, bạn bè Kết quả những

trẻ em này không biết chữ Hoa mà chỉ có khả năng giao tiếp nói bằng tiếng Hoa phương ngữ khi có điều kiện hoàn cảnh phù hợp Chính vì thế năng lực tiếng Việt của các em trội hơn hẳn so với năng lực tiếng Hoa Một số phụ nữ người Hoa ở Quận 5,

TP HCM thuộc lứa tuổi từ 50 tuổi đến 80 làm nghề nội trợ hoặc buôn bán nhỏ lẻ thì ngược lại, họ nói tiếng Hoa phương ngữ khi ở nhà, khi ra đường, và cả khi buôn bán

Họ chỉ dùng tiếng Việt khi khách hàng là người Việt nên khả năng nói và viết tiếng

Việt rất hạn chế

Ngôn ngữ học xã hội nhìn nhận hiện tượng song ngữ không chỉ ở cá nhân song ngữ mà quan trọng hơn đó là cộng đồng song ngữ Trong xã hội có nhiều cá nhân song ngữ, khi họ tiến hành giao tiếp với nhau thì hình thành nên xã hội song

ngữ, và ngược lại xã hội song ngữ cũng chỉ có thể hình thành và tồn tại khi có các cá nhân song ngữ tương tác với nhau Vậy nên song ngữ xã hội chính là hiện tượng trong một xã hội sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ để giao tiếp Nói cách khác, đó

là hiện tượng các ngôn ngữ cùng hành chức trong một xã hội [40, tr.114] Khái niệm

“xã hội” trong ngôn ngữ học xã hội là một khái niệm rộng Xã hội có thể là cả một

thế giới, một khu vực, một quốc gia, một dân tộc nhưng có khi nó lại chỉ bó gọn trong

một phạm vi hẹp hơn nhiều với ý nghĩa khác nhau như xã hội - nghề nghiệp, xã hội –

giới… Ví dụ: xã hội song ngữ ở Quận 5 hiện nay rất phong phú nhưng tựu trung và

dễ thấy nhất là trạng thái song ngữ giữa tiếng Hoa phương ngữ và tiếng Việt; tiếng Hoa phương ngữ và tiếng Hoa phổ thông Vì vậy trong đa số cuộc họp mặt của người Hoa đều được tiến hành bằng ba ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Hoa phương ngữ

và tiếng Hoa phổ thông

1.1.2 Ngu ồn gốc của hiện tượng song ngữ

Có quá nhiều nhân tố mà người nghiên cứu phải nghĩ đến khi truy tìm nguồn

gốc của hiện tượng song ngữ xã hội Thực tế, song ngữ là kết quả của sự tương tác qua lại của nhiều nhân tố xã hội Nổi bật là một số nhân tố sau:

Trang 18

1.1.2.1 Song ng ữ do di dân

Cuối thế kỷ thứ XVII, Trần Thượng Xuyên cùng binh lính đến xin tị nạn chính

trị ở Việt Nam liền được Chúa Nguyễn đưa đến Cù Lao Phố Trước lúc này ở đây đã

có người Việt từ miền Trung vào sinh sống, rồi sau còn có người Chăm, người

Khơ-me qua lại trao đổi hàng hóa Để việc trao đổi được thuận lợi bắt buộc hai bên phải

học ngôn ngữ của nhau Lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận nhiều đợt di dân của người

Việt ra nước ngoài Năm 1937 ở Cao Miên có 191.000 người Việt Nam, giai đoạn 1975- 1995 cũng có hàng trăm nghìn người Việt Nam nhập cư vào Mỹ, hiện nay trung bình mỗi năm từ Việt Nam có khoảng 80.000 người đi hợp tác lao động, 60.000

du học sinh và hàng chục ngàn người kết hôn với người nước ngoài… Dù di dân vì

bất cứ lí do gì, học hành, hôn nhân, chính trị, kinh tế hay chiến tranh thì người di dân

vẫn luôn sống trong môi trường song ngữ giữa tiếng dân tộc mình và tiếng của nước

sở tại Cho nên, tình trạng di dân là một nguyên nhân quan trọng hàng đầu dẫn đến

hiện tượng song ngữ

Các nhóm người Hoa đến Việt Nam rồi ở lại sống xen với người Việt, không riêng gì Quận 5 mà cả TP HCM, phường nào, khu phố nào cũng có người Hoa Trong quá trình sinh sống chung không chỉ người Hoa học tiếng Việt mà cả người

Việt cũng học tiếng Hoa phương ngữ Theo số liệu thống kê dân số năm 2009, thành

phần dân tộc ở TP HCM và nhiều thành phố lớn khác trên cả nước có đủ 54 dân tộc anh em và rất đông người nước ngoài cùng cư trú(bảng 1.1) Chính đặc điểm này làm cho trạng thái song ngữ ở Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng trở nên đa dạng và

phức tạp

Trang 19

Bảng 1.1 Thống kê thành phần dân tộc ở TP HCM năm 2009

Đầu thế kỷ XX, Liên Xô là cánh chim đầu đàn của Chủ nghĩa Cộng sản, là một

siêu cường quốc có ảnh hưởng lớn trên thế giới Vì vậy nửa thế giới, trong đó có Việt

Nam chọn tiếng Nga là ngoại ngữ dạy trong nhà trường, đặc điểm này tạo nên trạng

Trang 20

thái song ngữ tiếng dân tộc và tiếng Nga Năm 1991, Liên Xô tan rã, Việt Nam kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nhưng nhận thức rõ thời kỳ quá độ với

những cơ hội và thách thức mới Việt Nam ra nhập WTO đồng nghĩa với hội nhập thế

giới, đa số nhà trường Việt Nam chuyển môn ngọai ngữ từ tiếng Nga sang tiếng Anh,

trạng thái song ngữ mới giữa tiếng Việt và tiếng Anh được hình thành Thế kỷ XVII

ở Trung Hoa vì lí do thay vua đổi chủ đã tạo ra làn sóng người Trung Hoa bỏ quê hương di cư đến các nước Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) Từ đó tạo ra trạng thái song ngữ của tiếng nước sở tại với tiếng dân tộc của những người mới đến Hai

ví dụ trên đã chứng minh chính trị cũng là một nguyên nhân có tác động đến hiện tượng song ngữ xã hội

1.1.2.3 Song ng ữ do giáo dục song ngữ

Học sinh người Hoa ở Quận 5, TP HCM bên cạnh chương trình chính khóa

bằng tiếng Việt còn được học tăng cường thêm tiếng Hoa để bảo tồn và phát huy

tiếng dân tộc thiểu số Nguyên nhân này tạo nên trạng thái song ngữ Hoa - Việt Hơn

thế nữa tiếng Anh với vai trò là ngôn ngữ quốc tế có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, chình trị đương nhiên sẽ trở thành một ngoại ngữ chính thức được chọn dạy trong trường phổ thông Từ đây sẽ tạo thành trạng thái song ngữ giữa tiếng Anh với

tiếng Việt, tiếng Anh với tiếng Hoa hoặc tiếng Anh với tiếng các dân tộc thiểu số khác Chính chính sách giáo dục song ngữ trong nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trạng thái song ngữ

1.1.3 S ự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong xã hội song ngữ

1.1.3.1 Ti ếp xúc ngôn ngữ

Theo ngôn ngữ học truyền thống, ngôn ngữ tồn tại trong bộ não của con người,

do đó khi hai hoặc hơn hai ngôn ngữ cùng tồn tại trong bộ não của một con người sẽ

tạo ra tiếp xúc

Tiếp xúc ngôn ngữ trước hết xảy ra ở một số cá nhân đơn lẻ với tư cách là thành viên cộng đồng Kết quả của sự tiếp xúc này sẽ được các thành viên xã hội đa

ngữ mở rộng ra toàn xã hội Như vậy sự nảy sinh tiếp xúc ngôn ngữ được hình thành

từ việc học thêm một thứ tiếng khác Ví dụ tiếp xúc giữa tiếng Hoa phương ngữ ở

Trang 21

miền Nam Việt Nam và tiếng Việt đã tạo ra những âm tiếng Việt mô phỏng tiếng Hoa phương ngữ như: Đậu hũ ki (món ăn chay làm từ đậu nành - mô phỏng tiếng Hẹ), Hủ

tiếu (bánh làm từ gạo dạng sợi vuông nhỏ dài dùng để ăn với nước súp - mô phỏng

tiếng Tiều), xí quách (xương heo đã ninh lấy nước súp - mô phỏng từ tiếng Quảng Đông)

Ngôn ngữ học xã hội xem xét ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của cả cộng đồng

và cá nhân là một thành viên trong đó “Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng các ngôn

ngữ cùng tồn tại trong một cộng đồng với các thành viên sử dụng chúng trong giao

tiếp và do đó giữa chúng có ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra các hệ quả về ngôn ngữ” [40, tr.146]

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng phổ

biến Trước hết, hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ thể hiện ở cá nhân người học ngôn ngữ

mới, với bất cứ người nào trong thời kỳ đầu học ngoại ngữ sẽ chịu ảnh hưởng của cách phát âm và ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ Ví dụ, người Việt khi mới học tiếng Anh thường dùng phụ âm /t’/, /d/ trong tiếng Việt thay cho phụ âm /θ/ Khi người học ngoại ngữ đã đạt đến một trình độ nhất định sẽ xảy ra hiện tượng tiếp xúc về mặt ứng

dụng đó là hiện tượng chuyển mã hay trộn mã trong giao tiếp

Ví dụ, Ngày nay trong các cuộc trò chuyện của người Việt chúng ta rất dễ gặp nhưng câu nói như:

- Em book vé 8g sáng mai cho anh rồi đó (book - đặt)

- Ok, thanks em (ok - ừ, thanks - cảm ơn)

- Tối nay anh có đi gặp ông Trần không?

- Chết, tí anh quên, em gọi điện cancel giúp anh nhé (cancel - hủy )

(ảnh hưởng về khẩu ngữ)

Hoặc :

- Nỉ đi một mình đi, ngổ về (ảnh hưởng về khẩu ngữ)

Chính hệ quả của hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ này trong cộng đồng ngôn ngữ

của người Hoa ở Quận 5, TP HCM đã làm cho trạng thái song ngữ ở đây rất phức tạp

Khi nói đến hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ, người ta hay bàn đến hướng ảnh hưởng,

tức là ngôn ngữ nào sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ nào, hay nói cách khác là “hướng tác

Trang 22

động” giữa các ngôn ngữ Về lý thuyết khi hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì sự ảnh hưởng thường xảy ra ở cả hai chiều , có chiều đi có chiều lại, có chiều mạnh, có chiều

yếu, hai bên tương hỗ, tác động đến nhau

M ột là dựa trên nhân tố xã hội, nghĩa là nói đến tính cộng đồng xã hội khi hai

dân tộc nói hai ngôn ngữ khác nhau mà có tiếp xúc với nhau thì xu hướng chung là:

- Ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị thấp hơn

- Ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn

ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa thấp hơn (thường qua các kênh giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn học…)

- Ngôn ngữ có số lượng người nói đông hơn sẽ ảnh hưởng tới ngôn ngữ có số lượng người nói ít hơn [40,tr.148]

Hai là dựa trên nhân tố ngôn ngữ nghĩa là nói đến bản thân ngôn ngữ cũng đóng vai trò quyết định hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ:

- Hai ngôn ngữ có quan hệ gần gũi hoặc cùng, gần nhau về loại hình thì quá trình ảnh hưởng, vay mượn diễn ra dễ dàng hơn Ví dụ tiếng Việt ảnh hưởng sâu sắc

và vay mượn một số lớn những từ tiếng Hán vì tiếng Việt và tiếng Hán cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập

- Ngôn ngữ có chữ viết ảnh hưởng ngôn ngữ không hoặc chưa có chữ viết Ví

dụ, trong một ngàn năm Bắc thuộc, tiếng Việt là ngôn ngữ chưa có chữ viết, đã mượn văn tự Hán, vì vậy tiếng Việt đã mượn rất nhiều từ từ tiếng Hán

Tiếp xúc ngôn ngữ không chỉ diễn ra thông qua con đường tiếp xúc thường xuyên giữa các thành viên của các cộng đồng nói các ngôn ngữ khác nhau (ảnh hưởng khẩu ngữ) mà còn xảy ra và ảnh hưởng sâu sắc từ sách vở, phim ảnh… Ví dụ thông qua những bản dịch sách cổ Trung Hoa, phim cổ trang người Việt hay mượn

những từ như: tướng quân, thê tử, huynh, đệ, tỷ, muội…

1.1.3.2 Giao thoa ngôn ng ữ

Hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ là rất lớn, biểu hiện ở nhiều mặt và nhiều

mức độ khác nhau, giao thoa ngôn ngữ cũng là một trong những hệ quả của sự tiếp

Trang 23

Giao thoa (interference) vốn là thuật ngữ vật lí học “chỉ hiện tượng hai hay nhiều sóng cùng tần số làm tăng cường hay làm suy yếu lẫn nhau khi gặp nhau tại cùng một điểm” [40, tr.171] Ngôn ngữ học dùng thuật ngữ này để chỉ hai hay hơn hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau ở các cá thể hay cộng đồng thì hệ thống ngôn ngữ này

sẽ chịu ảnh hưởng của hệ thống ngôn ngữ khác tạo nên sự lan tỏa, tiếp biến và chuyển thành các hiện tượng như mô phỏng hay vay mượn

Giao thoa ở cá nhân người song ngữ tạo ra những hiện tượng lệch chuẩn hay còn gọi là lỗi, trường hợp dễ thấy nhất là hiện tượng lệch chuẩn của ngôn ngữ thứ hai dưới sự tác động của tiếng mẹ đẻ, (cũng có khi là sự lệch chuẩn của tiếng mẹ đẻ dưới

sự tác động của ngôn ngữ thứ hai-nhưng hiện tượng này ít hơn) Sự lệch chuẩn này

diễn ra ở cả bình diện cấu trúc hệ thống, bình diện giao tiếp và bình diện ngôn ngữ văn hóa

- Ở cấp độ ngữ âm, những người Hoa lớn tuổi, không thạo tiếng Việt, khi nói thường thay tất cả trợ từ cuối câu “đây”, “rồi”, “hả”, “à”, “nhé”, “nha”… bằng “a”

hoặc “à” và âm “a”, “à” thường được kéo dài

phần chính đứng trước thành phần phụ đứng sau nên nhiều người Hoa (không riêng

gì người Hoa ở Quận 5, TP HCM) vẫn nhầm lẫn khi đặt câu

Ví dụ:

+ Một người Hoa mua đồ ăn ở chợ Hòa Bình (Quận 5) hỏi giá hột vịt bắc thảo :

“Ti ền bao nhiêu một bắc thảo hột vịt?”(Có nghĩa là: Bao nhiêu tiền một hột vịt bắc

th ảo?

+ Hoặc khi chúng tôi hỏi: “Nam, nữ người Hoa ở các nhóm ngôn ngữ khác nhau, hoặc nam, nữ người Hoa và người Việt có kết hôn với nhau không? Một vị cao niên người Hải Nam trả lời như sau: “19 thế kỷ thì không chứ 20 thế kỷ thì có nhiều,

Trang 24

chẳng phân biệt gì nữa” (Nghĩa là: ở thế kỷ 19 thì không chứ thế kỷ 20 thì có nhiều,

chẳng phân biệt gì nữa.)

Tóm lại, chỉ khi trong một môi trường giao tiếp có sự hành chức của hai ngôn

ngữ trở lên mới xảy ra hiện tượng giao thoa, nói cách khác không có môi trường song

ngữ thì không có giao thoa

1.1.3.3 Vay mượn ngôn ngữ

Vay mượn ngôn ngữ là hệ quả tất yếu của sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Lịch

sử hơn một ngàn năm Bắc thuộc cộng thêm đặc điểm địa lí tiếp giáp đã làm cho tiếng

Việt và tiếng Hán có sự tiếp xúc lâu dài Vì vậy mà hơn 65% từ mượn trong tiếng

Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán Hệ quả của gần 100 năm tiếp xúc giữa tiếng Việt và

tiếng Pháp là khoảng 3000 từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Pháp Vay mượn ngôn

ngữ là quá trính du nhập của các yếu tố từ ngôn ngữ cho vay sang ngôn ngữ đi vay

Từ “vay mượn” trong đời sống hàng ngày dùng với nghĩa thiếu nên vay, mượn để dùng tạm, sau đó có thì phải trả lại Trong ngôn ngữ thì không hoàn toàn như vậy, có lúc thiếu thì vay, sau đó có rồi vẫn không trả lại mà dùng cả hai Người Việt thường

gọi tên những máy móc, hoặc bộ phận máy móc hiện đại nhập từ nước ngoài bằng cách phiên âm, phỏng âm tiếng nước ngoài sau đó mới tạo ra từ mới Lúc này cả hai

hoặc ba từ cùng gọi tên một sự vật vẫn được phép cùng tồn tại Ví dụ: khi chiếc vô tuyến lần đầu xuất hiện ở Việt Nam, tiếng Việt chưa có từ để gọi nên phải mượn từ

gốc tiếng Anh /television/ theo dạng phỏng âm là /ti vi/, sau đó xuất hiện các từ mới

tạo ra trong tiếng Việt để gọi tên đồ vật này là vô tuyến, hoặc máy thu hình Sau đó cả

ba từ trên cùng tồn tại Trường hợp thứ hai, có rồi nhưng vẫn vay, ví dụ: đàn bà/phụ

nữ, đẻ/sinh, chết/hi sinh/từ trần…Theo Nguyễn Văn Khang (2007) “chính hình thức vay mượn này đã làm nên sự phân hóa về ngữ nghĩa của cả từ vay mượn và các từ đồng nghĩa với chúng trong bản ngữ”[39,tr.25] Tóm lại vay mượn ngôn ngữ là một

hiện tượng rất phổ biến, lớp từ vay mượn có mặt ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới

1.2 C ảnh huống ngôn ngữ

1.2.1 Khái ni ệm cảnh huống ngôn ngữ

Trang 25

Nghiên cứu hiện tượng song ngữ trên bình diện ngôn ngữ xã hội thực chất là

khảo sát sự phân bố về mặt chức năng xã hội giữa các ngôn ngữ trong xã hội song

ngữ Để làm được điều này trước tiên cần phải nắm được cảnh huống ngôn ngữ

C ảnh huống ngôn ngữ (Language sitiuation) là tình hình tồn tại và hành chức của

các ngôn ngữ trong phạm vi cộng đồng hay lãnh thổ [40, tr.58] Cảnh huống ngôn

ngữ có thể chỉ giới hạn trong phạm vi của một ngôn ngữ hay một biến thể của ngôn

ngữ (phương ngữ địa lý hay phương ngữ xã hội), cũng có thể là của nhiều phương

ngữ hay nhiều biến thể

Cùng với mục tiêu chính trị, cảnh huống ngôn ngữ là cơ sở quan trọng cho việc

hoạch định và thực hiện chính sách ngôn ngữ Nói cách khác thông qua nghiên cứu ngôn ngữ sẽ có được các thông số cần thiết làm cơ sở khoa học để giải quyết các vấn

đề ngôn ngữ của quốc gia, dân tộc như các vấn đề về chính sách ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ…

Có nhiều tiêu chí từ nhiều góc độ khác nhau để xác định cảnh huống ngôn ngữ trong đó tiêu biểu là ba tiêu chí sau:

M ột là, từ góc độ chung cho các ngôn ngữ, theo B.H Mikhalchenko, cảnh

huống ngôn ngữ gồm bốn nhân tố là:

- Nhân tố dân tộc-nhân khẩu: Thành phần dân tộc của cư dân trong một khu

vực, cách cư trú của những người thuộc các dân tộc khác nhau, sự phân hóa xã hội, trình độ học vấn của họ, v.v

- Nhân tố ngôn ngữ học: Trạng thái cấu trúc và chức năng của một ngôn ngữ như sự hiện hữu ở ngôn ngữ này các phong cách chức năng, hệ thống thuật ngữ, truyền thống chữ viết, v.v

- Nhân tố vật chất: các cuốn từ điển, sách hội thoại, tài liệu, hệ thống lớp học ngôn ngữ, v.v

- Nhân tố con người: Những định hướng có giá trị của người bản ngữ có tài năng về ngôn ngữ, v.v

Hai là, nhìn nhận từ các xã hội đa ngữ, R.Hall cho rằng, khi nghiên cứu cảnh

huống song ngữ trong các nước song ngữ cần tập trung vào:

Trang 26

- Hoàn cảnh, trong đó xuất hiện nhu cầu các trạng thái song ngữ như: việc cùng

tồn tại các nhóm thuộc hai ngôn ngữ khác nhau; áp lực của nhóm này đối với một nhóm khác (thực dân hóa); nhu cầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, v.v

- Các điều kiện ngôn ngữ làm cho song ngữ phát triển : các ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ (thực dân hóa); các ngôn ngữ thân thuộc; các ngôn ngữ thân thuộc hơn; các ngôn ngữ chuẩn hóa có liên hệ chặt chẽ với nhau; các ngôn ngữ đó chuẩn hóa liên hệ

- Ảnh hưởng của các nhân tố tập trung của người nói đối với ngôn ngữ thứ hai:

Ba là, từ các quan niệm trên, có thể đưa ra ba tiêu chí tổng hợp về cảnh huống ngôn ngữ, đó là: tiêu chí về lượng, tiêu chí về chất và tiêu chí về thái độ ngôn ngữ

- Tiêu chí về lượng gồm các thông số: (1) Số ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ, số lượng biến thể ngôn ngữ trong xã hội đa phương ngữ, (2) Số lượng người sử dụng

từng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ, (3) Phạm vi giao tiếp của từng ngôn ngữ, của biến

thể ngôn ngữ; (4) Số lượng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ nổi trội về mặt chức năng

- Tiêu chí về chất bao gồm các thông số: (1) Các ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ

có phải là ngôn ngữ thực sự (ngôn ngữ độc lập) hay chỉ là biến thể của ngôn ngữ và ngược lại; (2) Quan hệ giữa các ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ về cấu trúc – cội nguồn; (3) Quan hệ giữa các ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ có ngang bằng về chức năng hay không; (4) Đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong phạm vi quốc gia

- Tiêu chí về thái độ ngôn ngữ thể hiện ở thái độ đối với ngôn ngữ hay biến thể ngôn ngữ của cộng đồng mình hay cộng đồng khác

Trang 27

1.2.2 Nh ững nét chính về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung và ở Quận

5, TP HCM nói riêng

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, tương ứng với 54 dân tộc là 54 ngôn ngữ Tuy nhiên trên thực tế, mỗi dân tộc lại có thể phân chia ra thành các nhóm địa phương, theo đó, ngôn ngữ dân tộc có thể chia thành các nhánh nhỏ và có thể gọi là tiếng với

tư cách là các phương ngữ của một ngôn ngữ

Từ năm 1945 đến nay, tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng để giao tiếp chung trong toàn lãnh thổ Việt và chữ quốc ngữ là văn tự duy nhất của tiếng Việt (Có

thể coi “tiếng Việt” là cách nói rút gọn của “tiếng Việt Nam”)

Cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay diễn biến theo chiều hướng thống

nhất và đa dạng Sự thống nhất thể hiện ở việc Tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ chung ngày càng ổn định và phát triển theo hướng hoàn thiện, hiện đại Tính đa dạng được thể hiện trước hết ở sự cộng tồn và cùng hành chức của nhiều ngôn ngữ tại Việt Nam bên cạnh tiếng Việt còn có 54 ngôn ngữ dân tộc thiểu số và các ngoại ngữ mà trước hết là tiếng Anh Tính đa dạng còn được lí giải ở sự cộng tồn và cùng hành

chức của nhiều ngôn ngữ tại Việt Nam bên cạnh tiếng Việt; ngôn ngữ các dân tộc thiểu số và các ngoại ngữ mà trước hết là tiếng Anh

Quận 5 nằm trong khu trung tâm của TP HCM, vì vậy chỉ với diện tích 4,27 km2 nhưng trên tài liệu thống kê dân số năm 2009, Quận 5 có đủ 54 dân tộc anh em

và hàng trăm người nước ngoài có quốc tịch khác nhau cùng chung sống Theo tổng điều tra dân số và nhà ở của Tổng cục thống kê năm 2009 thì tổng dân số của quận là 171.452 người trong đó 114.812 người Kinh, 54.291 người Hoa, 1116 người Khơ Me,

196 người Tày, 116 người Nùng, 130 người nước ngoài, còn lại là người các dân tộc khác Các dân tộc trên địa bàn quận sống đan xen với nhau, người Hoa tập trung đông

nhất ở phường 6,7, 14,15 Người Hoa vừa nói tiếng Việt, tiếng phổ thông Trung

Quốc lại vừa nói tiếng Hoa phương ngữ (Quảng, Tiều, Phước Kiến, Hẹ, Hải Nam),

thậm chí cả tiếng Anh Chính vì vậy đã tạo nên trạng thái song ngữ vô cùng phức tạp trong giao tiếp, trong tiếp xúc ngôn ngữ và trong giáo dục song ngữ

Trang 28

1.3 Nh ững nét khái quát về tiếng Hán và phương ngữ Hán liên quan đến đề tài nghiên c ứu

1.3.1 Ti ếng Hán

Tiếng Hán thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, hệ Hán Tạng, là ngôn ngữ của dân tộc Hán đồng thời là ngôn ngữ phổ thông của nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa

- Tiếng Hán có những đặc điểm chính sau:

+Tiếng Hán là ngôn ngữ đơn âm tiết, mỗi âm tiết được ghi bằng một chữ Hán +Âm tiết tiếng Hán có 5 phần gồm: thanh mẫu (âm đầu), giới âm (âm đệm), phúc âm (âm chinh), vĩ âm (âm cuối) và thanh điệu (bốn thanh)

+ Từ tiếng Hán không biến đổi hình thái, nghĩa là dù ở vị trí nào trong câu thì

từ vẫn có hình thức giống nhau (giống từ tiếng Viêt)

+ Câu tiếng Hán có thể phân thành hai loại câu đơn và câu phức

- Tên gọi của tiếng Hán:

- Hán ng ữ Cổ đại: hoàn toàn sử dụng văn ngôn, có thể chia làm hai thời kỳ;

+ Hán ngữ thượng cổ: ở thời kỳ Tiên Tần (khoảng TCN 221-206)

+ Hán ngữ trung cổ: ở thời Đông Hán đến Tùy (khoảng năm 25 sau Công nguyên đến thế kỷ thứ V,VI)

- Hán ng ữ Trung đại: hoàn toàn sử dụng văn ngôn ở thời Hán Đường (khoảng

thế kỷ VI đến thế kỷ VIII, IX)

- Hán ngữ Cận cổ: (từ Thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX) là thời kỳ văn ngôn tuy

vẫn chiếm ưu thế nhưng bạch thoại đã bước vào giai đoạn mới với sự xuất hiện các tác phẩm văn bạch thoại như thoại bản, nguyên khúc Tống, đặc biệt là các bô tiểu thuyết Minh Thanh, văn phong rất gần với tiếng Hán hiện đại

- Hán ngữ hiện đại ( từ thế kỷ XX đến nay): đây là thời kỳ tiếng Hán hiện đại

đã hoàn toàn thay thế

Văn ngôn là một loại ngôn ngữ sách vở của tiếng Hán Chúng ta vẫn quen gọi

là tiếng Hán cổ hay cổ văn

Bạch thoại là một loại ngôn ngữ sách vở được hình thành trên cơ sở khẩu ngữ

Trang 29

phong trào Ngũ Tứ (1919) thì Bạch thoại mới được đề cao Đến năm 1949 Nước

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức chọn bạch thoại là ngôn ngữ chung và gọi

là tiếng phổ thông

1.3.2 Phân lo ại phương ngữ Hán trong tiếng Hán hiện đại

Tiếng Hán có nhiều phương ngữ, giữa chúng khác nhau rất xa làm cho những người nói các phương ngữ khác nhau không thể tiến hành giao tiếp được Có nhiều cách phân loại phương ngữ tiếng Hán nhưng tiêu biểu là hai cách phân loại sau:

Một là, Hội nghị học thuật vấn đề quy phạm tiếng Hán hiện đại tháng 10 năm

1955 đã thống nhất coi tiếng Hán có tám phương ngữ Cụ thể như sau:

1.3.2.1 Quan tho ại (官话)

- Còn gọi là Bắc phương ngôn 北方言 Là vùng phương ngữ quan trọng vì có đông người sử dụng nhất (khoảng 70%) , Quan thoại với tiếng Bắc Kinh là cơ sở để hình thành tiếng Hán phổ thông Trung quốc

- Vùng sử dụng: Được dùng ở các vùng Hoa Bắc đông Bắc một bộ phận rộng

lớn của vùng Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, ven

biển Giang Tây, Trung Bắc bộ An Huy, Giang Tô

- Phân loại: Quan thoại được phân chia nhỏ hơn thành Quan thoại Hoa Bắc, Quan thoại Tây Bắc, Quan thoại Tây Nam, Quan thoại Giang Hoài

1.3.2.2 Phương ngữ Ngô (吴方言)

- Còn gọi là Ngô ngữ, Ngô phương ngôn, tiếng Giang Nam (江南 话), tiếng Chiết Giang (浙江话), số người sử dụng phương ngữ này chiếm khoảng 8% dân số Hán (đứng vị trí thứ 2 sau tiếng Quan thoại)

- Vùng sử dụng: Nam Bộ Giang Tô, Nam Bộ An Huy và đại bộ phận ở Thượng

Hải và Chiết Giang

1.3.2.3 Phương ngữ Khách Gia (客家方言)

- Còn gọi là Khách Gia ngữ (客家语), Khách gia phương ngôn, Khách ngữ (客语) Khoảng 5% dân số Trung Quốc sử dụng ngôn ngữ này

Trang 30

- Vùng sử dụng: ở các vùng miền Đông, Bắc Quảng Đông, miền Tây Phúc

Kiến, miền Nam Giang Tây, Đông Nam Quảng Tây thuộc Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao và một số vùng người Hoa ở Đông Nam Á, trong đó có người Hoa ở Quận 5, TP HCM nói riêng và người Hoa ở Việt Nam nói chung

1.3.2.4 Phương ngữ Mân (闽语)

- Còn gọi là Mân ngữ, Mân phương ngôn (闽方言), số người sử dụng là 4,2%

- Vùng sử dụng: tập trung chủ yếu ở hai vùng Phúc Kiến, Đài Loan và một số vùng ở Quảng Đông, Hải Nam, Chiết Giang thuộc Trung Quốc đại lục, và người Hoa

ở các nước Đông Nam Á như Philippin, Singapore, Thailan, Việt Nam…

- Phân loại: Mân Bắc và Mân Nam

1.3.2.5 Phương ngữ Việt (粤方言)

người Hán sử dụng phương ngữ này

Ma Cao và người Hoa ở một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á Hơn 70% người

ngữ phức tạp nhất về thanh điệu: có tới 9 thanh điệu nhưng gần đây người ta đã nhập

lại thành 6 thanh cho đơn giản Người Hoa ở Quận 5 TP.HCM hiện nay cũng học Phương ngữ này với 6 thanh điệu được đánh theo số thứ tự từ 1 đến 6

1.3.2.6 Phương ngữ Tương (湘方言)

khoảng 5% dân số Hán sử dụng phương ngữ Tương

- Vùng sử dụng: Hồ Nam, một bộ phận thành phố Trùng Khánh, Quảng Tây giáp với Hồ Nam

1.3.2.7 Phương ngữ Cán (赣方言)

- Còn gọi là Cán phương ngôn, Giang Tây thoại 江西话, Hệ ngữ, Giang Hữu thoại 江友话 Số người sử dụng là 2%

Trang 31

- Vùng sử dụng: Giang Tây, Đông nam Hồ Bắc, Tây nam An Huy và Tây bắc

Phúc Kiến

Về âm hệ, phương ngữ Cán rất gần với phương ngữ Khách Gia vì thế có ý kiến

đề nghị nhập làm một

Hai là, Bản đồ địa lí ngôn ngữ Trung Quốc của Viện Khoa học xã hội Trung

Quốc vào những năm 80 của thế kỉ XX đã phân phương ngữ tiếng Hán thành các vực

(域), mỗi vực lại chia nhỏ thành khu (区),mỗi khu lại chia nhỏ thành phiến (片)

Theo cách phân chia này, tiếng Hán hiện đại gồm 10 vực phương ngữ gồm:

(粤语); vực Bình thoại (平话); vực Khách Gia thoại (客家话)

1.3.3 Phương ngữ Hán trong cộng đồng người Hoa ở Quận 5, TP HCM

Hiện nay, tiếng Hoa phương ngữ ở Quận 5, TP HCM nói riêng và ở Việt Nam

nói chung có 05 phương ngữ: Phương ngữ Quảng Đông, phương ngữ Triều Châu,

phương ngữ Phúc Kiến , Phương ngữ Hẹ (còn gọi là Hakka hay Khách gia) Theo

nhiều người Hoa, ngữ âm của phương ngữ Phúc Kiến và phương ngữ Triều Châu gần

giống nhau cho nên người Phúc Kiến và người Triều Châu có thể nghe hiểu tiếng nói

của nhau Còn lại, ngữ âm của phương ngữ khác hoàn toàn không có mối liên hệ gì

với nhau, người nói phương ngữ này không hiểu tiếng của phương ngữ kia, cho nên

những người Hoa khác nhóm ngôn ngữ không thể tiến hành giao tiếp được Ở Quận 5,

TPHCM, người nói phương ngữ Quảng Đông chiếm đa số nên tiếng Quảng Đông có

thể coi là phương ngữ vùng Rất nhiều người thuộc nhóm ngôn ngữ khác biết tiếng

Quảng Đông nên người Hoa thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau có thể tiến hành

giao tiếp bằng tiếng Quảng Đông hoặc tiếng phổ thông Bắc Kinh

1.4 Ti ểu kết chương 1

Quận 5, TP HCM là địa bàn tập trung đông người Hoa nhất ở Việt Nam Mặc

dù người Hoa đã sinh sống ở đây nhiều thế hệ, đa số những người Hoa hiện tại được

sinh ra và lớn lên trên quê hương thứ hai, họ nói tiếng Việt gần như người bản xứ

Trang 32

nhưng vẫn giữ gìn tiếng nói dân tộc Chính vì vậy có thể coi đây là một cộng đồng song ngữ khá tiêu biểu

Trong quá trình cộng cư giữa người Việt và người Hoa đương nhiên xảy ra sự

tiếp xúc ngôn ngữ, hệ quả của nó là việc trộn mã, chuyển mã trong giao tiếp, xa hơn

nữa là sự vay mượn ngôn ngữ

Hội nghị học thuật vấn đề quy phạm tiếng Hán hiện đại tháng 10 năm 1955 đã

thống nhất coi tiếng Hán có tám phương ngữ Trong 8 phương ngữ đó, có năm phương ngữ đang lưu truyền trong các nhóm người Hoa ở Quận 5, TP HCM nói riêng và Việt Nam nói chung Các phương ngữ đều dùng chung một cách ghi âm là

chữ Hán hiện đại nhưng cách đọc thì khác nhau Khác nhau đến mức người thuộc nhóm ngôn ngữ này không thể giao tiếp được với người ở nhóm ngôn ngữ kia Chính

vì vậy khi họp đồng hương người Hoa thường dùng tiếng Hoa phổ thông Bắc Kinh làm ngôn ngữ chung của dân tộc Hoa

Trang 33

CHƯƠNG 2: TRẠNG THÁI SONG NGỮ VIỆT – HOA CỦA CỘNG

ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở QUẬN 5, TP HỒ CHÍ MINH

2.1 Khái quát v ề đặc điểm tự nhiên và xã hội Quận 5, TP HCM

2.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên

Quận 5 nằm ở 10°45′24″ vĩ Bắc và 106°40′0″ kinh Đông, là một trong

24 quận và huyện trực thuộc TP HCM

Quận 5 có diện tích tự nhiên là 4.14 km2, chỉ chiếm 0,2% diện tích toàn thành

phố Hình dáng địa lý của Quận 5 gần giống như hình chữ nhật nằm ngang với chiều dài gần 4km và chiều rộng hơn 1km Phía Bắc giáp quận 10 và quận 11, ranh giới là đường Hùng Vương và đường Nguyễn Chí Thanh Phía Nam giáp Quận 8 với đường ngăn cách là kênh Tàu Hủ Phía Đông giáp Quận 1, ranh giới là đường Nguyễn Văn

Cừ Phía Tây giáp với Quận 6 lằn ranh là đường Nguyễn Thị Nhỏ, Ngô Nhân Tịnh

Từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, Quận 5 có nhiều tuyến đường lớn nhỏ, ngang dọc, thông với các quận khác trong thành phố rất thuận tiện cho việc sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ Đặc biệt suốt chiều dài 4km phía Nam quận được bao bởi đại lộ Võ Văn Kiệt nối các quận 1, 2, 4, 5, 6, 8, Bình Tân và huyện Bình Chánh, tạo thành trục giao thông Đông - Tây kết nối hai đầu Đông Bắc - Tây Nam thành phố Con đường lớn này tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện giao thông

ra vào cảng Sài Gòn và từ đây đi các tỉnh miền Đông và miền Tây

Trong tổng diện tích 414 ha đất tự nhiên có 339,6 ha đất dân dụng, chiếm 82,03% diện tích của quận, trong đó có hơn nửa là đất ở chiếm 177,69 ha, đất công trình công cộng là 46,62 ha, đất dành cho công viên cây xanh, thể dục thể thao là 21,84 ha và đất đường sá, quảng trường là 93,49 ha Ngoài ra, đất ngoài dân dụng

gồm các cơ quan trung ương, bệnh viện, trường, các xí nghiệp, kho bãi và sông rạch

là 74,36 ha Như vậy có thể nói đất đai ở quận 5 chủ yếu là đất thổ cư với mức độ tập trung đông nhất TP HCM

Trang 34

Đặc điểm của khu dân cư quận 5 là đan cài với sản xuất tiểu - thủ công nghiệp

Phần lớn người dân quận 5 sử dụng nhà ở làm nơi sản xuất hoặc kinh doanh nên không tránh khỏi tình trạng ô nhiễm môi trường, tiếng động, tiếng ồn

Nhìn chung, Quận 5 - trung tâm của khu vực Chợ Lớn cũ, là một vùng đô thị hóa sớm nên những thuận lợi cơ bản như hệ thống hạ tầng, cơ sở kỹ thuật, mạng lưới công trình phục vụ công cộng tương đối tốt và đều khắp

2.1.2 Đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội

Quận 5 là trung tâm lâu đời của vùng Chợ Lớn cũ Chợ Lớn nằm trong địa hạt

tổng Tân Long (sau là huyện Tân Long) Xã Minh Hương của người Hoa được thành

lập từ năm 1698 cùng nhiều thôn xã của tổng Tân Long Năm 1820, vùng đất này thuộc huyện Tân Long, phủ Tân Bình, trấn Phiên An Năm 1836 thuộc huyện Tân Long, tỉnh Gia Định Sau thuộc thành phố Chợ Lớn, tỉnh Chợ Lớn Theo sắc lệnh ngày 27 tháng 3 năm 1931, người Pháp sáp nhập Chợ Lớn vào Sài Gòn lấy tên là

“Địa phương Sài Gòn - Chợ Lớn” Năm 1942, cả Sài Gòn- Chợ Lớn được chia ra làm

18 hộ, và Chợ Lớn nhanh chóng phát triển rộng về bốn phía nối liền với Sài Gòn

Cuối năm 1952, địa phương Sài Gòn- Chợ Lớn được đổi tên thành “Đô thành Sài Gòn- Chợ Lớn” và 18 hộ được chia thành 7 quận, địa bàn Quận 5 lúc này được gọi là

Quận 4 với lãnh thổ khá lớn, phía Nam bao gồm một phần Quận 3 ngày nay (tới kênh Đôi), phía Bắc bao gồm cả một phần Quận 11 và Quận 10 ngày nay tới đường 3 tháng 2, phía Tây giáp với khu vực bến Bình Đông (nay là Quận 8) và Quận 5 (nay là

Quận 6) Nghĩa là bao gồm hầu hết địa bàn khu vực Chợ Lớn cũ Năm 1954 bỏ chữ

Chợ Lớn trong tên “Đô thành Sài Gòn- Chợ Lớn”

Năm 1958, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định chia lại “Đô thành Sài Gòn” ra làm 8 quận, lập thêm Quận 8 ở phía Nam kênh Tàu Hủ và đổi tên Quận 4 ra thành

Quận 5 Lúc này Quận 5 có diện tích là 7,6 km2 và chia ra làm 10 phường Trong đợt

Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1968, nhân dân và lao động người Hoa đã hỗ

trợ tích cực cho các đội Biệt động Chính vì vậy chính quyền Sài Gòn phải phân tán

bớt lực lượng, chia để trị nên cắt bớt lãnh thổ Quận 5 chỉ còn tới đường Nguyễn Chí Thanh hiện nay, thu nhỏ diện tích cón 4 km2 với 6 phường Sau ngày giải phóng,

Trang 35

được chính thức thành lập Toàn Quận được chia thành 24 phường, năm 1986 chia lại thành 15 phường cho đến nay Lúc bấy giờ trừ Phường Chợ Quán (nay là phường 1,2,3,4) và phường Trang Tử (nay là phường 14, 15) có số người Việt cư trú đông hơn người Hoa, còn các phường khác người Hoa chiếm đa số Tỉ lệ dân số và địa bàn

cư trú của người Hoa trong Quận không ổn định mà có sự biến đổi cơ học rất cao

Về mặt kinh tế, xưa và nay, Quận 5 vẫn được xem là một trung tâm thương

mại dịch vụ quan trọng của thành phố Từ các chợ đầu mối trên địa bàn quận, hàng hóa các loại được bán buôn, bán lẻ tỏa đi khắp các vùng đất nước và các nước lân cận

Là địa bàn có đông đồng bào Hoa cư trú, sinh sống từ khá sớm Trước ngày 30/4/1975 tổng dân số của quận 5 khoảng 200.000 người thì người Hoa chiếm 78% làm cho nhiều người khi đặt chân đến đây có cảm giác như đi vào một đô thị người Hoa trong lòng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn Đã có thời khu vực này được báo chí

ví như một Hồng Kông hay một Singapore thứ 2 Khi đó một số cơ sở công nghiệp trên địa bàn quận 5 đã rất phát triển như: nhà máy xà bông, mỹ phẩm, thuốc lá, bia, nước ngọt, các xưởng dệt… nhưng bị công nghiệp tư bản nước ngoài chi phối Ở lĩnh

vực công nghiệp và thủ công nghiệp, lực lượng lao động, đội ngũ kỹ thuật đông, một

số có tay nghề truyền thống lâu đời nhưng quy mô nhỏ, sản xuất phân tán nên không

ổn định và khó phát triển mạnh, xa

Sau giải phóng, hoạt động kinh tế trên địa bàn quận 5 có nhiều chuyển biến lớn Thương nghiệp, công nghiệp được cải tạo tạo thành nền sản xuất mạnh, cân đối, giao lưu hàng hóa có tổ chức Nhiều cơ sở công nghiệp có quy mô lớn và vừa được đưa lên quốc doanh do trung ương và thành phố trực tiếp quản lý Tính đến cuối năm

1994, trên địa bàn quận 5 có sáu đơn vị sản xuất của trung ương và 34 của thành phố Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích phát triển sản xuất và dần dần tổ

chức lại Toàn ngành tiểu thủ công nghiệp quận 5 có 1799 đơn vị sản xuất, gồm 11 xí nghiệp quốc doanh, 25 hợp tác xã, 66 tổ sản xuất, 86 doanh nghiệp tư nhân và 1661

cơ sở sản xuất, thu hút gần 15.000 lao động, tập trung nhiều ở các ngành mũi nhọn:

cơ khí, hóa nhựa, may Nguồn vốn sử dụng cho sản xuất rất phong phú, đa dạng: vốn

tự tích lũy, vốn huy động thân nhân trong nước, ngoài nước kể cả vốn hỗ trợ từ

những hội đoàn người Hoa

Trang 36

Về ngành nghề, thế mạnh của Quận 5 là sản xuất ra các mặt hàng xuất khẩu và các mặt hàng truyền thống như thủ công mỹ nghệ, đông nam dược, thực phẩm, hóa

nhựa, may mặc… Bên cạnh đó còn có nhiều loại sản phẩm có tiêu chuẩn kỹ thuật cao như sản xuất máy móc thiết bị, điện, điện tử Đặc biệt là sự phát triển mạnh của các ngành chế biến, gia công, lắp ráp và sửa chữa

Hoạt động thương mại và dịch vụ ở quận 5 cũng phát triển nhanh và mạnh Toàn quận có khoảng 11.975 hộ kinh doanh thương mại dưới hình thức kinh tế tư nhân Trên địa bàn Quận 5 có một mạng lưới nhà hàng khách sạn dày đặc, phần lớn

nằm trên các trục đường chính như Trần Hưng Đạo, Châu Văn Liêm, Nguyễn Trãi,

Tản Đà

Hoạt động tài chính – ngân hàng ở Quận 5 có tiềm năng rất lớn Hiện nay với trên 40% dân số là đồng bào người Hoa, có nhiều người dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng, có người là kỹ nghệ gia, thương gia nổi tiếng, có uy tín với trong nước và ngoài nước Số đông đồng bào người Hoa có thân nhân sinh sống ở nước ngoài thường xuyên hợp tác hỗ trợ nhau trong việc làm ăn buôn bán dưới nhiều hình

thức như: đầu tư vốn, gửi máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu Quận 5 thực sự là

mảnh đất màu mỡ cho hoạt động kinh doanh tài chính

Văn hóa Quận 5 đa dạng, phong phú nhưng đậm đà bản sắc, người Việt người Hoa chung sống hòa đồng nhưng vẫn giữ nét độc đáo riêng Toàn quận có 18 ngôi chùa, 7 nhà thờ, trong đó có 4 ngôi chùa Hoa có kiến trúc lâu đời được Bộ Văn hóa công nhận là di tích nghệ thuật kiến trúc là Chùa Bà của Hội quán Tuệ Thành ở địa

chỉ 710 Nguyễn Trãi, Phường 10 (hình 2.1), Đình Minh Hương Gia Thạnh tọa lạc tại

số 380 đường Trần Hưng Đạo, Phường 11 (hình 2.2), Miếu Quan Đế của Nghĩa An

hội quán, tức chùa Ông, tọa lạc tại số 678 đường Nguyễn Trãi, Phường 11 (hình 2.3), Miếu bà Hải Nam (Quỳnh Phủ Hội Quán, Hội quán Hải Nam), toạ lạc số 276 đường Trần Hưng Đạo B, Phường 11 (Hình 2.4) Tất cả các hình trên, chúng tôi lấy

từ nguồn: Trung tâm văn hóa Quận 5

Trang 37

Hình 2.1 Chùa Bà ( Hội quán Tuệ Thành), địa chỉ 710 Nguyễn Trãi phường 10

Hình 2.2 Đình Minh Hương Gia Thạnh, địa chỉ: 380 đường Trần Hưng Đạo, Phường

11

Trang 38

Hình 2.3 Miếu Quan Đế (chùa Ông), địa chỉ: 678 đường Nguyễn Trãi,

Phường 11

Hình 2.4 Miếu bà Hải Nam (Quỳnh Phủ Hội Quán, Hội quán Hải Nam), địa chỉ: 276

đường Trần Hưng Đạo B, Phường 11

2.2 N gười Hoa ở quận 5, TP HCM

2.2.1 L ịch sử di cư và vai trò của người Hoa ở Quận 5

Theo nhiều tài liệu lịch sử thì từ năm 1698 ở Chợ Lớn đã có xã Minh Hương

của người Hoa Năm 1771, quân Xiêm đánh phá Hà Tiên, dân Hà Tiên tiêu tán, một

Trang 39

số người Hoa gốc Quảng Đông và Triều Châu chạy về định cư ở Chợ Lớn Năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm đào kênh Ruột Ngựa (Nay là kênh Tàu Hủ song song với đại lộ Võ Văn Kiệt) cho tiện giao thông Năm 1778, chiến tranh Tây Sơn, người Hoa ở xã Thanh Hà ( nay là Cù Lao Phố thuộc thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai) nhận thấy

Chợ Lớn là vùng đất thuận tiện cho công việc làm ăn, buôn bán nên bỏ hẳn Thanh Hà

đã đồng ý cung cấp cho phía Pháp thị trường “cu- li” bằng chính xương máu người lao động nghèo khổ dân tộc mình Những người Trung Hoa khốn khổ phần vì tự dời

bỏ quê hương để tìm vùng đất sinh sống mới, phần vì đi để làm “cu- li”, lính đánh thuê nên trong thời kỳ Pháp họ đã nhập cư dồn dập và đông đảo vào miền Nam Việt Nam Chợ Lớn lúc này luôn mở rộng cửa để đón họ, năm 1900 dân số Chợ Lớn khoảng 40.000 người đến 1931 lên đến 95.000 người Người Hoa sống tập trung ở các đường Triệu Quang Phục, Trần Hưng Đạo B, Nguyễn Trãi, Châu Văn Liêm

Người Hoa ở Việt Nam nói chung và ở Quận 5, TP HCM nói riêng “không chỉ

là một dân tộc thiểu số bình thường như 53 dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam mà là

một dân tộc thiểu số phát triển hay là một tộc người đô thị Bởi vì đó là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam duy nhất đã bước vào nền kinh tế hàng hóa, thích nghi với kinh

tế thị trường, một dân tộc thiểu số luôn luôn gắn liền với đời sống đô thị và quá trình

đô thị hóa ở Việt Nam.” [26, tr.162-163] Theo thống kê dân số năm 1989, dân số người Hoa ở Việt Nam có khoảng gần một triệu người Trong đó, Nam bộ là 806.608 người, TP HCM là 433.551 người, Quận 5 là 81.731 người [26, tr.27] Người Hoa không chỉ sống tập trung ở các đô thị lớn mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đô thị đó Ở Sài Gòn- Chợ Lớn, thời Pháp thuộc, người ta thường nói

“Nhất Hỏa, Nhì Đàm, tam Xường, tứ Ích” tức là bốn người Hoa giàu có, có ảnh

Trang 40

hưởng lớn tới kinh tế miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ Ở thời Mỹ Ngụy thì người ta thường nhắc đến vua bột ngọt, vua mễ cốc Trần Thành, một thời là trưởng bang Triều Châu khu vực Chợ Lớn; vua sắt thép Lý Long Thân, làm chủ 11 ngành sản xuất và 23 hãng xưởng lớn ở vùng Sài Gòn- Chợ Lớn; vua lúa gạo Mã Hỉ; vua xi- nê Trương Vỹ Nhiên làm chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp xi nê ở vùng Sài Gòn- Chợ

Lớn…Nói tóm lại một số ông chủ tư bản người Hoa ở Chợ Lớn thường làm ăn với qui mô lớn vì vậy hoạt động của họ chi phối toàn bộ nền kinh tế của miền Nam trước ngày giải phóng

2.2.2 Phân b ố dân cư

Người Hoa ở Quận 5, TPHCM trước năm 2000 chiếm gần 40% dân số Quận (16% số người Hoa toàn TPHCM, và gần 10% tổng số người Hoa cả nước), theo

thống kê năm 2009 thì chỉ còn 31,67% So với người Hoa ở tất cả các quận trong TPHCM, người Hoa ở Quận 5 có đặc điểm cư trú lâu đời nhất Quận 5 có 5 nhóm người Hoa sinh sống, theo thứ tự về dân số là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến,

Hẹ và Hải Nam Đặc điểm cư trú của người Hoa ở Quận 5 là nhà ở gần liền với cơ sở

sản xuất, cửa hàng buôn bán Ngoài ra, dấu vết cư trú theo bang, hội, tộc, họ, nghề nghiệp cũng còn dấu ấn khá rõ Ở các phường phía Tây Quận có nhiều Hội quán của người Hoa thì mật độ cư trú của người Hoa khá cao, ở các phường phía Đông của

Quận không có Hội quán nào của người Hoa thì mật độ cư trú của người Hoa thấp hơn hẳn Cụ thể theo khu vực như sau:

- Khu vực 1: Tiếp giáp với Quận 1, từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường

Huỳnh Mẫn Đạt gồm 4 phường là 1,2,3 và 4 Trước năm 2000 ở khu vực này người Hoa chiếm khoảng 21 % dân số, theo thống kê dân số năm 2009 thì chỉ còn khoảng 15%

- Khu vực 2: Từ đường Huỳnh Mẫn Đạt đến đường Ngô Quyền gồm 5 phường

là 5, 6,7, 8, 9 Trước năm 2000, ở khu vực này có khoảng 55% người Hoa cư trú Sau năm 2000, Quận tiến hành giải tỏa khu vực Phường 5, 6 nằm dọc bến Hàm Tử có đông người Hoa sống chen chúc để xây dựng Đại lộ Đông Tây (nay là Đại lộ Võ Văn

Kiệt) thì tỉ lệ người Hoa ở khu vực này chỉ còn khoảng 40%

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban sưu tầm tài liệu lịch sử Đảng Quận 5 (1985), Sơ thảo lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quận 5 (1930-1985), Xí nghi ệp in Quận 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quận 5
Tác giả: Ban sưu tầm tài liệu lịch sử Đảng Quận 5
Năm: 1985
2. Phan An (2005), Người Hoa ở Nam bộ , Nxb Khoa h ọc xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa ở Nam bộ
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
3. Phan An-Phan Xuân Biên (1989), “V ề vấn đề vị trí của người Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, T ạp chí khoa học xã hội , (1), tr.50- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề vị trí của người Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, "Tạp chí khoa học xã hội
Tác giả: Phan An-Phan Xuân Biên
Năm: 1989
4. Ban công tác người Hoa và Ban dân tộc học (1987), Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh trong ch ặng đường đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội , Tài li ệu tham kh ảo, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh trong chặng đường đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Ban công tác người Hoa và Ban dân tộc học
Năm: 1987
5. Ban Bí thư Trung Ương (1996) Chỉ thị 62-CT/TW về “Tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới
6. Phan Xuân Biên (1995), Luận cứ khoa học cho việc xác định chính sách đối với c ộng đồng người Khmer và người Hoa ở Việt Nam , Đề tài khoa học cấp nhà nước KX 04.12. Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc xác định chính sách đối với cộng đồng người Khmer và người Hoa ở Việt Nam
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1995
7. Nguy ễn Công Bình- Lê Xuân Diệm- Mạc Đường (1990) , Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long , Nxb Khoa h ọc xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
8. Nguy ễn Duy Bính, Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam bộ, (2005), Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam bộ
Tác giả: Nguy ễn Duy Bính, Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam bộ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
9. B ộ ngoại giao (1978), Tuyên b ố của Bộ ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vấn đề người Hoa ở Việt Nam, Nxb Thanh Hóa, ty văn hóa và thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố của Bộ ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vấn đề người Hoa ở Việt Nam
Tác giả: B ộ ngoại giao
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 1978
10. Nguy ễn Tài Cẩn (2004), Ngu ồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt
Tác giả: Nguy ễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
11. Tr ần Chút, Bùi Tất Tươm, Hoàng Dũng (2009), Hoàng Tu ệ tuyển tập , Nxb Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Tuệ tuyển tập
Tác giả: Tr ần Chút, Bùi Tất Tươm, Hoàng Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
12. Nguy ễn Đức Dân (1994), Ngôn ngữ học thống kê, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghi ệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học thống kê
Tác giả: Nguy ễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1994
13. Dell H.Hymes (1968), “Kh ảo tả dân tộc học lời nói”, trong Ngôn ng ữ văn hóa và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo tả dân tộc học lời nói”, trong
Tác giả: Dell H.Hymes
Năm: 1968
14. Kh ổng Diễn (1995), Dân s ố và dân số tộc người ở Việt Nam , Nxb Khoa h ọc xã h ội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Kh ổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
15. Tr ần Trí Dõi (1997) Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Tr ần Trí Dõi (2003) Chính sách ngôn ng ữ văn hóa dân tộc ở Việt Nam, Nxb Đại h ọc Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Tr ần Trí Dõi (2004) Th ực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba t ỉnh phía Bắc Việt Nam những kiến nghị và giải pháp , Nxb Đại học Quốc gia Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía Bắc Việt Nam những kiến nghị và giải pháp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
18. Hoàng Dũng, Vương Hữu Lễ (1993), “Khía cạnh tâm lý trong vấn đề xây dựng ch ữ viết dân tộc thiểu số”. Trong Giáo d ục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân t ộc thiểu số phía Nam , Nxb. Khoa h ọc Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khía cạnh tâm lý trong vấn đề xây dựng chữ viết dân tộc thiểu số”. Trong" Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số phía Nam
Tác giả: Hoàng Dũng, Vương Hữu Lễ
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1993
19. Ph ạm Đức Dương (1978) “Một số vấn đề dân tộc học ngôn ngữ ở nước ta”, T ạp chí dân t ộc học , (1), tr.29-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc học ngôn ngữ ở nước ta”, "Tạp chí dân tộc học
20. Ph ạm Đức Dương (2000), V ăn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á , Nxb Khoa h ọc xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Ph ạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê thành phần dân tộc ở TP. HCM năm 2009 - những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp  hồ chí minh
Bảng 1.1. Thống kê thành phần dân tộc ở TP. HCM năm 2009 (Trang 19)
Hình 2.1. Chùa Bà ( Hội quán Tuệ Thành), địa chỉ 710 Nguyễn Trãi phường 10 - những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp  hồ chí minh
Hình 2.1. Chùa Bà ( Hội quán Tuệ Thành), địa chỉ 710 Nguyễn Trãi phường 10 (Trang 37)
Hình 2.2.  Đình Minh Hương Gia Thạnh, địa chỉ: 380 đường Trần Hưng Đạo, Phường - những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp  hồ chí minh
Hình 2.2. Đình Minh Hương Gia Thạnh, địa chỉ: 380 đường Trần Hưng Đạo, Phường (Trang 37)
Hình 2.3.  Miếu Quan Đế (chùa Ông), địa chỉ: 678 đường Nguyễn Trãi, - những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp  hồ chí minh
Hình 2.3. Miếu Quan Đế (chùa Ông), địa chỉ: 678 đường Nguyễn Trãi, (Trang 38)
Hình 2.4.  Miếu bà Hải Nam (Quỳnh Phủ Hội Quán, Hội quán Hải Nam), địa chỉ: 276 - những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp  hồ chí minh
Hình 2.4. Miếu bà Hải Nam (Quỳnh Phủ Hội Quán, Hội quán Hải Nam), địa chỉ: 276 (Trang 38)
Bảng 2.1. Tổng điều tra dân số 2009 - những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp  hồ chí minh
Bảng 2.1. Tổng điều tra dân số 2009 (Trang 41)
Bảng 2.15. Năng lực ngôn ngữ của người Hoa, theo góc độ nơi - những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp  hồ chí minh
Bảng 2.15. Năng lực ngôn ngữ của người Hoa, theo góc độ nơi (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w