Đối với các nước đang phát triển, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa là cơ hội để các quốc gia này phát huy lợi thế của mình, được bổ sung những yếu tố mới, hình thành một cơ cấu kinh t
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2006
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2007
Trang 3M ỤC LỤC
M ỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT THEO TIẾNG ANH 5
M Ở ĐẦU 7
1 Lý do ch ọn đề tài 7
2 Gi ới hạn phạm vi nghiên cứu 8
3 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 9
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 C ấu trúc của luận văn 12
CHƯƠNG 1: TOÀN CẦU HÓA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI TH Ế GIỚI VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 13
1.1 Toàn c ầu hóa – một số vấn đề lý luận 13
1.1.1 Khái niệm 13
1.1.2 Toàn cầu hóa là một quá trình mang tính lịch sử 17
1.1.3 Những nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa 18
1.1.4 Những biểu hiện của toàn cầu hóa 22
1.2 Nh ững tác động của quá trình toàn cầu hóa đến sự phát triển của các nước trên th ế giới 25
1.2.1 Những tác động tích cực: 25
1.2.2 Những tác động tiêu cực: 28
1.3 Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa 32
1.3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển của các quốc gia ở Đông Nam Á 32
1.3.2 Sơ lược lịch sử phát triển của các quốc gia Đông Nam Á 33
1.3.3 Con đường phát triển của một số nước đang phát triển ở Đông Nam Á 35
1.3.4 Các nước đang phát triển ở Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế từ năm 1990 đến năm 2006 44
CHƯƠNG 2: CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2006 49
2.1 Nh ững vấn đề chung 49
2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 đến quá trình phát tri ển của các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á 50
2.3.1 Malaysia 51
2.2.2 Indonesia 55
Trang 42.2.3 Philippines 56
2.2.4 Thái Lan 57
2.2.5 Singapore 59
CHƯƠNG 3: NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỀN Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TRONG B ỐI CẢNH TOÀN CÀU HÓA TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2006 61
3.1 Nh ững cơ hội cho các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối c ảnh toàn cầu hóa 61
3.1.1 Toàn cầu hóa mở ra khả năng phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, lôi kéo các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á vào trào lưu văn minh của nhân loại 61
3.1.2 Toàn cầu hóa đem lại cơ hội cho các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á để khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ phát triển và đuổi kịp dần các nước tiên tiến trên thế giới 62
3.1.3 Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho việc hợp tác để phát triển 64
3.1.4 Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa rộng rãi giữa các quốc gia trong khu vực và giữa các nước trong khu vực với thế giới 65
3.2 Nh ững thách thức đối với các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong b ối cảnh toàn cầu hóa 66
3.2.1 Toàn cầu hóa tạo ra những mâu thuẫn gay gắt và sự cạnh tranh quyết liệt cho các nước đang phát triển, đặt các nước này trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa 66
3.2.2 Toàn cầu hóa làm tăng khả năng phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia và trong nội bộ các nước 67
3.2.3 Tỉ lệ nợ nước ngoài vẫn chiếm khá cao: 69
3.2.4 Nền kinh tế các nước phụ thuộc vào xuất khẩu và phụ thuộc lợi ích của các nước nhập khẩu phát triển 69
3.2.5 Tình trạnh cơ sở hạ tầng thấp kém, chính sách chưa thông thoáng của chính phủ các nước 70
3.2.6 Sự khủng hoảng, bất ổn về chính trị, sự gia tăng của xung đột sắc tộc, tôn giáo, phong trào ly khai và khủng bố bạo lực là lực cản trên con đường phát triển kinh tế của các nước 71
3.2.7 Trình độ tri thức và công nghệ thấp khi chuyển sang nền kinh tế tri thức, sự tranh chấp lãnh thổ và các nguồn tài nguyên 74
3.3 Nh ững tác động của toàn cầu hóa đến Việt Nam 75
3.3.1 Những tác động tích cực của toàn cầu hóa - cơ hội cho Việt Nam: 75
3.3.2 Những thách thức từ toàn cầu hóa mà Việt Nam phải đối mặt 76
3.4 Bài h ọc kinh nghiệm của các nước đang phát triển ở Đông Nam Á trong quá trình h ội nhập quốc tế 77
3.4.1 Đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực 77
3.4.2 Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 78
Trang 53.4.3 Nâng cao khả năng cạnh tranh và thúc đẩy các mặt hàng xuất khẩu 78
3.4.4 Phát huy tiềm lực trong nước và vai trò của chính phủ 79
3.4.5 Kết hợp khéo léo, hài hòa giữa độc lập tự chủ và đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế 79
3.4.6 Chủ động vươn ra những thị trường lớn 79
3.4.7 Luôn tự quảng bá hình ảnh mình 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 84
PH Ụ LỤC 92
Trang 6DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT THEO TIẾNG ANH
(Ngân hàng phát triển Châu Á) AFTA: ASEAN Free Trade Area
(Khu vực mậu dịch tự do ASEAN) ASEAN: Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các nước Đông Nam Á)
( Liên minh châu Âu)
(Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài)
(Tổng sản phẩm quốc nội)
(Tổng sản phẩm quốc dân)
(Chỉ số phát triển con người) HPAEs: High Performing Asian Economics
(Các nền kinh tế Châu Á tăng trưởng nhanh)
(Quỹ tiền tệ quốc tế) INTERNET: Interconnected Network
(Mạng thông tin máy tính toàn cầu) MERCOSƯR: Southren Common Market
(Khối thị trường chung Nam Mĩ) NAFTA: North American Free Trade Agreement
(Hiệp định thương mại tự do Bắc Mĩ) NICs: Newly Industrialized Countries
(Các nước công nghiệp hóa mới)
(Các nền kinh tế đang công nghiệp hóa mới)
Trang 7(Viện trợ phát triển chính thức) OECD Organization for Economic Co-operation and Development
(Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) TNCs: Transnational Companies
(Các công ty xuyên quốc gia)
(Liên hợp quốc) UNCTAD: United Nations Conference on Trade and Development
(Cơ quan thương mại và phát triển Liên Hiệp Quốc) UNDP: United Nationas Development Program
(Chương trình phát triển Liên hợp quốc)
(Ngân hàng thế giới) WTO: World Trade Organization
(Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Vào những năm cuối thế kỷ XX, đời sống kinh tế quốc tế trở nên sôi động Sự bùng nổ của cách
mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, việc tập trung tư bản ở quy mô cực lớn, nổi
bật là sự sát nhập của các công ty, sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia, quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới đã làm cho lực lượng sản
xuất có những bước tiến nhảy vọt, các nền kinh tế ngày càng đan xen và có phần phụ thuộc vào nhau
Với những điều đó, quá trình quốc tế hóa ngày càng được đẩy mạnh, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng rõ rệt và mạnh mẽ hơn
Toàn cầu hóa, mà cốt lõi của nó là toàn cầu hóa kinh tế, là một xu hướng khách quan của lịch sử Ngày nay, trong giai đoạn phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa như một cơn lốc
cuốn hút các nước trên thế giới không kể nước lớn, nhỏ hay giàu, nghèo, phát triển hay hoặc chậm phát triển hoặc cũng buộc các nước phải chủ động tham gia quá trình này Quá trình toàn cầu hóa, đặc
biệt là toàn cầu hóa kinh tế, tạo điêu kiện cho các quốc gia, các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế,
chế độ chính trị - xã hội khác nhau tham gia, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, là điều kiện thuận lợi đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội, là cơ hội cho sự giao lưu giữa các nền văn hóa, văn minh trên phạm vi toàn cầu ngày càng mạnh mẽ hơn
Quá trình toàn cầu hóa đã và đang đem lại những thành tựu đáng kể nhưng cũng làm xuất hiện
những vấn đề phức tạp, khó khăn, nan giải mang tính toàn cầu Toàn cầu hóa đang diễn ra như một xu
thế lớn trong sự vận động của lịch sử thế giới đương đại, nổi lên trong những xu hướng chủ đạo chi
phối hệ thống quan hệ quốc tế, đang tác động hàng ngày, hàng giờ đến mọi hoạt động, đến mối quan
hệ giữa các quốc gia, các dân tộc Toàn cầu hóa là một quá trình không đơn giản mà là rất phức tạp với
những biến cố khôn lường, đầy mâu thuẫn Quá trình toàn cầu hóa được xem như "con dao hai lưỡi"
vừa mang lại cho các nước, đặc biệt các nước đang phát triển những cơ hội lớn trong quá trình hội
nhập vào nền kinh tế thế giới nhưng cũng mang lại không ít những khó khăn, thử thách trong nhiều
vấn đề ở nhiều lĩnh vực khác nhau
Toàn cầu hóa có những tác động đáng kể đến các nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
xã hội, văn hóa nhưng đặc biệt là trong kinh tế Đối với các nước đang phát triển, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa là cơ hội để các quốc gia này phát huy lợi thế của mình, được bổ sung những yếu tố
mới, hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước
và cải thiện vị thế ở một số nước Tuy nhiên, đằng sau những thành tựu mà các nước đang phát triển đạt được là nhiều thách lớn mà các nước này phải đối đầu Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, khách quan của lịch sử, các nước trên thế giới không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa Đông Nam Á là
Trang 9một khu vực khá nhạy cảm với những vấn đề của thế giới Hầu hết các quốc gia trong khu vực đều là
những nước đang phát triển và chịu tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, trong đó có Việt Nam Các nước đang phát triển Đông Nam Á đang trong quá trình phát triển hết sức năng động Toàn
cầu hóa mang lại nhiều cơ hội và cũng đặt ra không ít thách thức cho các nước trong khu vực, buộc các nước phải có những đối sách thích hợp để vừa tận dụng cơ hội do toàn cầu hóa mang lại và khắc
phục những hạn chế của quá trình này
Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm hiện nay là tác động của quá trình toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển, những cơ hội và thách thức mà toàn cầu hóa mang lại cho các nước này Trong xu thế chung của thế giới, các nước đang phát triển ở Đông Nam Á cũng chịu những
tác động không nhỏ Do đó, với đề tài "Những cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát
tri ển ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2006",
học viên mong muốn đi sâu vào tìm hiểu rõ hơn về những tác động của toàn cầu hóa đến một số nước Đông Nam Á và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong thời kỳ quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế của các nước đang hết sức sôi động
2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Vấn đề toàn cầu hóa là một vấn đề mới và được các nhà nghiên cứu đề cập đến trong thời gian
gần đây Ngày nay, toàn cầu hóa đã tác động lên nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho các nước này trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Toàn cầu hóa cũng là một vấn đề khá rộng, được đề cập đến từ nhiều phương diện, nhiều khía cạnh khác nhau Toàn cầu hóa không chỉ là toàn cầu hóa kinh tế nhưng nó
vốn xuất phát từ những biểu hiện thuộc về kinh tế Từ kinh tế, toàn cầu hóa có tác động đến các lĩnh
vực khác Với một vấn đề khá rộng lớn như vậy, luận văn chỉ tập trung vào làm rõ tác động của toàn
cầu hóa một cách khái quát nhất với những biểu hiện tiêu biểu nhất đến các nước đang phát triển ở Đông Nam Á
V ề không gian, tôi xin tập trung nghiên cứu vào các nước đang phát triển nhất ở Đông Nam Á Các nước ở Đông Nam Á hầu hết được xem là những nước đang phát triển và được sắp xếp theo từng
cấp độ khác nhau Trong giới hạn của luận văn này, tôi đề cập đến những nước phát triển nhất trong khu vực Đông Nam Á - những nước đã và đang bước vào hàng ngũ các nước công nghiệp hóa mới (NICs) gồm các nước: Singapore, Thailand, Malaysia, Philippines và Indonesia Trong những nước này, trừ Singapore thuộc vào hàng ngũ "bốn con hổ châu Á" (Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore), những nước còn lại chưa đạt trình độ phát triển như trường hợp của Singapore nhưng có
sự phát triển vượt trội so với các nước đang phát triển khác ở Đông Nam Á Đây cũng là 5 nước thành viên sáng lập tổ chức khu vực ASEAN (tạm gọi là nhóm ASEAN-5) Mỗi nước này có con đường phát triển riêng nhưng cũng có những đặc điểm tương đồng trong quá trình phát triển của mình từ sau
Trang 10khi độc lập cho đến nay Đây là những nước mà quá trình toàn cầu hóa có những tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của họ
V ề thời gian, chúng tôi tập trung nghiên cứu những tác động của toàn cầu hóa đến các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2006 Từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, làn sóng toàn cầu hóa nổi lên mạnh mẽ trong lịch sử thế giới đương đại Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ hai đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Từ năm 1989 trở đi, internet cũng được nhiều người trên thế giới biết đến với mạng rộng toàn cầu (world wide web) Từ khi internet xuất hiện đã thúc đẩy công nghệ thông tin phát triển thêm một bước mới, liên kết mọi người trên thế giới và rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian giữa các quốc gia, các châu lục trên thế giới Sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội các nước trên thế giới nhanh chóng Đặc biệt, tháng 12 năm 1989 cũng đánh dấu sự
kết thúc tình trạng chiến tranh lạnh giữ Liên Xô và Mỹ, mở ra một thời kỳ phát triển mới giữa hai hệ
thống các nước theo hai con đường chính trị khác nhau, các nước bước vào giai đoạn hợp tác, phát triển hòa bình và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Mục đích của đề tài tập trung giải quyết những vấn đề mang tính thời sự hiện nay ở các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á:
- Những cơ hội mà quá trình toàn cầu hóa mang lại cho các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á
- Những thách thức mà các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á phải đối mặt trong quá trình toàn cầu hóa
- Những giải pháp đặt ra và những bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có Việt Nam
3 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Toàn cầu hóa hiện nay là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có nhiều bài viết đề
cập đến với nhiều khía cạnh khác nhau, dưới góc nhìn khác nhau cả về mặt lý luận, phương pháp tiếp
cận vấn đề cũng như thực tiễn, chủ yếu các công trình nghiên cứu tập trung vào vấn đề toàn cầu hoá kinh tế Ở nước ta, nhiều công trình nghiên cứu về toàn cầu hóa được công bố trình bày những quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa và những cơ hội và thách thức mà nó mang lại, từ đó đề cập đến
những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trên con đường hội nhập nền kinh tế quốc tế cũng như tham gia vào quá trình toàn cầu hóa
Trong bộ sưu tập chuyên đề "Những vẩn đề của toàn cầu hóa kinh tế", Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, năm 2001 do TS Nguyễn Văn Dân chủ biên, đã tập hợp các bài viết xoay quanh vấn đề toàn
Trang 11cầu hóa với nhiều quan điểm khác nhau, viết về toàn cầu hóa với nhiều cách nhìn khác nhau mang tính
lý luận khái quát, hoặc đi vào tìm hiểu một mảng nhỏ của toàn cầu hóa như vai trò của các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc tế nắm vai trò chủ yếu trong quá trình toàn cầu hóa
Với cuốn "Toàn cầu hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn" do GS TS Lê Hữu Nghĩa và TS
Lê Ngọc Tòng chủ biên thì đề cập đến vấn đề lý luận về toàn cầu hóa trong phần I, phần II là tập hợp
những bài viết viết về tác động của quá trình toàn cầu hóa đến các nước một cách chung nhất, trong đó
có nói đến các nước đang phát triển và Việt Nam
Cuốn "Toàn cầu hóa phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu" của Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2001, do tập thể tác giả biên soạn hướng dẫn cách tiếp cận vấn đề toàn cầu hóa với nhiều cách nhìn khác nhau, thông qua các phương pháp nghiên cứu thuộc các khía
cạnh về triết học, chính trị, kinh tế Thông qua đó, các tác giả còn phân tích những vấn đề bản chất của toàn cầu hóa và những vấn đề đặt ra cho các nước đang phát triển trong quá trình hội nhập
Công trình "Toàn c ầu hóa với các nước đang phát triển" của ba tác giả K Bubl, R Kruege,
H Marienburg do Nxb Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2002 đề cập đến toàn cầu hóa chuyên sâu về kinh tế và tình hình các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả Trần Văn Tòng trong cuốn "Tính hai mặt của toàn cầu hóa" của Nxb Thế giới, Hà
Nội, năm 2000, đưa ra những cơ hội và thách thức do quá trình toàn cầu hóa đưa lại, nhưng chủ yếu
tập trung phân tích về những thách thức mà các nước sẽ gặp phải trong thời kì 1985 - 1995
Với cuốn sách "Toàn cầu hóa: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn
hóa", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2006, tác giả Phạm Thái Việt tập trung phân loại và giới thiệu những quan điểm tiêu biểu về toàn cầu hóa Đây là cuốn sách nói về toàn cầu hóa nghiêng về lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội, tác giả phân tích những đảo lộn đang diễn ra trong thực tiễn đời
sống chính trị, xã hội, văn hóa của các công đồng dân tộc, đồng thời nêu lên những thay đổi chính sách của các nước nhằm thích ứng và tận dụng những cơ hội do toàn cầu hóa mang lại và hạn chế
những tác động tiêu cực toàn cầu
Cuốn "Toàn cầu hóa và những hiện thực mới" của Nxb Trẻ, Thời báo kinh tế Sài Gòn và
trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, năm 2004, đã tập hợp những bài viết của nguyên Thủ
tướng Malaysia Mahathir Mohamed về toàn cầu hóa Trong đó, ông nêu lên những vấn đề cơ bản nhất
của toàn cầu hóa, những biểu hiện mang tính lịch sử của toàn cầu hóa và những tác động của nó đến các nước đang phát triển ở châu Á, trong đó có đất nước Malaysia của ông
Trong công trình nghiên cứu của GS.TS Lê Hữu Nghĩa và các tác giả khác, "Xu thế toàn cầu
hóa trong hai thập niên đầu thể kỉ XX" do Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2007, các
tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu, làm rõ bản chất của quá trình toàn cầu hóa hiện nay, đánh giá tác động
Trang 12của nó đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thế giới cũng như trong nước và dự báo xu hướng phát triển của quá trình toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI Đồng thời, tác giả cũng phân tích những thời cơ và thách thức của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, nguyên nhân thành công cũng như thất bại thời gian qua trong quá trình hội nhập và các kiến nghị
Các tác giả của Viện nghiên cứu Đông Nam Á cũng có những phân tích sâu sắc về tình tình
Đông Nam Á trong xu thế toàn cầu hóa trong cuốn "Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam Á
th ập niên đầu thế kỉ XXI" của Nxb Khoa học Xã hội, năm 2007 Cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề
nổi lên với những thách thức và cơ hội của các quốc gia Đông Nam Á trong xu thế toàn cầu hóa; các quá trình hợp tác trên nhiều cấp độ song phương, đa phương giữa các quốc gia và tổ chức khu vực,
những vấn đề kinh tế chính trị nổi bật Những cơ hội và thách thức mà các tác giả nói đến không chỉ đối với khu vực nói chung mà còn đối với các quốc gia nói riêng cho thấy các nước cần có những chính sách phù hợp để đẩy mạnh hội nhập sâu rộng hơn nữa và có biện pháp để giải quyết những thách thức, khó khăn của từng nước trong tình hình mới
Ngoài ra, còn có một số tài liệu khác viết về sự tác động của toàn cầu hóa đến Việt Nam dưới cái nhìn trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam hiện nay Nhiều bài viết được đăng trên các báo, tạp chí với đề tài toàn cầu hóa như tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, báo Nhân dân , tài liệu của Thông tấn xã Việt Nam
Và nhiều tài liệu lấy từ Intemet, những báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
Nhìn chung, đa số các tác giả viết về đề tài toàn cầu hóa một cách khái quát trên cách nhìn nhận chung, phân tích những đặc điểm, những cơ hội và thách thức mà toàn cầu hóa mang lại nhưng chưa
đi sâu vào nghiên cứu tác động của toàn cầu hóa ở một quốc gia cụ thể Trên cơ sở những tài liệu tập
hợp được từ nhiều nguồn khác nhau, chúng tôi cố gắng làm rõ vấn đề tác động của toàn cầu hóa đến
một số nước ở Đông Nam Á mà đề tài muốn nói đến, những đối sách của các nước này và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic để xem xét một cách khách quan, toàn diện và biện chứng về quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của các nước đang phát triển ở Đông Nam Á trong quá trình hội nhập
Ngoài ra, để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ
thể của khoa học lịch sử và các phương pháp liên ngành như địa lí kinh tế, phương pháp nghiên cứu kinh tế để hoàn thành đề tài này
Trang 135 C ấu trúc của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung chính gồm 3 chương, phần kết luận, tài liệu tham khảo và
phần phụ lục
Nội dung đề tài gồm các chương cụ thể như sau:
Chương 1: Toàn cầu hóa và những tác động của nó đối với thế giới và khu vực Đông Nam Á
1.1 Toàn cầu hóa - một số vấn đề lý luận
1.2 Những tác động của quá trình toàn cầu hóa đến sự phát triển của các nước trên thế giới 1.3 Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa
Chương 2: Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong quá trình hội nhập và phát tri ển từ năm 1990 đến năm 2006
3.3 Những tác động của toàn cầu hóa đến Việt Nam
3.4 Bài học kinh nghiệm của các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong quá trình
hội nhập quốc tế
Trang 14CHƯƠNG 1: TOÀN CẦU HÓA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
1.1 Toàn c ầu hóa – một số vấn đề lý luận
1.1.1 Khái ni ệm
Toàn cầu hóa là một thuật ngữ được nhiều người biết đến trong vài thập niên trở lại đây và là đề tài được nhiều người bàn đến Trong tiếng Anh, động từ "toàn cầu hóa" (globalize) và danh từ "sự liên
kết toàn cầu" (globalism) lần đầu tiên được đưa vào trong cuốn sách của Reiser và Davies từ năm
1944 Danh từ "toàn cầu hóa" (globalization) thì xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn từ điển tiếng Anh
của Webster vào năm 1961, năm 1962 thì được đưa vào trong từ điển Oxford nhưng phải đến những năm 80 của thế kỉ XX nó mới bắt đầu phổ biến
Tùy theo cách hiểu nội dung toàn cầu hóa ở những góc độ khác nhau mà người ta có những cách định nghĩa khác nhau Hiện nay, có nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về toàn cầu hóa, nhưng nhìn chung chủ yếu có hai loại theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp người ta xem toàn cầu hóa như một khái niệm về toàn cầu hóa kinh tế chỉ hiện
tượng hoặc quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Có thể nêu ra một vài định nghĩa tiêu biểu dưới đây
Ủy ban châu Âu định nghĩa về toàn cầu hóa như sau: "Toàn cầu hóa có thể được định nghĩa như
là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do tính năng động của việc bán hàng hóa và dịch vụ cũng như do tính năng động của sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ" [56, tr.71]
Theo báo cáo "World Economic Outlook 1997": Toàn cầu hóa là sự lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng lên giữa các nước trên thế giới do tăng nhanh khối lượng và sự đa dạng của những chuyển dịch có tính xuyên biên giới quốc gia về hàng hóa dịch vụ và các luồng vốn quốc tế, cũng như
nhờ sự phổ biến công nghệ ngày càng rộng rãi và nhanh chóng làm chuyển hóa thế giới thành một hệ
Trang 15hóa như một khái niệm kinh tế chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia
Theo Walter Good, toàn cầu hóa là chỉ "khuynh hướng gia tăng các sản phẩm có bộ phận cấu thành được chế tạo ở một loạt nước" [99, tr.l 17] Định nghĩa này chỉ giới hạn trong nền sản xuất quốc
tế
Một số tác giả thuộc Trung tâm phương Nam (The South Center) cho rằng "Toàn cầu hóa là sự liên kết các yếu tố sản xuất trong các nước khác nhau dưới sự bảo trợ hoặc sở hữu của các công ty xuyên quốc gia và sự liên kết các thị trường hàng hóa và tài chính được thuận lợi hóa bởi quá trình tự
Charles P Oman định nghĩa toàn cầu hóa là "sự tăng lên hoặc một cách chính xác hơn là sự tăng lên ngày càng nhanh của các hoạt động kinh tế vượt ra khỏi biên giới các quốc gia và các khu vực" [111, tr 221]
Các nhà kinh tế học thuộc Cơ quan thương mại và phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) đưa ra
một định nghĩa đầy đủ và cụ thể hơn rằng: "Toàn cầu hóa liên hệ với các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các
cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không
ngừng gia tăng đó" [115, tr.70]
Toàn cầu hóa là giai đoạn cao của quá trình phát triển lực lượng sản xuất thế giới, là kết quả tất
yếu của kinh tế thị trường và khoa học công nghệ Toàn cầu hóa ngày nay, về bản chất là sự tăng trưởng của hoạt động kinh tế nói chung vượt khỏi biên giới quốc gia và khu vực Toàn cầu hóa có nội dung chủ đạo là toàn cầu hóa kinh tế và phát triển kinh tế cũng vừa là mục tiêu và động lực của toàn
cầu hóa
Quan niệm được nhiều người tán thành nhất là xem toàn cầu hóa là biểu hiện, là kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫn đến sự phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia, dân tộc trên quy mô toàn cầu trong sự vận động, phát triển
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa như là một hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế
làm tăng sự ảnh hưởng, phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, xã
Trang 16hội, an ninh, đến văn hóa, môi trường giữa các quốc gia, các dân tộc Có một số định nghĩa tiêu biểu như sau:
Theo Jan Aart Scholte, "toàn cầu hóa là một xu hướng làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên ít
bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ" [86, tr 231]
Các nhà phân tích của Ban thư ký tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng, "toàn cầu hóa
là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát của lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị và các hậu quả sự phân phối" [120, tr.33]
Theo Thung Ju Lan (Trung tâm nghiên cứu Vãn hóa xã hội, Viện Khoa học Indonesia) cho
rằng: "Toàn cầu hóa được định nghĩa chung là quá trình kết nối toàn cầu trong đó các lực lượng toàn
cầu như vốn, thị trường, thông tin, công nghệ và hệ thống quan chức ảnh hưởng khác nhau đến sự phát triển kinh tế - xã hội và chính trị của mỗi nước trên thế giới" [88, tr 36]
Cũng cho toàn cầu hóa là một quá trình mở rộng ở nhiều phương diện, Nguyễn Hoàng Giáp định nghĩa một cách tổng quát: "Toàn cầu hóa trước hết là một quá trình phổ biến theo hướng nhất thể hóa trên phạm vi toàn cầu những giá trị, tri thức, những hoạt động, những mô hình – cấu trúc trong các lĩnh vực từ kinh tế, khoa học kĩ thuật đến văn hóa, chính trị, xã hội " [23, tr.57-59]
Một cách định nghĩa khác được nhiều người chấp nhận hiện nay là định nghĩa của GS TS Lê
Hữu Nghĩa: "Toàn cầu hóa xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội
của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới" [56, tr.27]
Ngày nay, khi mà quá trình toàn cầu hóa lan rộng đến mọi lĩnh vực và có ảnh hưởng khá mạnh
mẽ thì người ta cũng nhận thấy rằng toàn cầu hóa không chỉ là một khái niệm hẹp xét riêng về một khía cạnh, một lĩnh vực nào đó mà toàn cầu hóa là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và cả cách sống Trong đó, toàn cầu hóa kinh tế là trung tâm, là cơ sở, cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hóa Và toàn cầu hóa kinh tế hiện nay
là một xu thế nổi trội nhất
Trên cơ sở các định nghĩa trên về cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng, chúng ta có thể định nghĩa khái
niệm toàn cầu hóa một cách khái quát và cụ thể hơn
Toàn c ầu hóa là sự tác động, ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ đối với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới; là kết quả của một quá trình lịch sử tự nhiên mang tính khách quan và tất yếu, chứa đựng các cơ hội và thách thức trong mọi lĩnh vực đối với mọi quốc gia trong quá trình hội nhập
Trang 17Như vậy, toàn cầu hóa là kết quả của sự vận động và phát triển của lịch sử, nó bao gồm nhiều phương diện, có tác động mạnh mẽ đến các quốc gia trong thời đại ngày nay Trong đó, toàn cầu hóa kinh tế là trọng tâm nhất trong quá trình toàn cầu hóa và chi phối các lĩnh vực còn lại
Khi tìm hiểu về hiện tượng toàn cầu hóa, người ta còn nhắc đến một số khái niệm có liên quan đến vấn đề này như toàn cầu hóa kinh tế, quốc tế hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn c ầu hóa kinh tế vốn là cái cốt lõi, bản chất của toàn cầu hóa Khi xét về toàn cầu hóa nói
chung, người ta thường tập trung nghiên cứu về khía cạnh kinh tế, do đó một số tác giả hiểu toàn cầu hóa là toàn cầu hóa kinh tế như đã trình bày ở trên, một số khác lại có cách định nghĩa toàn cầu hóa kinh tế một cách cụ thể
Theo PGS TS Đỗ Lộc Diệp, "toàn cầu hóa kinh tế là quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế đã đạt đến trình độ đưa vào lưu thông kinh tế toàn cầu các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, dựa trên
sự phân công lao động toàn cầu, thông qua các loại hình quan hệ kinh tế khác nhau giữa các nước và
do đó khiến cho các nền kinh tế quốc gia xâm nhập và gắn bó chặt chẽ với nhau, chuyển hóa thành nền kinh tế toàn cầu"[12,tr.44-49]
Ngoài ra có quan điểm cho rằng: "Thực chất của toàn cầu hóa (kinh tế) là tự do hóa kinh tế và
hội nhập quốc tế, trước hết là về thương mại, đầu tư, dịch vụ v.v Tự do hóa kinh tế cũng có mức độ khác nhau, từ giảm thuế quan đến xóa bỏ thuế quan; tự do hóa thương mại đến tự do hóa đầu tư, dịch
vụ; tự do hóa kinh tế trong quan hệ hai bên đến nhiều bên, trong quan hệ khu vực đến toàn cầu" Các chuyên gia OECD cho rằng: toàn cầu hóa kinh tế là sự vận động tự do của các yếu tố sản xuất nhằm phân bổ tối ưu các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu Còn theo Quỹ tiền tệ quốc tế thì toàn cầu hóa là sự gia tăng không ngừng các luồng mậu dịch, vốn, kĩ thuật với quy mô và hình thức phong phú, làm tăng
sự tùy thuộc vào nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới
V ề cơ bản có thể hiểu "toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế thế giới
thống nhất Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và qui mô mậu dịch thế
giới, sự lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu" Và ba quá trình chính mà
bất cứ quốc gia nào muốn gia nhập đều không thể tránh khỏi là tự do hóa thương mại, tự do hóa tài chính và tự do hóa đầu tư
Thuật ngữ "hội nhập " (integration), còn được hiểu là "hội nhập kinh tế quốc tế "xuất hiện và
sử dụng phổ biến trong bối cảnh ngày nay các nước xúc tiến mạnh mẽ chính sách đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ quốc tế, tích cực triển khai các nỗ lực để gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực
Trang 18Vì thế, hội nhập kinh tế quốc tế chính là quá trình chủ động gắn nền kinh tế và thị trường của
từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Hội nhập thực chất cũng là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa
Qu ốc tế hóa là thuật ngữ được sử dụng trước khi có thuật ngữ toàn cầu hóa Quốc tế hóa ghi
nhận sự xuất hiện xu hướng tương tác quốc tế phát triển và thâm nhập lẫn nhau về lợi ích, quan hệ kinh tế và thương mại, xu hướng này có tính chất tích cực và có định hướng rõ ràng vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Giữa hai khái niệm "quốc tế hóa" và "toàn cầu hóa" có quan hệ thân thuộc với nhau nhưng cũng không nên đồng nhất chúng Nếu có thể xác định quốc tế hóa như là quá trình tăng cường quan hệ và trao đổi quốc tế thì toàn cầu hóa đặc trưng và biểu thị sự chuyển biến quá trình này thành sự hình thành một thế giới toàn vẹn, trong khuôn khổ đó các xã hội, các quốc gia và các khu vực riêng biệt ngày càng có được những đặc điểm của các bộ phận trong một chỉnh thể thống nhất Toàn cầu hóa là
sự phát triển về chất của quốc tế hóa
1.1.2 Toàn c ầu hóa là một quá trình mang tính lịch sử
Hiện tượng toàn cầu hóa ngày nay được hình thành bởi nhiều nhân tố khác nhau và là hệ quả tất
yếu của sự phát triển lịch sử thế giới Đó là một quá trình được hình thành trong lịch sử và xu thế toàn
cầu hoá diễn ra mạnh mẽ như vũ bão ngày nay là một giai đoạn phát triển cao hơn của một quá trình
quốc tế hóa đã có từ trước
Quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu hóa cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung có thể nhìn nhận rằng đa số các nhà nghiên cứu đều xác định một số tiền đề của toàn cầu hóa ngày nay từ cuối thế kỉ XV, khi kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển với những cuộc phát kiến địa
lý, quan hệ quốc tế bắt đầu được đẩy mạnh ở những khu vực có điều kiện thuận lợi cho phát triển hàng hóa và mở rộng thị trường
Từ cuối thế kỉ XVIII, cách mạng kĩ thuật đầu tiên dẫn đến sự ra đời của nền kinh tế thị trường còn gọi là nền công nghiệp cơ khí Làn sóng công nghiệp hóa từ Anh sau lan sang các nước Pháp, Đức, Hoa Kỳ với sức sản xuất to lớn đòi hỏi tìm nguồn nguyên liệu và thị trường Thời kì này gắn
liền với những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa kéo dài đến các thế kỉ sau
Cuối thế kỉ XIX đầu thể kỉ XX, các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển mạnh, người ta xem như hình thành quá trình quốc tế hóa dựa trên nền sản xuất lớn hàng hóa và nền thương mại có quy mô
quốc tế Thời kì này chứng kiến một luồng di cư (khoảng 60 triệu người) từ châu Âu sang Mỹ và Ốtxtrâylia để tìm vàng hay tìm cuộc sống tốt hơn ở vùng đất mới, từ Trung Quốc và Ấn Độ đến các
Trang 19lãnh thổ thuộc Anh ở Đông Nam Á và châu Phi Sự di cư này kích thích sự phát triển của giao thông
và thông tin, khiến cho hàng hóa, sức lao động và tiền bạc được di chuyển giữa các quốc gia
Quá trình quốc tế hóa tiếp tục phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập niên 1980 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản đã liên kết chặt chẽ để đẩy mạnh kinh tế tư bản lên một tầm mới thông qua các tổ chức quốc tế và các vòng đàm phán thương mại như GATT (Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch) và dẫn đến thành lập WTO (Tổ chức thương mại
thế giới) hay IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) Bên cạnh đó, các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới cũng
bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động của họ vào các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước Mĩ Latinh
Sự phát triển của nền đại công nghiệp và quá trình quốc tế hóa cuối thế kỉ XX đòi hỏi có sự thay đổi về khoa học kĩ thuật Nhu cầu đó thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới và cách mạng công nghiệp lần thứ ba đưa đến hình thành nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức phát triển vượt lên trên nền kinh tế công nghiệp và phát triển trong một bối cảnh mới trên cả quá trình quốc tế hóa là toàn
cầu hóa
Giai đoạn toàn cầu hóa hiện đại (từ cuối thập niên 1980 đến nay): nổi lên những đặc điểm là sự
kết thúc trật tự thế giới có hai phe đối kháng và hình thành trật tự thế giới nhiều trung tâm, sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất, nhất là khoa học kỹ thuật và công nghệ, sự phát triển chưa từng
có của các mối quan hệ kinh tế và cạnh tranh quyết liệt trong các khu vực và trên thế giới
Mặc dù có nhiều cách phân chia khác nhau về các giai đoạn phát triển của toàn cầu hóa, nhưng
tất cả đều công nhận rằng từ những năm 80 của thế kỉ XX, toàn cầu hóa phát triển rất mạnh mẽ, đặc
biệt sau khi kết thúc chiến tranh lạnh khi các nước tiến lại gần nhau hơn về mặt hợp tác kinh tế Cũng
từ giai đoạn này đã chứng kiến sự lớn mạnh của vận tải hàng không, công-ten-nơ hóa, thông tin liên
lạc, công nghệ sinh học và Internet Những thành tựu khoa học này đã giúp thế giới thu hẹp lại rất nhiều bằng "tốc độ cao, khoảng cách nhỏ, mật độ cao và cường độ lớn" Đối với những gì đang diễn ra ngày nay thì có thể thấy rằng toàn cầu hóa là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hóa và là giai đoạn chuyển biến về chất của quá trình quốc tế hóa Tuy nhiên, không nên đồng nhất quá trình quốc tế hóa với toàn cầu hóa
1.1.3 Nh ững nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa
Chính sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và tính chất xã hội hóa của lực lượng sản
xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế đã thúc đẩy sự phân công lao động quốc tế ngày càng thêm sâu
rộng, đẩy mạnh sự phát triển nhanh chóng của thị trường, mậu dịch quốc tế và đầu tư, tạo điều kiện
Trang 20cho quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ Khi chủ nghĩa tư bản hình thành và xác lập vị trí của nó trên thế giới cùng với các thành tựu khoa học kĩ thuật trong cuộc cách mạng công nghiệp đã đạt được, các lực lượng sản xuất đã phát triển mạnh mẽ, gắn liền với sự hình thành của thị trường thế giới và người ta cho nó là cơ sở của quá trình quốc tế hóa K Marx và F Engels đã cho rằng do sự phát triển
của lực lượng sản xuất đã dẫn đến sự phân công lao động sản xuất quốc tế, làm cho quá trình sản xuất
và tiêu thụ mang tính quốc tế, gắn bó, phụ thuộc vào nhau Marx và Engels đã viết: "Đại công nghiệp
đã tạo ra thị trường thế giới ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc" [49, tr.47]
Chính do lực lượng sản xuất phát triển đã làm cho thương mại và đầu tư có tính quốc tế, kéo theo đó là quá trình di dân, lao động và giao dịch tài chính phát triển mạnh mẽ vượt khỏi biên giới một
quốc gia Quan hệ giữa các quốc gia không còn là quan hệ một chiều phổ biến như trước mà chuyển
dần sang quan hệ tương hỗ lẫn nhau từ khi các quốc gia thuộc địa, phụ thuộc giành được độc lập Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khoa học kĩ thuật phát triển mạnh và trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp thúc đẩy sự phân công lao động phát triển lên một bước mới Đặc biệt, những thành tựu
của khoa học công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ đã làm thay đổi về chất của lực lượng sản xuất, cho ra đời hàng loạt các ngành kinh tế mới, làm thay đổi diện mạo nền kinh tế toàn cầu Cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ đưa loài người từ nền văn minh công nghiệp lên nền văn minh tin học, từ nền sản xuất cơ khí lên nền
sản xuất tự động hóa, tin học hóa, từng bước đưa nền kinh tế công nghiệp lên nền kinh tế tri thức Sự phát triển của nền kinh tế tri thức, đặc biệt có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện thuận
lợi cho sự đẩy mạnh xu thế toàn cầu hóa Công nghệ thông tin hiện đại đã làm tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, buôn bán và các dịch vụ khác, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian giữa các vùng trên thế giới, làm cho các quốc gia, các dân tộc xích lại gần nhau hơn Cũng nhờ vào cuộc cách
mạng công nghệ này đã làm giảm chi phí viễn thông, vận tải tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức, các nhà sản xuất, các hoạt động trong các lĩnh vực thuận tiện hơn, dễ tiếp cận hơn, thiết lập mối quan
hệ gần gũi, cho phép liên kết chặt chẽ hơn giữa thị trường, nhà sản xuất, nhà cung ứng và nhà tiêu dùng
Có thể nói đây là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy toàn cầu hóa phát triển nhanh chóng
Các tổ chức kinh tế, tài chính thương mại trên thế giới ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế
quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế Sự tồn tại và hoạt động của các định chế này lại thúc đẩy sự phát triển của toàn cầu hóa
Trang 21Có thể kể đến một số tổ chức ảnh hưởng rất lớn đến quá trình toàn cầu hóa là Tổ chức thương
mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB)
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức kinh tế thương mại có vai trò hàng đầu trong
việc thúc đẩy sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế Tiền thân của WTO là Hiệp định về thuế quan và mậu dịch (GATT) ra đời năm 1947 Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế
giới và vai trò của các quốc gia đang phát triển tăng lên, những qui định của GATT ngày càng bộc lộ
những bất hợp lý Ngày 1/1/1995, WTO ra đời thay thế cho GATT WTO có chức năng điều hành và
thực thi các hiệp định thương mại đa phương và hiệp định giữa một số bên cấu thành WTO WTO
hoạt động với tính chất một diễn đàn cho các cuộc thương lượng mậu dịch đa phương, tìm kiếm các
giải pháp xử lý tranh chấp thương mại, giám sát các chính sách thương mại quốc gia và hợp tác với các thiết chế quốc tế khác liên quan tới hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu Với chức năng trên, WTO đã đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tự do hóa trong thương mại toàn cầu
WTO qui định các quốc gia khi gia nhập phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý theo các hiệp định
hiện có của WTO Vì vậy, cần phải điều chỉnh những qui định luật lệ quốc gia cho phù hợp với thông
lệ chung của quốc tế, theo lộ trình phù hợp với WTO Bên cạnh đó, các quốc gia tham gia vào WTO
phải cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, các qui định này thúc đẩy các quốc gia tham gia vào quá trình toàn cầu hóa
Các tổ chức tài chính tiền tệ lớn như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế thế giới theo xuhướng toàn cầu hóa Các tổ chức này tham gia vào điều chỉnh quan hệ tài chính, tiền tệ giữa các quốc gia thành viên và thực hiện cho vay để
hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Tổ chức Ngân hàng thế giới (WB) thành lập năm 1946 và chính thức đi vào hoạt động Hoạt động chủ yếu của WB là vay, cho vay và gửi tiền nhằm hỗ trợ, kích thích các nền kinh tế phát triển
WB có vai trò thúc đẩy đầu tư thông qua những hoạt động của mình và có chức năng hỗ trợ và kích thích tăng trưởng nhằm đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa Với chức năng này, WB đã hấp dẫn nhiều nước đang phát triển WB đầu tư cho nhiều dự án, những chương trình dài hạn cho nhiều quốc gia như
những dự án mang tính sản xuất trực tiếp, những dự án hậu cần, những dự án xã hội Phần lớn WB chú trọng đến tăng trưởng kinh tế, chỉ hơn 10% dành cho các dự án xã hội nhằm giảm bớt đói nghèo
Việc đầu tư của WB vào các dự án cho nhiều nước đã góp phần đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa Bởi
vì các nước muốn được WB đầu tư đòi hỏi phải cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng mở cửa hội nhập khu vực và thế giới
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ra đời năm 1944, bắt đầu hoạt động năm 1947 Hoạt động của IMF
thực hiện nhiều dự án nhằm hỗ trợ cho sự phát triển, giải quyết các vấn đề khó khăn, khủng hoảng của
nền kinh tế các nước Nếu WB thực hiện những khoản cho vay dài hạn thì IMF thực hiện những khoản
Trang 22cho vay ngắn và trung hạn giúp các nước giải quyết các vấn đề nợ quốc tế, phát triển kinh tế Vấn đề điều chỉnh cơ cấu kinh tế được coi là điều kiện then chốt buộc các nước phải thực hiện nếu muốn được IMF cho vay hay hỗ trợ các dự án
Ngoài các định chế kinh tế trên, Liên Hiệp Quốc là một tổ chức quốc tế, một diễn đàn quan
trọng nhất cho việc thảo luận các vấn đề kinh tế và phát triển Liên Hiệp Quốc có các tổ chức trực thuộc và chuyên môn như Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tổ chức chuyên môn trong các lĩnh vực năng lượng, viễn thông, sở hữu trí tuệ, y tế, văn hóa đã thúc đẩy hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề toàn cầu Cùng với các tổ chức có tính chất toàn cầu trên, các tổ chức mang tính liên kết khu vực như EU, ASEAN, NAFTA cũng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế Tác động của các tổ chức này đến xu thế toàn cầu hóa thể hiện theo hai hướng chính: Thứ nhất, các quốc gia trong khu vực tiến tới những chuẩn mực chung trong quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm Trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác song phương và đa phương làm tăng thêm sự
gắn bó tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Thứ hai, hoạt động của các tổ chức liên kết khu vực này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến việc hình thành một thị trường thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham gia phải có lộ trình hội nhập tích cực để hòa đồng vào khu vực
Như vậy, trong xu thế toàn cầu hóa các định chế, các tổ chức quốc tế và khu vực cùng với xu thế
khu vực hóa đã tác động, xâm nhập lẫn nhau và cùng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa phát triển
1.1.3.4 Nh ững vấn đề mang tính toàn cầu
Hiện nay, khi thế giới càng phát triển thì nhân loại phải đối mặt với những vấn đề lớn mang tính toàn cầu như vấn đề môi trường, khan hiếm nguồn nước sạch, nạn khủng bố tràn lan, đặc biệt sau sự
kiện 11/9 ở Mĩ, hoạt động trắng trợn của bọn tội phạm quốc tế phổ biến ở các quốc gia đòi hỏi các
quốc gia phải có sự liên kết, phối hợp hành động và phải có những giải pháp toàn cầu thông qua những chính sách ngoại giao tích cực
1.1.3.5 Chi ến tranh lạnh kết thúc đã thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh t ế quốc tế
Cuối năm 1989, chiến tranh lạnh kết thúc và sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế
giới đã kết thúc thời kì thế giới hai cực, chấm dứt sự đối đầu giữa hai hệ thống kinh tế xã hội, mở ra
một giai đoạn mới của nền kinh tế thế giới, giai đoạn các nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
và mở ra thời kì hội nhập kinh tế toàn cầu Sau chiến tranh lạnh các quốc gia đều tập trung vào điều
chỉnh chiến lược phát triển Đặc biệt, các nước sau khi giành được độc lập hòa bình, hướng tới việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Xu thế hòa bình,
Trang 23hợp tác phát triển đã trở thành xu thế chính của thời đại Bối cảnh thế giới hòa bình, hợp tác, ổn định
là nhân tố quan trọng để vấn đề toàn cầu hóa được đẩy mạnh
1.1.4 Nh ững biểu hiện của toàn cầu hóa
1.1.4.1 S ự phát triển và bành trướng của các công ty xuyên quốc gia (TCNs) - lực lượng chính chi ph ối toàn cầu hóa
Ngày nay, số lượng cũng như phạm vi ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia ngày càng mở
rộng Để giảm chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận cũng như tạo thế cạnh tranh với các tổ chức khác trong việc chiếm lĩnh thị trường, các TCNs vượt ra biên giới quốc gia của chúng và đầu tư vào các quốc gia khác
Sự hoạt động và chi phối của các TCNs trong các hoạt động thương mại, tài chính, tín dụng, đầu
tư, chuyển giao công nghệ trên phạm vi toàn cầu hình thành hệ thống chi nhánh của mình ở nhiều
quốc gia trên thế giới, lôi cuốn các nước vào vòng phong tỏa của nó, biến các quốc gia thành những bộ
phận trong quy trình sản xuất của nó Vì thế, các công ty xuyên quốc gia vừa là nhân tố chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hóa, vừa là biểu hiện của quá trình toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ trong thập niên 1980 gắn với sự phát triển mạnh mẽ và vai trò ngày càng lớn của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Từ sau chiến tranh lạnh, môi trường quốc tế có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đầu tư, kinh doanh và sự phát triển về khoa học kĩ thuật giúp các TNCs gia tăng về số lượng Nếu như vào những năm 1960, có khoảng 7000 công ty xuyên
quốc gia thì đến những năm 1980 có khoảng 20.000 Theo UNCTAD, năm 1998 có 53.000 công ty xuyên quốc gia với 450.000 công ty con ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Năm 2005, thế giới có 70.000 công ty xuyên quốc gia với 690.000 chi nhánh tập trung ở các nước phát triển (UNCTAD, 2005) Với một mạng lưới rộng khắp như vậy, hoạt động của TNCs đã tác động đến nền kinh tế toàn
cầu Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm 1998, các nước đang phát triển đã có 10.165 công ty xuyên quốc gia, trong đó châu Phi có 32, Mỹ Latinh và Carribe có 1.109, các nước Nam, Đông Nam
và Đông Nam Á có 6.242 công ty Có khoảng 500 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới tập trung
ở các nước phát triển, nhất là ở Mỹ và Nhật Bản
Hiện nay các công ty xuyên quốc gia chi phối và kiểm soát trên 80% thương mại thế giới, 4/5 đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả chuyển giao công nghệ trên thế giới
Là hình thức phát triển cao của chế độ xí nghiệp, TNCs xuất hiện đầu tiên ở các nước phát triển
Do khoa học kĩ thuật tiến bộ nhanh và sự trưởng thành của các xí nghiệp công - thương hiện đại, Mĩ
trở thành nơi phát sinh của TNCs Thông qua cạnh tranh công bằng và nhiều con đường khác, các TNCs được các nước phát triển và đang phát triển sử dụng Từ đó, TNCs trở thành hình thức tổ chức
xí nghiệp điển hình của phân công và cạnh tranh quốc tế hiện đại
Trang 24Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia không những tạo ra một bộ phận quan
trọng của lực lượng sản xuất thế giới mà còn liên kết các nền kinh tế quốc gia lại với nhau ngày càng
chặt chẽ hơn và góp phần làm cho quá trình phân công lao động quốc tế trở nên sâu sắc hơn, làm cho quá trình toàn cầu hóa được đẩy mạnh Các TNCs thực hành phương châm kinh doanh là lấy thế giới làm công xưởng, các nước làm kho hàng, thông qua việc phân công quốc tế để phát huy ưu thế của mình Một chiếc xe hơi hãng Ford của Mỹ có 27% linh kiện được sản xuất ở các nước khác Xe hơi hãng Honda của Nhật Bản đặt tại Mỹ cũng có khoảng 25% linh kiện do các nước sản xuất ra Hãng Bôinh của Mỹ sử dụng 600 công ty ở các nước khác nhau để sản xuất các linh kiện của máy bay, hoặc
một ôtô của hãng Vônphaghen (Đức) được lắp ráp bằng các chi tiết do chi nhánh của nó sản xuất ở 16 nước
Nét đặc trưng trong hoạt động của các TNCs trong những năm gần đây là sự gia tăng việc sáp
nhập và mua bán các công ty trong cùng lĩnh vực ở nhiều nước, hình thành những tập đoàn công ty xuyên quốc gia Đã diễn ra nhiều cuộc sáp nhập hoặc liên kết giữa các công ty lớn ở châu Âu, châu
Mỹ thành những đại công ty có số vốn khổng lồ như công ty liên doanh giữa Anh và Hà Lan - Royal Dutch Shell, liên minh giữa công ty BP và công ty Mobil sau đó với Amoco thành một tập đoàn khổng
lồ Các TNCs có vai trò quan trọng thúc đẩy liên kết sản xuất, tăng trưởng thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ quốc tế
Các TNCs tập trung vào lĩnh vực chế tạo và hướng vào xuất khẩu Giá trị thương mại của các TNCs tăng lên mạnh mẽ từ 2.426 tỷ USD năm 1982 lên 6.412 tỷ USD năm 1994 Vai trò thương mại
của các TNCs còn thể hiện ở giá trị thương mại thực hiện trong nội bộ các TNCs.Các TNCs đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất khẩu của các nước đang phát triền Thực chất là đẩy mạnh quá trình hội nhập của các nền kinh tế vào nền kinh tế thế giới Trong những năm gần đây, xuất khẩu của các chi nhánh TNCs ở các nước đang phát triển tăng mạnh, đặc biệt ở một số quốc gia thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1.1.3.2 Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính thúc đẩy sự liên kết và phụ thuộc chặt chẽ giữa các nền kinh tế quốc gia
Quá trình toàn cầu hóa có sự gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của kinh tế thị trường Toàn cầu hóa ngày nay hình thành và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường liên quốc gia Kinh tế thị trường càng phát triển thì nhu cầu về thị trường, nguyên liệu càng quan trọng Kinh tế
thị trường càng phát triển thì sự phân công lao động càng sâu sắc Vì vậy, các thị trường càng gắn bó
phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Điểm nổi bật của toàn cầu hóa trong lĩnh vực kinh tế là thị trường tài chính chi phối quá trình tự do hóa về thương mại, dịch vụ và đầu tư
Kinh tế thị trường phát triển đã tạo điều kiện cho sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa, được thể
Trang 25lượng sản xuất, cho qui mô sản xuât được mở rộng ra khỏi biên giới một quốc gia mà mang tầm cỡ
quốc tế, đồng thời thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế Thứ hai, kinh tế thị trường phát triển
ở các quốc gia đưa lại cơ chế thống nhất cho việc xử lý các mối quan hệ kinh tế, đó là kinh tế thị trường Với sự tồn tại của cơ chế thị trường trong nền kinh tế có ý nghĩa là phải thúc đẩy sự mở rộng đầu tư, giao dịch thương mại và tiếp nhận nguồn lao động và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất Các quốc gia muốn phát triển phải dựa trên nền kinh tế thị trường
Khi nền kinh tế thị trường càng phát triển thì sự giao thoa, thâm nhập lẫn nhau giữa các nền kinh
tế càng gia tăng Các quốc gia đẩy mạnh mở rộng nguồn vốn đầu tư nước ngoài Chẳng hạn, năm
1999, đầu tư nước ngoài vào Mỹ đạt gần 300 tỉ ƯSD, tăng 50% so với năm trước đó Nhật Bản vốn là
nước hạn chế đầu tư nước ngoài nhưng vốn đầu tư nước ngoài cũng chiếm 24% tổng vốn đầu tư vào các doanh nghiệp năm 1999
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường không chỉ ở sự mở rộng về không gian, về sự ràng
buộc xâm nhập lẫn nhau giữa các thị trường mà còn thể hiện ở sự phát triển theo chiều sâu, đó là sự bùng nổ và phát triển của thị trường tài chính Các thị trường tài chính ngày càng đan xen chặt chẽ vào nhau Lượng vốn tư nhân luân chuyển trên thị trường cũng ngày càng lớn hơn nguồn tài nguyên của nhiều nước
Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường tài chính cũng là cơ sở, là điều kiện cho toàn cầu hóa phát triển, tạo một không gian rộng lớn cho các hoạt động sản xuất và lưu chuyển các
yếu tố của quá trình sản xuất
Từ sự tương thuộc chặt chẽ giữa các nền kinh tế quốc gia, các hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính gia tăng mạnh mẽ Các nền kinh tế của các quốc gia gắn bó và tùy thuộc vào nhau, dần dần hình thành một thể thống nhất, xóa dần những ngăn trở và khoảng cách về nhiều phương diện
1.1.3.3.Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu hướng khu vực hóa và liên kết quốc tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết
Từ đầu thập niên 1990, hàng loạt các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế với nhiều cấp độ và mang tính thể chế ngày càng cao đã ra đời Về bản chất, chúng là hiện thân của xu hướng tự do hóa về thương mại và đầu tư quốc tế của tiến trình nhất thể hóa về kinh tế Đó là sự liên kết kinh tế mang tính
thể chế cao với phạm vi hoạt động rộng lớn trên quy mô toàn cầu như WTO, IMF, WB Đó là khuynh hướng hình thành một liên minh kinh tế thống nhất cho toàn khu vực như EU hoặc đó chỉ là
một thỏa thuận khu vực xuyên lục địa không mang tính thể chế nhằm thúc đẩy quá trình tự do hóa như APEC Đó là các dàn xếp khu vực ở quy mô nhỏ hơn với nhiều yếu tố đồng nhất nhằm xây dựng khu
vực mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA, MERCOUR Các tổ chức này đang tăng lên trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực Tuy nhiên, về hình thức, khu vực hóa
Trang 26tưởng chừng như đi ngược lại với toàn cầu hóa diễn ra trong phạm vi khu vực địa - kinh tế song trên
thực tế khu vực hóa luôn hướng tới một khu vực mở, nhằm nâng cao thế thương lượng cạnh tranh và
tiếng nói đồng thuận của toàn khu vực, nghĩa là thích ứng hiệu quả hơn với toàn cầu hóa Cũng có thể
khẳng định rằng khu vực hóa là biểu hiện của toàn cầu hóa ở phạm vi địa lí hẹp Nói cách khác, khu
vực hóa, liên kết quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế xét trên nhiều cấp độ đang hướng tới một nền kinh tế toàn cầu hóa và thống nhất, giúp cho các nền kinh tế quốc gia phát huy lợi thế của mình trong
nền kinh tế đã toàn cầu hóa
1.2 Nh ững tác động của quá trình toàn cầu hóa đến sự phát triển của các nước trên thế giới
Làn sóng toàn cầu hóa từ những năm sau chiến tranh lạnh đến đây có những nét đặc trưng nổi
bật của nó đã có tác động phổ biển trên nhiều cấp độ với nhiều quốc gia và khu vực và những tác động
của nó cũng không giống nhau giữa các nhóm nước Nhìn chung, toàn cầu hóa là một quá trình phức
tạp, đầy mâu thuẫn, có tính hai mặt, đã mang lại những hệ quả vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực trên tất cả các lĩnh vực, tạo ra những thời cơ và thách thức đối với tất cả các quốc gia, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển
Toàn cầu hóa góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, tỷ trọng các ngành công nghiệp
chế tạo và dịch vụ trên công nghệ cao và tri thức tăng mạnh Tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo trong GDP thế giới là 21,4% và các ngành dịch vụ là 62,4% Đây là tiền đề quan trọng cho sự phát triển và hiện đại hóa xã hội loài người
Trang 27Các nước đang phát triển tuy không có ưu thế về công nghệ, vốn, nguồn lực con người, kinh nghiệm quản lí nhưng nhờ toàn cầu hóa họ có điều kiện tiếp nhận các nguồn lực phát triển nên bắt đầu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng
Thúc đẩy nền kinh tế thị trường các nước, đòi hỏi các nước phải cải tổ và bắt nhịp vào quá trình hình thành một thị trường thế giới thống nhất
Đây là cơ hội tốt để các nước tiếp cận thị trường khu vực và toàn cầu, mở cửa thị trường bên trong nhằm hình thành đồng bộ các thể chế kinh tế thị trường trên quy mô toàn cầu Việc thâm nhập
thị trường có ý nghĩa rất lớn: quy mô thị trường được mở rộng nhờ mở cửa và hội nhập có vai trò đặc
biệt đối với tăng trưởng Đây là vấn đề hàng đầu quyết định mục tiêu của sản xuất trong sản xuất kinh doanh kinh tế thị trường; một thị trường lớn cho phép tiếp cận với nhiều ý tưởng hơn, cho phép đầu tư quy mô lớn và phân công lao động tốt hơn; một thị trường mở ra nhiều khả năng lựa chọn đối với các doanh nghiệp Một ví dụ điển hình cho sự bức phá ngoạn mục về tăng trưởng kinh tế nhờ tiếp nhận
hiệu quả các cơ hội do mở rộng thị trường đem lại đó là Trung Quốc và Ấn Độ Sự phát triển mạnh mẽ
thị trường toàn cầu dưới tác động của toàn cầu hóa đã cho phép các nước đang phát triển có thể tận
dụng được các nguồn lực của mình, nhất là nguồn lao động dồi dào để tạo thế cạnh tranh trong một số ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ Sự liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống ngày càng tăng với mức độ tăng trưởng cao hơn nhiều lần tốc độ tăng trưởng sản xuất
Toàn c ầu hóa truyền bá và chuyển giao trên quy mô lớn những thành tựu về khoa học công ngh ệ, về tổ chức và quản lí, về sản xuất và kinh doanh tạo điều kiện cho các quốc gia đi sau thực
hi ện các bước rút ngắn
Toàn cầu hóa làm tăng các hoạt động đầu tư quốc tế, chủ yếu là FDI với những đặc điểm chính
là nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng
Thông qua các cơ chế song phương và đa phương, những thành quả phát triển của nhân loại như phát triển kinh tế xã hội, công nghệ mới, các luồng vốn di chuyển xuyên quốc gia đã mang những đặc tính kế thừa và bổ sung Các nền kinh tế đi sau có điều kiện tiếp nhận chúng một cách sáng tạo để hình thành năng lực phát triển phù hợp với bản thân mình Mặt khác thông qua sự di chuyển các nguồn lực này, mỗi nước có điều kiện đối sách và lộ diện những lợi thế và bất lợi thế của mình trong
sự phát triển Theo đó, toàn cầu hóa đã có tác dụng rà soát lại những nguồn lực và khả năng phát triển
của mỗi nước, bổ sung và phân bổ lại những nguồn lực được xem là thành quả của nhân loại cho các nước cùng phát triển Trong nền kinh tế tri thức, lợi thế cạnh tranh có sự thay đổi căn bản nghiêng về
những ngành có hàm lượng công nghệ và tri thức cao Vì vậy, những nước đi sau có lợi thế so sánh ở
những ngành sử dụng nhiều lao động và vốn và chắc chắn phải hiện đại hóa các ngành này bằng công nghệ và tri thức mới nhằm tiếp tục duy trì thế cạnh tranh của chúng Kinh nghiệm thực tế cho thấy, Trung Quốc và Ấn Độ đã phát triển rút ngắn không phải đi thẳng vào các ngành sử dụng nhiều công
Trang 28nghệ và tri thức cao mà tập trung hiện đại hóa bằng công nghệ tiên tiến những ngành sử dụng nhiều lao động như điện tử, dệt may, chế biến nông sản Chuyển giao công nghệ và tri thức cần coi là tác động quan trọng mà mọi nước phải thúc đẩy để tạo ra động lực mới cho sự phát triển của mình
Toàn cầu hóa thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại
Toàn cầu hóa thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại sẽ giảm hoặc hủy bỏ hàng rào ngăn cách, làm cho hàng hóa mỗi nước có thị trường tiêu thụ rộng hơn, do đó kích thích sản xuất phát triển Nhờ
đó sẽ thúc đẩy phân công lao động quốc tế theo hướng chuyên môn hóa, làm cho nguồn lực ở mỗi nước được sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn
Toàn c ầu hóa thúc đẩy sự cải cách sâu rộng các nền kinh tế quốc gia và hợp tác khu vực để
có th ể nâng cao thế cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế thế giới
Toàn cầu hóa một mặt gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về cạnh tranh, đòi hỏi phải cải cách sâu
rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, mặt khác toàn
cầu hóa mở ra những địa bàn và cách thức hoạt động mới, những thị trường mới, đối tác mới cho các nước, nhất là các nước đang phát triển
Do đó, các nước phải tiến hành cải cách đồng bộ về mô thức phát triển - mở cửa và hội nhập, về
cơ cấu - hướng vào các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ có hàm lượng về công nghệ và tri thức cao, về khả năng cạnh tranh Những cải cách này phải lấy thị trường toàn cầu làm phạm vi hoạt động,
phải lấy các tiêu chí phát triển quốc tế làm căn cứ xác định và phải lấy sự hội nhập vào làn sóng toàn
cầu hóa làm mục tiêu hướng tới Thực tế cho thấy có những nền kinh tế quốc gia hoạt động rất hiệu
quả nhưng bị hạn chế bởi các nguồn lực và thị trường ở chính nước đó Các liên kết khu vực dù rất hoàn hảo nhưng cũng bị bó hẹp trong phạm vi khu vực Với tính khép kín của quốc gia và khu vực,
nếu không thực hiện cải cách để hướng tới nhất thể hóa kinh tế toàn cầu thì các nước và khu vực vẫn không thể thoát khỏi sự ràng buộc của các nguồn lực và thị trường vốn có Do đó, phải tiến hành cải cách bên trong các nền kinh tế theo yêu cầu của toàn cầu hóa kinh tế
Mang lại lợi ích nhiều mặt cho các tầng lớp dân cư
Nhờ toàn cầu hóa, mọi người có thể tận hưởng các sản phẩm, dịch vụ mới, rẻ từ khắp nơi trên
thế giới Đặc biệt, đối với những nước đang phát triển và các nước nghèo có cơ hội tiếp cận với thị trường lao động quốc tế, nguồn lao động được đào tạo chuyên sâu, có thu nhập cao hơn trước
Thông qua quá trình toàn cầu hóa thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các quốc gia, các dân tộc kích thích các luồng và dạng giao lưu (kinh tế, văn hóa ) góp phần nâng cao dân trí và sự tự khẳng định của các dân tộc Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu quốc tế, tăng cường sự
Trang 29hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, tạo điều kiện cho sự mở rộng về giao lưu văn hóa, khoa học, giáo
dục giữa các quốc gia, dân tộc, cho việc tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo điều kiện hiện đại hóa và làm phong phú nền văn hóa dân tộc
và toàn cầu Hàng trăm tổ chức quốc tế các loại, gồm cả các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ
hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là những sản phẩm của toàn cầu hóa, đồng thời
nó làm cho quá trình toàn cầu hóa được tăng cường Chính nhờ toàn cầu hóa liên kết các nước lại với nhau làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước về nhiều mặt nên lợi ích của mỗi quốc gia gắn với
lợi ích nhiều quốc gia
1.2.2 Nh ững tác động tiêu cực:
S ự bất bình đẳng trong cạnh tranh quốc tế
Hợp tác được coi là xu thế chính trong giai đoạn hiện nay nhưng không có nghĩa là bỏ cạnh tranh, trái lại sự hiện diện đầy đủ các đối thủ cạnh tranh sẽ làm cho mức cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn Điều đó sẽ kéo theo cuộc chiến đào thải lẫn nhau giữa các quốc gia, các đối thủ trong lĩnh vực nào đó Hiện đang có sự bất bình đẳng trong vấn đề cạnh tranh quốc tế Các nước phát triển chiếm ưu
thế về cạnh tranh vì họ chiếm ưu thế về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị lực chi phối thị trường thế giới Các nước đang phát triển trình độ cạnh tranh yếu do trình độ phát triển kinh tế thấp nên chịu thua thiệt, dễ đi đến phá sản, thất nghiệp và làm trầm trọng hơn các vấn đề xã hội khác Các nước đang phát triển dễ chịu tác động của những chấn động xấu có thể xảy ra và khó chống đỡ vì thiếu kinh nghiệm Đồng thời việc xuất khẩu nhiều lao động và tài nguyên tạo nguy cơ phát triển thiếu bền
vững cho các nước này Vì vậy, ở một số nước đã lên tiếng phản đối gay gắt toàn cầu hóa Nếu xét một cách toàn diện, khách quan thì những ngành nghề, doanh nghiệp yếu kém, lạc hậu bị đào thải là một điều tất yếu, nó phản ánh sự phát triển khách quan của nền kinh tế thế giới
Về lý thuyết, toàn cầu hóa sẽ làm tăng mức sống chung trên toàn thế giới, rút ngắn khoảng cách phát triển của các nước Toàn cầu hóa sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất trên khắp thế giới, tạo bước nhảy
vọt về lực lượng sản xuất trong các nước lạc hậu Nhưng xu thế toàn cầu hóa cũng dẫn tới việc các
quốc gia, nhất là các nước đang phát triển ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào nền kinh tế bên ngoài
Trang 30Đối với các nước nghèo, cần có một lượng vốn nhất định để vực dậy nền kinh tế vốn mỏng manh, yếu kém để thoát khỏi tình trạng nợ nước ngoài triền miên và nhiều sự phụ thuộc khác Đầu năm 1996,
tổng số nợ nước ngoài của các nước đang phát triển là 1,8 nghìn tỷ USD, trong đó Mỹ Latinh nợ 655
tỷ, châu Phi nợ 340 tỷ, châu Á nợ 857 tỷ USD Theo báo cáo phát triển con người (UNDP) năm 1997, các nước nghèo cần 80 tỷ USD hàng năm để giảm đói nghèo, tạo y tế cơ bản, giáo dục và nước sạch Trong khi đó, thế giới chi gấp 10 lần số tiền đó cho quân sự Xóa nợ cho các nước nghèo là cần thiết
và cấp bách Tuy nhiên, viện trợ cũng như xóa nợ luôn đi kèm những điều kiện chính trị hoặc kinh tế làm cho sự phụ thuộc vào bên ngoài của các nước đang phát triển tăng lên
Toàn c ầu hóa buộc các nước đang phát triển phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thay đổi chính sách cho phù h ợp
Toàn cầu hóa tác động mạnh đến việc hoạch định chính sách quốc gia của từng nước Các nước
chịu sức ép lớn buộc phải đặt các thỏa thuận đa phương lên chính sách quốc gia Một trường hợp đặt
ra là những quy luật kinh tế được vận dụng ở các cường quốc sẽ không phù hợp với những nước đang phát triển làm cho các nước này gặp khó khăn, lúng túng Việc thay đổi, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính sách cũng đòi hỏi chính phủ các nước phải có thời gian và chi phí lớn Mặt khác, các nước sẽ gánh những hậu quả tai hại nếu sự lựa chọn những biện pháp, chính sách không phù hợp với điều kiện phát triển của từng quốc gia
Toàn c ầu hóa tạo ra sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng giữa các
qu ốc gia, giữa các bộ phận dân cư trong một nước
Toàn cầu hóa làm trầm trọng hơn sự bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong
từng nước và giữa các nước Theo chương trình Liên Hiệp Quốc về phát triển, cuối những năm 90, 85% thu nhập thế giới rơi vào túi 1/5 số người giàu nhất, 1/5 số người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% Vào những năm 90, số người nghèo là 1 tỷ nay đã lên đến 1,2 tỷ Các nước công nghiệp hóa giàu hơn các nước nghèo nhất tới 74 lần Theo báo cáo của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển thì trong số 644 tỷ USD đầu tư quốc tế, 2/3 vào Mỹ và Liên minh châu Âu, các nước đang phát triển chỉ thu hút được 1/3 Thực chất các nhà đầu tư quốc tế đến từ các nước phát triển và mục đích
chủ yếu của họ là lợi nhuận chứ không phải giúp các nước đang phát triển tăng trưởng bền vững
Cơ hội toàn cầu hóa mang lại cho các nước là như nhau song do một mặt toàn cầu hóa được dẫn
dắt bởi các nước phát triển nên hầu hết các nước phát triển được hưởng lợi nhiều nhất về kinh tế, thương mại, mặt khác do quy luật phát triển không đều, những nước kém phát triển luôn là kẻ bất lợi trong toàn cầu hóa
Trang 31Có thể coi sự bất bình đẳng này như một sức ép để các nước nghèo bằng những nỗ lực cải cách
của mình nắm lấy các cơ hội của toàn cầu hóa để đẩy mạnh hội nhập
Toàn cầu hóa làm tăng nguy cơ thất nghiệp và "chảy máu chất xám"
Toàn cầu hóa tác động đến các quốc gia làm thay đổi cơ cấu kinh tế các nước, kéo theo sự thay đổi việc làm trong một bộ phận dân tạo nên những làn sóng di cư ồ ạt đến các thành phố lớn và các nước phát triển, nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đời sống xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển như vũ bão để đáp ứng nhu cầu sản xuất và cuộc sống, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với lực lượng lao động, phải có trình độ chuyên môn phù hợp Những người có trình độ chuyên môn thấp phải bị sa thải và do đó mất
việc làm, mất nguồn thu nhập chính, gây nên những bất ổn trong đời sống cư dân
Toàn cầu hóa tác động đến các nước, đặc biệt đến các nước đang phát triển kéo theo sự luân chuyển nguồn lao động và sự thu hút của các nước phát triển, điều này dễ dẫn đến tình trạng "chảy máu chất xám" ở các nước đang phát triển, gây nên sự thiếu hụt nguồn nhân lực trong quá trình phát triển của đất nước
Toàn c ầu hóa làm trầm trọng hơn vấn đề môi trường ở các nước đang phát triển
Để đẩy nhanh phát triển kinh tế, các nước này đã đẩy mạnh việc khai thác làm các nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, rừng bị tàn phá, không khí, nguồn nước bị ô nhiễm Môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng là nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng thiên tai, thiếu nước sinh hoạt, sa mạc hóa đe dọa cuộc sống con người và ảnh hưởng xấu đến các hoạt động kinh tế - xã hội khác
Toàn c ầu hóa tạo nên thách thức đối với việc giữ gìn văn hóa truyền thống và bản sắc dân
t ộc
Toàn cầu hóa làm tăng mối giao lưu quốc tế giữa các quốc gia, tính phổ biến về văn hóa của các
nền văn hóa lớn Trong đó, các nước có nền kinh tế mạnh có ảnh hưởng nhiều hơn đến các nước khác,
những giá trị văn hóa - xã hội của họ sẽ được thừa nhận và phổ biến rộng rãi gần như trở thành giá trị chung cho các xã hội khác nhau Những giá trị riêng của các dân tộc bị mất dần ảnh hưởng và bị xói mòn
Toàn cầu hóa với công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là mạng internet toàn cầu tạo điều kiện thuận lợi cho con người trong mọi lĩnh vực nhưng đồng thời đã mang lại những tác hại trong lối sống, suy nghĩ, quan điểm khi tiếp nhận những quan điểm lệch lạc, quan điểm phản động, lối sống đồi truỵ, đạo đức suy đồi, lối sống thực dụng, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, văn hóa phẩm độc hại du nhập
Trang 32Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò của toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các nước đào thải
những phong tục, tập quán lạc hậu hoặc không phù hợp với đời sống hiện đại và tiếp thu những giá trị
tiến bộ của nền văn minh nhân loại
Trên thực tế, nhiều nước bị ảnh hưởng không nhỏ bởi nền văn minh Âu - Mĩ, sự đe dọa về văn hóa này khơi dậy mạnh mẽ ý thức bảo vệ và duy trì bản sắc văn hóa truyền thống
Toàn c ầu hóa tạo ra những thách thức đối với độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia
Toàn cầu hóa tác động trực tiếp đến lĩnh vực chính trị và an ninh quốc gia, tạo ra nguy cơ cho các nước chậm và đang phát triển bị lệ thuộc về kinh tế, từ đó sẽ dẫn tới lệ thuộc về chính trị, gây nguy
hại đến chủ quyền và an ninh quốc gia
Các nước đang phát triển gắn bó và đề cao nguyên tắc độc lập, chủ quyền quốc gia một cách gần như tuyệt đối nên các nước này phải đương đầu với áp lực mâu thuẫn giữa yêu cầu hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa với việc duy trì an ninh, chủ quyền quốc gia
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ở một mức độ nào đó, chủ quyền quốc gia bị ảnh hưởng và xói mòn thông qua sự hạn chế về quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các nhà nước trước những quy định chung, từ đó nền tảng xã hội, sự ổn định chính trị trong nhiều trường hợp bị xáo trộn buộc các chính phủ phải có sự thích nghi cần thiết nhằm duy trì quyền lực của mình Do chịu nhiều tác động ngày càng tăng của nhiều định chế khu vực và toàn cầu, các nước đứng trước yêu cầu phải chủ động
và kiểm soát các mối quan hệ, các hoạt động kinh tế chính trị diễn ra
Thông qua con đường trao đổi hợp tác kinh tế, đầu tư, viện trợ theo hướng tư nhân hóa, tự do hóa các thế lực tư bản đứng đầu là Mỹ muốn áp đặt chính trị tư sản lên các nước khác, thực hiện "diễn
biến hòa bình" để thay đổi các chế độ xã hội theo hướng thân phương Tây Đối với các nước xã hội
chủ nghĩa, nó nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản Thông qua con đường kinh tế,
Mỹ và các nước phương Tây muốn gây sức ép với nhiều nước khác, trong đó có các nước xã hội chủ nghĩa về những vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, dùng mọi hình thức để tác động vào
nội bộ nước đó, đồng thời sử dụng các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế do họ chi phối làm công cụ tác động vào kinh tế và chính trị các nước này
Chủ quyền và sức mạnh kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Một quốc gia vững mạnh về kinh tế thì chủ quyền, an ninh quốc gia được giữ vững Phát triển kinh tế là nền tảng của phát triển đất nước, các nước đang phát triển không còn cách nào khác phải tham gia vào quá trình toàn cầu hóa để
tận dụng cơ hội mà toàn cầu hóa đem lại, họ phải lệ thuộc vào thị trường thế giới và nguồn vốn nước ngoài nhưng họ phải đối mặt với việc tăng cường gìn giữ nền an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực
Trang 33Toàn cầu hóa tạo nguy cơ làm xói mòn quyền lực nhà nước dân tộc, thu hẹp đáng kể quyền lực,
phạm vi và hiệu quả tác động của nhà nước Vai trò kinh tế của nhà nước có thể bị giảm sút do sự chi
phối của các công ty xuyên quốc gia và sức ép của IMF, WB, WTO
Chính vì thế có thể thấy toàn cầu hóa diễn ra với "bao mâu thuẫn, cực kỳ phức tạp, đan xen Đó
là mâu thuẫn giữa một bên là quyền lực và lợi ích chi phối, thao túng của những thế lực tư bản quốc tế, các nước tư bản chủ nghĩa với một bên là chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc Đó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng của cải với phân phối không công bằng dẫn tới phân cực giàu nghèo ngày càng tăng giữa các quốc gia và trong mỗi nước Đó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với văn hóa, đạo đức xã hội suy đồi do tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường toàn cầu hóa Đó là mâu thuẫn giữa hợp tác và đấu tranh "
Toàn cầu hóa là một quá trình tất yếu lịch sử khách quan, tác động đến mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các nước trên thế giới Nó tạo ra những cơ hội phát triển cho các nước cũng đặt ra muôn vàn những khó khăn, thách thức, mâu thuẫn cho các quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển và các nước nghèo Trong một thế giới mà tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng thì không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không có mối liên hệ nào với bên ngoài Các quốc gia, khu vực đều phải tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa, tham gia vào quá trình hội nhập ở những mức độ nhất định, nếu không muốn bị tụt hậu và bỏ rơi Các nước đang phát triển trên thế giới cũng như Đông Nam Á phải đối mặt với các vấn đề mà toàn cầu hóa đặt ra ở những
1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đông Nam Á là một khu vực khá rộng nằm ở phía Đông Nam châu Á với một hệ thống gồm các đảo, quần đảo và bán đảo, các biển, vịnh xen kẽ nhau rất phức tạp kéo dài từ khoảng 92° đến 140° kinh Đông và từ khoảng 28° vĩ Bắc, chạy qua xích đạo đến 15° vĩ Nam Đông Nam Á có diện tích khoảng 4.523.000km2
và dân số khoảng 565.000.000 người (số liệu năm 2006)
V ề hành chính, Đông Nam Á hiện nay gồm 11 nước là Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Indonesia, Philippines, Brunei, Đông Timor và Việt Nam Nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, các nước Đông Nam Á có lượng mưa lớn từ 1000 - 2000 mm, lượng nhiệt ẩm
dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, du lịch và sinh sống của dân cư
Trang 34Với địa hình chủ yếu là núi và đồng bằng lại có nhiều sông ngòi có giá trị nên thuận lợi cho việc
trồng cây lúa nước, các cây công nghiệp nhiệt đới, giao thông, thủy điện Đông Nam Á còn là quê hương của nhhiều loại cây gia vị, hương liệu quí như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, trầm hương, quế Nhìn chung, các nước Đông Nam Á có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phong phú,
đa dạng thuận lợi cho phát triển kinh tế, đời sống dân cư, đặc biệt là phát triển nghề nông nghiệp lúa nước tạo nên nét tương đồng của dân cư Đông Nam Á
Nằm ở ngã tư đường từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, từ lục địa châu Á xuống châu Úc
và Đại Dương, Đông Nam Á có vị trí địa lý có ý nghĩa chiến lược quan trọng, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa của khu vực Từ xa xưa, khu vực này là cầu nối giữa Ấn Độ, Trung Quốc với Tây Á, và Địa Trung Hải tạo nên mối quan hệ giữa các khu vực và trên thế giới Từ những thế kỉ đầu công nguyên, Đông Nam Á là nơi được nhiều thuyền buôn từ Ấn Độ, Trung Quốc dừng chân trao đổi, buôn bán và truyền đạo Nhiều trung tâm buôn bán lớn đã xuất hiện như Phù Nam, ÓcEo, Takola rồi Malacca, Kalinga Chính bởi vị trí địa lí thuận lợi như thế, Đông Nam Á còn là nơi giao lưu, hội tụ
của nhiều nền văn hóa và văn minh lớn trên thế giới, tạo cho Đông Nam Á một sắc thái đa dạng, phong phú, độc đáo nhưng cũng rất phức tạp Điều này cũng tạo cho các nước Đông Nam Á một sự năng động, nhạy bén trước những thay đổi của thế giới, từ đó biết tiếp nhận, thích nghi và thay đổi,
biết tiếp thu những tinh hoa của thế giới để phát triển Đặc biệt, từ sau khi giành độc lập, các nước Đông Nam Á với vị trí địa lí khá thuận lợi đã sớm chứng tỏ sự năng động của mình trong quá trình phát triển, trước những biến đổi của thế giới và trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
1.3.2 Sơ lược lịch sử phát triển của các quốc gia Đông Nam Á
Theo các di chỉ khảo cổ học và dân tộc học mà các nhà khoa học phát hiện và nghiên cứu, Đông Nam Á là một trong những nơi có con người sinh sống từ rất sớm
V ề thành phần chủng tộc, đại đa số cư dân Đông Nam Á được hình thành từ sự pha trộn giữa
hai đại chủng Môngôlôit và Oxtralôit tạo thành một tiểu chủng riêng biệt mang những yếu tố chung
của hai đại chủng, gọi là tiểu chủng Đông Nam Á Tiểu chủng này bao gồm hai nhóm chính: nhóm Anhdônêdiêng mang nhiều yếu tố của đại chủng da đen hơn, nhóm này sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên (Việt Nam) và vùng rừng núi các nước hải đảo; nhóm Nam Á mang yếu tố da vàng nhiều hơn, thuộc phần lớn cư dân Đông Nam Á còn lại
Điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo cho cư dân Đông Nam Á có một nền văn hóa bản địa truyền thống mang tính tương đồng trên cơ sở của nền văn minh lúa nước Trong quá trình hình thành và phát triển, cư dân Đông Nam Á cũng đã tiếp thu văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc một cách
chọn lọc trên cơ sở văn hóa bản địa có từ trước Văn hóa các dân tộc ở Đông Nam Á không ngừng
biến đổi tạo nên sự đa dạng văn hóa trên toàn vùng
Trang 35Do vị trí địa lí đặc biệt, là ngã tư đường của những nền văn hóa lớn trên thế giới, Đông Nam Á
trở thành nơi tiếp nhận gần như toàn bộ các tôn giáo lớn trong lịch sử nhân loại: Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo
Từ khoảng đầu công nguyên đến thế kỉ VII, hàng loạt các quốc gia sơ kì ra đời và phát triển ở phía Nam khu vực Đông Nam Á
Từ thế kỉ VII đến thế kỉ X là thời kì các nước nhỏ hình thành theo sự hợp nhất các tộc người thành các quốc gia "dân tộc"
Từ khoảng nửa sau thế kỉ X đến thế kỉ XV là thời kì phát triển thịnh đạt của các quốc gia phong
kiến "dân tộc" ở Đông Nam Á Đến sau thế kỉ XVI, Đông Nam Á bước vào thời kì suy thoái mà nguyên nhân của nó bắt nguồn từ ngay trong lòng chế độ phong kiến ở mỗi quốc gia Sự suy thoái ở các quốc gia diễn ra không đồng đều về mặt thời gian Trong bối cảnh đó, sự xâm nhập của chủ nghĩa
tư bản phương Tây vào Đông Nam Á là nhân tố cuối cùng dẫn tới sự suy sụp của các vương quốc trong khu vực
Từ thế kỉ XVI, các nước phương Tây lần lượt đến xâm lược Đông Nam Á hải đảo rồi Đông Nam
Á hải đảo Các nước bị xâm chiếm sớm nhất là Malaysia, Indonesia, Philippines Ở các nơi khác đến
giữa thế kỉ XIX cũng lần lượt rơi vào ách thực dân của các nước phương Tây Dù khác nhau về thời gian bị xâm lược nhưng hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa của các nước phương Tây, trừ trường hợp của Thailand nhờ vào chính sách ngoại giao khôn khéo và chính sách cải cách trong nước nên Thailand đã tránh khỏi số phận trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây
Chủ nghĩa thực dân đến Đông Nam Á và đặt ách thống trị lên khu vực này vào những thời gian khác nhau với những màu sắc của các nước tư bản khác nhau, có ảnh hưởng không nhỏ đến con đường lịch
sử của các nước Đông Nam Á đi theo những hướng khác nhau
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Đông Nam Á lần lượt bị Nhật Bản chiếm đóng Khi
Nhật Bản đầu hàng đồng minh, các nước phương Tây tìm cách quay lại các thuộc địa cũ nhưng vấp
phải phong trào giải phóng dân tộc của các nước đang lên cao của các dân tộc ở Đông Nam Á dẫn đến
sự ra đời của một loạt các quốc gia độc lập như Việt Nam (1945), Philippines (1946), Myanmar (1948), Indonesia (1950), Malaysia (1957), Singapore (1965), Brunei (1985)
Sau khi giành được độc lập, các nước Đông Nam Á lựa chọn cho mình một hướng phát triển riêng nhưng đều có quan điểm chung là muốn phát triển bền vững và bảo vệ quyền lợi quốc gia thì
phải có sự liên kết với nhau để phát triển kinh tế và ngăn chặn những can thiệp từ bên ngoài bằng cách thiết lập một tổ chức khu vực Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8/8/1967, ngoại trưởng 5 nước Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore đã họp ở Bangkok và ra tuyên bố thành lập
Trang 36Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeas Asian Nations - viêt tắt là ASEAN)
Hiện ASEAN có 10 nước thành viên, Đông Timor là quan sát viên
Nhờ những chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục tích cực, một số nước thành viên ASEAN đã phát triển nhảy vọt trong thời gian ngắn Singapore được xem là nước phát triển nhất
ở Đông Nam Á, được xếp vào hàng ngũ các nước công nghiệp mới (Newly Industrialized Countries -
viết tắt là NICs) từ những năm 1980 và được xem là một trong "bốn con hổ châu Á" cùng với Hàn
Quốc, Đài Loan, Hồng Kông Một số nước khác cũng phát triển nhanh chóng như Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines Một số nhà nghiên cứu đã đưa 5 nước Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines vào nhóm HPAEs (High Performing Asian Economies - các nền kinh tế châu Á phát triển nhanh) Một số chuyên gia của Ngân hàng thế giới (World Bank) cũng đã
xếp Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines vào nhóm các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (Newly Industrialied Economies) hay các con hổ nhỏ châu Á mới bởi thành tích tăng trưởng kinh tế
của họ
1.3.3 Con đường phát triển của một số nước đang phát triển ở Đông Nam Á
Hầu hết các quốc gia ở Đông Nam Á hiện nay là các nước đang phát triển ở những mức độ khác nhau, trong đó Singapore được xem là nước sớm có nền kinh tế công nghiệp hóa và được đưa vào danh sách các nước NICs, là quốc gia phát triển nhất Đông Nam Á
Thuật ngữ các nước đang phát triển do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề ra và
hiện nay được dùng phổ biến Thuật ngữ này dùng để chỉ những nước đang cố gắng phát triển nền kinh tế của mình để thoát khỏi tình trạng lạc hậu và thấp kém hiện nay Các nước đang phát triển là
những quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công nghiệp chưa phát triển, có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao, thu nhập bình quân đâu người thấp và nghèo nàn vẫn còn phổ biến
Việc áp dụng thuật ngữ các nước đang phát triển cho các nước chưa đạt đến trình độ nước phát triển trong nhiều trường hợp là không thích hợp Nhìn chung để đánh giá sự phát triển của một quốc gia, người ta có thể đo đạc bằng các chỉ số thống kê như tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người,
tuổi thọ trung bình, tỷ lệ người biết chữ Trên cơ sở đó, Liên Hiệp Quốc đã xây dựng chỉ số phát triển con người để xác định mức độ phát triển con người ở mỗi quốc gia
Trường hợp các nước đang phát triển ở Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Thailand, Philippines có sự tiến bộ vượt bậc so với các nước đang phát triển khác trong khu vực nhưng chưa đạt đến trình độ các nước phát triển thì được đưa vào nhóm các nước công nghiệp hóa mới Đây có thể
hiểu là những nước công nghiệp hóa mới thế hệ thứ hai Những nước này có những đặc điểm chung
của các nước NICs là: quyền dân sự và tự do xã hội được cải thiện; kinh tế chuyển đổi từ công nghiệp sang công nghiệp, đặc biệt lĩnh vực chế tạo; nền kinh tế thị trường ngày càng mở, cho phép tự do
Trang 37thương mại trên toàn thế giới; thu hút nguồn đầu tư dồi dào từ nước ngoài, các chính sách của chính
phủ có ảnh hưởng thúc đẩy kinh tế phát triển
Sau khi giành được độc lập, các nước ở Đông Nam Á đều gánh chịu những hậu quả của chế độ thuộc địa và phụ thuộc mà các nước tư bản phương Tây để lại Đó là tình trạng lạc hậu về kinh tế và đói nghèo của đại đa số nhân dân Song, cũng phải thừa nhận một cách khách quan rằng chủ nghĩa tư
bản phương Tây đã để lại một số di sản tiến bộ : đó là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, về tổ
chức nhà nước, tư tưởng luật pháp và nhân quyền, một số cơ sở công thương nghiệp, cơ sở hạ tầng
Một số nước Đông Nam Á sau khi giành được độc lập đã kế thừa có chọn lọc các yếu tố này để phát triển đất nước theo hướng tư bản chủ nghĩa như Singapore, Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan Do những điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội, chính trị khác nhau nên mỗi nước có con đường phát triển riêng, đặc thù, song về cơ bản con đường phát triển kinh tế mà các nước lựa chọn đó
là con đường công nghiệp hóa với hai giai đoạn : thay thế nhập khẩu và hướng ra xuất khẩu
Công cuộc phát triển đất nước trong nhóm các nước công nghiệp mới ở Đông Nam Á diễn ra trong bối cảnh khá thuận lợi, đó là nền hòa bình và sự ổn định tương đối về chính trị Các nước Singapore, Indonesia, Philippine, Malaysia, Thái Lan là năm nước sáng lập ra tổ chức ASEAN nên ý
thức được sự đảm bảo nền hòa bình và an ninh khu vực Các nước này đi lên con đường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại nên thuận lợi hơn trong việc tích lũy vốn
và kĩ thuật công nghệ từ những nước tư bản phát triển
Nhìn chung, trong giai đoạn đầu các nước Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan đều trải qua một thời kì thực hiện chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, bảo hộ kinh tế dân tộc theo hướng tự túc, bao hàm một cơ cấu kinh tế từ chối chuyên môn hóa và thâm nhập vào nền kinh tế thế
giới, không mở cửa thu hút đầu tư của nước ngoài, vì vậy, nền kinh tế thiếu sức thúc đẩy vươn lên hiện đại hóa
Từ đầu những năm 80 đến nay, các nước này thay đổi chiến lược, thực hiện công nghiệp hóa để
xuất khẩu, tăng dần các sản phẩm công nghiệp bán ra nước ngoài trong khi vẫn phát huy khả năng
xuất khẩu các nguồn nông sản truyền thống Sự chuyển hướng chiến lược ấy bao gồm cả việc mở cửa
với bên ngoài, làm ăn với các công ty đa quốc gia
Do đặc điểm lịch sử, văn hóa, chế độ chính trị, xã hội có những điểm khác nhau Về kinh tế, do đặc thù mỗi nước, các nước trong nhóm các nước công nghiệp mới này ở khu vực Đông Nam Á cũng
có những hình thái phát triển kinh tế khác nhau Tất cả đều là những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, mạnh nhất trong khu vực
Trang 38Malaysia:
Phong trào đấu tranh mạnh mẽ ở Malaysia đã đem đến nền độc lập cho nhân dân Malaysia vào ngày 31/8/1957 Ngày 16/9/1963, Liên bang Malaysia được thành lập
Malaysia là một liên bang theo chế độ quân chủ lập hiến, gồm 13 bang độc lập có hiến pháp và
quốc hội riêng Trong đó có 9 bang Hồi giáo do các tiểu vương Hồi giáo đứng đầu và 4 bang do Thống đốc cai quản
Theo hiến pháp đứng đầu nhà nước là Quốc Vương do Hội nghị các tiểu vương Hồi giáo bầu ra trong số các tiểu vương với nhiệm kỳ 5 năm
Cơ quan lập pháp là Quốc hội Liên Bang gồm 2 viện Thượng viện và Hạ viện Nội các là cơ quan hành pháp do Thủ tướng đứng đầu
Hiến pháp 1957 và Hiến pháp 1963 đều thừa nhận về mặt pháp lí đặc quyền của người Malaysia
về chính trị, kinh tế, văn hóa và quyền kinh doanh không hạn chế của người Hoa
Malaysia từng bước đi xa khỏi sự ràng buộc của nền quân chủ thể hiện quyết tâm đoạn tuyệt với quá khứ thống trị của thực dân Anh qua mô hình quân chủ lập hiến rập khuôn theo kiểu Anh
Từ khi độc lập đến nay, Malaysia đã trải qua 3 giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
Giai đoạn từ 1957 đến 1970: Chính phủ Malaysia ưu tiên phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp Trong khi đó các nước khác thường tập trung phát triển công nghiệp nặng sau khi giành độc lập Chính phủ tập trung 37% ngân sách để phát triển nông nghiệp Trong những năm từ 1957 đến 1970, chính phủ ra một chương trình tổng thể để thực hiện chiến lược kinh tế xã hội, trong đó chú trọng vào
việc phát triển nông nghiệp, kinh tế đồn điền, phát triển công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế
biến hướng ra xuất khẩu Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1966 -1970), Malaysia đạt được nhiều thành tựu đáng kể, GDP tăng trưởng trung bình 6%/năm, nông nghiệp đạt 102,5%, giao thông vận tải đạt 99,8%, công nghiệp đạt 67,2%, trong đó nông nghiệp chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Malaysia trong giai đoạn này chưa làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế, không giải quyết được sự phát triển chênh lệch về kinh tế và thu nhập giữa các tộc người trong
xã hội Cuộc xung đột sắc tộc ngày 13/5/1969 tại Kulalumpur xuất phát từ nguyên nhân trên
Giai đoạn 1970 - 1990: Đây là giai đoạn chính phủ đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội
"xây dựng lại xã hội Malaysia" để giải quuyết những mâu thuẫn xã hội Chiến lược phát triển quốc gia trong thập kỉ 70 của chính phủ là hướng vào phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, hướng ra xuất khẩu Chính phủ còn ban hành chính sách kinh tế mới với mục tiêu cấu trúc lại nền kinh
tế - xã hội, từ giảm đến xóa bỏ nghèo đói bằng việc giảm sự cách biệt về thu nhập và phân phối giữa các tộc người, giữa các khu vực Với những biện pháp và đường lối thích hợp, kinh tế của Malaysia
Trang 39đạt mức tăng trưởng đạt 7,8%/năm, một tỉ lệ cao so với các nước đang phát triển lúc đó Đến năm
1980, Malaysia đảm bảo 92% nhu cầu về lương thu Sản lượng các ngành công nghiệp gia tăng đáng
kể
Cuối những năm 1970, đầu những năm 1980, kinh tế Malaysia bị tác động lớn của cuộc khủng
hoảng năng lượng thế giới nên mức độ tăng trưởng cũng chậm dần, sau đó rồi vào tình trạng trì trệ,
khủng hoảng Chính phủ Malaysia tiếp tục cho tiến hành điều chỉnh đường lối kinh tế của mình cho phù hợp với tình hình mới với kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1986 - 1990 ) Nhờ đó, đến năm 1990, nền kinh tế Malaysia được phục hồi, đạt nhiều thành tựu Sản lượng nông nghiệp tăng 70% so với 1980 GDP đạt 6,7% (1986 - 1990) Tỷ lệ đói nghèo giảm, cơ cấu kinh tế thay đổi lớn dần đến sự cân bằng hơn giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
Giai đoạn 1991 - 2020: Tháng 7/1991 chính phủ Malaysia đưa ra chính sách phát triển kinh tế
quốc gia (1991 - 2000), mở đầu là kế hoạch 5 năm lần thứ sáu (1991 - 1995) nhằm cải thiện tính hiệu
quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế Mục tiêu của chính sách này là phấn đấu đưa Malaysia trở thành nước phát triển vào năm 2020 Tuy nhiên, năm 1997, Malaysia lại lâm vào khủng hoảng tài chính tiền nghiêm trọng Sau khủng hoảng, nhờ những nỗ lực cải cách kinh tế xã hội của chính phủ
nền kinh tế Malaysia nhanh chóng phục hồi và vươn lên hàng thứ hai trong khu vực sau Singapore
Philipines
Philipines là đất nước sớm bị thực dân phương Tây xâm lược Thế kỉ XVI, Tây Ban Nha xâm lược Philippines và thiết lập chế độ thuộc địa Đến cuối thế kỉ XIX, với danh nghĩa giúp nhân dân Philippines chống thực dân, Mĩ gây chiến với Tây Ban Nha và hất cẳng Tây Ban Nha Đến năm 1902, Philippines trở thành thuộc địa của Mĩ Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài, ngày 4/7/1946, Philippines tuyên bố độc lập
Philipines là nước cộng hòa theo chế độ tổng thống Hệ thống nhà nước theo khuôn mẫu của Hoa Kì nhưng vận động trên cơ sở xã hội khác
Sau khi giành độc lập, Philipines là một nước nông nghiệp, các ngành công nghiệp chủ yếu là công nghiệp chế biến Tư bản nước ngoài lũng đoạn nền kinh tế
Philippines là quốc gia thực hiện chiến lược phát triển kinh tế sớm nhất ở Đông Nam Á Từ cuối
những năm 50, chính phủ Philippines thực hiện chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Mục tiêu là nhằm thực hiện bảo hộ mậu dịch, khuyến khích phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế
biến đáp ứng nhu cầu người dân trong nước và giảm sự lệ thuộc vào thị trường bên ngoài Kết quả: Kinh tế Philippines có bước tăng trưởng đáng kể GDP tăng từ 5 - 6% hằng năm trong những năm
1950 - 1959 Trong những năm 1960, nền kinh tế Philippines được đánh giá là có sự triển vọng nhất trong khu vực
Trang 40Vào đầu những năm 70, Philippines chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa mới - hướng ra
xuất khẩu Nội dung chính là khuyến khích kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp để làm chỗ dựa cho quá trình công nghiệp hóa Nhờ vào nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, nhà nước tài trợ rộng rãi cho các chương trình phát triển nên trong thập niên 70, nền kinh tế Philippines phát triển nhanh chóng, tốc độ trung bình 6,2%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng, năm 1980 là 680 USD/người Vào đầu thập niên 80, do tác động của cuộc khủng hoảng dầu lửa 1979 -1980, tình trạng khủng
hoảng chính trị, kéo theo sự khủng hoảng kinh tế kéo dài GDP giai đoạn 1980 - 1985: là -1,1%, 1984
- 1985 là 7,3% Từ tháng 2/1986, tổng thống C.Aquino ( 1986 - 1992 ) lên cầm quyền đã đưa ra hàng
loạt biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế: tư nhân hóa các xí nghiệp và ngân hàng, tự do hóa đầu tư ngăn chặn nguồn của cải chảy ra ngoài Từ năm 1986, tổng thu nhập quốc dân của Philippines không ngừng tăng, năm 1986 là 6,8% Tuy nhiên, mức tăng trưởng lại giảm dần vào đầu
thập niên 90 Năm 1992 chỉ đạt 1%, số thất nghiệp là 18,3% so với mức thường là 9%
Các đời tổng thống kế tiếp: Ramos (1992 - 1996 ), Aroyyo (1996 - 2000) lãnh đạo đất nước đều đưa ra những chính sách tích cực nhằm phục hồi nền kinh tế như duy trì ổn định chính trị, cải cách tài chính, thuế quan, luật đầu tư, tự do hóa thương mại Kết quả nền kinh tế Philippines dần dần được
phục hồi Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5,7% vào năm 1996
Năm 1997, Philippines cũng chịu tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nhưng nhờ sự nỗ lực của chính phủ, kinh tế Philippines sớm vượt qua khủng hoảng với mức tăng trưởng GDP 3,2% (1999), 4% (2000) Cũng như Malaysia, Thái Lan và các nước khác, chính phủ Philippines phấn đấu cùng nhân dân đưa đất nước trở thành nước công nghiệp phát triển trong thời gian tới
Thailand
Thailand là nước duy nhất ở Đông Nam Á không bị rơi vào số phận thuộc địa của thực dân phương Tây Từ thời vua Chulalonkorn (Rama V), ông đã tiến hành những chính sách cải cách mới theo hướng tư sản đã đưa kinh tế nước này phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa
Cho đến giữa năm 1932, chế độ quân chủ chuyên chế mới bị lật đổ, chế độ quân chủ lập hiến được thiết lập theo mô hình thể chế chính trị của Anh Giới tư sản Thái Lan lên nắm quyền bắt đầu
thực hiện đường lối phát triển đất nước của mình
Trong những năm 40- 50, chính sách phát triển kinh tế của Thailand mang nặng tính dân tộc
chủ nghĩa Nhà nước quốc hữu hóa các cơ sở kinh tế của phương Tây và gạt bỏ thế lực của Hoa kiều trong các ngành kinh tế Tất cả các cơ sở kinh tế trở thành các cơ sở kinh tế của nhà nước và giao cho