Trong hoạt động nghề nghiệp, những người có nhu cầu thành đạt cao thường có xu hướng hoàn thành các công việc được giao một cách tốt nhất.. Nghiên cứu nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Minh Thị Lâm
NHU CẦU THÀNH ĐẠT CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Minh Thị Lâm
NHU CẦU THÀNH ĐẠT CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Có thể người lái đò không nhớ khách đi đò nhưng với một người khách như tôi
sẽ không quên mình đã đi chuyến đò nào và do ai chở?
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn cô hướng dẫn khoa học – TS Nguyễn Thị Tứ, người đã rất tận tình và đầy trách nhiệm trong quá trình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng và cảm ơn các Thầy Cô khoa Tâm lý – Giáo dục đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Nhà trường, các Thầy Cô và
thể thao, Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP.HCM nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực trạng
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người trong gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
Trang 4MỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
M Ở ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6
5 Giả thuyết nghiên cứu 7
6 Giới hạn nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHU CẦU THÀNH ĐẠT CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN TRUNG TÂM HU ẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH 10
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 10
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 16
1.2 Một số khái niệm cơ bản 19
1.2.1 Khái niệm nhu cầu 19
1.2.2 Khái niệm thành đạt 23
1.2.3 Khái niệm nhu cầu thành đạt 24
1.2.4 Khái niệm nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp 28
1.3 Lý luận về nhu cầu thành đạt của vận động viên 32
1.3.1 Khái quát về Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 32
1.3.2 Nhu cầu thành đạt của vận động viên 37
C HƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU THÀNH ĐẠT CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN TRUNG TÂM HU ẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH 49
2.1 Th ể thức nghiên cứu 49
2.1.1 Khách thể nghiên cứu 49
2.1.2 Mô tả công cụ nghiên cứu 49
2.2 Thực trạng về nhu cầu thành đạt của vận động viên tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 51
Trang 52.2.1 Thực trạng về nhu cầu thành đạt của vận động viên 52
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt của vận động viên 72
2.2.3 Một số biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu thành đạt của vận động viên 79
K ẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 94
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 98
PH Ụ LỤC 102
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
NC : Nhu cầu NCTĐ : Nhu cầu thành đạt NCTĐTNN : Nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp VĐV : Vận động viên
ĐTB : Điểm trung bình ĐLC : Độ lệch chuẩn
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh F,T : Kiểm nghiệm
N : Tần số
Trang 7Con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau, từ nhu cầu vật chất đơn giản đến những nhu cầu tinh thần cao hơn Con người thỏa mãn nhu cầu bằng cách tác động vào môi trường xung quanh, trong đó đặc biệt là môi trường văn hóa xã hội và môi trường giao tiếp Việc trang bị cho con người các phương pháp, tri thức, kỹ năng… Trong quá trình phát triển của
cá nhân nhờ nắm vững kinh nghiệm của thế hệ trước là điều kiện chắc chắn để thỏa mãn nhu cầu Hiểu một cách khác, con người bao giờ cũng có nhu cầu được trang bị thông tin về cách thức thỏa mãn nhu cầu Hiệu quả hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực phụ thuộc vào khả năng sử dụng nguồn năng lượng này của nhu cầu
1.2 Nhu cầu thành đạt là nhu cầu tinh thần, nhu cầu bậc cao của con người Là sự nỗ
lực của con người vượt lên những gì mà họ đã đạt được, hoàn thiện nó để đạt mức độ cao hơn Đó là tự khẳng định sự tồn tại của cá nhân và sự vươn lên thăng tiến trong nghề
Nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp được nảy sinh, hình thành và phát triển trong chính hoạt động nghề của con người Việc thỏa mãn nhu cầu, nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp là sức mạnh nội tại thúc đẩy và điều chỉnh hành vi của con người Nó qui định chiều hướng, tính chất phát triển của công việc
Trong hoạt động nghề nghiệp, những người có nhu cầu thành đạt cao thường có xu hướng hoàn thành các công việc được giao một cách tốt nhất Và ngược lại, những người có nhu cầu thành đạt thấp sẽ có xu hướng làm việc cầm chừng, sự nỗ lực trong công việc còn nhiều hạn chế Nghiên cứu nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp ở những khía cạnh khác nhau, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn đặc điểm, bản chất, các biểu hiện cụ thể của nó trong
từng nghề nghiệp nhất định để từ đó tìm ra các biện pháp làm cho con người thỏa mãn nhu
cầu thành đạt của mình trong nghề nghiệp là điều cần thiết
1.3 Trong xu thế đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thể dục thể thao
là một ngành không thể thiếu trong việc đào tạo một lượng lớn vận động viên cho đất nước
Trang 8Bởi sức khỏe về thể chất và tinh thần luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu nhất là trong
xu hướng đổi mới như hiện nay, nó góp phần quyết định vào thành công của con người
Vận động viên là một người có năng lực về thể chất, sức mạnh, sự nhanh nhẹn hoặc cao hơn sức mạnh trung bình và do đó thích hợp cho các hoạt động thể chất, đặc biệt cho
những cuộc thi đấu Những người nhận lấy sứ mệnh quan trọng cho việc đạt những thành tích trong thi đấu thể thao cho nước nhà Ngoài ra họ còn là người có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền văn hóa thể chất và thể thao, củng cố sức khỏe và hoàn thiện thể
chất, giáo dục đạo đức tư tưởng, trí tuệ và thẩm mỹ cho bản thân và những người sống xung quanh họ
Do đó, để nghiên cứu, tìm kiếm, phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế những rào
cản tâm lý đối với tính tích cực trong nghề thì việc tìm hiểu nhu cầu thành đạt trong nghề
của vận động viên là điều cần thiết
1.4 Thực tế tại Việt Nam cho thấy, việc nghiên cứu sâu về nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp nói chung và nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp của vận động viên còn ít được quan tâm
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nhu cầu thành đạt
c ủa vận động viên trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng nhu cầu thành đạt của vận động viên tại Trung tâm huấn luyện
thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu thành đạt của vận động viên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về nhu cầu, nhu cầu thành đạt của vận động viên
3.2 Khảo sát thực trạng nhu cầu thành đạt của vận động viên, làm rõ nguyên nhân
thực trạng Từ đó đề xuất những biện pháp tâm lý nhằm thỏa mãn nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp của vận động viên
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nhu cầu thành đạt của vận động viên
Trang 94.2 Khách th ể nghiên cứu:
Vận động viên tại trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh
5 Giả thuyết nghiên cứu
5.1 Vận động viên có nhu cầu thành đạt biểu hiện ở mức độ cao, ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó vận động viên đề cao cơ hội được luyện tập, thi đấu và đạt thành tích thi đấu trong công việc
5.2 Nhu cầu thành đạt của vận động viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố tâm lý cá nhân trong thi đấu chi phối mạnh mẽ nhất
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 N ội dung nghiên cứu
Đề tài khảo sát thực trạng nhu cầu thành đạt của vận động viên trong phạm vi sau:
- Biểu hiện và mức độ nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp của vận động viên
- Các yếu tố tác động đến nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp: các yếu tố tâm lý cá nhân, các yếu tố tâm lý xã hội và các yếu tố khác
- Biện pháp tâm lý nhằm thỏa mãn nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp của vận động viên
6.2 Khách th ể nghiên cứu
- 162 vận động viên ở các môn thể thao: Bóng chuyền, Điền kinh, Thể dục, Bơi lội, Võ
vật, tại trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
- Giới hạn độ tuổi vận động viên nghiên cứu: đội tuyển trẻ quốc gia
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Tìm hiểu tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xung quanh
vấn đề nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp để:
- Chỉ ra các khía cạnh đã và chưa đề cập xung quanh vấn đề nhu cầu, nhu cầu thành
Trang 10Cách th ức thực hiện: thu thập tài liệu, phân tích tổng hợp các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Điều tra bằng bảng hỏi
M ục đích: Đây là phương pháp được sử dụng chính trong đề tài, bảng hỏi nhằm tìm hiểu
các vấn đề sau đây:
- Biểu hiện nhu cầu thành đạt của vận động viên
- Sự khác biệt về nhu cầu thành đạt giữa vận động viên ở các môn thể thao
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt của vận động viên
- Các biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thành đạt của vận động viên
Cách th ức tiến hành:
Thiết kế bảng hỏi: Trưng cầu ý kiến bằng câu hỏi mở, kết hợp với việc tổng hợp cơ sở
lý thuyết để thiết kế bảng hỏi sử dụng trong đề tài
Khảo sát thử:
- Xác định thời gian cho việc trả lời bảng hỏi
- Tính toán các giá trị, độ tin cậy câu trắc nghiệm và bảng hỏi
- Tiến hành sửa chữa các mệnh đề chưa đạt yêu cầu (Phụ lục 1)
Bao gồm các thông tin về bản thân, quan niệm về sự thành đạt trong nghề nghiệp, ý
kiến đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành đạt trong nghề nghiệp, đánh giá thành tích thi đấu của bản thân Từ đó đề xuất các biện pháp hỗ trợ kết quả thi đấu, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm bồi dưỡng NCTĐ trong nghề nghiệp của vận động viên hiện nay [Phụ
lục 3]
- Khách th ể: 5 vận động viên
Trang 11- N ội dung:
Nội dung phỏng vấn bao gồm: thông tin về bản thân, gia đình, quá trình thi đấu thành tích cũng như thất bại, các yếu tố tác động đến sự thành công đó và sự khắc phục vươn lên khi thất bại… Nội dung, trình tự phỏng vấn được linh hoạt theo câu chuyện giữa nghiên cứu viên và người được phỏng vấn [phụ lục 4]
- Khách th ể: 3 vận động viên
7.3 Phương pháp thống kê toán học
M ục đích: Mã hóa và xử lý các thông số cần dùng trong đề tài nghiên cứu
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 13.0 để xử lý dữ liệu thu được Các phép thống kê cơ
bản được sử dụng trong nghiên cứu
Trang 12ĐỘNG VIÊN TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu về NCTĐ ở nước ngoài, chúng tôi xin được khái quát những nghiên cứu,
với những xu hướng khác nhau
Xu hướng thứ nhất: Xác định vị trí NCTĐ trong hệ thống nhu cầu
Về nghiên cứu nhu cầu, người đầu tiên chúng ta phải kể đến đó là S.Darwin Ông là người đưa ra những nghiên cứu đầu tiên về nhu cầu con người có nguồn gốc sinh học Ông đưa ra giả thuyết nhu cầu sinh vật tương ứng với khuynh hướng của hành vi thích hợp Cho đến thế kỷ XIX, Herbert và hàng loạt các tác giả như V.Kohler, E.Thorndike, N.E.Miller…
họ đã đề xướng lý thuyết nhu cầu cơ thể quyết định đến hành vi
Sau đó, cuối thế kỷ XIX, S.Freud nhà phân tâm học người Áo đã đưa vấn đề nhu cầu vào học thuyết của ông Theo ông, lực vận động hành vi con người nằm trong bản năng Ông khẳng định tất cả hành vi của con người đều hướng tới việc thỏa mãn hay hướng tới khoái lạc những nhu cầu của cơ thể (bản năng sống) Ông nghiên cứu động vật và chứng minh một cách hùng hồn những hành vi hung bạo hay những hành vi phá hủy là phương
tiện thỏa mãn những nhu cầu quan trọng của cuộc sống và nó được nảy sinh trong những điều kiện tồn tại Hành vi phá hủy hay hành vi hung bạo cũng là phương thức tự bảo vệ Xã
hội chẳng qua là một hệ thống tổ chức và cấm đoán hình thành từ bên ngoài bản năng của con người
Đến năm 1943, A.Maslow [52] chia nhu cầu của con người ra thành 5 loại: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu về sự tự trọng và nhu cầu tự thể
hiện Sau đó, vào những năm 1970 và 1990 sự phân cấp này được Maslow hiệu chỉnh thành
7 bậc và cuối cùng là 8 bậc:
- Nhu cầu cơ bản (basic needs)
- Nhu cầu về an toàn (safety needs)
- Nhu cầu về xã hội (social needs)
- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)
Trang 13- Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs)
- Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs)
- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
- Sự siêu nghiệm (transcendence)
Trong khi đó, thuyết nhân cách của Henry Alexander Murray [24,tr175] đã chia nhu
cầu thành 20 loại khác nhau: nhu cầu về quyền lực; nhu cầu làm tổn thương người khác; nhu
cầu tìm kiếm các mối quan hệ bạn bè; nhu cầu bỏ rơi người khác; nhu cầu muốn vượt qua
mọi quy định; quy tắc ràng buộc bản thân; lấy mình làm trung tâm; nhu cầu phục tùng một cách thụ động; nhu cầu tôn trọng, ủng hộ, nhu cầu thành đạt: muốn chiến thắng, đánh bại, vượt trội người khác, muốn làm cái gì một cách nhanh chóng và tốt đẹp, muốn đạt trình độ cao trong công việc; nhu cầu trở thành trung tâm của sự chú ý; nhu cầu được giải trí; nhu
cầu đặt quyền lợi của mình lên trên tất cả; nhu cầu hướng ngoại, quên lợi ích của người khác; nhu cầu tìm kiếm sự giúp đỡ, chia sẻ của người khác; nhu cầu mong muốn giúp đỡ, chia sẻ với người khác; nhu cầu tránh bị trách phạt; nhu cầu phòng vệ; nhu cầu tránh thất
bại; nhu cầu an toàn; nhu cầu ngăn nắp, trật tự; nhu cầu phán đoán
Như vậy, có thể thấy rằng mỗi tác giả có cách phân loại nhu cầu khác nhau, nhưng dù
là cách nào thì các tác giả đều coi NCTĐ là nhu cầu cấp cao, nhu cầu tinh thần của con người
Xu hướng thứ hai: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về NCTĐ
Có nhiều tác giả nghiên cứu theo xu hướng này như Henry Alexander Marray, John Atkinson, Paul Martir Fishbein, David McClelland, Janet Spencer và Robert Helmreich và
rằng, nhu cầu con người có nguồn gốc từ vô thức và NCTĐ cũng bắt nguồn từ vô thức
Murray đưa ra nhận định về “Core psychological needs” (tạm dịch là Những nhu cầu tâm lý cốt yếu), bao gồm: Sự thành đạt, Sự liên minh và Quyền lực (1938) đã cung cấp nền
tảng cơ bản cho nghiên cứu sau này của David McClelland Ông cũng đã phát triển các khái
niệm, mà chúng tôi tạm dịch là: “nhu cầu tiềm tàng” (latent need), “nhu cầu hiện hữu” (manifest need), “sự hối thúc” (press) và “thema”- một kiểu của sự hối thúc
Trang 14Paul Martin Fishbein năm 1970 [49, tr66 – 69] cũng nghiên cứu về “Thuyết giá trị mong đợi” và đề cập đến những vấn đề liên quan đến NCTĐ Thuyết này ứng dụng để giải thích hành vi xã hội, động cơ làm việc và động cơ thành đạt Thuyết này nói rằng, con người
là những sinh vật luôn hướng tới, quan tâm tới những mục tiêu Những hành vi con người
thực hiện là phản xạ khi nhận thấy những giá trị và niềm tin sẽ đạt được một cái gì đó khi đảm nhận hành vi đó
Học thuyết nhu cầu của David McClelland [5, tr5] đưa ra một loại hình động lực
nhằm nỗ lực giải thích về những nhu cầu Quyền lực, Liên kết, Thành đạt và ảnh hưởng của
nó đến hoạt động của con người từ khía cạnh quản lý Theo ông, trong mỗi con người đều
có 3 loại động cơ tương ứng với 3 nhóm nhu cầu thúc đẩy cơ bản là: quyền lực, liên kết và thành đạt Nhược điểm của học thuyết này là chưa đề cập đến các yếu tố xã hội, yếu tố thuộc về tâm lý của nhu cầu trong việc thực hiện hành vi của con người
Về nhu cầu thành đạt, học thuyết này nói rằng, những người có nhu cầu, động cơ thành đạt thường thích làm chủ các nhiệm vụ, tình huống Họ có mong muốn mạnh mẽ về
sự thành công và sợ thất bại Họ không thích trở thành những người mạo hiểm nhưng thích phân tích và đánh giá vấn đề, chịu trách nhiệm cá nhân về công việc được giao Họ không lo
lắng quá mức về thất bại và luôn có ý thức tự giác trong các công việc của mình
Với Janet Spencer và Robert Helmreich [49, tr66 – 69], NCTĐ là xu hướng nhân cách Hai ông đưa ra ba khía cạnh khác nhau của NCTĐ: Định hướng trong công việc, quyền lực và sự cạnh tranh Sau đó đã phát triển thang đo WOFO nhằm đo đạc các khía
cạnh trên Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự định hướng tốt trong công việc là yếu tố đầu tiên dẫn tới việc thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra Janet Spencer và Robert Helmreich
đã đưa ra ba yếu tố của NCTĐ trong nghề nghiệp:
- Định hướng công việc: phản ánh sự nỗ lực làm việc và mong muốn thực hiện tốt nhiệm vụ
- Quyền lực: là những mong muốn thực hiện thật hoàn hảo những công việc khó khăn nhằm khẳng định bản thân
- Cạnh tranh: là những mong muốn chiến thắng hoặc đánh bại kẻ khác
Ngoài ra, một số lý thuyết về động cơ làm việc cũng gián tiếp bàn đến NCTĐ như: Thuyết hai nhân tố của Herzberg cũng đã đề cập đến NCTĐ như một nhân tố tạo nên sự
thỏa mãn trong công việc; Thuyết hy vọng của Vroom; Thuyết X, Y của Douglas McGregor; Thuyết Cân bằng của J.Stacey Adam…
Trang 15Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của NCTĐ
Nhiều tác giả đã nghiên cứu NCTĐ thông qua quá trình hình thành và phát triển của
nó
Theo tác giả W Robert [53, tr430 – 559], con người có khả năng kiểm soát thế giới xung quanh Bản chất này được thể hiện ngay khi con người còn là một đứa trẻ, luôn khám phá tìm tòi và chiếm lĩnh thế giới đồ vật Ông cho rằng, con người luôn tìm kiếm những thách thức và tìm kiếm phương thức để vượt qua những thách thức đó Điều này cũng được làm rõ qua thuyết phát triển trí tuệ của J.Piaget
Tác giả Carol Dweck [52, tr419-430] với công trình nghiên cứu sự khác biệt giữa
những đứa trẻ vượt qua thất bại và những đứa trẻ từ bỏ nó Ông cũng cho rằng mọi trẻ em đều trải qua thất bại và chúng cố gắng vượt qua thách thức để đạt được những tiêu chuẩn về thành tích Dweck nhận thấy rằng, những trẻ có thành tích cao có xu hướng hướng thành công của chúng vào nguyên nhân bên trong, còn những trẻ có thành tích thấp thì chúng thường đổ lỗi cho nguyên nhân bên ngoài
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn cho rằng NCTĐ phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển Nghiên cứu của Hansson cùng đồng nghiệp năm 1997 [52, tr.449] về NCTĐ ở các độ tuổi trên 50 đã chỉ ra rằng khả năng làm việc ở độ tuổi này không khác nhiều so với
những người trẻ tuổi hơn
Như vậy, các tác giả này đều cho thấy, NCTĐ là một quá trình liên tục tiếp diễn trong đời sống của mỗi cá nhân Ở mỗi lứa tuổi khác nhau, NCTĐ thể hiện bằng các hình
thức khác nhau Từ lúc nhỏ đến khi về già, con người đã ý thức được NCTĐ của mình phù
hợp với khả năng trong mỗi thời điểm khác nhau
Xu hướng thứ tư: Nghiên cứu mối liên hệ giữa NCTĐ với hoạt động nghề nghiệp
David McClelland và các cộng sự [49] đã tiến hành nghiên cứu NCTĐ với thành tích nghề nghiệp Kết quả đã cho rằng NCTĐ chính là nguyên nhân dẫn tới thành tích cao Bên
cạnh đó David McClelland và J Atkinson còn tìm ra sự khác biệt về NCTĐ giữa nam và nữ,
trong đó các tác giả đã cho rằng NCTĐ của nam cao hơn của nữ
Tuy nhiên những nghiên cứu sau đó của Janet Spencer và Robert Helmreich [49] về
mối tương quan giữa ba yếu tố của NCTĐ: định hướng công việc, quyền lực và cạnh tranh
đã chỉ ra rằng về cấu trúc NCTĐ của nam và nữ tương đối giống nhau Sự khác nhau có
chăng chỉ được thể hiện ở nhu cầu chức vụ, quyền lực và cạnh tranh của nam cao hơn nữ
Trang 16muốn được đánh giá, tự đánh giá về sự phù hợp nghề của cá nhân
Hay nghiên cứu của A Jennifer (1994) [50, tr430 – 446.] về động cơ thành đạt của
859 sinh viên, nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng của sinh viên về các vấn đề: quyền lực, thành tích, mục tiêu có mối liên hệ theo từng cặp đối với việc thực hiện nhiệm vụ khó hay dễ
Như vậy NCTĐ nảy sinh và phát triển trên cơ sở tự đánh giá đúng mức về ý nghĩa
của hoạt động lao động đối với con người
Xu hướng thứ năm: Nghiên cứu NCTĐ trong mối tương quan với những yếu tố tâm lý khác
Theo hướng nghiên cứu này có các tác giả: Anne M Fontaine, M.L Schoroth, C Hansemark, E Lobel và J Bempechat… Nghiên cứu mối tương quan giữa NCTĐ với
những lo lắng và sự tuân thủ xã hội của tác giả Anne M Fontaine [49]; mối tương quan giữa NCTĐ với khả năng biểu đạt nhận thức của tác giả M.L Schoroth [54, tr861 – 867]; nghiên
cứu mối tương quan giữa NCTĐ, xu hướng củng cố quyền lực với sự khởi đầu cho việc lập nghiệp của C Hansemark [48, tr301-319.]; mối tương quan giữa mục tiêu hướng đến sự thành công và tránh sự thất bại với động cơ bên trong của cá nhân của tác giả A.J Elliot và K.M Shedon (1997) [55]; nghiên cứu của I.K Vatanova [55, tr61-81] về mối tương quan
giữa hoạt động học tập và động cơ học tập, trong đó tác giả bàn đến NCTĐ trong học tập
Cùng với các nhà tâm lý học phương Tây, nhu cầu cũng là vấn đề được nhiều nhà tâm lý học Liên Xô như A.N Leonchiev, X.L Rubinstêin [17] với việc đi sâu nghiên cứu
mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động của con người
Xu hướng thứ sáu: Nghiên cứu xuyên văn hóa về NCTĐ
Đây là xu hướng nghiên cứu được giới tâm lý học quan tâm nhiều trong thời gian gần đây Xuất phát từ sự khác biệt đặc trưng của mỗi nền văn hóa Hiện nay, một số công trình
tập trung nghiên cứu chủ yếu và sự khác biệt giữa nền văn hóa Âu, Mĩ và văn hóa châu Á
Tìm hiểu quan niệm về NCTĐ của các cô gái nhập cư Trung Quốc đến Úc và các cô gái Úc gốc Anh, nghiên cứu của Cynthia Fan và Wally Kanirloeier [15, tr.17], đã chỉ ra rằng các cô gái Úc nhấn mạnh đến thành đạt cá nhân, trong khi đó đây không phải là suy nghĩ
phổ biến của các cô gái Trung Quốc Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, những cô gái Trung Quốc
Trang 17Xu hướng thứ bảy: Xây dựng phương pháp nghiên cứu NCTĐ
Các tác giả Henry Alexander Murray, John Atkinson, David McClelland, đã sử dụng phương pháp phóng chiếu TAT để đo đạc NCTĐ Phương pháp này được xây dựng nhằm
tạo ra một phương pháp phát hiện, làm bộc lộ cái tiềm ẩn để quan sát, tìm hiểu được nó Theo họ, NCTĐ là những nhu cầu tiềm tàng của mỗi cá nhân, do vậy tưởng tượng là cách
thức tốt nhất để nghiên cứu một cách cặn kẽ nhu cầu này
Điểm mạnh của kỹ thuật đo NCTĐ theo cách kể những câu chuyện dựa vào các bức tranh là những tập tư liệu quý giá để nghiên cứu sự thay đổi của NCTĐ theo thời gian Phương pháp này có thể quan sát được thông qua biểu hiện của sắc mặt, cử chỉ, điệu bộ của nghiệm thể Tuy nhiên phương pháp này vẫn tồn tại những hạn chế như cách tính điểm dễ mang tính chủ quan, phép đo này chỉ đo được những nhu cầu tiềm ẩn của con người, còn các NCTĐ khác thì khó có thể đo lường được và khó có khả năng thống kê dữ liệu
Tác giả T Êlecka [34, tr.33] đã đồng nhất 2 khái niệm NCTĐ và động cơ thành đạt Tác giả đã xây dựng bộ trắc nghiệm đo NCTĐ bao gồm 41 item và chia NCTĐ thành 4 bậc tương ứng với 4 nhóm điểm số đạt được: NCTĐ thấp, NCTĐ trung bình, NCTĐ tương đối cao, NCTĐ cao Kết quả nghiên cứu được tác giả phân tích cùng với 2 trắc nghiệm: “Chẩn đoán động cơ tránh thất bại” và “Chẩn đoán mức độ sẵn sàng với mạo hiểm” Theo tác giả,
những người hướng đến sự thành đạt tương đối cao thì tính trước được mức độ mạo hiểm trung bình Những người sợ thất bại thường lường trước mức độ mạo hiểm thấp hoặc mức
độ mạo hiểm rất cao
Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm khác nhau Vì vậy, để nghiên cứu
một vấn đề một cách chính xác, khách quan, có giá trị khoa học, cần thực hiện kết hợp nhiều
phương pháp để bổ trợ cho nhau
Xu hướng thứ tám: Đưa ra những biện pháp, những con đường, những bí quyết dẫn tới sự
thành đạt trong công việc và cuộc sống
Trang 18Thony Robins [25], nhấn mạnh đến cách làm thế nào để thành đạt Tác giả đã tổng
kết những gương cá nhân điển hình, nổi tiếng của nước Mỹ trong bước đường đi đến sự thành công Trên cơ sở đó tác giả đưa ra 7 đức tính của người thành đạt: say mê, biết tin tưởng, có chiến lược, nhận biết chân giá trị, có nghị lực, biết hòa đồng với mọi người, biết làm chủ khả năng truyền đạt
David J Schwartz [26] trong cuốn “Bí quyết thành đạt trong đời người” đã khẳng định muốn trở thành người thành đạt phải có bí quyết: nếu tin tưởng vào bản thân sẽ thành công, xóa mặc cảm – mầm bệnh của mọi sự thất bại, củng cố niềm tin xua tan nỗi lo lắng, sợ hãi
Tóm lại, những nghiên cứu về NCTĐ của các tác giả nước ngoài rất phong phú cả về
mặt thực tiễn và lý luận Mỗi tác giả tuy đứng trên quan điểm lập trường khác nhau nhưng
những đóng góp của họ đều có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn Nó là cơ sở, nền tảng cho những nghiên cứu sau này một cách sâu sắc hơn
1.1.2 Nghiê n cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu về nhu cầu đã có nhiều nhà Tâm lý học đầu ngành của Việt Nam bàn đến như Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ [10, tr.316], Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành [39, tr.186]…Các tác giả đã bàn luận về các khía cạnh: khái
niệm, phân loại, mức độ, vai trò của nhu cầu trên quan điểm truyền thống của các nhà tâm
lý học Xô Viết Dù mỗi tác giả có cách lập luận khác nhau nhưng tất cả đều chung quan điểm: Nhu cầu được hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của các cá nhân đối với hoàn
cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Các công trình này đã làm rõ thêm lý luận về nhu cầu, vai trò của nhu cầu trong thực tiễn đời sống tâm lý của con người
Và nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu trên khách thể là học sinh, sinh viên của các tác giả như Nguyễn Thạc, Hoàng Thị Thu Hà, Hà Bình Hoà
Nghiên cứu thực tiễn về nhu cầu phải kể đến tác giả Nguyễn Văn Lũy [19] với đề tài nghiên cứu về nhu cầu và cấu trúc động cơ hóa hành vi ứng xử, tác giả Hoàng Thị Thu Hà
Trang 19[9] bàn luận về vấn đề nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm, nghiên cứu nhu cầu thông tin
của khách thể tuyên truyền của tác giả Hà Bình Hòa Trong đó, đặc biệt tác giả Phạm Minh
Hạc (chủ nhiệm đề tài) [11] đã có công trình nghiên cứu về nhu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa – chương trình Khoa học cấp Nhà nước KX- 05
Nghiên cứu về nhu cầu không ít tác giả bàn đến, tuy nhiên nghiên cứu về nhu cầu thành đạt nói chung và NCTĐ trong HTNN nói riêng ở Việt Nam thì còn quá ít ỏi Có thể điểm qua các nghiên cứu tiêu biểu sau:
Nghiên c ứu về NCTĐ, động cơ thành đạt
Theo hướng nghiên cứu này có tác giả Võ Ngọc Châu [5], nghiên cứu nhu cầu thành đạt và mối quan hệ của nó với tính tích cực nhận thức của sinh viên Tác giả đã phân tích sự ảnh hưởng của NCTĐ đến tính tích cực nhận thức của sinh viên, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức và NCTĐ cho sinh viên
Tác giả Lê Thanh Hương [15] với đề tài nghiên cứu “Động cơ thành đạt trong
nghiên c ứu khoa học của cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Qu ốc gia”, tác giả đánh giá chung về động cơ thành đạt trong hoạt động nghề nghiệp, quan
điểm về sự thành đạt, những đặc điểm ứng xử liên quan đến hoạt động nghề nghiệp, môi trường làm việc và mức độ thỏa mãn của cán bộ nghiên cứu với các khía cạnh khác của
cuộc sống
Nghiên c ứu nhu cầu nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Bích [21, tr.10] đã chỉ ra rằng nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp của học sinh phụ thuộc vào yếu tố tâm lý cá nhân nhiều hơn yếu tố tâm lý xã
hội Đồng thời tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt trong nhu cầu nghề nghiệp ở học sinh nam và
học sinh nữ
Tác giả Phạm Tất Dong [6] với nhiều công trình nghiên cứu đã xem xét một cách hệ
thống về nhu cầu nghề nghiệp và hứng thú nghề nghiệp Trong các công trình nghiên cứu, tác giả đã khẳng định hứng thú đối với môn học có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu nghề nghiệp, lựa chọn nghề nghiệp
Hàng loạt các bài viết khoa học của tác giả Lê Thanh Hương [13] nghiên cứu về động cơ thành đạt trên Tạp chí Tâm lý đã xem xét động cơ thành đạt nghề nghiệp của cán
bộ nghiên cứu khoa học xã hội trên 2 cấp độ: mong muốn cần đạt và hoạt động thực tiễn Tác giả khẳng định, tham gia các hoạt động nghề nghiệp khác nhau, cán bộ nào cũng có
Trang 20mong muốn đáp ứng được những nhu cầu nghề nghiệp nhất định Tác giả chỉ ra rằng, nhu
cầu được đáp ứng những kết quả nghiên cứu của mình, có tác dụng thiết thực cho xã hội và nhu cầu có cơ hội để học tập và phát triển được cán bộ nghiên cứu được đánh giá cao
Nghiên c ứu nhu cầu thành đạt nghề nghiệp
Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Lã Thị Thu Thủy với nhiều công trình và báo cáo khoa học đã đi sâu bàn về nhu cầu thành đạt nghề nghiệp Tác giả đã đề cập các vấn đề về
sự hình thành và phát triển nhu cầu thành đạt [33] cũng như phương pháp nghiên cứu nhu
cầu thành đạt [32], đặc biệt với đề tài “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của tri thức trẻ” –
Luận án Tiến sĩ [34], tác giả đã đánh giá tổng quan biểu hiện và mức độ nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của tri thức trẻ; sự khác biệt về NCTĐ nghề nghiệp giữa các nhóm đối tượng: cán bộ khoa học (nghiên cứu viên), giáo viên và người kinh doanh Đồng thời phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp, trong đó tác giả chỉ ra các yếu tố tâm
lý cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của tri thức trẻ
Nghiên cứu mới đây nhất có tác giả Nguyễn Thị Thanh Phương nghiên cứu đề tài
“Nhu c ầu thành đạt trong nghề nghiệp của giảng viên trẻ ở một số trường đại học tại TP.HCM” Tác giả đã đánh giá tổng quan biểu hiện và mức độ nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của giáo viên trẻ; nhận thấy sự khác biệt ý nghĩa giữa các giảng viên trẻ có trình độ chuyên môn khác nhau Đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp, trong đó tác giả chỉ ra các yếu tố tâm lý cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của giáo
viên trẻ
Cũng nghiên cứu về nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp, tác giả Trần Thị Liên với
đề tài “Nhu cầu thành đạt trong học tập nghề nghiệp của sinh viên” Có những đánh giá
tổng quan về sự khác biệt giữa các tiểu nhóm giá trị khác nhau, những biểu hiện nhu cầu thành đạt của các nhóm khách thế Những yếu tố tác động đến nhu cầu thành đạt
Các công trình nghiên cứu của tác giả đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm, biểu hiện,
mức độ của NCTĐ cũng như các yếu tố tác động đến NCTĐ
Trang 21ý nghiên cứu hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm nhu cầu
1.2.1.1 Khái ni ệm nhu cầu
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu, tùy theo phương diện tiếp cận mà mỗi tác giả có định nghĩa khác nhau về nhu cầu Tuy nhiên, qua các tài liệu có thể thấy có ba hướng chính để định nghĩa nhu cầu:
1 Nhu cầu là sự xác định đối tượng của môi trường bên ngoài, nó cần thiết đối với hoạt động sống bình thường của con người
Trong Từ điển tóm tắt xã hội học định nghĩa “Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội hoặc toàn xã
hội nói chung, là nguồn thôi thúc nội tại của hành động”
[6, tr.213]
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy
cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [30, tr.173]
2 Nhu cầu như là một trạng thái tâm lý phản ánh sự không đầy đủ, thiếu hụt một cái gì
đó
Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa nhu cầu là “trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ
nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình, và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân” trong Từ điển Tâm lý học [7, tr.190]
3 Nhu cầu như là thuộc tính chủ yếu của nhân cách, nó xác định mối quan hệ của nhân cách với thế giới
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Nhu cầu là một thuộc tính của nhân cách, biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần phải được thỏa mãn trong điều kiện nhất định để có thể tồn tại và phát triển” [10]
Trang 22Bàn về nhu cầu, mỗi quan điểm có những nét riêng, nhưng theo chúng tôi: Nhu cầu
là s ự đòi hỏi của chủ thể về một hay nhiều đối tượng nào đó cần được thỏa mãn để tồn
t ại và phát triển, nhu cầu được hình thành và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn
c ủa con người và là nguồn gốc tích cực, sáng tạo trong con người
1.2.1.2 Đặc điểm của nhu cầu
a Nhu c ầu có tính đối tượng
NC bao giờ cũng có đối tượng Đối tượng của NC nằm ngoài chủ thể và đồng thời
chứa đựng khả năng thỏa mãn NC Khi NC gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn NC thì lúc
đó NC sẽ biến thành động lực thúc đẩy con người hoạt động nhằm chiếm lĩnh đối tượng Tuy nhiên đối tượng của NC tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau trong mỗi cá nhân Ở mức
độ thấp, đối tượng của NC chưa được xác định cụ thể Ở mức độ cao hơn đối tượng của NC được phản ánh trong đầu óc của chủ thể một cách cụ thể hơn Dần dần trong quá trình hoạt động, chủ thể ngày càng nhận thức rõ ràng, sâu sắc hơn về ý nghĩa của NC đối với bản thân mình Kết hợp với những điều kiện chủ quan và khách quan khác, NC trở thành động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động nhằm thỏa mãn NC Nhờ đó, con người trở thành chủ thể hành động tích cực và sáng tạo, không phụ thuộc vào thế giới xung quanh một cách thụ động
b Nhu c ầu mang tính xã hội lịch sử
NC mang bản chất lịch sử xã hội, đây chính là điểm khác nhau giữa NC của con người
và con vật Con người biết sáng tạo ra đối tượng để thỏa mãn NC cầu của mình NC của con người chính là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội Sự phát triển, biến đổi của xã hội làm nẩy sinh những NC mới, tăng về số lượng và chất lượng Chính vì vậy, NC của con người ngày càng trở nên phong phú và phức tạp Sự phong phú và phức tạp này phụ thuộc vào những điều kiện và phương thức thỏa mãn NC
c Nhu c ầu có tính chu kì
NC của con người và xã hội không có giới hạn Khi NC này được thỏa mãn thì NC khác được nảy sinh và vòng tròn này cứ được tiếp diễn liên tục Khi một NC nào đó được
thỏa mãn không có nghĩa là NC đó kết thúc mà nó luôn được củng cố, tái hiện và được làm cho phong phú hơn
d Nhu c ầu được nảy sinh, phát triển trong và thông qua hoạt động của
con người
Trong hoạt động sống của con người, NC luôn luôn tồn tại, nảy sinh và phát triển không ngừng Bản thân NC được nảy sinh tự nó không thể thỏa mãn nếu không có quá trình
Trang 23hoạt động Chỉ thông qua hoạt động thì đối tượng của NC mới được bộc lộ và đáp ứng Mỗi
loại NC được thỏa mãn trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động tương ứng
NC gắn bó với các trạng thái cảm xúc Những trạng thái cảm xúc tiêu biểu như: tính
hấp dẫn của đối tượng, mức độ của cá nhân đối với đối tượng là những yếu tố thúc đẩy cá nhân tìm kiếm cách thức để thỏa mãn NC
1.2.1.3 Phân lo ại Nhu cầu
Hệ thống NC của con người rất đa dạng Căn cứ vào tính chất, đặc điểm, nội dung đối tượng, phương thức thỏa mãn người ta phân loại NC thành nhiều nhóm khác nhau Việc phân chia hệ thống các NC chỉ mang tính chất quy ước ở một mức độ nhất định
Theo Erich Fromm [9, tr.7], nhà phân tâm học hiện đại cho rằng “NC tạo ra cái tự
nhiên cho con người” Đó là những NC:
- NC quan hệ giữa người và người
- NC tồn tại cái tâm con người
- NC đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo
- NC về sự bền vững, hài hòa
- NC nhận thức, nghiên cứu
Tất cả những NC này là thành phần tạo nên nhân cách
Theo D.N Uznatze, ở con người tồn tại hai dạng NC cơ bản: NC sống (NC tồn tại – đói, khát, tình dục ) – NC cấp thấp và NC cấp cao (NC đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ…) Theo ông, sự trội hơn của NC cấp cao hay NC cấp thấp phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, vào giáo
dục và ấn tượng, vào sự thể nghiệm mà con người thấy có ý nghĩa
Lý thuyết của Carl Rogers nhấn mạnh tầm quan trọng của cái tôi và sự phát triển cá nhân, cho rằng cả hai yếu tố này đều cần thiết cho sự phát triển nhân cách khỏe mạnh, Rogers cho rằng con người ai cũng có hai NC cơ bản Thứ nhất là NC thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình, mà Rogers xem là sự phấn đấu tích cực cho sự phát triển cá nhân Thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình là tạo ra những khía cạnh cái tôi có thực Rogers xem NC này là
NC cơ bản của con người, phải được thỏa mãn nếu không sẽ sinh ra rối loạn tâm lý Thứ hai
là NC tôn trọng tích cực – tình cảm thương yêu hay tôn trọng từ người khác Rogers xem sự phát triển nhân cách khỏe mạnh hay xảy ra thông qua các mối quan hệ, cung cấp cho cá nhân sự tôn trọng tích cực không điều kiện Ông khẳng định nếu muốn tâm lý khỏe mạnh cả hai NC này phải được thỏa mãn [29]
Henrry Murray [9, tr.8] đã xây dựng bảng phân loại NC bao gồm:
Trang 24giải thích những NC nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân
có thể định hướng cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất và tinh thần Maslow quan
niệm NC và sự phát triển của con người theo “một chuỗi liên tiếp” như cái cầu thang
1 Nhu cầu cơ bản
2 Nhu cầu an toàn
3 Nhu cầu xã hội
4 Nhu cầu về sự tự trọng
5 Nhu cầu tự khẳng định mình
Trong bậc thang này, NCTĐ được xếp ở bậc 4 và 5, NCTĐ là một trong những yếu
tố cấu thành NC tự khẳng định, là một yếu tố giúp cá nhân phấn đấu hoàn thành mục tiêu đã
đề ra
Như vậy, có nhiều cách phân loại khác nhau về NC, tất cả cách phân loại trên dù dựa trên lý thuyết nào đều có chung nhận định là NC được phân chia thành hai loại: NC vật chất
Trang 25và NC tinh thần Nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp cũng thuộc nhu cầu tinh thần và
là nhu c ầu bậc cao của con người
1.2.2 Khái niệm thành đạt
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học [45] thì:
Thành đạt: đạt được kết quả tốt đẹp, đạt mục đích như dự định, trái với thất bại Thành đạt là đi tới kết quả
Như vậy, thành đạt được hiểu một cách đơn giản là có được kết quả tốt đẹp về mục
đích đã dự định từ trước
Tuy nhiên, dựa theo cách hiểu thông thường, có 3 ý kiến khác nhau bàn về khái niệm thành đạt
Ý ki ến thứ nhất: Cho rằng, bất kỳ ai có những sáng tạo trong công việc, kết quả hoạt
động vượt xa so với khả năng của họ là những người thành đạt Chẳng hạn, người nông dân
với trình độ học vấn thấp, nhưng đã chế tạo ra được sản phẩm máy móc nào đó thay thế cho
sức người, mang lại lợi ích kinh tế cao và có ý nghĩa xã hội được coi là người thành đạt [34, tr.43]
Ý ki ến thứ hai: Là khi nói đến thành đạt thường gắn liền với tiền bạc và chức vụ nào
đó Một người thành đạt là người có nhiều tiền, có vị trí cao trong xã hội Ví dụ một doanh nhân thành đạt là người có doanh thu cao, một quan chức thành đạt là người giữ trọng trách quan trọng trong xã hội [34]
Ý ki ến thứ ba: Quan niệm, người thành đạt là người có uy tín lớn, có chuyên môn
vững vàng, có tài năng, nhắc đến họ là mọi người đều nể phục, như các nhà khoa học, các chính khách hay văn nghệ sĩ…[34]
Với cách hiểu này, quan niệm về sự thành đạt mới chỉ đề cập ở góc độ cá nhân Có nghĩa là bản thân cá nhân đề ra mục đích, phấn đấu để đạt được mục đích đặt ra có thể coi là thành đạt Nhưng vấn đề đáng nói ở đây là các khái niệm chưa đề cập đến hai vấn đề rất quan trọng của sự thành đạt đó là: sự nỗ lực cố gắng của cá nhân và sự thừa nhận, đánh giá
của xã hội đối với kết quả hoạt động của cá nhân đó Những người thành đạt không chỉ đơn thuần là hoàn thành được mục tiêu mà còn phải hoàn thành vượt mức mục tiêu đề ra với sự
nỗ lực cố gắng của bản thân Và kết quả hoạt động của cá nhân phải được xã hội thừa nhận
và đánh giá cao Vì nếu cá nhân hoàn thành mục tiêu đề ra nhưng mục tiêu đó không đáp ứng yêu cầu xã hội, không phù hợp với chuẩn mực, đạo đức xã hội, không được xã hội thừa
nhận, đánh giá thì không thể coi là sự thành đạt được
Trang 26Như vậy, thành đạt phải được xét trên cả hai bình diện: cá nhân và xã hội Đi theo
hướng trên, tác giả Lã Thị Thu Thủy quan niệm thành đạt là hoàn thành vượt mức mục tiêu ph ấn đấu mà cá nhân hay tập thể đề ra, được xã hội đánh giá và thừa nhận [34,
tr.44] Chúng tôi tán thành quan niệm của tác giả Lã Thị Thu Thủy
1.2.3 Khái niệm nhu cầu thành đạt
1.2.3.1 Khái ni ệm nhu cầu thành đạt
Khi đề cập đến khái niệm nhu cầu thành đạt, có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đứng trên những lập trường khác nhau, các tác giả đã xây dựng khái niệm về nhu cầu thành
đạt theo cách hiểu riêng, có thể đề cập đến một số tác giả như:
Theo McClleland quan niệm, nhu cầu thành đạt là quá trình mong muốn thực hiện một cách xuất sắc nhiệm vụ đặt ra, nói đơn giản hơn: nhu cầu thành đạt là sự khao khát vươn
đến những thành công [49]
H A, Murray đã nêu lên một bảng mô tả các nhu cầu, trong đó NCTĐ là: Muốn chiến
thắng, đánh bại, trội hơn những người khác, muốn làm cái gì đó nhanh chóng và tốt đẹp,
muốn đạt trình độ cao trong công việc nào đó, muốn trở thành người nhất quán và có mục
đích [24]
Murray quan niệm người có nhu cầu thành đạt cao là người luôn tìm đến những công
việc khó khăn, luôn tìm cách hoàn thành vượt mức mục đích đề ra
J.V McConnell [49], nhu cầu thành đạt là sự khát khao cạnh tranh, là sự vươn tới những thành thạo và điêu luyện trong công việc
Quan điểm của A.J Elliot và H.A McGregor, NCTĐ là khuynh hướng bậc cao của nhu
cầu, NCTĐ thúc đẩy và hướng cá nhân tới những khả năng tích cực hay tiêu cực
Trernưsevxki cho rằng, nhu cầu thành đạt cũng được hiểu là những mong muốn của chủ
thể để đạt được một vị trí xác định trong xã hội hay mong muốn được kính trọng và được
mọi người trong cộng đồng thừa nhận [5, tr.22]
Nhóm các nhà nghiên cứu M Iu.Ơrôlôv.V.I Sơkurơkin, L.R Ôrơlôva của trường Đại
học sư phạm Matxcova mang tên Lênin lại quan niệm, thành đạt là những mong muốn của
cá nhân, thi đua với chính bản thân mình hoặc với người khác nhằm hoàn thành vượt mức công việc đặt ra NCTĐ thể hiện khuynh hướng vươn tới đạt kết quả tốt hơn, có được cảm xúc về thành tích trong bất cứ hoạt động nào, mong muốn hoàn thành công việc bằng mọi giá NCTĐ gắn liền với mức độ khát vọng NCTĐ là chỗ dựa cho việc hoàn thành mục tiêu,
Trang 27là nền tảng vững chắc để vượt qua những khó khăn, trở ngại Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra
rằng, NCTĐ có tỷ lệ thuận với thành tích học tập của sinh viên
Từ năm 1960, nghiên cứu của Bernard Weiner đã góp phần làm sáng tỏ sự khác nhau về
NCTĐ ở mỗi người Ông rút ra rằng, những người có NCTĐ cao sẽ có đặc điểm:
1 Người có NCTĐ cao, họ thường xuyên tiếp cận hơn là né tránh nhiệm vụ được giao
bởi vì họ tin tưởng vào thành công nhờ năng lực bản thân
2 Khi gặp nhiệm vụ khó khăn, người có NCTĐ cao thường kiên trì, bền bỉ hơn là từ bỏ
3 Người có NCTĐ cao thường lựa chọn thử thách tương đối khó khăn Quá trình thực
hiện này sẽ giúp cá nhân nhận thức được họ đang thực hiện công việc ở mức độ nào
4 Người có NCTĐ cao thường lựa chọn những công việc cần tiêu tốn nhiều sức lực hơn
bởi vì kết quả của nó sẽ khẳng định họ đã chăm chỉ như thế nào để hoàn thành công việc đó Như vậy, những quan niệm về nhu cầu thành đạt của các tác giả nêu trên đã nhấn mạnh nhu cầu thành đạt là mức độ phát triển cao của nhu cầu Nhu cầu thành đạt luôn gắn với
những khao khát được vươn tới đạt được xuất sắc các mục tiêu đề ra Một số tác giả đã
khẳng định, nhu cầu thành đạt như một xu hướng chung của nhân cách Mỗi cá nhân đều có nhu cầu thành đạt, còn mức độ biểu hiện của nó như thế nào phụ thuộc vào bản thân mỗi
xã h ội thừa nhận và đánh giá
Trong định nghĩa cần chú ý:
- NCTĐ không chỉ là những đòi hỏi, mong muốn thông thường nhằm hoàn thành các
mục tiêu ở các mức độ bất kỳ mà nó đòi hỏi cá nhân phải hoàn thành xuất sắc, vượt mức
những mục tiêu đề ra Điều đó có nghĩa, để hoàn thành các mục tiêu này cá nhân phải có sự
cố gắng nỗ lực, ý chí vượt qua khó khăn
- NCTĐ không phải là nhu cầu phục vụ cho riêng lợi ích cá nhân mà nhu cầu đó đòi hỏi
phải phù hợp với những chuẩn mực, đạo đức xã hội
- NCTĐ khi được hiện thực hóa bằng những thành quả hoạt động phải được xã hội đánh giá và thừa nhận
Trang 281.2.3.2 M ức độ và biểu hiện của nhu cầu thành đạt
Mức độ là khoảng xác định nào đó Mức độ NCTĐ thể hiện ở việc chủ thể ý thức được trạng thái thiếu thốn của chủ thể về các khía cạnh khác nhau của hoạt động và phương
thức thỏa mãn nó
Bàn về mức độ NCTĐ có một số cách phân chia khác nhau:
Cách th ứ nhất: Phân chia mứa độ nhu cầu theo X.L Rubinstein [17] Ông khẳng định
quá trình hình thành và phát triển một nhu cầu cụ thể luôn có sự tham gia của ý thức ở
những mức độ khác nhau Đồng thời nhu cầu bị chi phối bởi thế giới đối tượng và các điều
kiện đáp ứng nhu cầu từ thế giới khách quan Theo tác giả, mức độ của nhu cầu thể hiện ở
việc chủ thể ý thức về đối tượng và phương thức thỏa mãn nó Từ đó X.L Rubinstein đã đưa ra 3 cấp độ khác nhau của nhu cầu thành đạt: ý hướng, ý muốn và ý định
Ý hướng thành đạt là bước khởi đầu của NCTĐ Ở mức độ này NCTĐ chưa được
phản ánh một cách đầy đủ, rõ ràng trong ý thức của mỗi cá nhân Chủ thể mới chỉ ý thức được bản thân họ thiếu hụt một cái gì đó mà chưa ý thức được đối tượng và khả năng thỏa mãn nó cần gì, muốn gì và làm gì
Ý mu ốn thành đạt là bước phát triển cao hơn ý hướng thành đạt Chủ thể đã ý thức
được đối tượng NCTĐ, mục đích và động cơ nhằm thỏa mãn NCTĐ Ở chủ thể xuất hiện
những rung cảm thể hiện lòng mong muốn, niềm mơ ước trong học tập nghề nghiệp của mình Tuy nhiên chủ thể vẫn chưa ý thức được khả năng làm thế nào thỏa mãn nó
Ý định thành đạt là mức độ cao nhất của NCTĐ Lúc này chủ thể đã ý thức đầy đủ về
đối tượng, cách thức và điều kiện thỏa mãn NCTĐ Ở mức độ này NCTĐ trở thành sức
mạnh nội tại thúc đẩy chủ thể hoạt động nhằm thỏa mãn nó
Cách th ứ hai: Phân chia mức độ NCTĐ theo trắc nghiệm Theo cách này một số tác
giả đã phân loại mức độ NCTĐ từ thấp đến cao thông qua điểm số đo được từ trắc nghiệm đánh giá
1.2.3.3 M ối quan hệ giữa nhu cầu thành đạt với một số yếu tố tâm lý khác
- M ối quan hệ giữa nhu cầu thành đạt với động cơ thành đạt
Nhà tâm lý học Barry D Smith nhận xét rằng động cơ thành đạt "là sự cố gắng vượt qua thử thách, tự hoàn thiện bản thân, đạt tới sự xuất sắc hơn những người khác" (Barry D
Smith, 1998)
Nhu cầu và động cơ là hai hiện tượng không tách rời nhau Nhu cầu có mối quan hệ
mật thiết với động cơ Theo A.N Leonchiev [17], không thể tách biệt nhu cầu và động cơ,
Trang 29Với tư cách là cái thúc đẩy hoạt động, động cơ gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu
nhất định Mọi hoạt động của con người đều nhằm vào việc thỏa mãn những nhu cầu Tuy nhiên bản thân nhu cầu không trực tiếp dẫn đến hành động mà phải thông qua các động cơ
của chủ thể Có thể một nhu cầu được thể hiện trong nhiều động cơ và cũng có thể có nhiều nhu cầu bộc lộ trong cùng một loại động cơ Như vậy, động cơ là hình thức của nhu cầu và
là cầu nối giữa nhu cầu với đối tượng
Hầu hết các tác giả H.A Murray, D Mclelland, J Atkinson, J.V McConnell [49], đều đồng nhất hai khái niệm này Tuy nhiên không phải lúc nào nhu cầu thành đạt cũng đồng nhất với động cơ thành đạt Khi NCTĐ được thể hiện ở mức độ cao, được cá nhân ý
thức và cố gắng thỏa mãn nhu cầu đó thì mới được xem là động cơ thành đạt Và như vậy
NCTĐ ở mức độ thấp không thể xem là động cơ thành đạt
- M ối quan hệ giữa nhu cầu thành đạt với định hướng giá trị
Định hướng giá trị là cách suy nghĩ, cách đánh giá, thái độ và sự lựa chọn của cá nhân hoặc nhóm xã hội thể hiện thông qua hành vi về một vấn đề nào đó
Định hướng giá trị được hình thành trong quá trình cá nhân hoặc nhóm người gia
nhập vào các quan hệ xã hội với tư cách là chủ thể hoạt động đó, hướng vào các giá trị có ý
cơ bản đối với cá nhân hay nhóm
Định hướng giá trị và nhu cầu có những điểm giống nhau ở thành phần cấu trúc như:
nhận thức, cảm xúc và hành động Trong cấu trúc định hướng giá trị, nhận thức đóng vai trò
chủ đạo, còn trong nhu cầu hành động chiếm ưu thế hơn
Định hướng giá trị có thể nói là nhu cầu khái quát nhất Định hướng giá trị điều chỉnh
hoạt động của cá nhân trong hệ thống những quan hệ xã hội nhất định, còn nhu cầu điều
chỉnh hoạt động cá nhân trong lĩnh vực hoạt động nhất định Chẳng hạn, thành đạt là giá trị chung của mỗi cá nhân trong cuộc sống Khi thành đạt trở thành nhu cầu cấp bách nó sẽ tạo thành động lực thúc đẩy cá nhân tích cực trong cuộc sống nhằm hoàn thành công việc
Giữa NCTĐ với định hướng giá trị có mối quan hệ mật thiết Định hướng giá trị là cơ
sở bên trong quyết định sự lựa chọn đối tượng cũng như phương thức thỏa mãn NCTĐ
Trang 30Ngược lại, NCTĐ quyết định sự hình thành và phát triển của định hướng giá trị Vì vậy người ta có thể sử dụng các biểu hiện của định hướng giá trị để nghiên cứu nhu cầu và ngược lại
- M ối quan hệ giữa nhu cầu thành đạt và hứng thú thành đạt
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn [39], hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối
với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái
cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động Hứng thú thành đạt là động lực để duy trì và thúc đẩy tính tích cực của hoạt động cá nhân
NCTĐ là những mong muốn của cá nhân nhằm hoàn thành vượt mức mục tiêu cá nhân đề ra, những mong muốn đó có thể xuất phát từ những nguyên nhân bên trong hay
những tác động bên ngoài thì hứng thú thành đạt bao gồm cả sự nhận thức sâu sắc và xúc
cảm mạnh mẽ của cá nhân đối với việc hoàn thành một mục tiêu đề ra Về mặt hiệu quả mà nói, hứng thú thành đạt có vai trò thúc đẩy tính tích cực hoạt động của cá nhân nhiều hơn NCTĐ, vì trong hứng thú có sự góp mặt mạnh mẽ của yếu tố cảm xúc, còn nhu cầu thì yếu
tố này không được thể hiện rõ ràng
Nhu cầu và hứng thú có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hướng phát triển của nhân cách Khi chúng ta nói rằng, cá nhân có hứng thú với vấn đề gì đó thì cũng có nghĩa là ta nói họ có nhu cầu về vấn đề đó Nói cách khác
hứng thú là một dạng đặc biệt của nhu cầu Chúng ta có thể xem nó như một chỉ báo quan
trọng để nói lên nhu cầu chọn lọc của cá nhân đối với hiện thực
1.2.4 Khái niệm nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp
1.2.4.1 Khái ni ệm nghề nghiệp
a Khái ni ệm
Theo Đại từ điển tiếng Việt nghề nghiệp là công việc chuyên môn làm theo sự phân
công lao động của xã hội, ví dụ như: nghề báo, nghề dạy học, nghề nông…[46, tr.1192]
Một quan niệm khác cho rằng nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật
chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội, do sự phân công lao động mà có Nó tạo ra khả năng con người sử dụng sức lao động của mình để thu lấy
những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển
Như vậy có thể nói rằng dựa vào cơ sở khác nhau các tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau, có tác giả dựa vào tính chất chuyên môn để định nghĩa, có tác giả dựa vào sự cần thiết của công việc đối với sự phân công lao động xã hội Trong nghiên cứu này chúng tôi
Trang 31sử dụng khái niệm của tác giả Lã Thị Thu Thủy: nghề nghiệp một hình thức lao động của con người mang tính chất chuyên môn, tương đối ổn định, được quy định bởi nhu cầu và
s ự phân công lao động xã hội
Cần phân biệt rõ giữa nghề nghiệp và việc làm Việc làm được hiểu là những công việc mang lại lợi ích cho người lao động, tạo nguồn thu nhập để nuôi sống bản thân gia đình
Việc làm xuất hiện ở tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, hay nói cách khác việc làm là
những hành động cụ thể được trả công để sinh sống Nghề nghiệp cũng được coi là việc làm Nhưng không phải bất kì việc làm nào cũng được coi là nghề nghiệp Những công việc
nhất thời, người lao động thực hiện để nhận công thì không được gọi là nghề nghiệp Nghề nghiệp là sự gắn bó lâu dài với công việc chuyên môn, trong đó ý nghĩa của công việc đối
với người thực hiện được thể hiện rõ nét
Căn cứ vào mức độ phức tạp về kĩ thuật và trình độ chuyên môn mà nghề đòi hỏi có
thể phân chia thành: các nghề không chuyên môn hóa, các nghề nửa chuyên môn hóa và các nghề chuyên môn hóa
Căn cứ vào yêu cầu của nghề đối với lao động, tác giả Phạm Tất Dong đã đưa ra 8 lĩnh vực nghề nghiệp: những nghề thuộc lĩnh vực hành chánh, những nghề thuộc lĩnh vực
tiếp xúc với con người, những nghề thợ, những nghề trong lĩnh vực kĩ thuật, những nghề trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật, những nghề trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học,
những nghề tiếp xúc với thiên nhiên, những nghề có điều kiện lao động đặc biệt [5]
Dựa vào đối tượng quan hệ trực tiếp với nghề, các tác giả đã phân chia nghề nghiệp thành bốn loại sau: nghề quan hệ với kĩ thuật (thợ lắp ráp, sửa chữa máy, gia công bằng máy), nghề quan hệ với tín hiệu (thợ sắp chữ, sửa bản in, đánh máy, mật mã), nghề quan hệ
với động vật và thiên nhiên (nghề chăn nuôi, thú ý, địa chất, khí tượng), nghề quan hệ trực
tiếp với con người (cán bộ quản lý, kinh doanh, hướng dẫn viên du lịch, thầy thuốc, thầy
giáo)
1.2.4.2 Thành đạt trong nghề nghiệp
Trang 32Trong nghiên cứu này chúng tôi đồng ý với tác giả Lã Thị Thu Thủy về quan niệm
thành đạt trong nghề nghiệp như sau: thành đạt trong nghề nghiệp là kết quả của hoạt động tích cực của cá nhân nhằm hoàn thành tốt mục tiêu do cá nhân và tập thể đề ra trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, các mục tiêu đó phải có giá trị đích thực và được
xã h ội thừa nhận
Khái niệm này cho thấy sự thành đạt trong nghề nghiệp liên quan chặt chẽ đến mục tiêu và đặc điểm của nghề nghiệp Mục tiêu đó có thể ngắn hoặc dài hạn Mục tiêu được xây dựng trên cơ sở nhiệm vụ, chức năng của lĩnh vực nghề nghiệp và xuất phát từ mong
muốn của bản thân về các mục tiêu cần đạt được Mức độ thành đạt phụ thuộc vào mong
muốn của từng cá nhân trong công việc mà cá nhân đó đảm nhận
Mục tiêu thành đạt không phải là mục tiêu có thể dễ dàng đạt được, nó đòi hỏi mỗi cá nhân cần phải có sự nỗ lực, cố gắng mới hoàn thành được mục tiêu Có thể dẫn ra một số
mục tiêu cần đạt được trong lĩnh vực nghề nghiệp như sau: vững vàng về chuyên môn, quan
hệ công việc tốt, thăng tiến, quyền lực hay áp dụng được các thành tựu nghề nghiệp vào
cuộc sống thực tiễn
Ngoài việc hoàn thành tốt các mục tiêu trong nghề nghiệp, một người thành đạt trong nghề nghiệp phải được xã hội đánh giá cao và thừa nhận Có nghĩa là thành đạt trong nghề nghiệp là hoàn thành mục tiêu đạt hiệu quả cao và có ý nghĩa cá nhân và ý nghĩa xã hội
1.2.4.3 Nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp
a Khái ni ệm
Dựa trên việc phân tích khái niệm NC, thành đạt, thành đạt nghề nghiệp, NCTĐ
chúng tôi đưa ra khái niệm về NCTĐ trong nghề nghiệp như sau: NCTĐTNN là mong
mu ốn của cá nhân nhằm hoàn thành các mục tiêu do cá nhân, tập thể đặt ra trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, các mục tiêu này phải có giá trị cá nhân và xã hội
Cũng giống như tất cả các loại NC, NCTĐTNN cũng có tất cả các đặc điểm của NC
và không thể tách rời NC và hoạt động Mỗi loại nghề nghiệp khác nhau, NCTĐ trong nghề nghiệp đó có biểu hiện khác nhau Điểm chung cho tất các các hoạt động nghề nghiệp là:
những mục tiêu về chuyên môn, quan hệ nghề nghiệp, những đóng góp cho xã hội từ nghề nghiệp, địa vị xã hội…
b M ức độ và biểu hiện của nhu cầu thành đạt nghề nghiệp
Trang 33Tổng hợp những nghiên cứu về NCTĐ chúng tôi nhận thấy, hầu hết các tác giả đều quan tâm nghiên cứu NCTĐ trong nghề nghiệp Và mỗi tác giả đưa ra hệ thống nội dung NCTĐ nghề nghiệp khác nhau
Hai nhà tâm lý học Janet Spencer và Robert Helmreich (1983) [49] đã đưa ra 3 yếu tố
của NCTĐ nghề nghiệp là: định hướng công việc, quyền lực và cạnh tranh Có thể thấy với
ba yếu tố như vậy chưa đủ để đo nội dung NCTĐ nghề nghiệp Bởi NCTĐ còn bao hàm nhiều nội dung khác không chỉ bó hẹp trong 3 nội dung trên
Các tác giả Jackson, Ahmed và Heapy [sđd 56] lại phân tích NCTĐ nghề nghiệp thành 6
nội dung:
1 Mu ốn đạt được sự thành thạo về mặt chuyên môn
2 Mu ốn kiếm được tiền
3 Mu ốn thành công và tự chịu trách nhiệm
4 Mu ốn được tôn trọng từ đồng nghiệp
5 Mu ốn cạnh tranh và chiến thắng
6 Mu ốn làm việc chăm chỉ và nổi trội
Theo các tác giả trên, NCTĐ nghề nghiệp mỗi cá nhân là khác nhau Người có NCTĐ cao trước hết phải kiếm ra nhiều tiền, đạt được vị trí quyền lực nhất định và được mọi người tôn trọng
Nhóm tác giả này đã có sự xem xét nội dung NCTĐ nghề nghiệp khá đầy đủ Tuy nhiên
nội dung thứ 6 đã nằm trong nội dung 1 và 5 Trong khi các nội dung khác của NCTĐ chưa được đề cập đến
Tập thể tác giả Zinta S.Bryne, Rose A Muller – Hanson, Joe M Cardador, Goege C Thorton III, Heinz Schuler, Andreas Frintrup, Shaul Fox [sđd 34, tr.61-62] đưa ra 17 yếu tố
của NCTĐ nghề nghiệp bao gồm: kết quả của sự cố gắng, cạnh tranh, tin tưởng vào sự thành công, địa vị, say mê học tập, sự cam kết, dũng cảm, năng động, tập trung chú ý, sắp
xếp mục tiêu, độc lập, nguyên nhân bên trong, tính kiên trì, thích nhiệm vụ khó khăn, tự hào
với hiệu quả công việc, tự điều chỉnh, định hướng vị trí quyền lực Có thể thấy, có quá nhiều
nội dung của NCTĐ (17 yếu tố), trong đó bao gồm cả đặc điểm tính cách như: dũng cảm, kiên trì, tập trung chú ý Đây là những yếu tố tác động đến NCTĐ nghề nghiệp chứ không
phải là nội dung của NCTĐ nghề nghiệp
Tuy nhiên hầu hết các tác giả đều thống nhất các yếu tố quyền lực và cạnh tranh là không thể thiếu khi đo đạc NCTĐ
Trang 34c Vai trò c ủa nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp
NCTĐTNN có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống mỗi con người nói chung và
hoạt động nghề nghiệp nói riêng Nó thúc đẩy tính tích cực hoạt động trong mỗi con người Tác giả Murray [25] đã chỉ ra rằng người có NCTĐTNN cao luôn tìm đến những công việc khó khăn, đầy thử thách, muốn đạt sự thành thạo trong công việc và luôn tìm cách hoàn thành mục tiêu đề ra
McCleland cũng chỉ ra rằng người có NCTĐTNN cao luôn mong muốn thành công, hoàn thiện kĩ năng làm việc, cạnh tranh với người xung quanh, luôn muốn vượt qua thử thách để hoàn thành những công việc được giao NCTĐTNN gắn liền với mức độ khát
vọng Nó là điểm tựa là chỗ dựa cho việc hoàn thành mục đích, nền móng vững chắc để vượt qua mọi trở ngại, giúp con người không chỉ muốn giải quyết nhiệm vụ đặt ra mà còn
muốn hoàn thành nó một cách tốt nhất, hiệu quả nhất [54]
Như vậy, NCTĐTNN là động lực thúc đẩy tính tích cực của cá nhân nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ cá nhân và xã hội đặt ra
1.3 Lý luận về nhu cầu thành đạt của vận động viên
1.3.1 Khái quát về Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1.1 Khái ni ệm về Thể thao và Vận động viên
a Khái ni ệm thể thao
Th ể thao là một hình thức thi đấu đặc biệt, chủ yếu là nổi bật ở việc sử dụng thể lực,
k ỹ thuật, chiến thuật, trí tuệ ở một trình độ cao Nhằm phát huy đến mức cao nhất năng lực
v ận động chuyên biệt để giành thành tích cao nhất.[28]
b Khái ni ệm vận động viên
V ận động viên (tiếng Hy Lạp cổ αθλος (athlos) có nghĩa là 'thi đấu) là một người có năng lực về thể chất, sức mạnh, sự nhanh nhẹn hoặc cao hơn sức mạnh trung bình và do
đó thích hợp cho các hoạt động thể chất, đặc biệt cho những cuộc thi đấu.[28]
1.3.1.2 Khái quát v ề Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và các môn th ể thao
a Khái quát v ề Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Ch ức năng của Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Trang 35Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Tổng cục
Thể thao thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Được thành lập vào ngày 06/3/1992, trải qua hơn 20 năm, trung tâm có chức năng chính là:
- Tổ chức, thực hiện kế hoạch tập huấn các đội tuyển thể thao quốc gia;
- Đội tuyển trẻ thể thao quốc gia (sau này gọi là đội tuyển trẻ thể thao)
- Đào tạo tài năng thể thao trẻ và các tổ chức hoạt động dịch vụ theo quy định của pháp luật
Nhi ệm vụ của Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển trung tâm theo kế hoạch hàng năm và kế
hoạch năm năm trình Tổng cục Thể dục thể thao phê duyệt
- Quản lý, phục vụ các đội tuyển thể dục thể thao quốc gia tập huấn tại trung tâm theo
kế hoạch tập huấn của Tổng cục Thể dục thể thao
- Ký hợp đồng và thanh lý hợp đồng với các chuyên gia nước ngoài; hợp đồng quản lý,
phục vụ các đoàn thể thao nước ngoài tập huấn tại trung tâm theo quyết định của Tổng
cục Thể dục thể thao và theo quy định của pháp luật
- Đào tạo VĐV trẻ các môn thể thao theo quy định của tổng cục thể dục thể thao
- Phối hợp nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và y học nhằm nâng cao thành tích thể thao
- Giúp các ngành, địa phương trong việc tập huấn, nâng cao thành tích cho VĐV
- Phối hợp tổ chức giải thi đấu thể thao trong nước và quốc tế theo phân công của Tổng
cục Thể dục thể thao
- Tổ chức các hoạt động dịch vụ theo quy định của pháp luật
- Quản lý và sử dụng tài chính, tài sản và các nguồn thu khác theo quy định của pháp
luật
- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, hồ sơ tài liệu, thực hiện chính sách, chế độ đối với các cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý theo phân cấp của
Tổng cục Thể dục thể thao và theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ khác của tổng cục trưởng tổng cục thể dục thể thao
Bên cạnh đó, trung tâm đã đạt nhiều thành tích trong công tác đào tạo lực lượng vận động viên cho các địa phương và nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về thể dục thể thao
Những thành tích đó đã góp phần to lớn vào sự thành công của Thể thao Việt Nam
b Khái quát m ột số môn thể thao tại trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP.HCM
Môn Bóng chuy ền
Trang 36- Khái ni ệm:
Bóng chuy ền là môn thi đấu mang tính đồng đội, tính đối kháng không trực tiếp do lưới ngăn cách ở giữa hai bên
- Ý nghĩa của bóng chuyền
Kích thích sự phát triển toàn diện các khả năng vận động của con người, rèn luyện các phẩm chất ý chí, đạo đức, lòng dũng cảm, tinh thần đồng đội, ý thức tổ chức kỷ luật cao
Bóng chuyền có đặc thù là môn thể thao tổ chức chơi và thi đấu do vậy rất dễ lấy được cảm tình của người chơi, người mới tập Chính vì vậy bóng chuyền thường đem lại cho người chơi những cảm giác hứng thú, thoải mái sau những giờ làm việc căng thẳng Là
một tình huống nên đòi hỏi phải có sự tập trung chú ý rất cao, các động tác thực hiện rất phong phú, đa dạng, tính ganh đấu quyết liệt thường xuyên xảy ra nên các hoạt động của hệ
thần kinh hưng phấn cao, diễn ra trong một thời gian dài Do đó, tập luyện bóng chuyền giúp cho hệ thền kinh phát triển tính linh hoạt, sáng tạo hơn, các biểu hiện cơ quan chức năng như: tần số mạch, tần số hô hấp, dung tích sống của vận động viên đều tăng rõ rệt
Bóng chuyền là môn thể thao còn mang tính giáo dục cao, thể hiện thông qua các chương trình giao lưu, học hỏi giữa một tập thể hay từng cá nhân, giữa các cơ quan đoàn thể cũng như việc học tập trau dồi những kiến thực, kinh nghiệm đối với học sinh, sinh viên,
vận động viên trong môi trường đào tạo, huấn luyện chuyên ngành thể dục thể thao
Ngoài ra bóng chuyền còn có ý nghĩa trong việc nâng cao tinh thần đoàn kết, hữu nghị với các bạn bè quốc tế, thông qua các chương trình thi đấu với các giải thể thao giao
hữu quốc tế, đem lại những tình cảm cao đẹp, tinh thần thượng võ, xứng đáng với truyền
thống cách mạng của dân tộc
Môn Điền kinh
Điền kinh là môn thể thao có lịch sử lâu đời nhất, được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi trên thế giới Với nội dung rất phong phú và đa dạng, điền kinh chiếm một vị trí quan
trọng trong chương trình thi đấu của các đại hội thể thao Olympic quốc tế và trong đời sống văn hóa thể thao của nhân loại
Trong các trường đại học thể thao, điền kinh là một môn khoa học trình bày với đầy
đủ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp giảng dạy – huấn luyện
- Khái ni ệm điền kinh:
Dùng để biểu thị những hoạt động luyện tập và thi đấu ở trên sân và trên đường
ch ạy
Trang 37Tập luyện điền kinh một cách có hệ thống và khoa học từ lâu đã được các nhà khoa
học khẳng định là có tác dụng tốt trong việc tăng cường và củng cố sức khỏe cho con người
Một người tập đi bộ hoặc tập chạy thường xuyên, tim co bóp khỏe hơn, thành mạch máu co dãn tốt hơn, hô hấp sâu hơn người không luyện tập một cách rõ rệt Các bài tập điền kinh
chẳng những có tác dụng tốt đối với sức khỏe mà còn là cơ sở để phát triển thể lực toàn
diện, tạo điều kiện nâng cao thành tích các môn thể thao khác
Sự đa dạng của các bài tập điền kinh và mức độ tác động của lượng vận động, đặc
biệt đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy, giúp cho người tập dễ dàng điều chỉnh và lựa chọn hình
thức luyện tập phù hợp với lứa tuổi, giới tính đặc điểm cá nhân…Mặt khác, sự đơn giản về sân bãi, dụng cụ tập luyện là điều kiện để môn điền kinh phổ cập trong đông đảo quần chúng lao động
Ngày nay, điền kinh là một trong những môn thể thao cơ bản của nước ta Điền kinh
giữ vị trí chủ yếu trong chương trình giáo dục thể chất ở trường học, trong chương trình
huấn luyện thể lực cho các lực lượng vũ trang nhân dân và trong chương trình thể thao cho
mọi người Đặc biệt là trong chương trình huấn luyện và thi đấu cho các đội tuyển quốc gia
để đạt được thành tích cao trên đấu trường khu vực và trên thế giới
- Ý nghĩa vai trò của bộ môn thể dục đối với vận động viên
Giúp cho việc phát triển cân đối về thể hình, hoàn thiện các chức năng, hệ thống cơ quan, nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ
Bổ trợ cho sự hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết trong đời sống và
khả năng vận động chuyên môn của thể dục
Trang 38Bơi lội là môn thể thao dưới nước, do tác dụng của sự vận động toàn thân, đặc biệt
là s ự vận động của chân, tay mà người bơi có thể vượt qua được những khoảng đường dưới nước với tốc độ nhất định
- Ý nghĩa của môn thể thao bơi lội
Thông qua việc tập luyện bơi lội, con người có thể rèn luyện ý chí, lòng dũng cảm, tính cần cù chịu khó, tinh thần tập thể, củng cố nâng cao sức khỏe của mình
Khi tập bơi, nhất là người mới tập bơi phải có cố gắng rất lớn để khắc phục những khó khăn ban đầu như cảm giác sợ nước, sợ lạnh, sợ chết đuối… Còn đối với các vận động viên, tập luyện bơi lội là một quá trình lao động đầy gian khổ để vươn tới thành tích cao,
vận động viên phải có ý chí, quyết tâm lớn để thực hiện khối lượng vận động lớn Tập trung cao độ trí lực và sức lực như vậy trong quá trình tập luyện, vận động viên đã thực sự được rèn luyện mình trong quá trình hình thành phẩm chất ý chí
Tập luyện bơi lội còn có lợi ích cho việc củng cố và nâng cao sức khỏe, phát triển toàn diện con người Vận động trong môi trường nước có ảnh hưởng tốt tới việc nâng cao
chức năng một số bộ phận của cơ thể như tim mạch, hô hấp, tăng quá trình trao đổi chất
Bơi lội là phương tiện rèn luyện cơ thể làm cho cơ thể thích nghi với sự thay đổi của khí hậu bên ngoài, do đó có thể ngăn ngừa những bệnh cảm lạnh
Ngoài ra bơi lội có thể chữa một số bệnh về hình thể như gù lưng, cong chữ “C” thuận và ngược của trẻ em Bên cạnh đó, các cố tật cứng khớp do bị gẫy xương gây nên, bơi
lội cũng là phương tiện chữa có hiệu quả
Môn Võ Karatedo
- Khái ni ệm
Là một môn võ thuật tự vệ có nguồn gốc từ quần đảo Okinawa – Nhật Bản Đặc trưng của Karate là chủ yếu sử dụng các kỹ thuật tay, chân, thân thể như là vũ khí để tấn công và phòng thủ Karate không chỉ đơn thuần là môn võ, nó còn bao gồm một hệ thống triết học và tâm linh dựa trên nền tảng tinh thần võ sỹ đạo (Bushido) và thiền phật giáo (Zen Buddhist) Thông qua việc tập luyện và thực hành gian khổ, Karate không những phát triển thân thể mà còn phát triển cả tâm hồn nhân cách người tập luyện
Trang 39- Vai trò và ý nghĩa của môn võ karatedo
Ngày nay con người rất văn minh, sống có luật pháp, có công cụ tối tân trong các ngành sản xuất, vật chất xã hội đầy đủ, các phương tiện phục vụ đời sống ngày càng tinh vi
và tiện nghi Ngược lại, con người luôn căng thẳng và tất bật với cảnh đời đất chật người đông, quay cuồng tranh sống, nghèo tranh theo nghèo, giàu tranh theo giàu Trong mỗi con người dễ xảy ra hiện tượng mất quân bình, hoặc ở thể chất hoặc tinh thần Cơ thể suy nhược, thoái hoá, thần kinh căng thẳng, nội tiết rối loạn, tạng phủ suy yếu, làm nảy sinh bao nhiêu bệnh chứng Lao động tạo ra của cải để hưởng thụ, nhưng khi bệnh tật hành hạ xác thân, mọi thứ sung sướng trên đời đều vô nghĩa
Giai đoạn võ là chất liệu kiến tạo lịch sử đã qua rồi, chiến tranh ngày nay có thể giết người hàng loạt chỉ cần một ngón tay bấm nút Nhưng võ đạo vẫn luôn đồng hành với con người… Các bài vận động có phương pháp giúp ta hồi phục nhanh chóng những hao tổn của
cơ thể sau quá trình làm việc; bầu không khí chan hoà tình cảm của Dojo Karatedo cộng với
sự chiêm nghiệm cái hay, cái đẹp của võ làm xã giản bao ưu tư bực bội, căng thẳng của óc não Nói chung sinh hoạt võ đạo mang lại quân bình cho người tập, sức khoẻ tăng tiến, phòng chống bệnh tật, biết đủ với sinh hoạt vật chất, biết bình hoà trong đời sống tinh thần, tình cảm, biết yêu thiên nhiên, yêu đồng loại, yêu cuộc sống Võ Đạo sẽ mang lại hạnh phúc cho những ai biết vận dụng
Karatedo là môn võ khoa học hiện đại, là nghệ thuật chiến đấu thực dụng nhưng bằng đức công bằng và lòng nhân ái Thẩm thấu về Karatedo rất giống với sự thưởng thức nghệ thuật, phải chăng nó là bản tổng phổ trong âm nhạc, một bài thơ, một công trình kiến trúc
một tác phẩm điêu khắc hoặc cũng có thể hơn một kiệt tác nghệ thuật Xét cho cùng thì Karatedo do tự thân sinh ra nó chính là Đạo và được con người bắt gặp như một kiệt tác văn hóa
Hiện nay, Karatedo dù là thể thao hay truyền thống cũng đều phát triển mối quan hệ
hữu nghị giữa các vận động viên toàn cầu cùng đến với nghệ thuật Tất cả nhằm tạo dựng tinh thần, hoàn thiện nhân cách, phát triển tuệ giác, tính trung thực và đúng đắn của nhân
loại
1.3.2 Nhu cầu thành đạt của vận động viên
1.3.2.1 Khái ni ệm về nhu cầu thành đạt của vận động viên
Trang 40Trên cơ sở phân tích khái niệm: nhu cầu, nhu cầu thành đạt, nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp ở trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về nhu cầu thành đạt của vận động viên như sau:
Nhu c ầu thành đạt của vận động viên là những đòi hỏi, mong muốn, khao khát
nh ằm hoàn thành vượt mức những mục tiêu phấn đấu mà cá nhân đặt ra trong luyện tập
và thi đấu của mình Những mục tiêu đó phải phù hợp với những chuẩn mực, đạo đức
xã h ội, kết quả hoạt động phải được xã hội thừa nhận và đánh giá
Định nghĩa trên cho thấy:
- NCTĐ của vận động viên không chỉ là đòi hỏi, mong muốn thông thường nhằm hoàn thành các mục tiêu trong luyện tập và thi đấu ở các mức độ bất kì mà nó đòi hỏi cá nhân
phải hoàn thành xuất sắc, vượt mức những mục tiêu đề ra Điều đó có nghĩa là, để hoàn thành các mục luyện tập và thi đấu này cá nhân phải có sự cố gắng nỗ lực, ý chí vượt qua khó khăn
- NCTĐ của vận động viên không phải là nhu cầu phục vụ cho riêng lợi ích cá nhân, mà nhu
cầu đó đòi hỏi phải phù hợp với những chuẩn mực, đạo đức xã hội Có nghĩa là lợi ích của
việc luyện tập và thi đấu của bản thân không chỉ có ý nghĩa với bản thân mà còn mang lại
những thành tích và còn phải mang lại những giá trị cho xã hội và cho quốc gia Khẳng định
vị thế của quốc gia trên trường quốc tế
- NCTĐ của vận động viên khi được hiện thực hóa bằng những thành tích trong quá trình thi đấu phải được xã hội đánh giá và thừa nhận
1.3.2.2 Bi ểu hiện và mức độ nhu cầu thành đạt của vận động viên
Từ việc nghiên cứu và tổng hợp về nghiên cứu nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp cho thấy mỗi tác giả đưa ra hệ thống nội dung nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp khác nhau, có thể kể đến các tác giả sau:
Tác giả Janet Spence và Robert Helmre [40] đã đưa ra ba yếu tố của NCTĐTNN:
- Định hướng công việc: phản ánh sự nỗ lực làm việc và mong muốn thực hiện tốt nhiệm vụ
- Quyền lực là những mong muốn thực hiện thật hoàn hảo những công việc khó nhằm
khẳng định bản thân
- Cạnh tranh là mong muốn chiến thắng hoặc đánh bại kẻ khác
Tác giả Jackson, Ahmed và Heapy cho rằng NCTĐTNN ở mỗi cá nhân là hoàn toàn khác nhau Có người cho rằng người thành đạt trong nghề nghiệp trước hết phải kiếm ra