1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững

130 1,7K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nha Trang là địa bàn hội tụ đậm nét các yếu tố nền tảng cho một trung tâm du lịch biển quốc tế bao gồm đô thị phát triển với đầy đủ các giá trị văn hóa, nhân văn được đánh giá cao, môi t

Trang 1

Đào Thị Bích Nguyệt

PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHA TRANG

(KHÁNH HÒA) THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

Đào Thị Bích Nguyệt

PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHA TRANG

(KHÁNH HÒA) THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Chuyên ngành : Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên)

Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN ĐỨC TUẤN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục đồ thị

MỞ ĐẦU 1

C hương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 8

1.1 Những vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững 8

1.1.1 Phát triển bền vững 8

1.1.2 Phát triển du lịch bền vững 11

1.2 Đánh giá tính bền vững của du lịch dựa bào bộ chỉ tiêu môi trường của tổ chức du lịch thế giới UNWTO 27

1.3 Vai trò của phát triển du lịch bền vững trong nền kinh tế xã hội hiện nay 30

1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số nơi và bài học kinh nghiệm cho phát triển bền vững du lịch Nha Trang 31

1.4.1 Một số điển hình về phát triển du lịch không bền vững 31

1.4.2 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững 33

1.4.3 Kinh nghiệm rút ra cho du lịch Thành phố Nha Trang 35

Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHA TRANG 38

2.1 Tổng quan về thực trạng kinh tế - xã hội thành phố Nha Trang 38

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 38

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 39

2.1.3 Về giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái 39

2.2 Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Nha Trang 43

2.2.1 Tiềm năng du lịch Nha Trang 43

2.2.2 Hiện trạng môi trường du lịch Nha Trang 60

Trang 4

2.3 Cơ hội thách thức phát triển bền vững du lịch Nha Trang 81

2.3.1 Đánh giá nhanh tính bền vững của du lịch Nha Trang dựa vào hệ thống chỉ tiêu 81

2.3.2 Đánh giá chung về du lịch Nha Trang 86

2.3.3 Cơ hội và thách thức phát triển bền vững du lịch Nha Trang 92

C hương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH NHA TRANG 95

3.1 Định hướng phát triển du lịch Nha Trang 98

3.1.1 Các quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch bền vững 98

3.1.2 Định hướng phát triển du lịch Nha Trang 100

3.2 Giải pháp phát triển bền vững du lịch Nha Trang 105

3.2.1 Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch 105

3.2.2 Giải pháp tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch 108

3.2.3 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực du lịch 109

3.2.4 Giải pháp về phát triển thị trường du lịch 111

3.2.5 Giải pháp về môi trường du lịch 113

3.2.6 Giải pháp về liên kết phát triển du lịch 116

3.2.7 Giải pháp về tổ chức quản lý 119

3.2.8 Giải pháp về tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, phát triển các lễ hội truyền thống và nâng cáp khu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí phục vụ du lịch 120

3.2.9 Tăng cường, nâng cao tính trách nghiệm và khả năng tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch 120

KẾT LUẬN 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 5

UBND : Ủy ban nhân dân

TP : Thành phố UNWTO : Tổ chức du lịch thế giới GDP : Tổng thu nhập quốc nội

DL : Du lịch TTPT : Trung tâm phát triển VH-TT-DL : Văn hóa – Thể thao – Du lịch HĐND : Hội đồng nhân dân

CSLTDL : Cơ sở lưu trú du lịch

Trang 6

Bảng 1.1 : Loại hình du lịch phân loại theo khả năng tương thích với 24

Bảng 1.2 : Du lịch bền vững và du lịch không bền vững 26

Bảng 1.3 : Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững 27

Bảng 1.4 : Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch 28

Bảng 1.5 : Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh tính bền vững của điểm du lịch 29

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 : Số lượng khách du lịch giai đoạn 2009 - 2011 67

Biểu đồ 2.2 :Số lượng ngày khách do các CSLT phục vụ giai đoạn 2009 – 2011 68

Biểu đồ 2.3 : Số lượng lao động di lịch tại Nha Trang 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch được xem là “ngành công nghiệp không khói” là “ con gà đẻ trứng vàng” bởi vì hàng năm ngành du lịch đã đem về cho mỗi quốc gia một số tiền khổng lồ Du lịch là hiện tượng kinh tế xã hội thu hút hàng triệu người trên thế giới Bản chất kinh tế của nó là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hoá phục vụ thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của du khách Bên cạnh sự phát triển rất nhanh của ngành công nghiệp không khói này thì chúng ta đã và đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch, các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch ngày càng gia tăng Điều đó đã trở thành mối lo ngại lớn của các nhà chức trách, của mọi người dân trên thế giới, thúc dục những người làm du lịch phải tìm hướng

đi mới cho mình đó là phát triển du lịch một cách bền vững

TP Nha Trang là địa bàn hội tụ đậm nét các yếu tố nền tảng cho một trung tâm du lịch biển quốc tế bao gồm đô thị phát triển với đầy đủ các giá trị văn hóa, nhân văn được đánh giá cao, môi trường khá trong sạch, con người hiền hòa, nhã nhặn… kết hợp với các giá trị về cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của vịnh, biển, núi, sông, vùng ngập mặn, cảnh quan sinh thái nông nghiệp trù phú, hệ sinh thái biển đa dạng Thành phố có nhiều di sản văn hóa lịch sử quý giá như Tháp Bà Ponagar, Viện Pasteur, Viện Hải dương học… Trong thành phố đã hình thành mạng lưới các

cơ sở dịch vụ văn hóa ẩm thực chất lượng cao, mang nét truyền thống, góp phần tạo nên bản sắc hấp dẫn của du lịch Nha Trang Các di sản thiên nhiên - văn hóa, nhân văn đã và đang được bảo tồn ổn định, bước đầu khai thác có hiệu quả Nhờ thế, số lượt khách du lịch đến Nha Trang ngày càng tăng Năm 2008, Nha Trang đón 1,6 triệu lượt khách, tăng 17,4% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế là 330.000 lượt, tăng 17% so với cùng kỳ Tổng doanh thu hoạt động du lịch và dịch vụ ước đạt 1.282 tỷ đồng, tăng 31,4% Hiện tại, thành phố có 366 cơ sở kinh doanh lưu trú với 8.728 phòng và 14.178 giường, thu hút 7.770 lao động trực tiếp

Chính những điều kiện đó mà du lịch Nha Trang trong thời gian vừa qua là địa chỉ quen thuộc của du khách trong nước và quốc tế, đóng góp trên 70% vào tổng

Trang 8

doanh thu du lịch của tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên sự phát triển "nóng" về du lịch của Nha Trang cũng đang đứng trước những thách thức không bền vững nếu không được kiểm soát với mục tiêu bền vững.Vì những lý do trên em đã chon đề tài:

nghiên cứu thực hiện với hy vọng đánh giá thực trạng hoạt động du lịch Nha Trang

để từ đó đưa ra một số định hướng và giải pháp khắc phục những tồn tại và đẩy mạnh phát triển du lịch Nha Trang, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Nha Trang – Khánh Hòa

2.1 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch tự nhiên và du lịch nhân

văn vào địa bàn Nha Trang Phân tích tiềm năng, thực trạng du lịch và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch Thành phố Nha Trang, nhằm thỏa mãn nhu cầu đa

dạng của du khách, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao mức sống cộng đồng địa phương, bảo vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển theo hướng bền vững

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thu thập và hệ thống các thông tin về du lịch Nha Trang

Khảo sát, kiểm kê, nghiên cứu các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và cơ sở

vật chất kỹ thuật của Nha Trang Trên cơ sở đó đánh giá những lợi thế và hạn chế

của chúng đối với việc phát triển du lịch trên quan điểm phát triển bền vững

Đề ra giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nha Trang theo hướng bền vững

2.3 Giới hạn nghiên cứu

Giới hạn trong phạm vi ngành du lịch nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, thực trạng phát triển ngành… của Nha Trang Trên cơ sở đó sẽ phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch của Nha Trang Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch cho Nha Trang trong tương lai để đảm báo phát triển bền vững

Trang 9

2.3 2 Giới hạn về không gian và thời gian

Về không gian: Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi thành phố Nha

Trang

Về thời gian : Đề tài tập trung điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu và phân

tích trong giai đọan 2005-2010

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3.1 Trên th ế giới

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các hội thảo, hội nghị về

việc nghiên cứu du lịch như các nghiên cứu nổi bật: nghiên cứu sức chứa và ổn định của các địa điểm du lịch (Kadaxkia,1972; Sepfer, 1973), nghiên cứu các vùng thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô trước đây do các nhà du lịch cảnh quan Đại Học Tổng Hợp Maxcova (E.B.Xmirnova, V.B.Nhefedova) hay công trình khai thác lãnh thổ du lịch của I.I.Pirojnic (Belorutxia), Jean Piere (France) về phân tích các tụ điểm du lịch và vùng du lịch

Từ khi cụm từ “phát triển bền vững” ra đời ở Đức vào năm 1980, nhiều nghiên cứu khoa học đã được tiến hành nhằm phân tích những tác động của du

lịch đến sự phát triển bền vững, sự cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của môi

trường sinh thái trong khi khai thác du lịch Chuyên gia du lịch người Thuỵ Sĩ Jos Krippendorf (1975) và Jungk (1980) là những nhà khoa học đầu tiên trên thế giới

cảnh báo về những suy thoái do hoạt động du lịch gây ra và đưa ra khái niệm về

du lịch rắn (hard tourism) - loại hình du lịch ồ ạt, bằng xe hơi, gây ảnh hưởng

nhiều nhất đối với môi trường và du lịch mềm (soft toursim/gentle tourism) - loại hình du lịch ít gây ảnh hưởng nhất đến môi trường và có chia sẻ lợi ích kinh tế

với cộng đồng địa phương [13]

Năm 1992, trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất đã diễn ra Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc, 182 Chính phủ đã thông qua

chương trình Nghị sự 21 nhằm đảm bảo một tương lai bền vững cho nhân loại

bước vào thế kỉ XXI Chương trình Nghị sự đã nêu lên các vấn đề liên quan đến môi trường và phát triển, đề ra chiến lược hướng tới các hoạt động mang

Trang 10

tính bền vững hơn

Về du lịch bền vững, từ những năm 1990, nhiều nghiên cứu về phát triển

du lịch bền vững đã được tiến hành Một số loại hình du lịch mới ra đời, nhấn

mạnh khía cạnh môi trường như du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên, du

lịch thay thế hay du lịch khám phá nhằm tuyên truyền, nâng cao ý thức của cộng đồng về hoạt động du lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững

Năm 1996, “chương trình Nghị sự 21 về du lịch: Hướng tới phát triển bền

v ững về môi trường” đã được Hội đồng Lữ hành du lịch thế giới, Tổ chức du

lịch thế giới và Hội đồng Trái đất xây dựng, nhằm nhấn mạnh sự cần thiết phối

hợp hành động giữa các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ và ngành du lịch trong việc xây dựng chiến lược du lịch và nêu bật những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch bền vững

Các nhà Địa lý học bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực du lịch từ những năm

30 (Mc Murray 1930; Jones 1935; Selke 1936) và đặc biệt là sau chiến tranh thế

giới thứ II Nhiều nhà Địa lý học người Mỹ, Anh, Canađa đã tiến hành các nghiên

cứu về du lịch ở góc độ địa lý như Gilbert (1949), Wolfe (1951), Coppock (1977) Về sau, khi du lịch ngày càng phát triển và cụm từ du lịch bền vững được nhắc đến nhiều hơn thì những nghiên cứu của các nhà địa lý học về du

lịch cũng đã tăng lên rất nhiều, bởi khó có thể tìm thấy một khía cạnh của du lịch

mà không dính dáng đến địa lý và rất ít các ngành của địa lý mà không có ít nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu hiện tượng du lịch

3.2 Ở Việt Nam

Du lịch bắt đầu được thực hiện nghiên cứu và mới quan tâm từ thập niên 90 trở lại đây Một số công trình khởi đầu và cũng là nền tảng cho du lịch

như: Dự án VIE/ 89/ 003 về kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam do tổ

chức Du Lịch Thế Giới (OMT) thực hiện, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch

Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 do Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch tiến hành (1994)…và các quyển sách đã được biên soạn: Tổ chức lãnh thổ du lịch

Việt Nam, Cơ sở địa lý du lịch, Địa lý du lịch, Tổng quan du lịch, Quy hoạch

Trang 11

du lịch những vấn đề lý luận và thực tiễn, Kinh tế du lịch và du lịch học…đã tập trung nghiên cứu lý luận và thực tế trên phạm vi khác nhau

Du lịch Nha Trang vốn đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và hiện nay

cũng đang được nghiên cứu từ các hãng thông tấn báo chí hay đài truyền hình Tỉnh

và đài Quốc Gia, hoặc của sinh viên của các trường: Đại Học Sư Phạm TP.HCM, Đại Học Văn Lang, Đại Học Cần Thơ hay Trường Nghiệp Vụ Du Lịch….Tuy nhiên, những công trình đó chưa đi sâu khai thác và nghiên cứu kỹ trên cơ sở khoa học mà chỉ bước đầu cho việc nghiên cứu các góc cạnh khác nhau của vấn đề du lịch - một vấn đề có rất nhiều phức tạp và liên quan với các đối tượng khác.Ngày nay, với sự phát triển du lịch sôi động của cả nước nói chung, du lịch khu vực biển miền trung noi riêng thì du lịch Nha Trang đã trở thành đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các quan điểm nghiên cứu

Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở, gồm các thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự chi phối

của nhiều quy luật cơ bản Nghiên cứu du lịch không thể tách rời hệ thống kinh

tế - xã hội của địa phương và cả nước Quan điểm hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể, khái quát của toàn bộ hệ thống du lịch trong khi vẫn bao quát được

hoạt động của mỗi phân hệ trong hệ thống đó Du lịch Nha Trang cần được nghiên

cứu trong mối quan hệ tương hỗ: kinh tế - xã hội - môi trường không chỉ riêng Nha Trang mà của cả nước Quan điểm này được áp dụng trong suốt quá trình

thực hiện luận văn

Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi Quá trình ấy có thể bắt đầu từ trong quá khứ, hiện tại vẫn tiếp diễn và kéo dài đến tương lai Đứng trên quan điểm lịch sử, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh giá đúng đắn hiện tại sẽ là cơ sở để đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát

Trang 12

triển trong thời gian sắp tới Quan điểm này được vận dụng trong khi phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống du lịch và dự báo xu

hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ

Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian

của các đối tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên và dịch vụ cho du

lịch Việc nghiên cứu du lịch bền vững của Thành phố Nha Trang không thể tách

rời với hiện trạng và xu hướng du lịch của Việt Nam Quá trình phát triển du

lịch bền vững của tỉnh Nha Trang là một phần trong quá trình phát triển du lịch

bền vững của khu vực Dyên hải miền trung và của cả nước

Phát triển du lịch phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái Quan điểm sinh thái cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái, đánh giá tác động của du lịch đến môi trường và khả năng chịu đựng của môi trường

trước sự phát triển của kinh tế nói chung, du lịch nói riêng

Mục tiêu của du lịch bền vững là bảo vệ tài nguyên và môi trường, tăng

cường bảo tồn và chia sẻ lợi ích cho cộng đồng, đảm bảo sự phát triển kinh tế một cách bền vững Kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc

độ sản xuất và tiêu dùng du lịch nhằm đạt đến sự cân bằng giữa các yếu tố kinh

tế, xã hội và môi trường Luận văn quán triệt quan điểm này trong suốt quá trình đánh giá tiềm năng, phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp

4.2 Các ph ương pháp nghiên cứu

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng trong đề tài nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng nghiên cứu những đối tượng có mối quan hệ đa chiều và

biến động trong không gian và thời gian như ngành du lịch

Nhằm điều tra bổ sung và kiểm tra lại những thông tin cần thiết cho quá

Trang 13

trình phân tích, xử lí số liệu trước khi thực hiện đề tài Trên thực tế, các số liệu

thống kê của ngành du lịch nói chung còn nhiều bất cập và chưa thống nhất

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp, đề tài sẽ áp dụng phương pháp bản

đồ và biểu đồ nhằm thể hiện một cách trực quan các nội dung nghiên cứu, các số liệu cụ thể trên biểu đồ, cũng như xác định được địa điểm và phân bố theo lãnh thổ

của các đối tượng nghiên cứu trên bản đồ Xây dựng một số bản đồ mang tính chức

năng như: bản đồ hành chính, bản đồ tài nguyên du lịch, bản đồ tổ chức lãnh thổ

du lịch trên địa bàn Trên bản đồ cũng giúp thể hiện quy luật của toàn bộ hệ

thống trong không gian

Phương pháp này nghiên cứu về mặt định lượng của các chỉ tiêu phát triển trong hoạt động du lịch Những thông tin, số liệu có liên quan đến các hoạt động

du lịch ở địa phương sẽ thu thập, thống kê làm cơ sở cho việc xử lí, phân tích và đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu của đề tài đã đề ra

Để đánh giá và xác định các vấn đề trong nội dung có liên quan, dựa vào các nguyên nhân, hệ quả và tính hệ thống trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch, từ đó dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch trong tương lai của tỉnh

Các chương trình phần mềm xử lí các thông tin thu được thông qua điều tra

như Exel, Word, Windows, Mapinfo…để xử lí, phân tích kết quả điều tra và thể

hiện qua các bảng thống kê, các bản đồ, biểu đồ, sơ đồ…

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc chính của luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững

Chương 2 Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Nha Trang theo hướng bền vững

Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nha Trang theo

hướng bền vững

Trang 14

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1 Những vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển

về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, chính trị, văn hoá, địa lý riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

1.1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã đạt được tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu có những lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tương lai con người và vấn

đề phát triển bền vững được đặt ra Theo thời gian, quan niệm về phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện Năm 1987, vấn đề phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bền vững là " Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai" Quan niệm đầu tiên về phát triển bền vững của

WB chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống của con người trong quá trình phát triển của con người chưa thấy được vấn đề xã hội được đề cập đến Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên thì yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với một ý nghĩa cũng

vô cùng quan trọng trong vấn đề phát triển bền vững Hội nghị thượng đỉnh thế giới

về phát triển bền vững tổ chức Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định : Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm : tăng trưởng về mặt kinh tế, cải thiện các vấn

đề xã hội và bảo vệ môi trường sống Cùng với đó tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bền vững về mặt môi trường Mối quan hệ đó được thể hiên qua hình vẽ sau:

Trang 15

Hình 1.1 : Mối quan hệ trong phát triển bền vững

Nguồn : Giáo trình kinh tế phát triển

Bền vững về mặt kinh tế là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong một thời gian dài Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được phát triển bền vững về mặt kinh

tế Vì thế chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng trưởng ổn định hợp lý và lâu dài không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế nhanh

Bền vững về mặt môi trường : Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và sự phát triển của mỗi cá thể và của cộng đồng, nó bao gồm toàn bộ các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học và xã hội bao quanh Bền vững về mặt môi trường

là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao dựa trên nền tảng sinh thái bền vững Bền vững về xã hội : Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay nói một cách khác là phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi công bằng cho mọi

cá nhân trong xã hội Phát triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hoà bình,

mở rộng và nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người cùng với đó là việc nâng cao

sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển

Trang 16

Ngoài ra phát triển bền vững còn được xem là sự phát triển "bình đẳng và cân đối" Bình đẳng được hiểu là bình đẳng giữa các nhóm người trong cùng một xã hội Còn tính cân đối được thể hiện ở việc cân đối giữa các mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội – môi

1.1.1.2 Các thước đo về phát triển bền vững

Cũng như tăng trưởn kinh tế, phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc trưng Tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rất khó xác định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện kinh tế- xã hội- môi trường

Về mặt kinh tế, tính bền vững thể hiện ở các chỉ số như: tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP), cơ cấu GDP và GNP, GDP/người, GNP/người Theo tiêu chuẩn quốc tế thì chỉ tiêu GDP/người phải ở mức 5% mới được coi là phát triển bền vững và cơ cấu GDP mạnh là cơ cấu có tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu phải cao hơn tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấu

Về mặt xã hội, có các chỉ tiêu đánh giá như: chỉ số phát triển con người (HDI), hệ số bất bình đẳng thu nhập, giáo dục, y tế, văn hoá HDI là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp sự phát triển của con người vì vậy muốn phát triển bền vững thì yêu cầu đặt ra đối với chỉ tiêu này là phải tăng trưởng và đạt đến mức trung bình Chỉ số bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là một trong số các chỉ tiêu quan trọng trong phát triển bền vững vì bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là nguyên nhân gây ra những xung đột, bất ổn trong xã hội

Về mặt môi trường các chỉ tiêu đánh giá như : mức độ ô nhiêm (không khí, nguồn nước ), mức độ che phủ rừng là những chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá tính bền vững của môi trường Môi trường bền vững là môi trường luôn thay đổi nhưng vẫn làm tròn ba chức năng : là không gian sinh tồn ; là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản suất của con người ; là nơi chứa đựng, xử lý chất thải

Ngoài ra còn phải quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới; các chỉ tiêu về giáo dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi, tỷ lệ học trung học, đại học, các

Trang 17

chỉ tiêu về hoạt động văn hoá khác

Cách đây khoảng 6000 năm, có sự ra đời của nông nghiệp ở châu thổ của một

số con sông lớn trên thế giới: sông Hồng Hà ( Trung quốc), sông Nin( Châu Phi), Lưỡng hà( Trung Á)… Trồng trọt và chăn nuôi dần thay thế cho hái lượm và săn bắn Dân nông nghiệp bắt đầu định cư, tạo ra các làng bản, thôn xóm trên các vùng đất cao của các vùng châu thổ Nông nghiệp với trồng trọt và chăn nuôi đã làm cho đời sống của xã hội loài người có sự thay đổi về căn bản Từ đời sống nguyên thủy lang thang, nay đây mai đó không nhà, không cửa, chuyển sang đời sống định cư trong các làng bản, thôn xóm Mỗi người, mỗi gia đình đều có ngôi nhà của mình

Để một lúc nào đó một số thành viên của gia đình rồi sẽ quản lí nhà của mình

Ra đi (có hẹn ngày sẽ trở lại), hiện tượng ra đi đó của các cư dân chính là hiện tượng du lịch Tóm lại: du lịch đã xuất hiện vào thời đại nông nghiệp cách đây khoảng 6000 năm khi loài người sống định cư trong các làng bản, thôn xóm để trồng trọt và chăn nuôi – nghề chính của thời nông nghiệp

Hiện tượng du lịch có thể coi là xuất hiện sớm như vậy, nhưng nghề kinh doanh lữ hành ra đời ở Nước Anh năm 1842, người sáng lập ra nó là Người Anh : ông Thomas Cook – ông trở thành ông tổ của nghề kinh doanh du lịch trên thế giới

Du lịch hiện đại mới xuất hiện vào năm 1945 (sau thế chiến thứ 2) Khi con người sử dụng máy bay để đi du lịch Máy bay giúp con người bay nữa vòng trái đất hết có 1 ngày(248) trong khi đó tàu hỏa hết 15 ngày, tàu thủy 3 tháng mới đi được nữa vòng trái đất

Trang 18

Ngành du lịch hiện đại và ngành hàng không liên quan với nhau như hình với bóng

Về thuật ngữ: từ du lịch tiếng Pháp : Tourisme có nguồn gốc từ từ La tour ( đi một vòng) Nhu vậy người đi đã xuất phát từ ngôi nhà của mình, đi 1 vòng sau đó lại trở về nhà Tourisme(Anh), Myfyfu( Nga) cũng phiên âm từ tiếng Pháp Theo tác giả Robert Lanquar tác giả quân kinh tế du lịch (1993), từ Tourist lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng anh năm 1800

Từ du lịch theo tiếng Trung Quốc:

Du: tức là Hành là sự ra đi

Lịch: là sự trái đời người 4 yếu tố:

- Thực: ăn tốt

- Trú: ở tốt

- Lạc: vui chơi, giải trí tốt

- Y: mặc đẹp, mua sắm nhiều hàng hóa

Định nghĩa du lịch:Mỗi tác giả viết lách đều có cách định nghĩa riêng của

mình về du lịch, vì thế có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về du lịch( hàng trăm cách của hàng trăm tác giả) Chung quy lại có 1 số cách định nghĩa như nhau:

Các cách định nghĩa ngắn gọn, bao quát:

Ví dụ: trong từ điển Tiếng Việt: hai chữ du lịch được định nghĩa như sau:

“Du lịch là đi chơi cho biết xứ người.”

Một nhà du lịch học người Pháp là Husher cũng có cách định nghĩa tương tự: “

du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân” Như vậy phải khẳng định: Du lịch là

đi chơi chứ không phải đi làm, hay đi kiếm việc làm… Thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều có viết: “Nghề chơi cũng lắm công phu…” Bởi vậy mới có nhiều điều mà chúng ta cần phải học

Viện sĩ Nguyễn Khắc Kiệm, một nhà xã hội học nổi tiếng của Việt Nam cũng đưa ra 1 cách định nghĩa ngắn gọn về du lịch: “ Du lịch là sự mở rộng về không gian văn hóa của con người ”Như vậy ở đây du lịch lại liên quan mặt thiết tới văn hóa

Trang 19

Các cách định nghĩa của các nhà du lịch học nổi tiếng của các quốc gia có

du lịch phát triển mạnh trên thế giới

Azak ( Ai Cập )

“ Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời, từ một vùng này sang một vùng khác, từ mặt nước này sang mặt nước khác, vốn không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.”

việc thường xuyên của họ.”

Nhà kinh tế du lịch Người Đức Kalfiotis cho rằng:

“ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của các cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức Do đó có thể tạo nên các hoạt động kinh tế

Quan niệm của các nhà thống kê du lịch người Việt Nam: Nguyễn Cao Thắng và Tô Đăng Hải (1990)

“ Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiều vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi hoặc kết hợp hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.”

Trên thế giới, Mỹ là nơi có hoạt động du lịch mạnh nhất và lớn nhất Các học giả du lịch người Mỹ cũng đóng góp rất nhiều các l y luận về du lịch

Hai học giả Mỹ: Mathieson và Mall

Định nghĩa:

“ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân tới nơi ở và làm việc của

họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất

Trang 20

tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ”

Theo các nhà Địa lý du lịch của Hoa Kỳ:

Michaud:

“ Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất 1 đêm ở ngoài nơi ở thường ngày với l y do: giải trí, kinh doanh, chữa bệnh, thể thao hoặc tôn giáo”

Trong hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng, ngoài tiếp cận với môi trường thiên nhiên, phải có mối quan hệ với cộng đồng nơi đến mới đảm bảo cho một sự phát triển du lịch lâu dài và bền vững

Một nhà kinh tế du lịch người Mỹ là ColtMan ( Michael.M.Coltman) đã định nghĩa:“ Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của 4 nhóm cộng đồng bao gồm:

Du khách: Người bỏ tiền ra để đi du lịch

Cơ quan cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng phục vụ du lịch ( khách sạn, nhà hàng…)

Chính quyền nơi diễn ra du lịch

Dân địa phương tại nơi du lịch

Từ đó đưa ra định nghĩa:

“ Du lịch là tổng thể các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và phục vụ nhu cầu của du khách”

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá- xã hội của các nước Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Du lịch được coi là ngành công nghiệp- công nghiệp

du lịch- và hiện nay ngành "công nghiệp" này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và

ô tô Đối với các nước đang phát triển, du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của quốc gia

Trang 21

Để có nhận thức khoa học về du lịch, nhận thức đó phải trải qua quá trình từ thấp tới cao, từ việc chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Quan niệm trước đây về du lịch

Trước đây người ta mới chỉ quan niệm du lịch là một hoạt độn mang tính chất văn hoá, nhằm thoả mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết của con người,

du lịch không được coi là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít được đầu tư để phát triển Trong nhiều thế kỷ trước đây, du khách hầu hết là những người hành hương, thương nhân, sinh viên và cả nghệ sĩ Đến đầu thế kỷ 20, du lịch vẫn còn dành riêng cho những người khá giả, họ đi du lịch là để giải trí Còn du lịch ngày nay gắn liền với cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người, và một hoạt động du lịch như vậy được thực sự bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Mặc dù vậy, khi đề cập đến du lịch, không ít người thường lầm tưởng rằng : du lịch chỉ là những kỳ nghỉ hè tầm thường, với các sân bay, bãi biển đầy người, hoặc hình ảnh những xe du lịch chở du khách tham quan các phố Do đó, muốn cho du lịch phát triển mạnh mẽ và đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu ngày càng tăng của đời sống con người, trước hết cần phải có quan niệm đúng đắn về du lịch

Quan niệm khoa học về du lịch

Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tai Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa như sau về du lịch : Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua

Trong định nghĩa này, các tác giả đã gộp hai phạm trù hoạt động du khách và hoạt động kinh tế thành một hệ thống nhân- quả

Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo các

Trang 22

chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham gia tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam

thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, v.v Theo nghĩa thứ hai,

du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt : nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ

Chúng ta biết rằng, trong thực tế cuộc sống, do sự phát triển của xã hội và nhận thức, các từ ngữ thường có khá nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau Như vậy, cố gắng giải thích đơn vị từ đa nghĩa bằng cách gộp các nội dung khác nhau vào một định nghĩa sẽ làm cho khái niệm trở nên khó hiểu và không rõ ràng Dựa theo cách tiếp cận trên, nên tách thuật ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó

Du lịch có thể được hiểu là :

+ Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng

+ Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của

cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

Ở mỗi thời đại, quan niệm về du lịch có sự thay đổi bắt đầu ngay từ thời kì

đồ đá, khi mà con người phải “đi” vì lí do sinh tồn trước cái đói và sự sợ hãi

Đến thời kì cường thịnh của đế quốc La Mã, các chuyến du ngoạn bằng

ngựa đã mang mục đích tiêu khiển của tầng lớp thống trị Khi tàu hoả ra đời vào

thế kỉ XIX, nó tạo động lực cho du lịch phát triển hơn Rồi lần lượt đến tàu thuỷ, ô tô, máy bay, chúng ngày càng làm cho du lịch gắn bó mật thiết với con

người

Trang 23

Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời

khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh

Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động

của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu

thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”

Ở Việt Nam, theo luật du lịch ban hành từ tháng 6 thăm 2005 và có hiệu lực

từ ngày 1 tháng 1 năm 2006: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến

đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”

WTO định nghĩa: “ Du lịch theo nghĩa hành động được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích

giải trí tiêu khiển”

Còn nhiều quan niệm khác về du lịch Trong luận văn này, tôi sử dụng định nghĩa về du lịch do Tổng cục du lịch Việt Nam ban hành trong luật Du lịch năm

2005

b) Quan niệm về du khách

Du khách là người từ nơi khác đến vào thời gian rảnh rỗi của họ với mục đích thoả mãn tại nơi đến nhu cầu nâng cao hiểu biết, phục vụ sức khoẻ, xây dựng hay tăng cường tình cảm của con người (với nhau hoặc với thiên nhiên), thư giãn, giải trí hoặc thể hiện mình kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất và các dịch vụ do các cơ sở của ngành du lịch cung ứng Trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam, có thể cụ thể hoá tiêu chí cơ bản này bằng việc nghỉ qua đêm tại một cơ sở

Trang 24

lưu trú của ngành du lịch Nói một cách khác thì du khách là người từ nơi khác đến với hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hoặc vô hình của thiên nhiên và hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống Cần phải phân biệt hai loại du khách cơ bản Những người mà chuyến đi của họ có mục đích chính là nâng cao hiểu biết tại nơi đến về các điều kiện, tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hoá được gọi là du khách thuần tuý Ngược lại có những người thực hiện chuyến đi vì một mục đích khác như công tác, tìm kiếm cơ hội làm ăn, hội họp Trên đường đi hay tại nơi đến, những người này sắp xếp được thời gian cho việc thăm quan, nghỉ ngơi Khi đó họ mới được coi là du khách Để nói lên sự kết hợp đó, chuyến đi của họ được gọi là du lịch công vụ, du lịch thể thao du lịch tôn giáo

Do du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một lĩnh vực kinh tế với đối tượng phục vụ là người đi du lịch nên việc thống nhất khái niệm du khách là một nhu cầu tất yếu Đối với doanh nghiệp du lịch, thông qua số lượng du khách có thể nắm được doanh thu Sự chuẩn hoá khái niệm du khách sẽ giúp các nhà thống

kê thống nhất được tiêu chí phân định giữa khách tham quan và du khách, giúp cho các cơ quan quản lý xác định được nghĩa vụ, đối với nhà nước của các doanh nghiệp

du lịch Việc thống nhất và chuẩn hoá định nghĩa du khách còn có ý nghĩa làm cho

du lịch Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào hoạt động thống kê du lịch khu vực và quốc tế

1.1.2.2 Quan niệm về phát triển du lịch bền vững

Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến , nâng cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan tâm trong những năm gần đây Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) cho rằng : Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng

du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai Khái niệm này chỉ ra rằng mội hoạt động du lịch ở hiện tại không được

Trang 25

xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì hoạt động ấy một cách liên tục và lâu dài

Theo định nghĩa mới của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị

về môi trười và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992: "Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai

Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các

hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người" Trong định nghĩa mới này thì du lịch

đã được hiểu một cách đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba lĩnh vực kinh tế- xã hội- môi trường

Năm 1996, WTTC đưa ra khái niệm: “Du lịch bền vững là sự đáp ứng nhu

cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu

cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”

Và mới đây hội nghị Bộ trưởng du lịch các nước Đông Á - Thái Bình Dương

tổ chức tại Việt Nam đã đưa ra quan điểm về du lịch bền vững đó là: " các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau,du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ môi trường mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương

Du lịch bền vững đòi hỏi các cấp và đơn vị kinh doanh du lịch quản lí tất cả các dạng tài nguyên du lịch theo một cách nào đó để một mặt đáp ứng được các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, mặt khác vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái đảm bảo sự

sống (theo Hens L 1998)

Đối với Việt Nam, “phát triển bền vững” được thể hiện trong chỉ thị

Trang 26

36/CT của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25/06/1998: Mục tiêu và các quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động

bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lí tài nguyên như

một cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững

Theo quan điểm của Tổng cục du lịch Việt Nam, phát triển du lịch phải được định hướng và quản lí theo phương châm: Kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện

tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, khai thác, sử

dụng hợp lí và phát triển tài nguyên du lịch tự nhiên, chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tránh hiện đại hoá hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích, xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan

du lịch

Điều 5, luật du lịch Việt Nam:

“Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo hài hoà giữa kinh tế - xã hội – môi trường, phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch sinh thái, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị văn hóa

Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh

Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh

Trang 27

lịch của thời đại

1.1.2.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Muốn đảm bảo phát triển du lịch bền vững, thì nhất thiết chúng ta phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của phát triển bền vững, bao gồm 10 nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1: Khai thác và sử dụng nguồn lực (tài nguyên) một cách bền vững, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Đó được coi là nền tảng cơ bản nhất để duy trì phát triển du lịch lâu dài

Nguyên tắc 2: Giảm thiểu tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải Thực hiện nguyên tắc này nhằm giảm chi phí khôi phục tài nguyên và giảm chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch Nguyên tắc 3: Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế- xã hội

Nguyên tắc 4: Duy trì tính đa dạng tự nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hoá Việc duy trì tính đa dạng sẽ tạo cho sức bật cho ngành du lịch giúp du lịch phát triển một cách bền vững

Nguyên tắc 5: Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển Du lịch được coi là một ngành tổng hợp vì vậy sự phát triển của du lịch có liên quan mật thiết với các ngành kinh tế khác trong đó có cả kinh tế địa phương vì vậy muốn phát triển bền vững du lịch thì du lịch phải có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt kinh tế địa

Trang 28

Nguyên tắc 8: Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực Như chúng ta đã biết nguồn nhân lực phục vụ du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nguồn nhân lực

có chất lượng sẽ giúp cho du lịch phát triển đa dạng và bền vững hơn

Nguyên tắc 9: tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm (marketing du lịch)

Đó là việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho du khách, quảng bá du lịch một cách có trách nhiệm qua đó giúp du khách thoả mãn tối đa nhu cầu của mình

Nguyên tắc 10: Coi trọng công tác nghiên cứu Triển khai nghiên cứu, nhằm mang lại lợi ích cho khu du lịch, đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp du lịch

Tóm lại, muốn du lịch phát triển bền vững thì nhất thiết phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi trường kinh

tế, và môi trường xã hội Du lịch bền vững sẽ tác động tích cực đến đời sống xã hội

và kinh tế Du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng và là ngành mũi nhon chỉ khi nó được phát triển một cách bền vững Mặt khác cần triển khai các nguyên tắc trên trong toàn bộ hệ thống của nền kinh tế xã hội thì khi đó mới đem lại hiệu quả cao, hiệu quả tốt nhất

1.1.2.4 Các yếu tố tác động đến phát triển du lịch bền vững

a) Nguồn tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo lập ra sự hấp dẫn du khách

Tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm: Tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch thiên nhiên

Tài nguyên du lịch thiên nhiên như: đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản, tạo thành cảnh quan, các dạng địa hình, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu hút du khách, giúp du lịch phát triển

Tài nguyên nhân văn gồm: hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hoá, phong tục tập quán, lễ hội là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch

Trang 29

b) Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng

Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hạ tầng là vấn đề không thể thiếu được, là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch và nó có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút khách du lịch đến với địa điểm du lịch nó bao gồm:

Mạng lưới giao thông vận tải: là nhân tố quyết định đến việc phát triển du lịch cũng như khai thác những tiềm năng du lịch của địa phương Mạng lưới giao thông thuận lợi mới thu hút được du khách đến với địa điểm du lịch

Mạng lưới thông tin liên lạc và internet: Giúp trao đổi thông tin, tìm kiếm dễ dàng các điểm du lịch mà mình thích từ đó lên kế hoạch cho chuyến đi giúp chuyến

đi được thuận lợi Mặt khác nhờ có mạng lưới thông tin và internet sẽ giúp liên kết trong các doanh nghiệp du lịch với nhau, trao đổi kinh nghiệm và cùng nhau phát triển

Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Bao gồm trang thiết bị, phương tiện,

cơ sở cần thiết để đón tiếp khách du lịch, nơi lưu trú cho khách du lịch, khu vui chơi giải trí là yếu tố quan trọng để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi cũng như nhu cầu giải trí của du khách từ đó thu hút được nhiều khách du lịch hơn

c) Đào tạo lao động chuyên ngành du lịch (yếu tố con người)

Là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của du lịch Chất lượng công tác kinh doanh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ việc sử dụng lao động có chất lượng hay không bởi vì lao động làm việc trong du lịch không những thực hiện công tác chuyên môn

về du lịch của mình hộ còn thực hiện nhiêm vụ quan trọng là trao đổi văn hoá, giao tiếp với du khách tạo cho du khách có cảm giác hứng khởi trong lúc du lịch

d) Yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch

Các yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch bao gồm mức thu nhập, trình

độ văn hoá, thời gian rỗi

Thứ nhất, trình độ văn hoá: khi nhận thức của con người càng cao thì việc họ thích thú với khám phá thế giới, thiên nhiên, vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi ngày càng tăng về nhu cầu, động cơ đi du lịch tăng lên Theo một số cuộc điều tra cho thấy: nếu người chủ gia đình có trình độ văn hoá ở mức trung học thì tỷ lệ đi du lịch

Trang 30

là 65%, trình độ cao đẳng tỷ lệ này là 75% , trình độ đai học thì tỉ lệ này lên tới 85%

Thứ hai, Mức thu nhập (Hay điều kiện sống): Đây là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Khi thu nhập của người dân tăng lên thì ngoài việc chi tiêu cho

cơm ăn áo mặc thì họ sẵn sàng chi tiêu cho các dịch vụ trong đó có cả việc đi du lịch

Cuối cùng là thời gian rỗi: Phần lớn mọi người đi du lịch khi họ rảnh rỗi (ngày nghỉ lễ, nghỉ phép, cuối tuần ) Vì vậy nhân tố này cũng rất quan trọng để phát triển du lịch

e) Đường lối chính sách phát triển du lịch

Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển du lịch, với một đường lối chính sách nhất định có thể kìm hãm hay thúc đẩy du lịch phát triển Đường lối phát triển

du lịch nằm trong đường lối phát triển chung , đường lối phát triển kinh tế - xã hội

vì vậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự phát triển chung của xã hội

f) Tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch làm cho du lịch phát triển bền vững hơn Sự tham gia của cộng đồng dân cư không những tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư mà còn tăng tính trách nhiệm trong việc phát triển du lịch Việc tham gia này là hết sức cần thiết và không thể thiếu được

Trên đây chỉ là một số yếu tố chủ yếu để phát triển du lịch ở mỗi địa phương Tuỳ thuộc vào mỗi địa phương mà có những yếu tố khác đặc trưng riêng Tuy nhiên các yếu tố này không tách rời nhau mà kết hợp lại với nhau thành một khối thống nhất tạo nên sức mạnh cho việc phát triển du lịch thành công

1.1.2.5 Dấu hiệu nhận biết du lịch bền vững du lịch không bền vững

Bảng 1.1: Loại hình du lịch phân loại theo khả năng tương thích với

khái niệm du lịch bền vững

Không tương thích Tương thích cao

* Du lịch bờ biển có thị trường lớn * Du lịch sinh thái

* Kỳ nghỉ có tác động tiêu cực với môi * Du lịch văn hóa, du lịch lịch sử thu hút

Trang 31

trường tự nhiên khách ham tìm hiểu của 1 khu vực

* Du lịch tình dục * Điểm du lịch đô thị có sự dụng những

khu vực trống

* Du lịch săn bắn và câu cá ở nơi quản

lý yếu

* Du lịch nông thôn quy mô nhỏ

* Du lịch ở những nơi có môi trường

nhạy cảm như rừng nhiệt đới, nam cực,

bắc cực

* Kỳ nghỉ bảo tồn, trong đó du khách thực hiện công tác bảo tồn trong kỳ nghỉ của mình

Nguồn: Du lịch bền vững

Muốn củng cố khái niệm du lịch bền vững, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố được coi là không bền vững có một số cuộc nghiên cứu đã chỉ ra tác động của du lịch trên cả ba lĩnh vực kinh tế, môi trường, xã hội đã đưa ra so sánh các yếu tố được coi là không bền vững và các yếu tố được coi là bền vững trong phát triển du lịch

Trang 32

Bảng 1.2: Du lịch bền vững và du lịch không bền vững

Du lịch kém bền vững hơn Du lịch bền vững hơn

Khái niệm chung:

Phát triển nhanh Phát trỉên chậm

Phát triển không kiểm soát Phát triển có kiểm soát

Quy mô không phù hợp Quy mô phù hợp

Mục tiêu ngắn hạn Mục tiêu dài hạn

Phương pháp tiếp cận theo số lượng Phương pháp tiếp cận theo chất lượng Tìm kiếm sự tối đa Tìm kiếm sự cân bằng

Kiểm soát từ xa Địa phương kiểm soát

Chiến lược phát triển:

Không lập kế hoạch, triển khai tùy tiện Quy hoạch trước, triển khai sau

Kế hoạch theo dự án Kế hoạch theo quan điểm

Phương pháp tiếp cận theo lĩnh vực Phương pháp tiếp cận chính luận

Tập trung vào các trọng điểm Quan tâm tới cả vùng

Áp lực và lới ích tập trung Phân tán áp lực và lợi ích

Thời vụ và mùa cao điểm Quanh năm và cần bằng

Các nhà thầu bên ngoài Các nhà thầu địa phương

Nhân công bên ngoài Nhân công địa phương

Kiến trúc theo thị hiếu của khách du lịch Kiến trúc bản địa

Xúc tiến Marketing tràn lan Xúc tiến Marketing có tập trung theo đối

Không chú ý tới lãng phí sản xuất Giảm thiểu lãng phí

Thực phẩm nhập khẩu Thực phẩm sản xuất tại địa phương Tiền bất hợp pháp, không khai báo rõ

rang

Tiền hợp pháp Nguồn nhân lực chất lượng kém Nguồn nhân lực có chất lượng

Khách du lịch:

Không có nhận thức cụ thể Có thông tin cần thiết bất kỳ lúc nào Không học tiếng địa phương Học tiến địa phương

Bị động và bị thuyết phục, bảo thủ Chủ động và có nhu cầu

Không ý tứ và kỹ lưỡng Thông cảm và lịch thiệp

Tìm kiếm du lịch tình dục Không tham gia vào du lịch tình dục Lẵng lẽ, kỳ quặc Lặng lẽ, riêng biệt

Không trở lại tham quan Trở lại tham quan

Nguồn: Du lịch bền vững

Trang 33

Tùy thuộc vào đặc điểm của khu du lịch để sử dụng các yếu tố để đánh giá tính bền vững của phát triển du lịch

1.2 Đánh giá tính bền vững của du lịch dựa bào bộ chỉ tiêu môi trường của tổ chức du lịch thế giới UNWTO

Chỉ tiêu môi trường là những thông tin tổng hợp giúp đánh giá các hoạt động bền vững của du lịch Để đánh giá mức độ bền vững của điểm du lịch, chúng ta

thường dùng các chỉ tiêu đơn và bộ chỉ tiêu đơn Tổ chức du lịch thế giới WTO xây dựng hai bộ chỉ tiêu đơn là: chỉ tiêu chung cho ngành du lịch bền vững và chỉ tiêu đặc thù cho điểm du lịch Ngoài ra,còn sử dụng phương pháp PRA (đánh giá có sự tham gia của cộng đồng) để đánh giá

Bảng 1.3 : các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững

1 Bảo vệ điểm du lịch Loại bảo vệ điểm du lịch theo tiêu chuẩn IUCN

2 Áp lực Số du khách viếng thăm điểm du lịch( tính theo

năm, tháng cao điểm)

3 Cường độ sử dụng Cường độ sử dụng - thời kỳ cao điểm ( người/ha)

4 Tác động xã hội Tỷ số Du khách/Dân địa phương (thời kỳ cao điểm)

5 Mức độ kiểm soát

Các thủ tục đánh giá môi trường hoặc sự kiểm soát hiện có đối với sự phát triển của điểm du lịch và mật độ sử dụng

6 Quản lý chất thải

Phần trăm đường cống thoát tại điểm du lịch có xử

lý (chỉ số phụ có thể là giới hạn kết cấu của năng lực cơ sở hạ tầng của điểm du lịch, ví dụ như cấp

8 Các hệ sinh thái tới

hạn Số lượng các loài hiếm đang bị đe dọa

Trang 34

Ngoài các chỉ tiêu chung cho ngành du lịch, để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch cụ thể thì UNWTO đã đưa ra một số chỉ tiêu đặc thù

Bảng 1.4 : Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch STT Hệ sinh thái Các chỉ tiêu đặc thù

1 Các vùng bờ biển

Độ suy thoái (% bãi biển suy thoái, bị xói mòn)

Cường độ sử dụng (số người/1m bãi biển)

Hệ động vật bờ biển/động vật dưới biển ( số loài chủ yếu nhìn thấy)

Chất lượng nước (rác, phân và lượng kim loại nặng)

2 Các vùng núi

Độ xói mòn (% diện tích bề mặt bị xói mòn)

Đa dang sinh học (số lượng các loài chủ yếu)

Lối vào các điểm chủ yếu (số giờ chờ đợi)

Nguồn: Du lịch bền vững

Bộ chỉ tiêu UNWTO sử dụng để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch cụ thể Tuy vậy, các chỉ tiêu này cũng chưa thực sự chính xác.Vì vậy để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch chúng ta thường sử dụng thêm hệ thống chỉ tiêu về môi

Trang 35

trường Trên thực tế du lịch bền vững còn được xem xét bởi mối quan hệ mới – du lịch bền vững -được thiết lập khi thỏa mãn yêu cầu sau:

- Nhu cầu của du khách: được đáp ứng cao

- Phân hệ sinh thái tự nhiên: không suy thoái

- Phân hệ xã hội – nhân văn: giữ được bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương trên cơ sở tăng cường văn minh do mở rộng giao lưu với các du khách, các nền văn hóa khác

Bảng 1.5: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh

- Số ngày lưu trú bình quân/đầu du khách

- Tỷ lệ % các rủi ro về sức khỏe (bệnh tật, tại nạn)

- % chất thải chưa được thu gom và xủ lý

- Lượng điện tiêu thụ/du khách/ngày( tính theo mùa

- Lượng nước tiêu thụ/du khách/ngày( tính theo mùa

- % diện tích cảnh quan bị xuống cấp do xây dựng/tổng diện tích sử dụng do du lịch

- % số công trình kiến trúc không phù hợp với kiến trúc bản địa (hoặc cảnh quan)/tổng số công trình

- Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm (phổ biến-hiếm hoi-không có)

- % khả năng vận tải sạch/khả năng vận tải cơ giới (tính theo trọng tải)

- % số chỗ làm việc trong ngành du lịch dành cho

người địa phương so với tổng số lao động địa

Trang 36

phương

- % GDP của kinh tế địa phương bị thiệt hại do du lịch gây ra hoặc có lợi do du lịch mang lại

- % giá trị chi phí vật liệu xây dựng địa

phương/tổng chỉ phí vật liệu xây dựng

- % giá trị hàng hóa địa phương/tổng giá trị hàng hóa tiêu dùng cho du lịch

- Sự xuất hiện các bệnh/dịch liên quan tới du lịch

- Tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch

- Hiện trang các di tích lịch sử văn hóa của địa

phương

- Số người ăn xin/tổng số dân địa phương

- Tỷ lệ % mất giá đồng tiền vào mùa cao điểm du lịch

- Độ thương mại hóa của các sinh hoạt văn hóa truyền thống (lễ hội, ma chay, cưới xin, phong tục, tập quán…) xác định thông qua trao đổi với các chuyên gia

Nguồn: Du lịch bền vững

1.3 Vai trò của phát triển du lịch bền vững trong nền kinh tế xã hội hiện nay

Du lịch của một nước phát triển làm tăng ngân sách nhà nước, giải quyết đời sống xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế có liên quan phát triển theo Trên thế giới, nhiều nước do du lịch phát triển đã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn Năm 1995 các nước thu nhập du lịch quốc tế cao : Mỹ 58 tỷ USD, Italia 27 tỷ USD Du lịch là một trong những nguồn thu ngoại tệ hàng đầu ở nhiều nước như : Thailand, Philippin, Hongkong Việc phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như : giao thông, xây dựng, bưu điện, hàng không, nông nghiệp, ngân hàng Vai trò của du lịch còn thể hiện ở chỗ, giúp cho du khách biết được tiềm năng kinh tế của các nước, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển các quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước

Trang 37

Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, thì phát triển du lịch bền vững còn góp phần giới thiệu truyền bá nét văn hoá dân tộc cho bạn bè trên thế giới.Phát triển du lịch bền vững ngày càng trở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay :

Du lịch phát triển bền vững sẽ mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo vệ môi trường và nguồn tài nguồn tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng địa phương

Du lịch bền vững là phương tiện cải thiện và nâng cao sức khỏe, giáo dục, và phúc lợi cho xã hội Nếu không có phát triển bền vững thì tương lai của các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt

Giúp giảm thiểu đói nghèo và ngăn ngừa vấn đề suy thoái môi trường trong hiện tại và tương lai

Phát triển du lịch bền vững là biện pháp thiết thực nhất để cứu lấy môi trường thiên nhiên và là biện pháp gián tiếp cứu lấy con người

Phát triển du lịch bền vững góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch mới có sức thu hút cao, đem lại cho du khách những chuyến đi với chất lượng và hiệu quả cao

Là nhân tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thế giới và tạo điều kiện trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Có thể nói rằng, phát triển du lịch bền vững là việc cần làm và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế góp phần quan trọng trong việc tăng tốc của nền kinh tế đất nước

1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số nơi và bài học kinh nghiệm cho phát triển bền vững du lịch Nha Trang

1.4.1.1 Phát triển du lịch ở Pattaya (Thái Lan)

Trong gần ba thập kỷ từ năm 1970, Pattaya đã đầu tư xây dựng từ hơn 400 lên đến gần 25.000 phòng khách sạn Với việc ồ ạt phát triển các cơ sở lưu trú trong một thời gian ngắn tại một địa điểm đã dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực Biển trở nên rất ô nhiễm và Uỷ ban Môi trường quốc gia Thái Lan đã phải đưa ra tuyên bố là việc tắm biển ở đây không an toàn vào năm 1989 Cùng với đó là các đặc điểm tự nhiên khác bị phá huỷ một cách nghiêm trọng, sự đánh mất cây cối, động vật hoang

dã, làm cho môi trường trở nên khô cằn Sự phát triển không có quy hoạch đó đã

Trang 38

kéo theo sự ùn tắc về giao thông, thiếu nước sinh hoạt, xung đột về chính trị và cả

về mặt xã hội ngày càng gia tăng làm gây cản trở cho sự phát triển du lịch bền vững Khung cảnh tự nhiên của khu du lịch bị mất đi, độ hấp dẫn khách du lịch giảm sút Những nguyên nhân đó đã làm cho nhiều du khách không muốn đến với Pattaya và đến năm 1989 thì hầu như không có khách du lịch nào muốn quay trở lại với địa điểm du lịch này nữa Với những giải pháp hữu hiệu được đưa ra vào năm

1993 nhằm giải quyết các vấn đề trên thì xu hướng phát triển mới dần bị đẩy lùi và

số lượng khách đã có dấu hiệu tăng trở lại

Một trong những nguyên nhân chính đánh mất sự nổi tiếng của khu du lịch Pattaya đó chính là sự suy thoái về mặt môi trường, ô nhiễm, sự phá huỷ môi trường

tự nhiên, sạt lở, đánh mất cây cối, động vật hoang dã Cùng với đó là sự kém hấp dẫn đối với khách du lịch Vấn đề đặt ra ở đây là phải nhận thức được vấn đề phát triển du lịch phải đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch Mọi sự phát triển du lịch tách rời vấn đề môi trường đều dân đến thất bại Để du lịch phát triển bền vững thì phải có chính sách phát triển du lịch hợp lý, phải kết hợp giưa

việc phát triển du lịch với viêc bảo vệ môi trường, cảnh quan khu du lịch

1.4.1.2 Phát triển du lịch ở đảo Canary (Tây Ban Nha)

Đảo Canary gồm 7 đảo và một số đảo nhỏ ở Đại Tây Dương, cách Tây Ban Nha lục địa khoảng 1.500 km, nổi tiếng là trung tâm đa dạng sinh học với sự tập trung của nhiều loài sinh vật biển, có nhều cảnh quan đẹp, phong phú, khí hậu lý

tưởng Điều đó đã giúp cho nơi đây trở thành điểm đến quen thuộc của du khách Châu Âu Ở đây du lịch được phát triển khá sớm bắt đầu vào cuối thế kỷ 19 với một

số ít du khách Châu Âu đến đây vì lý do chữa bệnh Từ năm 1900 với 8.000 du khách thì đến năm 1975 thì quần đảo Canary đã đón được 2 triệu khách và con số

đó tiếp tục tăng nhanh, vào năm 1990 là 7,4 triệu khách và 13 triệu khách vào năm

1999 Ngành du lịch dịch vụ chiếm gần 80% tổng thu nhập của nền kinh tế Điều đó cho thấy, nền kinh tế ở đây phụ thuộc vào du lịch quá nhiều

Sự phát triển nhanh cua du lịch ở Canary nhưng không có những quy hoạch phát triển cở sở hạ tầng du lịch một cách hợp lý đã dẫn đến việc quá tải du lịch Quá

Trang 39

trình xây dựng bất hợp lý đó đã kéo theo sự mất kiểm soát trong phân bổ nguồn

nước sinh hoạt, phân bổ công việc của các nhân tố khác, tắc nghẽn giao thông Sự gia tăng xây dựng không có quy hoạch hợp lý ở Canary đã tạo ra áp lực về đất đai Cùng với đó là sự đầu tư ồ ạt của người nước ngoài vào nơi đây đã tạo ra môi

trường không tốt cho dân cư địa phương và cư dân địa phương đang dần dần trở thành những người thiểu số

Sự phát triển quá nóng ở quần đảo Canary đã cho thấy tính chất không bền vững trong quá phát triển du lịch Cùng với lượng du khách đông là việc thải ra hàng triệu tấn rác thải, ô nhiễm không khí do quá nhiều các phương tiện chuyên trở Mức độ khai thác du lịch bất hợp pháp ngày càng gia tăng do người dân chạy theo lợi nhuận đã làm cho cảnh quan nơi đây xuống cấp nghiêm trọng Quả thật Canary đang trở thành một vấn đề khó khăn cần phải giải quyết Muốn phát triển du lịch một cách lâu dài ở đây thì các nhà chức trách và các ban ngành phải cùng tham gia giải quyết

1.4.2 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững

1.4.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở tỉnh Vân Nam - Trung Quốc

Vân Nam là một tỉnh của Trung Quốc với địa hình phần lớn là đồi núi (chiếm 80% diện tích), đất dùng cho nông nghiệp rất hạn chế vì vậy chính quyền cần có chính sách phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch dân cư, sử dụng đất đai một cách hợp lý Phát triển du lịch ở đây được đặt dưới sự quản lý tốt của nhà nước bằng các quy hoạch hợp lý với sự tham gia, phối hợp giữa các ngành và địa phương Vân Nam có nhiều khu du lịch nổi tiếng với nhiều sắc thái, sinh cảnh riêng đã tạo cho du lịch của tỉnh phát triển một cách đa dạng.Với sự quản lý khai thác tài nguyên du lịch được thống nhất cao gắn kết với sự tham gia của cộng đồng dân cư tạo nền tảng cho

du lịch ở đây phát triển một cách bền vững, lâu dài Quy hoạch các khu du lịch ở đây tuân theo quy luật của thị trường nhưng có một sự định hướng rõ ràng Trong quá trình lập quy hoạch du lịch có sự tham gia của nhiều chuyên gia có kinh nghiệm

về các lĩnh vực: xây dựng, kiến trúc, du lịch, lữ hành, văn hoá, môi trường Quy hoạch của tỉnh theo hướng bền vững, song song với việc phát triển du lịch là việc gìn giữ bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan du lịch

Trang 40

Ở các địa điểm du lịch thì đều có các quy định rõ ràng cho các nhà quản lý,

người kinh doanh và khách du lịch phải thực hiện một cách nghiêm túc Cơ sở lưu trú, dịch vụ phục vụ du khách đều phải làm theo mẫu thống nhất phù hợp với khu

du lịch, không có hiện tượng chèo kéo khách mua hàng, hiện tượng ăn xin, các tệ nạn xã hội Chính quyền tỉnh hỗ trợ cư dân địa phương phát triển các ngành nghề truyền thống bằng cách mở các lớp đào tạo nghề thu công, cho vay vốn tạo dựng cở

sở sản xuất thủ công chính những việc làm đó đã giúp cho cơ hội tăng thêm thu nhập, giải quyết vấn đề việc làm giảm sức ép lên nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.4.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở Phong Nha Kẻ Bàng

Bên cạnh sự gia tăng về số lượng khách du lịch thì cơ sở vật chất ở Phong Nha - Kẻ Bàng phục vụ du khách cũng được nâng cấp, cải thiện, môi trường đã được quan tâm, giữ gìn, chất lượng phục vụ du lịch được nâng lên một bước và sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch Điều đó đã giúp cho Phong Nha - Kẻ Bàng được sự hài lòng của du khách khi đến đây Du lịch ở Phong Nha - Kẻ Bàng còn góp phần quan trọng trong giải quyết công

ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế xã hội Các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch

như mại dâm, ma tuý, tội phạm không có chiều hướng gia tăng và luôn nằm trong tầm kiểm soát của chính quyền địa phương

Tuy vậy, với lượng lớn du khách đến vớn Phong Nha - Kẻ Bàng và tăng nhanh trong mỗi năm thì Phong Nha - Kẻ Bàng phải đối mặt với một lượng rác thải rất lớn, môi trường du lịch sinh thái bị ảnh hưởng rất lớn, thời gian lưu trú ngắn (bình quân 1 ngày/khách), hiệu quả kinh doanh du lịch còn thấp

Trước những tồn tại trên Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở du lịch tỉnh Quảng Bình phối hợp với các ngành và các tổ chức liên quan từng bước tháo gỡ

vướng mắc như việc đưa ra chính sách hước hoạt động du lịch vào bảo tồn, tôn tạo; chính sách khuyến khích đầu tư; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách

hỗ trợ người dân sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, sản phẩm truyền thống; đặc biệt là chính sách hỗ trợ, ổn định cuộc sống cho những người dân tộc

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3 : các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững. - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Bảng 1.3 các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững (Trang 33)
Bảng 1.5: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Bảng 1.5 Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh (Trang 35)
Hình 2 .1: Hòn Miễu Hòn Mun - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2 1: Hòn Miễu Hòn Mun (Trang 51)
Hình 2.2: Hòn Mun  Hòn Tằm - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.2 Hòn Mun Hòn Tằm (Trang 52)
Hình 2.3: Hòn T ằm - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.3 Hòn T ằm (Trang 52)
Hình 2.4: Hòn Tre - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.4 Hòn Tre (Trang 53)
Hình 2.5: Hòn  Chồng – Hòn Vợ - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.5 Hòn Chồng – Hòn Vợ (Trang 54)
Hình 2.6 : Đảo yến - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.6 Đảo yến (Trang 55)
Hình 2.7 . Biệt thự Cầu Đá (Lầu Bảo Đại) - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.7 Biệt thự Cầu Đá (Lầu Bảo Đại) (Trang 56)
Hình 2.8 : Khu du lịch Suối khoáng nóng Tháp Bà - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.8 Khu du lịch Suối khoáng nóng Tháp Bà (Trang 57)
Hình 2.9  Khu du lịch Con sẻ tre - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.9 Khu du lịch Con sẻ tre (Trang 59)
Hình 2.10 : Nhà thờ núi - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.10 Nhà thờ núi (Trang 61)
Hình 2.11 : Tượng Phật trắng (Chùa Long Sơn) - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Hình 2.11 Tượng Phật trắng (Chùa Long Sơn) (Trang 62)
Bảng 2.1 Doanh thu từ hoạt động du lịch từ năm 2009 – 2011 - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
Bảng 2.1 Doanh thu từ hoạt động du lịch từ năm 2009 – 2011 (Trang 75)
Bảng  2.8: Kết quả đạt được từ hoạt động du lịch tại Nha Trang - phát triển du lịch nha trang (khánh hòa) theo hướng bền vững
ng 2.8: Kết quả đạt được từ hoạt động du lịch tại Nha Trang (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w