1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành

108 829 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 894,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Giới hạn đối tượng nghiên cứu của đề tài là chỉ nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành và một

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

1

LỜI CAM ĐOAN

Người nghiên cứu xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện Các số

liệu trong luận văn này là có thực Nếu có vi phạm người nghiên cứu xin chịu mọi trách nhiệm theo qui định của Phòng Sau Đại Học – Trường Đại học sư phạm TP HCM

Trang 4

2

LỜI TRI ÂN

Với tình cảm chân thành tôi xin tri ân

Các thầy cô trong Ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm TP HCM đã tạo điều kiện cho tôi được tham dự học chương trình cao học Tâm lý giáo dục tại trường

Chân thành cảm ơn các thầy ở Phòng Sau Đại học đã tổ chức cho tôi được hoàn tất thành công khóa học trong thời gian hai năm qua

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm

TP HCM đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những tri thức quý báu, để tôi có thể vận dụng vào đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Tứ đã giành nhiều thời gian tận tình hướng

dẫn tôi trong suốt quá trình làm đề tài

Chân thành cảm ơn Thầy Phạm Thanh Vân, chủ nhiệm chương trình Tình Thân, cảm ơn các

chị em trong dự án Bình Minh – Dự án dành cho Phụ nữ bị bạo hành gia đình tại Tp HCM và

những chị em khác đang có hoàn cảnh bị bạo hành tại một số quận trong TP.HCM đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, khuyến khích tôi để hoàn thành đề tài

Người nghiên cứu

Hồ Lê Minh Đức

Trang 5

3

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

L ỜI TRI ÂN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

M Ở ĐẦU 6

1 Lý do ch ọn đề tài 6

2 M ục đích nghiên cứu: 7

3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu 7

4 Gi ả thuyết nghiên cứu 7

5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 7

6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7

7 Phương pháp nghiên cứu 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA PH Ụ NỮ ĐANG SỐNG CÙNG CHỒNG BẠO HÀNH 10

1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 10

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 10

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.2 M ột số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài: 16

1.2.1 Nhu cầu 16

1.2.2 Tham vấn tâm lý 21

1.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý 28

1.2.4 Khái niệm bạo lực – bạo hành 30

1.2.5 Khái niệm người chồng bạo hành 35

1.2.6 Phụ nữ có chồng bạo hành 38

1.3 Lý lu ận về nhu cầu tham vấn tâm lý của PN đang sống cùng chồng BH 40

1.3.1 Định nghĩa 40

1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ có chồng bạo hành: 41

1.3.3 Nội dung nhu cầu TV của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành 42

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến NC TVTL của PN đang sống cùng chồng BH 47

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ THVTL của PN đang sống cùng chồng BH 50

Trang 6

4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ

ĐANG SỐNG CÙNG CHỒNG BẠO HÀNH 52

2.1 T ổ chức và phương pháp nghiên cứu 52

2.1.1 Tổ chức nghiên cứu lý luận 52

2.1.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 52

2.1.3 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 53

2.1.4 Các phương pháp nghiên cứu 53

2.2 K ết quả nghiên cứu thực trạng 55

2.2.1 Thực trạng các hình thức bạo hành 55

2.2.2 Nhận thức của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành về vấn đề BH 61

2.2.3 Cảm xúc của phụ nữ khi bị chồng bạo hành 62

2.2.4 Những hành động phản ứng của phụ nữ khi bị chồng bạo hành 63

2.2.5 Những nguyên nhân ảnh hưởng dẫn đến việc BH của chồng đối với vợ 64

2.2.6 Nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng BH 66

2.2.7 Nhu cầu sử dụng các dịch vụ Tham vấn tâm lý của PN có chồng BH 68

2.2.8 Những khó khăn của PH đang sống cùng chồng BH khi sử dụng các dịch vụ THVTL 71

2.3 M ột số biện pháp đáp ứng nhu cầu TVTL của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành 73

2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 73

2.3.2 Một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PH Ụ LỤC 88

Trang 8

hạnh phúc nói riêng cũng như xây dựng và đổi mới đất nước nói chung Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, người phụ nữ Việt Nam còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như: bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử liên quan đến giới và đặc biệt là vấn đề bạo hành

về giới Rất nhiều người phụ nữ còn phải chịu bạo hành trong thời gian dài thậm chí trong

suốt cuộc đời của mình với những hành vi đánh đập, hành hạ dã man, tạo nên vết thương khó lành trong trái tim người phụ nữ Bạo hành gia đình đối với phụ nữ là vi phạm quyền con người; vi phạm quyền bình đẳng, vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh

dự, nhân phẩm của người phụ nữ Chính vì vậy, người phụ nữ cần được bảo vệ khỏi bạo

hành để họ được sống, làm việc, cống hiến và phát triển trong xã hội

Để công tác phòng, chống bạo hành gia đình có hiệu quả, ngày 21/11 2007, Quốc hội khoá XII của nước ta đã thông qua Luật Phòng - chống bạo lực gia đình Luật phòng, chống

bạo lực gia đình ra đời là một bước tiến tích cực, có ý nghĩa rất lớn để chúng ta tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo hành gia đình, bảo vệ quyền con người, bảo

vệ người phụ nữ, tiếp tục sự nghiệp giải phóng người phụ nữ Luật Phòng, chống bạo hành gia đình lần đầu tiên ra đời như tiếng chuông lớn cảnh tỉnh những ai đang có hành vi bạo hành gia đình đối với phụ nữ, gửi đến tất cả các chủ thể trong xã hội một thông điệp rõ ràng

rằng bạo hành gia đình nói chung và bạo hành gia đình đối với phụ nữ là trái với đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, trái với ý chí chung của xã hội, là vi

phạm pháp luật, vi phạm những chuẩn mực chung của xã hội và phải chịu sự trừng phạt của

xã hội, của pháp luật

Có nhiều nghiên cứu về bạo hành gia đình như: “ Tình trạng bạo hành phụ nữ trong gia đình”; “ Bước đầu tìm hiểu chứng trầm cảm của phụ nữ sống trong gia đình có chồng

bạo hành”; “ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” Chưa có

đề tài nào nào đi sâu nghiên cứu về nhu cầu tham vấn của phụ nữ có chồng bạo hành

Trang 9

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách th ể nghiên cứu

Phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành ở một số quận tại Tp HCM

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành

4 Giả thuyết nghiên cứu

Phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành thường bị bạo hành dưới các hình thức khác nhau và những nguyên nhân khác nhau Họ có nhu cầu cao về tham vấn tâm lý với nội dung giúp giải quyết vấn nạn này

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về nhu cầu, nhu cầu tham vấn tâm lý, bạo hành, bạo hành gia đình

5.2 Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng

bạo hành tại Tp HCM Đề xuất một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý

của phụ nữ này

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Giới hạn đối tượng nghiên cứu của đề tài là chỉ nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham

vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành và một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu

cầu này

Trang 10

8

- Giới hạn khách thể nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu ở 30 phụ nữ đang sống cùng

chồng bạo hành

- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành tại các quận:

Gò Vấp; Quận Bình Thạnh; Quận Phú Nhuận; Quận 3; Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Cơ sở phương pháp luận

- Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc:

Đề tài được thực hiện một cách hệ thống các NC THVTL nằm trong cấu trúc TL trọn

vẹn

- Quan điểm lịch sử - logic

Nghiên cứu trong lịch sử phát triển của nhu cầu tham vấn tâm lý

- Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu thông qua các hoạt động thực tiễn của PN đang sống cùng chồng BH

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến các vấn đề nghiên cứu: nhu cầu, tham

vấn tâm lý, bạo hành, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.3.1 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Dùng bảng câu hỏi với mục đích nhằm tìm hiểu thực trạng bị bạo hành của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành, tìm hiểu nguyên nhân gây nên vấn nạn bạo hành đó và tìm

hiểu nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tham vấn tâm lý Qua đó, đề xuất một số biện pháp để để đáp ứng nhu cầu tham

vấn tâm lý cho phụ nữ có chồng bạo hành

7.3.2 Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn khách thể nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về những nguyên nhân và nhu

cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ bị chồng bạo hành nhằm có các biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý cho đối tượng này

7.4 Phương pháp thống kê toán học:

Dùng phần mềm SPSS để xử lý, phân tích mọi số liệu thu được

Trang 11

9

Các phép thống kê toán học được sử dụng để xử lý số liệu của đề tài nhằm thống kê

tần số, tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình, xếp thứ hạng về mức độ nhu cầu tham vấn tâm

lý của phụ nữ có chồng bạo hành

Trang 12

10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN TÂM

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Từ cuối thế kỉ XIX sang nửa đầu thế kỉ XX: Ngành tham vấn tâm lý trong giai đoạn

khởi đầu với các nhà tiên phong triển khai các khái niệm cơ bản theo trường phái phân tâm, các lí thuyết nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lí con người và đây được xem là giai đoạn khởi đầu của công tác hướng nghiệp và tham vấn nghề Trong giai đoạn này, công tác

trợ giúp chủ yếu tập trung vào cho lời khuyên và cung cấp thông tin mang tính giáo dục cho

mọi người nói chung và giới trẻ nói riêng nhằm giúp họ có khả năng thích ứng với lao động công nghiệp trong giai đoạn cách mạng công nghiệp

Công tác hướng dẫn nghề - tham vấn nghề được phát triển, với phong trào sử dụng các thang đo – trắc nghiệm của các lý thuyết nghiên cứu tâm lý cá nhân và sự ứng dụng đầu tiên

của thuyết phân tâm học vào quá trình trị liệu những rối loạn tâm lý của con người Những người đóng góp cho sự ra đời của tham vấn hướng nghiệp trong giai đoạn này là: Francis Galton ( 1822 -1911) và Wilheim Wundt ( 1832 – 1920) Ở Mỹ, G Stanley ( 1846 – 1924)

và James Cattel ( 1860 – 1940) mở phòng thực nghiệm tại Đại học Harvard và Đại học Pennsylvania cuối thế kỷ XIX và phát triển trắc nghiệm đo nhân cách được áp dụng vào tham vấn nghề Trong khi đó, ở Pháp, Alfred Binet ( 1857 – 1911) đã phát triển trắc nghiệm

kiểm tra trí thông minh đầu tiên do Bộ Giáo dục Cộng hòa Pháp [35.tr 63-65]

Năm 1907, Jesse Davis (1817 – 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan Tuy nhiên người có ảnh hưởng lớn đầu tiên và lớn nhất đến công tác hướng nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons ( 1854 – 1908) với sự ra đời cuốn sách “ Cẩm nang hướng nghiệp”, được sử dụng trong trường học Những ý tưởng của F Parsons trong công tác hướng nghiệp đã thực sự trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này [35,tr 65]

Vào giữa thế kỉ thứ XX, tham vấn tâm lý đã phát triển thành một ngành chuyên nghiệp Năm 1930, E.G.Williamson đưa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên

Trang 13

11

gọi là “ Tiếp cận đặc điểm và nhân tố” Williamson đề xuất các bước của hoạt động tham

vấn như sau:

1 Phân tích đánh giá vấn đề và lập hồ sơ về sự tiếp xúc và trắc nghiệm đối với TC

2 Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để hiểu vấn đề

3 Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề

4 Tham vấn, trợ giúp cá nhân tìm cách giải quyết

5 Theo dõi sát sao sự tiến triển của thân chủ

Theo ông Patterson (1973) cho rằng sự khác nhau căn bản của tiếp cận theo đặc điểm

và nhân tố so với tham vấn hướng nghiệp giai đoạn đầu thế kỉ là việc xác định được một chuỗi các bước của hoạt động trợ giúp Đây chính là tiền thân của “Quá trình tham vấn” [35,

tr 68]

Cũng vào giai đoạn này có sự ra đời của rất nhiều thuyết nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý con người: Thuyết phát triển tâm lý xã hội; Thuyết phát triển tư duy trẻ em; Thuyết phát triển nhu cầu con người; Thuyết gắn bó mẹ con; Thuyết tổn thương tâm lý các

lí thuyết này đã cho phép các nhà tham vấn vận dụng nó để giúp đỡ cho các thân chủ của mình Các học thuyết này cũng là cơ sở khoa học cho việc nhận biết, giải thích nguồn gốc

của hành vi và các hiện tượng rối loạn tâm lí ở con người [35, tr 68]

Cũng vào những năm 50 của thế kỷ XX, phương pháp thân chủ làm trọng tâm của C Rogers ( 1902 – 1987) là một bước chuyển từ sự tham vấn có định hướng, do ảnh hưởng của

hướng nghiệp, sang tham vấn tập trung vào thân chủ và vấn đề của họ với tập sách Tham

Giai đoạn từ cuối thế kỉ XX cho đến nay, tham vấn tâm lý được tiếp cận theo xu hướng đa văn hóa Các nhà tham vấn cho rằng sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu nhà tham vấn không nắm được nền tảng văn hóa của khách hàng Một trong

Trang 14

12

những thay đổi lớn nhất của tham vấn là tập trung vào lĩnh vực văn hóa hay còn gọi là tham

vấn xuyên văn hóa Whitfield, McGrath và Coleman ( 1992, dẫn theo Neukrug) chỉ ra các

yếu tố xác định một mô hình văn hóa cụ thể, đó là:

1/ Đặc điểm bản thân cá nhân

2/ Diện mạo và cách ăn mặc

3/ Có niềm tin và hành vi đặc trưng

4/ Mối liên hệ với gia đình và với các đặc trưng quan trọng khác

5/ Cách dành và sử dụng thời gian nhàn rỗi

6/ Cách tiếp thu và sử dụng kiến thức

7/ Cách thức giao tiếp và ngôn ngữ

8/ Những giá trị và các tập tục

9/ Sử dụng thời gian và không gian sống

10/ Thói quen ăn uống và chế biến món ăn theo phong tục tập quán

11/ Công việc và cách thức thực hiện công việc

Những vấn đề văn hóa liên quan đến gen di truyền, màu da, dòng giống, truyền thống hay vấn đề tiền bạc, quyền lực, vị trí xã hội, vai trò xã hội đều có liên quan đến sự nảy sinh nan đề; cách nhìn nan đề và cách xử lý nan đề của mỗi thân chủ Khi các nhà THV thiếu

hiểu biết về nền tảng văn hóa của TC thì họ dễ đứng trên quan điểm của bản thân để đánh giá thân chủ Sự hiểu biết về nền tảng văn hóa của TC được thể hiện qua thái độ, kĩ năng và phương pháp tiếp cận TC sẽ giúp cho nhà THV lí giải được lí do nào, điều kiện gì khiến họ

cảm nhận, suy nghĩ, hành động như vậy Qua đó sẽ chấp nhận TC hơn và sẽ giúp cho họ

hiểu được điều gì là nguyên nhân gây ra tình trạng hiện tại và từ đó giúp họ vượt qua khó khăn của mình

Như vậy, qua 3 giai đoạn phát triển, ngành tham vấn tâm lý trên thế giới đã có các yếu

tố để trở nên chuyên nghiệp Những yếu tố đó là:

- Các học thuyết nghiên cứu tâm lý người phát triển

- Các hướng tiếp cận trị liệu tâm lý với cá nhân, nhóm đã thay đổi, hoàn chỉnh cho phù

hợp với ngành tham vấn

- Các tổ chức, các Hiệp hội tham vấn ra đời quy định các chuẩn mực đạo đức và pháp

lý cho người làm công tác trợ giúp

Trang 15

13

- Các phòng khám sức khỏe tâm thần, các trung tâm tham vấn cộng đồng, hay trường

học gia tăng nhu cầu về người trợ giúp tâm lý

- Các hiệp hội, trường học đào tạo nghề tham vấn phát triển mạnh, đa dạng và công tác giám sát tham vấn theo hướng ngày càng khoa học và kiểm soát chặt chẽ

- Bằng cấp hóa những người hoạt động trong lĩnh vực tham vấn và xây dựng mô hình đào tạo nhà tham vấn chuyên nghiệp theo hướng chuyên sâu

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt nam dịch vụ tham vấn tâm lý bắt đầu phát triển mạnh từ giữa những năm 90 Vào thời kỳ này, các hoạt động tham vấn tâm lý thường đi kèm với chương trình cải thiện

cuộc sống và kinh tế cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội Công tác TV là một

phần trong các hoạt động của các hoạt động của công tác Từ thiện, Công tác xã hội Nhưng THVTL với tư cách là một lĩnh vực hoạt động mang tính chất khoa học và chuyên nghiệp

chỉ mới phát triển trong những năm gần đây và hiện nay, nhiều người đã biết và sử dụng các

Hiện nay, nhiều dịch vụ THV và trị liệu tâm lý xuất hiện ở nhiều trường học, công ty

Một số cơ sở THV, trị liệu như Cơ sở thăm khám tâm lý trẻ em N-T của cố bác sĩ Nguyễn

Khắc Viện, Trung tâm TV và Hổ trộ tâm lí (Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn), Khoa tâm lý của bệnh viên Nhi đồng 1, Nhi Đồng 2…và một số trung tâm THVTL khác như Trung tâm Tham vấn tâm lý Hoàng Nhân, Công ty TV An Việt Sơn…Bên cạnh đó có các hình thức THV gián tiếp qua các phương tiện truyền thông như báo chí, phát thanh, truyền hình…phát triển nhanh chóng đáp ứng phần nào nhu cầu THV của xã hội

Trang 16

14

Để đáp ứng được phần nào nhu cầu tự trao dồi kỹ năng thực hành thâm vấn tâm lý của

những người làm công tác tham vấn tâm lý, tác giả Nguyễn Thơ Sinh đã viết quyển sách “

Tư vấn tâm lý căn bản” – 2006

Năm 2009, giáo trình tham vấn tâm lý của tác giả Trần Thị Minh Đức được xuất bản

và trở thành nền tảng lý thuyết đầu tiên cho hoạt động tham vấn tâm lý và đào tạo chuyên viên tham vấn tâm lý chuyên nghiêp

Những năm gần đây, đội ngũ chuyên viên THVTL tại các trung tâm đã được đào tạo

một cách bài bản và chuyên nghiệp Tuy nhiên để đáp ứng NC tham vấn TL ngày càng cao

của xã hội, ngành tham vấn ở Việt Nam cần phải nổ lực nhiều hơn nữa trong nghiên cứu

thực tiễn, lý luận và phương pháp …

Những nghiên cứu về THVTL và nhu cầu THVTL đã được thực hiện:

Các nghiên cứu về tham vấn học đường có các nghiên cứu về

sau: 31% sinh viên muốn tư vấn về Ứng xử trong giao tiếp hằng ngày; 24% sinh viên muốn

tư vấn để Nhận thức cuộc sống và lý tưởng; 17% sinh viên muốn tư vấn về Hướng nghiệp;

7% về Tình yêu, Tình dục

- Nghiên cứu về “ Nhu cầu tham vấn tâm lý – giới tính của học sinh một số trường

2006) cho thấy nhu cầu tham vấn tâm lý ngày càng tăng và các em mong muốn có phòng tham vấn giới tính miễn phí [32]

- Nghiên cứu “ Nhu cầu hoạt động tham vấn tâm lý ở các trường giáo dưỡng” Tác giả

Đỗ Ngọc Khanh ( 2007) tìm hiểu về nhu cầu tham vấn tâm lý của các em ở độ tuổi vị thành niên cho thấy hoạt động tham vấn tâm lý ở trường rất cần thiết và đã được thực hiện có hiệu

quả [27 tr 22-26]

- “ Tìm hi ểu nhu cầu tham vấn tâm lý của công nhân ở một số công ty tại thành phố

cũng có khá nhiều khó khăn về mặt tâm lý nhất là công nhân nữ, công nhân ở trọ Họ mong

muốn được hổ trợ tham vấn miễn phí với thời gian phù hợp, mong muốn được tham vấn về

kỹ năng giao tiếp

Trang 17

15

nhân khu chế xuất Tân Thuận có nhu cầu tham vấn tâm lý ở mức độ cao, họ cần được biết nhiều hơn về các dịch vụ tham vấn tâm lý [24]

- Nghiên cứu về đề tài ở lứa tuổi học sinh có tác giả Phạm Thị Trúc ( 2010) với đề tài “ Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Các em có nhu cầu tham vấn tâm lý cao về vấn đề học tập ( 75,3%), vấn đề phát triển bản

thân ( 46,1%)

giả Đặng Văn Huệ [37 ] Kết quả cho thấy, người có nhu cầu tham vấn thường thuộc vào lứa

tuổi trẻ và đa phần là phụ nữ Vấn đề cần tham vấn thuộc lĩnh vực tình yêu hoặc mối quan

hệ giữa hai người khác phái Thông qua nghiên cứu, tác giả kiến nghị cần xây dựng mạng lưới tham vấn tâm lý một cách chủ động, khoa học trong xã hội để hạn chế hiện tượng phát triển tự phát

- Tác giả Huỳnh Thị Hoàng Oanh ( 2009) [45] “ Tìm hiểu nhu cầu tham vấn tâm lý

cũng có khá nhiều khó khăn về mặt tâm lý nhất là công nhân nữ, công nhân ở trọ Họ mong

muốn được tham vấn tâm lý miễn phí với thời gian phù hợp, đặc biệt là họ thích được tham

vấn về kỹ năng giao tiếp

- Tác giả Phùng Thị Hương Nga ( 2010) [42] đã thực hiện đề tài “ Nhu cầu tham vấn tâm lý của công nhân khu chế xuất Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả khảo sát cho thấy công nhân khu chế xuất Tân Thuận có nhu cầu tham vấn tâm lý ở mức độ cao nhưng chỉ tham vấn thông qua những mối quan hệ bạn bè tiếp xúc hằng ngày Họ thiếu hiểu

biết về các dịch vụ tham vấn và thời gian, điều kiện, kỹ năng để thỏa mãn nhu cầu tham vấn

rất hạn chế

giả ( 2012), Nguyễn Xuân Hùng khẳng định giáo viên mầm non tại TP.HCM có nhu cầu tham vấn cao và lĩnh vực có nhu cầu được trợ giúp nhiều nhất là lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp của họ; lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ ở nơi làm việc; lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong đời sống hôn nhân, gia đình, bạn bè và hàng xóm; lĩnh vực quản lý

cảm xúc và sức khỏe [ 23 tr 59]

Trang 18

16

- Tác giả Nguyễn Thị Ngọc với đề tài “ Khảo sát nhu cầu tham vấn tâm lý của học

nhu cầu TVTL của học sinh THCS huyện Bình Chánh khá cao, đa dạng và phong phú Các

em mong muốn được tham vấn nhiều nhất là: Kỹ năng sống, Kỹ năng giao tiếp, Hướng dẫn vui chơi giải trí lành mạnh và chăm sóc sức khỏe, vấn đề về tuổi dậy thì, vấn đề học tập, tình

Như vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành tại thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài:

1.2.1 Nhu cầu

1.2.1.1 Khái ni ệm nhu cầu

Có nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu, theo quan điểm triết học Mác-Lênin “nhu

bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người, nhu cầu xuất hiện trong những điều kiện nhất định, trong mỗi giai đoạn phát triển của loài người Nhu cầu là nguyên nhân khởi đầu cho các hoạt động khác nhau của con người [34]

Khái niệm nhu cầu trong Từ điển tâm lý học của Viện tâm lý học Việt Nam do Vũ

Dũng [45] chủ biên được định nghĩa như sau: “ nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phát

Theo nghiên cứu của nhà tâm lý học người Mỹ - Henrry Murray, NC là một tổ chức cơ động, có tổ chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức, tưởng tượng và hành vi Nhờ nhu

cầu mà hoạt động của con người mang tính mục đích, theo ông, NC là một động lực xuất phát từ cơ chế và sự thỏa mãn NC đòi hỏi phải có sự tác động qua lại với các tình huống xã

hội, phải có sự cải tổ chúng nhằm mục đích đạt được sự thích ứng [41]

Điển hình là công trình nghiên cứu của A Maslow, ông chứng minh rằng tính xã hội

nằm trong chính bản tính của con người Con người có NC chân chính về giao tiếp, về sự thuộc về, về tình yêu, về lòng kính trọng…những NC này có bản chất, bản năng đặc trưng

Trang 19

17

cho giống người Ông đã hình dung NC và sự phát triển của con người theo một chuỗi liên

tiếp như chiếc cầu thang, sắp xếp thành năm bậc từ thấp đến cao.[ 46]

Theo Tâm lý h ọc đại cương, xuất bản năm 1940, D.N.Uznatze cho rằng NC là yếu tố

đặc trưng cho một cơ thể sống, là cội nguồn của tính tích cực và nó phát triển tương ứng với

sự phát triển của con người Khi có một NC nào đó xuất hiện, chủ thể hướng sức lực của mình vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó [34]

X.L Rubinstein đã tạo ra một hệ thống tri thức phong phú, trong đó có lý thuyết về nhu

cầu, dựa trên quan điểm triết học Mác- Lênin Con người có nhu cầu sinh vật nhưng bản

chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, vì vậy cần xem xét đồng thời các

vấn đề cơ bản của con người với nhân cách Ông cho rằng, nhu cầu là một thành tố của động

cơ là “hạt nhân của nhân cách” Với tư cách này, nhu cầu sẽ xác định những biểu hiện khác nhau của nhân cách – đó là xúc cảm, tình cảm, ý chí, hứng thú niềm tin

Người đi sâu vào nghiên cứu bản chất tâm lý của nhu cầu hơn ai hết phải kể đên là A.N Leonchiev Khi bàn về vấn đề nhu cầu, A.N Leonchiev [40] cho rằng, một nhu cầu

thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó Nghĩa là nhu cầu phải có đối tượng ( các vật thể có khả năng thỏa mãn nhu cầu) Đối tượng này không phải xuất hiện cùng một lúc và rõ rệt với trạng thái có tính chất nhu cầu (những ước mong, những ý muốn chủ quan

của chủ thể) mà nó chỉ “phát lộ” ra trong quá trình con người hoạt động để thỏa mãn nhu

cầu Ông viết “ nhu cầu với tính chất là một sức mạnh nội tại chỉ có thể được thực thi trong

Quan niệm của tất cả các nhà tâm lý học ở Việt Nam về nhu cầu thể hiện trong bộ sách Tâm lý học do tập thể các nhà tâm lý học đầu ngành của Việt nam biên soạn như: Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy, Lê Văn Hồng, Nguyễn Quang Uẩn, Lê Khanh…Dù mỗi tác giả có một cách lập luận khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một quan điểm là: NC được hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của các cá nhân đối với

Trang 20

18

hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển [34]

Từ những lập luận trên cho thấy có nhiều lý thuyết và quan điểm nghiên cứu về nhu

cầu khác nhau Mỗi định nghĩa về nhu cầu đều có những đặc điểm riêng, song có thể nhận định khái quát như sau:

Nhu cầu là sự đòi hỏi của chủ thể về một đối tượng nào đó, cần được thỏa mãn để con người có thể tồn tại và phát triển Nhu cầu là thuộc tính tâm lý nằm trong cấu trúc của xu hướng Ban đầu nhu cầu xuất hiện chỉ là trạng thái thiếu thốn cái gì đó mà chưa rõ đối tượng nào đó có khả năng thỏa mãn nhu cầu Khi nhu cầu gặp đối tượng, lúc nhu cầu trở thành động cơ trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động nhằm hướng tới đối tượng Nhu cầu chính là nguồn gốc thúc đẩy con người tích cực hoạt động

1.2.1 2 Đặc điểm của nhu cầu

a Tính đối tượng của nhu cầu

Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng, khi NC gặp đối tượng và chứa đựng khả năng

thỏa mãn thì lúc đó NC trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm mục đích đạt được đối tượng đó Đối tượng của NC mang tính khách quan, nằm ngoài cơ thể của chủ thể Đối tượng của NC ở những điều kiện xã hội khác nhau thì khác nhau Khi chủ thể tiến hành

một hoạt động, đối tượng của NC bộc lộ ra và được chủ thể nhận biết Lúc này, NC trở thành động cơ có chức năng thúc đẩy, hướng dẫn con người hoạt động

b Phương thức thỏa mãn nhu cầu:

Khi xuất hiện một NC cụ thể thì chủ thể sẽ tìm kiếm các phương thức, điều kiện để thõa mãn NC và từ đó nảy sinh hành vi với tư cách là phương thức thỏa mãn NC NC chỉ được thõa mãn thông qua hoạt động Chỉ có thông qua hoạt động thì đối tượng của NC mới

bộc lộ ra và đáp ứng được NC, thông qua đó NC được phát triển và được thỏa mãn Và sau khi được thỏa mãn lại nảy sinh NC mới ở cấp độ cao hơn Lúc đó, NC đã xác định được hướng cho hoạt động và trở thành sức mạnh nội tại kích thích và hướng dẫn hoạt động của con người

c Tính ổn định của nhu cầu:

NC có thể xuất hiện lặp đi lặp lại, tính ổn định của NC thể hiện ở tần suất xuất hiện

một cách liên tục và thường xuyên NC là một thuộc tính tâm lý, khi NC phát triển ở mức

Trang 21

19

độ cao thì nó bỗng trở nên bền vững và ổn định Tính ổn định của NC chỉ có được khi con người ý thức đầy đủ về đối tượng của NC và phương thức thỏa mãn NC đó

d Tính chu k ỳ của nhu cầu:

Khi một NC được thỏa mãn, NC đó không mất đi, nó vẫn còn tồn tại và lặp đi lặp lại nhiều lần, được củng cố và phát triển ngày càng phong phú hơn trong những điều kiện và phương thức sinh hoạt của con người Nhu cầu và hoạt động thực hiện nhu cầu là động lực

hết sức quan trọng nhằm tìm ra phương thức thỏa mãn nhu cầu

e Tr ạng thái ý chí – xúc cảm của nhu cầu:

NC thường đi kèm với trạng thái ý chí, xúc cảm, đặc biệt khi NC ở mức độ cao

Những trạng thái xúc cảm của NC được biểu hiện, đó là sự hài lòng và không hài lòng, thậm chí là trạng thái đau khổ khi NC không được thỏa mãn Trạng thái ý chí – xúc cảm thúc đẩy

hoạt động của con người tìm kiếm các phương thức thỏa mãn NC Chính vì vậy, NC trở thành một trong những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy con người hoạt động nói chung và thực

hiện các hành vi mang tính ý chí nói riêng Trạng thái ý chí xúc cảm sẽ bị giảm thậm chí có lúc hoàn toàn biến mất hoặc có thể chuyển sang trạng thái ngược lại khi NC được thỏa mãn

g B ản chất xã hội – lịch sử của nhu cầu:

NC của con người mang bản chất xã hội – lịch sử Đó chính là sự khác nhau về bản

chất giữa NC của con người với NC của con vật Con người biết sáng tạo để tạo ra đối tượng thỏa mãn NC của mình Chính vì vậy NC của con người ngày càng trở nên phong phú

và phức tạp hơn Ngoài NC vật chất gắn liền với cơ thể ( ăn, mặc, ở, đi lại…), ở con người

có NC tinh thần bao gồm NC nhận thức, NC thẫm mỹ, NC giao tiếp, NC chia sẻ và NC hoạt động xã hội

1.2.1.3 Các lo ại nhu cầu

Theo Erich Fromm, nhà phân tâm học hiện đại cho rằng “ NC tạo ra cái tự nhiên cho con người” (28) Đó là những NC:

- Nhu cầu quan hệ giữa người và người

- Nhu cầu tồn tại cái tâm của con người

- Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo

- Nhu cầu về sự bền vững, hài hòa

- Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu

Trang 22

20

Masow ( 1908- 1970) xây dựng lý thuyết NC về sự phát triển của con người nhằm giải thích những NC nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân có

thể định hướng cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất và tinh thần Maslow quan

niệm NC và sự phát triển của con người theo “ một chuỗi liên tiếp” như cái cầu thang (NC

vật chất, NC an toàn, NC thừa nhận, NC về sự tự trọng, NC về sự phát triển cá nhân) [28]

Sơ đồ: Hệ thống thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow Trong hệ thống thứ bậc NC của A Maslow, ông cho rằng mỗi NC của con người đều

phụ thuộc vào NC trước đó Nếu một NC không được đáp ứng ( đầu tiên là NC tồn tại- NC

thể chất), cá nhân sẽ gặp cản trở trong việc theo đuổi những NC cao hơn ( NC giao tiếp xã

hội, NC hoàn thiện cá nhân) Năm 1970, được bổ sung thêm 2 bậc NC nữa và hệ thống bao

gồm 7 bậc: vật chất, an toàn, thừa nhận, tôn trọng, nhận thức, thẩm mỹ, phát triển cá nhân Như vậy, có nhiều cách phân loại khác nhau về NC, NC được phân chia thành hai loại:

NC vật chất và NC tinh thần Do đó, NC THVTL cũng thuộc về NC tinh thần và là NC bậc cao của con người

1.2.1.4 S ự hình thành nhu cầu

Một số tác giả cố gắng giải thích NC nhận thức xuất phát từ NC sinh lý, S Freud thì

quả quyết nguồn gốc hành vi của con người bắt nguồn từ bản năng sinh học, NC về cơ thể Còn Addler mà Maslow đã nhận ra NC con người không chỉ là NC cơ thể, NC sinh lý mà

lực kích thích hành vi của con người còn do mục đích hành động, con đường đạt đến mục đích đó…Sau này H.Murray, K.Horney, K.Lewin thừa nhận rằng: nhân tố thực của hoạt

Nhu cầu

tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu giao lưu tình cảm Nhu cầu an toàn Nhu cầu thể chất

Trang 23

21

động tâm lý con người không chỉ xuất phát từ nhu cầu cơ thể mà còn xuất phát từ nhu cầu

xã hội

A.N Leonchiev [40] cho rằng bởi vì bản thân thế giới đối tượng hàm chứa những nhu

cầu tiềm tàng, nên trong quá trình chủ thể hoạt động tích cực, tất yếu sẽ nhận thức được

những yêu cầu, đòi hỏi phải được đáp ứng đề tồn tại và phát triển, tức là xuất hiện NC mới Thông qua hoạt động sản xuất loài người một mặt thỏa mãn NC hiện tại, đồng thời lại xuất

hiện NC mới, vì thế con người tích cực hoạt động lao động sản xuất qua đó thúc đẩy tiến bộ

xã hội

Như vậy trạng thái NC xuất hiện khi cơ thể mất thăng bằng, thiếu hụt cái gì đó, đó là

một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự hoạt động tích cực của con người để làm dịu sự căng thẳng khắc phục sự mất cân bằng Nói một cách khác, hoạt động tích cực của con người thỏa mãn NC là hướng tới sự cân bằng tương đối của cơ thể

Để hình thành NC về một đối tượng nào đó thì chúng ta phải làm cho chủ thể có cơ hội làm quen với đối tượng, chủ thể sẽ có cơ hội và điều kiện để thấy được vai trò, ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống của bản thân, từ đó hình thành mong muốn về đối tượng và NC sẽ

thông tin hay cho lời khuyên, trợ giúp những khó khăn tâm lý, chỉ bảo hay hướng dẫn…cho

một cá nhân hay một tổ chức nào đó khi họ có NC đều được gọi là tư vấn

Trên thế giới, khái niệm TV không chỉ hiểu đơn thuần như là cho lời khuyên, như công việc của một chuyên gia hay cố vấn, là sự khuyên bảo từ một tổ chức hay người có trình độ chuyên môn về một lĩnh vực cụ thể, như một hình thức đóng góp ý kiến Trong đó, người xin TV thường là những người chủ động tích cực còn những người được tư vấn thì có

thể là người thụ động để giải quyết vấn đề của họ [35, 14]

Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (1998) định nghĩa: TV là mối quan hệ giữa một người trợ giúp chuyên nghiệp và người, nhóm người hoặc một chỉnh thể xã hội cần được giúp đỡ,

Trang 24

22

trong đó nhà TV cung cấp sự giúp đỡ cho thân chủ trong việc xác định và giải quyết một

vấn đề nào đó có liên quan đến công việc hoặc người khác [35]

Có thể giải thích hoạt động TV là: Nhà TV được một người đề nghị cung cấp dịch vụ giúp đỡ trực tiếp cho một người, nhóm, tổ chức hay cộng đồng với nỗ lực trợ giúp cho cá nhân ( nhóm, hay hệ thống đó) vượt qua những khó khăn của hộ Như vậy tư vấn được xem như mối quan hệ tay ba trong đó trọng tâm là người xin TV, bên thứ ba có thể là một người hay một nhóm người, một tổ chức TV với một người về một người khác, không chỉ liên quan đến ba cá nhân chính, đó là nhà TV, người đượcTV và người khác mà còn liên quan đến môi trường mà người khác đang tồn tại

Hoạt động TV có thể diễn ra bất cứ nơi nào, trường học, cơ quan, doanh nghiệp…bất

kể nơi nào có tồn tại người được TV, mong muốn cải thiện tình hình mà mình đang có vấn

đề gặp phải và muốn xem xét những cách thức giải quyết mới tạo nên sự thay đổi tích cực trong con người của họ Có thể nói khái niệm TV đồng nghĩa với khái niệm cố vấn hay chuyên gia Trong tiếng Việt, cố vấn được hiểu là người thường xuyên được hỏi ý kiến để tham khảo, giải quyết công việc

Khi nhà TV sử dụng kiến thức của mình để đưa ra gợi ý hay lời khuyên hay tìm ra cách giải quyết mới hướng đến sự thay đổi của tổ chức thì nhà TV có thể trở thành chuyên gia, cố vấn là người hướng dẫn, người huấn luyện hoặc người giáo dục Ngược lại, nhà TV

hoạt động nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thay đổi bằng cách cùng làm việc với

cá nhân liên quan, cung cấp tài liệu và các giải pháp thì nhà tư vấn có thể trở thành nhà điều

chỉnh, hoặc người cộng tác, người tạo điều kiện thuận lợi

Trong từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng [45], tư vấn là “ đóng góp ý kiến về

những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” Điều này có thể hiểu là

việc cung cấp thông tin hay cho lời khuyên, trợ giúp cách giải quyết những khó khăn, hay hướng dẫn, chỉ bảo…cho một cá nhân hay tổ chức nào đó khi có NC đều được gọi là TV

Từ một số quan điểm trên cho thấy TV và THV có sự khác biệt rất rõ ràng Sự khác

biệt căn bản giữa TV và THV được thể hiện ở các điểm sau:

Về mục tiêu: Tư vấn chủ yếu hướng tới giải quyết những vấn đề mang tính hiện tại

Hoạt động tham vấn hướng tới giải quyết những mục tiêu lâu dài hơn, giúp thân chủ nâng cao khả năng tự giải quyết

Trang 25

23

Về tiến trình: Tư vấn cung cấp thông tin hay cho lời khuyên do đó được diễn ra trong

thời gian ngắn, còn tham vấn có thể diễn ra trong thời gian dài để nhà THV và thân chủ có

đủ thời gian trong quá trình tương tác với nhau

Về mối quan hệ: Trong mối quan hệ THV thể hiện sự bình đẳng, hợp tác, ngang hàng

và đòi hỏi sự tương tác chặt chẽ giữa nhà tham vấn và người được tham vấn, không có tính

chất trên – dưới như trong mối quan hệ tư vấn giữa một người có chuyên môn, am hiểu về lĩnh vực nào đó với người cần được tư vấn về vấn đề thuộc lĩnh vực họ cần tư vấn

Về cách thức tương tác: Trong TV, cách thức can thiệp chính là cung cấp thông tin, cho lời khuyên bổ ích tư người TV Còn THV, kết quả tùy thuộc vào kỹ thuật, kỹ năng tương tác của nhà THV để giúp thân chủ của mình tự nhận thức, hiểu được mình, hoàn cảnh

vấn đề của mình và từ đố chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp để thực hiện

1.2.2.2 Tham v ấn tâm lý

Tham vấn tâm lý (counseling psychology) là thuật ngữ được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau

Theo quan điểm của các tác giả trên thế giới như Carl Rogers (1972) đã mô tả tham

vấn tâm lý như là quá trình trợ giúp, trong mối quan hệ an toàn với nhà tham vấn, thân chủ tìm thấy sự thoải mái, chia sẻ và chấp nhận những trãi nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng đến sự thay đổi

J Hunchinson Haney & Jacqueline L ( 1999) cũng cho rằng tham vấn tâm lý là mối quan hệ tương tác mà nhà tham vấn tập trung vào những trãi nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của thân chủ, để giúp họ khám phá, chấp nhận và đối mặt với chúng

Theo các nhà tham vấn ở Hiệp hội vấn Hoa kì ( ACA, 1997): Tham vấn tâm lý là sự áp

dụng nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề bệnh lý [35]

Perez J.F ( 1065) lại cho rằng, tham vấn tâm lý là quá trình tương tác giữa một bên là người cần có sự trợ giúp và một bên là người làm tham vấn được đào tạo, huấn luyện có nhiệm vụ đưa ra sự trợ giúp Ông xem người tham vấn có vai trò thúc đẩy, duy trì quá trình

tương tác bằng sự giao tiếp nồng hậu, đức tính kiên trì, thái độ tôn trọng và chân thành

Trang 26

24

Như vậy, dù mỗi người có cách nói khác nhau, các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn có điểm chung khi nói đến tham vấn tâm lý là nói đến việc giải quyết những vấn đề tâm lý của con người

Khái niệm tham vấn tâm lý đã được các nhà khoa học ở Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm về tham vấn như sau:

Theo tác giả Trần Thị Minh Đức: “ Tham vấn tâm lý là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn ( người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ ( còn gọi là khách hàng – người đang

có vấn đề về khó khăn muốn được giúp đỡ) Thông qua các kỹ năng trao đổi và chia sẻ tâm tình ( dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính chất nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng của bản thân để giải quyết vấn đề của mình” [ 35; tr 21]

Theo tài liệu tập huấn về công tác tham vấn của Unicef Việt Nam năm 2002 thì họ cho

rằng: “ Tham vấn tâm lý được định nghĩa như một mối quan hệ và một quá trình nhằm giúp

đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, nhận thức, và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của họ” [44, tr.11]

Theo tác giả Trần Thị Giồng: “ Tham vấn tâm lý là sự tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ, trong quá trình này nhà THV sử dụng các kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ khơi

dậy tiềm năng để họ có thể tự giải quyết vấn đề đang gặp phải [35]

Tác giả Trần Quốc Thành cho rằng “ THVTL là quá trình chuyên gia tham vấn đặt mình vào vị trí của đương sự, hiểu vấn đề của họ và cùng họ chia sẻ, định hướng cách giải quyết vấn đề của họ chứ không thay họ giải quyết vấn đề [29, tr 47]

Tác giả Bùi Thị Xuận Mai [29]và [22, tr 21] qua việc nghiên cứu và tổng hợp đã có khái niệm tham vấn “ Tham vấn tâm lý là một hoạt động diễn ra trong một quá trình với các

hoạt động xây dựng mối quan hệ, khai thác, tìm hiểu xác định vấn đề, giải quyết vấn đề Thông thường, một ca tham vấn có thể diễn ra với 5 giai đoạn:

- Giai đoạn thiết lập mối quan hệ

- Giai đoạn thu thập, xử lý thông tin, đánh giá vấn đề

- Giai đoạn tìm kiếm các giải pháp và giúp TC lựa chọn giải pháp thích hợp nhất

- Giai đoạn giám sát và trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp

- Giai đoạn kết thúc vấn đề

Trang 27

THVTL là một hoạt động trợ giúp, giúp TC tự quyết định vấn đề của mình thông qua

mối quan hệ tương tác tích cực giữa nhà THV và người được THV

Người làm tham vấn là người được trang bị các giá trị, thái độ, đạo đức nghề nghiệp,

những tri thức hiểu biết về tâm lý con người, các kỹ năng tham vấn để thấu hiểu đối tượng, giúp đối tượng tự giải quyết và tự thay đổi chính họ

Người được tham vấn là những người mất cân bằng về tâm lý, khó khăn trong việc thích ứng và hòa nhập với xã hội

Hoạt động THVTL được diễn ra trên cơ sở mối quan hệ giao tiếp đặc biệt, đòi hỏi có

sự tương tác tích cực giữa nhà THV ( người làm THV – người trợ giúp) và đối tượng ( người đang có vấn đề về tâm lý xã hội, về những khó khăn tâm lý muốn được giúp đỡ) Mối quan hệ tương tác này chủ yếu được thực hiện trên mối quan hệ tương tác trực tiếp

Bản chất của THVTL là hoạt động hay phương pháp trợ giúp đối tượng tự giải quyết

vấn đề của mình chứ không phải là hoạt động đưa ra lời khuyên Sự trợ giúp ở đây được thể

hiện qua việc giúp đối tượng nâng cao nhận thức về bản thân, hoàn cảnh của họ, khám phá

và sử dụng những khả năng, những thế mạnh đang tồn tại trong chính bản thân họ hay xung quanh họ để tự giải quyết vấn đề Với ý nghĩa này, THVTL còn có tác dụng giúp đối tượng nâng cao khả năng đối phó với các vấn đề của cuộc sống

Tham vấn tâm lý được coi là hoạt động chuyên môn hoặc một dạng dịch vụ xã hội, hay một mối quan hệ trợ giúp được thực hiện bởi những người làm tham vấn chuyên nghiệp

Như vậy, tham vấn tâm lý là quá trình tương tác, trao đổi, chia sẻ các thông tin và

khơi dậy tiềm năng, nội lực của bản thân họ để họ tự giải quyết các vấn đề của mình

1.2.2.3 Các lo ại hình tham vấn tâm lý

- Hình th ức tham vấn tâm lý trực tiếp

Tham vấn trực tiếp là hình thức mà nhà THV và TC có sự gặp gỡ và đối thoại với

Trang 28

26

nhau mặt đối mặt một cách trực tiếp mà không thông qua bất kỳ phương tiện nào Vì vậy trong cuộc THV này, nhà THV có thể thấy và hiểu được TC thông qua hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ của họ Trong hình thức THV này, nhà THV sử dụng nhiều kỹ năng giúp TC hiểu, tìm ra các nguyên nhân của sự việc và khơi dậy những tiềm năng của TC để

họ tự lựa chọn các giải pháp giải quyết vấn đề của mình

Đây là loại hình THV được coi là hiệu quả nhất vì có ưu điểm lớn là nhà tham vấn có

thể quan sát được TC của mình giúp họ có được thông tin để làm cơ sở cho những giải pháp

gợi ý phù hợp với thân chủ Cũng chính vì vậy cũng được xem là loại hình tham vấn khó

nhất vì đòi hỏi nhà THV phải phối hợp những kỹ năng tham vấn để khai thác thông tin như

lắng nghe, quan sát, phản hổi cảm xúc…THV trực tiếp có cac loại như THV cá nhân, THV nhóm, THV gia đình

THV trực tiếp sẽ cũng gặp bất lợi cho những TC có tính cách nhút nhát, không tự tin bày tỏ vấn đề mình gặp phải với nhà THV và với những người không có nhiều thời gian Vì

vậy có một hình thức tham vấn khác là THV gián tiếp THV trực tiếp có hình thức THV tại trung tâm THVTL; THV học đường ở trường học

Hình thức tham vấn gián tiếp là hình thức tham vấn khi nhà tham vấn và thân chủ không có sự đối thoại trực tiếp mà thường thông qua các phương tiện truyền thông như: điện thoại, email, qua báo, thư, đài…

Ưu thế của THV gián tiếp là TC có thể bộc lộ thoải mái và rất thật về những điều khó nói khi đối diện với nhà THV, khiến cho lòng tự tin của họ được nâng cao, sự bí mật cao hơn, và bất cứ khi nào TC gặp khó khăn, nan đề cần THV có thể tham gia THV

Tuy nhiên, phần hạn chế của tham vấn gián tiếp là nhà tham vấn nhận được các thông tin về thân chủ của mình một cách hạn hẹp, vì vậy nhà tham vấn khó có thể quan sát và biết

rõ thông tin với độ chính xác ở mức độ nào do đó khi gặp các nan đề khó có thể giải quyết

một cách hiệu quả như tham vấn trực tiếp

1.2.2.4 Các ch ủ đề tham vấn tâm lý

Đây là chủ đề tham vấn có liên quan đến việc giải quyết các mối quan hệ bạn bè, tình yêu, kiến thức về tình dục, những vấn đề về giáo dục con cái, xung đột trong quan hệ vợ

chồng, quan hệ đồng nghiệp…thông qua các hình thức tham vấn đa dạng bao gồm tham vấn

Trang 29

27

trực tiếp và tham vấn gián tiếp

Ở Việt Nam, công tác tham vấn cho người có HIV đã có từ rất sớm trước hết là khởi xướng từ các bác sĩ trong ngành y tế, sau đó một số trung tâm tham vấn và các tổ chức xã

hội, bệnh viện lớn có công tác tham vấn cho người HIV/AIDS

Nhà nước đã quan tâm đến vấn đề tham vấn cho trẻ em này từ những năm 1996 Có các phòng tham vấn hình thành với các tình nguyện viên làm công tác tham vấn chủ yếu cho các em lang thang kiếm sống trên đường phố

Hiện nay, tham vấn cho trẻ em phạm pháp được mở rộng trong các trường giáo dưỡng

với sự hổ trợ của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như Quỹ Dân số Thế giới, Unicef, tổ

chức Plan

THV học đường là một công tác rất quan trọng trong trường học, các nhà THV học đường chuyên nghiệp là một nhà sư phạm được đào tạo về những kỹ năng giúp hổ trợ việc

học, NC phát triển cá nhân và xã hội cũng như nghề nghiệp của học sinh

Nhà tham vấn học đường giúp học sinh nhận biết đặc điểm nhân cách, khả năng hứng thú của mình trong học tập để phát triển một cách hài hòa trong lứa tuổi của các em

Tham vấn tâm lý cho phụ nữ bị bạo hành là chủ đề được các tổ chức quốc tế rất quan tâm và có văn phòng tại Việt Nam như Unicef, Radda barnen, Care, Ngân hàng Thế giới,

Hội đồng Dân số, tổ chức Plan quan tâm Đã có những dự án, những nghiên cứu về vấn đề

bạo hành đối với phụ nữ, có nhiều sự giúp đỡ của các chuyên gia tham vấn về bạo hành, họ

đã tổ chức triển khai tương đối rộng rãi nhiều khóa tập huấn về tham vấn bạo hành Nhiều trung tâm tham vấn xuất hiện với sự trợ giúp của dự án, có nhiều chương trình nhằm giúp các cán bộ làm tham vấn có kiến thức và kỹ năng trợ giúp cho những phụ nữ và trẻ em bị

bạo hành Có các hình thức như đường dây nóng và đường dây trợ giúp cho phụ nữ bị bạo hành Hình thức nhà tạm lánh hay còn gọi là “nhà an toàn” là nơi đáp ứng nhu cầu được bảo

vệ và chăm sóc khẩn cấp của phụ nữ khi họ chạy trốn bạo lực Nhà tạm lánh hoạt động 24h

mỗi ngày và cung cấp những dịch vụ miễn phí bạo gồm nơi ăn ở cho phụ nữ và con cái của

họ, giúp đỡ y tế, tư vấn pháp luật, tham vấn tâm lý và một số những hổ trợ khác Ở các nơi

Trang 30

28

trên thế giới mô hình nhà tạm lánh được thành lập bởi một tổ chức phi chính phủ, mở cửa cho mọi phụ nữ và các em gái mọi lứa tuổi và đảm bảo an ninh, hổ trợ pháp lý và dạy nghề cho họ, hiện nay tại một số quận trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố khác đã có mô hình này Tuy nhiên hoạt động tham vấn tâm lý chưa thực sự được triển khai

hiệu quả vì thiếu các chuyên viên tham vấn được đào tạo một cách chuyên môn

Bên cạnh đó còn có nhóm tự lực và dịch vụ TV giúp hổ trợ nạn nhân trong khi vẫn tôn

trọng sự tự do và khuyến khích việc tự ra quyết định của họ Việc TV cho nạn nhân được

thực hiện bởi các chuyên gia làm việc với từng nạn nhân một, trong khi đó nhóm tự lực là

một hoạt động trong một nhóm nạn nhân hổ trợ nhau giúp những người PN có thể tự chủ và

hổ trợ họ có những thứ cần thiết để chấm dứt mối quan hệ bạo lực Nhân tố góp phần thành công của nhóm này là những PN tham gia vào nhóm cảm thấy được trao quyền bằng cách

lắng nghe những người khác, những người mà đã thoát khỏi tình trạng bạo lực; họ cảm thấy được cảm thông và đánh giá cao mà họ không bị tra hỏi và họ được hiểu biết về quyền của mình trong khi được phép nghĩ cho bản thân của mình Nhà THV của trung tâm tuân theo

những quy định của đạo đức, những hướng dẫn rõ ràng và được tham gia nhiều khóa tập

huấn Họ tuân theo 3 quy tắc căn bản trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn cho nạn nhân: tin tưởng những gì mà người phụ nữ đã trãi qua; không đổ lỗi cho PN vì tình trạng BH mà họ đang phải chịu đựng và không đưa ra lời khuyên mà chỉ hướng PN sao cho họ có thể tự quyết định.[4, tr 130-132]

1.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý

1.2.3.1 Khái ni ệm nhu cầu tham vấn tâm lý

Ngày nay, khi tốc độ phát triển của xã hội quá nhanh, mỗi con người chúng ta chịu nhiều áp lực của cuộc sống, càng cố gắng thích ứng với những biến đổi của xã hội thì họ cần

phải giải quyết nhiều khó khăn, căng thẳng và phát sinh nhiều mâu thuẫn có ảnh hưởng tiêu

cực đến đời sống tâm lý của họ Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội thì NC con người ngày một tăng cao cả về NC vật chất lẫn NC tinh thần Họ cần có NC được trợ giúp

một cách khoa học và chuyên môn để được hổ trợ vượt qua những khó khăn trên hay còn

gọi đó là nhu cầu THVTL

khăn tâm lý, xung đột tâm lý mà bản thân cần phải có sự trợ giúp của nhà tham vấn để tìm

Trang 31

29

cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống vật chất càng được cải thiện thì nhu cầu chăm sóc về sức khỏe tinh thần này ngày càng được quan tâm, đồng nghĩa với NC tham vấn tâm

lý trong xã hội ngày càng cao

1.2.3.2 Đặc điểm của nhu cầu tham vấn tâm lý

- Đối tượng của nhu cầu tham vấn tâm lý: Đối tượng của NC tham vấn tâm lý chính là cái mà người tham vấn muốn lĩnh hội khi tham gia vào quá trình THVTL, là hệ thống các thông tin, những kỹ năng và phương thức để giải quyết vấn đề

- Phương thức thõa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý: Phương thức thõa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý chính là hoạt động tham vấn tâm lý

- Trạng thái xúc cảm của NC tham vấn: Trạng thái xúc cảm thể hiện sự hài lòng hay không hài lòng, trạng thái mong muốn, khao khát vươn lên đến sự thõa mãn một nhu cầu nào đó mà bản thân chưa tìm ra đối tượng hoặc phương thức thõa mãn, chính vì vậy thúc

đẩy con người tìm kiếm các phương thức để thõa mãn NC

- Bản chất xã hội của nhu cầu tham vấn: Nhu cầu tham vấn tâm lý được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển, con người càng có điều

kiện chăm sóc, nâng cao đời sống tinh thần thì nhu cầu tham vấn tâm lý ngày càng trở nên

cần thiết và bức bách

1.3.3.3 Nguyên nhân hình thành nhu c ầu tham vấn tâm lý

Nhu cầu tham vấn tâm lý xuất hiện khi xảy ra những khó khăn tâm lý hay xung đột tâm lý với môi trường bên ngoài hay xung đột tâm lý ngay chính bên trong mỗi con người Xung đột tâm lý là theo định nghĩa của S.Freud trong nghiên cứu về động lực cơ bản

của sự phát triển nhân cách con người có những hình thức xung đột tâm lý khác nhau:

- Xung đột tâm lý bên trong cá nhân

- Xung đột tâm lý liên nhân cách

- Xung đột tâm lý liên nhóm

Các nhà tâm lý khác cho rằng: “ Xung đột tâm lý là sự mâu thuẫn, sự va chạm có tính đối kháng những quyền lợi, những mục tiêu, quan điểm, ý kiến của một cá nhân hay các chủ

thể có mối liên hệ với nhau”

Theo tác giả Bùi Văn Huệ cho rằng xung đột tâm lý là mâu thuẫn giữa cac chủ thể về

vị thế xã hội, quyền lợi và uy tín của cá nhân Khi mâu thuẫn đạt đến mức độ cao thì trở

Trang 32

30

thành xung đột Như vậy xung đột tâm lý là mâu thuẫn ở mức độ cao, khi hai bên xung đột không còn duy trì được sự ngấm ngầm bên trong cá nhân và cần phải tích cực khắc phục tình trạng này thông qua sự bộc lộ công khai các mối quan hệ mâu thuẫn để giải quyết vấn

đề bằng hành vi

Khi con người rơi vào tâm trạng xung đột tâm lý, những xung đột này có thể xảy ra bên trong cá nhân hay những xung đột xảy ra trong mối quan hệ với những người xung quanh, con người rất cần sự chia sẻ và hổ trợ để giải quyết những áp lực đó để làm cho đời

sống tâm lý được cân bằng Đó chính là nhu cầu tham vấn tâm lý Như vậy xung đột tâm lý

là nguyên nhân xuất hiện nhu cầu tham vấn tâm lý

Xung đột tâm lý có những biểu hiện sau:

- Trong công việc thường có nhiều áp lực như lo lắng, không hài lòng về công việc

hiện tại đang làm, về lương bổng, về các mối quan hệ trong công việc, về thời gian làm việc

và các chế độ làm việc…dẫn đến những xung đột tâm lý

- Trong gia đình thường có những trạng thái tâm lý như mệt mỏi, căng thẳng, lo lắng, mâu thuẫn quan điểm sống, cách giáo dục nuôi dạy con cái, vấn đề về tài chánh, các mối quan hệ hai bên họ hàng của vợ chồng…

- Trong mối quan hệ khác như bạn bè, người yêu…không hài lòng, có những cảm xúc khó chịu, căng thẳng, giận hờn, bất đồng trong quan điểm sống, cách ứng xử

Trong các mối quan hệ trên, khi có xung đột hay khó khăn tâm lý, con người tự giải quyết hoặc tìm sự giúp đỡ của đối tượng khác, khi được đáp ứng nhu cầu THVTL này thì cũng có nghĩa là những xung đột đã phần nào được giải quyết, cuộc sống của họ sẽ trở nên

tốt hơn

1.2.4 Khái ni ệm bạo lực – bạo hành

1.2.4.1 Khái ni ệm bạo lực – bạo hành

Bạo lực là gì? ở mức độ căn bản nhất, bạo lực có thể được định nghĩa là “sử dụng sức

mạnh thể xác hoặc đe dọa dùng sức mạnh thể xác tới một người hoặc một nhóm người” Định nghĩa này tập trung vào các hành động bạo lực cá nhân hoặc bạo lực giữa nhiều người với nhau Trong phạm vi nghiên cứu này chỉ tập trung vào bạo lực giữa cá nhân người chồng đến vợ mình

Trang 33

31

Ở mức độ đơn giản nhất, bạo lực là việc một cá nhân dùng sức mạnh hoặc đe dọa dùng

sức mạnh để gây bạo lực với người khác Bạo lực xảy ra trong những hoàn cảnh và trường

hợp cụ thể Trong một số hoàn cảnh nào đó bạo lực xảy ra thường xuyên hơn Trong nghiên

cứu này, trong phạm vi riêng tư – gia đình nam giới thường là người gây ra bạo lực và phụ

nữ là nạn nhân

Theo Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc về việc loại bỏ bạo lực đối với

phụ nữ ngày 20/12/1993 : "Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động bạo lực dựa trên cơ

cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do dù nó có xảy ra ở nơi công cộng hay

trong cuộc sống riêng." Với cách định nghĩa như trên, bạo lực chống lại phụ nữ là các hành

vi bạo lực chống lại người phụ nữ trong cuộc sống riêng tư (bạo lực gia đình) và các hành vi

bạo lực chống lại phụ nữ ở nơi công cộng (bạo lực ngoài gia đình)

Bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ là “ hành vi bạo lực trực tiếp với phụ nữ với lí

do người đó là phụ nữ, hoặc bạo lực mà ảnh hưởng trực tiếp đến phụ nữ một cách không tương xứng Nó bao gồm những hành vi trừng phạt thân thể, tinh thần hay hãm hiếp tình

dục, gây đau đớn hay sợ hãi trước những hành vi, cưỡng bức và tước đoạt về kinh tế” [ 2, tr 18]

Thuật ngữ “bạo hành” được hiểu là “…dùng bạo lực trong cả một quá trình để thực

người đó” [ 10, tr.1]

Trên thực tế, từ “ bạo hành” hoặc “ bạo lực” thường được sử dụng không có sự phân

biệt rõ ràng Khi xét trên góc độ giới, xã hội học, các nhà nghiên cứu thường dùng từ “bạo

lực” Ngược lại, trong đời sống và truyền thông, từ bạo hành được dùng phổ biến hơn Tuy nhiên về nội hàm thì hai từ này không có sự khác nhau nhiều Trong khuôn khổ bài viết của mình, người nghiên cứu xin thống nhất dùng từ “ bạo hành” để chỉ những hành vi bạo lực

giới hạn trong gia đình và để chỉ những người chồng có hành vi bạo lực với vợ mình

1.2.4.2 B ạo hành gia đình

Ở Việt Nam, 21/11/2007, trong kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá XII đã thông qua bản

dự thảo Luật phòng, chống bạo hành gia đình Luật này đã đưa ra định nghĩa về bạo hành

Trang 34

32

gia đình như sau: “Bạo hành gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại

trong gia đình Khái niệm này được hiểu là tất cả các loại bạo hành mà một thành viên gia đình gây ra cho một hay nhiều thành viên khác của gia đình bất kể giới tính của nạn nhân”

Như vậy, khi xem xét bạo hành gia đình, ta có thể thấy các đặc điểm:

- Thứ nhất, BH gia đình là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình

tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó

- Thứ hai, BH gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý chứ không thể là lỗi vô ý

- Thứ ba, BH gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình

- Thứ tư, bạo hành gia đình đang là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm sâu sắc Bạo hành gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn đề toàn

cầu, ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, nước đang phát triển cho đến nước giàu có, phát triển mạnh về kinh tế và xã hội Mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp

phải tệ nạn này Đối tượng của các hành vi bạo hành gia đình có thể là bất kỳ ai trong đó có

cả nam giới nhưng thường là những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp là phụ nữ, người già và trẻ em

- Thứ năm, bạo hành gia đình đều ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, tâm lý, tình cảm

của mỗi cá nhân Đặc biệt đối với trẻ em, bạo lực còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự hình thành nhân cách, hạn chế những cơ hội để trẻ em có một cuộc sống bình thường và nhất là tương lai của các em sau này

- Xét trên bình diện biểu hiện của hành vi bạo hành, bạo hành gia đình là sự xâm

phạm và ngược đãi thân thể, tinh thần hay tình cảm giữa các thành viên trong gia đình

- Xét trên bình diện chủ thể của hành vi bạo hành, tổ chức Y tế thế giới ( WHO)

nhận định: Phần lớn người gây bạo hành gần như luôn luôn là nam giới, thường là người chồng hoặc người tình, chồng cũ đối với vợ

- Xét trên bình di ện hậu quả của hành vi bạo hành, Đại hội đồng Liên hợp quốc

nhận thấy đây là những hành vi dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân

thể, tình dục hay tâm lý của người phụ nữ Đây cũng là quan điểm của Quĩ dân số Liên hợp

Trang 35

33

quốc ( UNFPA) và là quan điểm của Chính phủ Việt Nam đã được thể hiện rõ trong Luật phòng chống bạo hành gia đình

- Xét trên bình di ện nguyên nhân của bạo hành gia đình, Quĩ dân số Liên hợp quốc

(UNFPA) khẳng định: bạo hành gia đình bắt nguồn từ các mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ

Qua phân tích định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy bạo hành gia đình là những hành vi ngược đãi của các thành viên gia đình đối với người thân của họ, dẫn đến những tổn thất về thân thể, tình dục hay tâm lý của nạn nhân Đó có thể là bạo hành của chồng đối với vợ, của

vợ đối với chồng, của bố mẹ đối với con cái, của mẹ chồng đối với con dâu, của anh chị em trong gia đình với nhau…bạo hành gồm bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần, bạo hành về tình dục , bạo hành về kinh tế và bạo hành về mặt xã hội

BHGĐ trong định nghĩa rộng được xem là tất cả những hành vi của các thành viên gia đình vi phạm sự bình đẳng hay tước đoạt tự do hoặc những hành vi làm ảnh hưởng tới sự

BHGĐ – theo luật pháp của Việt Nam được định nghĩa: là hành vi cố ý của các thành

viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình [ l, tr 1]

Theo nhận định và đánh giá của nhiều nhà khoa học, nạn BH gia đình diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau và rất đa dạng và phức tạp Một kiểu phân loại khá đặc biệt là chia BH thành hai hình thức: nhìn thấy được và không nhìn thấy được Hình thức BH nhìn

thấy được là hình thức BH mà trong đó , những hành vi của người chồng có thể quan sát

thấy được bởi người vợ, bởi những người thân trong gia đình hay những người ngoài xã hội Ngược lại, ở những hình thức BH không nhìn thấy, những hành vi BH của người chồng không được quan sát thấy trực tiếp bởi người vợ, người thân hoặc những người khác, có thể

vì đối tượng chịu sự BH không cho rằng đây là BH và không ý thức được Như vậy, dù BH nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được thì đều có thể diễn ra trên mọi khía cạnh của đời

sống vợ chồng, từ thể xác, tình cảm, giao tiếp xã hội, kinh tế cho đến tình dục

Một cách khái quát và phổ biến hơn cả, các nhà nghiên cứu xã hội học, tâm lý học đã

tổng kết và thống nhất đưa ra năm hình thức bạo hành gia đình: bạo hành về thân thể, về tinh thần, về mặt xã hội, về tình dục và về tài chính Đây là năm hình thức bạo hành được sử

dụng để khảo sát trong đề tài

Trang 36

34

- Hình th ức bạo hành thân thể: Đây là hình thức người chồng dùng những hành

động như đánh đập, xô đẩy, bạt tai, bóp cổ, đối xử tàn tệ, tra tấn hoặc có những hành vi gây thương tật trên cơ thể người vợ hoặc con cái, người thân trong gia đình mình Nghiên cứu

Quốc gia chỉ ra rằng 31,5% phụ nữ từng lập gia đình đã từng bị chồng hoặc chồng cũ bạo

hành về thể chất [4, tr 52,53]

- Hình th ức bạo hành về tinh thần:

Hình thức này còn gọi là bạo lực về tâm lý – tình cảm Người vợ phải chịu những áp

lực về tâm lý và tinh thần bởi chồng của mình bao gồm các hành vi cố tình kiểm soát mọi

hoạt động của vợ, áp đặt quyền lực, thái độ phỉ báng hoặc coi thường vợ Người chồng xúc

phạm, nguyền rủa, chửi bới, mắng nhiếc, hạ thấp hay xúc phạm danh dự, nhân phẩm, đổ lỗi, chê bai những suy nghĩ và cảm xúc của người vợ, đe dọa, ném, đập vỡ đồ đạc, đấm vào tường, cất giấu đồ đạc…Người phụ nữ phải sống trong bầu không khí bị chồng đe dọa và so sánh với một người khác bằng lời lẽ mạt sát, xúc phạm, như là “ người mẹ, người vợ tồi!”

Chửi vợ là đồ ngu hoặc sự ghẻ lạnh và những hành vi gây ra bầu không khí căng thẳng của người chồng Ngoài ra, người chồng còn làm đau hoặc chửi bới họ gia đình vợ, đe dọa giết

những người thân thương của vợ Nghiên cứu quốc gia cho thấy tỷ lệ bạo lực tâm lý phổ

biến trong suốt đời người phụ nữ do chồng gây ra là 53,6% Cuộc điều tra 2006 trên tổng

số 2.000 phụ nữ đã từng lập gia đình cho biết 25% trong số họ đã từng bị bạo lực tâm lý/tinh

thần trong chính gia đình họ

Theo nghiên cứu ở nhiều nước của tổ chức WHO về bạo lực thì có 20 đến 75% phụ nữ

phải chịu đựng ít hay nhiều các hành động lạm dụng về tinh thần Một cuộc khảo sát đầu tiên ở những quốc gia nói tiếng Pháp về bạo lực đối với phụ nữ cho thấy 35% phụ nữ phải

chịu áp lực về tâm lý và tinh thần bởi người chồng của mình Trong một nghiên cứu ở Đức

có 42% những người được nghiên cứu phải chịu đựng những hành động la hét, mắng chửi,

vu khống, nói xấu, đe dọa, làm bẽ mặt hay khủng bố tinh thần [4, tr 53]

- Hình th ức bạo hành về tình dục:

Người chồng có hành vi cưỡng ép vợ phải quan hệ tình dục, quan hệ tình dục với người phụ nữ khi chưa có sự ưng thuận của họ, các hành động cố tình quan hệ tình dục với

phụ nữ khi họ bị ốm đau, tàn tật, bị mất khả năng hoặc quan hệ dưới sự ép buộc hay lạm

dụng rượu và các chất kích thích Một số phụ nữ còn bị ép phải quan hệ tình dục sau khi bị

Trang 37

35

chính người chồng đánh đập, hoặc bắt vợ phải xem các hình ảnh khiêu dâm, cố tình gây đau đớn hoặc làm tổn hại trong suốt quá trình quan hệ sinh lý mà người phụ nữ không có quyền

từ chối [4 tr 52]

Nghiên cứu quốc gia cho thấy cứ khoảng 10 phụ nữ từng kết hôn thì có 01 người đã

từng bị chồng bạo lực tình dục trong đời (9,9%) Cuộc điều tra năm 2006 của Ủy ban Các

vấn đề Xã hội của Quốc hội tại 08 tỉnh, thành phố cho thấy có đến 30% phụ nữ trả lời đã

từng bị chồng bắt quan hệ tình dục ngoài ý muốn13 [2, 57]

Trong một số nghiên cứu ở nhiều nước của tổ chức WHO về bạo lực gia đình được áp

dụng ở B Bangladesh, Brazil, Nhật Bản, Peru, Montenegro, Thái Lan sự phổ biến của bạo

lực tình dục do người chồng gây ra chiếm 6% đến 59% [4, tr 52]

Đó là những hành vi người chồng cố ý sử dụng phương tiện kinh tế để kiểm soát vợ

hoặc chiếm đoạt thu nhập hợp pháp của vợ hoặc ngăn cấm vợ tiếp cận, sử dụng các nguồn thu nhập của gia đình hoặc bắt ép vợ làm việc quá sức Người chồng hoàn toàn kiểm soát về tài chính, người phụ nữ không được phép tự kiếm việc làm, nếu vi phạm sẽ bị hành hạ Người chồng chỉ đưa một số tiền ít ỏi không đủ chi trả các nhu cầu thiết yếu trong gia đình

và sau đó người phụ nữ bị chỉ trích là người vô dụng, người không có khả năng nội trợ hoặc chăm sóc gia đình, luôn bị kiểm soát tài chính

Trong thực tế, bạo hành gia đình là sự kết hợp của nhiều hình thức khác nhau chứ không đơn thuần một loại Khi tấn công về mặt thể xác, tình dục, xã hội hay tài chính cũng

sẽ gây ra sự hoảng loạn tinh thần, những vết thương tâm lý rất khó chữa lành đối với người

phụ nữ

1.2.5 Khái niệm người chồng bạo hành

Trang 38

36

(Theo Lu ật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 tại khoản 1 Điều 2)

Người chồng có các hành vi bạo lực đối với vợ bao gồm: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm

lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; cưỡng ép quan hệ tình dục; chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của vợ hoặc tài sản chung trong gia đình; kiểm soát thu nhập của

vợ nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; Có hành vi trái pháp luật buộc vợ ra khỏi

chỗ ở gia đình

Tính cách c ủa người chồng bạo lực theo tiếp cận tâm lý học

Các nhà tâm lý học cho rằng người chồng bạo hành vợ có thể có những đặc điểm tâm

lý như rối loạn tâm lý, ít có khả năng tự kiểm soát hành vi cá nhân, có xu hướng lạm dụng rượu hoặc chất gây nghiện, hoặc gặp phải các vấn đề về thể chất như “ốm đau” hay “bệnh

tật”

Có một số đặc trưng tâm lý của người chồng như thiếu quyết đoán, bốc đồng Một số nghiên cứu còn nhận định rằng nam giới có bản chất tự tôn và luôn mong muốn khẳng định cái tôi cá nhân Việc sự dụng hành vi bạo lực trong gia đình đối với vợ là một cách để nam

giới khẳng định cái tôi của mình Do đó, các nhà tâm lý học cho rằng những người nam ít có

khả năng kiểm soát hành vi cá nhân thường có khuynh hướng gây ra bạo lực cao hơn so với

những người có khả năng kiểm soát được hành vi của mình Theo nghiên cứu về mối liên hệ

giữa tính cách và hoàn cảnh gia đình người gây ra bạo lực có những đặc điểm mang tính

chất tham khảo như người chồng có nghề nghiệp mang tính chất lao động giản đơn, người

chồng có khó khăn về tài chính, người chồng đã từng chứng kiến bạo hành gia đình từ khi còn nhỏ cũng sẽ có khả năng xảy ra bạo hành cao hơn ở các gia đình khác

Theo thuy ết học hỏi xã hội ( social learning theory) Lý thuyết này cho rằng cá nhân ở

đây là người chồng bắt chước hành vi bạo lực từ trong gia đình Người chồng bạo hành đã

từng hứng chịu bạo hành hoặc chứng kiến sự bạo hành trong gia đình Nếu người chồng được sinh ra trong một gia đình thường xuyên có bạo hành thì cá nhân người chồng sẽ có khuynh hướng lặp lại các hành vi bạo lực đó khi trưởng thành

Trang 39

37

Dựa trên lý thuyết học hỏi xã hội, Browne & Herbert (1998) thừa nhận tầm quan trọng

của các yếu tố nội tại của con người như suy nghĩ và cảm xúc như là các tác nhân dẫn đến hành vi bạo lực Các tác giả đã chứng minh được hành vi bạo lực của cha mẹ có ảnh hưởng đến cuộc sống của con cái, không chỉ ở trong gia đình mà còn ở ngoài xã hội Nghiên cứu (trên) tại Mỹ cho thấy, cứ 5 nam giới có hành vi bạo lực gia đình thì có 4 người đã từng

chứng kiến bạo lực của cha mẹ anh ta hoặc chính anh ta bị bạo hành từ khi còn nhỏ Thuyết này góp phần lý giải tại sao trẻ em sống trong gia đình có nhiều bạo lực sẽ có xu hướng sử

dụng những hành vi bạo lực

Theo ti ếp cận xã hội học: các nhà nghiên cứu xã hội cho rằng hoàn cảnh xã hội là yếu

tố khách quan dẫn đến việc cá nhân người chồng có các hành vi bạo lực đối với vợ Một trong các lý t huyết được vận dụng nhiều nhất là lý thuyết căng thẳng xã hội ( social stress theory) cho rằng sự căng thẳng trong cuộc sống có thể khiến cá nhân có hành vi bạo hành đối với người thân trong gia đình Sự căng thẳng xã hội nảy sinh khi cá nhân người chồng không có đủ các nguồn lực về tâm lý, xã hội, kinh tế để đáp ứng sự kỳ vọng của bạn bè, người thân, đồng nghiệp và chính bản thân họ Ví dụ, không được thăng tiến trong công

việc, hạ bậc lương, ly hôn, ngoại tình, chuyển nơi làm việc, thất nghiệp, gặp rắc rối với đồng nghiệp, và thậm chí lạm phát giá cả [14, tr 43-52]

Ngoài ra, cuộc sống gia đình cũng dẫn đến những căng thẳng, ví dụ sinh con, gia tăng chi phí nuôi con Cá nhân người chồng không chỉ sử dụng bạo lực như là một cách thức đương đầu với sự căng thẳng xã hội mà họ đang phải hứng chịu mà còn xem đó là cách giải quyết những xung đột trong đời sống cá nhân

Theo lý thuy ết văn hóa ( cultural theory) xem xét bạo lực của người chồng trong gia

đình như một tiểu văn hóa đặt trong bối cảnh văn hóa của xã hội rộng lớn hơn Khi cá nhân người chồng bạo lực có xu hướng thỏa hiệp các hành vi bạo lực ngoài xã hội thì trong gia đình họ cũng có xu hướng chấp nhận sử dụng bạo lực với các thành viên khác ( 1997) Sự

chấp nhận mặc định đó đã cho phép người chồng sử dụng hành vi bạo lực để giải quyết xung đột trong gia đình Thuyết này cũng cho thấy đàn ông sử dụng bạo lực để kiểm soát

phụ nữ

Lý thuy ết nguồn lực ( resource theory) giải thích bản chất của bạo lực của người

chồng từ góc độ nguồn lực của con người Người đàn ông có nguồn lực xã hội hạn chế ví dụ

Trang 40

38

trình độ học vấn thấp, uy tín xã hội thấp hoặc không có, khả năng tài chính yếu kém thì khi

trở thành người chủ gia đình, người đó dễ có xu hướng gây ra hành vi bạo lực gia đình Theo một các nghiên cứu của các nhà xã hội học họ cho rằng bạo lực nam giới không

phải là tự nhiên, có nguyên nhân quá trình hình thành và phát triển nhân cách

Một số nghiên cứu về mặt sinh học cho thấy có sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ

về tính khí, các bé trai có mức độ cao hơn về việc thiếu kiểm soát xung đột, ADHD và

những đặc điểm khác như sự tìm kiếm cảm giác, khả năng phản xạ và sự nóng nảy, những đặc điểm có thể như những điều kiện dẫn đến việc gây gổ Phần lớn hành vi bạo lực của các

em trai được giải thích dựa trên nhân tố về môi trường và xã hội trong suốt quãng thời thơ

ấu hoặc thời gian là vị thành niên Những cậu bé chứng kiến cảnh bạo lực hoặc là nạn nhân

của bạo lực có khả năng trở thành người bạo lực ( từ bạo lực đến chung sống hòa bình – 13)

11-Theo ti ếp cận nữ quyền, các nhà nữ quyền vận dụng khái niệm chế độ gia trưởng để

giải thích, người chồng sử dụng hành vi bạo hành với vợ là một cách thể hiện quyền gia trưởng và khẳng định vị trí thống trị của mình Người vợ nếu chống lại ý muốn của chồng thì họ rất dễ có thể trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình (33)

Hiện nay, nhiều xã hội được xây dựng trên cơ sở hệ thống mà ở đó người đàn ông có nhiều quyền lực về tài chính và chính trị hơn phụ nữ Những xã hội này được gọi là “xã hội gia trưởng” Trong xã hội này, người đàn ông giữ vị trí thống trị về chính trị, kinh tế và được xem là người đứng đầu, đại diện cho gia đình Sức mạnh của nam giới được củng cố

bởi niềm tin rằng người đàn ông luôn mạnh mẽ và có khả năng lãnh đạo hơn là phụ nữ Điều này đã dẫn đến sự tiếp cận không bình đẳng của phụ nữ đối với giáo dục, đào tạo các

kỹ năng, cơ hội nghề nghiệp và các nguồn lực tài chính từ đó tiếp tục duy trì thậm chí củng

cố mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa đàn ông và phụ nữ Mục đích của bạo lực gia đình là phát triển, củng cố quyền lực và sự kiểm soát đối với người khác

1.2.6 P hụ nữ có chồng bạo hành

a Khái ni ệm phụ nữ có chồng bạo hành

Người phụ nữ có chồng bạo hành là người phụ nữ có chồng thường sử dụng bạo lực

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tuổi của khách thể tham gia nghiên cứu - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.1. Tuổi của khách thể tham gia nghiên cứu (Trang 54)
Bảng 2.2. Trình độ học vấn - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.2. Trình độ học vấn (Trang 55)
Hình th ức bạo hành tình dục ( ĐTB = 1.73, thứ hạng 5). - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Hình th ức bạo hành tình dục ( ĐTB = 1.73, thứ hạng 5) (Trang 58)
Bảng 2.6. Hình thức bạo hành tinh thần. - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.6. Hình thức bạo hành tinh thần (Trang 59)
Bảng 2.7. Hình thức bạo hành kinh tế. - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.7. Hình thức bạo hành kinh tế (Trang 60)
Bảng 2.8. Hình thức bạo hành tình dục. - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.8. Hình thức bạo hành tình dục (Trang 61)
Hình th ức bạo hành tình dục của chồng khiến không ít chị em phải đau khổ chịu đựng - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Hình th ức bạo hành tình dục của chồng khiến không ít chị em phải đau khổ chịu đựng (Trang 62)
Bảng 2.10. Nhận thức của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành về vấn đề BH - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.10. Nhận thức của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành về vấn đề BH (Trang 63)
Bảng 2.11. Cảm xúc của phụ nữ khi bị chồng bạo hành. - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.11. Cảm xúc của phụ nữ khi bị chồng bạo hành (Trang 64)
Bảng 2.12. Những hành động phản ứng của phụ nữ khi bị chồng bạo hành. - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.12. Những hành động phản ứng của phụ nữ khi bị chồng bạo hành (Trang 65)
Bảng 2.13. Những nguyên nhân ảnh hưởng dẫn đến việc BH của chồng đối với vợ. - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.13. Những nguyên nhân ảnh hưởng dẫn đến việc BH của chồng đối với vợ (Trang 66)
Bảng 2.15. Nhu cầu về các hình thức dịch vụ THVTL của PN có chồng BH - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.15. Nhu cầu về các hình thức dịch vụ THVTL của PN có chồng BH (Trang 70)
Bảng 2.18. Nhu cầu về phẩm chất tâm lý của TVV - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.18. Nhu cầu về phẩm chất tâm lý của TVV (Trang 72)
Bảng 2.17. Nhu cầu về tuổi của tham vấn viên. - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
Bảng 2.17. Nhu cầu về tuổi của tham vấn viên (Trang 72)
Hình  ảnh) - nhu cầu tham vấn tâm lý của phụ nữ đang sống cùng chồng bạo hành
nh ảnh) (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w