M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức HĐNT của HS đã và đang dược nhiều nhà Didactic vật lý quan tâm trong những năm gần đây: Dạy học theo quan điểm
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: T.S LÊ THỊ THANH THẢO
TP HỒ CHÍ MINH 9-2003
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Em xin bày t ỏ lòng biết ơn các thầy cô trong tổ Phương Pháp Giảng Dạy, Khoa V ật Lý, Phòng Quản Lý Nghiên Cứu Khoa Học, Phòng Đào Tạo trường Đại học sư Phạm thành phố HỒ CHÍ MINH đã khuyến khích, quan tâm giúp đỡ
và t ạo điều kiện cho em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn cô T.S Lê Thị Thanh Thảo - người đã
tr ực tiếp khuyến khích, hướng dẫn em thực hiện hoàn thành đề tài bằng tất cả
s ự tận tình và trách nhiệm
Nhân d ịp này tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám đốc sở GD-ĐT tỉnh Bến- Tre, Ban Giám hi ệu các trường THPT Châu Thành A, THPT Ba Vát, THPT Bán công Phước Mỹ Trung huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre và thầy Huỳnh Văn Miêng
Hi ệu Trưởng trường THPT Ba Vát, thầy giáo Cao Huy Thanh tạo điều kiện cho
vi ệc thực hiện đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 9 năm 2003
Trang 33
M ỤC LỤC
L ỜI CÁM ƠN 2
NH ỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 3
M Ở ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PPDH NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH C ỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 10
1.1 KHÁI NI ỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 10
1.1.1 B ẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG HỌC VẬT LÝ 11
1.1.2 B ẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY VẬT LÝ 13
1.2 TÍCH C ỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VẬT LÝ CỦA HỌC SINH 15
1.2.1 TÍCH C ỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC 15
1.2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA TÍCH CỰC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VẬT LÝ C ỦA HỌC SINH 16
1.2.3 S Ự CẦN THIẾT PHẢI TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN TH ỨC CỦA HỌC SINH {8}{23}{24}{25} 21
1.3 D ẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 23
1.3.1 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 26
1.3.2 PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TRONG DAY HỌC VẬT LÝ 29
1.3.3 PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG TƯ: 35
1.4 T Ổ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO NHÓM: 38
1.4.1 KHÁI NI ỆM VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO NHÓM: 38
1.4.2 C ẤU TRÚC CỦA MỘT TIẾT HỌC (HAY MỘT BUỔI LÀM VIỆC) THEO NHÓM: 39
1.4.3 NH ỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DẠY HỌC THEO NHÓM: 40
1.4.4 NH ỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO NHÓM: 41
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
Trang 44
CHƯƠNG 2 SOẠN THẢO TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHƯƠNG "MẮT VÀ CÁC
D ỤNG CỤ QUANG HỌC" THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ
L ỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 44
2.1 PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH 44
2.1.1.NH ẬN XÉT CHUNG PHẦN QUANG HÌNH HỌC: 44
2.1.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG PHẦN QUANG HÌNH HỌC: 45
2.1.3 CÁC KHÁI NI ỆM CƠ BẢN 46
2.1.4 ĐỂ THẤY MỘT VẬT HAY MỘT ẢNH MẮT PHẢI ĐẶT VỊ TRÍ NÀO? 48
2.2 N ỘI DUNG VÀ CÁC KIẾN THỨC TRỌNG TÂM CỦA CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC D ỤNG CỤ QUANG HỌC “ LỚP 12 THPT: 50
2.2.1 CƠ CẤU CHƯƠNG TRÌNH: 50
2.2.2 KI ẾN TH ỨC TRỌNG TÂM CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG H ỌC” 51
2.3 TÌM HI ỂU TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC D ỤNG CỤ QUANQ HỌC” Ở TRƯỜNG THPT 53
2.3.1 N ỘI DUNG TÌM HIỂU: 54
2.3.2 PHƯƠNG PHÁP TÌM HIỂU: 54
2.3.3 K ẾT QUẢ ĐIỀU TRA TÌM HIỂU: 54
2.4 TI ẾN TRÌNH DẠY – HỌC TỪNG BÀI CỤ THỂ 57
2.4.1 Ý ĐỒ SOẠN THẢO CHUNG CHO CẢ CHƯƠNG "MẮT VÀ CÁC D ỤNG CỤ QUANG HỌC" 57
2.4.2 BÀI: M ẮT VÀ MÁY ẢNH 59
2.4.3 BÀI: CÁC T ẬT CỦA MẮT VÀ CÁCH SỬA 66
2.4.4 BÀI: KÍNH LÚP 79
2.4.5 BÀI: KÍNH HI ỂN VI - KÍNH THIÊN VĂN 86
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 103
CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 104
3.1 M ỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 104
Trang 55
3.1.1 M ỤC ĐÍCH: 104
3.1.2 NHI ỆM VỤ: 104
3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM: 104
3.3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM: 104
3.4 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM: 106
3.4.1 PHÂN TÍCH HO ẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ TRONG QUÁ TRÌNH TH ỰC NGHIỆM SƯPHẠM: 106
3.4.2 PHÂN TÍCH BÀI KI ỂM TRA 110
3.4.3 X Ử LÝ SỐ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH KIỂM TRA: 116
K ẾT LUẬN CHƯƠNG III 126
K ẾT LUẬN CHUNG 128
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 131
PH Ụ LỤC 134
Trang 63
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
PPDH Phương pháp dạy học THPT Trung học phổ thông
Trang 7DỤC - ĐÀO TẠO phải đổi mới PPDH, khắc phục lối truyền thụ một chiều mà xưa nay thường đi theo 3 bước cơ bản như sau: Trước hết GV sử dụng các bài
học trong SGK và truyền thụ cho HS qua bài giảng của mình nhằm giới thiệu cho HS các khái niệm khoa học, toán học, bước tiếp theo GV bắt đầu giải các bài tập mẫu trên bảng đồng thời cho HS làm bài tập cụ thể, và bước cuối cùng, khi thực hiện các thí nghiệm GV hướng dẫn cho HS một cách cụ thể các bước trình tự, sau đó HS tự mình rút ra các kết quả nhận được qua thí nghiệm {21} Trên 30 năm nghiên cứu một cách khoa học về nhận thức và thử nghiệm trong các lớp học, các nhà giáo dục học thấy rằng PPDH truyền thống chưa đáp ứng được với nhu cầu hiện tại Vấn đề ở chỗ là người học phải đối diện với nhiều thông tin mới và phải tạo ra nhiều mối quan hệ khác nhau
Đổi mới PPDH là một việc làm phức tạp, khó khăn vì nó đòi hỏi người dạy
và người học đều phải đấu tranh gian khổ với thói quen đã có từ lâu đời trong
dạy và học
Chúng ta đều biết hiện nay, PPDH tốt nhất là không những trang bị cho HS
những kiến thức, kỹ năng mà loài người đã tích lũy được mà quan trọng là phải
bồi dưỡng cho HS những khả năng giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt ra và khả
năng sáng tạo Việc sử dụng PPDH nhằm tích cực hóa hoạt HĐNT của HS trở nên yêu cầu cấp bách đối với GV nói chung và đối với GV Vật lý THPT nói riêng vì tích cực là động lực là tiền đề của hoạt động độc lập
Trang 8giảng dạy của GV thông thường được tiến hành theo các bước:
- Định nghĩa: Nêu tác dụng của các dụng cụ quang học
- Cấu tạo: Trình bày cấu tạo theo SGK và nói tác dụng của các phần
tử trong các dụng cụ
- Chứng minh công thức: Tính độ bội giác từng dụng cụ
Cuối cùng HS thụ động tiếp thu kiến thức do GV truyền đạt mà không phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác để chiếm lĩnh kiến thức, để hình thành
và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo sử dụng từng dụng cụ một cách hợp lý và vừa sức
Xuất phát từ các vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài "PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONGDẠY HỌC CHƯƠNG MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC" Lớp 12 THPT làm đề tài nghiên cứu luận văn
2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức HĐNT của HS đã
và đang dược nhiều nhà Didactic vật lý quan tâm trong những năm gần đây:
Dạy học theo quan điểm phát triển nhận thức là dạy học từng bước hướng tới sự hình thành và phát triển năng lực nhận thức, một năng lực chung, đặc thù và quan trọng cho việc hình thành năng lực nghề nghiệp sau này
Rubinstein đã khẳng định: Năng lực của con người được hình thành và phát triển qua những việc mà con người làm Nhận thức là một hoạt động đặc
Trang 96
thù của con người, vì thế năng lực nhận thức cũng chỉ có thể được hình thành và phát triển bằng cách chính hoạt động nhận thức cá thể của mỗi người Dạy học quan tâm đến phát triển nhận thức là dạy học quan tâm đến việc tổ chức HĐNT
nhằm từng bước hình thành và rèn luyện các thao tác, kỹ năng, kỹ xảo (tay chân hay trí tuệ) và từng bước sử dụng chúng trong các hoạt động nhận thức được tổ
chức phù hợp và đảm bảo tính khoa học cũng chỉ dạy theo quan điểm phát triển năng lực nhận thức mới giúp con người hình thành và phát triển các phẩm
chất tâm lý tốt đẹp của người lao động mới như: Tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, độc lập, trung thực và kiên trì
Đối với HS THPT tham gia vào HĐNT được tổ chức khách quan và phù
hợp từ ít đến nhiều, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn, từ đơn giản đến phức tạp làm cho HS không những chiếm lĩnh được tri thức mà còn từng bước hình thành
và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Vận dụng các quan điểm trên, nghiên cứu việc sử
dụng các PPDH nhằm tích cực hoá HĐNT của HS, góp phần cải thiện chất lượng học tập của HS trong quá trình dạy học chương "MẮT VÀ CÁC DỤNG
CỤ QUANG HỌC" Lớp 12 THPT theo hướng kích thích hứng thú, tính tích
cực, tự lực tham gia giải quyết vấn đề trong học tập của HS
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng và phối hợp một số PPDH đã được lựa chọn phù hợp thì có
thể phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong học tập góp
phần cải thiện chất lượng dạy học chương "MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC" ở lớp 12 THPT
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học chương "MẮT VÀ
CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC"
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Các PPDH, lựa chọn sử dụng các PPDH, Hoạt
động dạy và học của GV và HS nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo
Trang 106 NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng, lựa chọn các PPDH vật lý nói chung và quá trình dạy học các bài học vật lý có liên quan đến thực tiễn
cuộc sống, các ứng dụng vật lý có khả năng phát huy tính tích cực HĐNT của
những khó khăn của học sinh và nguyên nhân của các khó khăn đó trong quá trình học tập
6.4 Nghiên cứu và sử dụng thiết bị sẵn có ở trường THPT, hướng dẫn học sinh sử dụng và sáng tạo thiết bị để phục vụ việc dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Biên soạn một số bài tập có liên quan đến chương "Mắt và các dụng cụ quang học" nhằm phát huy tính tích cực nhận thức nâng cao chất lượng dạy và
học
Trang 118
6.5 Soạn thảo tiến trình dạy học 4 bài chương "Mắt và các dụng cụ quang
học" theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh nhằm tích cực hóa HĐNT của học sinh
6.6 Tiến hành thực nghiệm sư phạm tiến trình dạy học đã soạn thảo nhằm xác định mức độ phù hợp, tính khả thi, hiệu quả của từng tiến trình đối với việc phát huy tính tích cực nhận thức, tự lực giải quyết vấn đề trong quá trình học tập
nhằm nâng cao chất lượng trong dạy học chương "Mắt và các dụng cụ quang
học"
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Nghiên c ứu lý luận
- Nghiên cứu chương trình, nội dung SGK, sách giáo viên và các tài liệu liên quan, xác định nội dung các kiến thức mà học sinh cần phải nắm vững từ
những kiến thức đã học, để HS có thể phát huy tính tự lực, chủ động ứng dụng vào những lĩnh vực sâu hơn rộng hơn
- Đọc và tìm hiểu lý luận từ sách, báo, tạp chí, văn bản, nghị quyết để làm sáng tỏ quan điểm đề tài hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề trong dạy học vật
lý nói chung, trong chương "Mắt và các dụng cụ quang học" nói riêng
7.2 Phương pháp điều tra và khảo sát
Tìm hiểu việc dạy và học (thông qua dự giờ, trao đổi với GV, HS) ở trường THPT, phân tích kết quả nhằm đánh giá sơ bộ tình hình dạy học phần quang hình học nói chung và chương vật lý ứng dụng "Mắt và các dụng cụ quang học"
ở lớp 12 THPT nói riêng
7.3 Th ực nghiệm sư phạm
Tiến hành giảng dạy ở trường THPT theo phương án đã soạn thảo, nhằm
khẳng định tính khả thi của việc lựa chọn PGDH, các biện pháp sư phạm đã sử
dụng với mục đích phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Trang 129
Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý, thống kê, đánh giá kết quả
giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (lớp không giảng dạy theo phương án đã
soạn) để đánh giá thực nghiệm sư phạm, từ đó rút ra kết luận của đề tài
Trang 1310
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PPDH NH ẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC
VÀ SÁ NG TẠO CỦA HỌC SINH
1.1 KHÁI NI ỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất của thuật ngữ này, là con đường
là cách thức (hay tập hợp những thủ pháp, những thao tác trí tuệ hay tay chân)
nhằm thực hiện thành công một nhiệm vụ nào đó {24}
Vậy phương pháp có tính mục đích, được qui định bởi mục đích và phụ thuộc vào điều kiện, Phương pháp có nhu cầu cải tiến hay đổi mới khi nhiệm vụ
cần thực hiện thay đổi; mức thành công của việc thực hiện nhiệm vụ phụ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan (mối quan hệ giữa mục đích, nội dung điều kiện và phương pháp) Mục đích qui định nội dung, nhiệm vụ và phương pháp cần thực hiện, phương pháp được xây dựng trên cơ sở lý luận nhất định, chính tính khoa học của một phương pháp nào đó tạo nên tính thuyết phục của
nó, phương pháp không đơn thuần là sự đúc kết kinh nghiệm
Như vậy, PPDH là cách thức hoạt động của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức
hoạt động cho HS nhằm đạt đến mục tiêu dạy học
Thuật ngữ dạy - học vốn dùng để phản ánh hoạt động của người dạy
Nhưng đối tượng của hoạt động dạy là người học, người học vừa là đối tượng
của hoạt động dạy lại vừa là chủ thể của hoạt động học Nếu người học không
chủ động học, không có cách dạy tốt thì việc dạy khó mà đạt kết quả mong
muốn Bởi vậy PPDH bao gồm cả cách thức dạy của GV và cách thức học của
HS Như vậy phương pháp dạy - học và chức năng cơ bản của dạy là dạy cách
học, trong hoạt động dạy - học thì GV giữ vai trò chỉ đạo, HS có vai trò chủ động
Trang 1411
1.1.1 B ẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG HỌC VẬT LÝ
Không thể quan niệm sự hình thành kiến thức (sự học) của HS chỉ đơn thuần là cho HS ghi nhớ vào đầu óc xem như cái có sẵn (được diễn tả bằng ngôn ngữ hay tài liệu), sự dạy của GV chỉ là sự trình diễn kiến thức, chỉ cần cố
gắng sao cho sự trình diễn là chính xác, rõ ràng trực quan và đầy đủ những nội dung kiến thức như thế Cũng không thể quan niệm thực chất của sự học là ở
chỗ người học đạt được (thể hiện ra được) những hành vi chính xác nào đó hay đơn giản là sự tái tạo lại những điều đã được học
Chúng ta phải thừa nhận rằng: Hiện nay phần lớn GV vẫn dạy theo cách như đã dạy mấy chục năm qua "Thuyết trình có kết hợp với đàm thoại" là chủ
yếu, vì thực chất là "thầy truyền đạt, trò tiếp nhận, ghi nhớ" Cách dạy "Thầy đọc, trò ghi" thậm chí "thầy đọc, chép và trò chép" một cách nhồi nhét dạy chay Kết quả là học sinh chưa biết tự học theo hướng tích cực
Tâm lý học và lý luận dạy học hiện đại khẳng định "Con đường có hiệu
qu ả nhất để làm cho học sinh nắm vững kiến thức và phát triển năng lực sáng
t ạo phải đưa học sinh vào chủ thể hoạt động nhận thức Nắm vững kiến thức,
th ật sự lĩnh hội chúng, cái đó học sinh phải tự làm lấy bằng trí tuệ của bản thân"
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người nhằm tiếp thu những trí
thức, kỹ năng, kinh nghiệm của loài người tích lũy được, đồng thời phát triển
phẩm chất năng lực của người học, HS tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm nhằm sử dụng chúng trong hoạt động thực tiễn của mình Như vậy người học không phải là tiếp thu một cách thụ động dưới dạng đúc kết một cách
cô đọng, chuyển trực tiếp từ GV, từ sách vở, tài liệu vào óc của mình mà phải thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà tái tạo lại chúng Những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà người học tái tạo lại không gì mới đối với nhân loại,
nhưng những biến đổi trong bản thân người học, sự hình thành phẩm chất và
Trang 1512
năng lực ở người học thật sự là những thành tựu mới, chúng giúp cho người học sau này sáng tạo ra những giá trị mới
Học tập là quá trình biến đổi nhận thức và hoàn thiện nhân cách, đó chính
là mục đích của việc dạy học Ví dụ khi học vật lý những định luật vật lý, kỹ năng sử dụng các máy đo, kinh nghiệm tiến hành các thí nghiệm vật lý đều là
những điều loài người đã biết, học sinh tái tạo lại chúng để biến đổi chúng thành
vốn liếng của bản thân mình chứ không đem lại điều gì mới mẽ cho kho tàng
kiến thức vật lý Nhưng bản thân học sinh thông qua hoạt động tái tạo kiến thức
đó trưởng thành lên về mặt nhận thức
Cấu trúc của hoạt động học gồm nhiều thành phần có quan hệ và tác động
lẫn nhau, một bên là động cơ, mục đích, điều kiện phương tiện bên kia là hoạt động, hành động và thao tác {26}
Phương tiện Thao tác
Động cơ học kích thích tính tự giác, tích cực thúc đẩy sự hình thành và duy trì phát triển hoạt động học đưa đến kết quả cuối cùng thỏa mãn được lòng khao khát mong ước của người học Muốn thỏa mãn được động cơ ấy phải thực hiện
lần lượt những hành động để đạt được mục đích cụ thể
Để thực hiện mỗi mục đích cụ thể, phải thực hiện những hành động tương ứng, có thể thực hiện một hành động nhưng thông thường phải phối hợp nhiều hành động mới đạt được một mục đích Nhiệm vụ bài học thường được diễn tả dưới dạng các "bài toán nhận thức" hay "vấn đề nhận thức" mà nếu giải được nó thì học sinh sẽ đạt được mục đích đề ra
Tóm lại: Việc học tập của HS là một loại hoạt động đặc thù của con người
Hoạt động nào cũng có đối tượng Thông thường các hoạt động khác có đối
Trang 1613
tượng là một khách thể Trong khi đó, hoạt động học lại làm cho chính chủ thể (người học) của hoạt động biến đổi và phát triển Đối tượng của hoạt động là tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo cần chiếm lĩnh, nhưng chính là sự chiếm lĩnh này mà các
chức năng tâm lý của chủ thể mới được thay đổi và phát triển
1.1.2 B ẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY VẬT LÝ
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động của GV và HS trong sự tương tác
biện chứng của 3 thành phần hệ dạy học: GIÁO VIÊN HỌC SINH PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
-Mục đích của hoạt động dạy là làm cho HS lĩnh hội được kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo, kinh nghiệm xã hội đồng thời hình thành và phát triển ở họ phẩm
chất và năng lực Như ta đã biết HS đạt được mục đích đó bằng hoạt động của
bản thân họ Dạy vật lý không phải là giảng giải, minh họa cho HS hiểu ý nghĩa
của các khái niệm, định luật vật lý, uốn nắn họ thực hiện đúng những kỹ năng,
kỹ xảo của các nhà nghiên cứu vật lý, nhồi nhét vào đầu họ những kinh nghiệm
xã hội đã được đốc kết hoàn chỉnh Theo quan điểm hiện đại, dạy vật lý là tổ
chức, hướng dẫn cho HS thực hiện các hành động nhận thức vật lý để họ tái tạo được kiến thức, kinh nghiệm xã hội biến chúng thành vốn liếng của mình đồng
thời biến đổi bản thân học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất năng
lực của họ.{26}
Muốn thực hiện tốt mục đích trên của hoạt động dạy người GV cần phải nghiên cứu hoạt động học, căn cứ vào hoạt động học của mỗi đối tượng cụ thể
mà định ra những hành động dạy thích hợp, trước hết là những hành động để tạo
những điều kiện thuận lợi giúp HS thực hiện tốt các hành động học tập Những điều kiện đó cụ thể là:
1.1.2.1 Đảm bảo cho HS có điều kiện tâm lý thuận lợi để tự lực hoạt động:
a- Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi đúng động cơ hứng thú tìm tòi cái mới b- Tạo ra môi trường sư phạm thuận lợi
Trang 1714
1.1.2.2 T ạo điều kiện để HS có thể giải quyết thành công nhiệm vụ được giao:
a- Lựa chọn một lôgic nội dung bài học thích hợp
b- Rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện tốt một số thao tác cơ bản bao gồm thao tác chân tay và thao tác tư duy
c- Cho HS làm quen với các phương pháp nhận thức vật lý đã được sử
dụng phổ biến
Nói chung bản chất của hoạt động dạy vật lý cũng căn cứ vào mục tiêu giáo dục được luật giáo dục nêu ra: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất năng lực của công dân, đào tạo ra những người lao động phát triển toàn diện… có học vấn, ngh ề nghiệp, năng động và sáng tạo…" {2} Ta có thể nhận thấy rằng để đạt
mục tiêu trên, Giáo dục phổ thông không thể hạn chế ở nhiệm vụ trang bị một
khối lượng kiến thức nhất định, mà quan trọng hơn rất nhiều là trang bị cho học sinh một tiềm lực để có thể tiến xa hơn những kiến thức hiểu biết mà nhà trường cung cấp cho họ
Quán triệt những quan điểm cơ bản trên đây của giáo dục, chúng ta có thể
sơ bộ vạch ra những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục vật lý trong trường phổ thông
* Giúp HS chiếm lĩnh hệ thống kiến thức cơ bản theo hướng cố gắng bắt
kịp sự phát triển không ngừng của hệ thống kiến thức khoa học vật lý
* Góp phần hình thành ở người học năng lực nhận thức và năng lực sáng
tạo thông qua việc dạy hệ thống kiến thức vật lý, bồi dưỡng cho họ ý chí vươn lên, năng lực tự học, năng lực tự nghiên cứu
* Cùng với việc dạy kiến thức là giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng ý chí, thế
giới quan khoa học và những phẩm chất quan trọng của nhân cách
* Giáo dục kỹ thuật tổng hợp theo hướng tiếp cận với khoa học công nghệ
Trang 1815
Vật lý học do tầm quan trọng và tính đặc thù của mình có ảnh hưởng rất
lớn tới sự phát triển khả năng trí tuệ chung của học sinh, phương pháp nhận
thức các vấn đề vật lý là cần thiết và gần gũi với tất cả mọi người Có năng lực
nhận thức trong vật lý giúp ích rất nhiều trong việc giải quyết rất nhiều vấn đề trong tự nhiên, kỹ thuật và xã hội Vì vậy phát triển năng lực nhận thức của học sinh trong dạy học vật lý góp phần rất quan trọng để đào tạo con người lao động
mới đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển xã hội
C ỦA HỌC SINH
1.2.1 TÍCH C ỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC
Theo P.N Erdơniev "Một sự nhận thức được làm cho dễ dàng đi và được
thực hiện dưới dạng chỉ đạo của GV"Vì vậy nói đến sự tích cực học tập, thực
chất là nói đến tích cực HĐNT
Tính tích cực HĐNT là trạng thái HĐNT của HS đặc trưng ở khát vọng
học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức, khác với quá trình nhận thức trong khoa học Quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết về bản chất qui luật của các hiện tượng khách quan mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích
lũy được Tuy nhiên trong học tập HS cũng phải "khám phá" ra những hiểu biết
mới đối với bản thân mình, dù đó chỉ là khám phá lại những điều loài người đã
- Có cảm xúc học tập thể hiện ở niềm vui, sự sốt sắng thực hiện nhiệm vụ
học tập một cách tự giác theo yêu cầu của GV
Trang 1916
- Tập trung chú ý cao, thể hiện ở việc lắng nghe và theo dõi mọi hành động
của GV, tự giác thực hiện chu đáo, nhanh gọn, đầy đủ, chính xác các yêu cầu
Theo GS-TS Trần Bá Hoành tính tích cực của HS được chia làm 3 cấp độ
từ thấp đến cao như sau: {8}
- Tích cực bắt chước: Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của giáo viên
của bạn bè, Trong sự tích cực bắt chước cũng phải có sự gắng sức của thần kinh
và cơ bắp
- Tích cực tìm tòi: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, mò
mẫn những cách giải quyết khác nhau để tìm ra lời giải đáp hợp lý nhất
- Tích cực sáng tạo: HS tìm ra cách giải quyết mới độc đáo hơn hoặc cấu
tạo những bài tập mới hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm để chứng minh bài học Dĩ nhiên mức độ sáng tạo của HS là có hạn nhưng đó là mần mống để phát triển khả năng sáng tạo sau này
1.2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA TÍCH CỰC HOẠT ĐỘNG NHẬN
TH ỨC VẬT LÝ CỦA HỌC SINH
Dạy học nhằm tích cực hoá hoạt HĐNT của HS là dạy học nhằm tổ chức,
hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sởtính tự giác độc lập và được tạo khả năng và điều kiện chủ động trong hoạt động đó
Mỗi môn học có một đặc thù riêng và phương pháp nhận thức đặc thù của bộ môn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình tìm tòi và thiết kế những giải pháp dạy - học bộ môn Hay nói một cách cụ thể hơn, dạy học tích cực hóa vật
lý là cách dạy tạo ra môi trường, tạo ra tiền đề để HS có thể tự mình tham gia tích cực các hoạt động học tập, tích cực chủ động tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu
Trang 2017
cầu học tập của cá nhân hình thành sự năng động sáng tạo trong tư duy vật lý và
khả năng tự học, tự lực, tích cực giải quyết vấn đề của vật lý học Với những đặc trưng tích cực hóa HĐNT vật lý của HS, chúng ta có thể phân biệt ra 3 loại như sau:
1.2.2.1 TÍCH C ỰC HÓA HĐNT CỦA HỌC SINH BẰNG CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC:
Việc hình thành cá tính của HS diễn ra trong quá trình dạy học, được thể
hiện chủ yếu trong các bài học Vì vậy đặc điểm làm việc của HS trong lớp học
có một ý nghĩa quyết định
Một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với bài học là đảm bảo sự phát triển toàn diện tính tự lực và tích cực của học sinh Nếu những phẩm chất
đó tham gia vào hoạt động tư duy tích cực một cách có hệ thống, được đặt ra
những khó khăn vừa sức, trước sự tất yếu tự lực tìm tòi câu trả lời cho các câu
hỏi, rút ra kết luận, thì việc tổ chức việc học tập như thế sẽ hình thành được
những người lao động sáng tạo, tích cực
Việc học tập không những là một quá trình tiếp thu và ghi nhớ các sự kiện,
hiện tượng, định luật, công thức vv đã được thông báo, mà còn là một quá trình lĩnh hội kiến thức, một quá trình có thể đạt được do việc nghiền ngẫm tài
liệu học với sự tự lực muôn hình muôn vẻ Trong trường hợp này tri thức thu
nhận sẽ sâu sắc và vững chắc do đó sẽ được hữu dụng
Việc đặt vấn đề cho đề tài bài học và cố gắng đảm bảo sự làm việc tích cực
của HS toàn lớp trong suốt cả giờ học, đó là biện pháp cơ bản của GV thường xuyên áp dụng được thể hiện qua việc phân tích và khái quát kinh nghiệm đã tích luỹ được, cho phép định ra những phương pháp hợp lý giải quyết vấn đề
1.2.2.2 TÍCH C ỰC HÓA HĐNT CỦA HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH TRUYỀN THỤ KIẾN THỨC MỚI:
Phần căn bản của đa số các bài học vật lý là truyền thụ kiến thức mới cho
HS Khi trình bày tài liệu mới, không kể là việc đó được tiến hành dưới hình
Trang 2118
thức như thế nào, HS cũng không thể là người nghe thụ động Nếu trong một
thời gian dài gây cho họ một tác động sư phạm khiến cho họ phải tích cực tư duy thì điều đó sẽ dẫn tới sự hình thành được những phẩm chất vững chắc tương ứng với hoạt động trí tuệ
Tâm lý học hiện đại đã nêu rõ sự lĩnh hội kiến thức, tính tích cực của tư duy được kích thích khi xuất hiện "tình huống có vấn đề" Ian Amôt Komenxki nêu rõ "GV trước khi bắt đầu mỗi công việc thì hoặc là làm cho HS chú ý tới
b ằng cách giới thiệu với họ tài liệu, đề ra hoặc là động viên họ bằng những câu
h ỏi về điều họ đã học qua để dẫn dắt tới tài liệu hiện thời hoặc là làm sao cho
HS ý th ức được sự kém cỏi của họ mà hào hứng càng nhiều càng tốt đối với
vi ệc tiếp thu sự giải thích đối tượng".{20} Như vậy HS ý thức được tầm quan
trọng của đề tài, bài học mà lĩnh hội kiến thức không những trên cơ sở những
lời giải thích của GV mà còn trực tiếp hoạt động của bản thân HS, nhất là khi
GV tổ chức một cách đặc biệt để đạt được việc đó
Khi đó HS lĩnh hội kiến thức vật lý một cách tích cực, có ý thức và vững
chắc, khi củng cố kiến thức GV đặt ra những câu hỏi đòi hỏi HS không phải chỉ đơn giản tái hiện những điều mà họ đã nghe GV nói hoặc đã đọc trong SGK mà đòi hỏi họ phải gia công sáng tạo dù là nhỏ nhất Chẳng hạn như trong phần quang hình học các định luật phần xạ và khúc xạ được nghiên cứu trên cơ sở
thực nghiệm, còn những vấn đề khác như đường đi của tia sáng qua lăng kính,
sự phản xạ toàn phần, gương và thấu kính thì HS tự lực phân tích, dĩ nhiên là dưới sự chỉ đạo của GV bằng cách áp dụng những kiến thức mà họ đã nắm
vững
Việc tích cực hóa học tập của HS khi trình bày tài liệu mới đã và đang xúc
tiến rất mạnh Việc sử dụng thí nghiệm, thí nghiệm ở lớp liên hệ hữu cơ với các bài học Thí nghiệm được đề ra để luận chứng cho một vấn đề đã đặt ra, để đi tìm câu trả lời cho vấn đề đó hoặc để kiểm chứng những qui luật vật lý nào đó Trong mọi trường hợp việc tiến hành thí nghiệm phải có lý lẽ xác đáng và mục đích của nó phải được sáng tỏ rõ ràng Thí nghiệm xét toàn bộ và những giai
Trang 2219
đoạn riêng biệt của nó được hoạch định với sự tham gia tích cực của HS, GV
nhắc lại cần phải làm cái gì và làm như thế nào và làm để làm gì, chọn lọc một cách có căn cứ những dụng cụ để làm thí nghiệm, phán đoán kết quả của mỗi thao tác trung gian và kết quả cuối cùng
Công tác thực nghiệm cũng có một ý nghĩa lớn lao đối với việc lĩnh hội
kiến thức của HS một cách tự lực khi GV trình bày tài liệu mới Chẳng hạn như khi quan sát một hiện tượng vật lý mà qui luật của chúng đang được nghiên cứu trong bài học đã cho, những thí nghiệm thực tập nhỏ (5-10 phát) được thảo luận trong giờ học cũng để dẫn dắt HS tới những kết luận cần thiết trong cuộc hỏi
đáp gợi mở việc giải những bài toàn thực nghiệm, toán đồ thị, toán đố vv Ví
dụ: Khi dạy nội dung bài Kính Lúp, GV nêu vấn đề: Muốn nhìn rõ chi tiết của các vật nhỏ theo điều kiện nhìn rõ của mắt, với những dụng cụ như gương cầu
lồi, gương cầu lõm, thấu kính hội tụ, thấu kính phân kỳ thì dụng cụ nào đáp ứng được yêu cầu nêu trên? Khi đã có các đụng cụ trong tay, tìm dụng cụ thích hợp cho yêu cầu được nêu, buộc HS tham gia một cách tích cực và chú ý đặc biệt vào cuộc hỏi đáp trong đó GV phân tích hiện tượng mới (phải là thấu kính hội
tụ có tiêu cự ngắn) đối với HS Những kiến thức mới đối với HS được trình bày dưới hình thức nêu và giải quyết vấn đề thì được HS tiếp thu một cách tích cực
nhất, sự phát triển tư duy của HS phụ thuộc trực tiếp vào đặc điểm các câu hỏi
của GV khi tổ chức việc hỏi đáp đó
1.2.2.3 TÍCH C ỰC HÓA HĐNT CỦA HS KHI HOÀN THÀNH CÁC CÔNG TÁC TH ỰC HÀNH VÀ KHI LUYỆN TẬP:
Có hai hình thức công tác tự lực của HS đã thâm nhập vững chắc vào thực
tiễn công tác của GV vật lý: Thí nghiệm thực tập (đồng loạt và thực hành vật lý)
và giải toán vật lý Trong thực tế hiện nay, ở trường THPT thí nghiệm thực tập
chỉ chiếm chưa đầy 11% toàn bộ thời gian dành cho việc học tập vật lý mặc dù không ai phủ nhận vai trò của nó, nó có một ý nghĩa to lớn trong việc hình thành
kiến thức mới và rèn luyện tính tự lực và phát triển kỹ năng, kỹ xảo Ở hầu hết các nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển tỉ lệ này đều vượt trên
Trang 2320
20%, nhiều nước qui định chặt chẽ là 50% số giờ vật lý phải được giảng dạy trong phòng thí nghiệm vật lý nghĩa là thông qua các thí nghiệm thực hành {28} Còn việc giải toán ở ta chiếm một vị trí khá lớn trong giảng dạy nhưng đáng tiếc là các hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện giải toán như hiện nay chưa phải bao giờ cũng đảm bảo được sự tự lực và sự tích cực của học sinh
một cách đầy đủ Hơn nữa nội dung những bài toán vật lý thường xa rời với
thực tiễn, làm cho việc giải toán vật lý không đạt được mục tiêu giúp HS nắm
vững những vận dụng vào thực tiễn đời sống, lao động, kỹ thuật
Theo kinh nghiệm của một số GV tiên tiến, trong công tác thực hành và luyện tập cố gắng đạt tới chỗ sao cho tính tự lực của học sinh càng đa dạng càng
tốt
Chúng ta có thể phân loại các dạng bài tập sau:
- Các bài t ập trong giờ học (bao gồm bài tập định tính và bài tập định lượng): Cần phải chỉ cho HS phân tích nội dung của các bài toán và phân tích
phương pháp giải chúng, tuy nhiên cần phải khá nhanh chuyển từ phân tích bài toán sang việc HS tự lực giải toán ở lớp (thông thường GV phân tích nêu số
liệu, mô hình đề nghị HS tự lực giải bài toán dưới sự giúp đỡ của GV nếu cần)
- Các bài toán làm th ực nghiệm và thí nghiệm thực tập: Đây là dạng toán
mà HS đặc biệt hứng thứ và tích cực suy nghĩ rất nhiều, dạng bài tập này có thể nêu bật lên tính chất nghiên cứu tới mức độ nhất định và đòi hỏi HS tự lực một cách tối đa Khác với các bài toán thực nghiệm mà cả lớp giải đồng thời, các bài
tập thực nghiệm GV giao cho từng nhóm HS có thể tính toán, chọn dụng cụ lắp đặt mô hình theo yêu cầu của nội dung bài học.Điều đáng lưu ý đối với GV bài làm có thể có mức độ phức tạp khác nhau nhưng nhất thiết phải vừa sức HS
- Đối với thí nghiệm thực tập: So với yêu cầu của bài học, HS tự lực suy
nghĩ kế hoạch hoàn thành thí nghiệm, xác định trình tự đo lường, chọn lọc dụng
cụ và vật liệu cần thiết, vẽ sơ đồ thiết bị, mô hình thực tập vv Sau khi lập kế
hoạch như thế HS bắt tay vào hoàn thành kế hoạch một cách có ý thức đầy đủ
và hoàn toàn tìm hiểu mọi chi tiết của công việc đề ra trước mắt Biện pháp này
Trang 24Tâm lý học cho rằng nhân cách của HS được hình thành thông qua các
hoạt động chủ động, thông qua các hành động có ý thức Vì vậy lựa chọn cách
tổ chức HĐNT học tập cho HS là hình thức học tập cho phép đạt đến nhiều mục đích tích cực Nhờ HĐNT được tổ chức một cách khoa học và phù hợp, HS có
thể:
- Phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo, khơi dậy sự hứng thú, lòng say mê và nhu cầu nhận thức, nhu cầu sáng tạo Đó là những phẩm chất tâm lý rất tốt đẹp, rất quan trọng của người lao động sáng tạo
- Chủ động chiếm lĩnh tri thức bằng chính HĐNT độc lập trên cơ sở triệt
để sử dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp nhận thức đã có Nhờ đó kiến thức
đã được nâng lên trình độ mới: trình độ thao tác, kiến thức mới được tiếp nhận
một cách có chọn lọc, phê phán và đánh giá trở nên bền vững hơn, tinh giản hơn
và tính công cụ cao hơn
- Từng bước trang bị và rèn luyện kỹ năng nhận thức, phương pháp nhận
thức đó chính là công cụ cần thiết để hoạt động nhận thức độc lập
- Nhờ từng bước được đặt vào HĐNT mang tính khoa học mà HS nắm được cách thức HĐNT hướng đến độc lập tổ chức HĐNT cá nhân
Chính vì những ý nghĩa tích cực đó mà tổ chức HĐNT trở thành định hướng rõ nét trong cải cách giáo dục hiện nay, nó trở thành định hướng chung cho việc giảng dạy tất cả các môn học trong đó có vật lý
Trong tổ chức HĐNT có ý nghĩa tích cực nhất là phương pháp làm sao cho người học phải thật sự trở thành chủ thể của hoạt động học - được cuốn hút vào
những hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó được tự lực khám phá những cái mình chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri
Trang 2522
thức đã được sắp đặt sẵn.{8} Tính tích cực nhận thức là một trong những yêu
cầu để HĐNT thành công đồng thời đó cũng là một trong những biểu hiện của năng lực nhận thức Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người
học trực tiếp quan sát, thảo luận làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó uốn nắn được kiến thức, kỹ năng mới, vừa nắm được những phương pháp "làm ra" những kiến thức, kỹ năng đó không nhất thiết rập theo những khuôn mẫu sẵn có, Hơn thế nữa, người học được bộc lộ và phát triển tiềm năng sáng tạo
Nhịp độ phát triển của kỹ thuật, công nghệ, khoa học của mọi mặt đời sống
xã hội ngày càng nhanh thêm và nhanh đến mức trong cuộc đời của một thế hệ
đã nhiều lần diễn ra những thay đổi căn bản trong nhiều lãnh vực khác nhau của
tồn tại xã hội, khiến những tri thức thu được trong những năm học ở nhà trường
trở thành không đủ nữa mà người ta cần thu lượm những tri thức mới Đồng
thời trong xã hội ngày nay nhu cầu chẳng những con người hiểu biết và khéo tay mà còn cần có năng lực đề ra và độc lập giải quyết những vấn đề mới Song các phương pháp dạy học quen biết đã được hình thành từ trước đây tỏ ra chưa
đủ đối với việc đào tạo những người có nhu cầu như thế
Chúng ta không đặt vấn đề gạt bỏ PPDH truyền thống đã có, mà cần phải
kế thừa phát triển những mặt tích cực trong các PPDH đã quen thuộc Nhưng
nếu chỉ giới hạn trong những thói quen cũ sẽ không đáp ứng được yêu cầu đổi
mới phương pháp giáo dục theo hướng hoạt động hoá người học, dạy học là phát triển nhận thức và hoàn thiện nhân cách
Chính vì vậy, ngay từ khi đi học nhất là từ khi bắt đầu một môn khoa học,
GV đã phải hướng dẫn, phải tổ chức cho HS biết giải quyết vấn đề do nhiệm vụ
học tập đề ra, không phải giải quyết một cách cảm tính mà phải giải quyết một cách khoa học có căn cứ vững chắc, đảm bảo HS tham gia vào HĐNT được
từng bước phát huy các phẩm chất tâm lý như tính tích cực, chủ động, độc lập
và sáng tạo Từng bước được lưu ý rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo tay chân và trí tuệ Phải thông hiểu kiến thức của bài học trong sự thông hiểu vai trò từng
Trang 2623
kiến thức trong hệ thống của từng môn học Trên cơ sở đó, có thể định hướng cho việc lựa chọn phương pháp nhận thức thích hợp để giải quyết vấn đề Quá trình học tập sẽ là quá trình liên tiếp giải quyết các vấn đề học tập Gọi là dạy-
học giải quyết vấn đề
1.3 D ẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Đây không phải là vấn đề mới Điều đáng chú ý là tập dượt cho HS phát
hiện và giải quyết vấn đề không chỉ phạm trù PPDH mà đã trở thành mục tiêu giáo dục, bảo đảm cho con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội
hiện đại
Từ những năm 1960, GV chúng ta đã làm quen với thuật ngữ "dạy học nêu
vấn đề" nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo Người ta cho rằng thuật ngữ "nêu vấn đề" chưa thành công vì có thể gây hiểu lầm là GV chỉ nêu
vấn đề thôi mà ít quan tâm đến vấn đề đó có được giải quyết hay không, giải quyết như thế nào Thực ra cần tập dượt cho học sinh biết phát hiện vấn đề, tự mình đặt ra để giải quyết Mặt khác, sự thành đạt trong cuộc sống không chỉ tuỳ thuộc năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề đặt ra trong thực tiễn mà quan
trọng là giải quyết hợp lý những vấn đề được đặt ra Vì vậy ngày nay người ta
có xu hướng dùng thuật ngữ "dạy học giải quyết vấn đề"
Trong dạy học giải quyết vấn đề ta có thể phân biệt 4 mức độ sau đây: {8}
- M ức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách
giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV, GV đánh giá kết quả làm việc của
HS
- M ức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý cho HS tìm ra cách giải quyết vấn đề, GV
và HS cùng đánh giá
- M ức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống, HS phát hiện và xác định
vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp, HS thực
hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS cùng đánh giá
Trang 2724
- M ức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình
hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết, HS giải quyết vấn đề tự đánh giá chất lượng về hiệu quả
Cấu trúc của bài học (hoặc một phần trong bài học) theo tiến trình giải quyết vấn đề như sau:
1 Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:
a Tạo tình huống có vấn đề
b Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
c Phát biểu vấn đề cần giải quyết
2 Gi ải quyết vấn đề đặt ra:
a Đề xuất các giả thuyết
b Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
c Thực hiện kế hoạch giải
3 K ết luận:
a Thảo luận kết quả và đánh giá
b Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu
c Phát biểu kết luận
d Đặt vấn đề mới
Đặc điểm của quá trình HS giải quyết vấn đề:
Để HS giải quyết vấn đề thành công, vai trò của GV không hề bị hạ thấp
mà trái lại có yêu cầu cao hơn nhiều so với khi người GV chỉ đóng vai trò truyền thụ kiến thức, GV không những cần có trình độ chuyên môn sâu rộng mà đòi hỏi phải có trình độ sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới
có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV Theo các nhà giáo dục và các GV tiên tiến khi HS tham gia giải quyết vấn đề có những đặc điểm sau: {25}
Trang 2825
* V ề động cơ hứng thú và nhu cầu:
Khác với nhà khoa học khi giải quyết vấn đề là để xác định được mục đích,
tự nguyện đem hết sức mình giải quyết cho bằng được vấn đề đặt ra, coi đó là nhu cầu cấp bách của cá nhân, còn đối với HS động cơ, hứng thú đang được hình thành, ý thức về mục đích trách nhiệm còn mờ nhạt, do đó chưa tập trung chú ý đem hết sức mình để giải quyết vấn đề học tập
* V ề năng lực giải quyết vấn đề:
Đây chỉ là bước đầu làm quen với việc giải quyết vấn đề một cách khoa
học Vấn đề đặt ra cho HS giải quyết phải vừa sức và GV phải tổ chức một khoa
học vì kiến thức, kinh nghiệm, năng lực của HS còn hạn chế
* V ề thời gian cho việc giải quyết vấn đề:
Thời gian dành cho HS giải quyết vần đề rất ngắn, thậm chí chỉ có 30 phút đồng hồ, họ phải phát hiện và giải quyết vấn đề để hiểu một hiện tượng, một định luật hay một ứng dụng vật lý Đó là một điều rất kho
* V ề điều kiện và phương tiện làm việc:
HS chỉ có những phương tiện thô sơ của trường PT với độ chính xác thấp,
chỉ có điều kiện làm việc tập thể hay ở phòng thực hành, có khi không thể lặp đi
lặp lại nhiều lần Điều kiện học tập còn rất khác nhau với những trường ở những địa phương khác nhau
Những điều phân tích trên dẫn đến kết luận là: HS không thể hoàn toàn tự
lực xây dựng kiến thức khoa học được mà cần phải có sự giúp đỡ của GV Sự giúp đỡ của GV không phải là giảng giải, cung cấp cho HS những kiến thức có
sẵn mà là tạo điều kiện để họ có thể trải qua các giai đoạn chính của quá trình
giải quyết vấn đề và tự lực thực hiện một số khâu trong tiến trình đó, động viên khuyến khích HS kịp thời
Như vậy, quá trình học tập của HS thực chất là quá trình HS hoạt động tự
lực trong sự phối hợp với tập thể lớp và sự giúp đỡ, hướng dẫn của GV để liên
tiếp giải quyết những vấn đề do nhiệm vụ học tập đề ra bằng nhiều PPDH khác
Trang 2926
nhau mà kết quả của quá trình giải quyết vấn đề đó là HS chiếm lĩnh được kiến
thức và phát triển năng lực của mình
1 3.1 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC
V ẬT LÝ
Để giúp HS có thể bằng hoạt động của bản thân mình mà tái tạo, chiếm lĩnh được các kiến thức vật lý thì một trong những phương pháp thường được sử
dụng là GV phỏng theo phương pháp thực nghiệm của các nhà khoa học mà tổ
chức cho HS hoạt động theo các giai đoạn sau
1.3.1.1 CÁ C GIAI ĐOẠN CỦA PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM:
* Giai đoạn 1: (Nảy sinh vấn đề ) GV nêu lên câu hỏi mà HS chưa biết câu
trả lời (có thể mô tả hoàn cảnh thực tiễn hay quan sát hiện tượng thực tiễn, biểu
diễn một vài thí nghiệm hay biểu diễn mô hình cho HS dự đoán diễn biến và tìm nguyên nhân) HS cần suy nghĩ tìm tòi mới phán đoán được câu trả lời
* Giai đoạn 2: (đề xuất giả thuyết) GV hướng dẫn gợi ý cho HS xây dựng
một câu trả lời dự đoán ban đầu dựa vào quan sát, vào kinh nghiệm của bản thân, vào kiến thức đã có Nhưng dự đoán có thể thô sơ, có vẻ hợp lý nhưng
chưa chắc chắn
* Giai đoạn 3: (Hệ quả) Từ giả thuyết dùng suy luận lôgic hay suy luận
toán học suy ra hệ quả, dự đoán một hiện tượng trong thực tiễn, mối quan hệ
giữa các đại lượng vật lý, quan hệ giữa các phần tử trong mô hình (nếu là các
mô hình có liên quan đến các bài học của vật lý ứng dụng)
* Giai đoạn 4: (Kiểm tra hệ quả) Xây dựng và thực hiện một phương án thí
nghiệm để kiểm tra xem hệ quả dự đoán, cấu trúc mô hình có phù hợp với kết
quả thực nghiệm hay không Nếu phù hợp thì giả thuyết, mô hình là đúng ngược
lại nếu không phù hợp thì phải xây dựng giả thuyết mới, mô hình mới Thiết kế
một phương án thí nghiệm là một công việc đòi hỏi phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có và đặc biệt phải có trí tưởng tượng và tư duy sáng
tạo
Trang 3027
* Giai đoạn 5: (ứng dụng kiến thức) HS vận dụng kiến thức để giải thích
hay dự đoán một số hiện tượng trong thực tiễn, để nghiên cứu thiết bị kỹ thuật Thông qua đó, trong một số trường hợp sẽ đi tới giới hạn áp dụng của kiến thức
và xuất hiện mâu thuẫn mới cần giải quyết
1.3.1.2 CÁC M ỨC ĐỘ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
Có những bài học, HS tham gia vào đầy đủ 5 giai đoạn trên nhưng cũng có nhiều trường hợp HS gặp khó khăn không thể vượt qua được, thì có thể sử dụng phương pháp thực nghiệm ở mức độ khác nhau, thể hiện ở mức độ HS tham gia vào các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm
* Giai đoạn 1:
- M ức 1: HS tự lực phát hiện vấn đề, nêu câu hỏi GV giới thiệu hiện tượng
xảy ra đúng như thường thấy trong tự nhiên để HS tự lực phát hiện những tính
chất hay những mối quan hệ đáng chú ý cần nghiên cứu
- M ức 2: GV tạo ra những hoàn cảnh đặc biệt trong đó xuất hiện một hiện
tượng mới lạ, lôi cuốn sự chú ý của HS, gây cho họ sự ngạc nhiên, sự tò mò Từ
đó HS nêu ra một vấn đề, một câu hỏi cần giải đáp
- M ức 3: GV nhắc lại một vấn đề, một hiện tượng đã biết và yêu cầu HS
phát hiện xem trong vấn đề hay hiện lượng đã biết, có chỗ nào chưa hoàn chỉnh, đầy đủ cần tiếp tục nghiên cứu
* Giai đoạn 2:
- M ức 1 Dự đoán định tính: Trong những hiện tượng thực tế phức tạp, dự
đoán về nguyên nhân chính chi phối hiện tượng Có thể có rất nhiều dự đoán mà
ta phải lần lượt tìm ra và bác bỏ
- M ức 2 Dự đoán định lượng: Việc dự đoán định lượng có thể dựa trên một
cặp số liệu được biểu diễn trên đồ thị, dựa trên dạng đồ thị mà ta dự đoán mối quan hệ hàm số giữa hai đại lượng
Trang 3128
- Mức 3 Những dự đoán đòi hỏi một sự quan sát chính xác, tỉ mỉ, một sự
tổng hợp nhiều sự kiện thực nghiệm…
* Giai đoạn 3:
- M ức 1: Hệ quả có thể quan sát, đo lường trực tiếp
- M ức 2: Hệ quả không quan sát, đo lường trực tiếp bằng các đụng cụ đo
mà phải tính toán gián tiếp qua việc đo các đại lượng khác
- M ức 3: Hệ quả suy ra trong điều kiện lý tưởng hay từ lý thuyết chỉ là gần
đúng
* Giai đoạn 4:
- Mức 1: Thí nghiệm đơn giản, học sinh đã biết cách thực hiện các phép
đo, sử dụng dụng cụ đo
- Mức 2: Học sinh đã biết nguyên tắc đo các đại lượng nhưng việc bố trí
thí nghiệm cho sát với điều kiện lý tưởng có khó khăn GV viên phải giúp đỡ
bằng cách giới thiệu phương án làm để HS thực hiện
- Mức 3: Có nhiều trường hợp thí nghiệm kiểm tra là thí nghiệm kinh điển,
không thể thực hiện ở trường phổ thông GV mô tả cách bố trí thí nghiệm rồi thông báo kết quả các phép đo để HS gia công các số liệu, rút ra kết luận hoặc
GV thông báo cả kết luận
* Giai đoạn 5:
- Mức 1: ứng dụng trong đó HS chỉ cần vận đụng định luật vật lý để làm
sáng tỏ nguyên nhân của hiện tượng hoặc tính toán trong điều kiện lý tưởng
- Mức 2: Xét một ứng dụng kỹ thuật đã được đơn giản hóa để có thể chỉ
cần áp dụng cho một vài định luật vật lý
- Mức 3: Xét một ứng dụng kỹ thuật trong đó không chỉ áp dụng cho các
định luật vật lý mà còn cần phải có những giải pháp đặc biệt để làm cho các
hiện tượng vật lý có hiệu quả cao, sao cho thiết bị được sử dụng trong đời sống
và trong sản xuất
Trang 3229
Dạy học các kiến thức vật lý bằng phương pháp thực nghiệm là một hướng
ưu tiên ở trường PT Để thực hiện thành công mỗi giai đoạn của phương pháp
thực nghiệm đòi hỏi người GV phải có suy nghĩ sáng tạo và có kỹ năng, kỹ xảo
về nhiều mặt Bởi vậy GV phải tùy theo nội dung của mỗi kiến thức, tùy theo trình độ của HS, tùy theo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị ở trường PT mà
phải phối hợp phương pháp thực nghiệm và các phương pháp nhận thức khác trong dạy học vật lý (ví dụ phương pháp thực nghiệm phối hợp với phương pháp mô hình hay phương pháp tương tự ), làm sao cho HS thấy được ý nghĩa
và tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu mà nhận thức bài học một cách tốt
nhất
1.3 2 PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TRONG DAY HỌC VẬT LÝ 1.3.2.1 KHÁI NI ỆM CHUNG:
1 Định nghĩa: V.A Stôphô đã định nghĩa mô hình như sau "Mô hình là
một hệ thống được hình dung trong óc, hay được thực hiện một cách vật chất
H ệ thống đó phản ánh những thuộc tính bản chất của đối tượng nghiên cứu (đối tượng gốc) hoặc tái tạo nó, bởi vậy việc nghiên cứu mô hình sẽ cho ta những thông tin v ề đối tượng gốc" {25}
Vì mô hình chỉ phản ánh một số thuộc tính bản chất của đối tượng vật chất nên một đối tượng có thể có nhiều mô hình đại diện cho nó Vì vậy mô hình không đồng nhất với đối tượng mà nó phản ánh Có nhiều trường hợp một mô hình là biểu diễn của nhiều hiện tượng khác nhau về bản chất Đồng thời một đối tượng có thể có nhiều mô hình đại diện cho nhiều mặt khác nhau của đối tượng
Trang 3330
Phương pháp mô hình được sử dụng rộng rãi trong vật lý và nó mang lại
những kết quả to lớn Mô hình trong vật lý không chỉ dùng để mô tả và giải
thích hiện tượng mà còn có những chức năng như sau:
- Mô tả sự vật hiện tượng
- Giải thích các tính chất và hiện tượng có liên quan đến đối tượng
- Tiên đoán tính chất và hiện tượng mới – Đấy là chức năng quan trọng
của mô hình trong khoa học
2 Tính ch ất của mô hình: Với tính chất là một hệ thống phản ánh những
thuộc tính của đối tượng mà nó thay thế, một mô hình có những thuộc tính cơ
bản sau:
a- Tính tương tự vật gốc: Để bảo đảm thông tin có được từ mô hình có thể
chuyển sang vật gốc Vì vậy mô hình có quan hệ đồng cấu hay đẳng cấu với vật
gốc Sự tương tự giữa mô hình với vật gốc có thể là sự tương tự về cấu trúc hay
chức năng
b- Tính đơn giản: Mô hình được xây dựng trên cơ sở trừu tượng hóa và
khái quát hóa Kết quả của thao tác này luôn luôn dẫn đến sự đơn giản hóa Vì
vậy, tính đơn giản trong mô hình là một tất yếu khách quan nó mang lại hiệu
quả to lớn trong việc sử dụng mô hình
c- Tính tr ực quan: Một số mô hình có thể nhận biết trực tiếp bằng trực
giác Còn những mô hình lý tưởng giúp ta vật chất hoá các tính chất các mối quan hệ không thể tri giác được, nó giúp ta tưởng tượng ra
d- Tính qui lu ật riêng: Khi xây dựng mô hình, người ta dùng một hệ thống
để mô tả một số đặc tính của vật gốc mà ta chưa biết đầy đủ Hệ thống này tuân theo những qui luật riêng, nhiều khi không còn giống qui luật phân phối vật
hoặc hệ thống vật gốc, hệ thống vật dùng để thay thế vật gốc đó tuân theo
những qui luật riêng mà ta đã biết rõ gọi là qui luật riêng của mô hình
e- Tính lý tưởng: Mô hình có chức năng đại diện tức là phản ánh thực tiễn
nhưng sau sự trừu tượng hóa và khái quát hóa cao thì mô hình trở nên lý tưởng
Trang 3431
Có nghĩa là không có mô hình nào mô tả hoặc giống hệt thực tiễn ở mọi khía
cạnh, bởi vì nếu mô hình giống hệt thực tiễn thì nó không còn tính đại điện nữa
và nó mất đi tính ưu việt
Mô hình lý tưởng càng cao thì càng tổng quát, càng bao trùm được nhiều đối tượng, nhưng khi đưa mô hình vào thực tế càng gặp nhiều khó khăn
3 Các lo ại mô hình trong vật lý học:
Có thể phân mô hình vật lý làm hai loại:
- Mô hình v ật chất: Là mô hình bằng vật thể trên đó phản ánh những tác
động cơ bản về mặt hình học, vật lý học, động lực học, chức năng học của đối tượng nghiên cứu Loại mô hình này sử dụng ở giai đoạn thấp của quá trình
nhận thức, khi cần hình thành những biểu tượng hoặc thu thập những kiến thức
có tính chất kinh nghiệm
- Mô hình lý tưởng (hay mô hình lý thuyết): Là những mô hình trừu tượng,
về nguyên tắc người ta chỉ áp dụng trên nó những thao tác tư duy lý thuyết Các
mô hình lý thuyết có thể có rất nhiều loại, theo mức độ trừu tượng khác nhau
gồm: {25}
* Mô hình ký hi ệu: Là hệ thống những ký hiệu được dùng để mô tả, thay
thế sự vật, hiện tượng vật lý (như mô hình công thức toán, mô hình đồ thị ) Ví
dụ: Mô hình tia sáng được sử dụng để xây dựng kiến thức về quang hình học,
mặc dù không phải ánh sáng truyền theo từng tia, nhưng khi qua một khe hẹp chùm sáng (chùm photon với tính chất sóng-hạt) cho hình ảnh một tia
Trong môi trường trong suốt đồng tính và đẳng hướng có thể coi ánh sáng truyền theo đường thẳng, ta biểu diễn hiện tượng này bằng cách dựng những
nữa đường thẳng gọi là tia, chiều của một tia theo chiều truyền của ánh sáng Từ
đó ta đưa ra những điều kiện để trực tiếp nhìn thấy một điểm vật hay ảnh của
một điểm vật qua dụng cụ quang học và xây dựng được các tia cơ bản để xác định được vị trí ảnh của một vật qua quang cụ hay hệ quang cụ Tuy nhiên tia sáng chỉ là một mô hình, nhờ đó ta xác định được vị trí, độ lớn, góc trông của
Trang 3532
ảnh qua quang cụ, trong khi mục đích của kiến thức quang hình học là giúp ta xác định làm thế nào, ở vị trí nào để mắt có thể quan sát sát rõ ảnh của một vật qua quang cụ Khi học thì HS xác địuh vị trí, độ lớn ảnh của một vật qua các quang cụ, hay hệ quang cụ bằng mô hình tia sáng, nhưng trong thực tế dụng cụ quang học dùng để quan sát ảnh, nên khi giảng dạy phần kiến thức này, GV cần
phải cho HS thấy rõ ứng dụng thực tế của các dụng cụ quang học bằng phương pháp thực nghiệm
*- Mô hình bi ểu tượng: Là dạng trừu tượng nhất của mô hình lý tưởng,
những mô hình biểu tượng không tồn tại trong thực tế mà chỉ có trong tư duy
Ta chỉ nêu lên algorit để tạo ra mô hình và hình dung nó trong óc, chứ không làm ra mô hình cụ thể, với sự hình dung đó người ta có thể nghiên cứu hành vi
của mô hình
1.3.2.2 PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TRONG VẬT LÝ HỌC: {24}{25}
Cơ sở lý thuyết của phương pháp mô hình là lý thuyết tương tự, các kết
luận rút ra từ sự tương tự có tính giả thuyết, vì vậy mô hình cũng có tính giả thuyết, giả thuyết đó chỉ trở thành chân lý khoa học khi chúng được kiểm tra và xác nhận bằng thực nghiệm Từ khi xây dựng mô hình đến lúc xác nhận bằng
thực nghiệm thì phương pháp mô hình có thể chia thành những giai đoạn như sau:
• Giai đoạn 1: Nghiên cứu các tính chất của đối tượng gốc bằng quan sát
thực nghiệm xác định được tập hợp tính chất các đối tượng làm cơ sở xây
dựng mô hình
• Giai đoạn 2: Nhờ kết quả của sự tương tự hình dung sơ bộ về đối tượng
nghiên cứu Ở giai đoạn này, trí tưởng tượng và trực giác nhạy bén giữ vai trò quan trọng, nhờ chúng mà người ta có thể trừu xuất những tính chất và các mối quan hệ của đối tượng nghiên cứu thay thế nó bằng mô hình chỉ mang tính chất và các mối quan hệ mà chúng ta quan tâm
Trang 36- Với mô hình lý tưởng: Người ta tiến hành suy luận lôgic trên nó kết
hợp chặt chẽ với logic toán học
• Giai đoạn 4: Thực nghiệm kiểm chứng tính đúng đắn của mô hình sẽ được
thẩm định nếu thực nghiệm kiểm chứng phù hợp với hệ quả được tiên đoán, khi đó mô hình được chấp nhận, còn ngược lại thì phải diều chỉnh
mô hình hoặc loại bỏ và thay thế bằng mô hình khác
1.3.2.3 V ẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ:
Phương pháp mô hình là phương pháp quan trọng trong vật lý Học tập vật
lý sử dụng phương pháp mô hình cùng với phương pháp nhận thức khác là giúp cho HĐNT của HS thuận lợi và bảo đảm tính khoa học hơn Mặc dù HS nhiều khi không đủ khả năng để xây dựng mô hình, nhưng bằng cách này hay cách khác GV có thể sử dụng mô hình như phương tiện giúp cho HS HĐNT
Phương pháp mô hình trong dạy học vật lý có thể phân chia thành các mức
độ sau:
* M ức độ 1: GV trình bày các sự kiện thực tế mà HS không thể giải thích
bằng kiến thức kinh nghiệm đã có, sau đó đưa mô hình mà các nhà khoa học xây dựng HS vận dụng nó để giải thích các sự kiện trên Ở giai đoạn này, HS có
thể thụ động tiếp thu mô hình, điều quan trọng là họ phân biệt được mô hình và
Trang 3734
* M ức độ 4: HS dưới sự hướng dẫn của GV tham gia vào cả 4 giai đoạn
của việc xây dụng mô hình, nhờ đó nắm vững tính năng của mô hình và sử dụng
cơ, sóng ánh sáng, dao động điện )
Xu hướng hiện đại của vật lý là xây dựng những mô hình khái quát phản ánh nhiều mặt của thế giới khách quan Phương pháp mô hình trong nhiều trường hợp đã dẫn đến những lý thuyết mới
Mặc dù mỗi mô hình chỉ phản ánh được một mặt nào đó của thế giới khách quan, nhưng khi sử dụng một mô hình, người ta thường gắn cho nó tầm khái
Trang 3835
quát rộng lớn Vì, có khi vì quá tin vào một mô hình đã được xác lập mà người
ta đi đến bảo thủ, không thừa nhận những sự kiện thực tế mới trái với mô hình
đó, đây là sự lầm lẫn HS hay mắc phải giữa mô hình và thực tại mà nó đại diện gây cản trở cho quá trình HĐNT
1.3.3 PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG TƯ:
1.3.3.1 KHÁI NI ỆM: Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức
khoa học với sự sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự nhằm thu nhận
những tri thức mới
1.3.3.2 CÁC GIAI ĐOẠN CƠ B ẢN C ỦA PHÉP TƯƠNG T Ự:
* Giai đoạn 1: Tập hợp các dấu hiệu về đối tượng cần nghiên cứu và các
dấu hiệu về đối tượng đã có những hiểu biết phong phú định đem đối chiếu
* Giai đoạn 2: Tiến hành phân tích những dấu hiệu giống nhau và khác
nhau giữa chúng Kiểm tra các dấu hiệu giống nhau có đồng thời là các dấu hiệu
bản chất của các đối tượng này hay không
* Giai đoạn 3: Truyền các dấu hiệu của đối tượng đã biết cho đối tượng
cần nghiên cứu bằng suy luận tương tự
* Giai đoạn 4: Kiểm tra tính đúng đắn của các kết luận rút ra (hoặc các hệ
quả của chứng) có tính giả thuyết đó ở chính đối tượng cần nghiên cứu
Nếu các kết luân rút ra không đúng đối với đối tượng cẩn nghiên cứu thì
phải trở lại giai đoạn 1 (lựa chọn đối tượng khác để đem so sánh)
Thực nghiệm có vai trò quan trọng trong phương pháp tương tự Nhờ nó
mà ta phát hiện được sự tồn tại của các dấu hiệu giống nhau (tương tự) của các đối tượng, làm cơ sở cho việc lựa chọn đối tượng đem so sánh và cũng nhờ nó
mà kiểm tra được tính đúng đắn của những kết luận rút ra được bằng suy luận tương tự.{25}
Ví dụ: Khi HS nghiên cứu về các tật của mắt họ đã biết rằng nếu xét về phương diện quang hình học, thủy tinh thể của mắt được xem như thấu kính hai
mặt lồi, muốn nhìn lõ một vật thì nhất thiết ảnh của vật đó nằm trên võng mạc
Trang 3936
của mắt Đối mắt cận thị thì tiêu cự lớn nhất của thủy tinh thể ngắn hơn hoặc đối
với mắt viễn thị thì tiêu cự nhỏ nhất của thủy tỉnh thể dài hơn tiêu cự của mắt không tật Vì vậy khi thí nghiệm đo tiêu cự của hai thấu kính ghép sát nhau, học sinh có thể dùng sự tương tự khi ghép sát hai thấu kính hội tụ hoặc giữa một
thấu kính hội tụ và một thấu kính phân kỳ thì hình dung được rằng: Muốn sửa các tật của mắt thì người cận thị đeo thấu kính gì, người viễn thị đeo kính gì
1.3.3.3 PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG TỰ TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ:
* Sự cần thiết của việc sử dụng phương pháp tương tự trong dạy học
v ật lý:
Trong quá trình HS sử dụng phương pháp tương tự để giải quyết vấn đề
học tập, HS được rèn luyện một loạt các thao tác tư duy, được phát triển niềm tin vào mối liên hệ có tính mối liên hệ có tính khái quát, có tính qui luật của các
sự vật, hiện tượng tự nhiên đa dạng và phong phú
Việc sử dụng phương pháp tương tự góp phần năng cao hiệu quả của giờ
học, thể hiện trước hết ở tính sâu sắc, tính hệ thống của các kiến thức vì nó tạo cho HS liên kết cái chưa biết và cái đã biết
Việc sử dụng phương pháp tương tự còn làm cho HS dễ hình dung các hiện tượng, quá trình vật lý không thể quan sát trực tiếp được
Điều kiện dạy học ở trường PT (thời gian, tình trạng thiết bị) nhiều khi chỉ cho phép đề cập sâu một đối tượng (vật đại diện) rồi sử dụng suy luận tương tự rút ra những kết luận cho đối tượng khác tương tự với nó
* Các kh ả năng sử dụng sự tương tự và phương pháp tương tự trong
d ạy học vật lý:
Có thể sử dụng sự tương tự ở các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy
học, nhưng có giá trị hơn cả là việc sử dụng phương pháp tương tự để xây dựng
kiến thức mới
Trang 4037
Trong dạy học vật lý, người ta cũng thường sử dụng sự tương tự để minh
họa làm cho HS dễ hình dung các hiện tượng, quá trình vật lý không thể quan sát được
Cũng có thể sử dụng sự tương tự để hệ thống hóa kiến thức mà HS đã lĩnh
hội nhiều phần khác nhau của vật lý
* M ột số yêu cầu khi sử dụng sự tương tự và phương pháp tương tự:
Khi GV hướng dẫn, tổ chức cho HS tham gia giải quyết vấn đề bằng cách
sử dụng sự tương tự và phương pháp tương tự, nhất thiết phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
HS phải được tự lực cao ở mức có thể được trong tất cả các giai đoạn của phương pháp tương tự, ngay cả giai đoạn lựa chọn đối tượng đã biết làm đối tượng so sánh với đối tượng đang nghiên cứu
Lựa chọn đối tượng so sánh ở mức độ nông sâu phụ thuộc không những vào cấu trúc và nội dung của chương trình mà còn phụ thuộc vào đặc điểm của
lứa tuổi HS
Điều kiện cơ bản cho việc sử dụng phương pháp tương tự đạt kết quả là HS
phải có vốn hiểu biết về đối tượng đem so sánh từ những bài học trước hoặc từ kinh nghiệm sống
Khi sử dụng sự tương tự, phải làm sáng tỏ phạm vi của sự tương tự, phát
hiện không những dấu hiệu giống nhau mà còn cả dấu hiệu khác nhau, đặc biệt
là dấu hiệu cơ bản để phân biệt chúng với nhau
Muốn phát huy được tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS, phải áp dụng
kiểu học "tích cực, phân hoá" GV phải biết hướng dẫn, tổ chức cho HS tự mình khám phá kiến thức mới, dạy cho HS không chỉ kiến thức mà còn phương pháp
học Chính trong các hoạt động tự lực được giao cho từng cá nhân hay từng nhóm nhỏ thì tiềm tàng năng lực sáng tạo của mỗi học sinh được bộc lộ và phát huy {8}