Việc nghiên cứu nhận thức của sinh viên về giá trị sống sẽ giúp người nghiên cứu phác họa bức tranh về thực trạng giá trị sống của sinh viên, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao n
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Tr ần Kim An
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Kim An
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ XUÂN HỒNG
THÀNH PH ố Hồ CHÍ MINH – 2012
Trang 3M ỤC LỤC
TRANG PH ụ BÌA
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ GIÁ TR Ị SỐNG THEO UNESCO 6
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7
1.2 Nh ững vấn đề lý luận về nhận thức giá trị sống theo UNESCO của sinh viên 8
1.2.1 Lý luận về nhận thức 8
1.2.2 Giá trị và giá trị sống theo UNESCO 19
1.2.3 Nhận thức của sinh viên về giá trị sống theo UNESCO 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐẠI H ỌC KINH TẾ - TÀI CHÍNH TP HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT SỐ GIÁ TR Ị SỐNG THEO UNESCO 48
2.1 Thể thức nghiên cứu 48
2.1.1 Khách thể nghiên cứu 48
2.1.2 Mô tả công cụ nghiên cứu 49
2.2 Th ực trạng nhận thức của sinh viên đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh về một số giá trị sống theo UNESCO 54
2.2.1 Quan niệm của sinh viên về giá trị sống 54
2.2.2 Nhận thức của sinh viên về mức độ cần thiết của giá trị sống 55
Trang 42.2.3 Nhận thức của sinh viên về lợi ích của giá trị sống 59 2.2.4 Nhận thức của sinh viên về 4 giá trị sống 61 2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về giá trị sống 70
2.3 Một số biện pháp nâng cao nhận thức giá trị sống cho sinh viên 78
K ẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PH Ụ LỤC
Trang 5DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 ĐH KT - TC Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
10 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn
hoá của Liên Hợp Quốc
11 UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 48
Bảng 2.2 Quan niệm của sinh viên về giá trị sống nói chung 54
Bảng 2.3 Nhận thức của sinh viên về mức độ cần thiết của giá trị sống 56
Bảng 2.4 Nhận thức của sinh viên về mức độ cần thiết của giá trị sống theo phương diện 58
Bảng 2.5 Nhận thức của sinh viên về lợi ích của giá trị sống 59
Bảng 2.6 Mức độ nhận biết của sinh viên về 4 giá trị sống 62
Bảng 2.7 Mức độ thông hiểu của sinh viên về 4 giá trị sống 65
Bảng 2.8 Mức độ vận dụng của sinh viên về 4 giá trị sống 67
Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về giá trị sống 71
Bảng 2.10 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới sự nhận thức của sinh viên về giá trị sống theo các phương diện 77
Bảng 2.11 Hiệu quả của một số biện pháp nâng cao nhận thức giá trị sống cho sinh viên 78
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Điểm trung bình mức độ cần thiết của các giá trị sống 57
Biểu đồ 2.2 Điểm trung bình các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức
của sinh viên về giá trị sống 75
Biểu đồ 2.3 Mức độ hiệu quả của nhóm biện pháp nhà trường theo điểm
trung bình của SV và GV 83
Biểu đồ 2.4 Mức độ hiệu quả của nhóm biện pháp bản thân theo điểm
trung bình của SV và GV 84
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Các giá trị nói chung được coi là cốt lõi của nhân cách Nó được
hiểu là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của nhân cách, qui định chiều hướng và tính chất của hành vi Giá trị được thể hiện ở vai trò, vị trí, lối sống của cá nhân
Giá trị sống là cơ sở để cá nhân tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động, hành vi ứng xử trong cuộc sống Nó thôi thúc con người làm những điều tốt đẹp có ích cho bản thân và cộng đồng Ngoài ra, giá trị sống còn là động lực thúc đẩy hành vi của con người, khơi gợi con người làm những điều tốt đẹp
Nếu thiếu các giá trị sống nền tảng con người sẽ thiếu động cơ, mục đích
sống, không biết cách xây dựng và duy trì mối quan hệ, không biết tôn trọng
bản thân và người khác
1.2 Sinh viên là nguồn nhân lực tương lai của đất nước, đại diện cho
lực lượng lao động có trình độ cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế Việt Nam luôn chú trọng đào tạo nguồn nhân lực tương lai có đầy đủ năng lực chuyên môn và những giá trị
sống cần thiết để chung sống trong thời đại ngày nay Tuy nhiên, hiện nay giá
trị sống của không ít người trẻ tuổi, trong đó có sinh viên, đang thay đổi theo hướng coi trọng các giá trị vật chất, quyền lực và sự giàu sang mà ít coi trọng các giá trị tinh thần Việc nghiên cứu nhận thức của sinh viên về giá trị sống
sẽ giúp người nghiên cứu phác họa bức tranh về thực trạng giá trị sống của sinh viên, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về giá trị sống là một điều thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.3 Nghiên cứu về giá trị và giá trị sống đã được một số tác giả trong
và ngoài nước đề cập đến trên bình diện đưa ra các biện pháp giáo dục giá trị
sống nói chung Chúng tôi nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể
Trang 9nhận thức của sinh viên về giá trị sống Vì lẽ đó, tìm hiểu cụ thể mức độ nhận
thức của sinh viên về giá trị sống là cần thiết
Từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài “Nhận thức của sinh viên Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh về một số giá trị
s ống theo UNESCO”
2 M ục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng nhận thức về một số giá trị sống của SV trường đại
học Kinh tế - Tài chính TP HCM, qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về giá trị sống cho sinh viên
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách th ể nghiên cứu
Sinh viên Đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM
Khách thể bổ trợ: giảng viên Đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên về một số giá trị sống
4 Gi ả thuyết nghiên cứu
4.1 Mức độ nhận thức của sinh viên về một số giá trị sống theo UNESCO ở
mức trung bình là chủ yếu
4.2 Mức độ nhận thức của SV về một số giá trị sống theo UNESCO có sự khác biệt
4.3 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về một số giá trị
sống theo UNESCO, trong đó chủ yếu là các yếu tố tự nhận thức của sinh viên
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận của đề tài
5.2 NC thực trạng nhận thức của sinh viên về giá trị sống
Trang 105.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về giá trị sống cho
sinh viên đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
6 Gi ới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung
Trong đề tài này người nghiên cứu tìm hiểu các nội dung chính sau đây:
- Một số vấn đề lý luận của đề tài (Quan niệm và nhận thức của sinh viên
về giá trị sống, lợi ích và các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên về giá trị sống)
- Nhận thức của sinh viên về bốn giá trị: trung thực, trách nhiệm, hợp tác
và khoan dung theo ba mức độ
- Các biện pháp nâng cao nhận thức cho sinh viên về giá trị sống
6.2 Gi ới hạn về khách thể nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu sinh viên ba khoa: Khoa Tài chính - kinh doanh
tiền tệ, Khoa Kế toán kiểm toán, Khoa Quản trị kinh doanh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp và khái quát các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài làm cơ sở lý luận định hướng cho việc tìm hiểu thực tiễn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
M ục đích: Đây là phương pháp chính của đề tài Dựa trên cơ sở lý
luận, các đề tài tham khảo có liên quan, người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi
để tìm hiểu mức độ nhận thức của sinh viên về một số giá trị sống, cụ thể là các vấn đề sau:
- Quan niệm của sinh viên về giá trị sống
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhận thức giá trị sống
- Lợi ích của giá trị sống đối với sinh viên
Trang 11- Nhận thức của sinh viên về bốn giá trị: trung thực, trách nhiệm, hợp tác
và khoan dung
- Các biện pháp nâng cao nhận thức của sinh viên về giá trị sống
Cách th ức tiến hành
Thiết kế bảng hỏi: Trưng cầu ý kiến bằng câu hỏi mở, kết hợp với việc
tổng hợp cơ sở lý thuyết để thiết kế bảng hỏi sử dụng trong đề tài
Khảo sát thử:
- Xác định thời gian cho việc trả lời bảng hỏi
- Tính toán các giá trị, độ tin cậy câu trắc nghiệm và bảng hỏi
- Tiến hành sửa chữa các mệnh đề chưa đạt yêu cầu
Mục đích: thu thập, bổ sung và làm rõ hơn những thông tin nhận thức
về giá trị sống của sinh viên đã thu được khi khảo sát rộng
N ội dung: đánh giá mức độ quan trọng và sự ảnh hưởng của việc nhận
thức các giá trị sống đối với sinh viên; các biện pháp nâng cao nhận thức một
số giá trị sống
Cách th ức tiến hành: phỏng vấn trực tiếp 20 sinh viên
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
M ục đích: xử lý và mã hóa các thông số cần dùng trong đề tài nghiên
cứu
Nội dung: các phép thống kê cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu:
- Phân tích thống kê mô tả: thống kê phần trăm, tần số, xếp thứ hạng
Trang 12- Phân tích thống kê suy luận: bảng hỏi nghiên cứu sự ngẫu nhiên, sai số
của các tập dữ liệu từ đó mô hình hóa và đưa ra các suy luận cho tổng
thể Các suy luận có thể là kiểm định giả thuyết thống kê, mô tả sự tác động qua lại giữa các biến số (các loại tương quan), các phương pháp
so sánh giá trị trung bình (T – test, Chi – square, Anova)
Cách thức tiến hành: sử dụng phần mềm thống kê SPSS 13.0 để xử lý
dữ liệu thu được
8 C ấu trúc luận văn
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN
VỀ GIÁ TRỊ SỐNG THEO UNESCO 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ng hiên cứu nước ngoài
Trong những năm cuối thế kỉ 20, vấn đề giá trị và giá trị sống ngày càng được nhiều nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu như Ba Lan, Liên
Xô, Bungari, Hungari, Nhật Bản… Các công trình nghiên cứu đã đề cập nhiều vấn đề như nội dung giá trị, cấu trúc của giá trị, một số giá trị cơ bản, công cụ
để đo đạc và kiểm chứng giá trị Các nghiên cứu này cũng đề cập đến những tác động của thế giới đến sự thay đổi các giá trị nói chung, nhấn mạnh sự khủng hoảng giá trị là vấn đề toàn cầu và cần thiết phải giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ trên thế giới
Tại Nhật Bản, vào đầu những năm 1990 nhà giáo dục T Makiguchi cho
ra đời cuốn sách “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” Có nhiều vấn đề được trình bày trong cuốn sách, đặc biệt là giá trị được xét ở khía cạnh giáo dục với nhiều nội dung mới Bên cạnh việc phân tích các loại giá trị (giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị thẩm mĩ,…) tác giả cũng đưa ra một hệ thống giá trị mới lấy thiện, ích, mĩ làm chuẩn [22]
Năm 1995, một dự án nghiên cứu của UNESCO đã đưa ra 12 giá trị sống căn bản mang tính phổ quát toàn cầu và được 186 thành viên Liên hợp quốc thông qua Dưới sự hỗ trợ của UNESCO và Ủy ban UNICEF Tây Ban Nha, chương trình Giáo dục các giá trị sống (LVEP) đã được triển khai phi lợi nhuận ở 80 quốc gia trên toàn thế giới nhằm giúp trẻ em có điều kiện khám phá và phát triển 12 giá trị sống (hợp tác, tự do, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, yêu thương, hòa bình, tôn trọng, trách nhiệm, giản dị, khoan dung và đoàn kết) [5], [32], [33], [34]
Trang 14Trong khuôn khổ chương trình Giáo dục các giá trị sống, đầu những năm 2000, tác giả Diane Tillman cho ra đời bộ sách Những hoạt động giá trị dành cho các lứa tuổi 3-7 tuổi, 8-14 tuổi và cho những người trẻ tuổi Ở từng lứa tuổi, tác giả đưa ra các hoạt động khác nhau phù hợp với lứa tuổi để giáo dục các giá trị sống cho trẻ [32], [33], [34]
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, những năm gần đây có một số tác giả quan tâm nghiên cứu về giá trị sống và giáo dục giá trị sống cho học sinh và những người trẻ tuổi
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa đã phân tích các giá trị truyền thống của con người Việt Nam và 12 giá trị sống phổ quát của UNESCO Từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh phổ thông [14]
Tác giả Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Thị Kim Liên đã nghiên cứu
và đề xuất các giá trị sống cần được ưu tiên nuôi dưỡng, giáo dục ở lứa tuổi học sinh và các phương pháp giáo dục giá trị sống Từ đó, hai tác giả đề xuất xây dựng mô hình câu lạc bộ giáo dục giá trị sống và phát triển kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở [11]
Dành cho đối tượng là những nhà quản lý giáo dục, tác giả Lục Thị Nga đi sâu phân tích công tác quản lý của hiệu trưởng trường trung học cơ sở trong công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống Trong đó, tác giả phân tích nội hàm 12 giá trị sống và đưa ra phương pháp bồi dưỡng giá trị sống đối với hiệu trưởng các trường trung học cơ sở [15]
Đề tài “Nghiên cứu giáo dục giá trị sống cho học sinh tiểu học Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” do Hội Tâm lý Giáo dục Hà Nội thực hiện, tác giả
Nguyễn Tùng Lâm chủ nhiệm đề tài Mục tiêu của đề tài là: Xác định những giá trị cốt lõi của người Việt Nam hiện nay để xây dựng chương trình giáo
Trang 15dục giá trị sống cho học sinh tiểu học ở Hà Nội Từ đó đưa ra các giải pháp xây dựng chương trình và thực hiện giáo dục giá trị sống Hiện nay, đề tài vẫn đang trong giai đoạn hoàn thành và có tổ chức một số hội thảo nhằm đánh giá những nguyên nhân cần phải tăng cường giáo dục giá trị sống cho học sinh tiểu học ở Hà Nội Đồng thời, đề xuất về các giá trị sống cần giáo dục cho học sinh tiểu học, cũng như phương pháp và cách thức tiếp cận [35]
Nhìn chung, các nghiên cứu trên bước đầu là những nghiên cứu có giá trị và đặt nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo về giá trị sống Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ mới dừng ở việc tìm hiểu, đề xuất các giá trị sống cần thiết cho học sinh và các biện pháp giáo dục giá trị sống hiệu quả Chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu nhận thức về các giá trị sống trên đối tượng là sinh viên
1.2 Những vấn đề lý luận về nhận thức giá trị sống theo UNESCO của sinh viên
1.2.1 Lý luận về nhận thức
1.2.1.1 Khái ni ệm nhận thức
Theo từ điển Triết học, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng tích
cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên
cơ sở thực hiện [25]
Theo từ điển Tiếng Việt, “nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh
và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết và hiểu
biết thế giới khách quan” [31, tr.689] Theo sự giải thích này, nhận thức đồng
thời vừa là một quá trình phản ánh của tư duy con người đối với hiện thực khách quan, vừa là kết quả của sự phản ánh ấy
Theo từ điển Tâm lý học, nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về hiện tượng, quá trình nào đó [6]
Trang 16Dưới góc độ Tâm lý học, nhận thức là một trong những vấn đề được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Mỗi tác giả dưới góc độ nghiên cứu riêng đã đưa ra các khái niệm khác nhau về nhận thức Có thể tóm tắt hai quan điểm sau đây: nhận thức là một quá trình và nhận thức là một hoạt động
Quan điểm xem nhận thức là một quá trình, có một số đại diện sau: Tác giả Roberts Feledman cho rằng sự nhận thức là quá trình tinh thần
bậc cao qua đó chúng ta hiểu thế giới, xử lý thông tin, phán đoán, quyết định
và chia sẻ hiểu biết với người khác [18, tr.317]
Hai tác giả Stephen Worchel và Wayne Shebilsue cho thấy nhận thức ở
một phạm vi rất hẹp, là một sự giải mã các thông tin “nhận thức là một quá trình diễn dịch thông tin do cảm giác thu thập được” [19, tr.107]
Cũng xem xét nhận thức ở khía cạnh quá trình nhưng xem xét ở những quá trình cụ thể, chia nhỏ quá trình đó thành những quá trình riêng lẻ là quan điểm của tác giả Đặng Phương Kiệt: nhận thức là một thuật ngữ khái quát hóa
mọi dạng hiểu biết Các quá trình hiểu biết bao gồm chú ý, ghi nhớ, suy nghĩ
và giải quyết vấn đề, tri giác và nhận biết hình mẫu [13, tr.284]
Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện: nhận thức là một quá trình tiếp cận,
tiến gần đến chân lý, nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào, vì không bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực, phải thải dần những cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực, đi hết bước này đến bước khác [29] Quá trình
ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ:
- Kinh nghiệm hàng ngày về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống
- Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ
thống, với ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng - sai
Trang 17Kế thừa quan điểm từ các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ), tác giả Phạm Minh Hạc đặt nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động Trong khi hoạt động để tồn
tại trong thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, con người phải nhận thức,
phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực của bản thân mình, để trên cơ
sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động Trong việc nhận thức thế
giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Quá trình nhận thức gồm hai quá trình bộ phận
là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Trong đó, nhận thức cảm tính là bước nhận thức đầu tiên với mức độ nhận thức thấp, nhận thức lý tính là bước
nhận thức tiếp sau với mức độ nhận thức cao hơn [8]
Quan điểm xem nhận thức là một hoạt động, có đại diện sau:
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức – phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ
sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối
với chính bản thân mình (tự nhận thức)” [27, tr.88] Định nghĩa này xem xét
nhận thức ở khía cạnh là một hoạt động của con người
Từ quan điểm và góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu trên, chúng tôi
xác định rằng: nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào não người, mang tính chủ thể, mang tính lịch sử xã hội và nhờ nhận thức con người tỏ thái độ, hành động đối với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình
Trong định nghĩa này người nghiên cứu xác định hai yếu tố sau:
− Thứ nhất, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan Nếu con người có nhận thức tốt tức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan đúng đắn và đầy đủ
Trang 18− Thứ hai, nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ và hành động Tức là khi con người nhận thức tốt sẽ chỉ đạo, định hướng, điều khiển tình cảm và giúp con người tỏ thái độ phù hợp, là động
lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt
Đề tài này không đi sâu nghiên cứu về bản chất của quá trình nhận
thức, mà chấp nhận, sử dụng những kết quả nghiên cứu về nhận thức trên cơ
sở có sự lĩnh hội, chọn lọc để phục vụ cho mục tiêu cụ thể của đề tài là tìm
hiểu mức độ nhận thức của một nhóm chủ thể nhận thức cụ thể về một vấn đề
cụ thể
Đối tượng và nội dung của nhận thức trong phạm vi của đề tài gồm:
nhận thức về giá trị sống, lợi ích của các giá trị sống đối với sinh viên, yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhận thức các giá trị sống và các biện pháp nâng cao
nhận thức của sinh viên về giá trị sống
1.2.1.2 Đặc điểm của nhận thức
Nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý người Nhờ nhận thức, con người mới có cảm xúc, tình cảm, ý chí và hành động Nhận thức là tiền đề cho các hiện tượng tâm lý khác Nhận thức không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh mà còn phản ánh cả hiện thực của bản thân chủ thể; nó không chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà còn phản ánh cái bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà còn phản ánh cái đã qua và cái sẽ tới của hiện thực khách quan Đặc điểm của quá trình nhận thức bao gồm một số đặc điểm cơ bản sau:
Trang 19Nhận thức là hoạt động khám phá thế giới xung quanh của chủ thể
nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và các quy luật khách quan của sự vật hay hiện tượng Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trường, tư tưởng và hành động đúng
Nhận thức thể hiện ở những mức độ khác nhau và mang lại sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan
* Nhận thức mang bản chất lịch sử, xã hội
Nhận thức bao giờ cũng phải dựa vào những tri thức đã có, kinh nghiệm của nhân loại đã tích lũy được, tức là dựa vào kết quả nhận thức mà
xã hội loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó
Nhận thức phải sử dụng các ngôn ngữ khác nhau do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu cảm, khái quát và gìn giữ kết quả
nhận thức của loài người
Quá trình nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu của xã hội, nghĩa là ý nghĩ của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề cấp thiết do xã hội đặt ra
Nhận thức của con người mang tính lịch sử bởi bề rộng của sự khái quát và chiều sâu của việc phát hiện ra bản chất sự vật hiện tượng; được quy định không chỉ bởi khả năng của cá nhân, mà còn bởi kết quả của nhận thức
mà loài người đã đạt được, vào kho tàng tri thức có liên quan, vào tri thức và trí tuệ của nhân loại
Như vậy, tri thức của mỗi người được hình thành và phát triển trong quá trình nhận thức tích cực của bản thân họ, nhưng nội dung và tính chất của tri thức được quy định bởi trình độ chung, tồn tại trong một giai đoạn phát triển xã hội lúc đó Nhận thức là một sản phẩm của sự phát triển xã hội – lịch
sử
Trang 20Cảm giác: Là bước nhận thức sơ khai nhất khi con người sử dụng các giác quan sinh học để tiếp xúc với sự vật và thu được kết quả là sự nhận biết
về các đặc điểm bên ngoài của sự vật ấy Sự nhận biết thu được từ quá trình
cảm giác chỉ phản ánh từng đặc điểm bên ngoài, từng thuộc tính riêng lẻ của
sự vật nhờ vào phản ứng trực tiếp của từng giác quan khi tiếp xúc với sự vật Khi sự vật không còn tác động, không gây kích thích vào các giác quan, quá trình cảm giác kết thúc
Tuy cảm giác là quá trình nhận thức cấp thấp nhất, đơn giản nhưng nó
lại có ý nghĩa quan trọng với con người Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp
giữa cơ thể và môi trường xung quanh, từ đó mà con người có khả năng định hướng và thích nghi với môi trường Nhờ cảm giác, con người thu thập dữ
liệu về thế giới khách quan ở dạng đơn giản nhất, trực quan nhất, cụ thể nhất
Dựa trên những dữ liệu này, chức năng của não sẽ có cơ sở để tiến hành các quá trình nhận thức ở cấp cao hơn Tuy nó là mức độ nhận thức đầu tiên, đơn
giản chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ nhưng nếu không có nó thì không
có được mức độ nhận thức cao hơn Cao hơn cảm giác là tri giác – phản ánh
trọn vẹn sự vật hiện tượng nhưng chỉ phản ánh được thuộc tính bề ngoài của
sự vật hiện tượng
Trang 21Tri giác: Là bước nhận thức tiếp theo sau cảm giác Cũng như cảm giác, quá trình tri giác bắt đầu khi có tác động trực tiếp của sự vật hiện tượng đến các giác quan của con người Kết thúc quá trình tri giác, sản phẩm thu được là tổng hợp các thuộc tính bên ngoài của sự vật Không như cảm giác cho kết quả là các thuộc tính riêng lẻ, rời rạc, tri giác cho kết quả là hình ảnh bên ngoài trọn vẹn, hoàn chỉnh của sự vật Nói như vậy, không có nghĩa phản ánh của tri giác là phép cộng dồn những kết quả phản ánh của cảm giác Mà ở tri giác có sự tham gia của tư duy, ngôn ngữ và nhiều chức năng tâm lý khác
để có thể phản ánh một cách đầy đủ nhất, toàn diện nhất những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng
Tri giác chưa cho phép con người phản ánh được tính chất bên trong
của sự vật hiện tượng Nhưng nhờ tri giác, con người có những định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới, giúp con người phản ánh có lựa
chọn và mang tính ý nghĩa Hình ảnh - sản phẩm của tri giác tham gia vào
hoạt động tư duy trực quan hình ảnh và là một bộ phận trong các thao tác của hành động trực quan Một phần giống với cảm giác, tri giác cung cấp cho con người nguyên liệu để tiến hành các bước nhận thức ở mức độ cao hơn, nhưng khác với nguyên liệu do cảm giác đem đến, còn ở dạng rời rạc, nguyên liệu do tri giác đem đến đã ở dạng hoàn chỉnh
Như vậy, quá trình nhận thức cảm tính là sự phản ánh về sự vật hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan Nội dung phản ánh của
nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ thể, bên ngoài của sự vật
hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ đơn giản chứ chưa phải là những thuộc tính bản chất, bên trong, những mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật
của sự vật hiện tượng thế giới khách quan
Cao hơn quá trình nhận thức cảm tính là quá trình nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao trong nhận thức của con người Ở
Trang 22mức độ này con người có khả năng phản ánh được những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ, quan hệ mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà con người trước đó chưa biết Đồng thời, nhờ phản ánh cái bản chất mà nhận thức
lý tính phản ánh khái quát hàng loạt sự vật, hiện tượng có chung bản chất xét
về một phương diện nào đó, đấy là mức độ phản ánh cao nhất và rất quan
trọng của con người Quá trình này gồm hai quá trình bộ phận là tư duy và tưởng tượng
Tư duy: là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng Tư duy
sử dụng sản phẩm của cảm giác, tri giác làm nguyên liệu được lưu giữ trong trí nhớ để tiến hành các thao tác tư duy và cho ra sản phẩm là cái vừa toàn
vẹn, hoàn chỉnh, vừa đi sâu vào bản chất Các thao tác của quá trình tư duy
tiến bộ vượt bậc xét về chất so với phương thức nhận thức cảm tính Quá trình
cảm giác, tri giác của nhận thức cảm tính chỉ được kích hoạt và diễn ra khi sự
vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người Còn quá trình tư duy được kích hoạt và diễn ra ngay cả khi sự vật, hiện tượng không còn trực tiếp tác động vào con người, mà tư duy nảy sinh trong hoàn
cảnh con người có một “vấn đề”, một mâu thuẫn cần phải giải quyết Do đó,
tư duy hướng con người vào việc tìm kiếm cái mới chưa từng được biết trước đây, cái có thể được xem là giải pháp cho việc giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn
Tưởng tượng: Tưởng tượng cũng được xếp vào quá trình nhận thức lý tính cùng với tư duy Tưởng tượng là quá trình phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm cá nhân, kinh nghiệm xã hội bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh, những biểu tượng đã có
Tưởng tượng có phần giống tư duy là phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp, khái quát, cho ra những cái mới Tuy nhiên, nếu tư duy giúp
Trang 23con người nhận thức được bản chất, mối liên hệ có tính quy luật của sự vật,
hiện tượng thì tưởng tượng cho ra sản phẩm là các biểu tượng có tính chắp ghép, kết hợp, điển hình hóa, loại suy, nhấn mạnh với những thuộc tính có khi không phải là bản chất và không phải là quy luật
Quan niệm thứ hai, theo Benjamin S.Bloom chia lĩnh vực nhận thức thành 6 mức độ hoạt động tri thức, theo một tiến trình liên tục từ dễ đến khó,
mỗi mức đặc trưng cho một hoạt động trí tuệ [3, tr.37]
Mức 1 Sự hiểu biết: chủ yếu là sự ghi nhớ và tái hiện được các sự kiện, khái niệm cơ bản và các câu trả lời, cũng bao gồm việc có thể xác định, miêu
tả, gọi tên, phân loại, nhận biết một sự vật, hiện tượng, khái niệm, hoặc mô
phỏng, bắt chước một thao thác
Mức 2 Sự lĩnh hội: hiểu nghĩa, có thể tóm tắt nội dung hoặc diễn giải khái niệm, có thể biến đổi tương đương, hoặc chứng minh sự hiểu biết về các
sự kiện và ý tưởng bằng cách so sánh, đối chiếu, có thể nêu ví dụ minh họa
Mức 3 Sự áp dụng: có thể sử dụng thông tin hay khái niệm trong tình
huống mới, biết thiết lập, thực hiện, tạo dựng, mô phỏng thao tác và các quy
tắc theo một cách khác, có thể giải quyết vấn đề bằng cách áp dụng kiến thức
đã thu được, dự đoán các sự kiện tiếp theo dựa trên dữ kiện đã có
Mức 4 Sự phân tích: biết phân chia thông tin, khái niệm thành những
bộ phận, nhận ra mối quan hệ giữa những bộ phận ấy; biết xem xét động cơ
hoặc nguyên nhân của sự vật, hiện tượng, biết suy luận và tìm bằng chứng cho những nội dung khái quát
Mức 5 Sự tổng hợp: biết chắp ghép các thành phần với nhau, khái quát hóa để tạo nên nội dung mới, biết tái cấu trúc để tạo thành tổng thể mới, biết
kết hợp các thông tin với nhau theo những cách khác nhau hoặc đề xuất các
giải pháp thay thế
Trang 24Mức 6 Sự đánh giá: có thể nhận xét, nhận định, phê bình ý nghĩa hoặc giá trị của sự vật, hiện tượng dựa trên sự xem xét lược sử trình tự vấn đề, có
thể lượng định các dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ một luận điểm
Hai mức đầu là nhận thức ở mức thấp Bốn mức sau là nhận thức ở
mức cao vì chúng đề cập đến các thao tác tư duy phức tạp hơn, huy động ba thao tác phân tích, tổng hợp, đánh giá
Thành công của hệ phân loại này đã giúp nhiều nhà sư phạm tìm thấy các nấc thang đánh giá nhận thức dễ sử dụng, cho phép họ đào sâu các mục tiêu giảng dạy, phù hợp với nhận thức của người học với mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong công tác đào tạo từ nấc thang nhận thức
thấp lên nhận thức cao đều cần được coi trọng, cần vượt qua từng bậc thang
để đạt tới bậc thang cao hơn Hạn chế trong cách phân loại của Benjamin S.Bloom là ba mức sau: mức phân tích, mức tổng hợp và mức đánh giá rất khó tách bạch trong nhận thức, do vậy rất khó đo đâu là phân tích, tổng hợp, đánh giá
Từ cách phân chia của Benjamin S.Bloom xuất hiện quan niệm thứ ba chia các mức độ nhận thức thành ba mức độ: nhận biết, thông hiểu và vận
dụng [12, tr.178]
Mức độ nhận biết: tức là có thể nhận lại, thậm chí nhắc lại các tài liệu, các tri thức theo trình tự nhất định đã được tiếp nhận Ở mức độ này con người hiểu được hình thức của tài liệu chứ chưa hiểu được nội dung tài liệu
hoặc hiểu một cách hời hợt Mức nhận biết giúp con người phân biệt được sự
vật, hiện tượng trên cơ sở những dấu hiệu bề ngoài Nhận biết được biểu hiện qua các dấu hiệu: nhận ra vấn đề, nhận biết được hình thức bên ngoài của các khái niệm, nhận biết được một số biểu hiện cụ thể, gọi tên được sự vật và hiện tượng, nhớ lại sự vật, hiện tượng
Trang 25Mức độ thông hiểu: tức là nắm được nội dung tài liệu, có thể trình bày được nội dung của tài liệu nhưng chưa vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể Thông
hiểu có các mức độ: hiểu một cách chung chung, hiểu quá rộng hoặc quá hẹp,
nắm được các biểu hiện qua lại của khái niệm
Mức độ vận dụng: là khả năng vận dụng tài liệu đã tiếp thu vào hoàn
cảnh điều kiện cụ thể Để giải quyết được những vấn đề, những tình huống
phức tạp Vận dụng là tiêu chí quan trọng nhất trong nhận thức Vận dụng có nhiều mức độ: mức độ trừu tượng và cụ thể hóa Vận dụng trở thành tiêu chí
để xem xét con người hiểu hay không hiểu vấn đề đó Vận dụng có những
biểu hiện sau: vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn; tổng hợp
lại tạo ra cái khác; phê phán, bình luận, đánh giá; điều khiển hành vi của con người
Các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng của nhận thức có liên quan
chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại với nhau Nhận thức không đơn thuần là quá trình tiếp nhận đơn giản những tri thức đã có mà là quá trình hiểu và tư duy tích cực để con người lựa chọn, vận dụng, hiểu biết, giải quyết các vấn đề
thực tiễn đặt ra, biến những tri thức kinh nghiệm thành những tri thức cho bản thân và xã hội
Trong đề tài này, chúng tôi khảo sát mức độ nhận thức của sinh viên
dựa theo quan điểm thứ ba để đánh giá nhận thức của sinh viên về giá trị sống
với ba mức độ sau đây:
Mức độ nhận biết: sinh viên phải nhận ra định nghĩa về giá trị sống
Mức độ thông hiểu: sinh viên gọi tên được giá trị sống thể hiện trong tình huống cụ thể
Mức độ vận dụng: sinh viên vận dụng để giải quyết tình huống thực tế phù hợp với các giá trị
Trang 26Đây là một quan niệm phù hợp với tiến trình nhận thức của người học
đi từ nhận biết đến thông hiểu và cuối cùng là vận dụng Mặt khác, đối với chúng tôi, việc lựa chọn quan điểm này còn thể hiện sự phù hợp với nội dung
của đề tài
1.2.2 Giá trị và giá trị sống theo UNESCO
1.2.2.1 Giá tr ị
a Khái ni ệm giá trị
Khái niệm giá trị được nhiều ngành khoa học nghiên cứu như Triết học,
Xã hội học, Tâm lý học, Văn học… dưới nhiều bình diện, khía cạnh khác nhau tùy theo sự hình thành, tồn tại, nội dung, cấu trúc cũng như ý nghĩa của
nó đối với cá nhân và xã hội
Dưới góc độ Triết học, có nhiều quan điểm khác nhau Ở đây người
viết đề cập theo quan điểm của Triết học Mác-Lênin Giá trị là những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người Nói đến quan điểm giá trị bao giờ cũng nói đến mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể Các giá trị đều được nhận thức và kiểm nghiệm bằng
Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của nhân cách, cụ thể ở một số chuyên ngành sau [21]:
Trang 27Tâm lý học hoạt động xác định: Giá trị là cái được chủ thể đánh giá,
thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng đó Các nhà tâm lý
học nghiên cứu khái niệm giá trị nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động
của con người và dự báo phát triển nhân cách Trong đó chuyên ngành tâm lý
học nhân cách đề cập đến giá trị như là một bộ phận cấu thành nên tâm lý, nhân cách con người
Tâm lý học xã hội nghiên cứu giá trị trong cộng đồng, đồng thời giải thích vai trò của chúng trong sự hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như: tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị hiếu, tập quán, lối sống của các nhóm xã hội này
Giá trị theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu đó là cái đã làm cho
một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận
Có thể kể đến một số quan niệm phổ biến về giá trị của các tác giả nước ngoài như:
Tác giả J.H.Fichter (Hoa Kỳ) cho rằng: “Tất cả cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân và xã hội đều có một giá trị” [14, tr.8]
Tác giả V.P.Tugarinov (Liên Xô) lại cho rằng: “giá trị là những khách
thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (lợi ích, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu
cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách
là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng” [28, tr.56]
L.Dramaliev (Bungari) coi giá trị là: “một thành tố khách quan của xã
hội Nó là một loại hiện tượng xã hội đặc biệt (một vật, một đối tượng, một liên hệ, một ý niệm), thỏa mãn được những nhu cầu nhất định của con người
Trang 28Giá trị là một phẩm chất khách quan, một đặc tính, một khả năng thỏa mãn
những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình quan hệ qua lại có tính chất
xã hội giữa người với người trong hành vi thực tế của họ Với tính cách là
một khách thể xã hội, giá trị không thể tách rời khỏi những nhu cầu, những mong muốn, thái độ, những quan điểm và những hành động của con người
với tư cách là một chủ thể của các quan hệ xã hội” [28, tr.57]
Tác giả Makiguchi cho rằng “giá trị của sự vật là cái được chủ thể thừa
nhận, trên cơ sở mối quan hệ của sự vật đối với chúng ta là có tầm quan trọng trong cuộc sống” [22, tr.108]
Theo tài liệu “Giáo dục giá trị” (Bộ văn hóa Thể thao Philippin), khái
niệm giá trị có thể hiểu: “Một vật có giá trị khi nó được thừa nhận là có ích và mong muốn có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của
con người Không chỉ có hàng hóa vật chất mà cả lý tưởng và những khái
niệm đều có giá trị như: sự thật, công lý, lương thiện” [14, tr.8]
Tác giả Nguyễn Đức Thạc cho rằng: giá trị là tính có nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tượng nào đó với các chủ thể Chủ thể ở đây
có thể là một nhóm người, một giai tầng, một dân tộc hoặc một thời đại [20, tr.49]
Gần với quan niệm của tác giả Nguyễn Đức Thạc là quan niệm của tác
giả Phạm Minh Hạc “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, đáng quý, có ích của đối tượng với chủ thể” [7, tr.301]
Tác giả Trần Trọng Thủy khi nghiên cứu về “Giá trị, định hướng giá trị
và nhân cách” cũng xem giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình, biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng, các chuẩn mực, mục đích và lý tưởng, các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người [23, tr.11]
Trang 29Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, giá trị của một sự vật hay hiện tượng đều được thừa nhận một cách khách quan dựa vào mối quan hệ giữa chủ thể
và nhu cầu đối với sự vật hiện tượng đó [26, tr.64]
Từ những phân tích ở trên, theo người nghiên cứu, giá trị có thể được
hiểu là những cái cần, có ích, có ý nghĩa của sự vật hiện tượng, gắn liền với nhu cầu của cá nhân con người hay nhóm người
Giá trị có chung một số đặc điểm như sau:
- Mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan
hệ với sự vật đó
- Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, với phí tổn cần thiết để
tạo ra cái lợi đó
- Mang tính khách quan - nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của giá
trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người
- Được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, phổ biến là hiểu theo hai góc độ: vật chất và tinh thần Giá trị vật chất là giá trị đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con người khoái cảm,
hứng thú và sảng khoái
- Mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của chủ
thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị
- Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự biến động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và cộng đồng
b Phân lo ại giá trị
Tùy thuộc vào mục đích tiếp cận mà các tác giả nêu lên các căn cứ phân loại khác nhau Tuy nhiên, tóm tắt lại các tác giả phân chia giá trị theo
những cách như sau:
Trang 30Cách phân chia nhiều người biết nhất là căn cứ trên sự thỏa mãn nhu
cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần của con người, giá trị được chia thành giá
trị vật chất và giá trị tinh thần Giá trị vật chất như giá trị sử dụng, giá trị kinh
tế Giá trị tinh thần như giá trị khoa học, chính trị, đạo đức, pháp luật, lối
sống, tôn giáo…[21]
Dựa vào các giá trị chi phối hệ thống hành vi của con người, giá trị chủ
yếu gồm giá trị tồn tại sinh học, các giá trị tính cách, các giá trị văn hóa và các giá trị xã hội [26, tr.58]
Căn cứ trên lĩnh vực hoạt động của con người, tác giả Huỳnh Khái Vinh chia thành các nhóm là giá trị nhân văn, giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, giá trị chính trị, pháp luật, giá trị kinh tế [30, tr.60]
Mỗi cách phân loại giá trị thể hiện mỗi khía cạnh khác nhau và không
có cách phân loại nào thể hiện đầy đủ mọi phương diện giá trị vốn dĩ rất phong phú trong cuộc sống Điều quan trọng là khi xem xét các giá trị cần xác định chúng trong một hệ thống – cấu trúc, đặt chúng theo các thứ bậc và chú ý tính đa dạng trong các biểu hiện sinh động của từng giá trị
Trong đề tài này chúng tôi phân loại giá trị dựa trên mức độ nhu cầu
của con người, theo đó, giá trị sống là một trong những nhóm giá trị tinh thần quan trọng, chi phối hành vi và lối sống của con người
c H ệ giá trị, thang giá trị, chuẩn giá trị
* H ệ giá trị
Hệ giá trị (hay còn gọi là hệ thống giá trị) là một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành một
tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong
việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị Các hệ giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo
những thứ bậc phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã hội trong
Trang 31mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể Do vậy, hệ thống giá trị luôn mang tính lịch sử xã
hội và chịu sự chế ước bởi lịch sử - xã hội Trong hệ thống giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và có thể cả những nhân tố trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị có tính nhân
loại, tính dân tộc, tính cộng đồng, tính giai cấp, tính lý tưởng và tính hiện
thực
* Thang giá tr ị
Thang giá trị (thước đo giá trị) là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá
trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định
Thang giá trị biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển, biến đổi của xã
hội loài người, cộng đồng và từng cá nhân Trong quá trình biến đổi đó, thang giá trị của xã hội, của cộng đồng và của nhóm chuyển thành thang giá trị của
từng người, cứ thế qua từng giai đoạn lịch sử của con người
Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt động Hoạt động được tiến hành theo những thang giá trị cụ thể sẽ tạo nên
những giá trị nhất định, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người Chính trong hoạt động tạo ra những giá trị lại góp phần khẳng định, củng cố, phát huy, bổ sung, hoàn thiện hoặc hay đổi thang giá trị
* Chu ẩn giá trị
Chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người Khi xây dựng các giá trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, chính trị, đạo đức, xã hội, hay thẩm mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị Mọi hoạt động của xã
hội, của nhóm cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định hướng cho các hoạt động và hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời tạo ra những giá trị tương ứng đảm
bảo sự tồn tại của con người
Trang 321.2.2.2 Giá tr ị sống
a Khái ni ệm giá trị sống
Mặc dù khái niệm giá trị sống mới được nhắc đến những năm gần đây, thật ra, từ xưa tới nay, loài người luôn quan tâm, đề cao giá trị sống và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau
Trước tiên là quan niệm về Đức trong tư tưởng Nho giáo Quan niệm
về “đức” của Khổng Tử trong “Luận ngữ” rất sâu sắc và phong phú Đức không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đôi với việc làm Khổng Tử quan niệm đức với tài phải đi đôi với nhau, nhưng đức phải là gốc Lòng tin mãnh liệt vào thiện, đức của con người chính là cơ sở của đường lối đức trị Khổng Tử Những quan niệm đó thể hiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, phát huy thiện đức của con người Quan niệm
về đức của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa đối với xã hội cổ đại đương thời
mà còn có ý nghĩa đối với xã hội ta ngày nay [15]
Gần với tư tưởng Nho giáo là tư tưởng nhân văn của đạo Phật: con người sống trên đời quý ở tấm lòng, do đó cần phải tu tâm dưỡng tính Thực chất là đánh giá cao giá trị sống hơn là kỹ năng sống, bởi không có giá trị sống đúng đắn thì con người có thể dùng kỹ năng sống để làm điều ác Tu tập cái tâm chính là tạo dựng cho bản nhân những giá trị sống chân chính [15]
Cũng trên tư tưởng lấy đức làm gốc nhưng phải coi trọng cả đức và tài
là tư tưởng của Hồ Chí Minh "Có tài phải có đức, có tài mà không có đức -
tham ô, hủ hoá thì có hại cho đất nước Có đức mà không có tài chẳng làm được gì, thì không giúp ích được cho ai [15]
Kế thừa, giữ gìn và phát huy các quan điểm trên, các nhà giáo dục đương đại Việt Nam đã đưa ra một số quan điểm khác nhau về giá trị sống
Tác giả Phạm Minh Hạc gọi giá trị sống là những “Giá trị bản thân” Ông coi đây là một nét mới của “tư duy” trong thời kỳ đất nước phát triển với
Trang 33nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [9, tr.7]
Tiếp nối ý tưởng đó, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Phạm trù giá trị
sống được tạo nên bởi kỹ năng sống thành thạo trên nền tảng quan điểm sống đúng đắn Đất nước nào xây dựng và giúp cho thế hệ trẻ thực hiện được hệ giá
trị bản thân đúng đắn và phù hợp, thì đất nước đó sẽ có các giờ học tốt, nhà trường tốt, hệ thống giáo dục và nên giáo dục tiên tiến không lạc hậu, lạc điệu
với thời đại” [2, tr.73] Nếu các giá trị sống được phát triển bền vững thì nhân cách cũng trưởng thành vững vàng, có bản lĩnh, bản sắc riêng
Theo tác giả Lục Thị Nga “Giá trị sống là tất cả những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi con người, khiến mỗi con người mong muốn lĩnh hội và thể hiện ra để cuộc sống
của mình trở nên tốt đẹp hơn và góp phần cải thiện cuộc sống chung”
Tác giả Nguyễn Công Khanh cho rằng: “Giá trị sống là những thứ được
cá nhân nhận thức là rất quan trọng, rất cần thiết, rất có ý nghĩa, luôn mong đợi, chúng có khả năng chi phối thái độ, xúc cảm, tình cảm, hành vi của một
cá nhân trong cuộc sống hàng ngày” Không chỉ tài sản, mà cả tri thức, sức
khỏe, tình yêu thương, sự trung thực, danh dự… cũng được coi là một giá trị
sống của cá nhân [11, tr.93]
Theo Chương trình Giáo dục các giá trị sống của UNESCO thì giá trị
sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”, “giá trị của cuộc sống”) là “những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được và vì
thế giá trị sống là cơ sở của hành động sống, nó chi phối hành vi hướng thiện
của con người” [5, tr.2]
Tóm lại, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu ngắn gọn rằng: giá
tr ị sống là những giá trị được cá nhân nhận thức là quan trọng, cần thiết, có
ý nghĩa đối với bản thân; những giá trị này có khả năng chi phối thái độ, tình
Trang 34cảm, hành vi của người đó trong cuộc sống và được xã hội chấp nhận
b Phân lo ại
Theo cách phân loại của tác giả Nguyễn Công Khanh, các giá trị sống
cần được nuôi dưỡng và giáo dục cho tuổi trẻ hiện nay là tình yêu thương, trung thực, biết quan tâm đến người khác, ham học hỏi, siêng năng, sống tôn
trọng pháp luật, yêu hòa bình, biết nhận lỗi và biết tha thứ, sống chủ động và
tự tin, chấp nhận thử thách và luôn vượt khó…[11, tr.94]
Tác giả Phạm Minh Hạc khi bàn về giá trị sống và giáo dục giá trị sống
có nêu ra 10 giá trị sống cơ bản cần hình thành cho con người Việt Nam, nhất
là thanh, thiếu niên [9]:
- Lòng yêu nước và tinh thần
Bên cạnh các giá trị mang tính bản sắc, đặc trưng cho mỗi dân tộc, vùng miền, có những giá trị mang tính nhân loại, không phân biệt màu da,
quốc tịch, vị trí địa lý… mọi con người đều cùng hướng về những giá trị đó
Để nghiên cứu xem những giá trị phổ quát là những giá trị nào, năm 1995,
Trang 35một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên hơn 100 nước và 186 thành viên của Liên hợp quốc đã chọn ra và thông qua 12 giá trị cốt lõi nhất mang tính phổ quát toàn cầu Gồm có: hòa bình, tôn trọng, yêu thương, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, trách nhiệm, giản dị, khoan dung, hợp tác, tự do, đoàn kết Hiện nay, chương trình Giáo dục các giá trị sống của UNESCO cũng chọn và dạy theo cách phân loại 12 giá trị này 12 giá trị sống phổ quát
chủ yếu hướng vào những giá trị tinh thần mà không đề cập đến các giá trị vật
chất như tiền bạc, giàu sang… Trong đó, hai giá trị sống chung là hòa bình, tự do; sáu giá trị phẩm chất nhân cách bản thân là khoan dung, khiêm tốn, giản
dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc và bốn giá trị quan hệ liên nhân cách
với nhóm, với cộng đồng là tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm Các giá
trị cốt lõi này đều đã có trong mỗi con người bất kể sự khác nhau về quốc
tịch, màu da và văn hóa Khi mọi người cùng vươn tới những giá trị đó, họ sẽ xích lại gần nhau, chia sẻ, thông cảm với nhau và cuộc sống của tất cả mọi người trên trái đất đều thống nhất với nhau trong thế giới hòa bình, tôn trọng,
hạnh phúc [5]
Trong đề tài này người nghiên cứu lựa chọn cách phân chia cuối cùng
để đi sâu tìm hiểu nhận thức của sinh viên về 12 giá trị đó Việc sử dụng
những giá trị phổ quát làm thang giá trị chủ đạo sẽ giảm được sự phức tạp trong quá trình định chuẩn và tránh được những hậu quả do chọn phải những giá trị lạc hậu làm chuẩn để nghiên cứu
Nội dung tóm tắt của 12 giá trị như sau:
a Hòa bình
Nói đến hòa bình, chúng ta nghĩ ngay đến từ trái nghĩa là chiến tranh Điều đó có nghĩa là hòa bình tức là không có chiến tranh, không có súng đạn
và không có chết chóc, thương tổn Hòa bình có một số biểu hiện sau đây:
+ Hòa bình là khi chúng ta đang sống hòa thuận và không có sự đấu đá
Trang 36lẫn nhau Nếu mỗi người trong thế giới được yên ổn, đó sẽ là một thế giới hòa bình
+ Hòa bình còn có nghĩa là đang sống với sự yên bình của thế giới nội tâm Hòa bình là tình trạng bình tĩnh và thư thái của trí óc
Hòa bình bắt đầu từ mỗi người chúng ta Thông qua sự thinh lặng và sự suy nghĩ đúng đắn về ý nghĩa của hòa bình, chúng ta có thể tìm được nhiều cách mới mẻ và sáng tạo để tạo thuận lợi cho sự hiểu biết về các mối quan hệ
và sự hợp tác với tất cả mọi người
b Tôn tr ọng
Tôn trọng được thể hiện hai khía cạnh, thứ nhất tôn trọng có nghĩa là có lòng tự trọng - nhận biết được những phẩm chất của bản thân, biết cách gìn
giữ, thể hiện và mong muốn sự đánh giá, nhìn nhận của người khác đối với
bản thân mình Thứ hai, tôn trọng thể hiện trong việc nhận biết và coi trọng các giá trị của người khác, chấp nhận sự khác biệt giữa bản thân và người khác Có sự tôn trọng con người sẽ hình thành sự tin tưởng lẫn nhau
Khi chúng ta tôn trọng chính mình, thì dễ dàng tôn trọng người khác
Những ai biết tôn trọng người khác sẽ nhận đuợc sự tôn trọng Mỗi người đều
có giá trị và khi thừa nhận giá trị của người khác thì cũng nhận được sự tôn
trọng của người khác đối với mình
Tuy nhiên, nếu sự tôn trọng càng được đo lường dựa vào những gì thuộc bề ngoài thì mong muốn được người khác thừa nhận càng lớn Mong
muốn (được thừa nhận) càng lớn thì người ta càng dễ là nạn nhân và mất sự tôn trọng bản thân
c Yêu thương
Albert Enstein nói: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải nhân rộng ra xung quanh ta lòng trắc ẩn và nó bao trùm tất cả cuộc sống của con người và thiên nhiên Yêu người khác nghĩa là bản thân chúng ta muốn điều tốt cho họ Yêu
Trang 37là biết lắng nghe; yêu là chia sẻ” Khi yêu thương trọn vẹn, giận dữ sẽ tránh
xa Tình yêu là giá trị làm cho mối quan hệ giữa chúng ta trở nên tốt hơn Lev Tolstoi viết: “Luật của cuộc sống ở trong sự tử tế của tâm hồn chúng ta Nếu con tim của chúng ta trống rỗng thì không có luật nào hay tổ chức nào có thể
lấp đầy.”
Giá trị yêu thương có vai trò như là một chất xúc tác tạo nên sự thay đổi, phát triển và thành đạt Yêu thương sẽ làm cho con người trở nên tốt hơn,
thế giới sẽ tốt đẹp hơn Yêu thương mang tính phổ quát không có biên giới
hoặc sự thiên vị, tình yêu lan tỏa đến tất cả mọi người
Như vậy, giá trị yêu thương có thể bao gồm những biểu hiện sau: nhìn
nhận mỗi người theo cách tốt đẹp hơn; tha thứ với những lỗi lầm của người xung quanh; sự quan tâm, hiểu biết đối với người khác; không có những hành
vi ghen tị cũng như kiểm soát người khác
Nguyên nhân của việc không khoan dung là sự sợ hãi và thiếu hiểu biết
Hạt giống của khoan dung là tình yêu thương; nước để nó nảy mầm là lòng
trắc ẩn và sự quan tâm, chăm sóc Khi thiếu đi tình yêu thương sẽ thiếu đi lòng khoan dung Những ai biết đánh giá điều tốt trong mọi người và trong
những tình huống là những người có lòng khoan dung
Trang 38e Trung thực
Trung thực có nghĩa là luôn tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lí, lẽ phải;
sống ngay thẳng, thật thà và dũng cảm nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm
Trung thực là sự thật Trung thực có nghĩa là không có sự mâu thuẫn và trái ngược nhau trong suy nghĩ, lời nói hay hành động Trung thực là sự nhận
thức về những gì là đúng đắn và thích hợp trong vai trò, hành vi và các mối quan hệ của một người
Khi trung thực ta cảm thấy tâm hồn trong sáng và nhẹ nhàng Một người trung thực và chân chính thì xứng đáng được tin cậy
Trung thực thể hiện trong tư tưởng, lời nói và hành động thì đem lại sự hòa thuận Trung thực là sử dụng tốt những gì được ủy thác cho mỗi con người Trung thực là cách xử sự tốt nhất Đó là một mối quan hệ sâu sắc giữa
sự lương thiện và tình bạn
f Khiêm t ốn
Khiêm tốn là không khoe khoang, phô trương Khiêm tốn gắn liền với lòng tự trọng Khi quân bình được giữa tự trọng và khiêm tốn, con người có được sức mạnh tâm hồn để tự điều khiển và kiểm soát chính mình Khiêm tốn cho phép mình sống với phẩm giá và lòng chính trực, không cần đến những
bằng chứng của một thể hiện bên ngoài Khiêm tốn làm cho một người trở nên vĩ đại trong trái tim của nhiều người Khiêm tốn tạo nên một trí óc cởi
mở Bằng khiêm tốn chúng ta có thể nhận ra sức mạnh của bản thân và khả năng của người khác Khiêm tốn bao gồm các biểu hiện sau đây:
+ Khiêm tốn thệ hiện trong việc nhận biết khả năng, uy thế của bản thân nhưng không khoe khoang, phô trương
+ Một người khiêm tốn tìm được niềm vui khi lắng nghe người khác và
biết chấp nhận người khác
+ Khiêm tốn còn thể hiện trong việc nói năng và làm việc nhẹ nhàng,
Trang 39đơn giản mà đem lại hiệu quả
+ Khiêm tốn cho phép một sự nhẹ nhàng trong việc đối mặt với các thách thức
g H ợp tác
Hợp tác là làm việc cùng nhau với mục tiêu chung trên nguyên tắc tôn
trọng và trợ giúp qua lại lẫn nhau Như vậy, hợp tác xuất hiện khi mọi người
biết làm việc chung với nhau và cùng hướng về một mục tiêu chung Hợp tác
phải được chỉ đạo bởi nguyên tắc về sự tôn trọng lẫn nhau
Một người biết hợp tác sẽ nhận được sự hợp tác Khi có yêu thương thì
có sự hợp tác Khi nhận thức được những giá trị của cuộc sống, ta có khả năng tạo ra sự hợp tác Sự can đảm, sự quan tâm, sự chăm sóc, và sự đóng góp là sự chuẩn bị đầy đủ cho việc tạo ra sự hợp tác
h H ạnh phúc
Hạnh phúc là sự hài lòng bên trong, bình an của tâm hồn khiến con người không có những thay đổi đột ngột hay bạo lực Khi hài lòng với chính mình, con người sẽ cảm nhận được hạnh phúc Như vậy, hạnh phúc thể hiện qua:
+ Sự hài lòng trong tâm hồn của con người
Trang 40+ Nói những lời tốt đẹp về mọi người và mang tính xây dựng đem lại
muốn Trách nhiệm bao gồm hai lĩnh vực: trách nhiệm đối với bản thân và đối
với các công việc cộng tác chung với người khác Trách nhiệm bao gồm các
biểu hiện sau:
+ Nhận thức được thế nào là phải, là đẹp, là đúng, nhận ra được điều gì tốt
để góp phần trong công việc
+ Thực hiện tốt nhất phần đóng góp của mình vào công việc
+ Sử dụng toàn bộ nguồn lực đang có để tạo ra một sự thay đổi tích cực + Lãnh trách nhiệm và sửa chữa cho những sai sót của bản thân trong các công việc tham gia
j Gi ản dị
Giản dị là sống một cách tự nhiên, không giả tạo Khi chúng ta quan sát thiên nhiên sẽ biết giản dị là như thế nào Giản dị là điều đầu tiên cho sự phát triển bền vững
Giản dị là đẹp Giản dị là thư giãn Giản dị là chấp nhận hiện tại và không làm mọi điều trở nên phức tạp Người giản dị thích suy nghĩ và lập
luận rõ ràng Giản dị dạy chúng ta biết tiết kiệm - biết thế nào là sử dụng tài nguyên, tiềm năng một cách khôn ngoan; biết hoạch định đường hướng cho tương lai Giản dị giúp con người kiên nhẫn, làm nảy sinh tình bạn và khả năng nâng đỡ
Giản dị là hiểu rõ giá trị của những vật chất dù nhỏ bé nhất trong cuộc