Nắm bắt được xu thế đó, các nhà khoa học cũng như các phòng nghiên cứu của các trường đại học trên khắp cả nước, với sự hỗ trợ của chính phủ, đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các ứng dụng của
Trang 1GVHD: TS Nguyễn Anh Tiến SVTH: Nguyễn Thị Kim Yến
T hành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2013
Trang 2NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Trang 3
L ỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Anh
Tiến - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, động viên và tạo mọi điều
kiện tốt nhất để em hoàn thành bài khóa luận này
Suốt 4 năm được học tập tại khoa Hóa- Trường Đại Học Sư Phạm thành phố
Hồ Chí Minh, em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm bổ ích để trang bị cho con đường tương lai phía trước của mình Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong và ngoài khoa, những người luôn ân cần, nhiệt huyết chỉ bảo và
hỗ trợ chúng em rất nhiều trong quá trình học tập
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, đặc biệt là bạn Liêu Diệp Hân và Nguyễn Thị Ngọc Trinh Nếu như gia đình là điểm tựa luôn động viên, khuyến khích mỗi khi em gặp khó khăn thì các bạn là những người luôn bên cạnh giúp đỡ, trao đổi kiến thức cùng em, đưa ra những lời khuyên hữu ích và kịp thời
Vì thời gian và khả năng có hạn nên trong bài khóa luận này không tránh được những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của thầy
cô và các bạn để bài khóa luận trở nên hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thành ph ố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2013
SVTH Nguy ễn Thị Kim Yến
Trang 4M ỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU 5
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 9
1.1 Công nghệ nano và vật liệu nano 9
1.1.1 Khái niệm về công nghệ nano và vật liệu nano 9
1.1.2 Các phương pháp tổng hợp vật liệu nano oxit 10
1.1.3 Ứng dụng của vật liệu nano 14
1.2 Tổng quan tính chất các nguyên tố 18
1.2.1 NIKEN 18
1.2.2 SẮT 19
1.3 Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc và tính chất của bột nano 24
1.3.1 Phương pháp phân tích nhiệt vi sai (DTA) và khối lượng nhiệt (TGA) 24
1.3.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) 25
1.3.3 Kính hiển vi điện tử quét (SEM) 27
1.3.4 Phương pháp đo độ từ hóa 28
1.4 Cấu trúc tinh thể ferrite spinel dạng AB2O4 30
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM - KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 32
2.1 Dụng cụ, thiết bị, hóa chất 32
2.1.1 Dụng cụ và thiết bị 32
Trang 52.1.2 Hóa chất 322.2 Tổng hợp vật liệu nano NiFe2O4 bằng phương pháp lòng trắng trứng 322.3 Tổng hợp vật liệu nano NiFe2O4 bằng phương pháp đồng kết tủa 332.4 Cấu trúc và tính chất của vật liệu nano NiFe2O4 tổng hợp bằng phương pháp lòng trắng trứng 35
2.5 Cấu trúc và tính chất của vật liệu nano NiFe2O4 tổng hợp bằng phương pháp đồng kết tủa 42
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 50TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
Danh m ục hình vẽ
Hình 1 Phân lo ại theo cấu trúc vật liệu nano 9
Hình 2 Thi ết bị lọc ứng dụng công nghệ nano 17
Hình 3 Kim lo ại Niken 17
Hình 4 Tinh th ể niken (II) oxit 19
Hình 5 Kim lo ại sắt 19
Hình 6 C ấu trúc của ε-Fe2 O 3 21
Hình 7 Nhi ễu xạ tia X 25
Hình 8 Kính hi ển vi điện tử quét 27
Hình 9 Đường cong từ trễ của vật liệu sắt từ 28
Hình 10 Thi ết bị đo từ tính MICROSENE EV11 30
Hình 11 C ấu trúc tinh thể ferrite spinel 30
Hình 12 Sơ đồ mô tả quy trình tổng hợp vật liệu nano NiFe 2 O 4 b ằng phương pháp lòng tr ắng trứng 33
Hình 13 Sơ đồ mô tả quy trình tổng hợp vật liệu nano NiFe 2 O 4 b ằng phương pháp đồng kết tủa 34
Hình 14 Gi ản đồ phân tích nhiệt TGA/DTA của mẫu bột tổng hợp bằng phương pháp lòng tr ắng trứng 36
Hình 15 Gi ản đồ XRD của mẫu bột tổng hợp bằng phương pháp lòng trắng tr ứng, sau khi nung ở 550 0 C trong 3 gi ờ 37
Hình 16 Gi ản đồ XRD của mẫu bột tổng hợp bằng phương pháp lòng trắng tr ứng, sau khi nung ở 650 0 C trong 3 gi ờ 38
Hình 17 Gi ản đồ XRD của mẫu bột tổng hợp bằng phương pháp lòng trắng tr ứng, sau khi nung ở 750 0 C trong 3 gi ờ 38
Trang 7Hình 18 Ph ổ XRD của bột tổng hợp bằng lòng trắng trứng sau khi nung ở các nhi ệt độ khác nhau trong 3 giờ: a - 550 0
Hình 29 Đồ thị đường cong từ trễ của mẫu bột NiFe 2 O 4 t ổng hợp bằng 2
phương pháp nung cùng 1 nhiệt độ: 650 0 C trong 3 gi ờ 48
Danh sách b ảng biểu
B ảng 1 Các đặc trưng từ tính của mẫu bột NiFe 2 O 4 t ổng hợp bằng phương pháp lòng tr ắng trứng nung ở 2 nhiệt độ: 650 0 C, 750 0 C 41
Trang 8B ảng 2 Các đặc trưng từ tính của mẫu bột NiFe 2 O 4 t ổng hợp bằng phương pháp đồng kết tủa nung ở 3 nhiệt độ: 650 0
C, 750 0 C, 850 0 C 46
B ảng 3 Các đặc trưng từ tính của mẫu bột NiFe 2 O 4 t ổng hợp bằng 2 phương pháp nung ở nhiệt độ 650 0 C trong 3 gi ờ 48
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ nano là một bước tiến bộ vượt bậc trong lịch sử khoa học của nhân loại Công nghệ tiên tiến này đã góp phần mở ra những cơ hội mới thúc đẩy
sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống từ y học, hóa học, bảo
vệ môi trường đến sự phát triển về kinh tế và xa hơn là nâng cao chất lượng cuộc
sống con người Tuy nhiên, chính bởi khả năng ứng dụng phong phú của mình, công nghệ nano cũng đặt ra những thách thức lớn về khả năng phát triển vũ khí
loại mới với sức tàn phá kinh hoàng Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu và sử dụng đúng đắn những ứng dụng của công nghệ nano để phục vụ những mục đích cao
đẹp cho cuộc sống con người là điều hết sức cần thiết
Tại Việt Nam, tuy công nghệ nano chỉ mới phát triển trong khoảng chục năm trở lại đây, nhưng cũng đã kịp thời có được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp cho nền công nghệ nước nhà Nắm bắt được xu thế đó, các nhà khoa
học cũng như các phòng nghiên cứu của các trường đại học trên khắp cả nước,
với sự hỗ trợ của chính phủ, đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các ứng dụng của công nghệ nano trong các lĩnh vực mang tính ứng dụng cao, như y học hay môi trường,
dựa trên chính những vật liệu nano phổ biến và dễ tổng hợp nhất
Đáp ứng những tiêu chí đã nêu, có một vật liệu nano dễ dàng được tổng
hợp từ các phương pháp đơn giản như đồng kết tủa hay dùng lòng trắng trứng, đồng thời vẫn bảo đảm được các ứng dụng thiết yếu, đó chính là ferrite NiFe2O4
Với những phân tích trên, có thể nhận thấy tính khả thi và tiềm năng ứng
dụng lớn của vật liệu nano NiFe2O4 trong việc giảm trừ các kim loại nặng trong môi trường cũng như sự cần thiết của việc nghiên cứu này đối với thực tiễn ứng
dụng ở Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ
với mong muốn những nghiên cứu của mình sẽ là một phần đóng góp nhỏ nhưng mang lại được những lợi ích nhất định cho cuộc sống
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Công nghệ nano và vật liệu nano [11]
1.1.1 Khái niệm về công nghệ nano và vật liệu nano
Trong khoảng vài thập niên gần đây, khoa học đã xuất hiện một dãy các
từ mới gắn liền với hậu tố “nano” như: cấu trúc nano, công nghệ nano, vật liệu nano, hoá học nano, vật lý nano, cơ học nano, công nghệ sinh học nano, hiệu ứng kích thước nano Người ta đã công bố hàng loạt các bài báo, các công trình khoa
học, các tạp chí và tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo gắn liền với chủ đề công nghệ nano; xuất hiện nhiều trung tâm, viện nghiên cứu, tổ bộ môn, khoa, chuyên ngành về công nghệ nano và vật liệu nano Chữ “nano” gốc Hy Lạp, được gắn
vào trước các đơn vị đo để tạo ra đơn vị ước giảm đi 1 tỷ lần (10-9
) Ví dụ: nanogam = 1 phần tỷ gam, nanomet = 1 phần tỷ mét hay 1nm = 10-9 m
Khoa học nghiên cứu về hạt nano đã và đang được quan tâm do chúng có tính chất vật lý, hoá học và nhiều ứng dụng khác đặc biệt hơn so với khi nghiên
cứu về hạt micro
Công ngh ệ nano là tổ hợp các quá trình chế tạo ra vật liệu, các thiết bị
máy móc và các hệ kỹ thuật mà chức năng của chúng được xác định bởi cấu trúc nano, tức là các đơn vị cấu trúc có kích thước từ 1 đến 100 nm Công nghệ nano
xuất hiện trên cầu nối của một số ngành khoa học (hoá học, vật lý, cơ học, khoa
học vật liệu, sinh học và nhiều lĩnh vực khác của khoa học), ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực hiện đại của khoa học - kỹ thuật và thông qua chúng, nó đi vào đời
sống của chúng ta
V ật liệu nano là vật liệu trong đó ít nhất một chiều có kích thước nano
mét Thông thường vật liệu nano được phân ra thành nhiều loại, phụ thuộc vào
trạng thái, cấu trúc của vật liệu và kích thước của chúng v.v…
- Về trạng thái của vật liệu, người ta phân chia thành ba trạng thái:
rắn, lỏng và khí Vật liệu nano được tập trung nghiên cứu hiện nay chủ yếu là vật
liệu rắn, sau đó mới đến chất lỏng và khí
- Về cấu trúc vật liệu, người ta phân ra thành các loại sau: (hình 1)
Trang 11+ Vật liệu nano không chiều (cả ba chiều đều có kích thước nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử)
Ví d ụ: các hạt nano từ tính sắt oxit (magnetite Fe3O4, maghemite α-Fe2O3)
có thể phá hủy các tế bào ung thư nhờ tác động của từ trường
+ Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều (hai chiều cầm tù)
Ví d ụ: Silicat lớp (phyllosilicat) được kết hợp với các polime để tạo
nanocomposite có các tính chất chịu nhiệt, chống cháy, chịu mài mòn, biến đổi các tính chất điện, quang phụ thuộc vào dạng polime được sử dụng
+ Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, hai chiều tự do
Ví d ụ: Ống nano cacbon được triển khai trong các hệ thống cơ điện nano,
bao gồm các thành phần bộ nhớ cơ học, motor điện cỡ nano
+ Vật liệu nano ba chiều là vật liệu dạng khối được cấu tạo từ các hạt nano tinh thể Vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một
phần của vật liệu có kích thước nm, hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều,
một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau
Hình 1 Phân lo ại theo cấu trúc vật liệu nano
1.1.2 Các phương pháp tổng hợp vật liệu nano oxit
Hiện nay có rất nhiều phương pháp để tổng hợp hạt nano từ, có thể chia thành 3 phương pháp cơ bản:
- Phương pháp Vật lý: nghiền bi, bốc bay nhiệt trong lò ủ, thủy nhiệt, bốc bay nhiệt trong chân không, phản ứng pha rắn, nguội nhanh…
Trang 12- Phương pháp Hóa học: đồng kết tủa, vi nhũ tương, sol-gel, hóa siêu âm…
- Phương pháp Hóa lý: ngưng tụ, điện hóa, điện hóa siêu âm, phản ứng trong ống thép ở nhiệt độ cao…
Như ta đã thấy các phương pháp tổng hợp vật liệu từ nano rất đa dạng, trong phạm vi bài khóa luận của mình, tôi chỉ trình bày một số phương pháp phổ
biến:
1.1.2.1 Phương pháp nghiền bi
Phương pháp nghiền bi là kỹ thuật dựa trên việc nghiền các vật liệu nhờ sự
va đập của các bi thép không gỉ với vật liệu khi được đặt vào buồng kín được quay li tâm với tốc độ rất cao (có thể đạt 650 vòng/ phút đến vài ngàn vòng/ phút) Buồng chứa vật liệu được bao kín Quá trình hợp kim hóa được diễn ra
nhờ sự va đập và nhào trộn khi buồng được quay với tốc độ cao Nhờ quá trình này, vật liệu khối được nghiền nhỏ tới kích thước nano
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, hạt từ có thể phân tán như mong muốn, có thể sử dụng vật liệu từ khác (magie, coban, niken, sắt) với nhiều bazơ khác và chế tạo được vật liệu với khối lượng lớn Việc thay đổi chất hoạt hóa bề mặt và dung môi không ảnh hưởng nhiều tới quá trình chế tạo
Nhược điểm của phương pháp này là tính đồng nhất của các hạt nano không cao vì khó có thể khống chế quá trình hình thành hạt nano Hạt chế tạo theo phương pháp này thường được dùng cho các ứng dụng vật lý
1.1.2.2 Phương pháp âm hóa học
Phương pháp này liên quan đến quá trình tạo bọt trong chất lỏng Sự tạo
bọt được mô tả như sự hình thành, phát triển và vỡ tan của các bọt dưới một áp
suất và nhiệt cao trong một khoảng thời gian rất ngắn để tạo ra các hạt nano
Nhược điểm của phương pháp này là sản phẩm tạo ra thường bị kết tụ lại gây khó khăn trong việc xác định được các đặc tính của hạt và khó kiểm soát được kích thước theo ý muốn
1.1.2.3 Phương pháp sol-gel
Từ Sol là từ đầu của danh từ “solution”, còn từ Gel là từ đầu của
“gelation” Sử dụng phương pháp Sol-gel ta có thể chế tạo ra các hợp chất ở dạng
Trang 13khối, siêu mịn, màng mỏng và sợi Một cách đơn giản nhất, phương pháp này được mô tả với hai loại phản ứng cơ bản là phản ứng thủy phân và polime hóa ngưng tụ Hạt được tạo thành tồn tại ở dạng gel
Phương pháp sol-gel đã được biết đến từ rất lâu và được ứng dụng khá
rộng rãi vì phương pháp này có thể tạo ra những vật liệu có kích thước hạt rất
nhỏ, vật liệu nano
Phương pháp sol-gel được thực hiện theo quy trình sau:
Quá trình tạo sol bao gồm sự hòa tan các ion kim loại hoặc các oxit kim
loại kiềm, các muối kim loại hữu cơ trong dung môi rượu hoặc các muối kim loại
vô cơ trong dung môi nước tạo thành thể huyền phù, sol sẽ hình thành khi các huyền phù trở nên chất keo lỏng Sol sau đó chuyển đổi thành gel thông qua sự ngưng tụ Gel sấy khô sẽ chuyển thành Xerogel, nhằm tách nước và nhiệt phân các chất hữu cơ Giai đoạn tiếp theo là nung xerogel để tạo thành tinh thể bột
Ưu điểm của phương pháp này là có thể sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau, có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện phản ứng, tạo ra các hạt có kích thước tương đối đều, đồng nhất, nhỏ, mịn… Tuy nhiên, phương pháp này còn tồn
tại nhiều hạn chế: do sự khác biệt về tốc độ thủy phân của các chất ban đầu có thể
dẫn đến tính không đồng nhất hóa học, có thể tồn tại các pha tinh thể không mong muốn
1.1.2.4 Phương pháp vi nhũ tương
Vi nhũ tương cũng là một phương pháp khá phổ biến để tạo hạt nano Vi nhũ tương là sự phân tán của chất lỏng trong một chất lỏng ổn định khác bằng màng phân cách của các hoạt tính bề mặt Vi nhũ tương là một chất lỏng không màu, đẳng hướng và ổn định về mặt động lực học Vi nhũ tương được chia làm hai loại: vi nhũ tương nước trong dầu hay dầu trong nước
Trong phương pháp này, các hạt dung dịch nước bị bẫy bởi các phân tử
hoạt hóa bề mặt phân tán trong môi trường dầu liên tục Các hốc hoạt hóa bề mặt
Trang 14tạo ra sự giới hạn về không gian, làm cho sự hình thành và phát triền các hạt nano
bị hạn chế Do đó các hạt nano được tạo thành rất đồng nhất
Tuy nhiên, nồng độ các chất hoạt tính bề mặt đòi hỏi phải cao để tạo ra dung dịch phản ứng nano
1.1.2.5 Phương pháp ngưng tụ
• Phương pháp Cacbonyl
Phương pháp cacbonyl dựa vào sự phân rã của cacbonyl kim loại Cacbonyl kim loại được đặt trong bình chứa, được pha loãng với khí trơ (Nitơ, Argon) và được đun nóng đến nhiệt độ khoảng 2500C Khi đó quá trình rã ngưng
tụ diễn ra và nguyên tử kim loại hình thành nên hạt từ Hạt từ thu được có kích thước từ 2 đến 30 nm phụ thuộc vào nhiệt độ, tỉ số dung môi và chất hoạt động
bề mặt…
• Phương pháp ngưng tụ điện phân
Hạt từ được ngưng tụ điện phân từ dung dịch có nước của muối kim loại được phân tán trong chất lỏng với sự có mặt của chất kích hoạt bề mặt Quá trình được chạy trong buồng điện phân hai tầng với catot quay ở tầng thấp chứa dung
dịch chất điện phân, tầng trên là dung dịch chất kích hoạt bề mặt trong chất lỏng
Chất điện phân sau khi ngưng tụ vào đến bề mặt catot đang quay nhanh, hạt kim
loại rơi vào môi trường phân tán và được phủ bởi một lớp tạo bề mặt Kích thước
của hạt kim loại thu được phụ thuộc vào tốc độ quay catot, nhiệt độ điện phân…
• Phương pháp ngưng tụ chân không
Để chế tạo hạt từ mịn, người ta cho ngưng tụ hơi kim loại được đun nóng
tới nhiệt độ cao trong chân không Quá trình ngưng tụ diễn ra chủ yếu tại thành
của bình chứa luôn được giữ trong chân không, sẽ hình thành nên hạt keo từ Phương pháp này có thể thu được hạt có kích thước rất nhỏ
Trang 15NH4OH, … để tạo kết tủa Sản phẩm kết tủa được lọc rửa sạch bằng nước cất và được làm khô ở nhiệt độ 600
C trong chân không Các hạt được tổng hợp có kích thước từ vài nanomét đến vài chục nanomét Kích thước hạt có thể được kiểm soát thông qua nhiều yếu tố như tỉ lệ vật liệu ban đầu, trạng thái oxy hóa, độ pH dung dịch …
Mặc dù đồng kết tủa là phương pháp đơn giản nhưng khi các hạt nano hình thành chúng kết tụ rất mạnh do nhiều yếu tố như diện tích tiếp xúc trực tiếp nhau tăng, ảnh hưởng của lực trọng trường, môi trường lưu giữ hạt dễ bị oxy hóa… và gây ra sự xen lẫn nhiều pha khác nhau Các hạt kết tụ này làm hạn chế
khả ăng ứng dụng tiếp theo, do đó đòi hỏi phải có sự biến đổi bề mặt
Phương pháp này có những ưu điểm khá quan trọng: chế tạo đơn giản,
phản ứng xảy ra nhanh, có thể tạo ra hạt nano với độ đồng nhất, độ phân tán khá cao Nhưng phương pháp này có nhược điểm là độ từ hóa thấp, các hạt nano sau khi hình thành sẽ kết tụ mạnh Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào những ứng dụng cụ
thể, những nhược điểm này thì không đáng kể so với những thuận lợi mà phương pháp mang lại Vì thế, nó được sử dụng khá phổ biến
1.1.3 Ứng dụng của vật liệu nano
- Dược học, thuốc chữa bệnh: Có khả năng chế tạo các phân tử sinh học mà
chuyển dược phẩm trong tế bào Điều này có thể giải phóng các hạt nano hoặc hóa chất chống ung thư đáp lại tín hiệu nguy hiểm từ tế bào bệnh’’
- G ắn DNA và chip DNA : Xét nghiệm kim loại xác định DNA có thể thực
hiện bằng lớp phủ hạt nano vàng với chuỗi sợi DNA Khi các hạt này được ghép vào DNA sẽ xảy ra liên kết (sự lai tạo) Quá trình này sẽ làm cho keo vàng kết tụ,
và kết quả là diễn ra sự thay đổi màu trên thân chip
- Lưu trữ thông tin: Các hạt màu siêu mịn thường tạo ra chất lượng cao hơn
về màu sắc, độ bao phủ và chất bền màu Trên thực tế, các hạt nano thường được ứng dụng trong audio, băng video và đĩa hiện đại, chúng phụ thuộc vào tính chất quang và tính chất từ của hạt mịn Với các tiến bộ kĩ thuật, càng ngày con người càng chế tạo các loại vật liệu lưu trữ thông tin có dung lượng lớn nhưng kích thước ngày càng nhỏ gọn
Trang 16- Máy tính hóa h ọc/quang học: Các mạng hai hay ba chiều có trật tự của
kim loại hoặc nano bán dẫn có tính chất từ và quang riêng biệt Các vật liệu này
hứa hẹn có nhiều ứng dụng trong công nghiệp điện tử, bao gồm cả máy tính quang học
- G ốm và các chất cách điện cải tính: Việc nén các hạt gốm kích thước
nano tạo ra các vật rắn mềm dẻo, dường như là do vô số ranh giới hạt tồn tại Sau khi phát triển thêm các phương pháp nén, các vật không xốp, độ đặc cao sẽ được điều chế Những vật liệu mới này có thể được sử dụng như chất thay thế cho kim
loại trong rất nhiều ứng dụng
- Kim lo ại cứng hơn: Kim loại nano khi nén vào trong vật rắn sẽ có bề mặt
đáng chú ý, có độ cứng của kim loại vi tinh thể thông thường
- Pin m ặt trời: Hạt nano bán dẫn, có kích thước điều chỉnh được, có tiềm
năng đối với pin mặt trời với hiệu suất cao hơn
- Ch ất xúc tác: Tầm quan trọng của vật liệu cấu trúc nano là sự xúc tác
không đồng nhất phụ thuộc vào các hạt nano của kim loại và nghiên cứu về tác động của kích thước hạt Đây là lĩnh vực đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm
của các nhà khoa học
- Công ngh ệ sản xuất sơn: Người ta đã chứng minh được rằng sơn được
thêm chất phụ gia bằng các hạt nano hấp phụ ánh sáng, ví dụ như TiO2 thì sơn sẽ
tự lau sạch Cơ chế khiến điều này xảy ra liên quan đến oxy hóa quang chất gây
bẩn bằng TiO2 trong nước Vật liệu hữu cơ béo mà bám chặt vào bề mặt sơn có
thể bị oxy hóa bằng cặp lỗ điện tử tạo thành khi nano TiO2 hấp thụ ánh sáng mặt
trời Vì vậy, vật liệu hữu cơ bị loại khỏi lớp màng sơn
- Các ch ất xúc tác bảo vệ môi trường: Việc sử dụng vật liệu nano với thành
phần là các kim loại đất hiếm cho phép điều chế các lớp xúc tác hoạt tính mỏng hơn, nhờ đó tiết kiệm được kim loại quý Các vật liệu nano này cũng giúp ích trong việc điều chế các huyền phù có độ đặc cao, rất bền, nhờ đó giảm số bước
phủ và giảm mất mát nguyên liệu do sự phân tán kết bông khi sản xuất các lớp xúc tác
- Nâng cao an ninh qu ốc phòng: Công nghệ nano đóng vai trò quan trọng
trong việc chế tạo trang thiết bị quân sự cho quốc phòng Các loại vật liệu hấp
Trang 17phụ, phá hủy các tác nhân sinh học và hóa học đã được chứng minh là khá hiệu
quả và cho phép đối phó nhanh với một số vấn đề hậu cần
- Ngoài ra, các nhà khoa học đã tìm cách đưa công nghệ nano vào việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng
* Tính h ấp phụ ion kim loại nặng của vật liệu nano
Hiện tượng hấp phụ xảy ra do lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị
hấp phụ Tùy theo bản chất lực tương tác mà người ta phân biệt hai loại hấp phụ
là hấp thụ vật lý và hấp phụ hóa học
+ Hấp phụ trong môi trường nước
Trong nước, tương tác giữa một chất hấp phụ và chất bị hấp phụ phức tạp hơn rất nhiều vì trong hệ có ít nhất là ba thành phần gây tương tác: nước, chất
hấp phụ và chất bị hấp phụ Do sự có mặt của dung môi nên trong hệ sẽ xảy ra quá trình hấp phụ cạnh tranh giữa chất bị hấp phụ và dung môi trên bề mặt chất
hấp phụ Cặp nào có tương tác mạnh thì hấp phụ xảy ra cho cặp đó Tính chọn
lọc của cặp tương tác phụ thuộc vào các yếu tố: độ tan của chất bị hấp phụ trong nước, tính ưa hoặc kị nước của chất hấp phụ, mức độ kị nước của các chất bị hấp
phụ trong môi trường nước
Trong nước, các ion kim loại bị bao bọc bởi một lớp vỏ các phân tử nước
tạo nên các ion bị hidrat hoá Bán kính (độ lớn) của lớp vỏ hidrat ảnh hưởng nhiều đến khả năng hấp phụ của hệ do lớp vỏ hidrat là yếu tố cản trở tương tác tĩnh điện Với các ion cùng điện tích thì ion có kích thước lớn sẽ hấp phụ tốt hơn
do có độ phân cực lớn hơn và lớp vỏ hidrat nhỏ hơn Với các ion có điện tích
Trang 18khác nhau, khả năng hấp phụ của các ion có điện tích cao tốt hơn nhiều so với ion
+ Nguyên lí hoạt động của thiết bị lọc ứng dụng vật liệu nano
Nhờ tồn tại với kích thước nano nên các vật liệu có độ rỗng xốp, diện tích
bề mặt, điện tích hấp phụ vô cùng lớn có khả năng tăng lực hấp phụ lôi kéo các
hạt vật chất ô nhiễm bám dính trên các lỗ mao quản của vật liệu hấp phụ
Nước được đưa vào ống dẫn nước của máy lọc, sau đó nước được đẩy vào phía trong lõi lọc nano theo chiều hướng đi từ dưới lên, phía trên của lõi lọc nano
có nhiều khe hở để dòng nước sau xử lý chảy tràn qua không gian giữa thân máy
và lõi nano Nước sạch chảy vào lỗ thu nước ra và theo vòi ra để có thể sử dụng
Hoạt động của thiết bị khá đơn giản và tiện sử dụng để có thể lắp đặt vào các vị trí khác nhau
Hình 2 Thi ết bị lọc ứng dụng công nghệ nano
Trang 191.2 Tổng quan tính chất các nguyên tố [18]
1.2.1 NIKEN
1.2.1.1 Niken
Hình 3 Kim lo ại Niken
Ký hiệu nguyên tố, số thứ tự Ni, 28
Cấu hình electron hóa trị [Ar]3d84s2Bán kính nguyên tử (A0
) 1,24 Nhiệt nóng chảy (0C) 1455 Nhiệt độ sôi (0
C) 2913 Nhiệt lượng nóng chảy(kJ.mol-1
) 17,48 Nhiệt lượng bay hơi (kJ.mol-1) 377,5
Độ cứng (thang Moxơ) 4
Trạng thái tự nhiên Hình 3
Trang 20Niken là một kim loại màu trắng bạc, bề mặt bóng láng Niken nằm trong nhóm sắt từ Đặc tính cơ học: cứng, dễ dát mỏng và dễ uốn, dễ kéo sợi Trong tự nhiên, niken xuất hiện ở dạng hợp chất với lưu huỳnh trong khoáng millerit, với asen trong khoáng niccolit, và với asen cùng lưu huỳnh trong quặng niken
Niken là một trong năm nguyên tố sắt từ Khoảng 65% khối lượng niken được tiêu thụ ở phương Tây dùng làm thép không rỉ 12% còn lại được dùng làm
"siêu hợp kim", 23% còn lại được dùng trong luyện thép, pin sạc, chất xúc tác,
vật liệu từ mềm và các hóa chất khác, đúc tiền, sản phẩm đúc và bảng kim loại
Niken có rất nhiều ứng dụng quan trọng như: làm thép không gỉ và hợp kim chống ăn mòn, nam châm, vật liệu từ mềm, chất xúc tác cho quá trình hidro hóa
1.2.1.2 Niken (II) oxit
Hình 4 Tinh th ể niken (II) oxit
- Màu sắc: xanh lá cây
- Dạng tinh thể rắn (hình 4)
- Điểm nóng chảy: 1960 ° C
Niken (II) oxit có nhiều ứng dụng trong thực tiễn: sử dụng trong ngành công nghiệp gốm sứ, sản xuất hợp kim thép niken, sản xuất pin sạc, làm xúc tác linh hoạt
1.2.2 SẮT
1.2.2.1 S ắt
Trang 21chất
Sắt có 4 dạng thù hình bền ở những khoảng nhiệt độ xác định:
α - Fe β - Fe γ - Fe δ -Fe Fe lỏng
Những dạng α và β có cấu trúc tinh thể kiểu lập phương tâm khối nhưng
cấu trúc electron khác nhau nên α-Fe có tính sắt từ và β-Fe có tính thuận từ, α-Fe khác với β-Fe là không hòa tan cacbon, γ-Fe có cấu trúc lập phương tâm diện và
có tính thuận từ, δ- Fe có cấu trúc lập phương tâm khối như α-Fe nhưng tồn tại đến nhiệt độ nóng chảy
Sắt là kim loại được tách ra từ các mỏ quặng sắt và rất khó tìm thấy nó ở
dạng tự do Để thu được sắt tự do, các tạp chất phải được loại bỏ bằng phương pháp khử hóa học Ứng dụng của sắt là dùng để sản xuất gang và thép
C) 1538 Nhiệt độ sôi (0
C) 2862 Nhiệt lượng nóng chảy (kJ.mol-1
) 13.81 Nhiệt lượng bay hơi (kJ.mol-1
) 340
Độ cứng (thang Moxơ) 4
Trạng thái tự nhiên Hình 5
Trang 22Hình 6 C ấu trúc của
ε-Fe 2 O 3
Chất bột không tan trong nước, có màu nâu đỏ, có các dạng đa hình
giống nhôm oxit: α- Fe2O3 là tinh thể lục phương giống với corudum và tồn tại trong thiên nhiên dưới dạng khoáng vật hematite, γ- Fe2O3 là tinh thể lập phương
giống với γ-Al2O3, ngoài ra còn có β-Fe2O3, ε -Fe2O3 Dạng α có tính thuận từ còn dạng γ có tính sắt từ
α-Fe2O3 được nghiên cứu và tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng quặng hematite Hematite có dạng hình thoi ở trung tâm và có cấu trúc lục giác giống như hình dạng của những viên corodum (α-Al2O3) trong mạng lưới oxi trong đó ion sắt (III) chiếm 2/3 thể tích bát diện
Hematite là một trong những sản
phẩm cuối cùng của sự biến đổi nhiệt của các
hợp chất sắt (II) và sắt (III) Ngoài phương pháp xử lý nhiệt thì một loạt các phương pháp khác để tổng hợp hematite đã được biết đến
chẳng hạn như phương pháp ướt Hematite được điều chế bằng cách thuỷ phân muối sắt trong môi trường axít mạnh (pH=1÷2), ở nhiệt
độ (100°C)
β-Fe2O3 có từ tính không ổn định là
một điểm riêng để phân biệt nó với các dạng α,
γ, ε, β-Fe2O3 siêu bền với nhiệt và được chuyển đổi thành hematite ở nhiệt độ khoảng 500°C
γ-Fe2O3 tồn tại trong tự nhiên dưới dạng khoáng maghemite γ-Fe2O3không bền với nhiệt và được chuyển thành hematite ở nhiệt độ cao hơn Nhiệt độ
và cơ chế của sự thay đổi cấu trúc phụ thuộc vào điều kiện thí nghiệm và đặc biệt
là kích thước của các hạt maghemite Trong trường hợp cấu trúc hạt bé thì ε
-Fe2O3 là chất trung gian trong sự chuyển đổi cấu trúc từ γ-Fe2O3 →α-Fe2O3,
cơ chế chuyển đổi thành hematite phụ thuộc nhiều vào mức độ các hạt tích tụ
γ-Fe2O3 (maghemite) đã thu hút được nhiều sự nghiên cứu do nó có tính từ và được
sử dụng làm chất xúc tác
Trang 23ε -Fe2O3 có thể được xem là chất mới nhất trong hợp chất sắt (III) oxit,
cấu trúc của nó được biết đến vào năm 1988 bởi Tronc et al.ε-Fe2O3 có hình dạng
trực thoi với 8 tế bào đơn vị ( Hình 6)
ε-Fe2O3 được tổng hợp bằng phương pháp sol-gel hoặc đun nóng dung
dịch kali ferricyanide với hypochlorite natri và kali hydroxit, sau đó nung kết tủa
ở 400°C Nhiệt độ chuyển dạng thù hình từ ε-Fe2O3→α-Fe2O3 nằm trong khoảng từ 500°C ÷ 750°C Kích thước của các hạt ε -Fe2O3 điều chế theo những phương pháp khác nhau là khoảng 30÷80nm
Fe2O3 được hình thành trong quá trình nhiệt phân của FeO(OH) ở 170°C trong chân không Năm 1975 Howe và Gallagher đã biết được cơ chế mất nước
và cấu trúc của oxit sắt Họ thấy rằng các oxit có cấu trúc khuyết tật đều có tất cả các đặc tính của các hợp chất ban đầu Bốn mô hình phân phối các anion chỗ
trống trong mạng tinh thể oxit đã được đưa ra Sắt oxit có cấu trúc dạng ống thì được giữ lại trong quá trình mất nước, ion sắt (III) có số phối trí là 4
* Ứng dụng
- Sắt (III) oxit không chỉ là một vật liệu dùng trong chiến lược công nghiệp
mà nó còn là một hợp chất được sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu tính đa hình và sự thay đổi hình dạng trong các hạt nano Bốn loại thù hình của Fe2O3 có kích thước nano đã được tổng hợp và nghiên cứu rộng rãi trong những năm gần đây
- Các màu sắc tự nhiên cũng như tổng hợp được của Fe2O3 như màu đỏ, nâu và đen thì được sử dụng trong ngành sản xuất sơn, phụ gia và trong sản xuất kính màu Sắt (III) oxit còn được sử dụng làm chất xúc tác của nhiều phản ứng quan trọng của ngành công nghiệp sản xuất hoá chất, nó là chất xúc tác của phản ứng khử ethylbenzen để sản xuất styren Chúng được chứng minh là chất xúc tác
có hiệu quả trong quá trình ôxi hoá các hydrocacbon polyaromatic, xúc tác đốt nhiên liệu, than hoá lỏng và pha hơi trong quá trình oxi hoá của axit benzoic
- Fe2O3 cũng là nguyên liệu đầu vào để sản xuất ferrite Ngoài ra, nó còn được sử dụng trong công nghệ sản xuất gốm sứ, nam châm vĩnh cửu, trong kỹ thuật lưu trữ phương tiện truyền thông
Trang 24- Oxit sắt là thành phần quan trọng nhất của một số quặng dùng để sản xuất
sắt và thép Mặt khác khi nhiệt độ cao, sự ăn mòn sắt thép cũng liên quan đến
một số giai đoạn trong việc hình thành oxit sắt Chúng luôn được hình thành trên
bề mặt của sắt thép và đôi khi nó cũng là nguyên nhân gây ra những vấn đề nghiêm trọng trong quy trình chế tạo Các oxit sắt cũng có thể được kết hợp xen vào hợp chất như là một chất bán dẫn để từ đó ta sẽ thấy được khả năng xúc tác
hiệu quả của oxit sắt
- Do các oxit sắt cứng nên chúng được sử dụng để làm tác nhân mài mòn và đánh bóng Hematite khi được nung nóng nhẹ được dùng làm để đánh bóng vàng
và bạc, trong khi đó hematite nung ở nhiệt độ cao hơn thì lại được dùng để đánh bóng những vật bằng đồng và thép Fe2O3 đã được sử dụng như lớp phủ mật độ cao cho đường ống dẫn dầu bằng bê tông dưới đáy biển để mang dầu và khí đốt vào bờ Lớp sơn phủ này nhằm ổn định các đường ống dẫn dầu dưới đáy biển và
bảo vệ đường ống chống lại những tác hại vật lý ở những vùng nước nông
- Tính điện từ và khả năng quang học của các hạt nano siêu thuận từ có tầm quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp ứng dụng bao gồm cả việc phát triển
mới các thiết bị điện và thiết bị quang học Lợi thế của việc sử dụng các hạt
Fe2O3 kích thước nano là do chúng có tính ổn định hoá học
1.2.2.3 S ắt (III) hidroxit
Được tạo ra do tác dụng của bazơ với muối sắt (III) Sản phẩm có màu đỏ
gỉ, màu nâu đỏ hay màu ánh tím, được sử dụng làm bột màu Ngoài ra nó được sử
dụng ở trạng thái tinh khiết để làm thuốc giải độc asen
Fe(OH)3 không tan trong nước và có tính lưỡng tính: tan dễ trong dung
dịch axit và tan được trong dung dịch kiềm đặc nóng hoặc Na2CO3 hay K2CO3nóng chảy
Các kết tủa hydroxit được biết là có hệ số lọc thấp và do đó khó rửa các ion tự do của tạp chất Các đặc điểm của kết tủa hydroxit phụ thuộc chủ yếu vào
pH và nhiệt độ tạo thành kết tủa
Trang 251.3 Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc và tính chất của bột nano [3]
1.3.1 Phương pháp phân tích nhiệt vi sai (DTA) và khối lượng nhiệt (TGA)
Phân tích nhiệt vi sai (DTA) là phương pháp phân tích nhiệt trong đó mẫu
và chất tham khảo được nung đồng thời trong lò Chất tham khảo không bị biến đổi trong khoảng nhiệt độ đang khảo sát nên nhiệt độ của nó biến thiên tuyến tính
với nhiệt độ của lò Các phản ứng xảy ra trong mẫu luôn kèm theo sự thu nhiệt hay
toả nhiệt nên sẽ làm nhiệt độ của mẫu thay đổi không tuyến tính với nhiệt độ của
lò
Phân tích nhiệt thường được tiến hành trong môi trường khí trơ thường là Nitơ Lượng nhiệt được hấp thụ (thu nhiệt) hay giải phóng (tỏa nhiệt) khi trong
mẫu có những thay đổi lý hoá nhất định
Kết quả đo DTA phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Các yếu tố phụ thuộc thiết bị như hình dáng và kích thước lò, khí quyển của lò, vị trí cặp nhiệt, vật liệu làm chén nung, tốc độ nung …
- Các yếu tố phụ thuộc mẫu và chất tham khảo như lượng, kích thước
hạt, độ dẫn nhiệt, nhiệt dung riêng, hệ số giãn nở nhiệt… của mẫu và chất tham
khảo
Đường cong DTA còn dùng để xác định hiệu ứng nhiệt của phản ứng
Hiệu ứng nhiệt của phản ứng được tính toán thông qua diện tích peak, ngoài ra phương pháp phân tích nhiệt vi sai còn dùng để xác định độ tinh khiết của mẫu
Phương pháp phân tích khối lượng nhiệt (TGA) là phương pháp khảo sát
sự thay đổi khối lượng của chất theo nhiệt độ khi chất được đặt trong lò nung có chương trình thay đổi nhiệt độ được kiểm soát một cách chặt chẽ Nhiệt độ nung
có thể lên đến 1600°C
Mẫu được nối với một cân nhiệt để cân mẫu liên tục trong quá trình nung
Để liên tục phát hiện sự thay đổi của mẫu trong quá trình nung, chén đựng mẫu
phải được nối kết với một cân nhiệt
Trang 26Hình 7 Nhi ễu xạ tia X
Đường cong TG giúp ta có thể xác định được độ bền nhiệt của chất, các
phản ứng xảy ra trong quá trình phân hủy nhiệt của chất và đồng thời xác định được độ tinh khiết của chất
Trong bài khóa luận này, các quá trình hóa lý xảy ra khi nung mẫu được nghiên cứu bằng phương pháp phân tích nhiệt TGA/DTA tại phòng thí nghiệm Hóa lý, khoa Hóa, trường Đại Học Sư Phạm 1 Hà Nội
1.3.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)
Nguyên t ắc
Khi chiếu một chùm electron có năng lượng lớn vào bề mặt của đối
âm cực (anot), các electron ở bề mặt
của đối âm cực bị bứt ra và làm xuất
hiện lỗ trống Các electron ở mức năng lượng cao hơn nhảy về mức năng lượng thấp hơn để lấp đầy chỗ
trống đồng thời làm phát ra năng lượng thừa và năng lượng đó được
gọi là tia X (Hình 7)
Định luật Bragg
Giả sử có một chùm tia X đơn sắc đến gặp tinh thể và phản xạ trên các
mặt phẳng mạng
Để có sự giao thoa của sóng phản xạ, các sóng này phải cùng pha, nghĩa
là hiệu quang trình của chúng phải bằng một số nguyên lần bước sóng
Hiệu quang trình: ∆ = 2dsinθ (1)
Đối với nhiều góc tới θ giá trị ∆ không phải bằng một số nguyên lần bước sóng λ nên các tia X phản xạ có giao thoa giảm