L ỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài với đề tài “Nghiên cứu tiểu thuyết Tên của đóa hồng của Umberto Eco nhìn t ừ lý thuyết giải cấu tr
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã s ố: 60 22 02 45
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tiêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người thực hiện
Nguyễn Thị Hương Thảo
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài với đề tài “Nghiên cứu tiểu thuyết Tên của đóa hồng của Umberto Eco
nhìn t ừ lý thuyết giải cấu trúc”, tôi đã nhận được sự quan tâm của Ban chủ
nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, của quý thầy
cô giảng dạy chuyên ngành Văn học nước ngoài (Cao học khóa 23 – Đại học Sư
phạm Tp Hồ Chí Minh) Đặc biệt, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hết sức tận tình
và nhiệt tâm của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, người trực tiếp hướng
dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, quý thầy cô, các phòng ban của trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng Sau đại học, Thư viện trường) và gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian qua Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5
M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
L ỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
MỞ ĐẦU 5
I Lý do ch ọn đề tài 5
II L ịch sử vấn đề 7
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
IV Phương pháp nghiên cứu 13
V C ấu trúc luận văn 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
1.1 T ừ lý thuyết cấu trúc đến giải cấu trúc luận 17
1.1.1 “Gi ải cấu trúc” – vấn đề thuật ngữ 17
1.1.2 Gi ải cấu trúc trong phê bình văn học 22
1.2 Lý thuyết “Giải cấu trúc” của Jacques Derrida và tác phẩm “Tên của đóa h ồng” của Umberto Eco 26
1.2.1 Nguyên t ắc giải cấu trúc của Jacques Derrida 26
1.2.2 “Tác ph ẩm mở” - “Tên của đóa hồng”của Umberto Eco - và lý thuyết giải c ấu trúc của Jacques Derrida 32
Ti ểu kết chương 1: 38
Chương 2 DẤU VẾT VÀ NGƯỢC XUÔI PHÁT TÁN 40
TRONG MÊ CUNG TI ỂU THUYẾT 40
2.1 D ấu vết – kí hiệu không chứa cái biểu đạt 40
Trang 62.1.1 Th ế giới được “đọc” qua kí hiệu 41
2.1.2 Nh ững tranh luận về tội ác 47
2.1.3 S ự đảo ngược của thế giới 51
2.2 T ừ Ngược xuôi phát tán đến mê cung văn bản 56
2.2.1 Phát tán nh ững câu chuyện 57
2.2.2 Phát tán nh ững văn bản 62
2.2.3 Phát tán các di ễn ngôn 67
Ti ểu kết chương 2: 77
Chương 3 SỰ TRÌ BIỆT CỦA VĂN BẢN 79
3.1 Kéo dài và m ở rộng biểu tượng 79
3.1.1 Thư viện 82
3.1.2 Nh ững con số và biểu tượng tôn giáo 88
3.2 Tính b ất khả quyết của những cặp phạm trù 92
3.2.1 Chúa Tr ời và Quỷ dữ 92
3.2.2 Chân lý và cái cười 96
Ti ểu kết chương 3: 101
K ẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PH Ụ LỤC 112
Trang 7M Ở ĐẦU
I Lý do ch ọn đề tài
Xuất hiện ở phương Tây vào những năm 60 của thế kỉ XX, giải cấu trúc
đã trở thành một trào lưu tư tưởng có tính chất khuynh đảo nền lí luận đương
thời, đặc biệt là triết học và phê bình văn chương Lấy chủ nghĩa cấu trúc làm điểm tựa, trước nó, tác phẩm văn học được nghiên cứu dưới góc độ tác giả, nhà phê bình chú ý tới hoàn cảnh lịch sử, xã hội, tiểu sử, tư tưởng nhà văn Đến lượt
chủ nghĩa cấu trúc cùng một số đại diện tiêu biểu như R Jakobson với thi học,
Iu Lotman với cấu trúc văn bản nghệ thuật, và Jonathan Culler với thi pháp học
cấu trúc, tác phẩm được xem xét như một chỉnh thể cấu trúc nằm gọn trong văn
bản với những biểu hiện mang tính chất quy luật, khép kín với hai tầng: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Tác phẩm được coi là đối tượng trung tâm và duy nhất
của nghiên cứu, phê bình Phản ứng lại chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc luận đã
mở ra thời kì thứ ba của nghiên cứu và tiếp nhận Qua đó, tác phẩm nghệ thuật được đặt trong xu hướng đối thoại với độc giả và đối thoại với chính nó, phát tán
tối đa chiều kích và dung lượng phản ánh Giới hạn của ngôn ngữ và kết cấu bị phá vỡ, văn bản được nhìn qua lăng kính vạn hoa, sản sinh vô hạn về nghĩa, mở
ra cùng sự tiếp nhận của độc giả
Cùng với thủ pháp sáng tác của trào lưu hậu hiện đại, nghiên cứu theo tinh
thần giải cấu trúc luận là chìa khóa mở ra những lớp màn bí ẩn đằng sau mê lộ
của ngôn từ Theo Nguyễn Minh Quân trong bài viết “Lý thuyết và phê bình văn
h ọc đương đại: từ cấu trúc luận đến giải cấu trúc” thì “Một văn bản càng có tính chất siêu hình chừng nào, càng nhiều ý nghĩa chừng nào và càng có tính
ch ất phổ thông chừng nào thì càng khích động lối đọc giải cấu trúc chừng đó”
[63] Và tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” của nhà văn người Ý Umberto Eco là
một tác phẩm như thế
Trang 8Umberto Eco được coi là một trong những hiện tượng lớn nhất của văn chương nửa sau thế kỉ XX ở châu Âu Trước khi là một tiểu thuyết gia, Umberto Eco được biết đến như một học giả uyên bác về ký hiệu học, một nhà thần học,
một chuyên gia về triết học trung cổ, “ông có mặt trong danh sách của hai mươi nhà tư tưởng đương đại lớn nhất thế giới, và cũng là ứng cử viên thường trực
c ủa Viện Hàn lâm Thụy điển về việc bình chọn giải Nobel văn học” [66] Vị
Giáo sư danh dự trường Đại học Bologne ở Italia - Umberto Eco - vẫn thường coi mình là một “giáo sư đại học viết tiểu thuyết vào những ngày Chủ nhật” [49] Xuất phát điểm ấy hình thành nên một ngòi bút xuất sắc, cảm quan văn chương giao thoa cùng kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực khoa học: kí hiệu học,
thần học, tôn giáo Đồng thời, trí tuệ bậc thầy ấy chủ trương đả phá sự sùng bái tri thức một cách tuyệt đối, như ông đã từng nói “con người biết cười vào chân
lý, làm cho chân lý cười lên, vì chân lý duy nhất chính là bài học để giải phóng chúng ta ra kh ỏi sự đam mê chân lý một cách mù quáng” [28, tr.536] Tiểu
thuyết đầu tay của Eco mang tên “Tên của đóa hồng” ra đời vào năm 1980 đã
tạo được cơn chấn động trong cơn lốc của tiểu thuyết đương đại Ẩn dưới lớp áo trinh thám bí ẩn, toàn bộ tác phẩm là cuộc đối thoại đa chiều từ quá khứ, đến
hiện đại, tới tương lai của những quan điểm khác nhau về lịch sử, tôn giáo Kho tàng ẩn dụ khổng lồ dẫn dắt người đọc đến những mã khác nhau, tìm ra những
mã diễn giải không hề được định sẵn Bản thân nhà văn Umberto Eco không hẳn
đồng tình với cách đọc giải cấu trúc với tính chất “cho phép người đọc tạo ra ( ) nh ững cách đọc không giới hạn và không kiểm nghiệm được” [9, tr.141]
Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng giải cấu trúc luận là
một hướng nghiên cứu hoàn toàn thích hợp với một tác phẩm mang đậm tính siêu hình, đồ sộ về mặt dung lượng phản ánh cũng như giá trị về mặt tư tưởng
như “Tên của đóa hồng” Tính chất phức tạp, chằng chịt biểu hiện của tính chất
liên văn bản, của các hình thức diễn ngôn, tính đa trị của biểu tượng, nhân
vật, đã tạo nên một “siêu tiểu thuyết” có thể luận giải từ góc độ giải cấu trúc
Trang 9Với đề tài “Nghiên cứu tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” nhìn từ lý thuy ết giải cấu trúc”, chúng tôi có mong muốn khám những tầng sâu ý nghĩa
còn được ẩn chứa trong tác phẩm mang tầm tư tưởng lớn của một học giả uyên bác như Umberto Eco bằng phương pháp “đọc kĩ” (close reading) của lý thuyết
giải cấu trúc Đời sống của một tác phẩm văn học thực sự mở ra khi nó rời khỏi bàn viết của tác giả Với một tác phẩm lớn như “Tên của đóa hồng”, được coi là
“thiên truyện tường minh sâu sắc những vấn đề lý thuyết về ký hiệu học và tác
ph ẩm mở của Eco” [66], tư tưởng và ý nghĩa của nó mang giá trị thời đại và thôi
thúc người đọc ý hướng quay ngược thời gian, đối thoại cùng quá khứ trong bối
cảnh hiện đại,
Như Umberto Eco đã viết: “Văn bản đã hoàn tất, và tự nó nảy sinh
nh ững tương quan ngữ nghĩa mới của nó Dù lúc viết ra có chủ ý hay không, giờ đây đứng trước những câu hỏi hay những thách thức đa nghĩa, chính tôi cũng khó khăn khi diễn dịch điều mâu thuẫn ( ) Có lẽ tác giả nên từ giã dương thế khi vi ết xong Để khỏi cản trở hành trình của văn bản” [28, tr.552] Những gì
Umberto Eco nhắn gửi tới người đọc ở những dòng cuối cùng trong cuốn sách chính là một tất yếu của văn bản một khi nó được sản sinh Nhìn tiểu thuyết
“Tên c ủa đóa hồng” từ góc độ giải cấu trúc, người viết không chỉ muốn tìm ra
những ẩn số về mặt nội dung trong tác phẩm, mà mục đích sâu xa hơn đó là tìm
ra những yếu tố đã làm nên tính hấp dẫn của tiểu thuyết Đồng thời, chúng tôi có
cơ hội tiếp xúc với một tác phẩm có giá trị, mang tầm cỡ quốc tế bằng một con đường mới - lý thuyết giải cấu trúc
II Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco được ra đời vào năm
1980 tại châu Âu và được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả với số sách bán được hơn 10 triệu bản in Năm 1989, lần đầu tiên cuốn sách được giới thiệu đến độc giả Việt Nam qua bản dịch của dịch giả Đặng Thu Hương Hành trình dài
Trang 10của tác phẩm diễn ra đồng thời cũng là một hành trình dài của quá trình tìm hiểu
và nghiên cứu tác phẩm đồ sộ và tầm cỡ này
Tình hình nghiên c ứu lý thuyết Giải cấu trúc ở Việt Nam:
Gi ải cấu trúc (deconstruction) là một trào lưu tư tưởng bắt nguồn từ
Pháp, vào những năm 60 của thế kỉ XX với những tên tuổi lớn như Michel Foucault, Jacques Lacan, Roland Barthes, Jacques Derrida Tại Việt Nam, giải
cấu trúc đã được một số nhà lý luận phê bình đề cập đến với cương vị là những
vấn đề lý thuyết Trong bài viết “Giải cấu trúc và nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay” của GS.TS Trần Đình Sử trên trang web phebinhvanhoc.com.vn năm
2012, đã nêu ra một điểm khác biệt của giải cấu trúc trong tương quan với chủ nghĩa cấu trúc trước đó Đồng thời, ông nêu ra năm lý thuyết đưa đến giải cấu trúc Đó là chủ nghĩa đối thoại của nhà tư tưởng Nga M Bakhtin, tư tưởng giải
cấu trúc của nhà triết học Pháp J Derrida (1966), lí thuyết ngôn ngữ hành vi của nhà ngữ học Mĩ J L Austin, lý thuyết về ngữ cảnh và lí thuyết liên văn bản GS
TS Trần Đình Sử nhận định “Giải cấu trúc cũng phê bình tác phẩm văn học theo lối đọc kĩ, phơi bày những tư tưởng, cấu trúc, ngôn từ “bị bỏ sót”,
nh ững“nghĩa đang ngủ yên trong văn bản” nhằm phát hiện ý nghĩa mới…GIẢI
Nó cũng vạch ra những ý tưởng xem ra là mới mà kì tình rất cũ, vạch ra các liên văn bản được lắp ghép khéo léo vào các sáng tác mới, những bắt chước vụng về,
nh ững lối mòn quen thuộc.” [66]
Sau bài viết của GS TS Trần Đình Sử là bài viết của PGS.TS La Khắc
Hòa:“Gi ải cấu trúc luận theo cách hiểu của tôi” Trong bài viết này, PGS TS
La Khắc Hòa đã khái quát quá trình hình thành và phát triển của giải cấu trúc
luận, đồng thời ông cũng đưa ra quan niệm về mặt thuật ngữ “giải cấu trúc luận thường được giải thích như khái niệm đồng nghĩa với “hậu cấu trúc luận” [60]
Cũng như Trần Đình Sử, La Khắc Hòa đưa ra năm nền tảng hình thành nên giải
cấu trúc Trong đó, có thể thấy điểm gặp gỡ của cả hai đó là coi yếu tố liên văn
bản và hệ thống ký hiệu (trong quan niệm của J Derrida) chính là những yếu tố
Trang 11hình thành nên giải cấu trúc Một số bài nghiên cứu khác đáng chú ý như “Hậu
c ấu trúc luận/ giải cấu trúc” của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, “Giải kiến
t ạo là gì” của Ngô Tự Lập cũng góp phần làm rõ hơn lý thuyết giải cấu trúc và
nhìn chung không có sự đối nghịch nào với những lý thuyết trước đó
Về các bản dịch, có thể kể đến bài viết “Chủ nghĩa hậu cấu trúc của Terry Eagleton” được Thiệu Bích Hường dịch từ cuốn Literary theory, An
introduction, do nhà xuất bản University of Minnesota Press ấn hành 1983 Bản
dịch được đăng trên Tạp chí Văn học nước ngoài số 4 năm 2008 Ngoài những
vấn đề cơ bản của chủ nghĩa cấu trúc, bài viết chủ yếu đề cập đến vấn đề nữ quyền trong văn học
Đặc biệt, gần đây có bản dịch của dịch giả Dương Thắng từ bản tiếng Pháp về bài viết của Lucie Guillemette và Josiane Cossette ở Đại Học Tổng Hợp
Trois – Rivières, Québec, Canada, mang tên “Di s ản của Derrida: Déconstruction và Différance” Trong bài viết, tác giả đã nêu ra khá rõ về
những đặc điểm cần lưu ý của giải cấu trúc (hay còn gọi là giải kiến tạo) Đó là
lý thuyết Différance “lấy từ différence có nghĩa là sự khác biệt, bằng cách thay
ch ữ e bằng chữ a, hai từ này viết sẽ khác nhau nhưng khi đọc lên thì giống
nhau” [56] Thu ật ngữ này đã được Nguyễn Duy Bình dịch là “sự trì biệt”
Theo đó, có thể hiểu sự trì biệt (Differance) như sự phá hủy tính đồng nhất, sự sùng bái danh tính và sự thống trị của bản thân trước người khác, cho thấy sự khác nhau giữa những cái được viết ra với những cái được nói ra, đồng thời sự trì biệt là hiện thân của tính bất khả giải, không thể chạm đến cái đích cuối cùng,
mà luôn biến đổi, đang trong trạng thái thay đổi không ngừng và “không bao
gi ờ biểu đạt trọn vẹn” [59]
Trên đây là một vài công trình bước đầu nghiên cứu về giải cấu trúc luận
tại Việt Nam những năm gần đây Nhìn chung, các công trình lý luận đã bước đầu đưa khái niệm giải cấu trúc đến với lý thuyết phê bình của nước nhà với
những kiến giải gần gũi và dễ tiếp nhận
Trang 12Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco:
Trên thế giới, đã có khá nhiều công trình viết về tiểu thuyết “Tên của đóa
h ồng” Ngay cả tác giả của nó - nhà văn Umberto Eco - cũng đã viết cuốn tiểu
luận “Những phản hồi về “Tên của đóa hồng” (Reflections on THE NAME OF
THE ROSE) năm 1985 Ngoài ra, còn có Bài luận về “Tên của đóa hồng”
(Essay on The Name of the Rose) c ủa Joseph Rosenblum viết năm 1992 Trong
bài viết của mình, J Rosenblum bàn về nội dung của tiểu thuyết, lý giải chủ đề,
ý nghĩa, một số biểu tượng và nhân vật Đồng thời, ông còn đề cập đến bối cảnh phê bình tác phẩm sau khi nó ra đời Nhìn chung, bài viết tập trung lý giải nội dung của tác phẩm mà chưa chú ý đến nghệ thuật và không đề cập đến vấn đề
giải cấu trúc Do sự hạn chế về tư liệu, nên người viết chưa thể thâu tóm hết
những công trình lớn thực sự nghiên cứu về tác phẩm này
Gần đây, tại Việt Nam có một vài công trình nghiên cứu về tác Umberto Eco có thể kể đến như bài viết “Xung quanh vấn đề diễn giải và siêu diễn giải của Umberto Eco: Một vài liên tưởng thiết thực” của Đặng Thị Hạnh được đăng
trên Tạp chí Văn học nước ngoài, số 2, năm 2005 Bài viết trình bày tóm lược
những quan điểm về Umberto Eco về “Diễn giải và lịch sử, Siêu diễn giải các văn bản và Giữa tác giả và văn bản” Trong đó, có nói đến vấn đề diễn giải, sự đồng sáng tạo của độc giả khi tiếp nhận tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” (một
khía cạnh của giải cấu trúc): “Eco thấy thú vị về một số nguồn những nhà nghiên c ứu hoặc người đọc phát hiện thấy khi đọc “Tên của bông hồng”: Có
nh ững nguồn ông đã sử dụng một cách hoàn toàn có ý thức và ông sung sướng
th ấy người đọc đã khám phá được cái mà ông đã giấu rất khéo léo với mục đích dẫn người đọc tìm ra cho được Có những nguồn hoàn toàn xa lạ với ông, và ông c ũng vui thích vì có ai đó tin rằng ông đã dẫn lại một cách bác học đến
th ế” [9, tr.142]
Trang 13Bài viết của Nguyễn Văn Dân trên Tạp chí Văn học nước ngoài, số 7, năm
2011 với nhan đề “Nhà ký hiệu học Umberto Eco với lý thuyết về tác phẩm mở”
đã giới thiệu quan niệm của tác giả người Ý Eco về “Thi pháp tác phẩm mở”,
đồng thời chỉ ra 7 mã ngôn ngữ mà Umberto Eco định hướng cho người đọc tiếp
cận tác phẩm của mình
Năm 2009, luận văn Thạc sĩ của Hoàng Thị Ngọc Anh: “Diễn ngôn truyện kể trong tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco” ra đời, thể
hiện mối quan tâm của độc giả và giới phê bình về tác phẩm nhiều ẩn số và đồ
sộ này Luận văn thiên về nghiên cứu cấu trúc của truyện kể qua diễn ngôn của người kể chuyện, diễn ngôn của nhân vật và phối cảnh trần thuật, thời gian trần
thuật trong cấu trúc truyện kể “Tên của đóa hồng”
Gần đây nhất, tháng 10 năm 2013, là bài nghiên cứu của nhóm tác giả Tô Thùy Quyên – Bùi Thị Hồng – Hà Thị Thới (học viên Cao học trường Đại học
Sư phạm TP.HCM) với nhan đề: “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco có phải
là ti ểu thuyết trinh thám?” Bài nghiên cứu đã vận dụng 8 nguyên tắc của
Todorov về loại hình tiểu thuyết trinh thám, để chứng minh và tìm ra thể loại
thật sự của nó - giả trinh thám (một biểu hiện của giải cấu trúc về thể loại) Đây
là một bài viết có tính chất định hướng cho người đọc về mặt thể loại trước khi
tiếp cận tác phẩm
Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu về Umberto Eco ở Việt Nam tuy chưa nhiều nhưng gần đây có xu hướng gia tăng Tuy đã có “chạm ngõ” giải cấu trúc, xong vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
vấn đề này trong tác phẩm của Umberto Eco nói chung, và tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” nói riêng
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Nghiên cứu tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco nhìt ừ lý thuyết giải cấu trúc” chúng tôi nghiên cứu tác phẩm thông qua bản dịch
Trang 14của Lê Chu Cầu, do hai nhà xuất bản phối hợp ấn hành là Nxb Văn học và Nxb Nhã Nam, năm 2013
Để hiểu và vận dụng lý thuyết giải cấu trúc trong nghiên cứu một tác
phẩm là điều khá phức tạp Do đó, về mặt lý luận, chúng tôi đi từ chủ nghĩa cấu trúc trong văn học để hiểu thế nào là giải cấu trúc Để tránh trường hợp nhiễu
loạn về quan điểm, chúng tôi chọn lý thuyết giải cấu trúc của Jacques Derrida, người đã đưa giải cấu trúc lên đỉnh cao, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến giới học thuật và nghiên cứu Qua đó, chúng tôi ứng chiếu những đặc trưng và biểu hiện
của lý thuyết giải cấu trúc, làm tâm điểm để phân tích và lý giải Các từ khóa trong lý thuyết giải cấu trúc được vận dụng trong việc phân tích và luận giải vấn
đề trong tác phẩm “Tên của đóa hồng” ở một số bình diện nhất định và phù
hợp Theo đó, công việc giải cấu trúc được tiến hành bằng ba khái niệm: Dấu vết (Trace), Phát tán (Dissemination), và Trì biệt (Differance):
- Tính chất dấu vết qua những dấu hiệu và phúng dụ trong tác phẩm
- Tính chất phát tán của văn bản trong kết cấu và diễn ngôn
- Tính đa trị của một số biểu tượng nổi bật trong tác phẩm
Ngoài ra, luận văn quan tâm đến tính liên văn bản (vốn được xem là hiện thân của lý thuyết giải cấu trúc) và xem xét tính nhị nguyên của một số phạm trù
được Umberto Eco nêu ra với tinh thần giải cấu trúc: “Mỗi phạm trù đều có dấu
v ết của phạm trù đối lập nó” [51]
Qua đó, những vấn đề về tư tưởng, tôn giáo, lịch sử, triết học dần dần được phơi bày, hé lộ câu chuyện của nó qua lối viết uyên bác, chằng chịt những
đối thoại, liên văn bản của Eco “Tên của đóa hồng” tự nó đã là một phúng dụ
vĩ đại về những vấn đề lớn của thời đại Để tìm hiểu nó, người viết chú trọng khai thác những ẩn nghĩa bề sâu - cái được coi là mục đích của lý thuyết giải cấu trúc trong nghiên cứu văn học
Trang 15IV Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu riêng lẻ lẫn tích hợp nhằm đi tìm mạch ngầm của văn bản, tìm cách diễn giải thích hợp cho tác phẩm Phương pháp đầu tiên là phương pháp thống kê Bằng
việc đọc kĩ tác phẩm, việc đầu tiên giúp chúng tôi nhìn nhận và khai thác tác
phẩm là chọn lọc và thống kê những chi tiết, hình ảnh có vấn đề, nhằm đi tìm
trục liên kết giữa chúng với nhau Đây là cách thức đầu tiên trong cuộc hành trình khám phá và diễn giải cuốn tiểu thuyết Phương pháp thống kê là công cụ đắc lực cho để triển khai phân tích và tổng hợp Không chỉ vậy, việc thống kê còn có ý nghĩa khảo sát tính chất liên văn bản, sự xuất hiện của biểu tượng,… từ
đó phát hiện ra mối quan tâm của tác giả cũng như định vị con đường nghiên
cứu tác phẩm
Phương pháp thống kê đồng thời hỗ trợ cho phương pháp phân tích cấu trúc Với ý nghĩa tìm ra được cấu trúc tác phẩm, phương pháp phân tích góp
phần làm sáng tỏ những vấn đề, tạo xung lực mạnh mẽ cho việc cảm nhận tác
phẩm Đây là cuốn tiểu thuyết dày đặc các tín hiệu ngầm, vì thế, phân tích là phương pháp rất quan trọng trong việc tìm ra ý nghĩa sâu xa trong tư tưởng tác
giả Phương pháp này, là nền tảng để chúng tôi xây dựng trên nó cách nhìn giải
cấu trúc, và phương pháp giải cấu trúc Cách tiến hành phương pháp này dựa
theo những tư tưởng của Jacques Derrida nhằm làm sáng tỏ vấn đề
Ngoài ra, để có cái nhìn bao quát về tác phẩm, cũng như những vấn đề xung quanh nó, phương pháp đối chiếu so sánh nhằm khái quát hóa những nét
chung của nó với những tác phẩm khác, và vạch ra sự khác biệt giữa nó với
những yếu tố khác nhau trong cùng một văn bản Trong ý nghĩa đó, phương pháp đối chiếu so sánh còn góp phần làm tăng sức thuyết phục luận văn Sau khi tìm hiểu những vấn đề, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp để nhìn nhận
Trang 16và đánh giá tác phẩm, tạo một cái nhìn toàn diện và nhất quán của các vấn đề nơi tác phẩm này
V C ấu trúc luận văn
Luận văn được triển khai thành ba phần: phần dẫn nhập, phần nội dung và
phần kết luận Trong phần nội dung có ba chương Chương 1 khái quát những
vấn đề lý thuyết cơ bản, tạo đà tìm hiểu tác phẩm “Giải cấu trúc” là một thuật
ngữ với quá trình hình thành phức tạp và được nói bởi nhiều quan điểm khác
biệt Chúng tôi sẽ đưa ra những cách hiểu khác nhau về nội hàm chữ “Giải cấu trúc” (Deconstruction), và những biểu hiện của giải cấu trúc Vấn đề lí thuyết rất quan trọng trong việc nghiên cứu và định hướng lộ trình khám phá tác phẩm Trong Chương 1, chúng tôi xác định chủ nhân của lý thuyết giải cấu trúc mà chúng tôi coi nó là điểm tựa: Giải cấu trúc luận của Jacques Derrida Để tìm hiểu
giải cấu trúc luận theo tư tưởng của Derrida, chúng tôi liên hệ tới nguồn gốc đã
sản sinh ra nó – thuyết cấu trúc cùng những hệ tư tưởng mà nó chịu ảnh hưởng (Phân tâm học của Freud, quan niệm về vô thức của Jacques Lacan, thời kì tiền thân của giải cấu trúc với những lý thuyết nhà tư tưởng Roland Barthes) Từ đó, chúng tôi nêu trình bày những biểu hiện của giải cấu trúc trong phê bình văn
học
Với việc xác định tư tưởng giải cấu trúc của Derrida là chìa khóa dẫn đường cho tác phẩm, luận văn tiến hành đi tìm những nguyên tắc giải cấu trúc
của Derrida thông qua những từ khóa tiêu biểu trong lý thuyết của ông Đồng
thời từ đó xác lập mối quan hệ giữa tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” và lý thuyết
này Để làm rõ điều này, chúng tôi liên hệ tác phẩm với chính những tư tưởng
của Umberto Eco về thi pháp của tác phẩm “mở” Bằng con đường này, chúng
tôi chứng minh được sự tương quan giữa tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” – một
tác phẩm “mở” – với lý thuyết giải cấu trúc – một cách đọc “mở”
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 171.1 Từ lý thuyết cấu trúc đến giải cấu trúc luận
1.1.1 “Gi ải cấu trúc” - vấn đề thuật ngữ
1.1.2 Giải cấu trúc và phê bình văn học
1.2 Lý thuyết “giải cấu trúc” của Jacques Derrida và tác phẩm “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco
1.2.1 Nguyên tắc giải cấu trúc của Jacques Derrida
1.2.2 “Tác ph ẩm mở” - “Tên của đóa hồng”của Umberto Eco - và lý
thuyết giải cấu trúc của Jacques Derrida
Chương 2 sử dụng hai lý thuyết: Dấu vết (Trace) và Phát tán (Dissemination) để diễn giải tác phẩm, và bộc lộ kĩ thuật viết của nhà văn Với hai khái niệm này, chúng tôi mong muốn “tháo dỡ” những tầng nghĩa và truy hồi đường dây huyết mạch của tác phẩm Trong đó, kết cấu của văn bản được xem như sự phát tán không ngừng của các văn bản, các cốt truyện, và sự đối thoại đa
âm của diễn ngôn Từ đó, cho thấy tính chất giải cấu trúc và tư duy thẩm mĩ của nhà văn Umberto Eco trong sáng tác văn chương
Chương 2 DẤU VẾT VÀ NGƯỢC XUÔI PHÁT TÁN TRONG MÊ CUNG
2.1 Dấu vết – kí hiệu không chứa cái biểu đạt
2.1.1 Thế giới được “đọc” qua kí hiệu
2.1.2 Những tranh luận về tội ác
2.1.3 Sự đảo ngược của thế giới
2.2 Từ Ngược xuôi phát tán đến mê cung văn bản
2.2.1 Phát tán những câu chuyện
2.2.2 Phát tán những văn bản
2.2.3 Phát tán các diễn ngôn
Ở Chương 3, chúng tôi giải cấu trúc tác phẩm dựa vào từ khóa quan trọng
nhất của lý thuyết: khái niệm Trì biệt (Differance) Khái niệm trì biệt được nhìn
nhận dưới góc độ biểu tượng và tính nhị nguyên của những cặp khái niệm Về
Trang 18biểu tượng, chúng tôi lựa chọn biểu tượng Thư viện – điểm mấu chốt nảy sinh
những vấn đề của tác phẩm, biểu tượng lớn nhất của cuốn tiểu thuyết Ngoài ra chúng tôi hướng sự tập trung vào khai thác các biểu tượng tôn giáo xuất hiện với
tần số dày đặc trong tác phẩm dưới nhiều góc độ, nhằm cho thấy sự trượt nghĩa, tính chất kéo dài và mở rộng nghĩa của những biểu tượng Về tính nhị nguyên
của khái niệm, chúng tôi xoay quanh hai vấn đề lớn nhất trong tác phẩm: Chúa
Trời - Quỷ dữ và Chân lý - Cái cười Từ đó, chủ đề tư tưởng của tác phẩm được
hiển lộ
Chương 3 SỰ TRÌ BIỆT CỦA VĂN BẢN
3.1 Kéo dài và mở rộng biểu tượng
3.1.1 Thư viện
3.1.2 Những con số và biểu tượng tôn giáo
3.2 Tính bất khả quyết của những cặp phạm trù
3.2.1 Chúa Trời và Quỷ dữ
3.2.2 Chân lý và cái cười
Phần Kết luận mang tính chất tổng kết, khái quát con đường giải cấu trúc trong tiểu thuyết “Tên của đóa hồng”, nêu lên tư tưởng của tác phẩm và định
hướng giải cấu trúc như một cách đọc khả dụng đối với tiểu thuyết đương đại
Trang 19Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 T ừ lý thuyết cấu trúc đến giải cấu trúc luận
1.1.1 “Gi ải cấu trúc” – vấn đề thuật ngữ
Giải cấu trúc là một phương pháp nghiên cứu triết học, văn học xuất hiện
tại Pháp những năm 1960, được chính thức khởi nguồn từ nhà triết học người Pháp Jacques Derrida qua tác phẩm “Of Grammatology” Trong tác phẩm này,
lần đầu tiên, Jacques derrida đã sử dụng từ “Deconstruction” - “Giải cấu trúc” như một lý thuyết phản hồi (và phản ứng) lại chủ nghĩa cấu trúc vốn đã tồn tại
và trở thành thống soái trong lĩnh vực nghiên cứu các ngành khoa học xã hội từ đầu thế kỉ XX Bằng cách vạch ra những mâu thuẫn nội tại trong chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc phủ nhận tính đơn nhất, bền vững, tính duy nhất đúng trong
mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nói cách khác lý thuyết giải
cấu trúc được xem như một nhánh phái sinh từ chủ nghĩa cấu trúc
Trong “T ừ điển tiếng Pháp”, thuật ngữ này được định nghĩa theo hai cách
sau:
- Về ngữ pháp: “Deconstruction là sự thay đổi, sự ngắt quãng cấu trúc và bố
c ục của từ trong câu với mục đích tạo ra nghĩa khác, nghĩa mới với những từ tương tự” [67]
- Về cơ học: Deconstruction chỉ sự sự tháo rời, tháo dỡ, phân rã
Giải thích về thuật ngữ giải cấu trúc, ý kiến của Barbara Johnso được trích từ
“T ừ điển thuật ngữ văn học và lý thuyết văn học”, như sau : “Giải cấu trúc” không đồng nghĩa với “sự phá hủy” Thực chất, nó gần với nghĩa gốc của từ
“phân tích”, theo t ừ nguyên học có nghĩa là “tháo ra, mở ra” (undo) - một sự đồng nghĩa thực sự với “de - construct” Giải cấu trúc một văn bản không thể
ti ến hành bởi sự nghi ngờ ngẫu nhiên hoặc sự phá hủy có tính võ đoán, mà bằng cách tháo g ỡ một cách cẩn thận những tầng nghĩa mâu thuẫn nhau trong chính văn bản đó (Barbara Johnso nhấn mạnh) Nếu có bất cứ điều gì bị tiêu hủy trong
Trang 20cách đọc giải cấu trúc thì đó không phải là văn bản, mà đó là quyền thống trị
m ột cách tuyệt đối giữa biểu hiện này với một biểu hiện khác Một cách đọc giải
c ấu trúc là một cách đọc trong đó hướng đến sự phân tích nét đặc trưng của sự khác bi ệt quan trọng của văn bản với chính nó 1
“Deconstruction” trong Bách khoa toàn thư của lý thuyết văn học đương đại (Encyclopedia of Contemporary Literary Theory) định nghĩa: chủ nghĩa giải cấu trúc được hình thành ở Pháp từ
cuối những năm 60 của thế kỉ XX và có ảnh hưởng sâu rộng trong giới phê bình Anh Mỹ do Jacques Derrida đề xướng Nó tiêu biểu cho sự phản ứng trước
những phong trào lý thuyết và triết học đầu thế kỉ XX có thể kể đến như hiện tượng học của E Husserl, F Saussure và chủ nghĩa cấu trúc Pháp, và thuyết phân tâm học của S Freud và J Lacan Chủ nghĩa giải cấu trúc theo J Derrida
gồm có hai nhiệm vụ: trước hết, nó bày ra cái tự nhiên mơ hồ của “có một trung tâm” diễn ngôn, cái phụ thuộc vào sự thật, sự có mặt, nguồn gốc hoặc tương tự chúng Thứ hai, là sự lật đổ lý thuyết siêu hình bằng cách thay thế những ranh
giới của khái niệm Chủ nghĩa giải cấu trúc tìm kiếm sự tồn tại bên ngoài của
những hệ thống tư tưởng truyền thống để đặt áp lực lên ranh giới của chúng và
để thử thiết lập mà không cần tra xét, nghi ngờ chúng Như để thay thế cho sự
hạn hẹp của lý thuyết siêu hình truyền thống, các dấu vết Derrida thấy không thể thiếu đối với cả chủ nghĩa cấu trúc và hiện tượng học, thì giải cấu trúc tán thành
1
Deconstruction is not synonymous with “destruction”, however It is in fact much closer
to the original meaning of the word 'analysis' itself, which etymologically means 'to undo'- a virtual synonym for 'to de-construct' The deconstruction of a text does not proceed by random doubt or arbitrary subversion, but by the careful teasing out of warring forces of signification within the text itself [my ialics] If anything is destroyed in a deconstructive reading, it is not the text, but the claim to unequivocal domination of one mode of signifying over another A deconstructive reading is a reading which analyses the specificity of a text's critical difference from itself [35, tr 209-210]
Trang 21xóa bỏ mọi giới hạn của những giải thích và một tác phẩm không còn bị giới hạn
về mặt ngữ nghĩa và không còn neo ở bất kỳ cái biểu hiện nào1
“The Blackwell Dictionary of Western Philosophy” nhấn mạnh, nếu như chủ nghĩa siêu hình học
ở phương Tây trước đây được hình thành dựa trên sự đối lập giữa các phạm trù
chẳng hạn như nói/ viết, tâm hồn/ thể xác, cái siêu việt/ cái kinh nghiệm, giữa Chúa Trời/ Quỷ dữ, trong mỗi cặp khái niệm đó sẽ có cái được xem như vượt
trội hơn hẳn cái còn lại Đến chủ nghĩa giải cấu trúc, nó chủ trương xóa bỏ quan
niệm về cái vượt trội trong một cặp đối lập bằng cách đặt ra câu hỏi làm thế nào
mà chúng có tính khả thi nhất trong tùy những ngữ cảnh cụ thể Nó là một lối phân tích hoặc phê bình về ý nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ bằng cách tham gia vào việc sử dụng của chúng hoặc chức năng của chúng khi tham gia trong các hoạt động của con người Derrida chứng minh rằng giả sử khái niệm được cho là yếu thế hơn trong mỗi cặp đối lập có đặc điểm tương tự với cái khái niệm được cho là vượt trội hơn, và không có căn cứ nào để trao quyền ưu tiên cho cái này vượt qua cái kia Sau đó, ông thay thế sự đối lập bằng cách giới thiệu một khái niệm bao quát toàn bộ mà nó tránh được sự cố định và xác định mà một khái niệm thông thường chứa đựng
Có hai cách dịch phổ biến với chữ “deconstruction”: giải cấu trúc và giải
kiến tạo Trong luận văn này, chúng tôi chọn sử dụng thuật ngữ “giải cấu trúc”,
vì tính phổ biến của nó, đồng thời phản ánh khá chính xác nguồn gốc và đặc trưng của lý thuyết này - xuất phát từ chủ nghĩa cấu trúc Kết cấu là sự sắp đặt,
1
“For Derrida deconstruction’s task twofold: first, to expose the problematic nature of all
‘centred’ discourses, those which depend on concepts such as truth, presence, origin or their equivalents, second, to overturn metaphysics by displacing its conceptual limits Deconstruction seeks
to inhabit the margin of traditional systems of thought in oder to put pressure on their border and to test their unexamined foundation) As an alternative to strictures of the metaphysics tradition, the vestiges of which Derrida sees as still integral to both structuralism and phenomemology, deconstruction celebrates limitless interpretation and an unrestricted semantic play that is no longer anchored in any signified” [41, tr 25]
Trang 22tổ chức các thành phần trong một thực thể nhất định Trong đó bao hàm những
yếu tố có sự tương quan với nhau, làm thành một hệ thống Chủ nghĩa cấu trúc đặc biệt quan tâm đến những đối lập, vì đó chính là cơ sở tạo nên mối tương quan cấu trúc Chủ nghĩa cấu trúc vì thế là một hệ thống kết cấu đóng và mang tính toàn vẹn Chủ nghĩa cấu trúc bắt đầu với lý luận về kết cấu ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure (1857- 1913) Với ông, ngôn ngữ là một hệ thống và chính là một loại kết cấu Hệ thống ấy do mối quan hệ giữa ngữ âm và ý nghĩa
tạo thành Đó không phải là sự kết hợp giữa một sự vật với một tên gọi mà là
một khái niệm với một hình ảnh âm thanh nào đó do công đồng ngôn ngữ lựa
chọn, được xem như một hệ thống kí hiệu Theo Saussure, ngôn ngữ là một hệ
thống kí hiệu, tất cả kí hiệu đều có thể được chia thành cái biểu đạt và cái được
biểu đạt Con đường đi từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt của kí hiệu là rõ ràng và xác định Khởi nguyên từ lý thuyết ngôn ngữ học của Saussure, chủ nghĩa cấu trúc tiếp tục phát triển với lý luận về xã hội cấu trúc của C Lévi - Strauss Nhà xã hội học Lévi - Strauss ứng dụng chủ nghĩa cấu trúc vào việc nghiên cứu thần thoại cổ Hy Lạp Oedipe Ông đánh giá ngôn ngữ và thần thoại
là như nhau Nếu “ngôn ngữ có thể được chia thành ngôn ngữ và lời nói, thì
th ần thoại có kết cấu thần thoại và câu chuyện thần thoại” Theo đó, ông đọc
thần thoại này theo bốn khung Khung một đề cao qua hệ huyết thống, khung hai
phủ nhận quan hệ này (tiêu biểu là sự kiện Những người Spartol tiêu diệt nhau, Oedipe giết cha, Etéocle giết cha) Như vậy, hai khung này phủ định nhau Khung thứ ba liên quan đến sự tiêu diệt các quái vật (tức phủ nhận nguồn gốc động vật của con người) Trong khi đó khung thứ tư lại cho thấy còn người vẫn còn dấu vết động vật ( Labdacos - cha của Laios - “người chân thọt”, Oedipe -
“người có bàn chân sưng phồng”) Như vậy, với bốn khung tạo thành hai cặp tương quan và đối lập nhau, vừa phủ định nhưng đồng thời khẳng định nhau trong một hệ khép kín Cái nhìn nghị nguyên của chủ nghĩa cấu trúc đến Jacques Lacan bắt đầu lung lay khi ông không chấp nhận quan niệm của Saussure về
Trang 23biểu đạt và cái được biểu đạt Ông cho rằng hai phạm trù này không phải là hai
mặt của một tờ giấy, mà bản thân cái biểu đạt đã hàm chứa cái được biểu đạt, còn cái được biểu đạt thì luôn chuyển dịch Là một nhà phân tâm học, ông chủ trương tìm về và “đọc lại” Freud Ông sử dụng lý thuyết ngôn ngữ học kết cấu
kết hợp với phân tâm học, cho ra luận điểm nổi tiếng: vô thức được cấu trúc như ngôn ngữ và là sản phẩm của ngôn ngữ Theo đó, cái biểu đạt chính là ý thức, nó
tự hiển lộ, còn cái được biểu đạt chính là phần vô thức Khi ấy, mối quan hệ
giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt không còn theo công thức một - một, mà
một cái biểu đạt có thể tương đương với vô vàn cái được biểu đạt, tùy vào hoàn
cảnh Cách nhìn vô thức mang cấu trúc như ngôn ngữ của J Lacan đã đưa chủ nghĩa cấu trúc chạm ngõ giải cấu trúc Đến năm 1966, cánh cửa giải cấu trúc chính thức mở ra với hệ thống lý luận của nhà triết học Jacques Derrida và tạo nên một làn sóng mạnh mẽ trong giới học giả châu Âu (Chúng tôi sẽ trình bày
rõ hơn về phần này ở phần sau)
Như vậy, để hiểu về thuật ngữ “Deconstruction” là không hề đơn giản, và
nhất quán Từ những định nghĩa, chữ “Deconstruction” – Giải cấu trúc có thể được hiểu như sau:
- Đây là trào lưu tư tưởng chống lại chủ nghĩa siêu hình ở phương Tây thế
kỉ XIX, phản đối thuyết nhị nguyên và chủ nghĩa cấu trúc
- “Deconstruction” có thể được hiểu theo tinh thần: “tháo ra, mở ra” một văn bản bằng cách tìm những mâu thuẫn nội tại của văn bản chứ không phải phá
hủy văn bản ấy
- Trong cách đọc giải cấu trúc tạo ra những nghĩa mới cho văn bản, đi tìm cho nó những cái “được biểu đạt” có thể xảy ra Giải cấu trúc xóa bỏ ranh giới
của những phạm trù đối lập và quan niệm về cái “chiếm ưu thế hơn” Nó quan tâm đến khả năng xảy ra của khái niệm thay vì xem xét tính chất trung tâm/ phái sinh của khái niệm
Trước sự đa dạng và phức tạp của vấn đề lý thuyết, chúng tôi chọn đại
Trang 24diện tiêu biểu nhất - cha đẻ của chủ nghĩa giải cấu trúc - lý thuyết của Jacques Derrida làm điểm tựa để giải quyết vấn đề trong luận văn
1.1.2 Gi ải cấu trúc trong phê bình văn học
Thế kỉ XX chứng kiến nhiều cuộc đảo chính về đời sống tinh thần của nhân loại Có thể kể ra ba cú sốc của thời đại khiến toàn bộ nền lí luận truyền
thống lung lay, đó là: chủ nghĩa Marx, thuyết tương đối của Enstein và phân tâm
học của Sigmund Freud (1856 – 1939) Đối với văn học nghệ thuật, học thuyết phân tâm của Freud có thể được xem là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra thời đại
mới của nghiên cứu và phê bình Và giải cấu trúc ra đời không gì khác hơn chính là sự cộng hưởng lối phê bình hiện đại bắt rễ sâu từ thuyết phân tâm học
Bằng thành tựu mở ra cánh cửa vô thức của loài người, hàng loạt những
vấn đề trong đó có quá trình sáng tác văn chương được hé lộ Trong một công trình của mình, Freud đã khẳng định “vô thức chính là tâm thần” [26, tr 34],
như vậy không có nghĩa rằng mọi tư duy đều là vô thức, nhưng nó được hình thành trước tiên từ vô thức Tầng vô thức của con người là nơi sâu kín nhất Theo ông, vô thức được biểu hiện qua hai xung năng “xung năng có dục tính và xung năng tự bảo tồn mình Chúng ta sẽ thấy tư duy vô thức là một dạng tư duy
b ị ước muốn chế ngự và luôn luôn là một tư duy đi tìm lạc thú, không phục tùng trình t ự thời gian, cũng không phục tùng sự hợp lí.” [24, tr.36] Ngôn ngữ của
vô thức chính là những giấc mơ Trong ý nghĩa này, Freud quan niệm rằng “tác
ph ẩm văn học trước hết là môt giấc mơ” [24, tr.12] vì nó “nhìn lại” những ham
muốn của vô thức, những mặc cảm của bản thân, đặc biệt là phức cảm Oedipe
Sở dĩ Freud thiết lập mối quan hệ giữa giấc mơ và ngôn ngữ bởi vì, ông cho
rằng hai đối tượng này là “kí hiệu của sự ham muốn” Chính vì được xem như
những kí hiệu, nên giấc mơ cũng có thể có ngữ pháp và lí giải riêng của nó Đối
với Freud, quá trình sáng tạo văn học đồng nhất với giấc mơ tỉnh thức Khi sáng tác, tác giả có thể đang ở trong trạng thái bị thôi thúc với những ham muốn bên
Trang 25trong, những kỉ niệm thơ ấu, sự kìm nén trong vô thức của cá nhân Ngoài ra, nhà văn nhà thơ còn sử dụng những yếu tố của vô thức tập thể, từ những huyền thoại, những sự kiện nguyên thủy đã khuất lấp đâu đó trong tâm trí để sáng tạo văn chương Như vậy, quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ có hai mặt:
Ngh ệ sĩ giống như người bị bệnh nhiễu tâm, rút lui khỏi thực tế không thỏa mãn để đi vào thế giới tưởng tượng, song trái lại vẫn phải đặt chân vào thực
tế Những sáng tạo, những tác phẩm nghệ thuật của ông là những thỏa mãn tưởng tượng cái ham muốn vô thức, giống như mộng; cũng như mộng, chúng
có chung tính cách là m ột thỏa hiệp, bởi chúng cũng phải tránh xung đột không che đậy với sức mạnh dồn nén [24, tr.30 - 31]
Bằng vô thức, Freud đã chỉ ra cách đọc những chủ đề huyền thoại như bức tranh Moise của Michel Angel, người phụ nữ im lặng, người phụ nữ hoàn hảo đồng nghĩa với cái chết, phức cảm Oedipe,… Khi đọc những văn bản này, Freud
đã cho thấy những tầng khác trong văn bản Ngoài những câu chữ thể hiện trên trang giấy, Freud còn đi tìm những mã khác đằng sau văn bản – tìm cái vô thức
đã dẫn dắt và chi phối văn bản ấy Khi một tác phẩm được hình thành đã thể
hiện tính nước đôi của nó Trong văn bản của mình, tác giả không hoàn toàn làm
chủ và kiểm soát được hết những tầng ý nghĩa của văn bản được chuyển tải trong tác phẩm Vô thức của cá nhân lẫn vô thức tập thể đôi khi là chất liệu để nhà văn sáng tác Như vậy, từ phân tâm học của Freud, đã có những mầm móng
về tính đa cực của tác phẩm được phản ánh trong văn bản và bên dưới văn bản
Có thể nói, phân tâm học là nền tảng đầu tiên cho tất cả những lí luận tư tưởng về sau, đặc biệt là tư duy hậu hiện đại, trong đó có giải cấu trúc Phương pháp phê bình văn chương theo hướng phân tâm học phát triển trong suốt thế kỉ
XX Trong đó, có thể kể đến Jacques Delattae với nghiên cứu về vấn đề đồng tính nam trong các nhân vật của cá nhà văn Andre Gide, Marcel Proust và Henri
de Montherlant, hay tính huyễn tưởng trong sáng tác của Alain Robbe – Grilet Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ nhất trong lý thuyết phê bình văn học xuất
Trang 26phát từ phân tâm học phải kể đến Jacques Lacan Jacques Lacan là một nhà phân tâm học Ông chủ trương trở về với phân tâm học của Freud trên cơ sở của chủ
nghĩa cấu trúc Với luận điểm nổi tiếng: “Vô thức được cấu trúc như một ngôn
ng ữ”, Lacan đã đi ngược lại với quan niệm về cái biểu đạt và cái được biểu đạt
trong mô hình ngôn ngữ của F de Saussure Ông cho rằng cái biểu đạt là tự thân
nó đã biểu đạt được rồi, nó chính là ý thức; còn cái được biểu đạt thì vẫn chưa
biết – chính là vô thức Câu nói của Lacan cho rằng: “vô thức chẳng qua là cái được che đậy đằng sau ý thức, nó ẩn tàng nơi sâu kín trong tâm linh của con người, tất yếu mang ý nghĩa của một loại ngôn ngữ nội tại Cho nên không chỉ phân tích vô th ức trên bình diện tâm sinh lí, mà còn phải với góc độ ngôn ngữ
h ọc” [17, tr.103] Cũng như Freud, Lacan đã khẳng định:
Vô thức giống như những ẩn dụ hoặc hoán dụ trong ngôn ngữ, có thể căn
c ứ vào ngữ cảnh để giải thích Ẩn dụ chẳng qua là dùng một cái được
bi ểu đạt thay thế một cái biểu đạt khác đang bị ức chế […] Ngôn ngữ
c ủa cái biểu đạt tuy là có ý thức, nhưng là ý thức nhằm che đậy cái được biểu đạt là những dục vọng vô thức bên trong với tư cách là những động
l ực luôn luôn có ý hướng muốn chi phối, bộc lộ, cho nên tất yếu sẽ tạo nên nh ững khoảng trống những độ vênh, những chỗ nhấn mạnh trong văn
b ản” [17, tr.103]
Phê bình phân tâm học đến đây đã có sự mở rộng và phát triển qua cách
đọc của Lacan về câu chuyện “Lá thư bị mất trộm” của E Poe Để đọc văn bản,
Lacan đã dựa vào văn bản lý thuyết của Freud và văn bản hư cấu của E Poe để đưa ra văn bản thứ ba của mình Trong cách đọc này, Lacan không tiến hành
cuộc điều tra lại từ đầu, mà dùng cấu trúc luận để đọc vô thức, tìm ra sự hợp lí
của vô thức và của tính liên chủ thể và quan hệ với sự thật Trong quá trình phân tích Lacan nhấn mạnh rằng E Poe không nói rõ nội dung thư là gì và do ai
viết,…, vì đối với mỗi đối tượng cái thư có ý nghĩa khác nhau (hoàng hậu, thượng thư, thám tử và cảnh sát trưởng) Như vậy, cách phân tích của Lacan đã
Trang 27manh nha đến chủ nghĩa giải cấu trúc vì nó đã thể hiện sự đa nghĩa trong tác
phẩm văn chương và con đường đi đến tác phẩm không phải là duy nhất
Đến Roland Barthes (1915 – 1980), ông được xem là một trong những người đến với chủ nghĩa giải cấu trúc sớm nhất Ban đầu, R Barthes đi theo học thuyết của chủ nghĩa Marx – Engels và chủ nghĩa hiện sinh của Jean Paul Sartre, dùng khuynh hướng “Xã hội học thần thoại” để nghiên cứu tác phẩm văn học Tuy nhiên, về sau, R Barthes chịu ảnh hưởng của phân tâm học Freud, rồi thiên
hẳn về chủ nghĩa cấu trúc, rồi giải cấu trúc Tác phẩm mở đầu cho hướng nghiên
cứu giải cấu trúc của R Barthes là “S/Z” (1970) Trong công trình này, R
Barthes mạnh dạn tuyên bố nhà văn đã chết, và văn bản hoàn toàn quay lưng lại
với tác giả và hoàn cảnh đã sáng tạo ra nó Văn bản chỉ đơn thuần là trò chơi ngôn ngữ và tự thân nó sản sinh ra nó, còn nhà văn chỉ đứng ở vị trí trung gian
giữa ngôn ngữ và văn bản Ngôn ngữ vì thế tự do “phóng túng bay nhảy, dừng
ng ắt, kết nối, tiêu biến, mô phỏng, trùng lặp… cấu thành nên một không gian đa chi ều trong văn bản” [17, tr.132] Do tính chất trung gian này, vị trí và vai trò
của tác giả bị áp đảo bởi người đọc Trên tinh thần đó, người đọc có thể tham gia vào văn bản bất cứ lúc nào và bằng phương cách nào Giới hạn của văn bản bị xóa nhòa nhường chỗ cho những cách đọc văn bản mà ngay cả tác giả cũng không ngờ tới
Những quan điểm về giải cấu trúc của R Barthes trong phê bình văn học
tiếp tục được hình thành qua bài viết “Từ tác phẩm đến văn bản” Bài viết đặt
tác phẩm trong mối quan hệ với những văn bản khác, hình thành một mối liên hệ
chằng chịt giữa những tác phẩm này với tác phẩm kia Như vậy, không có một văn bản riêng lẻ nào theo ý nghĩa một văn bản thuần khiết, đơn sơ, mà nó là một
phức hợp và liên kết, kế thừa, luận giải của những văn bản khác Điều này khiến
ta liên hệ đến quan điểm của Freud về sáng tạo nghệ thuật Rằng tác giả sẽ sử
dụng vô thức cá nhân và vô thức tập thể trong quá trình sáng tác, nhằm tạo được
sợi dây liên kết cảm xúc giữa người viết và người đọc Bản chất của thế giới là
Trang 28những mối liên hệ, tác phẩm văn học cũng không nằm ngoài phạm vi đó Tính liên văn bản từ đó được biểu hiện ở nhiều cấp độ Có thể được biểu hiện như
một đoạn văn liên bản hay thể hiện sự “đọc lại” của tác giả, hoặc đôi khi dùng
để diễn giải những văn bản mới Và mức độ của những điều này lại phụ thuộc vào trình độ của người đọc Không phải mã nào của ngôn ngữ cũng được người đọc tìm ra và đôi khi lại nhìn thấy những vấn đề tác giả không hề đề cập tới,
hoặc sơ suất nói đến trong cơn sáng tạo của mình Tính chất mê cung và đa chiều từ đó được hình thành và văn bản bắt đầu mở rộng trường ý nghĩa của nó, bung mở ra nhiều chiều kích
Như vậy, “từ quan niệm “độ không của lối viết”, sự bành trướng của cái
bi ểu đạt trong ký hiệu, dẫn đến “cái chết của nhà văn”, sự triệt giải ý nghĩa trong phê bình, tất cả chỉ còn là niềm vui văn bản”, R Barthes đã tiến bước
m ạnh mẽ từ chủ nghĩa cấu trúc sang chủ nghĩa giải cấu trúc” [17, tr.138] Kế
thừa những quan điểm và học thuyết này, nửa cuối thế kỉ XX đã xuất hiện một nhân tố mới, đưa chủ nghĩa giải cấu trúc lên mức cao nhất Đó là lý thuyết giải
cấu trúc của Jacques Derrida Với những nghiên cứu của mình, Derrida đóng góp cho nền lí luận đương đại một tiếng nói mới, đưa giải cấu trúc trở thành một
lý thuyết cụ thể và độc lập
1.2 Lý thuyết “Giải cấu trúc” của Jacques Derrida và tác phẩm “Tên của
đóa hồng” của Umberto Eco
1.2.1 Nguyên t ắc giải cấu trúc của Jacques Derrida
Jacques Derrida (1930 - 2004) sinh ra ở Algeria trong một gia đình gốc
Do Thái Năm 19 tuổi, ông rời Algeria đến Pháp và giữ vai trò quan trọng trong
tạp chí Tel Quel Ngay từ buổi đầu trên con đường học thuật, Derrida đã đến với
chủ nghĩa giải cấu trúc Năm 1967, thế giới biết đến Derrida như một nhà triết
học có tầm ảnh hưởng rộng lớn Với những học thuyết quan trọng về giải cấu trúc chứa đựng trong ba tác phẩm: “Văn từ học” (“Of Grammatology”), “Tiếng
Trang 29nói và hi ện tượng” (“Speech and Phenomena”), “Văn tự và khác biệt” (“Writing
and Difference”), Derrida đã tạo ra một làn gió tư tưởng mới mẻ ở châu Âu, thách thức tư tưởng triết học truyền thống và gây ra không ít sự tranh cãi Chủ nghĩa giải cấu trúc ra đời và được nhìn nhận trên tất cả các lĩnh vực trong đời
sống Với tính chất phức tạp, vĩ mô của vấn đề, chúng tôi không tham vọng khái quát toàn bộ lý thuyết với tất cả các bình diện của nó Luận văn này chỉ tập trung khai thác những đơn vị lý thuyết liên quan đến việc giải mã tác phẩm văn học được nhìn từ giải cấu trúc theo những kiến giải của Derrida
Lý thuyết giải cấu trúc của Derrida xem xét lại thuyết “ngôn tâm luận” (logocentrism) và ngôn ngữ cấu trúc của Ferdinand de Saussure Thuật ngữ logocentrism được đề xuất từ nhà triết học người Đức Luwig Klages từ những năm 1920, với tư cách như là một trong những tư tưởng truyền thống của triết
học phương Tây Theo tiếng Hy Lạp cổ, “logo” có nghĩa là ngôn ngữ hay hành động ngôn luận, thuyết “ngôn tâm luận” cho rằng mọi tri thức đều bắt nguồn và
bị chi phối bởi một ngôn ngữ nguyên thủy Chúa Trời ban cho con người Như
vậy, trong một hệ thống, Thượng đế là trung tâm sáng tạo, sản sinh ra nghĩa và thiết lập những mâu thuẫn cho hệ thống Vị trí của trung tâm vì thế trở thành đấng quyền năng và không thể thay thế Derrida đã chỉ ra điểm bất cập ở đây là trung tâm này thiết lập mâu thuẫn cho hệ thống nhưng lại đứng bên trên, đứng ngoài hệ thống Điều này khiến cho trung tâm bị phi trung tâm hóa Như thế, không thể có một hệ thống toàn trị vì có những yếu tố vượt khỏi sự kiểm soát
của trung tâm, kể cả trung tâm Giải cấu trúc quan tâm đến thuyết nhị nguyên, tìm sự đối lập ở phạm vi nhỏ nhất – những cặp phạm trù Derrida cho rằng ý nghĩa của những cặp phạm trù được xác định nhờ vào vị thế đối lập nhau của chúng, theo thứ tự ưu tiên và hạ bệ của nó: nói/ viết, cái thiện/ cái ác, nam giới/
nữ giới, …) Để giải cấu trúc, Derrida tiến hành xóa bỏ những định kiến về các
cặp phạm trù qua hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất nhằm lật đổ trật tự này, xóa
bỏ mối tương quan giữa chúng, kéo cái vốn được coi là trung tâm xuống khỏi vị
Trang 30trí của nó Khi đó, chữ viết sẽ trội hơn lời nói, nó không còn là sự phái sinh từ
lời nói mà tự nó làm thành một phạm trù trung tâm; phụ nữ chiếm vị thế ưu tiên hơn nam giới, cái hiện tượng vượt lên bản chất, sự vắng mặt vượt trội hơn cái
hiện diện,… Giai đoạn thứ hai nhằm trung tính hóa, giải thoát khái niệm khỏi
thế nhị đối lập, xóa bỏ nét nghĩa cũ trong tư duy nhị nguyên, để ngôn ngữ trượt dài trong vô vàn cái được biểu đạt Theo Ferdinand de Saussure, mỗi cái biểu đạt sẽ tương ứng với một cái được biểu đạt, Derrida phản đối điều này Theo ông, không thể có sự nhất quán đối ứng này, vì ý nghĩa của mỗi kí hiệu được tạo
ra từ sự sai biệt giữa kì hiệu đó với tất cả các kí hiệu còn lại, như vậy sự sai biệt
ấy là vô hạn Như vậy, để tìm ra cái được biểu đạt của một kí hiệu, người ta sẽ dùng vô vàn kí hiệu khác nhau để giải thích, và cứ thế sản sinh ra mạng lưới chuyển nghĩa đa dạng của ngôn ngữ Ý nghĩa đích thực của một kí hiệu cứ thế bị trì hoãn, dời lại bằng những ý nghĩa khác, đến mức không thể có một cái được
biểu đạt nào được coi là tuyệt đối chính xác Theo cách giải cấu trúc, trật tự của
một đối cực sẽ chỉ là sự tùy tiện và chứa đầy mâu thuẫn vì không thể tìm ra sự
“hiện diện” tối cao của một cái được biểu đạt đích xác nào Để phục vụ cho tư tưởng của mình, Derrida đã đề xuất một số khái niệm mới mẻ hoàn toàn như:
Dấu vết (Trace), Ngược xuôi phát tán (Dissemination), Trì biệt (Différance),
Thế bù (Supplement), Nói/ Viết, Sơ bản (Arche– writing) Tuy nhiên, trong
phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi quan tâm nhiều đến ba khái niệm đầu trong cho việc tìm hiểu tác phẩm
Giải cấu trúc trước khi là một phương pháp giải mã văn bản, nó là lý thuyết về cách đọc Thuật ngữ Dấu vết (Trace) mà Derrida đề xuất nhằm đem lại
sự thể nghiệm khác nhau sau mỗi lần đọc văn bản Theo lý thuyết này, cái biểu đạt và cái được biểu đạt sẽ không còn tồn tại một cách bất biến, vĩnh hằng, thay vào đó là sự lặp lại của những cái đã có từ trước – những văn bản, những tư tưởng, những thứ được xem như chân lý – trong những bối cảnh khác nhau, và tìm sự thể nghiệm khác nhau Sự khác biệt về bối cảnh, thời điểm, đối tượng trải
Trang 31nghiệm sẽ đem lại nhiều nghĩa mới của đối tượng thay cho cái được biểu đạt vốn
được xem là bất biến “Nó (dấu vết) lúc ẩn lúc hiện, có lúc làm nhớ lại thể nghi ệm mới, nghĩa là luôn luôn tồn tại trong dạng câu hỏi dở dang, chưa dứt,
r ất khó xác định nội dung và tính chất.” [17, tr.142-143] Với khái niệm Dấu
vết, mọi lý thuyết kể cả Thánh kinh đều có thể được “đọc lại”, với sự trải nghiệm, tranh luận và lý giải đôi khi có thể dẫn đến hiện tượng “lệch pha hóa”
[57] trong cách đọc văn bản Đây là bước chuẩn bị cho hành trình tìm kiếm và
giải mã những tầng ý nghĩa của văn bản, là động thái đầu tiên trong quá trình
giải cấu trúc
Trong sự nghiệp nghiên cứu của mình, trước ưu thế gần như tuyệt đối của Nói so với Viết trong truyền thống triết học phương Tây, Derrida cho rằng:
“Không có gì ngoài văn bản” Mỗi yếu tố trong văn bản không tồn tại độc lập,
tự thân mà nó có liên quan chặt chẽ với thế giới Sự dây liên kết giữa văn bản và
thế giới là vô hạn, để rồi nó trở thành một bộ phận của thế giới – nơi sản sinh ra
nó, và đến lượt nó quay trở lại lý giải thế giới Có thể hiểu thế giới là một văn
bản khổng lồ, còn văn bản mang trong nó thế giới thu nhỏ Cùng với tư tưởng
đó, khái niệm Ngược xuôi phát tán (Dissemination) ra đời Khái niệm này “có
m ột hàm nghĩa vô cùng phức tạp, vừa là “có hàm nghĩa”, vừa “thủ tiêu hàm nghĩa”, rồi “làm lan rộng” ra với vô số hàm nghĩa khác” [17, tr.142] Tác phẩm
vì thế luôn mở ra những cánh cửa khác nhau của ý nghĩa và sự nối kết liên tục
giữa các văn bản ngoài nó Ở phương diện này, khiến ta liên tưởng đến lý thuyết liên văn bản (Intertextuality) và đa văn bản (Multitextuality) của văn học hậu
hiện đại Theo Freud, hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ luôn gắn liền với sự thôi thúc của vô thức Văn bản văn chương được viết ra như sự hình thành mang tính huyễn tưởng, nó vừa được tổ chức một cách có tính toán, vừa để lộ những
ám ảnh của vô thức cá nhân và vô thức tập thể Có thể thấy, ngay từ khi hình thành, không hề có khái niệm thuần túy và độc lập trong mỗi văn bản Mỗi tác
phẩm đều hàm chứa những mã mà nhà văn định sẵn cho độc giả của mình (kể cả
Trang 32những mã người sáng tạo không ngờ tới) Roland Barthes khi tiến hành giải cấu trúc một tác phẩm đã dựa vào năm mã: mã hành động (những thông tin thúc đẩy
diễn biến của câu chuyện); mã thuyết minh (hàm chứa những bí ẩn, góc khuất
của thông tin nhằm kéo dài câu chuyện); mã văn hóa (những tri thức thuộc về xã
hội, lịch sử mà tác phẩm thụ hưởng và thể hiện); mã tượng trưng (nằm ở tầng ý nghĩa sâu xa, ẩn dụ, có khi liên quan đến vô thức ở những câu, đoạn văn); mã
nội hàm (tìm bản chất bên trong của nhân vật, sự kiện) Như thế, để tìm lời giải cho tác phẩm văn học – thế giới khổng lồ của nội hàm còn ẩn chứa - không phải
là điều dễ dàng Ý nghĩa của nó vì thế mà không hề đơn nhất và được đóng trong
một khuôn khổ bất biến Với khái niệm Ngược xuôi phát tán, Jacques Derrida đề
xuất một cách đọc không chỉ tìm ra “sự mở rộng và kéo dài ý nghĩa”, những
mạch ngầm văn bản ẩn dưới lớp vỏ ngôn từ, mà còn nhằm cắt đứt mối liên hệ
giữa những ý nghĩa đó, hòng tạo sự đa chiều về ý nghĩa văn bản Tuy nhiên, sự
mở rộng này không có nghĩa là tùy tiện, nếu không sẽ dẫn sự phá hủy cấu trúc –
một điều còn bất cập, dễ dàng dẫn đến sự bế tắc trong lý thuyết giải cấu trúc Tìm ra những “phát tán” về ý nghĩa văn bản, là tìm trạng thái khi những tầng nghĩa được kéo dài và mở rộng ra Để phục vụ cho tư tưởng này, Derrida đề xuất khái niệm “trì biệt” – khái mang tính then chốt trong lý luận về giải cấu trúc của Jacques Derrida
Cùng với sự phủ nhận tính hai mặt thuần túy của kí hiệu trong lý thuyết
của Ferdinand de Saussure, Derrida cho rằng ngôn ngữ và kí hiệu nói chung không thể có sự thống nhất hoàn toàn giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, mà chúng luôn vận động, khiến cho nghĩa của văn bản cứ mở rộng Cái được biểu đạt không dừng lại ở một nét nghĩa duy nhất, xác quyết, mà luôn được người đọc tìm ra những tầng nghĩa mới xung quanh nó Thuật ngữ “Différance” được Derrida sáng tạo từ chữ “Différence” (“khác nhau”) và sử dụng lần đầu tiên vào
năm 1963 trong bài báo mang tên “Cogito et histoire de la folie” Derrida chú ý
quan hệ giữa viết và sự “điên loạn” với ý nghĩa người viết không phải lúc nào
Trang 33cũng làm chủ quá trình sáng tác của mình Nói cách khác, trong mọi hoạt động
viết đều có một kẻ khác trong tôi, chi phối tôi, đọc tôi và ngăn tôi tin rằng tôi làm chủ ngôn ngữ, và trong một ngôn ngữ thì luôn tồn tại hơn một ngôn ngữ Theo ý nghĩa đó, ngôn ngữ luôn có sự kéo dài và mở rộng về hàm nghĩa, khái
niệm mà đôi khi người viết không cố tình tạo ra hoặc chưa nghĩ đến Sử dụng lối chơi chữ trong thuật ngữ của mình, đổi chữ “e” thành “a”, Derrida đã sáng tạo ra
từ mới với những nét nghĩa mới Chữ “a” nằm trong thuật ngữ, ta có thể nhìn
thấy được nhưng bị lờ đi khi phát âm Điều này tượng trưng cho những ý nghĩa
bị bỏ sót của văn bản, mà người đọc cần phải tỉnh táo để phát hiện những mâu thuẫn đang bị che lấp Từ “Différance” xuất phát từ động từ “différer” mang hai
nét nghĩa: “trì hoãn” và “tạo khác biệt” Derrida đã thêm đuôi “ance” thay cho
“ence” nhằm tạo ra một từ hỗn hợp diễn tả sự khác biệt và kéo dài “Tựu trung
l ại, Jacques Derrida muốn nói rằng bất cứ sự biểu đạt nào, dù là ngôn ngữ hay văn tự cũng là một cuộc du lịch từ sai biệt đến mở rộng và kéo dài về ý nghĩa”
[17, tr.141] Cái được biểu đạt vì thế không phải lúc nào cũng ổn định, duy nhất,
mà luôn bị trì hoãn, trượt sang những cái biểu đạt khác Chính vì không có sự đối ứng một – một giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt nên khái niệm
“Différance” được xem như khái niệm “bản lề” của toàn bộ công trình, sự nghiệp của ông, có sự đóng góp to lớn cho học thuyết “giải cấu trúc”
Ba khái niệm Dấu vết, Ngược xuôi phát tán, Trì biệt không hoàn toàn tách
biệt và độc lập Giữa chúng là sự giao thoa, bổ sung và phát triển Bằng những khái niệm này, với cốt lõi là đi tìm sự mở rộng và kéo dài về nghĩa, chủ nghĩa
giải cấu trúc nhằm tìm ra những mâu thuẫn nội tại, những tầng nghĩa còn ẩn sâu
và cần được khai phá, tạo cách đọc và cách hiểu mới cho tác phẩm theo tinh
thần của giải cấu trúc chứ không phải “phá hủy” cấu trúc
Trong công trình của mình, Derrida đặc biệt quan tâm đến vấn đề Nói và
Viết Nếu như các nhà tư tưởng như Plato, Rousseau, Saussure, và Levi-Strauss
- đại diện cho triết học phương Tây truyền thống - đều cho rằng nói chiếm ưu
Trang 34thế vượt trội hơn, vì nó là sự hiện diện trực tiếp, là “biểu tượng của kinh nghiệm tinh thần” Trong khi đó, viết là sự ghi chép lại, là sự gián tiếp thể hiện lại biểu tượng của “kinh nghiệm tinh thần” ấy Trong thế nhị nguyên, viết chỉ đóng vai trò phái sinh và yếu thế hơn Tuy nhiên, trong tác phẩm “Văn từ học” (“Of
Grammatology”) Derrida cố gắng chứng minh điều ngược lại – rằng văn bản,
viết có vị trí ngang bằng, độc lập so với văn bản viết Những trăn trở về thứ bậc
của nói/ viết đã trở thành điều quan tâm đầu tiên của Derrida Giữa âm thanh và
kí hiệu, ông cho rằng kí hiệu không chỉ được tạo ra để ghi lại lời nói (theo quan điểm của Saussure), mà nó tồn tại độc lập đôi khi vượt xa phạm vi lời nói Trong tác phẩm “Tên của đóa hồng” của Umberto Eco – tác phẩm của trùng vi kí hiệu
– ta sẽ thấy sự áp đảo về ưu thế giữa văn bản, kí hiệu, biểu tượng so với lời nói
Và nhờ có kí hiệu, mà lời nói có cơ hội được “nhìn lại”, “đọc lại”, tiếp tục sản sinh ra những tầng bậc ý nghĩa mới của những vấn đề tưởng như đã được tuyệt đối hóa
1.2.2 “Tác ph ẩm mở” - “Tên của đóa hồng”của Umberto Eco - và lý thuyết
gi ải cấu trúc của Jacques Derrida
Umberto Eco được đánh giá như một con người tài hoa, uyên bác với trí
tuệ, tinh thần khoa học nhạy bén và trung thực được cả thế giới ngưỡng mộ
Giới trí thức Châu Âu thế kỉ XX đón nhận một chân dung vĩ đại của một vị học
giả mà trí tuệ của ông tỏa sáng trên nhiều lĩnh vực Ở nhà tiểu thuyết, nhà kí
hiệu học, phê bình văn học Umberto là sự hội tụ những phẩm chất tuyệt vời của trí tuệ uyên bác, tư duy khoa học sắc sảo, thức thời và cái nhìn sâu sắc, đa diện
của một tiểu thuyết gia
Umberto Eco sinh ngày 5 tháng 1 năm 1932 tại thành phố Alessanderia,
miền Bắc nước Ý Nghiên cứu, đánh giá về nhà văn Umberto Eco, chúng ta thường so sánh ông với nhà văn Ý đương thời: Italo Calvino (1923 - 1985) – tác
giả của những cuốn tiểu thuyết huyễn tưởng nổi tiếng như “Nếu một đêm đông
Trang 35có người lữ khách” (If on a Winter’s Night a Traveler, 1979) Nếu như Calvino
bắt đầu và kết thúc sự nghiệp của mình như một nhà văn thực thụ, thì con đường đến với tiểu thuyết của Umberto Eco lại ngược lại Bắt đầu sự nghiệp của mình như một triết gia thực thụ, những công trình khoa học Eco đem đến thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, mỹ học, đạo đức, phê bình văn học mà đặc biệt
là ký hiệu học Bước chân vào Đại học Turin, Umberto Eco đã từ chối yêu cầu
của cha: trở thành một luật sư Thay vì nghiên cứu luật học, ông say mê và chọn cho mình triết học trung cổ và văn học Sau khi hoàn thành luận văn Tiến sĩ triết
học về nhà thần học Thomas Aquinas với những tư tưởng mĩ học trung cổ, Eco
bắt đầu di chuyển hướng lý luận, chuyển sự quan tâm đến kí hiệu học, lí thuyết thông tin (Information theory) và chủ nghĩa cấu trúc Tư tưởng về mĩ học và triết
học của Eco chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhà thần học, triết học trung cổ Thomas Aquinas (1225 – 1274) – thiên về xu hướng thế tục hóa và tiến bộ hóa
thần học Với rất nhiều vị trí đã trải qua và sự thành công trong sự nghiệp khoa
học của mình, người ta ấn tượng nhất có Eco với vai trò là nhà kí hiệu học lỗi
lạc Trước mỗi tín hiệu, Eco luôn tìm cách diễn giải chúng Quá trình đi tìm lời
giải cho ký hiệu không hề đơn giản và dễ dàng Nó cần cầu viện đến một hệ
thống phức tạp và mạng lưới chằng chịt của văn bản Không thể tìm thấy cái đơn
nhất được biểu đạt bên trong một cái biểu đạt của tín hiệu Trong khi diễn giải
một tín hiệu, những ý nghĩa được tìm ra đồng thời kéo theo việc sản sinh những
kí hiệu mới Khả năng diễn giải của tín hiệu cần sự hỗ trợ của những văn bản ngoài nó, nhằm giải mã ý nghĩa của chính nó
Khoa học kí hiệu học đến với Umberto Eco khi ông phát hiện ra tư tưởng
của nhà triết học người Mỹ - Charles S Pierce (1839 – 1914) Eco đặc biệt bị ấn tượng bởi khái niệm của Pierce về kí hiệu vô hạn, nó cho rằng cái được biểu đạt không bao giờ ám chỉ một điều duy nhất trong thực tế, mà nằm trong vòng ám
chỉ được cho là bất tận từ cái biểu đạt này sang cái biểu đạt khác Với phương cách này, Eco đã tìm ra một nền tảng triết học kiên cố cho lý thuyết về tác phẩm
Trang 36“mở” Eco quan tâm đến sự khác nhau giữa cấu trúc của từ điển và cấu trúc bách khoa của kí hiệu Trong tác phẩm “Kí hiệu học và triết học của ngôn ngữ” (Semiotics and the Philosophy of Language), ông cho rằng không thể xem kí
hiệu như một hệ thống khép kín như cấu trúc từ điển: một kí hiệu chỉ biểu thị
một ý nghĩa nào đó Do sự diễn giải là vô cùng cần thiết, trong khi đó, ý nghĩa
của chuỗi kí hiệu vô hạn không thể được tìm thấy nhờ kiểu cấu trúc từ điển Và
để thực hiện diễn giải kí hiệu vô hạn, người ta cần tìm đến mạng lưới của cấu trúc bách khoa toàn thư – nơi không có một trung tâm, lối thoát hay giới hạn nào
và liên tục sản sinh ra những yếu tố mới Cấu trúc bách khoa toàn thư được Eco đánh giá như cấu trúc của ngôn ngữ Ở điểm này, mối quan hệ giữa lý thuyết kí
hiệu học của ông và vấn đề liên văn bản khá gần gũi Bởi vì ngôn ngữ mang tính
chất của cấu trúc bách khoa toàn thư, nên sẽ không tồn tại một tác phẩm nào có
thể đứng biệt lập trong mạng lưới kí hiệu vô tận Tư tưởng này thể hiện thống
nhất trong toàn bộ những lý thuyết của ông Cuốn sách “Tác phẩm mở” (The Open Work) của Umberto Eco ra đời năm 1962, không tồn tại độc lập mà gắn
liền với quan niệm về người đọc và ký hiệu học
“Tác ph ẩm mở” có ý nghĩa rất lớn cho lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn
học Tác phẩm ra đời nhanh chóng trở thành tiêu điểm của phê bình lý luận khi
Eco đề xuất tác phẩm “Finnegans Wake” của Jame Joyce – lúc bấy giờ chưa
được dịch sang tiếng Ý – như một nguyên mẫu chuẩn mực nhất về “tác phẩm
mở” “Theo Eco, “tác phẩm mở” phải là một tác phẩm đúng tạo ra những bất định về nghĩa và đòi hỏi sự tham gia chủ động từ phía người đọc” [42, tr.170]
Người đọc có vai trò rất lớn trong việc tìm ra những sự bất định và “mở” tác
phẩm ra nhiều chiều Đồng thời, “mỗi tác phẩm có thể được đề xuất một độc giả thích hợp tương ứng với thực tế và những khả năng hợp lý cho văn bản”1
Tác
1
“Rather, every literary work can be said to propose a model reader corresponding to real and
justifiable possibilities set by a text” [39, tr.157]
Trang 37phẩm “mở” cho phép chúng ta có nhiều cách đọc và có thể đưa ra những ý nghĩa
mới mẻ và rộng hơn những ý thức sáng tạo của tác giả Tuy nhiên không phải tác phẩm nào cũng có thể nghiên cứu theo cách đó, bởi vì nỗ lực tạo ra sự đa
dạng đến vô tận về cách đọc đôi khi hoàn toàn vô ích đối với nhiều loại văn bản Nói về vấn đề này, Eco rất thích một dòng trích dẫn trong “Finnegans Wake”:
“Người đọc lý tưởng trải qua cơn mất ngủ lý tưởng.”1 Như vậy, người đọc lí tưởng cho một tác phẩm “mở” không cần là độc giả hoàn hảo nhất, chứng minh được những phạm vi khả dĩ của cấu trúc của tác phẩm, mà là người “tỉnh táo” trước những điều khả dĩ ấy Một văn bản mở không phải là nơi người đọc tung hoành sự diễn giải của mình theo những mã khác với mã sáng tạo theo ý đồ của nhà văn, mà phải tỉnh táo và nhận ra mê cung trong cấu trúc của tác phẩm Và tác phẩm mở không chấp nhận bất cứ sự diễn giải tùy tiện nào Một tác phẩm có
mở hay không, không phụ thuộc vào việc đọc của độc giả mà thuộc về ý thức sáng tác của nhà văn, và không phải bất cứ tác phẩm nào cũng có tính mở
Với những quan niệm về kí hiệu học và vấn đề tác phẩm mở, Umberto Eco thể hiện một tư duy khoa học thức thời trước bối cảnh triết học phức tạp và
đa dạng của thế kỉ XX Trong một số vấn đề về lý thuyết của ông, ta bắt gặp
những nét tương đồng trong cách nhìn nhận ý nghĩa, cách đọc văn bản và kí hiệu
của Eco với tư tưởng giải cấu trúc của Jacques Derrida Nếu như Eco có lý thuyết về tác phẩm mở, thì Derrida đề xuất thuyết giải cấu trúc nhằm đi tìm cách
giải mã những tác phẩm mở Hai nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XX, sinh ra trong cùng một bối cảnh triết học, văn hóa, thời đại lịch sử đều đi theo con đường lý thuyết mới mẻ và chịu không ít sự phản bác từ giới khoa học lúc bấy giờ Điểm
cốt lõi trong lý thuyết kí hiệu học của Umberto Eco và giải cấu trúc của Derrida chính là xem xét lại chủ nghĩa cấu trúc Chủ nghĩa cấu trúc và lý thuyết ngôn
ngữ kí hiệu của Ferdinand de Saussure đã thống trị và chi phối tư duy triết học
suốt thế kỉ XIX, việc nhìn nhận lại và đi ngược nó không phải là điều dễ chấp
1
“the ideal reader suffering from an ideal insomnia” [39]
Trang 38nhận Tuy nhiên, với tất cả những gì đang diễn ra, sự bất lực nhất định của chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa giải cấu trúc ra đời đáp ứng nhu cầu của phê bình văn
học trong thời đại mới Khi những tác phẩm “mở” xuất hiện ngày càng nhiều (mức độ “mở” có thể nhiều hay ít), cần một lí thuyết mới về nghiên cứu phê bình để tìm ra mê cung cấu trúc và những chiều kích ý nghĩa của văn bản Nằm trong bối cảnh hậu hiện đại, giải cấu trúc là một từ khóa cần có, vừa thuộc về,
vừa biệt lập trong chủ nghĩa hậu hiện đại Là một biểu hiện của chủ nghĩa hậu
hiện đại, giải cấu trúc có những quy tắc riêng để “đọc” tác phẩm trên tinh thần
hậu hiện đại – tác phẩm “mở”
Là người đã đưa ra lý thuyết về tác phẩm mở, Umberto Eco còn là một nhà văn với ngòi bút uyên bác và thi pháp hiện đại Có thể nói, ông đã phần nào
hiện thực hóa lý thuyết về tác phẩm mở qua một số sáng tác nổi bật của mình
Trong đó, cuốn tiểu thuyết đầu tay “Tên của đóa hồng” được xem là một sáng
tác với ý thức cao độ của một nhà văn – học giả thiên tài Dung lượng tri thức
khổng lồ về kinh viện và nhà thờ với vô vàn mâu thuẫn được tái hiện trong sự đa
dạng của diễn ngôn trong tác phẩm, xứng đáng là một minh chứng cho dự định sáng tạo tác phẩm mở của tác giả Với tư cách là một tác phẩm có giá trị lớn của
thế kỉ XX, chứa đựng sự dụng công và những tư tưởng lớn của nhà văn, xem xét tác phẩm dưới góc nhìn giải cấu trúc là điều phù hợp
Năm 1980, với sự ra đời của tiểu thuyết “Tên của đóa hồng”, tên tuổi của
Umberto Eco thực sự trở nên nổi bật trong nền văn chương đương đại châu Âu Tác phẩm đã gây tiếng vang lớn, với khối lượng tri thức, kí hiệu khổng lồ, mở ra
thế giới kinh viện nhuốm màu trung cổ song tối tăm và đầy bí mật Dưới lớp vỏ
của loại hình tiểu thuyết trinh thám, “Tên của đóa hồng” chứa đựng nhiều tầng
bậc ý nghĩa hơn là vấn đề tội ác và thủ phạm như một tác phẩm trinh thám mẫu
mực Những tiếng vọng gay gắt của lịch sử tôn giáo và những cuộc tranh cãi nảy
lửa của hiện tại về đức tin chìm đắm trong sự thâm u, tịch mịch của không gian nhà thờ trung cổ mở ra cho người đọc những mê lộ của tri thức tôn giáo, lịch sử,
Trang 39triết học, văn học nghệ thuật,… Khi sáng tác, Eco đã tìm cách đem vào tác phẩm đầu tay của mình tất cả những gì ông đã đọc được, nhớ được một cách xuất sắc Chính vì lẽ đó, sự uyên bác của ông thổi vào tác phẩm nhằm mục đích tái hiện
lại tất cả những chi tiết về thế giới của những tu sĩ thời trung cổ, không hề khô khan nặng nề mà vẫn đảm bảo tinh thần hậu hiện đại là hướng tới tính giải trí
“Tên c ủa đóa hồng” có đầy đủ đặc điểm như tác phẩm “mở” khi đưa ra hàng
loạt những biểu tượng, nhân vật lịch sử đặt trong sự đối thoại đa chiều giữa lịch
sử - hiện tại – tương lai Có thể nói, tác phẩm đã đưa nền tiểu thuyết nước Ý từ
hiện đại đến ngưỡng cửa của hậu hiện đại
Có thể nói, tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” là một trong những đại diện
xuất sắc cho ví dụ về tác phẩm mở, có thể được xem như một tác phẩm với cấu trúc bách khoa toàn thư Tác phẩm viết trên cái nền trung cổ, nhưng đó chỉ là
một thứ “mặt nạ” cho văn bản, vì những vấn đề trong tác phẩm vẫn chứa đựng tinh thần của thời hiện đại, và nền văn minh Trung cổ vẫn là “một lò thử thách cho châu Âu và các n ền văn minh hiện đại” [29, tr.23–24) Trong hầu hết những
tác phẩm của mình (kể cả tiểu thuyết “Tên của đóa hồng”), Eco luôn thể hiện
niềm trăn trở trước những truyền thống nhị nguyên và tìm cách hóa giải chúng: Trung cổ và Hiện đại, Tiền phong và hiện đại, Hiện đại và Hậu hiện đại, Bác
học và Bình dân, Tôn giáo và Thế tục Với sự uyên bác và đa diện của trí tuệ và
những lĩnh vực theo đuổi, Eco được xem như một nhà nhân văn cổ điển, ông đi tìm một sợi dây nối Cổ đại – Trung cổ - Phục Hưng – Ánh sáng – Hiện đại –
Hậu Hiện đại Chẳng hạn Eco dùng một lối kết cấu văn bản khác hiện đại với
những thủ thuật của văn chương hiện đại như liên văn bản, nhại, để viết về thời
kì trung cổ Tuy nhiên, Eco khác các nhà văn hậu hiện đại, và trong đó có giải
cấu trúc ở chỗ, ông luôn muốn đi tìm một sự phổ quát cho những đặc tính riêng
lẻ, “đại tự sự” trong tinh thần chung của tác phẩm mình Tuy nhiên, tính chất đại
tự sự mà ông đi tìm không bị bó hẹp và bị đóng khung mà đi theo tinh thần của
cấu trúc bách khoa toàn thư – một tinh thần mở rộng sự diễn giải cho tác phẩm
Trang 40Tiểu kết chương 1:
Vào thời điểm ra đời, tiểu thuyết “Tên của đóa hồng” được xem như “cú
s ốc của tiểu thuyết đương đại”, bởi nó chứa đựng vấn đề muôn thuở của nhân
loại: sự trăn trở về thiện – ác, bản thể, chân lý – ngụy chân lý,… đồng thời được khoác lên chiếc áo tu sĩ thần bí xen kẽ những vụ án mạng li kì Chính cấu trúc bách khoa toàn thư với mê cung của những tình tiết, sự kiện, tranh luận, ăn năn, sám hối,… đã khiến cho tác phẩm tuy không phủ nhận “đại tự sự”, nhưng lại được mở ra với tất cả các chiều kích từ kết cấu cho đến biểu tượng Chính vì lẽ
đó, mặc dù không thừa nhận mình là một nhà văn thức thời và chủ động đi theo con đường của hậu hiện đại, nhưng ta hoàn toàn có thể đọc tác phẩm bằng mã
của giải cấu trúc Suy cho cùng, giải cấu trúc là “tháo, dỡ” văn bản, đem đến sự
sản sinh về nghĩa (điều mà cấu trúc cách khoa về kí hiệu vô hạn đã đề cập) Như
vậy, giải cấu trúc trở thành một cách đọc thú vị về cách đọc này Có thể nói, Eco
đã hoàn toàn thành công với dự định của mình – nối kết các thời đại văn học, tạo
ra một siêu tiểu thuyết với lối viết rất hiện đại về một vấn đề của một thời đã xa, nhưng lại nhắm đến những vấn đề đáng suy tư của con người hiện đại, khi chúng
ta đã sử dụng nền khoa học kĩ thuật triệt để như thế nào, tiên đoán một tương lai
sẽ xảy ra Sự hấp dẫn và trí tuệ của cuốn tiểu thuyết trở thành một thử thách đối
với độc giả Được viết trên tinh thần của một cuốn tiểu thuyết mở, tinh thần hậu
hiện đại xuất hiện nổi bật từ thể loại, cho đến nội dung, tư tưởng Chủ nghĩa giải
cấu trúc là một trong những biểu hiện của tư duy triết học hậu hiện đại Khi nghiên cứu tiểu thuyết này dưới góc nhìn giải cấu trúc, chúng tôi đặt nó trong ba bình diện tương quan với nhau, dựa trên ba khái niệm trong lí thuyết của Derrida – cha đẻ của giải cấu trúc – như những tiêu chí để “tháo dỡ” tác phẩm: Dấu vết, Ngược xuôi phát tán và Trì biệt Ba khái niệm lần lượt được sử dụng như những bước đi của giải cấu trúc Chúng không tách rời nhau và luôn có sự giao thoa với nhau cùng hướng đến tinh thần cao nhất của giải cấu trúc: sự kéo dài và mở rộng