Trần Ngọc Thái Hòa NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT Ở RỪNG TRÀM TRÀ SƯ, HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Thành phố Hồ Chí
Trang 1Trần Ngọc Thái Hòa
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA LƯỠNG CƯ,
BÒ SÁT Ở RỪNG TRÀM TRÀ SƯ,
HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Thái Hòa
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA LƯỠNG CƯ,
BÒ SÁT Ở RỪNG TRÀM TRÀ SƯ,
HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành : Sinh thái học
Mã số : 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM VĂN HÒA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 3công bố trong bất kì công trình nào
Nh ững số liệu, nội dung tham khảo, các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định
TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 9 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS.Phạm Văn Hòa đã tận tình hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong từng nội dung, luôn động viên, nhắc nhở, giúp đỡ tôi trong từng công việc để hoàn thành tốt luận văn
Tôi xin chân thành c ảm ơn đến quý Thầy – Cô khoa Sinh học, Ban Giám Hiệu, Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, khoa tự nhiên trường Đại học Sài Gòn, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình hoàn thành lu ận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan ban ngành Chi cục kiểm lâm tỉnh An Giang, S ở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh An Giang, Ban quản lý rừng tràm Trà
Sư tỉnh An Giang, Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang, gia đình các hộ dân trong địa bàn huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ, quan tâm chia sẻ, giúp đỡ trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 9 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 5Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vẽ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu lưỡng cư bò sát trong nước và khu vực nghiên cứu 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lưỡng cư bò sát trong nước 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu lưỡng cư bò sát ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và An Giang 5
1.2 Đặc điểm tổng quát về tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu 6
1.2.1 Vị trí địa lý 6
1.2.2 Điều kiện tự nhiên 8
1.2.3 Đặc điểm kinh tế văn hóa và xã hội ở khu vực nghiên cứu 10
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu 12
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 12
2.1.2 Tư liệu nghiên cứu 12
2.2 Phương pháp nghiên cứu 12
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 12
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 15
2.2.3 Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin ghi nhận được 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 27
3.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở rừng tràm Trà Sư 27
3.1.1 Danh sách các loài lưỡng cư, bò sát hiện biết ở rừng tràm Trà Sư 27
Trang 63.1.2 Danh lục các loài lưỡng cư, bò sát ở rừng tràm Trà Sư 35
3.1.3 Đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở rừng tràm Trà Sư 62
3.1.4 Các loài lưỡng cư, bò sát quí hiếm ở rừng tràm Trà Sư 63
3.2 Đặc điểm phân bố của các loài lưỡng cư bò sát ở Trà Sư 64
3.2.1 Phân bố theo địa hình 68
3.2.2 Phân bố theo nơi ở 68
3.2.3 Phân bố theo sinh cảnh 69
3.3 Tầm quan trọng và giá trị kinh tế, khoa học của các loài lưỡng cư, bò sát ở khu vực rừng Trà Sư 71
3.3.1 Ý nghĩa kinh tế, khoa học 71
3.3.2 Mặt hại 72
3.4 Tình hình khai thác và sử dụng các loài lưỡng cư bò sát ở Trà Sư và ở tỉnh An Giang 73
3.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn, khai thác bền vững và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên lưỡng cư, bò sát ở Trà Sư 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PH Ụ LỤC ix
Trang 7IUCN Tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở vùng rừng tràm Trà Sư 28 Bảng 3.2 So sánh thành phần loài của vùng rừng tràm Trà Sư và một số khu
vực lân cận 62 Bảng 3.3 Các loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm ở rừng tràm Trà Sư 63
Bảng 3.4 Sự phân bố các loài trong khu vực rừng tràm Trà Sư 65
Trang 9Hình 2.3 Lưỡi ếch nhái không đuôi 15
Hình 2.4 Khẩu cái ếch nhái 16
Hình 2.5 Kích thước chi sau ếch nhái 16
Hình 2.6 Mặt dưới bàn chân ếch nhái không đuôi 16
Hình 2.7 Màng da chân ếch nhái không đuôi 17
Hình 2.8 Sơ đồ đo ếch nhái không đuôi 18
Hình 2.9 Các tấm khiên ở đầu thằn lằn 18
Hình 2.10 Mắt thằn lằn 19
Hình 2.11 Lỗ tai thằn lằn 19
Hình 2.12 Khẩu cái thằn lằn 19
Hình 2.13 Mặt dưới bàn chân thằn lằn 20
Hình 2.14 Vảy bụng và vảy đuôi thằn lằn 20
Hình 2.15 Các số đo ở thằn lằn 20
Hình 2.16 Lỗ trước hậu môn (a) và lỗ đùi (b) 21
Hình 2.17 Cách đếm số hàng vảy thân 22
Hình 2.18 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm hậu môn 22
Hình 2.19 Vảy và tấm đầu của rắn 23
Hình 2.20 Mai và yếm rùa 24
Hình 2.21 Mặt trên đầu rùa 24
Hình 2.22 Mỏ rùa 25
Hình 2.23 Chi rùa 25
Hình 2.24 Đo các phần cơ thể rùa 26
Trang 10M Ở ĐẦU
Nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên, An Giang là nơi duy nhất ở miền Tây Nam Bộ với địa hình có núi và đường biên giới dài Có vị trí địa lí thuận lợi, cùng
với chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn đã giúp An Giang trở thành một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với nền công nghiệp và du lịch phát triển
mạnh trong khu vực Hoạt động du lịch và phát triển công nghiệp trong tỉnh đã làm cho các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp bị tác động mạnh mẽ Vì vậy, việc quy hoạch để thành lập các khu bảo vệ cảnh quan trở nên cần thiết, nhằm duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ các hệ sinh thái đặc trưng trong khu vực
Nhằm mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch và bảo vệ cảnh quan đặc trưng
của tỉnh, rừng tràm Trà Sư được công nhận là “Khu Bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư”, nằm trong hệ thống rừng đặc dụng quốc gia theo quyết định số 1530/QĐ-CTUB ngày 27/5/2005 của UBND tỉnh An Giang Là khu rừng ngập nước tiêu biểu cho vùng Tây sông Hậu, Trà Sư là nơi cư trú của nhiều loài chim nước và nhiều loài động vật hoang dã khác Do nằm trên địa bàn của huyện Tịnh Biên, là một huyện biên giới với khu du lịch sinh thái và kinh tế cửa khẩu nhộn nhịp trong những năm
gần đây đã gây ra những tác động không nhỏ đến cảnh quan tự nhiên, đến đa dạng sinh học nói chung và khu hệ lưỡng cư, bò sát nói riêng Đề tài “Nghiên cứu thành
phần loài và đặc điểm phân bố của lưỡng cư, bò sát ở rừng tràm Trà Sư, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” sẽ góp phần bổ sung một số dẫn liệu về sinh học, sinh
thái và đặc điểm phân bố của lưỡng cư, bò sát trong khu vực Trà Sư Từ đó đề ra các giải pháp giúp bảo tồn các loài này, duy trì đa dạng sinh học trong khu vực nghiên cứu đồng thời cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường sống tại địa phương
2.1 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố và một số đặc điểm sinh thái
của lưỡng cư, bò sát (thu được mẫu) ở vùng đất ngập nước theo mùa Trà Sư
Trang 11thường gặp các loài lưỡng cư, bò sát trong khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu vai trò, giá trị kinh tế, tình hình khai thác và sử dụng các loài lưỡng cư, bò sát ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác bền vững các loài lưỡng cư, bò sát quí hiếm ở khu vực nghiên cứu
2.3 Ph ạm vi nghiên cứu
Thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài lưỡng cư, bò sát trong khu
vực nghiên cứu
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lưỡng cư bò sát trong nước
Từ lâu con người đã khai thác nguồn tài nguyên động thực vật để phục vụ đời sống của mình, trong đó lưỡng cư, bò sát được sử dụng nhiều làm thức ăn cũng như làm thuốc Tuy nhiên, những nghiên cứu thực sự trên đối tượng này chỉ được
bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX do các nhà khoa học người nước ngoài thực hiện Nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở Nam Bộ có công trình của A Morice (1875), G Tirant (1885) và ở Bắc Bộ có công trình của Anderson (1878)
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, việc nghiên cứu tiếp tục được thực hiện bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước Theo thời gian, việc nghiên cứu ngày càng được quan tâm nhiều hơn và mở rộng ra nhiều hướng mới Lịch sử nghiên cứu về lưỡng
cư, bò sát ở nước ta có thể chia thành 3 giai đoạn cơ bản sau:
Giai đoạn trước 1954
Giai đoạn này các nghiên cứu về lưỡng cư bò sát chủ yếu do các nhà khoa
học người nước ngoài thực hiện Ở Nam Bộ và Trung Bộ có E Schenkel và O Boettger (1901); F Moequard (1904); G Boulenger (1902); M Smith (1921); N Parker (1925, 1929); L G Anderson (1942)… Ở Bắc Bộ có các công trình của H Frushstorfer (1903); L Vaillant (1904); G Boulenger (1908); J Pellengrin (1910);
N Annandale (1917); H Stevens (1925); Delacourt và Love (1926, 1927); Gee và Boring (1929 – 1930); M Smith (1930); A Boring (1940); M Toumanoff (1941)
Ở giai đoạn này, tổng kết đầy đủ nhất về lưỡng cư, bò sát Việt Nam là công trình của R Bourret (1924 – 1944) đã ghi nhận được 177 loài và phân loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 44 loài và phân loài rùa và 171 loài và phân loài lưỡng cư ở Đông Dương trong đó có các loài ở Việt Nam.[17]
Trang 13II ở Vĩnh Phú, Quảng Trị (1960), ở Hòa Bình (1961 – 1962); nghiên cứu về rắn ở miền Nam Việt Nam của S.M Campden– Main (1970)… Tổng kết giai đoạn này đã
thống kê được 69 loài lưỡng cư và 159 loài bò sát ở Việt Nam.[36]
Trong thời kỳ này, các nhà khoa học cũng đã tiến hành các nghiên cứu về sinh thái, sinh học như: nghiên cứu sinh thái ếch đồng, thạch sùng, cá cóc của Đào Văn Tiến và Lê Vũ Khôi (1965).[31]
Giai đoạn 1975 đến nay
Các nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát được mở rộng ra theo nhiều hướng khác nhau như: điều tra, mô tả, phân loại và lập danh lục; nghiên cứu về sinh học và sinh thái; nghiên cứu ứng dụng Cụ thể có các công trình như:
Phạm Văn Hòa (1999) trong luận văn thạc sĩ khoa học “Nghiên cứu thành
phần loài và một số đặc điểm sinh học của ếch nhái, bò sát ở vùng núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh” điều tra thống kê được 72 loài lưỡng cư, bò sát Lê Nguyên Ngật và Trần Thanh Tùng (2004) “Kết quả điều tra lưỡng cư bò sát vùng sông Tả Trạch tỉnh
Thừa Thiên Huế” Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường,
2005, “Danh lục Ếch nhái và bò sát Việt Nam” Ngô Đắc Chứng và Trần Hậu Khanh (2008) “Thành phần loài lưỡng cư bò sát phía tây tỉnh Đăk Nông” Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Andrew Grieser Johns, Cao Tiến Trung, Hồ Anh Tuấn và Chu Văn Dũng (2008) “Ếch nhái, bò sát ở vườn thiên nhiên Pù Huống”
thống kê được 95 loài lưỡng cư và bò sát Nguyen Van Sang, Ho Thu Cuc, Nguyen
Quang Truong (2009), “Herpetofauna of Vietnam” Edition Chimaira, Frankfurt am
Main Huỳnh Thị Khánh Nga (2011) “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố lưỡng
cư tại xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng”, luận văn thạc sĩ sinh học
Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Thị Quy và Lê Thị Thanh (2012), “Thành phần loài lưỡng cư, bò sát rừng Cà Đam- tỉnh Quảng Ngãi” Phạm Thế Cường, Hoàng Văn
Trang 14Chung, Nguyễn Quảng Trường, Chung Thị Thảo và Nguyễn Thiên Tạo (2012)
“Thành phần loài bò sát và ếch nhái ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên tỉnh Thanh Hóa Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Thị Lương, Cao Tiến Trung, Ông Vĩnh An
và Hoàng Xuân Quang (2012) “Đa dạng thành phần loài ếch nhái, bò sát ở khu dự
trữ sinh quyển Tây Nghệ An” Nguyễn Kim Tiến, Phạm Thị Bình và Lê Thị Hồng (2012) “Thành phần loài lưỡng cư, bò sát khu bảo tồn rừng sến Tam Quy, huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa”
Gần đây, có một số nghiên cứu về đặc điểm hình thái của nòng nọc như: Đoàn Thị Ngọc Linh, Đặng Tất Thế, Phạm Thế Cường (2012) “Đặc điểm hình thái nòng
nọc hai loài thuộc giống ếch cây sần Theloderma (Tschudi, 1838) ở Việt Nam
(Anura: Rhacophoridae: Rhacophorinae)” Lê Thị Quý, Hoàng Ngọc Thảo, Hoàng Xuân Quang, Đặng Tất Thế (2012) “Đặc điểm hình thái nòng nọc của hai loài trong
giống Microhyla Tschudi, 1838 (Microhylidae: Anura) ở vườn quốc gia Bạch Mã”
Lê Thị Quý, Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Thị Hà Giang, Hoàng Xuân Quang, Đặng
Tất Thế (2012) “Đặc điểm hình thái của nòng nọc và con non của ếch cây trung bộ
Rhacophorus annamensis (Smith, 1924) ở vườn quốc gia Bạch Mã” Hoàng Ngọc Thảo và Lê Thị Quý (2013) “Đặc điểm hình thái nòng nọc loài Rana johnsi Smith, 1921”
1.1.2 Tình hình nghiên cứu lưỡng cư bò sát ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL) và An Giang
Có rất ít nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở ĐBSCL so với Bắc Bộ, Trung Bộ
và Tây Nguyên Trước năm 2000, chỉ có một công trình của Nguyễn Văn Sáng và
Hồ Thu Cúc (1979) về thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở một số khu vực thuộc
miền Tây Nam Bộ và các đảo phụ cận Sau năm 2000, có các công trình nghiên cứu
về thành phần loài: Nguyễn Văn Sáng, Trần Văn Thắng (2002) nghiên cứu thành
phần loài bò sát, ếch nhái của Khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang và đã xác định được 38 loài lưỡng cư bò sát Năm 2007, Lê Xuân Cảnh, Hà Quý Quỳnh báo cáo về đa dạng sinh học và bảo tồn ở ĐBSCL đã thống kê có 78 loài ếch nhái, bò sát ở khu vực này Trần Thị Anh Thư, Lê Nguyên Ngật (2007) đã
Trang 15Sang (2010) mô tả một loài tắc kè mới ở An Giang Hoàng Thị Nghiệp và Trương
Lê Huy Hoàng (2012) “Thành phần loài bò sát mua bán và nuôi ở huyện Tân Hồng”
đã thống kê được 17 thường được mua bán trong đó có 10 loài quý hiếm Hoàng
Thị Nghiệp, Nguyễn Thanh Tuấn và Ngô Đắc Chứng (2012) “Đặc điểm sinh học và tình hình sử dụng rắn hai đầu Cylindrophis ruffus (Laurenti, 1768) ở tỉnh Đồng Tháp” Ngô Đắc Chứng và Hoàng Thị Nghiệp (2012) “Sự phân bố của các loài lưỡng cư, bò sát ở vùng An Giang và Đồng Tháp Hoàng Thị Nghiệp (2012) “Khu
hệ lưỡng cư – bò sát ở vùng An Giang và Đồng Tháp” đã khảo sát và lập danh sách
có 108 loài trong đó có 24 loài lưỡng cư và 84 loài bò sát Nguyễn Vũ Khôi (2014)
“Danh lục bằng hình ảnh các loài bò sát – lưỡng cư tại khu vực ba Hòn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang” gồm 34 loài lưỡng cư bò sát ở khu vực 3 Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Quéo và một số loài được nuôi trong Khu cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me Theo khảo sát của Chi cục kiểm lâm tỉnh An Giang và phân viện điều tra quy
hoạch rừng II (2005) trong “Luận chứng khoa học thành lập và đầu tư bảo vệ khu
bảo tồn thiên nhiên Trà Sư, tỉnh An Giang” đã công bố có 5 loài ếch nhái và 20 loài
bò sát
1.2 Đặc điểm tổng quát về tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý
Trang 16Nguồn: Địa lý địa phương An Giang [1]
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang và khu vực rừng tràm Trà Sư
- Rừng tràm Trà Sư là một vùng đất ngập nước rộng 845 ha, thuộc huyện
Tịnh Biên, tỉnh An Giang, có tọa độ địa lý từ 10033’ đến 10036’vĩ độ Bắc và
105002’ đến 105004’ kinh độ Đông cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 10km về phía Tây Bắc và cách sông Hậu khoảng 15km về phía Đông Bắc Đây là khu rừng tràm trên đầm lầy ngập nước theo mùa, được hình thành bởi hệ thống đê bao với dạng hình vuông tiếp giáp của 3 xã Văn Giáo, Vĩnh Trung, Thới Sơn thuộc huyện Tịnh Biên và giáp với huyện Châu Phú về phía Đông
Trang 17được chia thành 2 tiểu khu là 2 phần độc lập nhau (với diện tích tương đương) bởi kênh Nhơn Thới có bề rộng 25 - 30m chạy dọc chia đôi khu vực theo hướng Bắc Nam thông thoát nước ra bên ngoài các kênh lớn ngoài khu vực Vùng phụ cận của
rừng tràm Trà Sư là các hệ sinh thái nông nghiệp với ruộng lúa và nhà các hộ dân
- Trước 1983, vùng này được khai phá để trồng lúa nhưng do đất nhiễm phèn
nặng nên canh tác không hiệu quả Từ năm 1983 đến nay khu vực này được trồng tràm nhằm phục hồi nguyên trạng rừng trước đây Hiện nay cây tràm đã phát triển tốt đã hình thành nơi cư trú lý tưởng cho nhiều loài sinh vật như chim, tôm, cá, lưỡng cư, bò sát…
- Phần lớn diện tích khu vực rừng tràm Trà Sư đã trồng tràm chỉ còn một phần
diện tích lung, bàu với các loài thực vật đặc trưng như: cỏ năng hoặc sen, súng
- Đầm rừng này là một hệ sinh thái nhạy cảm điển hình nằm gần biên giới Campuchia và sông Mê Kông nên việc nghiên cứu ở đây có thể đánh giá được tác động từ phía thượng lưu sông Qua đó cung cấp những số liệu và các thông tin đối
với việc sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên đa dạng sinh học vùng châu thổ sông Mê Kông [5]
1.2.2 Điều kiện tự nhiên
1.2.2.1 Đặc điểm địa hình
Rừng tràm Trà Sư là vùng đất trũng ngập nước theo mùa, với mùa mưa kéo dài nên toàn khu vực này bị úng phèn nặng không thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp Khu vực rừng được chia làm 2 tiểu khu, trong mỗi tiểu khu lại được chia làm 3 khoảnh được đánh số thứ tự từ I đến VI, cùng với hệ thống kênh và đê ở đây
tạo nên 4 loại địa hình khác nhau:
Trang 18- Địa hình trũng sâu ngập nước kéo dài 8-10 tháng trong năm, phân bố rải rác trong vùng hình thành những lung, bàu trũng chỉ thích hợp cho những loài cây thân thảo, thực vật chịu phèn sinh sống
- Địa hình trũng, bằng phẳng có thời gian ngập nước ngắn hơn thường 6-8 tháng trong năm thích hợp cho cây tràm
- Dạng địa hình cao thường không bị ngập nước vào mùa mưa hoặc thời gian
ngập chỉ 3-4 tháng gồm các đường bao ngạn và đường đê với các loài cây lâm nghiệp và cây nông nghiệp chịu phèn ít
- Dạng địa hình kênh rạch có nước quanh năm đặc biệt trong mùa khô mức độ nhiễm phèn cao nên chỉ thích hợp cho một số loài thực vật thủy sinh sinh sống.[5]
1.2.2.2 Đặc điểm khí hậu
Tỉnh An Giang nằm ở vùng cận xích đạo thuộc vùng khí hậu nhiệt đới hơi ẩm gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 87% tổng lượng mưa hàng năm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Những đặc trưng chủ yếu về điều kiện khí hậu ở khu vực này như sau:
- Chế độ nhiệt cao và ổn định quanh năm (trung bình cả năm 290
C, trung bình cao nhất 33,80C, trung bình thấp nhất 23,50C), tổng tích ôn trên 10.0000
C Riêng khu vực Bảy Núi nhiệt độ thường thấp hơn các vùng khác 20
C
- Lượng bốc hơi: trung bình năm là 1282mm, tháng cao nhất là 132mm (tháng 3), tháng thấp nhất 93mm (tháng 9) So với lượng mưa trung bình hàng năm thì lượng bốc hơi trung bình hàng năm chiếm 91,6%
- Độ ẩm không khí: bình quân trong năm là 81%, bình quân tháng cao nhất là 84% (tháng 6-9), bình quân tháng thấp nhất là 77% (tháng 12)
- Chỉ số khô hạn theo cách tính của Gaussen thì chỉ số khô hạn trong tỉnh An Giang là X = 4.3.1 với số tháng khô là 4 tháng, số tháng hạn là 3 tháng, số tháng
kiệt là 1 tháng
- Tổng lượng mưa và số ngày mưa trong năm vào loại trung bình so với các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng có xu thế giảm dần từ khu vực Long Xuyên (1.548mm, 111 ngày/năm) về khu vực Châu Đốc (1.378mm, 87 ngày/năm) và phân
Trang 1911) đã gây tình trạng ngập lũ trên phạm vi toàn tỉnh, trừ khu vực địa hình cao ở vùng Bảy Núi
Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, nên hầu hết cây trồng - vật nuôi bị thiếu nước, hạn chế đến khả năng sinh trưởng và phát triển.[5]
1.2.3 Đặc điểm kinh tế văn hóa và xã hội ở khu vực nghiên cứu
Khu vực Trà Sư nằm trên địa giới hành chính của 3 xã: xã Văn Giáo và xã Vĩnh Trung (huyện Tịnh Biên), xã Ô Long Vĩ (huyện Châu Phú) Đây là các xã nghèo thuộc vùng biên giới của tỉnh An Giang
Hoạt động kinh tế chủ yếu là canh tác nông nghiệp, đánh bắt thủy sản và hoạt động lâm nghiệp Nhìn chung, các hộ dân sống ở khu vực đầm rừng Trà Sư chủ yếu
sống bằng các nghề trồng trọt, hoạt động lâm nghiệp, đánh bắt thủy sản tự nhiên, làm thuê và buôn bán nhỏ Đời sống các hộ dân còn nhiều khó khăn và phụ thuộc nhiều vào các hoạt động “săn bắt, hái lượm” các sản phẩm tự nhiên sẵn có của đất
ngập nước Đặc biệt có trên 70% hộ dân có các hoạt động phụ thuộc vào rừng tràm
và đánh bắt thủy sản tự nhiên từ các hệ sinh thái thủy sinh.[5]
Thành phần cư dân sống ở khu vực rừng Trà Sư gồm người Kinh, người Khmer, người Chăm và người Hoa Đặc biệt số lượng người dân tộc Khmer và người Chăm tập trung cao ở khu vực này tạo nên nét văn hóa đặc trưng cho Tịnh Biên nói riêng và An Giang nói chung [5]
Người Khmer chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi, họ cũng làm nghề đánh bắt cá mà chủ yếu là cá đồng, cá sông, với kỹ thuật và ngư cụ giống như người Việt Các nghề thủ công đan mây tre, đan đệm, dệt chiếu rất phổ biến Chỉ một số ít người Khmer làm nghề buôn bán nhỏ Về phong tục và ngôn ngữ, người Khmer ở An Giang không khác với người Khmer ở Campuchia Họ sùng bái đạo
Trang 20Phật, tôn kính các sư sãi và sẵn sàng dâng cúng cho nhà chùa những huê lợi do họ làm ra để cầu phúc
Người Chăm Nam Bộ chủ yếu làm các nghề đánh cá, làm ruộng, dệt thêu, buôn bán, dịch vụ du lịch Ở An Giang có nghề dệt sarong (xà-rông), dệt kama (khăn tắm, khăn rằn), thêu khăn, đan lưới… của phụ nữ Chăm, phục vụ nhu cầu ăn mặc theo truyền thống của người Chăm và dùng để trao đổi trong vùng
Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Hoa là sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, vận tải
Đây chính là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng - tôn giáo trong tỉnh, với đầy đủ các loại hình tín ngưỡng - tôn giáo nội sinh và ngoại sinh Trong đó, đạo Phật tuy vẫn giữ được vị trí ưu tiên, nhưng đã bị chia tách thành nhiều hệ phái hoặc tôn giáo mới Vì vậy, đời sống tâm linh của cư dân khu vực này khá phức tạp, chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiều tín ngưỡng - tôn giáo khác nhau
Trang 21năm 2013 đến hết tháng 6 năm 2014 Ngoài các đợt khảo sát chính còn tiến hành những đợt điều tra, phỏng vấn, quan sát để thu thập số liệu trong khu vực rừng tràm Trà Sư và các khu dân cư lân cận
Đợt 4 Từ ngày 20 đến 23 và từ ngày 26 đến 28/6/2014 Mùa mưa Địa điểm nghiên cứu được tiến hành theo các tuyến đê bao quanh các tiểu khu rừng và ở các hệ sinh thái nông nghiệp lân cận quanh rừng Mỗi đợt khảo sát được thực hiện nhiều ngày và khảo sát ở tất cả các tuyến
10035’35”B, 105004’77”Đ đến 100
34’54”B, 105004’15”Đ) Tuyến Ô Long Vĩ: từ vị trí tiểu khu 2b, 5a, 5b đến tiểu khu 6b và khu vực cầu qua rừng tràm
Tuyến Vĩnh Trung: từ văn phòng ban quản lý đến hết tiểu khu 6b (từ tọa độ
10034’14”B, 105002’78”Đ đến 100
34’06”B, 105004’45”Đ)
2.1.2 Tư liệu nghiên cứu
- Các vật mẫu lưỡng cư, bò sát thu được trên thực địa
- Nhật ký quan sát thiên nhiên và phỏng vấn người dân địa phương
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Phương pháp thu mẫu
Trang 22Lưỡng cư thu bắt vào thời điểm : 16h chiều tới 23h tối, đặc biệt là sau khi trời mưa; bò sát thu bắt cả ban ngày và ban đêm
Thu mẫu ở nhiều địa điểm khác nhau thuộc khu vực nghiên cứu
Hình 2.1 Bản đồ thu mẫu lưỡng cư, bò sát ở rừng tràm Trà Sư
Mẫu vật được thu bắt trực tiếp bằng tay hoặc bằng tất cả các phương tiện có thể: bằng gậy, bằng vợt, lưới, các phương tiện khác (chủ yếu trên mặt đất, một số
mẫu bắt trên cây, trong hang, dưới nước) vào ban ngày, ban đêm trong các tháng mùa mưa và mùa khô (mẫu vật thu xong được chụp hình, làm chết ngay để bảo quản) Mua lại một số mẫu vật do người dân bắt được trong vùng nghiên cứu hoặc đặt thợ săn thu mẫu
Trang 23- Quan sát, ch ụp ảnh:
- Quan sát, chụp ảnh, phân tích đặc điểm hình thái và các đặc điểm khác của
những loài chưa thu được mẫu mà mẫu vật còn lưu giữ trong dân, chụp hình di vật
của loài (mai rùa, xác rắn ngâm rượu…)
Mẫu vật sau khi thu được chụp hình ngay, nhằm tránh mẫu bị mất màu khi ngâm vào dung dịch formalin Mẫu được chụp trên khay nhựa có kích thước lớn, màu xanh da trời để làm nền, nổi bật hình loài thu mẫu Các thông số thời gian được cài đặt trước khi chụp hình nhằm thuận lợi cho việc tra cứu thông tin sau này
Quan sát kĩ và chụp ảnh, ghi nhận đặc điểm nơi phân bố, đặc điểm hình thái và các đặc điểm khác của loài trong sổ nhật kí thực địa
- Phương pháp điều tra
Phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ kiểm lâm, cán bộ quản lí rừng và những người thường xuyên tiếp xúc với rừng về thành phần loài, đặc điểm hình thái, nơi ở, hoạt động ngày đêm,…Nội dung phỏng vấn được lặp đi lặp lại nhiều
lần, ở nhiều người và nhiều nguồn khác nhau Câu hỏi phỏng vấn: Gặp con vật ở đâu và lúc nào? Vị trí nào trong khu vực rừng tràm? Gặp nhiều nhất vào thời điểm nào trong ngày, mùa nào trong năm? Dấu hiệu nào phát hiện sự có mặt của các loài (lưỡng cư, bò sát) có trong khu vực? Con vật ăn mồi gì? Mồi và cách để bắt con vật? Số lượng con vật bắt được trong ngày? Thời điểm bắt được nhiều con vật nhất? Giá bán mỗi kg?
Điều tra tình hình khai thác, buôn bán, phương tiện đánh bắt, phương pháp đánh bắt, số lượng cá thể thường bắt được của mỗi loài, giá trị sử dụng các loài lưỡng cư, bò sát tại địa phương
- Phương pháp xử lý mẫu vật: Mẫu sống sau khi thu, được gây mê bằng ê - te (ete), chụp hình lại, làm chết rồi ngâm mẫu vật trong dung dịch formalin 10% để cố
Trang 24định mẫu, trong 12 giờ sau đó chuyển sang dung dịch formalin 5% để bảo quản
mẫu
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Phân tích các số liệu về hình thái theo quy định riêng cho mỗi nhóm động vật như sau
Ếch nhái
* Đặc điểm hình thái ếch nhái được chú thích trong các hình vẽ sau [19], [20], [41]
Hình 2.2 Đầu ếch nhái không đuôi [20]
a Rana taipehensis b Bufo melanostictus
t : màng nhĩ n: lỗ mũi Cp: tuyến mang tai pto: gờ sau ổ mắt ot: gờ ổ mắt- màng nhĩ pro: gờ trước ổ mắt c: gờ canthus p: gờ đỉnh
Hình 2.3 Lưỡi ếch nhái không đuôi [20]
a Occidozyga lima b Ophryophryne microstoma
c.Duttaphrynus melanostictus d Hoplobatrachus rugulosus
Trang 25Hình 2.4 Khẩu cái ếch nhái [20]
a Hyla symplex b Hoplobatrachus rugulosus c Occidozyga lima
Hình 2.5 Kích thước chi sau ếch nhái [20]
a,b: Hylarana taipehensis c: Fejervarya limnocharis
f: đùi t: ống chân p: mí trên dio: gian ổ mắt
Hình 2.6 Mặt dưới bàn chân ếch nhái không đuôi [20]
a Annandia delacouri b Hylarana guentheri
Trang 26Hình 2.7 Màng da chân ếch nhái không đuôi [20]
a 1/4 màng; b 1/2 màng; c 2/3 màng; d 3/4 màng; e màng hoàn toàn
* Đo kích thước các phần của cơ thể (đơn vị tính bằng mm)
- Dài thân (L): từ mút mõm đến khe huyệt
- Dài đầu (L.c.): từ mút mõm đến chẩm
- Rộng đầu (Lt c.): bề rộng phần lớn nhất của đầu (thường là khoảng cách 2 góc mép)
- Dài mõm (L r.): khoảng cách từ mút mõm đến bờ trước của mắt
- Gian mũi (I n.): khoảng cách bờ trong của 2 lỗ mũi
- Đường kính mắt (D o.): bề dài lớn nhất của ổ mắt
- Rộng mi mắt trên (L p.): bề rộng lớn nhất của mi mắt trên
- Gian mi mắt (Sp p.): khoảng cách nhỏ nhất giữa 2 bờ trong của mi mắt trên
- Dài màng nhĩ (L tym.): bề dài lớn nhất của màng nhĩ (đo theo chiều dọc cơ
thể con vật)
- Dài đùi (F.): từ khe huyệt đến khớp gối
- Dài ống chân (T.): từ đầu khớp gối đến cuối khớp ống cổ
- Rộng ống chân (L T.): bề rộng lớn nhất của ống chân
- Dài cổ chân (L ta.): từ khớp ống cổ đến khớp cổ bàn
- Dài củ bàn trong (C int.): bề dài củ bàn trong (đo ở gốc)
- Dài ngón chân thứ nhất (L or.I.): từ bờ ngoài của bàn trong đến mút ngón I
- Dài bàn chân (L meta.): từ bờ trong củ bàn trong đến mút ngón dài nhất (ngón IV)
Trang 27Hình 2.8 Sơ đồ đo ếch nhái không đuôi [20]
1 L ỗ mũi; 2 Mắt; 3 Màng nhĩ; 4 Dài mũi; 5 Mi mắt trên; 6 Rộng mí mắt trên; 7 Gian mí m ắt; 8 Gian mũi; 9 Khoảng cách giữa 2 dải mũi; 10 Khoảng cách
từ mõm đến mũi; 11 Dài mõm; 12 Đường kính mắt; 13 Dài màng nhĩ; 14 Dài
thân; 15 R ộng đầu; 16 Lỗ huyệt; 17 Dài đùi; 18 Dài ống chân; 19 Đùi; 20 Ống chân; 21 C ổ chân; 22 Dài củ bàn trong; 23 Dài bàn chân; 24 Rộng đĩa ngón chân
* Cân trọng lượng (P) của cơ thể Đơn vị tính bằng gam (g)
Trang 28Hình 2.10 Mắt thằn lằn [20]
a Gekko gecko (không có mí động) b Lygosoma quadrupes (mi dưới có vảy)
c Eutropis longicaudata (mi dưới có vảy lớn và trong suốt)
d Emoia laobaoensis (mi dưới có một đĩa lớn trong)
Hình 2.11 Lỗ tai thằn lằn [20]
a Gekko gecko (l ỗ tai dài và sâu) b Eutropis longicaudata (lỗ tai tròn và sâu)
c Tropidophorus berdmorei (màng nhĩ nông)
d Lygosoma quadrupes (lỗ tai rất nhỏ)
e Dibamus bourreti (tai và m ắt ẩn dưới vảy)
Hình 2.12 Khẩu cái thằn lằn [20]
a Eutropis longicaudata d Emoia laobaoensis c Eumecces tamdaoensis
Trang 29Hình 2.13 Mặt dưới bàn chân thằn lằn [20]
a Gekko gecko (n ếp mỏng nguyên) b Hemidactylus frenatus (nếp mỏng chia)
b Eutropis longicaudata d Takydromus sexlineatus
Hình 2.14 Vảy bụng và vảy đuôi thằn lằn [20]
a Gekko gecko (vảy bụng không khác vảy bên)
b Eutropis longicaudata (vảy trước hậu môn lớn)
c Takydromus sexlineatus (vảy bụng lớn)
* Đo kích thước các phần của cơ thể (đơn vị tính bằng mm)
- Dài thân (L.): từ mút mõm đến khe huyệt
- Dài đuôi (L cd.): từ khe huyệt đến mút đuôi (không đo đuôi tái sinh)
- Dài chân sau (L t.): từ gốc đùi đến mút ngón chân dài nhất
Hình 2.15 Các số đo ở thằn lằn [20]
Trang 30* Đếm
- Số lỗ đùi (F f.): số lượng lỗ đùi ở một bên (nếu có)
Hình 2.16 Lỗ trước hậu môn (a) và lỗ đùi (b) [20]
Lỗ đùi nằm dọc hai bên ở mặt dưới đùi Lỗ trước hậu môn nằm ở phía trên khe huyệt Một số loài có lỗ đùi và lỗ trước hậu môn nối tiếp nhau
- Số bản mỏng dưới ngón: đếm số bản mỏng dưới ngón tay I (l f I) và ngón chân IV (l t IV) bên phải
- Vảy thân (C): số hàng vảy quanh thân, không kể tấm bụng (nếu có)
- Tấm mép trên (Lbs.): số lượng tấm mép trên ở một bên
- Tấm mép dưới (Lbi.): số lượng tấm mép dưới ở một bên
- Vảy trên mi mắt (sp c.): số lượng vảy trên mi mắt ở một bên
* Cân trọng lượng (P) của cơ thể Đơn vị tính bằng gam (g)
Rắn
* Đo kích thước các phần của cơ thể (đơn vị tính bằng mm)
- Dài thân (L.): từ mút mõm đến khe huyệt
- Dài đuôi (L cd.): từ khe huyệt đến mút đuôi
* Đếm
- Vảy thân (C.): số lượng vảy thân ở cổ, giữa thân và trước khe huyệt
Trang 31- Vảy dưới đuôi (S cd.): số lượng vảy dưới đuôi Vảy có thể được xếp thành
một hàng, hai hàng hay có cả 2 loại
- Tấm hậu môn (A.): chia thành 2 tấm theo rãnh chéo hoặc không chia
Hình 2.18 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm hậu môn [20]
Vảy bụng (V) có hoặc không có khuyết ở bên, vảy dưới đuôi (SC) nguyên (xếp 1 hàng) hoặc kép (2 hàng), tấm hậu môn (A) có thể nguyên hoặc chia
- Tấm môi trên (Lbs.): số lượng tấm môi trên ở một bên Các tấm tiếp xúc với mắt để trong ngoặc
Trang 32- Tấm môi dưới ( Lbi.): số lượng tấm môi dưới ở một bên Các tấm tiếp xúc
với hai tấm cằm trước (MA)
- Vảy thái dương (T.): gồm các vẩy giữa vảy đỉnh và các tấm môi trên Thường có từ 1- 3 hàng (trước, giữa, sau), được phân cách bằng dấu cộng (+)
- Lỗ mắt: tròn, bầu dục, thẳng đứng hay bầu dục nằm ngang Xác định mắt nhỏ, lớn, trung bình dựa vào tỉ lệ giữa mắt và khoảng cách từ mắt đến mũi
- Tấm cằm trước (MA)
- Tấm cằm sau (MP)
Hình 2.19 Vảy và tấm đầu của rắn [20]
F Tấm trán; P Tấm đỉnh; Pf Tấm trước trán; In Tấm gian mũi; M Tấm cằm;
R T ấm mõm; SL Tấm mép trên; IL Tấm mép dưới; MA Tấm sau cằm trước;
Pro Tấm trước mắt; Pto Tấm sau mắt; Subo Tấm dưới mắt; T tấm thái dương
* Cân trọng lượng (P) của cơ thể Đơn vị tính bằng gam (g) Riêng đối với trăn
lớn hơn 1000g, được tính bằng kí lô gam (kg)
Rùa
* Đặc điểm hình thái rùa
Trang 33Hình 2.20 Mai và yếm rùa [20]
A: Mai MK Gờ sống lưng; N Tấm gáy; M1 – Mn Tấm bìa; V1 – V5: Tấm
sống;
C1 – C4: Tấm sườn; Inf.m: Tấm phụ bìa; Sc: Tấm trên đuôi
ax Tấm nách; in Tấm bẹn; Pg Bản lề yếm
Hình 2.21 Mặt trên đầu rùa [20]
Mặt trên đầu có thể nhẵn hoặc phủ các tấm sừng ghép với nhau Màu sắc và trang trí trên đầu thay đổi tùy loài
a Rùa đầu to Platysternon megacephalum;
b Đồi mồi Eretmochelys imbricata;
c Rùa hộp Cuora amboinensis
Trang 34Hình 2.22 Mỏ rùa [20]
Phần trước đầu là mỏ rùa Đôi khi mỏ khuyết ở giữa và hai phần bên mỏ lồi hình răng cưa (rùa răng) hay thay bằng vòi thịt (c)
a Rùa đầu to Platysternon megacephalum; b Rùa răng Hieremys annandalei;
c Ba ba gai Plalea steindachneri
Hình 2.23 Chi rùa [20]
Có thể hình trụ, không có màng da nối ngón chân hoặc hơi dẹp, có màng da
nối ngón chân (rùa đầm), hoặc dẹp hẳn thành hình mái chèo (rùa biển)
a Quản đồng Caretta caretta; b Ba ba gai Plalea steindachneri;
c Rùa răng Hieremys annandalei; d Rùa núi viền Manouria impressa;
e Đồi mồi Eretmochelys imbricata
* Đo kích thước các phần của cơ thể Đơn vị tính bằng mm
- Dài mai (L ca.): từ bờ trước tấm gáy đến mép sau tấm trên đuôi
- Cao mai (H.ca): từ yếm đến chỗ cao nhất của mai
- Rộng mai (Lt ca.): bề rộng nhất của mai
- Dài đuôi (L cd.): từ mép trước khe huyệt đến mút đuôi
- Cầu nối (Po.): bề rộng của hyoplastron và hypoplastron nối với mai
Trang 35Hình 2.24 Đo các phần cơ thể rùa [20]
Tiến hành định tên khoa học các loài đã thu được mẫu Định tên khoa học dựa vào khóa định loại lưỡng cư, bò sát của Đào Văn Tiến [24], [25], [26], [27]; Bourret
R [39], [40], [41]; Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2009)[36]; Phạm Văn Hòa (2005) [9]; Hoàng Thị Nghiệp (2012) [17]; Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Ngô Đắc Chứng (2012) [20] và các tài liệu định loại khác có liên quan [3], [8], [12], [22], [28], [32], [33], [34], [37], [38], [42] Các mẫu
vật lạ được đối chiếu với bộ sưu tập lưỡng cư, bò sát của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
- Mỗi mẫu vật sau khi phân tích, định tên khoa học sẽ có một phiếu phân tích hình thái theo mẫu của Phòng Động vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) Mỗi loài được nêu tên khoa học kèm theo năm tác giả công bố lần đầu, năm mô tả, địa điểm typus, tên đồng vật, tên Việt Nam, ký hiệu mẫu, địa điểm sưu tầm và nơi phân bố Những loài chưa thu được
mẫu, chỉ nêu tên khoa học, tên đồng vật, địa điểm typus, kèm theo xuất xứ tài liệu
2.2.3 Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin ghi nhận được
2.2.3.1 Phương pháp kế thừa
Tham khảo và sử dụng có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố của các tác giả đã từng khảo sát lưỡng cư, bò sát ở Trà Sư trước đó
2.2.3.2 Phương pháp xác định tọa độ địa lý và độ cao
Dùng máy GPS để xác định tọa độ và độ cao của các địa điểm thu được mẫu vật, xử lý các thông tin và lập bản đồ bằng google earth
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở rừng tràm Trà Sư
3.1.1 Danh sách các loài lưỡng cư, bò sát hiện biết ở rừng tràm Trà Sư
Qua các đợt khảo sát trên thực địa đã thu thập được 128 mẫu vật Kết quả nghiên cứu đã xác định được 42 loài thuộc 16 họ, 3 bộ, 2 lớp Trong đó có 9 loài
lưỡng cư thuộc 5 họ, 1 bộ và 33 loài bò sát thuộc 11 họ, 2 bộ (bảng 3.1)
Trang 37I ANURA I BỘ KHÔNG ĐUÔI
1 Duttaphrynus Frost, Grant, Faivovich,
Bain, Haas, Haddad, De Sá, Channing,
Wilkinson, Donnellan, Raxworthy,
Campell, Blotto, Moler, Drewes,
Nussbaum, Lynch, Green & Wheeler, 2006
1 Giống Cóc
1 Duttaphrynus melanostictus (Schneider,
1799)
2 Kaloula Gray, 1831 2 Giống Ễnh ương
Trang 383 Fejervarya Bolkay, 1915 3 Giống Ngóe
3 Fejervarya cancrivora (Gravenhorst, 1829)
4 Hoplobatrachus Peters, 1863 4 Giống Ếch đồng
5 Hoplobatrachus rugulosus (Wiegmann,
1834) ◊
5 Occidozyga Kuhl & Van Hasselt, 1822 5 Giống Cóc nước
6 Hylarana Tschudi, 1838 6 Giống Ếch chính thức
7 Polypedates Tschudi, 1838 7 Giống Chẫu chàng
9 Polypedates leucomystax (Gravenhorst,
1829)
Trang 3910 Calotes versicolor (Daudin, 1802) Nhông xanh 12 +++
12 Hemidactylus bowringii (Gray, 1845) Thạch sùng bao – ring 3 +++
13 Hemidactylus frenatus Scheleger, 1836 Thạch sùng đuôi sần 2 +++
14 Hemidactylus garnoti Duméril & Bibron,
Trang 4016 Eutropis multifasciata (Kuhl, 1820) ◊ Thằn lằn bóng hoa 4 x ++