1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai

195 791 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy đã có nhiều nghiên cứu về phương diện ngành kinh tế, các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhưng đứng trên quan điểm của khoa học Địa lí để nghiên cứu một cách có hệ th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:

TP Hồ Chí Minh - 2013

Trang 3

L ời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, luận án của tôi không trùng lặp với bất kì công trình và luận án nào đã công bố

TP.Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 01 năm 2013

Tác giả

Trang 4

ĐTNN Đầu tư nước ngoài

GTSLHH & DV Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ GTSX Giá trị sản xuất

GTXK Giá trị xuất khẩu

Trang 5

TCLT Tổ chức lãnh thổ

TCLTKT Tổ chức lãnh thổ kinh tế TCLTNN Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp TCLTCN Tổ chức lãnh thổ công nghiệp TCLTDL Tổ chức lãnh thổ du lịch TNDL Tài nguyên du lịch

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1.1: Mức cho điểm từng tiêu chí đánh giá 37 Bảng 1.2: phân cấp các chỉ tiêu cho từng tiêu chí đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN tỉnh Đồng Nai năm 2010 38 Bảng 1.3 Tổng hợp điểm đánh giá cho các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai39 Bảng 1.4 Bảng tổng hợp điểm đánh giá của các tiêu chí của điểm du lịch 44 Bảng 2.1: Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tỉnh Đồng Nai phân theo 3 khu vực kinh tế 63 Bảng 2.2: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế của tỉnh Đồng Nai 64 Bảng 2.3: Lũy kế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Đồng Nai từ

năm 1989 đến năm 2010 phân theo ngành kinh tế 65 Bảng 2.4: Tổng sản phẩm và cơ cấu từng ngành qua các năm

ở tỉnh Đồng Nai (giá hiện hành) 66 Bảng2.5: Giá trị và cơ cấu GTSXNN tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 - 2010 (giá thực tế) 67 Bảng 2.6: Qui mô và cơ cấu khách du lịch tỉnh Đồng Nai 2 năm 2006 và 2010 71 Bảng 2.7: Số ngày lưu trú bình quân 1 lượt khách du lịch đến tỉnh Đồng Nai

2 năm 2006 và 2010 71 Bảng 2.8: Bình quân chi tiêu của khách du lịch ở tỉnh Đồng Nai 72 Bảng 2.9: Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Đồng Nai 5 năm 2006 – 2010

(tính t heo giá thực tế) 72 Bảng 2.10: Số lượng và doanh thu của các nhà hàng chia theo thành phần kinh tế ở tỉnh Đồng Nai năm 2010 73 Bảng 2.11: Số hộ nông nghiệp của các địa phương phân theo huyện (TX,TP) theo điều tra ( tháng 7 năm 2011) của tỉnh Đồng Nai 75 Bảng 2.12 : Tỷ trọng GTSX của các trang trại chăn nuôi so với GTSX của ngành chăn nuôi ở tỉnh Đồng Nai năm 2010 81

Trang 7

Bảng 2.13 So sánh giá trị sản lượng của ngành trồng trọt/ diện tích đất trồng trọt của địa phương với GTSL của các trang trại trồng trọt/ diện tích đất trồng trọt của trang trại năm 2010 83 Bảng 2.14: Quy mô và tỷ lệ đất cho doanh nghiệp thuê ở các cụm công nghiệp phân theo huyện (TX,TP) tỉnh Đồng Nai năm 2010 89 Bảng 2.15: Quy mô và tỷ lệ đất cho doanh nghiệp thuê ở các

khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai năm 2010 90 Bảng 2.16: Thống kê tình hình hoạt động của 19 khu công nghiệp củ tỉnh Đồng Nai năm 2010 91 Bảng 2.17: Quy mô lao động đang làm việc tại 19 KCN của tỉnh Đồng Nai năm 2010 93 Bảng 2.18: Tổng hợp điểm đánh giá cho các tiêu chí của KCN đang hoạt động

có doanh thu của tỉnh Đồng Nai năm 2010 96 Bảng 2.19: Cán cân thương mại của các doanh nghiệp trong các KCN tỉnh Đồng Nai năm 2010 phân theo địa phương có KCN 98 Bảng 2.20: Hệ thống siêu thị hoạt động ở tỉnh Đồng Nai năm 2010………104 Bảng 2.21: Tổng hợp điểm đánh giá của các điểm du lịch……….112 Bảng 2.22: Các đô thị của tỉnh Đồng Nai năm 2010……….118 Bảng 2.23: Tỷ lệ dân thành thị của các tiểu vùng kinh tế năm 2010……….120 Bảng 2.24: Tỷ lệ Giá trị sản xuất vật chất và lao động của các tiểu vùng kinh

tế tỉnh Đồng Nai năm 2010………121

Trang 8

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Chuyển đổi cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Nai

giai đoạn 2001- 2010 63

Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng GTSX công nghiệp của Đồng Nai, vùng KTTĐPN và cả nước 69

Biểu đồ 2.3: Số nhân khẩu và nhân khẩu bình quân/1 hộ nông nghiệp phân theo huyện (TX,TP) tỉnh Đồng Nai (01/7/2011) 76

Biểu đồ 2.4 : Thu nhập bình quân 1 tháng của 1 lao động đang làm việc tại trang trại chăn nuôi phân theo huyện (TX,TP) tỉnh Đồng Nai năm 2010 80

DANH SÁCH BẢN ĐỒ Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai 47

Một số nguồn lực kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai 49

Một số nguồn lực tự nhiên tỉnh Đồng Nai 57

Bản đồ một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Đồng Nai 88

Bản đồ một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Đồng Nai… 102

Một số hình thức tổ chức lãnh thổ ngành dịch vụ tỉnh Đồng Nai……… 117

Bản đồ thể hiện một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai 123

Bản đồ định hướng phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai đến năm 2020……… 138

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

DANH SÁCH BẢN ĐỒ

MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn nghiên cứu đề tài 2

2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 3

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu đề tài 7

3.1 Mục tiêu 7

3 2 Nhiệm vụ 7

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9

5.1 Các quan điểm nghiên cứu 9

5.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ 9

5.1.2 Quan điểm hệ thống 9

5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh 9

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững 9

5.2 Các phương pháp nghiên cứu 10

5.2.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu, số liệu thống kê 10

5.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa 10

5.2.3 Phương pháp xử lí và phân tích tài liệu, số liệu 10

5.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và ứng dụng công nghệ GIS 11

5.2.5 Phương pháp chuyên gia 11

5.2.6 Phương pháp thang điểm tổng hợp 11

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12

7 Cấu trúc của luận án 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 14

1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế 14

1.1.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ 14

1.1.2 Quan niệm và nguyên tắc của tổ chức lãnh thổ kinh tế 16

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế 19

1.1.4 Một số hình thức cơ bản của tổ chức lãnh thổ kinh tế 25

1.2 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế 31

Trang 10

1.2.1 Khái quát về một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở vùng kinh tế trọng

điểm phía Nam 31

1.2.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh áp dụng đối với tỉnh Đồng Nai 35

1.2.3 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá đối với một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế áp dụng cho tỉnh Đồng Nai 36

Tiểu kết chương 1 48

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN MỘT SỐ HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ Ở TỈNH ĐỒNG NAI 49

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai 49

2.1.1 Nhóm các yếu tố bên trong lãnh thổ 49

2.1.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài lãnh thổ 59

2.2 Thực trạng thực hiện một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai 62

2.2.1 Khái quát chung kinh tế tỉnh Đồng Nai 62

2.2.2 Thực trạng các ngành kinh tế 65

2.3 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh Đồng Nai 74

2.3.1 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ theo ngành kinh tế 74

2.3.2 Một số hình thức TCLTKT tế tỉnh Đồng Nai theo lãnh thổ 115

Tiểu kết chương 2 120

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN MỘT SỐ HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ Ở TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2020 122

3.1 Định hướng phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 122

3.1.1 Cơ sở xây dựng định hướng 122

3.1.2 Định hướng phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 125

3.2 Giải pháp nhằm thực hiện phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 134

3.2.1 Các giải pháp chung 134

3.2.2 Giải pháp cụ thể nhằm thực hiện phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 139

Tiểu kết chương 3 145

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn nghiên cứu đề tài

Tổ chức lãnh thổ kinh tế là đối tượng nghiên cứu quan trọng của Địa lí kinh

tế - xã hội Việt Nam từ giữa thế kỉ XX “Khi nói đến tổ chức không gian không thể nói không gian hay lãnh thổ trừu tượng mà thường gắn với lãnh thổ (không gian) kinh tế – xã hội của một nước, một vùng, một tỉnh cụ thể và trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [38]

Trong lịch sử phát triển khoa học Địa lí đã có nhiều công trình nghiên cứu

về tổ chức lãnh thổ của một khu vực hoặc một quốc gia cụ thể Nhưng kinh tế –

xã hội luôn biến động, do đó đòi hỏi các nhà Địa lí cần phải tham gia vào nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước Hơn nữa, nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế mang ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn

Nguyên tắc quan trọng nhất của tổ chức lãnh thổ là đảm bảo phát triển hài hòa, nhịp nhàng, hiệu quả và bền vững ở thời điểm hiện tại và trong tương lai của lãnh thổ Việc lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế thích hợp đối với mỗi lãnh thổ là việc làm khó khăn, phức tạp, mang tính nghệ thuật trong quá trình phát triển kinh tế Thời gian qua, ở mỗi địa phương, vùng, của đất nước, việc phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế hết sức đa dạng [93]

Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam; là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp của cả nước hiện nay; đang là địa phương thu hút mạnh các nhà đầu tư Tỷ trọng GDP ngành công nghiệp chiếm 57% so với tổng sản phẩm của tỉnh, nhưng những kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương Vì vậy, phát triển kinh tế của tỉnh nói riêng và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tốc độ tăng cao hơn cần phải tập trung nghiên cứu thực tiễn tổ chức lãnh thổ kinh tế của tỉnh Tuy đã có nhiều nghiên cứu về phương diện ngành kinh tế, các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhưng đứng trên quan điểm của khoa học Địa lí để nghiên cứu một cách có hệ thống về những hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế của tỉnh là nội dung còn bỏ ngỏ

Trang 12

Nghiên cứu một số hình thức TCLTKT tỉnh Đồng Nai có ý nghĩa trong sắp xếp, bố trí các hoạt động kinh tế trên cơ sở sử dụng có hiệu quả tối ưu sự phân bố khác nhau theo không gian của tỉnh Đồng thời, xác định mối liên quan mật thiết giữa các hình thức TCLTKT đảm bảo cho việc khai thác lãnh thổ ngày càng hợp

lí và hiệu quả hơn

Xuất phất từ các yêu cầu cấp thiết nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên

cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh Đồng Nai”

2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

2.1 T ình hình nghiên cứu ngoài nước

Việc tìm ra quy luật về không gian lãnh thổ của các hoạt động kinh tế ra đời

từ thế kỉ XIX và trở thành ngành khoa học về quản lí lãnh thổ TCLT có liên quan chặt chẽ với kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về việc tìm ra các qui luật TCLT ở các địa phương, từ đó tiến hành xem xét, bố trí một cách hợp lí các hoạt động kinh tế và các điểm dân cư [38], [93]

Ngay từ đầu thế kỷ XIX, trên thế giới đã có những nghiên cứu và sau này

đã trở thành lí thuyết cơ sở để nghiên cứu và triển khai tổ chức sản xuất xã hội theo lãnh thổ như:

-Lí thuyết "Phát triển các vành đai nông nghiệp" của G.Thunen Ý nghĩa

quan trọng của lí thuyết này là xác định vai trò của một trung tâm, của những khu vực mà kinh tế còn chậm phát triển

-Lí thuyết "Khu vị luận công nghiệp" của A.Weber Ý nghĩa của lí thuyết

này là xác định vai trò của điểm “trồi” ở những khu vực mà kinh tế còn kém phát triển;

- Lí thuyết "Điểm trung tâm" của W.Christaller Ý nghĩa của lí thuyết này

là cơ sở để bố trí các điểm đô thị, các điểm dân cư thông qua lực hút từ trung tâm

Đến thế kỷ XX, các nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ nền sản xuất được tiến

hành sâu rộng hơn, điển hình là các lí thuyết: "Cực tăng trưởng" của Francoi

Perroux Theo ông một vùng không thể phát triển kinh tế đồng đều ở tất cả các

Trang 13

nơi trên lãnh thổ trong cùng một thời điểm, mà có xu hướng phát triển mạnh nhất

ở một hoặc vài nơi nào đó, trong khi những nơi khác lại chậm phát triển hoặc trì trệ Ý nghĩa của lí thuyết này là giải thích sự cần thiết của việc phát triển lãnh thổ kinh tế theo hướng có trọng điểm Ngoài ra, còn có lí thuyết phi cân đối, lí thuyết phát triển chuỗi hay chùm đô thị…

Các lí thuyết trên đã được thể hiện rõ trong một số sách: Tổ chức lãnh thổ công nghiệp [64];Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam [40]; Tổ chức lãnh thổ kinh tế – xã hội, một số vấn đề lí luận và ứng dụng [93] và Tổ chức lãnh thổ [38]

Tóm lại, các lí thuyết nêu trên đã đưa ra những hướng nghiên cứu cơ bản mang tính kết cấu, sự tính toán chặt chẽ các mối liên hệ để xác định qui luật khách quan của sự phân bố Chúng đã được ứng dụng thành công ở một số quốc gia trên thế giới như: Pháp thực hiện việc phát triển các thành phố cân bằng và

đã có tác dụng tốt trong việc giảm bớt chênh lệch vùng; Thụy Sĩ lựa chọn vùng yếu kém để chính phủ đầu tư hỗ trợ, đã tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng của quốc gia Đặc biệt, Trung Quốc đã tổ chức lãnh thổ kinh tế với mô hình đặc khu kinh tế và 14 thành phố ven biển hiệu quả; Hàn Quốc giải quyết chênh lệch vùng thông qua chính sách đô thị hoá và phát triển nông thôn hài hoà; Các nước Đông Nam Á thực hiện chính sách phát triển nông thôn và kết quả là không những đạt được thành tựu tăng trưởng nhanh và bền vững trong khoảng 30 năm qua, mà còn giảm tỷ lệ hộ nghèo đói Từ thực tiễn nghiên cứu các hình thức TCLTKT của đất nước, tác giả đã tham khảo những lí thuyết trên để phân tích, đánh giá thực trạng TCLTKT theo ngành và theo không gian cho một lãnh thổ cụ thể

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đã có nhiều các công trình khoa học, đề tài luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu liên quan đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Tuy nhiên, những nghiên cứu chỉ đề cập đến một số khía cánh khác nhau của TCLT, cụ thể có:

Atlát Việt Nam” do GS Vũ Tự Lập và Christian Tailard chủ biên, công

trình hợp tác khoa học giữa trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia với

Trang 14

Tổng cục Thống kê Việt Nam và cơ quan GIP RECLUS (Pháp) xuất bản năm

1994 đã đưa ra một mô hình không gian của Việt Nam; “Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam” đề tài độc lập và trọng điểm cấp nhà nước do Viện

nghiên cứu dự báo chiến lược khoa học và công nghệ chủ trì, GS Lê Bá Thảo

làm chủ nhiệm đã hoàn thành vào tháng 4 năm 1996; Công trình nghiên cứu “Đô

thị Việt Nam” của GS Đàm Trung Phường (1995) dành 1 chương cho việc phân

tích chiến lược đô thị hoá của nước ta đến năm 2020, tập trung nghiên cứu phân vùng đô thị, bộ khung quốc gia và tổ chức không gian đô thị ở các vùng lãnh thổ

đặc trưng; Đề tài độc lập và trọng điểm cấp nhà nước “Tổ chức lãnh thổ đồng

b ằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm” do Viện kế hoạch dài hạn và phân bố

lực lượng sản xuất (nay là viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư) thực hiện Cùng với các quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội cho vùng, tỉnh và thành phố Ngoài ra, còn phải kể đến các luận án tiến sĩ liên quan đến một số lĩnh vực về tổ chức lãnh thổ và phân vùng kinh tế của một thế hệ đã được bảo vệ thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào thập niên 60 – 70 trước đây như: Đặng Văn Phan, Nguyễn Văn Thuận, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ… Cho đến thập niên 90 trở lại đây là các luận án tiến sĩ được bảo vệ thành công ở trong

nước như: Lê Thu Hoa (2003), Mối quan hệ giữa phát triển có trọng điểm và phát triển toàn diện các vùng lãnh thổ nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội; Vũ Tiến Lương (1993), Tổ chức lãnh thổ công nghiệp chế biến Nông – Lâm – Thuỷ sản vùng Đông Nam Bộ, Luận án phó tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội; Hoàng Ngọc Phong (1994), Tổ chức lãnh thổ sản xuất công nghiệp vùng Tây Nguyên, Luận án phó tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội; Trần

Văn Thông (1993), Những định hướng chủ yếu của tổ chức không gian kinh tế vùng Nam Bộ trong quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường, Luận án

phó tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội; Phạm Xuân Hậu (1993),

Nghiên cứu việc kết hợp giữa trồng và chế biến mía ở các tỉnh ĐBSCL, Luận án phó tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội; Trịnh Thanh Sơn (2004), Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến sắn ở các tỉnh Đông Nam Bộ, Luận án tiến sĩ, Trường ĐHSP

Hà Nội; Trương Phước Minh (2002), Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam - Đà

Trang 15

Nẵng, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Phạm Lê Thảo (2006),

Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Hòa Bình, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội Gần đây nhất có các luận án mới được bảo vệ thành công như:

Ngô Thúy Quỳnh (2009), Tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội Hoàng Quý Châu

(2011), Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bình Định, Luận án tiến sĩ, Trường ĐHSP

Hà Nội

Cùng với nhiều sách chuyên khảo viết về vấn đề tổ chức lãnh thổ theo ngành kinh tế của các nhà khoa học trong nước, đây là những tài liệu quí và cần thiết phục vụ mục đích nghiên cứu của luận án

Những nghiên cứu tại tỉnh Đồng Nai

Cho tới nay, các công trình nghiên cứu của tỉnh chủ yếu đi sâu nghiên cứu những nội dung mang tính chuyên ngành, gắn với thực tiễn sản xuất và khai thác tài nguyên, cũng như các đề tài liên quan đến giải pháp nhằm bảo vệ môi trường… Đặc biệt công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương được xem như công việc quan trọng đối với các nhà quản lí và thường xuyên được tiến hành điều chỉnh, rà soát, bổ sung điều chỉnh đối với từng ngành, từng lĩnh vực [29], [30], [31], [32]… Nội dung của các đề án, các quy hoạch của tỉnh Đồng Nai, dù là ngành hay lãnh thổ đều xây dựng phương án phát triển cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu lãnh thổ nhằm giải quyết mối quan hệ liên ngành và lãnh thổ của địa phương

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề tổ chức lãnh thổ thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhưng cho đến nay tỉnh Đồng Nai vẫn chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu những hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm thực hiện nhiệm vụ giải quyết một cách hoàn chỉnh, có hệ thống các vấn đề về tổ chức lãnh thổ kinh tế của tỉnh Đây là vấn đề đặt ra mà tác giả quan tâm nghiên cứu dưới góc độ của khoa học Địa lí

Trang 16

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu

Làm sáng tỏ những vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ

kinh tế trong thời kỳ đổi mới và hội nhập để vận dụng vào nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai; Phân tích, đánh giá những yếu

tố ảnh hưởng đến một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai; Nghiên cứu và đánh giá thực trạng phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế, từ đó xây dựng định hướng và giải pháp phát triển đối với một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế của tỉnh đến năm 2020

3 2 Nhiệm vụ

- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế trong bối cảnh hiện nay, nhằm vận dụng vào địa bàn nghiên cứu là tỉnh Đồng Nai

- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá đối với một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế và áp dụng vào địa phương nghiên cứu

- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng và thực trạng của một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế, tìm ra các hạn chế, những vấn đề có tính quy luật để lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh Đồng Nai phù hợp và đem lại hiệu quả

- Đánh giá thực trạng phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai trên cơ sở các tiêu chí đã xây dựng

- Đề xuất định hướng tổ chức lãnh thổ kinh tế cho phù hợp với thực trạng phát triển của một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế của tỉnh Đồng Nai Đồng thời, cung cấp thêm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển và các giải pháp đảm bảo tổ chức lãnh thổ kinh tế của tỉnh sao cho có hiệu quả hơn

- Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các địa phương khác và phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh

Trang 17

- Về nội dụng: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn, phân tích đánh giá một số hình thức TCLTKT theo ngành và theo lãnh thổ của tỉnh Đồng Nai như sau:

* Một số hình thức tổ chức lãnh thổ theo ngành kinh tế:

+ Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: nông hộ, trang trại, vùng chuyên canh Về phương diện ngành đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích ngành nông nghiệp theo nghĩa hẹp

+ Tổ chức lãnh thổ công nghiệp: khu công nghiệp, cụm công nghiệp và trung tâm công nghiệp

+ Tổ chức lãnh thổ ngành dịch vụ: tập trung nghiên cứu về một số hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch: điểm du lịch và tuyến du lịch

* Một số hình thức TCLTKT theo lãnh thổ: đô thị, hành lang kinh tế quốc

lộ 51 và tiểu vùng kinh tế

Việc phân tích, đánh giá các hình thức tổ chức lãnh thổ của tỉnh Đồng Nai chủ yếu là định tính Luận án không đi sâu phân tích các vấn đề thuộc về nghiên cứu chiến lược hoặc quy hoạch phát triển Trong quá trình nghiên cứu tác giả vẫn đặt các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế trong mối quan hệ với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương

Trang 18

5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5 1 Các quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Hệ thống lãnh thổ kinh tế được tạo thành bởi nhiều yếu tố: tự nhiên, văn hoá, lịch sử Các yếu tố tự nhiên của tỉnh Đồng Nai khá đa dạng; Các yếu tố văn hoá lịch sử khá độc đáo, mang đặc trưng riêng Tất cả những yếu tố kể trên luôn luôn được xem xét, phân tích đánh giá trong mối quan hệ tổng thể ở lãnh thổ nghiên cứu

5.1 2 Quan điểm hệ thống

Tỉnh Đồng Nai được xem là bộ phận quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là cầu nối giữa TP Hồ Chí Minh với các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ Vì thế, giữa Đồng Nai với vùng có mối quan hệ hữu

cơ với nhau Quan điểm hệ thống cho phép phân tích, tổng hợp và xác định các quan hệ trong việc sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế của địa phương gắn với các lãnh thổ lân cận

5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh

Vận dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu, nhằm tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, các quá trình phát triển theo thời gian và không gian trên từng lãnh thổ

cụ thể, trên cơ sở đó hiểu rõ những sự kiện có thật trong lịch sử để rút ra những bài học kinh nghiệm áp dụng cho các hoạt động kinh tế theo lãnh thổ Quán triệt quan điểm lịch sử - viễn cảnh để có những nhận định, đánh giá ít sai lệnh nhất và phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước Đồng thời, được vận dụng vào phân tích đánh giá đặc điểm, hiện trạng sử dụng lãnh thổ cũng như trong đề xuất định hướng sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ với những giải pháp có tính khả thi Tất cả những giải pháp đưa ra đều được xuất phát từ thực tiễn phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế của tỉnh Đồng Nai

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm này được vận dụng xuyên suốt nội dung nghiên cứu của luận

án Bởi các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt

Trang 19

là nguồn khoáng sản phục vụ cho nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu không phải là hữu hạn, thậm chí cả nguồn tài nguyên đất, nước phục vụ cho phát triển nông nghiệp cũng đang trong tình trạng ngày càng

bị thu hẹp và ô nhiễm Do đó để đảm bảo cho nhu cầu phát triển kinh tế cả hiện tại và tương lai đều phải quán triệt quan điểm phát triển bền vững

5 2 Các phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu, số liệu thống kê

Đây là phương pháp quan trọng và xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận án Những thông tin, các nguồn tài liệu, tư liệu cho phép chúng ta hiểu biết những thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực này Việc phân loại và tổng hợp các vấn

đề liên quan đến nội dung nghiên cứu sẽ dễ dàng phát hiện những trọng tâm cũng như những vấn đề còn đang bỏ ngỏ Việc tổng hợp những thông tin phong phú sẽ giúp cho việc nhận định vấn đề toàn diện, khái quát về nội dung nghiên cứu Đặc biệt, công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh, việc khai thác có chọn lọc các nguồn tài liệu quan trọng qua mạng Internet, sau đó đối chứng với những báo cáo của các cơ quan chức năng ở địa phương sẽ là nguồn tư liệu quý

hỗ trợ cho việc tổng hợp đầy đủ hơn các vấn đề cần nghiên cứu

5.2.2 P hương pháp khảo sát thực địa

Ở ngoài thực địa tôi đã tiến hành khảo sát ở nhiều điểm du lịch, các trang trại nông nghiệp, các khu công nghiệp và một số vùng trồng cây công nghiệp lâu năm của địa phương… Tất cả những nơi khảo sát đều được ghi chép đầy đủ thông tin về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và thực trạng phát triển

để có thể đánh giá cụ thể bằng điểm số Tại các điểm khảo sát đó đều có tham khảo ý kiến các chuyên gia, nhà quản lí và nhân dân địa phương Các ý kiến đó

sẽ được chọn lọc, phân tích, đánh giá và rút ra những nhận định sát với thực tiễn

5.2.3 Phương pháp xử lí và phân tích tài liệu, số liệu

Nghiên cứu hoạt động kinh tế của tỉnh có nhiều số liệu ở các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và du lịch Các số liệu được sử dụng trong luận án chủ yếu

từ niên giám thống kê tỉnh, Sở Văn hóa thể thao và Du lịch, Sở Công thương, Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn…, Ban quản

Trang 20

lí các KCN tỉnh Đồng Nai, Chi cục thống kê TP Biên Hòa, các huyện và thị xã Long Khánh Trên cơ sở nguồn số liệu đó được tiến hành xử lí, phân tích theo các nội dung nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu gắn với thực tiễn khách quan sẽ

là những căn cứ để rút r những nhận định, đánh giá có cơ sở khoa học

5.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và ứng dụng công nghệ GIS

Trình bày thông tin tư liệu kinh tế trên bản đồ và biểu đồ là việc làm cần thiết và không thể thiếu trong trình bày nội dung luận án Để xây dựng được bản

đồ, đề tài đã kế thừa có chọn lọc: Tập Atlat tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai; Tập bản đồ hành chính Việt Nam, các bản đồ chuyên đề trong Atlat Việt Nam Phương pháp này được trợ giúp bởi hệ thống thông tin địa lí (GIS)

5.2.5 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án, tác giả đã trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia kinh tế, nhà khoa học, nhà quản lý ở trong và ngoài tỉnh Đồng Nai Những nội dung trao đổi và góp ý của các chuyên gia tạo điều kiện cho tác giả thấu hiểu hơn những vấn đề liên quan đến đề tài, cũng như đánh giá đúng hướng vấn đề nghiên cứu

5.2.6 Phương pháp thang điểm tổng hợp

Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp thang điểm tổng hợp Mỗi hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế được lựa chọn trong đề tài đều có tiêu chí đánh giá Mỗi tiêu chí có thang điểm đánh giá khác nhau Việc xây dựng thang điểm đánh giá bao gồm chọn tiêu chí đánh giá, xác định các trọng số cho từng tiêu chí để tính điểm

- Xác định điểm của mỗi bậc và chọn hệ số của các tiêu chí đánh giá

Đánh giá bằng cách tính điểm thì việc xác định điểm số cho mỗi bậc là rất quan trọng Trong thang đánh giá, số điểm mỗi bậc của các yếu tố đều bằng nhau Điểm mỗi bậc được tính từ cao xuống thấp, mỗi bậc của từng tiêu chí được lựa chọn điểm số theo thang bậc 4,3,2,1

- Chọn các tiêu chí đánh giá

Trang 21

Trong mỗi hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế có các tiêu chí đánh giá khác nhau Dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn phải lựa chọn tiêu chí đánh giá như

thế nào để đảm bảo tính phân loại của từng hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế

- Xác định bậc của từng tiêu chí đánh giá

Mỗi tiêu chí đánh giá theo từng bậc, từ cao xuống thấp, nhiều đến ít, tốt đến xấu… ứng với các mức độ thuận lợi khác nhau Luận án sử dụng 4 bậc từ cao xuống thấp để chỉ mức độ thuận lợi (rất thuận lợi, khá thuận lợi, thuận lợi trung bình và không thuận lợi)

- Xác định hệ số cho mỗi bậc tiêu chí

Việc xác định các tiêu chí cụ thể ứng với mỗi bậc là rất quan trọng Khi xây dựng có sự định lượng cụ thể để phân loại tiêu chí Trong thực tế, các tiêu chí được lựa chọn để đánh giá có tính chất, mức độ và giá trị không đồng đều Vì thế, cần xác định hệ số cho các tiêu chí Hệ số được lựa chọn là 3,2,1

Khi lựa chọn được các tiêu chí đánh giá, xác định thang điểm và hệ số sau

đó tiến hành đánh giá Điểm đánh giá bao gồm điểm đánh giá riêng của từng yếu

tố và điểm tổng hợp Điểm đánh giá riêng là điểm của các bậc nhân với hệ số của mỗi yếu tố đó Như vậy, tiêu chí đánh giá riêng cao nhất có bậc 4 và hệ số cao nhất là 3 Điểm đánh giá sẽ là 4x3=12 Điểm đánh giá riêng thấp nhất và có

hệ số thấp nhất là 1x1=1 Điểm đánh giá tổng hợp là tổng số điểm đánh giá của các yếu tố đó Căn cứ vào số điểm tối đa mà thang điểm đã xác định và kết quả đánh giá cụ thể của mỗi đối tượng để đánh giá và xếp loại đối tượng đó

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

 Tổng hợp và làm sáng tỏ về cơ cở lí luận và thực tiễn đối với việc tổ chức lãnh thổ kinh tế trong điều kiện của Việt Nam từ đó vận dụng và nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh

 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cho một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế như: trang trại; khu công nghiệp; điểm du lịch

 Phân tích, đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai

 Phân tích, đánh giá thực trạng một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh

tế tỉnh Đồng Nai trên cơ sở hệ thống tiêu chí đánh giá

Trang 22

 Đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo cho một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai phát triển bền vững

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục luận án gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế

Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng thực hiện một số hình thức

tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đồng Nai đến năm 2020

Trang 23

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ

Tổ chức lãnh thổ (territorial organistation) được sử dụng ở các nước phương Tây từ cuối thế kỷ XIX, nhưng phát triển cả về mặt lí luận và ứng dụng thực tiễn thì phải kể tới từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi đó các nước châu

Âu phải tiến hành tái thiết lại lãnh thổ của họ [38] Ở Liên Xô (cũ) tổ chức lãnh thổ được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của địa lí, được nêu ra lần đầu tiên vào năm 1961 với công lao lớn nhất thuộc về Yu.G.Xauskin Ông cho rằng: “lĩnh vực thực tiễn trực tiếp để tập trung nỗ lực của các nhà địa lí Xô Viết và tổ chức lãnh thổ lực lượng sản xuất bao gồm cả các sơ đồ lãnh thổ và các dự án cải tạo,

sử dụng điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên” Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ sản xuất được đưa vào trong các nghiên cứu của A.E.Probxt và M.G.Skolnikov vào giữa thập kỷ 60

Khi nói đến tổ chức lãnh thổ (tổ chức không gian), không thể nói không gian hay lãnh thổ trừu tượng mà nói tới lãnh thổ (không gian) kinh tế xã hội của một nước, một vùng cụ thể gắn với một hình thái kinh tế xã hội nhất định [38]

Có rất nhiều quan điểm về tổ chức lãnh thổ (tổ chức không gian), nhưng chúng ta

có thể chia ra một cách tương đối thành 2 trường phái: theo quan điểm của các nhà địa lí Xô Viết và quan điểm của các nhà địa lí phương Tây

Theo q uan điểm của các nhà địa lí Xô Viết: Tổ chức lãnh thổ theo nghĩa

rộng của nó bao gồm các vấn đề liên quan đến phân công lao động theo lãnh thổ, phân bố các lực lượng sản xuất, sự khác biệt về vùng trong quan hệ sản xuất, mối quan hệ tương hỗ giữa xã hội và tự nhiên cũng như các vấn đề về chính sách vùng kinh tế - xã hội Ở một phạm vi hẹp hơn, nó bao gồm các phạm trù như tổ chức lãnh thổ hành chính của nhà nước, quản lí vùng về sản xuất, sự phân vùng kinh tế xã hội…

Trang 24

Nói tóm lại, tổ chức lãnh thổ theo quan điểm của các nhà địa lí Xô Viết chính là sự kết hợp cơ cấu lãnh thổ đang hoạt động (bố trí sắp xếp dân cư, sản xuất, sử dụng tài nguyên thiên nhiên), được liên kết lại bởi cơ cấu quản lí với mục đích tái sản xuất cuộc sống xã hội, trên cơ sở các quy luật kinh tế trong hình thái kinh tế xã hội nhất định

Quan điểm của các nhà địa lí phương Tây theo hướng kinh tế thị trường

lại sử dụng phổ biến thuật ngữ “tổ chức không gian” kinh tế Họ cho rằng, tổ chức không gian ra đời từ cuối thế kỉ XIX và trở thành một khoa học về lãnh thổ

Tổ chức không gian kinh tế được xem như là việc lựa chọn các phương án sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa lãnh thổ, tìm ra quan hệ tỷ lệ hợp lí và mối liên hệ chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế giữa các ngành, giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng lớn hơn, cũng như mối liên hệ giữa các

vùng trong phạm vi quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau Nhờ có sự sắp xếp một cách trật tự và hài hòa giữa các đối tượng trong lãnh thổ mà tạo ra giá trị mới lớn hơn, làm cho lãnh thổ phát triển hài hòa và bền vững hơn

Đối với các nhà khoa học phương Tây, tác giả cho rằng họ coi tổ chức không gian kinh tế như là sự lựa chọn cách thức tổ chức tốt nhất các hoạt động kinh tế của con người gắn với các các điều kiện tự nhiên, xã hội ở một lãnh thổ xác định phù hợp với yêu cầu về tính liên tục của tự nhiên cũng như cho phép về tính gián đoạn của các quá trình kinh tế Đồng thời, tổ chức không gian kinh tế là nội dung cụ thể của một chính sách phát triển kinh tế theo lãnh thổ dài hạn, nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững và đảm bảo các yêu cầu về quan hệ với các lãnh thổ khác Tổ chức không gian kinh tế xem như là một trong những hành động hướng tới sự cân bằng về mặt không gian, tối ưu hóa các mối quan hệ hữu

cơ giữa vùng trung tâm với các khu vực ngoại vi, giữa các cực với nhau và giữa các cực với các không gian còn lại, nhằm làm cho toàn bộ lãnh thổ phát triển bền vững Trong đó, có cả việc tạo ra việc làm mới, góp phần đảm bảo quan hệ cung

- cầu hàng hóa và dịch vụ cho bản thân lãnh thổ cũng như cho các vùng khác

Ở Việt Nam, theo PGS.TS Đặng Văn Phan việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ đã có từ khi các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu vấn đề phân vùng, quy

Trang 25

hoạch, phân bố lực lượng sản xuất Còn về khía cạnh nếu coi tổ chức hành chính

là một nội dung của tổ chức lãnh thổ thì từ khi lập nước: cứ mỗi lần thay đổi triều đại, thì mỗi lần lại thay đổi cương vực hoặc tên gọi của các khu vực hành chính Điều thực tế là từ ngàn xưa, các dân tộc sống trên lãnh thổ của từng quốc gia đã luôn luôn “tổ chức” lãnh thổ của mình (dù tự giác hay tự phát) nhằm đảm bảo sự tồn tại và hưng thịnh của quốc gia Đúng như tác giả Jean Pean Paul De Gaudemar (1920) đã viết: “Tổ chức lãnh thổ được hiểu là nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả”

Như vậy, theo tác giả: tổ chức lãnh thổ là một phạm trù kinh tế xã hội và môi trường Đó là việc phối kết hợp có tổ chức sản xuất kinh tế cùng với các hoạt động của dân cư trong một lãnh thổ xác định dựa trên những căn cứ khoa học

1.1.2 Quan niệm và nguyên tắc của tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.2.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội

Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội là sự sắp xếp và phân phối các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng, nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí, kinh tế, chính trị, cơ sở vật chất kỹ thuật đã

và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của của một lãnh thổ [38]

Như vậy khái niệm tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội cần hiểu rõ một số điểm sau:

+ Tổ chức: đây là việc do con người, vì con người do đó nó mang tính chủ quan Vì thế khi tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội phải có được đầy đủ thông tin cần thiết, nhất là các thông tin về điều kiện cơ bản của lãnh thổ Không thể tổ chức không gian trong điều kiện không hiểu rõ lãnh thổ nghiên cứu, không được tiến hành tổ chức không gian khi chưa biết gì hoặc biết rất ít về lãnh thổ ấy + Việc tổ chức được tiến hành trên một lãnh thổ xác định theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với quan điểm dài hạn Đã nói đến tầm nhìn dài hạn thì đòi hỏi phải có những dự báo thật tốt bao gồm cả dự báo về phát triển và dự báo về biến động của bản thân lãnh thổ cũng như dự báo về các kiểu kiến thiết có thể áp

Trang 26

dụng tại lãnh thổ nghiên cứu Tổ chức lãnh thổ sẽ phải có nhiều phương án, trong

đó có phương án tốt nhất được lựa chọn Tổ chức lãnh thổ phải nhìn xa trông rộng và đặt lãnh thổ nghiên cứu trong mối quan hệ mật thiết với các lãnh thổ khác

+ Chủ thể của tổ chức lãnh thổ cũng là chủ thể quản lý phát triển lãnh thổ

Đó là những cơ quan nhà nước được quy định trong hiến pháp và luật pháp hiện hành Bên cạnh những cơ quan nhà nước còn có các cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên về tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội như các viện nghiên cứu quy hoạch…

1.1.2.2 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tổ chức lãnh thổ kinh tế là việc tổ chức các hoạt động kinh tế theo lãnh thổ Các hoạt động kinh tế bao gồm hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội (sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, sản xuất công nghiệp) và hoạt động dịch

vụ Chủ thể của hoạt động kinh tế là con người hay các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân; đối tượng của các hoạt động kinh tế là sản xuất kinh doanh để tạo ra các sản phẩm cho xã hội, kể cả các hoạt động làm thay đổi giá trị của sản phẩm

và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con người [38], [93]

Từ những quan niệm trên có thể hiểu tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp

và phân phối các đối tượng địa lí trong mối liên hệ ngành và vùng nhằm sử dụng hợp lí các điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí và các điều kiện dân cư - xã hội, cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của lãnh thổ

Tổ chức lãnh thổ kinh tế vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Tính khách quan được thể hiện ở chỗ nó chịu sự chi phối bởi các quy luật vận động của các hoạt động kinh tế cũng như sự chi phối bởi các quy luật xã hội

và quy luật tự nhiên Tính chủ quan của tổ chức lãnh thổ kinh tế được hiểu là do con người quyết định Tuy nhiên, những quyết định do con người đưa ra phải được xây dựng trên cơ sở khoa học, theo tư duy triết học Thông qua nhận biết quy luật vận động và phát triển của các hoạt động kinh tế theo không gian và thời gian nhất định, con người hình thành phương án tổ chức lãnh thổ kinh tế Từ đó cân nhắc lựa chọn phương án tối ưu nhất, trên cơ sở hội tụ những điều kiện phát

Trang 27

triển theo lãnh thổ nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường cao nhất

1.1.2.3 Nguyên tắc chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tổ chức lãnh thổ kinh tế cần đảm bảo 4 nguyên tắc [41], [93]:

- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải có tính linh hoạt

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các yếu tố sản xuất có sự biến động đáng kể: sự quan tâm của các nhà đầu tư dễ thay đổi; nhu cầu của thị trường có nhiều biến động; sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học công nghệ… làm cho các nhà tổ chức lãnh thổ kinh tế phải xây dựng một số phương án ngành nghề cho phù hợp với những biến động của thị trường

- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải đảm bảo sự hài hòa, tương tác, hỗ trợ cùng phát triển

Sự phát triển hài hòa đó là: phát triển ngành này phải tính tới những điều kiện để phát triển các ngành khác và đảm bảo cho từng ngành cùng với các ngành khác tồn tại và phát triển bền vững Nghĩa là sự phát triển của lãnh thổ này không làm tổn thương đến sự phát triển của các lãnh thổ xung quanh

Tương tác là sự kết hợp, quan hệ và trao đổi lẫn nhau giữa ngành và lĩnh vực này với ngành và lĩnh vực khác hoặc giữa các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế trong cùng một lãnh thổ

Giữa các hình thức tổ chức lãnh thổ có sự hỗ trợ lẫn nhau ở cùng một lãnh thổ hoặc giữa các lãnh thổ xung quanh nó với nhau

Do vậy, tổ chức lãnh thổ kinh tế cần cả 3 yếu tố (hài hòa, tương tác, hỗ trợ), luôn được các nhà quản lí – tổ chức coi trọng và coi đây là một nguyên tắc không thể thiếu

- Lựa chọn hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phải đảm bảo phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ

Trang 28

Trình độ nhân lực và khoa học công nghệ có ý nghĩa tiền đề quan trọng đối với việc lựa chọn hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế Nguồn lao động có kỹ năng nghề nghiệp và đội ngũ cán bộ quản lí giỏi là tiền đề quan trọng để phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế Ở một số quốc gia trên thế giới, trong một số trường hợp khi tiến hành xây dựng các phương án tổ chức lãnh thổ kinh tế, nếu thiếu chuyên gia về lĩnh vực này họ phải thuê các chuyên gia nước ngoài để thực hiện Đó cũng là một trong những cách đi tắt đón đầu của tổ chức kinh tế theo lãnh thổ Kế thừa những thành tựu của nhân loại nhằm phát triển kinh tế, tránh rủi ro do năng lực hạn chế

- Phải kiến thiết cho được những hạt nhân của vùng

Hạt nhân của vùng bao gồm trung tâm đô thị, thành phố…để tạo nền văn minh ở trình độ cao hơn trong tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội mà những hạt nhân được tiến hành tổ chức theo dạng chuỗi, chùm hay rẻ quạt Trên thực tế ở nước ta, do muốn mở rộng quy

mô đô thị, nhưng không tuân theo quy luật phát triển đô thị mà chỉ bằng những quyết định hành chính nhằm chuyển vùng nông thôn thành đô thị và nông dân trở thành thị dân, những để lại không ít hậu quả cả về kinh tế lẫn xã hội, đã dẫn tới nông thôn hóa thành thị chứ không phải thành thị hóa nông thôn như mong đợi

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.3.1 Nhóm các yếu tố bên trong lãnh thổ nghiên cứu

a) Vị trí địa lí

Vị trí địa lí được coi là một trong những yếu tố cơ bản, ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Vị trí địa lí được nghiên cứu ở đây không chỉ đơn thuần có

vị trí tự nhiên mà còn phải kể tới vị trí về kinh tế và chính trị Sự phân bố và phát

triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phụ thuộc nhiều vào vị trí địa lí Hơn nữa, vị trí địa lí thuận lợi hay không thuận lợi ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ kinh tế, đó chính là việc bố trí không gian của các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế theo ngành và theo lãnh thổ Vị trí địa lí càng thuận lợi bao nhiêu (sự thuận lợi mà chúng tôi muốn nói tới ở đây chính là nơi có cơ sở hạ tầng tốt, thuận lợi trong việc giao lưu cả về đường bộ, đường hàng không, đường biển

Trang 29

Nơi có cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho việc phát triển các ngành kinh tế, có nguồn nước đảm bảo cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt ), thì mức độ tập trung các ngành kinh tế càng cao và tương ứng với nó là sự xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế càng phức tạp Ngược lại, những nơi có vị trí địa lí không thuận lợi cho việc phát triển kinh tế như: miền núi (nơi có địa hình hiểm trở, giao thông liên lạc khó khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn) thì chắc chắn là sẽ gây khó khăn, trở ngại cho việc khai thác lãnh thổ cũng như là việc kêu gọi đầu

Tuy nhiên, sự thuận lợi hay không thuận lợi về vị trí địa lí còn là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự phân hoá theo lãnh thổ của các ngành kinh

tế, đặc biệt là công nghiệp Nghĩa là việc bố trí các cơ sở công nghiệp không hợp

lí trong một lãnh thổ gây nên tình trạng quá tải ở một số khu công nghiệp, để lại hậu quả không tốt cho đời sống của con người và vấn đề ô nhiễm môi trường Phần lớn các nhà khoa học đều thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của vị trí địa lí đối với sự phát triển kinh tế của lãnh thổ, nó được coi như một yếu tố quan trọng hàng đầu đối với vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tế, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay; trong việc lựa chọn địa bàn phát triển của các lãnh thổ trọng điểm, các cực phát triển và cực tăng trưởng nhằm chấn hưng nền kinh tế đất nước

b) Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Yếu tố tự nhiên thực chất là tài nguyên thiên nhiên [88] Nói một cách đơn giản đó là các yếu tố của tự nhiên có khả năng được khai thác nhằm thỏa mãn các nhu cầu của xã hội loài người Về nguyên tắc, số lượng và quy mô tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển sản xuất Sức sản xuất càng phát triển thì phạm vi khai thác tài nguyên thiên nhiên càng mở rộng Các yếu tố của tự nhiên cũng ảnh hưởng đến năng suất cũng như giá sản phẩm hàng hóa dịch vụ

Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng để phát triển kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở cả hai phương diện: không gian và ngành kinh tế Tuy nhiên, vai trò của các yếu tố tự nhiên được đánh giá khác nhau đối với từng hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế về

Trang 30

mức độ quan trọng của chúng Vì thế, để khai thác tối đa các lợi thế về điều kiện

tự nhiên thì mỗi hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế lại lựa chọn ưu tiên từng loại tài nguyên thiên nhiên sao cho hợp lí nhất

Để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì cần đánh giá chính xác vai trò quan trọng của tài nguyên đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế Tuy nhiên, đây là công việc khá phức tạp, do đó chúng ta có thể đánh giá ở 2 mức độ

là thuận lợi hay không thuận lợi về các phương diện sau [88]:

- Đánh giá về mặt số lượng, chất lượng

- Đánh giá về mặt kĩ thuật (áp dụng công nghệ khai thác trong hiện tại và tương lai)

- Đánh giá về mặt hiệu quả kinh tế

Những đặc trưng về tài nguyên đất, nước và điều kiện khí hậu… quy định những đặc điểm tự nhiên cơ bản của lãnh thổ Mỗi lãnh thổ có một số tài nguyên thiên nhiên Chúng là cơ sở ban đầu để hình thành cơ cấu lãnh thổ Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay, khi tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế, chúng ta không nên quá lệ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại và sự hợp tác trên quy mô toàn cầu sẽ có khả năng khắc phục những hạn chế này Vì tài nguyên thiên nhiên thực chất không phải là vô tận, do đó bên cạnh việc khai thác tiết kiệm còn phải khai thác hợp lí đi đôi với cải tạo và bảo vệ nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững

Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên không thể tự nó trở thành yếu tố vật chất tiền đề của sự phát triển Chỉ khi nguồn tài nguyên được tác động bởi con người với những tiến bộ của khoa học công nghệ thì nó mới trở nên có giá trị sử dụng

và là tiền đề của tổ chức lãnh thổ kinh tế Nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ

mà các yếu tố vật chất của đầu vào không còn hoàn toàn là tài nguyên tự nhiên

mà còn bao gồm cả kết quả sáng tạo của con người, điều đó có nghĩa là con người đã giảm đi sự phụ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên tự nhiên Đây là điểm quan trọng mà ngày nay các nhà hoạch định chính sách rất coi trọng

c) Các yếu tố kinh tế - xã hội

- Dân cư, nguồn lao động cùng các giá trị văn hóa

Trang 31

Con người cùng các giá trị văn hóa của mình đã trở thành nguồn tài nguyên đặc biệt quý giá, do vậy phải được nghiên cứu sâu, toàn diện và sát thực

tế trong quá trình tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tổ chức lãnh thổ kinh tế phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn nhân lực với tư cách vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu thụ Quy mô dân số và nguồn lao động

là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Do vậy, có những trường hợp lãnh thổ có quy mô dân số nhỏ, mật độ dân số thấp thì việc mở rộng quy mô sản xuất sẽ gặp khó khăn, do thiếu nguồn nhân lực và thị trường tiêu thụ tại chỗ

Tố chất của dân cư ảnh hưởng mạnh mẽ dến sự phát triển các ngành nghề của lãnh thổ Tố chất của dân cư được thể hiện ở các mặt: thể trạng, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và kỉ luật lao động Trong điều kiện như nhau nếu nơi nào mà người lao động có tố chất tốt hơn thì hiệu quả lao động sẽ cao hơn

Trong quá trình tổ chức lãnh thổ kinh tế, thói quen di chuyển của dân cư cũng ảnh hưởng đến việc bố trí các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế Cần xác định rõ đặc điểm dân cư về phương diện di chuyển Nếu dân cư có thói quen di chuyển thì phải xem đặc điểm di chuyển như thế nào, khả năng có lợi cũng như

có hại đối với việc quyết định phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế

Phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế cần tổ chức dịch vụ thương mại và dịch vụ cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu không chỉ của người lao động để

họ yên tâm sản xuất mà còn đáp ứng nhu cầu của cư dân xung quanh

Đặc điểm văn hóa của dân cư ảnh hưởng tới nhu cầu và cơ cấu sản phẩm,

do đó vấn đề am hiểu văn hóa trong kinh doanh được xem như là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành bại của mỗi hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế

Chất lượng của nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đến phương hướng phát triển cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng cũng như quyết định đến nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế

- Các trung tâm kinh tế và mạng lưới đô thị:

Các trung tâm kinh tế và mạng lưới đô thị luôn tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh

Trang 32

tế Nơi đây thường hội tụ những thế mạnh về kết cấu hạ tầng (giao thông, nước, điện…), có nguồn lao động với chất lượng cao và thị trường tiêu thụ rộng lớn Các đô thị ngoài chức năng phi nông nghiệp nó còn là thị trường khuyến khích

sự phát triển của nền sản xuất xã hội

- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật:

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kỹ thuật có giá trị nhất định đối với việc tổ chức lãnh thổ kinh tế Nó có thể là tiền đề thuận lợi hay cản trở sự phát triển của các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế Toàn bộ mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới cung cấp điện, nước, cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và nhu cầu của con người, ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế Hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật là yếu tố động, chúng tác động trực tiếp đến bộ mặt của lãnh thổ, nhưng cũng thể hiện tính bảo thủ khó thay đổi Do vậy cần coi trọng tính lịch sử của kết cấu hạ tầng trong lãnh thổ kinh tế cũng như việc hoàn thiện và chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ kinh tế

- Thị trường bên trong lãnh thổ nghiên cứu:

Thị trường bên trong lãnh thổ nghiên cứu có ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tế Nó là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản

xuất, góp phần tạo nên sự phân hoá lãnh thổ theo ngành và theo không gian

- Môi trường chính sách:

Môi trường chính sách gắn với sự quản lí của nhà nước, vì chính sách là công cụ quản lí quan trọng của nhà nước Song, tác giả muốn tách ra để trình bày cho dễ và cũng muốn nhấn mạnh vấn đề chính sách của địa phương Môi trường chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của việc phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế của địa phương

- Yếu tố khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ không chỉ là kết quả do con người sáng tạo ra mà còn

là phương tiện để con người cải biến thế giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình

Trang 33

Thành tựu khoa học công nghệ góp phần giảm thiểu sự phụ thuộc của con người vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, góp phần đa dạng hóa cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ

1.1.3.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài lãnh thổ nghiên cứu

Đây là nhóm yếu tố tác động mạnh đến tổ chức lãnh thổ kinh tế trong cơ chế thị trường cũng như trong điều kiện tự do hóa nền kinh tế

a) Chủ trương đường lối phát triển kinh tế của nhà nước

Chủ trương đường lối chính sách phát triển kinh tế -xã hội của đất nước bao gồm chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch phát triển vùng, ngành

và lĩnh vực của nhà nước Đây được coi là yếu tố gốc tạo ra các phản ứng lan tỏa, tác động đến sự phân bố các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh Nó tác động đến định hướng phát triển của các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế Khi nhà nước có chủ trương phát triển một hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế nào thì việc hình thành, phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ấy ở lãnh thổ nghiên cứu là căn cứ giúp cho các nhà đầu tư yên tâm hơn

b) Thị trường và các mối liên hệ kinh tế liên vùng

Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các vùng khác, những quan hệ về mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, đặc điểm của thị trường ở các vùng xung quanh cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế

c) Nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài

Vốn đầu từ của các nhà đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài thông qua các chính sách kinh tế của đất nước làm thay đổi quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của lãnh thổ nghiên cứu nói riêng và cả nước nói chung Trong điều kiện quy mô của nền kinh tế còn nhỏ bé, khả năng tích lũy có hạn thì việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài là rất quan trọng và cần thiết

d) Các hoạt động kinh tế, chính trị của khu vực và quốc tế

Quá trình liên kết chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia, giữa các tập đoàn kinh tế, cũng như các hiệp định thương mại, đầu tư song phương hoặc đa phương đều có tác động lớn đến các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế của địa phương nói riêng và phạm vi cả nước nói chung

Trang 34

Như vậy, chúng ta thấy cả nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài lãnh thổ đều rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của một số hình thức

tổ chức lãnh thổ kinh tế của địa phương nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy nhóm yếu tố bên trong (trong đó bao gồm cả chủ trương đường lối phát triển kinh tế của nhà nước nói chung) có vai trò quan trọng quyết định, còn nhóm yếu tố bên ngoài đóng vai trò quan trọng tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở địa phương nghiên cứu

Tuy nhiên, các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế là không đồng nhất theo không gian và thời gian, do đó có những yếu tố mang tính chất trội trong thời gian này và với lãnh thổ này nhưng lại giảm sút vai trò trong gian đoạn khác và lãnh thổ khác Do đó khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phải gắn với lãnh thổ cụ thể trong một giai đoạn nhất định

1.1.4 Một số hình thức cơ bản của tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.4.1 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế theo ngành

a) Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

TCLTNN được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các ngành, các

xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các qui trình kĩ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa và hợp tác hóa sản xuất, cho phép sử dụng hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về điều kiện tự nhiên, kinh tế, lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất [40] TCLTNN

có nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm:

+ Xí nghiệp nông nghiệp:

Là một hình thức TCLTNN, trong đó có sự thống nhất của lực lượng lao động với công cụ lao động và đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Mỗi cơ sở sản xuất đều có tính độc lập về pháp lí và có thể có mối quan hệ với các cơ sở sản xuất nông nghiệp khác

Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các nông trang, nông trường quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp được coi là xí nghiệp nông nghiệp Ở các nước phương Tây, có nhiều hình thức liên quan đến xí nghiệp nông nghiệp Phổ

Trang 35

biến hơn cả là các nông trại và đồn điền Hình thức nông trại thường thấy ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ với quy mô từ vài hecta đến vài trăm hecta Trong khi

đó hình thức đồn điền tồn tại tương đối phổ biến ở các nước thuộc địa cũ thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt [40]

+ Thể tổng hợp nông nghiệp:

Theo K.I.Ivanov thể tổng hợp nông nghiệp như là sự phối hợp của xí nghiệp nông nghiệp có mối quan hệ qua lại và liên kết với nhau về mặt lãnh thổ của các xí nghiệp nông nghiệp với các xí nghiệp công nghiệp trên cơ sở các qui trình kĩ thuật mới nhất, sử dụng đầy đủ nhất điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí và điều kiện kinh tế, hình thành trong lịch sử để đạt năng suất lao động cao nhất [40]

+ Vùng nông nghiệp

Vùng nông nghiệp được coi là một trong những hình thức TCLTNN Thực chất đó là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, được phân chia với mục đích phân bố hợp lí và chuyên môn hóa đúng hướng các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở sử dụng đầy đủ và hiệu quả các điều kiện sản xuất của cả nước và từng vùng

b) Một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

- Điểm công nghiệp:

Đây là hình thức TCLTCN đơn giản nhất Điểm công nghiệp là một lãnh thổ trên đó có một điểm dân cư với một hoặc hai xí nghiệp, được phân bố ở những nơi gần nguồn nguyên liệu, nhiên liệu với chức năng khai khác hay sơ chế nguyên liệu, hoặc ở những vùng nguyên liệu nông sản Như vậy điểm công nghiệp đồng nhất với điểm dân cư có xí nghiệp công nghiệp [62]

- Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập

Trang 36

- Khu công nghiệp: Là một khu vực có ranh giới rõ rệt, không có dân cư sinh sống, với những thế mạnh về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh tế để thu hút đầu tư KCN hoạt động với cơ cấu hợp lí giữa các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành phần kinh tế nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho cả khu và từng doanh nghiệp Các khu công nghiệp có ban quản lí thống nhất thực hiện phân cấp rõ ràng về quản lí và tổ chức sản xuất [64]

- Trung tâm công nghiệp: Là hình thức TCLTCN ở trình độ cao Trung tâm công nghiệp là một khu vực tập trung công nghiệp gắn liền với các đô thị vừa và lớn Mỗi trung tâm công nghiệp có thể gồm một hay một vài khu công nghiệp hoặc một nhóm xí nghiệp công nghiệp của nhiều ngành khác nhau trong đó có các xí nghiệp hạt nhân hay nòng cốt Hướng chuyên môn hóa của một trung tâm công nghiệp do những xí nghiệp nòng cốt quyết định Những xí nghiệp này được hình thành dựa trên những lợi thế về tài nguyên khoáng sản, năng lượng, nguyên liệu, nguồn lao động dồi dào, vị trí địa lí thuận lợi Những xí nghiệp phân bố trong trung tâm công nghiệp có các mối liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt kĩ thuật sản xuất, kinh tế và quy trình công nghệ Đi liền với những xí nghiệp nòng cốt, ở trung tâm công nghiệp thường có một loạt các xí nghiệp có ý nghĩa bổ trợ nhằm tiêu thụ sản phẩm, cung cấp nguyên liệu, sửa chữa máy móc, thiết bị, cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng cho nhu cầu của cư dân trong trung tâm [64]

- Vùng công nghiệp:

Mỗi một ngành công nghiệp thường được phân bố trên phạm vi lãnh thổ nhất định, với đầy đủ các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp Đó là vùng phân bố của ngành, thường gọi là vùng ngành Các vùng ngành thường gặp là vùng khai thác than, vùng khai thác dầu khí, vùng khai thác kim loại màu

Thực tế, trên một lãnh thổ nhất định có những điều kiện thuận lợi cho việc phân bố các xí nghiệp không chỉ của một ngành mà của một số ngành công nghiệp Do đó các vùng ngành chồng chéo lên nhau là thành phần của vùng công nghiệp tổng hợp, thường được gọi là vùng công nghiệp

Trang 37

c) Tổ chức lãnh thổ ngành dịch vụ

Dịch vụ là một lĩnh vực kinh tế rất đa dạng, bao gồm các ngành: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại Mỗi một phân ngành lại có những hình thức tổ chức lãnh thổ riêng Đối với giao thông vận tải là các đầu mối giao thông; đối với thương mại là hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị; đối với du lịch là cụm tương hỗ phát triển du lịch và vùng du lịch

+ Đầu mối giao thông vận tải: là nơi hội tụ giao nhau của các loại vận tải khác nhau: đường sắt, ô tô, cảng biển, cảng sông, sân bay Có đầu mối giao thông vận tải đơn giản và đầu mối giao thông vận tải tổng hợp Các đầu mối giao thông tổng hợp thường đóng vai trò then chốt trong hoạt động của mạng lưới vận tải cả nước Các đầu mối giao thông thường là nơi chung chuyển hàng hóa và hành khách, có giá trị giao thông vận tải rất lớn, nơi đó tập trung các cảng, biển, cảng sông, ga tàu, bến xe, sân bay có nhiều kho chứa, bến bãi và các thiết bị bốc dỡ và cũng là các thành phố công nghiệp lớn, nơi dân cư đông đúc, có điều kiện thuận lợi để phối hợp nhịp nhàng giữa các loại giao thông vận tải có hiệu quả kinh tế

+ Trung tâm thương mại: là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố chí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh;

có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng [5]

+ Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên ngành; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng [5]

Trang 38

+ TCLTDL là một hệ thống liên kết không gian của đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên

du lịch, kết cấu hạ tầng và các yếu tố khác nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế,

xã hội và môi trường Tổ chức lãnh thổ du lịch mang tính lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, trước hết là sức sản xuất xã hội đã dần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Có thể chia thành 3 hình thức TCLTDL chủ yếu: hệ thống lãnh thổ du lịch; cụm tương hỗ phát triển du lịch và vùng du lịch, trong đó vùng du lịch có ý nghĩa hết sức quan trọng [89]

Trong quá trình nghiên cứu du lịch, yêu cầu cấp thiết là phải phân nhóm các đối tượng và hiện tượng du lịch theo không gian Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của hoạt động du lịch là tính phân tán theo không gian Khác với

tổ chức lãnh thổ nông nghiệp và công nghiệp đó là khi tổ chức lãnh thổ hợp lí còn tiết kiệm được không gian để sử dụng cho các mục đích khác

1.1.4.2 Một số hình thức TCLTKT theo lãnh thổ

a) Vùng kinh tế

Vùng kinh tế được xem như một thực thể khách quan, sự tồn tại của nó là

do yêu cầu phát triển kinh tế của từng quốc gia Vùng kinh tế được xem như một phần lãnh thổ của quốc gia, có khu nhân tạo vùng Về mặt lãnh thổ, nó được liên kết bởi nhiều đơn vị hành chính với các cấp độ khác nhau Về đặc tính trội, nó có

sự đồng nhất tương đối về các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội và thường mang chức năng nhất định

b) Vùng kinh tế trọng điểm

Vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát triển

và đóng vai trò quyết định đối với nền kinh tế đất nước Lãnh thổ được gọi là vùng kinh tế trọng điểm phải thỏa mãn các yếu tố sau:

+ Hội tụ các điều kiện thuận lợi tập trung tiềm lực kinh tế, có vị trí hấp dẫn các nhà đầu tư

+ Có tỷ trọng lớn trong tổng giá trị GDP của quốc gia, có khả năng tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nước

Trang 39

+ Có khả năng tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng, đồng thời tạo nguồn thu ngân sách lớn cho đất nước Vùng này không chỉ đảm bảo nguồn tài chính cho mình mà còn có khả năng hỗ trợ cho các vùng khác

+ Có khả năng thu hút những ngành công nghiệp mới và các ngành dịch vụ then chốt, để các vùng khác học hỏi rút kinh nghiệm

+ Vùng kinh tế trọng của quốc gia có thể thay đổi ranh giới theo thời gian c) Đặc khu kinh tế

Là một lãnh thổ xác định được hưởng ưu đãi đặc biệt để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Đặc khu kinh tế hình thành và tồn tại ở Trung Quốc từ thập kỉ 80 đến nay Ở Việt Nam, thực hiện Nghị Quyết trung ương 4 khóa VIII

“Nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh tế, mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện’’, các cơ quan chức năng đã tiến hình nghiên

cứu mô hình “khu kinh tế mở’’

d) khu kinh tế

Khu kinh tế là một địa bàn lãnh thổ được vận hành theo khung pháp lí riêng (thường theo thông lệ quốc tế), chính quyền sở tại được phân cấp nhiều quyền hạn Ở đó được áp dụng những cơ chế, chính sách đặc biệt, thông thoáng hơn so với những khu vực khác của quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, khuyến khích xuất khẩu để tạo động lực mới cho nền kinh tế [93]

e) Đô thị và chùm đô thị

Với vai trò là hạt nhân tạo vùng, các đô thị liên kết với nhau trong một không gian nhất định, làm cho không gian đô thị trở thành những lãnh thổ có kinh tế phát triển Dựa vào chức năng và vai trò của đô thị: có đô thị tổng hợp và

đô thị chuyên ngành [93]

Chùm đô thị được hình thành trên cơ sở một đô thị hạt nhân và nhiều đô thị

vệ tinh xung quanh nó, có sự liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên một trật tự đô thị

có tính hệ thống trong một lãnh thổ xác định

Trang 40

f) Hành lang kinh tế

Hành lang kinh tế là một hiện tượng kinh tế xã hội, nó hình thành và phát triển dựa vào một tuyến trục giao thông huyết mạch, dọc hai bên tuyến trục đó phát triển các cơ sở kinh tế Hành lang kinh tế bao gồm các yếu tố sau:

+ Các tuyến giao thông huyết mạch kết nối các cực phát triển;

+ Các cơ sở kinh tế, nhất là các xí nghiệp công nghiệp, du lịch, thương mại

và các dịch vụ khác, chúng được hưởng lợi do có tuyến giao thông vận tải dễ dàng;

+ Các điểm dân cư và những khu vực sản xuất nông nghiệp hỗ trợ khác Đây là hình thức TCLTKT có triển vọng, nhưng ranh giới chỉ mang tính ước lệ

1.2 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ

kinh tế

1.2.1 Khái quát về một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở vùng

kinh tế trọng điểm phía Nam

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 8 tỉnh, thành phố, có diện tích

và qui mô dân số lớn, tiếp giáp với các vùng kinh tế: Tây Nguyên, Duyên Hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Các hình thức TCLTKT điển hình của vùng gồm: một số hình thức TCLTKT theo ngành và theo lãnh thổ dưới đây

1.2.1.1 M ột số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế theo ngành

-Trang tr ại:

Trang trại có nguồn gốc từ kinh tế hộ được phát triển dần trong quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hoá Trang trại là hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất cao hơn hộ gia đình, là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá Hoạt động của trang trại chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường và tuân theo qui luật cung cầu, chấp nhận cạnh tranh

Năm 2009 toàn vùng có 21.087 trang trại, chiếm 15,57% số trang trại của

cả nước Các tỉnh, thành phố thuộc vùng đều có trang trại nông nghiệp và có đầy

đủ các loại hình trang trại Trong số các loại hình trang trại tồn tại ở vùng kinh tế

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Ban Tuyên giáo Trung Ương (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung Ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[2] Ban Quản lí các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai (2011), Hội nghị tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, Biên Hòa, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Ban Quản lí các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai
Năm: 2011
[8] Cục thống kê Đồng Nai, N iên giám thống kê tỉnh Đồng Nai 2002, 2003, 2005, 2007, 2008, 2009, 2010, NXB Thống kê Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai 2002, 2003, 2005, 2007, 2008, 2009, 2010
Nhà XB: NXB Thống kê Đồng Nai
[9] Cục Thống kê Đồng Nai (2010), Tổng quan dân số và nhà ở tỉnh Đồng Nai năm 2009. Biên Hòa, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan dân số và nhà ở tỉnh Đồng Nai năm 2009
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Năm: 2010
[10] Cục Thống kê Đồng Nai (2007), Thực trạng nông thôn – nông nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2006, Biên Hòa, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nông thôn – nông nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2006
Tác giả: Cục Thống kê Đồng Nai
Năm: 2007
[13] C ục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2011), Niên giám thống kê TP. Hồ Chí Minh năm 2010, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê TP. Hồ Chí Minh năm 2010
Tác giả: C ục Thống kê TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
[14] Cục Thống kê Bình Dương (2010), Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2009, Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2009
Tác giả: Cục Thống kê Bình Dương
Năm: 2010
[17] Chi Cục thống kê TP. Biên Hòa, TX. Long Khánh và các huyện (2011), Báo cáo kinh tế - xã hội thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện năm 2010, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh tế - xã hội thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện năm 2010
Tác giả: Chi Cục thống kê TP. Biên Hòa, TX. Long Khánh và các huyện
Năm: 2011
[18] Hoàng Quý Châu (2011), Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bình Định, luận án tiến sĩ Địa lí, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bình Định
Tác giả: Hoàng Quý Châu
Năm: 2011
[19] Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh (1998), “Định lượng và định tính trong nghiên cứu Địa lí kinh tế xã hội” , Kỉ yếu hội nghị khoa học Địa lí , Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định lượng và định tính trong nghiên cứu Địa lí kinh tế xã hội”", Kỉ yếu hội nghị khoa học Địa lí
Tác giả: Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh
Năm: 1998
[20] Phạm Xuân Hậu (1993), Nghiên cứu việc kết hợp giữa trồng và chế biến mía ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Luận án Phó tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc kết hợp giữa trồng và chế biến mía ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phạm Xuân Hậu
Năm: 1993
[21] Phạm Xuân Hậu (2000), “Du lịch sinh thái ở Việt Nam – tiềm năng và triển vọng”, Hội thảo khoa học Địa lí KTXH- lý luận và thực tiễn , TP.HCM, trang 152 – 163) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái ở Việt Nam – tiềm năng và triển vọng”, "Hội thảo khoa học Địa lí KTXH- lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Xuân Hậu
Năm: 2000
[22] Lê Thu Hoa (2003), Mối quan hệ giữa phát triển có trọng điểm và phát triển toàn diện các vùng lãnh thổ nước ta trong thời kì đẩy mạnh CNH – HĐH, Luận án tiến sĩ, Trường ĐHKTQD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa phát triển có trọng điểm và phát triển toàn diện các vùng lãnh thổ nước ta trong thời kì đẩy mạnh CNH – HĐH
Tác giả: Lê Thu Hoa
Năm: 2003
[23] Đặng Duy Lợi (1992), Xây dựng các cảnh quan văn hóa phục vụ du lịch, Thông báo khoa học các trường đại học số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo khoa học các trường đại học số 2
Tác giả: Đặng Duy Lợi
Năm: 1992
[24] Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái, những vấn đề lí luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái, những vấn đề lí luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2002
[25] Vũ Tiến Lương (1993), Tổ chức lãnh thổ công nghiệp chế biến Nông – Lâm – Thủy sản vùng Đông Nam Bộ, Luận án phó tiến sĩ, Trường ĐH kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ công nghiệp chế biến Nông – Lâm – Thủy sản vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Vũ Tiến Lương
Năm: 1993
[26] Trương Phước Minh (2002), Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng, Luận án tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng
Tác giả: Trương Phước Minh
Năm: 2002
[27] Đỗ Hoài Nam (2004), Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
[30] Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2008), Quyết định 3989/QĐ-UBND về việc phê duyệt đề cương: “Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Định Quán đến năm 2015, có tính đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 3989/QĐ-UBND về việc phê duyệt đề cương: “Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Định Quán đến năm 2015, có tính đến năm 2020
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Năm: 2008
[33] Ủy Ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2010), Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai thời kì 2006 – 2020. Biên Hòa, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai thời kì 2006 – 2020
Tác giả: Ủy Ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: phân cấp mức độ và số điểm tương ứng đối với các chỉ tiêu lấp đầy  của các KCN tỉnh Đồng Nai phân theo thời gian hoạt động - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 1.1 phân cấp mức độ và số điểm tương ứng đối với các chỉ tiêu lấp đầy của các KCN tỉnh Đồng Nai phân theo thời gian hoạt động (Trang 49)
Bảng 1.2: Phân cấp các chỉ tiêu cho từng tiêu chí đánh giá hoạt động của các - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 1.2 Phân cấp các chỉ tiêu cho từng tiêu chí đánh giá hoạt động của các (Trang 50)
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tỉnh - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tỉnh (Trang 72)
Bảng 2.2: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế của tỉnh Đồng  Nai - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.2 Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế của tỉnh Đồng Nai (Trang 73)
Bảng 2.12 : Tỷ trọng GTSX của các trang trại chăn nuôi so với GTSX của - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.12 Tỷ trọng GTSX của các trang trại chăn nuôi so với GTSX của (Trang 90)
Bảng 2.13. So sánh giá trị sản xuất của ngành trồng trọt/ diện tích đất trồng trọt - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.13. So sánh giá trị sản xuất của ngành trồng trọt/ diện tích đất trồng trọt (Trang 92)
Bảng 2.17: Quy mô lao động đang làm việc tại 19 KCN của - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.17 Quy mô lao động đang làm việc tại 19 KCN của (Trang 101)
Bảng 2.18: Tổng hợp điểm đánh giá cho các tiêu chí của KCN đang  hoạt động có doanh thu của tỉnh Đồng Nai năm 2010 - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.18 Tổng hợp điểm đánh giá cho các tiêu chí của KCN đang hoạt động có doanh thu của tỉnh Đồng Nai năm 2010 (Trang 104)
Bảng 2.19: Cán cân thương mại của các doanh nghiệp trong các KCN - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.19 Cán cân thương mại của các doanh nghiệp trong các KCN (Trang 106)
Bảng 2.22: Các đô thị của tỉnh Đồng Nai năm 2010 - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.22 Các đô thị của tỉnh Đồng Nai năm 2010 (Trang 124)
Bảng 2.23: Tỷ lệ dân thành thị của các tiểu vùng kinh tế năm 2010 - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.23 Tỷ lệ dân thành thị của các tiểu vùng kinh tế năm 2010 (Trang 126)
Bảng 2.24: Tỷ lệ giá trị sản xuất vật chất và lao động của các tiểu vùng kinh - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.24 Tỷ lệ giá trị sản xuất vật chất và lao động của các tiểu vùng kinh (Trang 127)
Bảng 2.12: Năng suất lao động nông nghiệp phân theo huyện (TX,TP) ở tỉnh Đồng Nai năm 2010 - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.12 Năng suất lao động nông nghiệp phân theo huyện (TX,TP) ở tỉnh Đồng Nai năm 2010 (Trang 174)
Bảng 2.13: Năng suất lao động công nghiệp phân theo huyện (TX,TP) ở tỉnh Đồng Nai năm 2010 - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 2.13 Năng suất lao động công nghiệp phân theo huyện (TX,TP) ở tỉnh Đồng Nai năm 2010 (Trang 175)
Bảng 3.4: Quy hoạch hệ thống siêu thị tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 - nghiên cứu một số hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh đồng nai
Bảng 3.4 Quy hoạch hệ thống siêu thị tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 (Trang 195)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w