Tất cả đều cho rằng MD là một chất bán dẫn có độ dẫn điện từ 10-6 ÷ 10 -3Ω-1.cm-1, phụ thuộc vào nhiệt độ theo phương trình: r = A.exp-B/T với A,B là các hằng số T: nhiệt độ Kelvin K
Trang 1Ở nước ta hiện nay nhu cầu về nguyên liệu dioxit Mangan điện giải đối với
ngành sản xuất pin nói riêng và nguồn điện hóa học nói chung là rất lớn Tuy
nhiên hầu hết các nhà máy Pin (Con Thỏ, Con Ó, Con Sóc ) lại phải nhập
MnO2 từ nước ngoài (Trung Quốc) từ 500-1000 tấn/năm Trong khi đó nước ta
có các mỏ quặng Mangan tự nhiên với trữ lượng khá lớn, nhưng chưa có cơ sở
nào sản xuất dioxit Man
gan điện giải Để có thể khắc phục được tình trạng nhập khẩu nguyên liệu và sử
dụng được nguồn tài nguyên đất nước để sản xuất MnO2, chúng ta cần phải
nghiên cứu triển khai sản xuất MnO2 từ qui mô nhỏ rồi phát triển lên
Trong những năm qua đã có nhiều cơ sở nghiên cứu sản xuất dioxit Mangan
như: Viện hoá học công nghiệp, Viện công nghệ xạ hiếm, Trung tâm khoa học
vật liệu thuộc Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, Trường ĐHBK-HN
(1995,1997) Nhưng kết quả vẫn chưa được triển khai sản xuất, sản phẩm MnO2
cũng chưa được đánh giá trực tiếp hoạt tính điện hoá bằng các máy đo điện hoá
hiện đại mà chỉ dùng các phương pháp vật lý như phổ nhiễu xạ tia X, phân tích
nhiệt
Không nằm ngoài mục đích đó, đồ án nghiên cứu này của chúng tôi nhằm
Lựa chọn và kiểm chứng một chế độ điện phân đã được dùng trong công
nghiệp, khảo sát tính chất điện hoá của sản phẩm bằng phương pháp điện
hóa sử dụng máy đo điện hoá hiện đại của Viện hoá học-Viện khoa học công
nghệ Việt Nam
Do trình độ và thời gian có hạn nên đồ án không tránh khỏi thiếu sót.Vì vậy
chúng tôi rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp và bổ sung của các
Thầy, các Cô trong bộ môn và của mọi người quan tâm tới lĩnh vực này
Trang 2Tuỳ theo phương pháp sản xuất mà dioxit Mangan (MD) có các cách viết
tên khác nhau Khi được sản xuất theo con đường hoá học thì MD được viết là
CMD (Chemical Manganese Dioxide), còn khi được sản xuất theo con đường
điện hoá thì MD được viết là EMD (Electrolytic Manganese Dioxide)
Chương 1: Tính chất của dioxit Mangan
Đ1 Tính chất hoá học của EMD
Trong MnO2 thì Mn có số oxi hoá trung gian (+4), do đó EMD cũng thể hiện
cả tính oxi hoá và tính khử:
+ MnO2 là chất oxi hoá khá mạnh: nó dễ dàng bị khử tới Mn2+ bởi các
tác nhân khử (HCl,…):
MnO2 + 2Cl- + 4H+ → Mn2+ + Cl2 + 2H2O (1) + MnO2 là chất khử yếu: Trong môi trường axit, nó chỉ bị oxi hoá tới
MnO4- bởi các tác nhân oxi hoá rất mạnh như S2O82-, dòng điện một
chiều…Trong môi trường kiềm thì tính khử của MnO2 thể hiện mạnh
hơn: nó có thể bị oxi không khí oxi hoá tới các bậc oxi hoá cao hơn
Ngoài ra một số thông số về hàm lượng MnO2 và MnO, các giá trị x trong
MnOx, và các hàm lượng Pb và SO4 của các mẫu EMD khác nhau được sản xuất
tại các mật độ dòng và nhiệt độ khác nhau sẽ được chỉ ra trong Bảng 1:
Bảng 1: Các tính chất hóa học của EMD có liên quan tới
các thông số điện phân
MnO2
(%)
MnO (%)
x trong MnOx
Hàm lượng Pb hoặc
1.5 85 88.7 3.4 1.95 0.035
Trang 3K IL
M
2.0 85 88.4 4.1 1.94 0.098 H2SO4 trong một
bể điện phân bằng Thép được bọc Chì , sử dụng Anôt grafit và Katôt Chì [6,7]
3.0 85 87.3 5.1 1.93 0.128
(b)
1.0 27 64.2 9.6 1.84 -
1.0 39 67.8 9.8 1.95 -
1.0 50 80.5 5.6 1.92 -
1.0 62 86.4 4.6 1.94 -
1.0 74 89.7 3.7 1.95 -
1.0 83 89.7 2.4 1.97 -
(c) 0.4 90 91.40 1.67 1.975 - (c,d) Kết tủa từ một bể chứa 0.8M MnSO4 + 0.3 M H2SO4 sử dụng Anôt Ti và Katôt Pb-Sb (7%) [8] 0.6 90 91.27 1.53 1.979 -
0.8 90 93.03 0.24 1.996 -
1.0 90 90.33 3.32 1.956 -
(d) 0.90 70 83.0 - - -
0.90 80 87.1 - - -
0.90 90 90.3 - - -
0.5 80-90 - - - SO4:1.04 (e) Kết tủa tại Anôt grafit từ một bể chứa 40 g/l MnSO4 + 80 g/l H2SO4 [5] 0.75 80-90 - - - 0.77 1.0 80-90 - - - 0.72 1.5 80-90 - - - 0.63
Như được thấy trong phần (a) của Bảng 1 , các hàm lượng MnO2 và các giá trị x tăng lên theo sự giảm mật độ dòng tại 85°C Tuy nhiên, tại 90°C [xem phần (c) của Bảng 1] thì không hẳn có chiều hướng như vậy, có lẽ bởi vì hàm lượng MnO2 và các giá trị x đã thực sự quá cao tới mức mà không thể có sự khác nhau xa hơn nữa có thể xảy ra
Trang 4Theo sự mô tả ở phần (b) và (d) của Bảng 1, thì hàm lượng MnO2 tăng theo
sự tăng nhiệt độ bể Lượng Chì tăng và lượng SO4 giảm theo sự tăng của mật độ
dòng Theo những nghiên cứu sau này thì Chì trở nên xít chặt trong EMD do sự
kết tinh lại Tuy nhiên, SO4 trong MnO2 có thể chỉ (đơn thuần) bị mắc kẹt trong
các mao quản nhỏ của MnO2 và/hoặc bị hấp phụ trên bề mặt của vách mao quản
Tuy nhiên, De wolf, khi nghiên cứu các mẫu EMD kết cấu định hướng, đã
chỉ ra rằng EMD không phải là một γ-MnO2 như thường được thừa nhận mà có
cấu trúc như là một ε-MnO2 [3]
Giovanoli [4] đã nghiên cứu về ε-MnO2 điều chế theo phương pháp oxyhoá
dung dịch Mn(NO3)2 bẵng ozôn Ông cho rằng ε-MnO2 là một giai đoạn nhiệt
động không bền và nó dễ dàng kết tinh lại thành γ-MnO2 trong dung dịch HNO3
2M nóng Kết quả phân tích Rơnghen chỉ ra rằng ε-MnO2 bị khử tới γ-MnOOH
Còn γ-MnO2 bị khử tới α-MnOOH nhưng trong cấu trúc của nó có một vài vùng
nhỏ là γ-MnOOH Điều này được giải thích trên cơ sở rằng có một số phần tử
trong γ- MnO2 hoạt động như là các trung tâm cho γ-MnOOH Trong quá trình
khử, khi toàn bộ phản ứng đã xảy ra trong mạng lưới, thì sự giãn mạng của các
octahedra trở nên rõ ràng do sự tăng lên của số các ion Mn3+
Trong mạng tinh thể của các MD thuộc cấu trúc khung có các khoang rộng
Kích thước các khoang này là khác nhau với các MD khác nhau và phụ thuộc
vào cấu trúc các chuỗi octahedra MnO6 Kích thước các khoang này của
Pyrolusite là 1x1 còn của Ramsdellite là 1× 2 Có thể sử dụng ký hiệu T(mxn)
để phân biệt các cấu hình MD trong đó m và n là kích thước các khoang Khi n
tăng lên thì cấu trúc khung chuyển sang cấu trúc lớp Sự xen lẫn nhau của các
Trang 5khoang đơn và đa kích thước trong mạng tinh thể dẫn tới dung dịch nước có
chứa các cation kim loại và anion gốc axit (SO4 , NO3-,…) bị chứa trong các
khoang đó Chính vì vậy mà ε- MnO2 và γ- MnO2 có hàm lượng nước kết hợp
cao (thường từ 4 ÷ 6% khối lượng)
Các cấu trúc của MnO2 sẽ được mô tả trong các hình 1 và 2:
Hình 1: Nhóm MD có cấu trúc chuỗi và vòng : A-Pylorusite B-
Ramsdellite C- Hollandite D- Romanechite E-
Todorokite
Trang 6bảng 2 [1]:
Bảng 2 : Các cấu trúc quan trọng của MD
n.Sutite ( Mn2+, Mn4+)(OOH)2 6 phương 965 965 443
Trang 7Quá trình kết tủa MnO2 có thể được xem như hai quá trình cạnh tranh [24]:
sự tạo thành của các hạt mới và sự lớn lên của các hạt Các dioxit Mangan điện
giải nói chung thường không có dạng tinh thể tốt nhưng độ xốp lại cao, có bề
mặt riêng cỡ 40 ÷ 60 m2/g Bề mặt riêng của EMD tăng theo sự tăng mật độ
dòng và với sự giảm nhiệt độ , có thể do tốc độ tạo thành nhân tăng lên tại mật
độ dòng cao và ở nhiệt độ thấp
Bảng 3 dưới đây chỉ ra một số tính chất vật lý của EMD được điều chế dưới
các điều kiện khác nhau Vùng bề mặt BET tăng theo sự tăng của mật độ dòng
Hình 3 sẽ cho thấy bề mặt riêng của EMD được điều chế trong một phạm vi thay
đổi rộng của nhiệt độ và mật độ dòng [25] Bề mặt riêng được xác định bởi
phương pháp hấp phụ ion-Kẽm [26] đã cho các kết quả tương tự với phương
pháp BET Theo Bảng 3, thì lượng nước bị mất đi tại 110°C (hầu hết là nước
hấp phụ vật lý) [27] tăng theo sự tăng mật độ dòng và sự giảm nhiệt độ điện
phân: điều này cũng khá tương đương với vùng bề mặt BET
khác nhau [25].Thành phần dung dịch: 1M MnSO4 + 0.2M H2SO4 Các mẫu
EMD này kết tủa trên anôt Platin: đường1- 0.2A/dm2; 2 - 0.7A/dm2; 3
-1.0A/dm2; 4 - 2.0A/dm2; 5 -3.0A/dm2
Trang 840.4(85°C)
36.4(95°C)
51.5(80°C)
Anôt grafit 36.8(85°C
34.3(80°C)
44.8(90°C)
51.9(85°C)
Anôt Chì
)
-
3 Trọng lượng nước mất đi do nung nóng [5] ở các điều kiện điện phân khác
nhau (dung dịch 40g/l MnSO4 + 80g/l H2SO4):
(A/dm2)
Nhiệt độ (°C)
Trọng lượng bị mất tại 110°C (%)
Vùng bề mặt BET (m2/gm)
Trọng lượng bị mất giữa 110°C và 500°C (%) (1) Hợp kim
Pb-Sb
Trang 9Có thể nói rằng độ dẫn điện của MD phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ,
áp suất, lượng nước hấp phụ Ngoài ra khi được sử dụng trong hỗn hợp chất hoạt
động katôt thì độ dẫn điện của nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
Hiện nay chỉ có một số lý thuyết có giá trị về tính dẫn điện của β-MnO2 và
γ-MnO2 Tất cả đều cho rằng MD là một chất bán dẫn có độ dẫn điện từ 10-6 ÷ 10
-3Ω-1.cm-1, phụ thuộc vào nhiệt độ theo phương trình:
r = A.exp(-B/T)
với A,B là các hằng số
T: nhiệt độ Kelvin (K)
Qua nghiên cứu về độ dẫn điện của Pyrosite tự nhiên, Bhide và Damle đã phát
hiện thấy sự thay đổi bất thường của hằng số điện môi tại 50°C và cũng đưa ra
kết luận về độ dẫn điện:
Pyrolusite > Psilomelan > Manganit Wiby và Knight [11] đã nghiên cứu độ dẫn điện của β-MnO2 điều chế theo
phương pháp điện phân Mn(NO3)2 và đưa ra kết luận độ dẫn điện của MD phụ
thuộc vào lượng nước trong nó
Forter [11] đã nghiên cứu độ dẫn điện của mẫu EMD đã gia nhiệt và kết luận
rằng độ dẫn điện của EMD tăng theo nồng độ oxi môi trường (do sự hấp phụ oxi
của MD làm tăng độ linh động của các electron
Braisler [11] đã nghiên cứu ảnh hưởng của nước hấp phụ tới độ dẫn điện của
MD và thấy rằng độ dẫn điện của MD tăng theo qui luật hàm số mũ khi giảm
hàm lượng nước hấp phụ Ngoài ra ông còn đi đến kết luận rằng nồng độ
Trang 10electron tự do của β-MnO2 và γ-MnO2 đều nằm khá xa giới hạn trung bình và
cho thấy lượng nước kết hợp ảnh hưởng đến cấu trúc dải electron do chúng làm
biến dạng mạng tinh thể MD (ảnh hưởng tới khoảng cách Mn-Mn trong mạng)
Mc Breen đã nghiên cứu và đưa ra hàm số biểu diễn sự phụ thuộc của độ dẫn
điện vào áp suất [11] Ông cũng đưa ra nhận xét rằng điện trở của MD phụ thuộc
vào mức tăng áp suất theo thứ tự:
β-MnO2 < ε-MnO2 < γ-MnO2
Kirchoff đã đưa ra phương trình phụ thuộc của độ dẫn điện theo áp suất như
sau:
r = D.p-γtrong đó : D là hằng số, số mũ γ của áp suất được xác định bằng thực nghiệm
Dioxit Mangan tự nhiên có γ cao, MD được sản xuất theo con đường hoá học có
γ thấp, còn EMD có γ trung bình
Trong hỗn hợp chất hoạt động katôt, MD bột được trộn với một số phụ gia
khác tạo nên một hỗn hợp được xem là tổ hợp của một chất dẫn điện tốt và một
chất dẫn điện kém hơn Và độ dẫn điện của nó là một hàm tổ hợp của độ dẫn
điện các cấu tử thành phần, phụ thuộc vào số liên kết điện tử trên một hạt trong
hỗn hợp Euler [22] đã giả thử rằng số liên kết này tương ứng với số phối trí Từ
đó ông cho rằng số phối trí z của hỗn hợp MnO2/C là 30, nhưng thực nghiệm đã
đưa ra được giá trị cao hơn z =32 Khi phóng điện, số phối trí giảm đi làm cho
độ dẫn điện giảm theo
Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng đối với EMD thì độ dẫn điện của khối đặc sít
là cao nhất, rồi tới hỗn hợp bột và thấp nhất là màng mỏng Điều này là do đặc
tính cấu trúc và độ linh động của oxi trong chúng khác nhau
4 Tính chất từ
Các nghiên cứu về từ tính của MD đều chỉ ra rằng MD là chất nghịch từ do
trong orbital 3d của phân tử MnO2 có 3e- không ghép đôi
Trang 11Selwood [11] đã đo độ từ cảm của các MD và sắp xếp chúng theo thứ tự :
δ-MnO2 > α-MnO2 > γ-MnO2 > β-MnO2 Giá trị độ từ cảm tại 25°C nằm trong
khoảng 25.10-6÷ 45.10-6
Brenet [12] dựa trên lý thuyết Pauling về lực tương tác giữa các phân tử và
nguyên tử đã giải thích độ từ cảm cao của MD hoạt hoá là do độ dài của liên kết
Mn-O Ông cũng tìm ra mối liên hệ giữa giá trị độ từ cảm tới dung lượng phóng
điện
Trên cơ sở phép đo độ từ cảm của sản phẩm khử katôt của MnO2 tại các giai
đoạn phóng điện khác nhau, Gosh [11] đã đưa ra giả thiết về các giai đoạn của
quá trình như sau:
γ-MnO2 → giãn mạng → MnO2 đã giãn mạng → Mn3O4
Ngoài ra một số nghiên cứu cũng cho thấy có sự liên quan giữa sự xử lý
nhiệt đến các đặc tính phóng điện của EMD Nói chung, sự xử lý nhiệt EMD
trong không khí sẽ làm tăng sự phân cực trong giai đoạn phóng điện ban đầu:
nhưng dưới các điều kiện nào đó trong quá trình phóng điện hoàn chỉnh, thì khả
năng phóng điện trở lên lớn hơn khả năng phóng điện của EMD ban đầu chưa
được gia nhiệt Sasaki và Kozawa [28] đã tiến hành đo điện thế điện cực của các
mẫu MnO2 đã qua gia nhiệt trong dung dịch 0.5M NH4Cl và lưu ý rằng điện thế
không giảm nhiều tới tận lúc nhiệt độ đạt tới 250°C, nhưng ở trên 250°C thì nó
giảm một cách liên tục nhưng lại không thấy sự thay đổi đột ngột về điện thế ở
khoảng 450°C, khoảng mà MnO2 phân huỷ thành Mn2O3 Muraki [29] đã chỉ ra
rằng: trong pin khô, EMD được gia nhiệt một cách hợp lý sẽ làm việc có năng
suất lớn hơn EMD không được gia nhiệt ở cùng điều kiện
Đ3 Tính chất điện hoá của EMD
Các tính chất điện hoá của các mẫu EMD được sản xuất dưới các điều kiện
điện phân khác nhau được nghiên cứu bởi Muraki và Okajima [7] và Ea et al
[9] Các kết quả đạt được bởi hai nghiên cứu này nói chung là rất tương đồng;
đó là điện thế, quá thế, và một số tính chất khác phóng điện của EMD phụ thuộc
vào mật độ dòng và nhiệt độ bể trong quá trình điện kết tủa
1 Điện thế điện cực
Trang 12Điện thế điện cực của EMD giảm theo sự tăng mật độ dòng và cũng giảm
theo sự tăng nhiệt độ bể, như được chỉ trong Bảng 4 dưới đây Nên chú ý (trong
Bảng 3) rằng nhiệt độ bể càng cao và mật độ dòng càng thấp, thì hàm lượng
MnO2 và giá trị x của MnOx sẽ càng cao Thực tế rằng điện thế EMD tăng lên
theo sự tăng giá trị x Nếu hệ thống oxit là một hệ thống hai pha (không đồng
nhất) (giống như Ag2O–Ag hoặc HgO–Hg ), thì điện thế mạch hở (OCV) sẽ
không phụ thuộc vào độ tinh khiết hay hàm lượng MnO2, như là trường hợp đối
với các hệ thống Ag2O–Ag hay HgO–Hg
Bảng 4: Ảnh hưởng của mật độ dòng đến các điện thế của pin EMD
Mật độ dòng
(A/ dm2 )
Điện thế pin ( V )
Nhiệt độ bể (°C )
Điện thế đối với SCE (V)
Quá thế, là độ chênh lệch điện thế giữa điện thế mạch hở và điện thế mạch
trong quá trình phóng điện, tăng lên theo sự tăng mật độ dòng và sự giảm nhiệt
độ bể khi kết tủa Các mẫu EMD được sản xuất với anôt Pb có một quá thế thấp
hơn các mẫu EMD được sản xuất với anôt grafit dưới các điều kiện có thể so
sánh được [9]
Mặc dù thực tế rằng các mẫu EMD có bề mặt riêng càng thấp khi được tạo ra
ở các mật độ dòng thấp, thì chúng càng có các giá trị quá thế thấp hơn Thực tế
này biểu lộ rằng diện tích bề mặt không phải là một nhân tố quan trọng trong
phản ứng tại tốc độ phóng điện 20 mA/500 mg Điều này có thể hiểu được nếu
chúng ta nhớ lại bản chất của cơ chế phản ứng phóng điện Các giá trị quá thế
này [9] được đo tại một giai đoạn đầu của quá trình phóng điện, và phản ứng
điện cực chính tại giai đoạn đó là phản ứng sau [30]:
MnO2 + H2O + e- → MnOOH + OH- (2)
Trang 13Giai đoạn xác định tốc độ rất có thể là quá trình khuyếch tán proton trong mạng
lưới MnO2, còn phản ứng điện hoá tại vùng tiếp giáp dung dịch-điện cưc
(lỏng-rắn) không phải là yếu tố giới hạn của tốc độ phản ứng
Ngoài ra từ các đường cong phóng điện thu được bởi các pin Leclanché mà
chất khử phân cực katôt là các mẫu EMD được sản xuất tại các mật độ dòng
khác nhau cùng với các pin được làm với các quặng MnO2 tự nhiên, Muraki và
Okajima [7] đã thấy rằng mật độ dòng điện phân càng thấp thì khả năng phóng
điện của EMD thu được là càng cao Era et al.[9] đã chỉ ra rằng khả năng phóng
điện của các mẫu EMD trong chất điện ly Leclanché trở lên lớn hơn theo sự tăng
nhiệt độ bể
Đ4 Hoạt động điện hoá của EMD trong Pin
1 Sơ đồ và các phản ứng chính trong pin
MD được sử dụng rộng rói làm vật liệu hoạt động catốt trong pin Lelance
hoặc pin kiềm như Li/MnO2, Zn/MnO2
Sơ đồ điện hoỏ tổng quỏt của pin như sau :
(-) Zn/dung dịch điện giải/MnO2 (+)
Cỏc phản ứng của pin phụ thuộc vào dung dịch điện giải và điều kiện
phúng điện
Phản ứng phúng điện của pin Leclance :
2MnO2 + 2NH4Cl + Zn 2MnOOH + Zn(NH3)2Cl2 (3)
Phản ứng phúng điện của pin kiềm Zn/MnO2
2MnO2 + H2O + Zn 2MnOOH + ZnO (4)
Ta cú thể thấy rằng MnOOH là sản phẩm khử catốt chớnh của tất cả cỏc
loại pin Điều này được khẳng định qua kết quả nghiờn cứu của Rơnghen
2 Cơ chế phóng điện của Mangan đioxit
Trước đõy Lơblăng, Danien, Druker cho rằng trong điện dịch dioxyt
mangan, Mn4+ đã bị khử tới Mn3+ hay Mn2+ Phản ứng xảy ra trờn điện cực như
sau:
Trang 14K IL
M
MnO2 + 2H2O ↔ Mn(OH)4 (5)
Mn(OH)4 ↔ Mn4+ + 4OH- (6)
Mn4+ + 2e- ↔ Mn2+
Mn2+ +2OH- ↔ Mn(OH)2 (7)
MnO2 + Mn(OH)2 ↔ Mn2O3 + H2O (8)
Phản ứng tổng là 2MnO2 + H2O + 2e- ↔ Mn2O3 + 2OH- (9)
Nhưng nhiều số liệu thực nghiệm thu được khụng thống nhất với cơ chế phản ứng của điện cực oxit mangan đú Vớ dụ : Điện thế và dung lượng phõn cực của hạt dioxyt mangan phụ thuộc vào bề mặt tiếp xỳc nghĩa là dioxyt mangan chỉ làm việc ở những chỗ tiếp xỳc chứ khụng phải toàn bộ hạt dioxyt mangan Điều đú bỏc bỏ luận điểm của Lơblăng cho rằng các ion Mn4+ từ điện cực chuyển vào dung dịch Mylor, Grun, Guntor, Sunxe cho rằng dioxyt mangan cung cấp cho dung dịch những ion mang điện tớch õm 2MnO2 + 2e- Mn2O3 +O- (10)
O- + H2O 2OH- (11)
Phản ứng tổng là 2MnO2 +H2O +2e- Mn2O3 +2OH- (12)
Theo Keller thỡ sơ đồ phản ứng phúng điện của điện cực dioxyt mangan cú khỏc: 2MnO2 + 2e- = 2MnO2- (13)
2MnO2- + 2H+ = 2HMnO2 (14)
2HMnO2 = Mn2O3 + H2O (15)
Phản ứng tổng là 2MnO2 + 2H+ + 2e- = Mn2O3 + H2O (16)
Gần đõy Kalum, Gionon, Korovo, đưa ra trờn cơ sở của những số liệu phõn
tớch sản phẩm khử MnO2 và so sỏnh những số liệu đú với dung lượng của pin đó
Trang 15Trong dung dịch trung tớnh và kiềm thì đioxyt mangan bị khử đến mangan
hoỏ trị ba ở điều kiện bỡnh thường
Người ta đó thớ nghiệm điện cực đioxyt mangan và thấy rằng :
Khi phõn cực catụt điện cực dioxyt mangan trong những dung dịch đú thỡ
điện thế của nú thay đổi liờn tục [3] Khi ngắt điện và ngay cả khi ngắt điện một
thời gian dài, điện thế của nú cũng khụng đạt được giỏ trị ban đầu lỳc chưa cú
dũng điện đi qua (Hình 4)
-0,4
0,0 -0,2
-0,6 0,2
1
2
3
Hình 4 : Biến thiên điện thế điện cực đioxit mangan trong
1 : Khi phân cực bằng dòng điện 4 mA
2 : Sau khi ngắt điện 45 phút 3: Sau lúc ngắt điện 24 giờ
U (V)
t (giờ)
U
Trang 16Điều đú chứng tỏ rằng quỏ trỡnh phúng điện trờn những điện cực ấy khụng
liờn quan tới sự biến đổi pha từ dạng oxit này sang dạng oxit khỏc mà là thay đổi
liờn tục hàm lượng oxit hoạt động trong oxit rắn sinh ra điện thế Khi phúng điện,
oxit hoạt động ở lớp bề mặt của những phần tử oxit nghốo đi Muốn cho quỏ
trỡnh phúng điện một cỏch bỡnh thường thỡ oxit hoạt động từ bờn trong phõn tử
oxit phải khuếch tỏn ra bề mặt của nú, cỏc điện tử và proton từ bề mặt chuyển vào
sõu trong hạt Ion oxy khú chuyển động vào sâu trong hạt hơn vỡ kớch thước của
nú lớn hơn điện tử và proton [3]
Sự chậm khuếch tỏn đú gõy thờm phõn cực điện cực Trong thời gian khụng
hoạt động, điện thế điện cực được hồi phục lại một phần vỡ loại phõn cực đú được
khắc phục do điều hoà hàm lượng oxit hoạt động trong toàn bộ thể tớch các phần
tử hoạt động đú (đường cong 2 và 3)
MnOOH tạo thành sẽ làm cho thành phần các chất hoạt động ở trong cỏc
phần tử dễ đều nhau Tốc độ tách điện tử và proton khỏi MnOOH cũng bằng với
tốc độ oxy hoạt động khuếch tỏn đến đú
Mn2+ + MnO2 + 4OH- + Zn2+ Mn2O3.ZnO + 2H2O (23)
Các phản ứng (22) và (23) cú tớnh chất hoỏ học và cú thể xảy ra lỳc pin làm
việc cũng như lỳc pin không có tải
Cơ chế phúng điện của điện cực dioxyt mangan qua giai đoạn tạo thành ion
Mn2+ cú nhiều người phản đối
Hiện nay cơ chế phúng điện điện tử của Lukopxep được nhiều người cụng
nhận nhất
Trong dung dịch trung tớnh và kiềm, khi tinh thể oxit tiếp xỳc với điện dịch
thỡ trờn bề mặt phõn chia pha xuất hiện lớp điện tớch kộp Trong quỏ trỡnh
phúng điện, proton từ dung dịch đi qua lớp điện tớch kộp để chuyển vào dioxyt
Trang 17mangan Ở đú, nú được trung hoà bởi cỏc điện tử tự do và tạo thành oxit hoá trị
thấp cú thành phần thay đổi (loại MnOOH) :
MnO2 + H+ + e- MnOOH (24)
Chỉ khi bề mặt cỏc phần tử hoạt động giàu MnOOH thỡ nú mới tỏc dụng với
điện dịch axit yếu tạo thành Mn(OH)2 và Mn2+ :
MnOOH + H+ + e- Mn(OH)2 (25)
và
Mn(OH)2 + 2H+ Mn2+ +2H2O (26)
Điện thế cực dương của pin phụ thuộc vào pH của dung dịch và khi pH<4,5
thì nó cũng phụ thuộc cả vào hoạt tính của MnO2
Từ phương trình (25), (26) ta thấy trong dung dịch axit, điện thế cực dương
là:
φk = φko + 0,118 lgaH+ - 0,029 lgaMn2+ (27)
Trong điện dịch trung tính và kiềm theo (43) ta có :
φk = φko – 0,059pH (28)
Khi pin làm việc, ion hydro tham gia vào phản ứng nên nồng độ của nó
giảm dần, pH điện dịch tăng lên và điện thế cực dương giảm đi [3]
Muốn tăng điện thế và giảm độ kiềm thì phải khử NH3 do phản ứng (29) sinh
Khi nồng độ kẽm và clorua amôn trong pin lớn nghĩa là khi pin mới làm việc
Nếu pin đã dùng lâu, nồng độ clorua amôn giảm xuống dưới 15% thì xảy ra phản
ứng :
2NH3 + 2H2O + ZnCl2 = Zn(OH)2 + 2NH4Cl (31)
hay
ZnCl2 + NH3 + H2O Zn(OH)Cl +NH4Cl (32)
Trang 18Zn(NH3)2Cl2, Zn(OH)Cl không tan, tạo kết tủa trắng bám trên bề mặt điện
cực làm tăng điện trở của pin
Để giải thích rõ hơn hiện tượng cơ chế phóng điện của MnO2, các tác giả
A Korawa và R.A Powers [38] đã đưa ra cơ chế electron-proton (e–p) cho quá
trình phóng điện từ MnO2 đến MnO1,5 :
MnO2 + H2O + e- MnOOH + OH- (33)
Các proton xuất phát từ các phân tử nước hấp phụ trên bề mặt MD chứ không
phải từ nhóm OH- của nước kết hợp
Từ phương trình (33) có thể biểu diễn điện thế điện cực như sau :
V = RTln(aMnO2/aMnOOH)
Trong đó R là hằng số khí, a là hoạt độ Các phép đo điện thế chỉ ra rằng
trong quá trình khử, chất hoạt động catôt luôn là một pha đồng nhất (tức là
MnOOH không tách thành pha riêng mà phân tán trong mạng lưới tinh thể của
MnO2) Do vậy mà độ hoạt hoá của MnO2 giảm dần trong suốt quá trình phóng
điện Đây là nguyên nhân gây ra độ dốc của đường cong phóng điện của MnO2.
Theo các kết luận về sự trao đổi e giữa Mn4+ và Mn3+ trong mạng lưới tinh thể
thì Mn3+ di chuyển xung quanh toàn bộ mạng lưới Tại thời điểm đó, các phân tử
nước có thể bị phân huỷ tại bề mặt tiếp xúc rắn-lỏng và các proton được đưa vào
trong mạng lưới tạo thành OH- Khi OH- trong mạng lưới được khuấy trộn
mạnh, liên kết O-H bị vỡ và H+ được chuyển tới các ion O2- để tạo thành OH
-lần nữa Vì vậy OH- luôn chuyển động xung quanh toàn bộ mạng lưới tinh thể
nhờ sự tấn công của proton vào các vị trí O2-
Với các quá trình phóng điện, nồng độ Mn3+ và OH- trong mạng lưới tinh
thể tăng Và ở điều kiện mạch hở, tất cả các phân tử trên đều trở thành các pha
phân tán đồng thể trong mạng lưới oxit Tại vị trí cân bằng, điện thế điện cực
của điện cực oxit đồng thể có thể được xác định bởi hoạt tính của electron trong
mạng lưới tinh thể hoặc dựa vào tỷ số của [Mn3+]/[Mn4] trong chất rắn do quá
trình trao đổi điện tử tự do giữa Mn3+ và Mn4+ Khi các thông số của mạng lưới
tinh thể cho phép các proton chuyển động tự do (tới các ion O2-) và các e
-chuyển động tự do (qua các ion Mn4+) như đã được miêu tả ở trên, quá trình khử
Trang 19điện hoá có thể diễn ra ở pha đồng thể Tuy nhiên khi quá trình phóng tiếp tục,
mạng lưới tinh thể MnO2 sẽ được mở rộng ra bởi vì bán kính ion của OH- (1,53
Å) lớn hơn bán kính ion của O2- (1,4 Å) và bán kính ion của Mn3+ (0,62 Å) lớn
hơn bán kính ion của Mn4+ (0,52 Å) Từ đó cấu trúc tinh thể ban đầu có thể được
chuyển hoá thành dạng mới mà ở đó không có sự chuyển động tự do của các e
-và proton Cơ chế thay đổi điện thế của pha đồng thể Mn3+- Mn4+- O2-- OH- tiếp
xúc với dung dịch điện ly giống như với hệ oxy hóa–khử Ví dụ dung dịch chứa
ion Fe2+ và Fe3+ là hệ đồng thể và điện thế được xác định như sau :
E = E0 -
F
] [
] [
3
2 + +
Fe
Fe
Trong hệ Mn3+- Mn4+- O2-- OH-, các e- và proton chuyển động xung quanh
hệ, và hệ ở trạng thái cân bằng điện hoá với các phần tử OH-, H2O trong dung
dịch điện ly Hai hệ có thể được xem xét là tương tự nhau trong mối quan hệ
giữa điện thế điện cực với khả năng hoạt hoá của dạng oxy hóa và dạng khử có
mặt trong pha đồng thể Từ đó điện thế điện cực của hệ điện cực oxit (Mn3+ -
Mn4+- O2-- OH-) của pha đồng thể có thể được xác định bởi công thức sau với
phép tính gần đúng coi [OH-] và [H2O] là không đổi :
E = E0 -
F
] [
] [
4
3 + +
Mn
Điều này có thể kiểm tra qua thực nghiệm nhờ quá trình đo thế mạch hở của
điện cực MnO2 tại các trạng thái khác nhau của quá trình phóng ở đường cong thu
được từ phương trình trên
Nếu quá trình phóng không tiếp tục xảy ra ở pha đồng thể nhưng lại bao
gồm sự biến đổi của một pha rắn (MnO2) tới một pha rắn bão hoà khác (MnOOH)
hay Mn2O3), thì theo nguyên lý nhiệt động học điện thế mạch hở sẽ không đổi tại
bất kỳ trạng thái nào của quá trình phóng bởi vì trong công thức:
Độ hoạt hóa của các pha rắn sẽ không biến đổi và giữ nguyên trong giai
đoạn cuối của quá trình phóng (hình 4)
Trang 20Có nhiều con đường tổng hợp MD theo phương pháp hoá học Cụ thể một số
phương pháp như sau đây thường được sử dụng:
+ Đi từ quặng Pyrolusite: hàm lượng trung bình của MnO2 trong quặng
thường là 40 ÷ 50% Do đó bằng cách tuyển quặng thì có thể làm giầu
đến 60 ÷ 80%
+ Phổ biến hơn là chế tạo MnO2 hoạt tính bằng cách nung quặng
Pyrolusite thiên nhiên trong lò quay ở nhiệt độ 700 ÷ 750°C, sản phẩm
thu được chủ yếu là MnO2, cho tác dụng với H2SO4 17 ÷ 18% ở 80°C
thì:
Mn2O3 + H2SO4 → MnO2 + MnSO4 + H2O (34)
+ Đi từ các muối Nitrat, Cacbonat Mangan bằng cách phân huỷ nhiệt Sản
phẩm thu được sẽ bị oxyhoá bởi oxy không khí:
Tác nhân oxyhoá có thể dùng là dung dịch NaOCl 10%, khi đó thu được
MnO2 có diện tích bề mặt lớn, có hoạt tính xúc tác cao
Khi phân huỷ MnCO3 ở 300°C, Tanable đã thu được MnO2 có tỷ
Trang 21Sản phẩm thu được là γ-MnO2 có cấu trúc tinh thể nhỏ mịn Nhiệt độ giai
đoạn tạo Mn(NO3)(r) 130 ÷ 140°C và nhiệt độ tạo γ-MnO2 là 300 ÷ 400°C
+ Trong phòng thí nghiệm người ta cũng tạo được α-MnO2 do khử KMnO4
với tác nhân khử là HCl đặc ở nhiệt độ cao
+ Ngoài những phương pháp phân hủy nhiệt nêu trên còn có thể tổng hợp
MD theo cách oxi hoá Mn2+ bằng oxi không khí:
Wesley và Buset [11] đã thực hiện oxi hoá Mn(OH)2 bằng cách sục
không khí qua hỗn hợp Mn(OH)2 + NaOH và đã thu được δ-MnO2 có cấu
trúc gần giống Bruessite
Mc Kenzie [11] thực hiện oxi hoá bằng cách sục oxy trong 5 giờ qua 2
lít dung dịch 0.4mol MnSO4 + 5mol KOH tại nhiệt độ 5°C Kết quả nhận
được dạng δ-MnO2 có màu đen chứa 9%K Ông cũng nhận được sản phẩm
giống như Crytomelane theo cách này khi sử dụng dung dịch bão hoà K+
Belay và Brenet [12] đã thu được α-MnO2 có hoạt tính xúc tác và hoạt
tính điện hoá cao bằng cách gia công Mn3O4 (điều chế bằng cách thổi khí
oxy qua Mn(OH)2 trong nhiệt và axit) Hai ông cũng nhận được MnO2 hoạt
động điện hoá cao khi thổi oxi dưới áp suất thấp (0.5 MPa) qua 200 ml dung
dịch chứa 0.2 mol Mn(II)
+ Oxi hoá các hợp chất Mn(III) trong axit:
Khi gia công các hợp chất Mn(III) trong axit ở nhiệt độ cao thì mạng tinh
thể của nó bị biến dạng đồng thời Mn3+ bị oxi hoá thành Mn4+
Purol [11] đã nghiên cứu các thông số động học của sự biến dạng của
Mn2O3 trong H2SO4 và ông đã nhận được γ-MnO2 hoặc α-MnO2 tuỳ thuộc
điều kiện thí nghiệm
Fuber [11] đã sản xuất được MnO2 có hoạt tính điện hoá cao bằng cách
oxi hoá MnO2 trong dung dịch HClO4 20% tại 90°C, sản phẩm được tiếp
tục gia nhiệt tại 90°C trong một giờ
Brenet [12] đã sản xuất được γ-MnO2 hoạt hoá cao bằng cách oxi hoá
Mangan Peclorat bằng ozôn tại 50°C Ông cũng nhận được α-MnO2 theo
Trang 22cách trên nhưng thêm vào dung dịch một số cation như là K+, Ca2+, NH4+
với nồng độ từ 0,5 ÷ 1,5% (sao cho tổng nồng độ các cation đó lớn hơn
nồng độ Mn4+ trong dung dịch
+ Khử muối Pemanganat:
Có thể nhận được MD bằng cách khử muối Pemanganat trong dung dịch
MnSO4 với chất khử là HCl Sản phẩm nhận được là α-MnO2 có dung
lượng phóng điện rất cao Điều kiện tối ưu cho quá trình này là KMnO4
0,1M và HCl 6M
Đ2 Tổng hợp MD bằng phương pháp điện hoá
Ngay từ năm 1918,Van Arsdale et al [13] đã trình bày sự điều chế dioxit
Mangan điện giải bằng quá trình điện phân dung dịch Sunfat Mangan Họ chỉ ra
rằng việc sử dụng EMD như là một chất khử phân cực của Pin khô sẽ làm tăng
năng suất phóng điện của Pin Một vài tác giả, bao gồm Nichols [14] năm 1932,
Storey et al [15] năm 1944, và Lee [16] năm 1949, đã mô tả quá trình điều chế
EMD bằng cách lọc rhodochrosite (một dạng khoáng của MnCO3) với axit
Sunfuric
Ở Nhật, Kameyama et al [17] (1934) đã nghiên cứu quá trình điều chế EMD
dung dịch Nitrat Mangan, được điện phân với dòng xoay chiều Một nghiên cứu
chi tiết về quá trình điều chế EMD từ sunfat Mangan bằng dòng một chiều đã
được công bố bởi Takahashi [18] vào năm 1938 Hơn nữa, ngay từ năm 1929,
Inoue et al.[19] đã có được bằng sáng chế của Chính phủ Nhật về sự sử dụng
EMD như một chất khử phân cực cho Pin khô Mặc dù các cuộc thử nghiệm sản
phẩm EMD trong Pin thỉnh thoảng đã được tiến hành từ năm 1934, nhưng việc
sản xuất trên qui mô công nghiệp đã không được đề xướng đến tận cuối Chiến
tranh thế giới thứ II Tại thời gian đó, EMD rất cần thiết đối với các loại Pin cỡ
nhỏ Do đó , dự án nhỏ đầu tiên sản xuất EMD đã được xây dựng vào năm 1944
tại khu Washizu của công ty Tokyo Shibaura Electric Co, ltd.Vào thời điểm
chiến tranh kết thúc (1945), nói chung người ta đã nhận thức được rằng EMD là
không thể thiếu được đối với sự cải tiến chất lượng của các Pin khô
1 Phản ứng anôt chính
Trang 23Trong quá trình sản xuất công nghiệp thực tế, MnO2 được kết tủa từ dung
dịch MnSO4 0,5-1,2M có chứa H2SO4 0,2-0,5M tại 90°- 98°C với một hiệu suất
dòng cao (85-95%) tạo ra một lớp MnO2 dầy trên anôt
Quá trình kết tủa MD tại anôt là một quá trình phức tạp Bên cạnh quá trình
oxy hoá dưới tác dụng của dòng điện một chiều còn có các phản ứng oxy hoá
khử và phản ứng thuỷ phân Đến nay, cơ chế quá trình kết tủa MD trên anôt
đang được các nhà khoa học tranh cãi Nhìn chung các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
tại anôt có thể xảy ra các phản ứng sau:
Các quá trình tạo thành các ion Mangan có mức độ oxy hoá cao hơn (MnO42-,
MnO4-) không thể xảy ra vì trong dung dịch axit và khi nồng độ Mn2+ tương đối
cao thì các ion đó không bền Mangan(III)(MnO1.5) có thể tồn tại trong pha rắn
bám ở điện cực dưới dạng Mn(OH)3, MnOOH và Mn2O3
Hiện nay có hai ý kiến khác nhau về cơ chế tạo thành MnO2 trên anôt Sự
khác biệt chủ yếu giữa chúng là số electron cho trong quá trình [20]
Ý kiến thứ nhất cho rằng quá trình xảy ra theo các bước sau:
1-Oxy hóa các ion Mangan có mức độ oxy hoá thấp tới Mn4+
2-Thuỷ phân tạo thành MnO2
Ý kiến thứ hai cho rằng quá trình oxy hoá trên anôt chỉ xảy ra đến Mn3+ Sau
đó nhờ các phản ứng hoá học mà MnO2 được tạo thành
Các kết quả nghiên cứu quá trình điện phân trong dung dịch axit mạnh đã cho
thấy có tồn tại sản phẩm trung gian chứa Mn(III) Vetter và Marecke đã nghiên
cứu hệ oxy hoá khử Mn3+/Mn4+ trong dung dịch H2SO4 Theo hai ông thì phản
ứng:
Trang 24Khi đo đường cong phân cực trên điện cực Platin,Vetter thấy rằng các đường
cong này không phụ thuộc vào nồng độ Mn4+ trong dung dịch
Quá trình thuỷ phân các ion Mangan xảy ra rất phức tạp, gồm nhiều mức độ:
[Mn(H2O)n]4+⇔[Mn(H2O)n-1(OH)]3++H+ ⇔ [Mn(H2O)n-2(OH)2]2++2H+ (42)
⇔ [Mn(H2O)n-3(OH)3]3+ + 3H+
⇔ [Mn(H2O)n-4(OH)4] + 4H+
⇔ MnO2 + (n-2)H2O + 4H+
trong đó giai đoạn tạo thành MnO2 là giai đoạn cuối cùng và chậm nhất, quyết
định toàn bộ tốc độ quá trình thuỷ phân
Các quá trình tiếp theo như quá trình vận chuyển (khuyếch tán, đối lưu, điện
di), quá trình hấp phụ và khử hấp phụ trên bề mặt anôt ảnh hưởng tới dạng kết
tủa và độ sít chặt của sản phẩm trên bề mặt điện cực
Helfricht [20] đã nghiên cứu về các thông số nhiệt động học của các hợp chất
Mn(II), Mn(III) và Mn(IV) có thể có trong quá trình điện phân Ông đã đo giá trị
năng lượng tự do ∆G0 và lập ra sơ đồ như hình 5 dưới đây Qua các giá trị động
học và nhiệt động học, Helfricht đã đưa ra cơ chế quá trình tạo MnO2 trên anôt
như sau:
Mn2+ → Mn3+ + e- (43)
2Mn3+ + 4H2O ⇔ 2MnOOH + 6H+ (44)
2MnOOH + 2H+ ⇔ MnO2 + Mn2+ + H2O (45)
Đây là con đường có ∆G nhỏ nhất (đường theo mũi tên trên hình 5) Các hợp
chất trung gian như Mn(OH)3, Mn2O3, Mn(OH)4 không tạo thành được do có
∆G cao Qua các thí nghiệm, Helfricht và Franke đã lập được quan hệ giữa nồng
độ Mn3+ và H+ như sau:
lg[Mn3+] = -3,13 + 2,997.lg[H+]
Trang 25Tóm lại phản ứng tổng xuyên suốt quá trình điện phân dưới các điều kiện
công nghiệp là phản ứng (46), dựa trên nghiên cứu được thực hiện bởi Kane et
MnO2 được tạo thành để hình thành cân bằng giữa Mn3+, Mn++ và Mn4+ (48)
Tuy nhiên, phản ứng (47) không thể xảy ra như một phản ứng chính do điện thế
anôt thực tế khi điện phân là thấp hơn nhiều so với giá trị điện thế lý thuyết của
phản ứng (47)
Các phản ứng điện hoá mà chúng có thể xảy ra trong quá trình anôt và các giá
trị điện thế nhiệt động của chúng được ghi trong Bảng 5[15]:
Bảng 5: Các phản ứng điện cực và các giá trị điện thế của chúng
Trang 260.556 0.836 0.836 1.021 0.555 Tuỳ theo các giá trị điện thế này mà sự thoát oxy có thể xảy ra song song với
phản ứng (46), nhưng sự thoát oxy sẽ yêu cầu một quá thế lớn trên bề mặt MnO2
cũng như trên bề mặt Grafit(hoặc PbO2) Điều này được giải thích một cách rõ
ràng trong Hình 6 [31] Cần chú ý trong Hình 6 là sự kết tủa MnO2 xảy ra ở
khoảng 0,55 Volt (rất gần với điện thế lý thuyết chỉ cho phản ứng (1) của Bảng
5, nhưng trái lại, dưới các điều kiện đó, cả sự thoát oxy trên điện cực grafit và
điện cực MnO2-bọc grafit yêu cầu một điện thế cao hơn 350mV so với điện thế
lý thuyết [0.555 V đối với Hg/Hg2SO4 (H2SO41N)] Tại 0,55 Vôn đối với điện
cực Hg/Hg2SO4 (H2SO4 1N), thì sự oxyhoá của ion Mn++ thành ion Mn3+ là
không thể xảy ra về mặt nhiệt động học, vì phản ứng đó yêu cầu một điện thế tối
thiểu là 0.836 Vôn đối với điện cực Hg/Hg2SO4 (H2SO4 1N), xem trong Bảng 5
Do đó, chỉ cần hiệu suất dòng điện được cao (90% hoặc cao hơn) và điện thế
anôt khoảng 0,55-0.65 Vôn đối với điện cực Hg/Hg2SO4, thì phản ứng chính tại
anôt sẽ giống như là phản ứng được chỉ trong phương trình (46)
Tuy nhiên sự tạo kết tủa đã được Fleischman et al.[24,32] mô tả qua các bước
như sau: ion Mn(II) hydrat bị oxyhoá theo con đường điện hoá thành
[Mn(H2O)n]3+ads và /hoặc thành [Mn(H2O)n]4+ads ,còn các cấu tử hấp phụ lên bề
mặt MnO2 có thể có năng lượng khác với ion Mn3+ tự do Các cấu tử này hydrat
một cách thành công và cuối cùng trở thành một phần của mạng lưới MnO2 Khi
đó giai đoạn đề hydrat được xem như là bước xác định tốc độ của quá trình này
Trang 27E F
Hình 6: Điện thế anôt trong 30 phút điện phân ở mât độ dòng 1,0 A/dm2, dung
dịch 0,2M H2SO4 có hoặc không có mặt MnSO4(1,0M), ở 75°C và 90°C[31]: A
và D là tại anôt Grafit trong dung dịch H2SO4 0,2M; B và C tại anôt trên đó có
một lớp MnO2 kết tủa sẵn trong dung dịch 0,2M H2SO4; E và F tại anôt Grafit
trong 1M MnSO4 + 0,2M H2SO4; các đường cong liền nét là ở 75°C, đứt nét là ở
90°C
2 Hai phản ứng phụ
Hai phản ứng phụ mà chúng làm giảm hiệu suất dòng điện là sự tạo thành ion
Mn3+ và sự thoát O2
a Sự tạo thành ion Mn 3+ : Khi nồng độ H2SO4 cao và /hoặc nhiệt độ bể thấp,
dung dịch điện phân sẽ trở nên hơi đỏ về mầu sắc do sự tạo thành ion Mn3+ Sự
tạo thành ion Mn3+ trong dung dịch MnSO4+H2SO4 đã được nghiên cứu bởi
Kano et al.[31] và bởi Sugimori và Sekine [33] tương ứng với các anôt grafit và
platin Họ tin rằng MnO4- đầu tiên bị khử rồi sau đó MnO-4 và Mn++ phản ứng
với nhau để tạo ra ion Mn3+ Trong các nghiên cứu, họ đo phổ hấp thụ của dung
dịch Hình 7 chỉ ra các đường cong hấp thụ của Mn2+, Mn3+, MnO4- Nồng độ
Trang 28b Sự thoát Oxy: Sự thoát Oxy là một phản ứng phụ chủ yếu Mặc dù Oxy phân
tử có thể oxyhoá một cách dễ dàng hydroxyt Mn(II) thành MnO2 trong môi
trường kiềm nhưng trong môi trường acid thì điều đó lại không xảy ra Tỉ lệ
phần trăm dòng điện bị lãng phí cho sự thoát Oxy được đưa ra trong Bảng 6[31]
ChiÒu dµi buíc sãng , µm
A B
C D
Hình 7: Phổ hấp thụ của các dung dịch có chứa các dạng khác nhau của ion
Mangan [31]: A, 1M MnSO4 + 3M H2SO4; B, dung dịch KMnO4 loãng; C, dung
dịch A sau một số quá trình điện phân; D, dung dịch A + một lượng nhỏ
KMnO4
3 Cân bằng giữa Mn 3+ , Mn ++ và MnO 2
Cân bằng của phản ứng sau đây được nghiên cứu bởi Weish [34]:
2Mn3+ + 2H2O = MnO2 + Mn++ + 4H+ (50)
Theo các kết quả nghiên cứu, thì phản ứng (50) dường như có thể thiết lập
được cân bằng từ cả hai phía; tuy nhiên, tốc độ phản ứng từ trái sang phải là rất
chậm và phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ (xảy ra càng nhanh tại các nhiệt độ càng
cao), nhưng tốc độ phản ứng từ phải sang trái thì lại tương đối nhanh Các hình 8
và 9 chỉ ra mối quan hệ có được nhờ thực nghiệm đối với [Mn3+] với [Mn++]1/2
Trang 29và [Mn ] với [H2SO4] , mà chúng thống nhất với các mối quan hệ (các công
thức 3.3 và 3.4) nhận được từ biểu thức cân bằng (công thức 3.2)
Bảng 6: Phần trăm tỉ lệ dòng được tiêu thụ bởi ba phản ứng
Khi dung dịch 1M MnSO4 chứa 0.5 ÷ 3.0M H2SO4 được điện phân
tại anôt Grafit ở 1.0 A/dm2 , 75°C [91]
2 2
.
.
+
+ +
=
Mn O H
H Mn MnO
a a
a a a
[ ][ ]
[ 3 ]2
4 2
+
+ +
=
Mn
H Mn
K (3.2)
[Mn3 +]= K'' [Mn2 +]2 (3.3) [ 3 ] '''[ ]2
+ =K H
Mn (3.4) Các giá trị của hằng số K’ đã được tính sẵn trong bảng 7 Hình 10 dưới đây
cho thấy sự thay đổi về nồng độ [Mn3+] theo nhiệt độ dưới các điều kiện đã được
định sẵn Ngoài ra bảng 7 còn cho thấy sự thay đổi giá trị K’ theo nhiệt độ Điều
này có nghĩa là cân bằng chuyển theo sự tạo thành MnO2 (hoặc giảm nồng độ
Mn3+) tại các nhiệt độ cao hơn Sự tạo thành EMD tại nhiệt độ thấp, dựa trên sự
mất cân bằng của Mn3+, được mô tả như một quá trình liên tục bởi Weish [34]
và Araki [35]
Bảng 7: Các giá trị của Hằng số cân bằng
K’ = [Mn2+].[H+]4/ [Mn3+]2
Trang 30[H+] (mol/l)
Trang 31Hình8: Mối quan hệ giữa nồng độ Mn2+ và nồng độ Mn3+ tại thời điểm
cân bằng Các số liệu cân bằng thu được từ dung dịch
số liệu cân bằng thu được từ dung dịch có chứa 20g/l Mn2+ và 200g/l MnO 2 tại
15°C [34]
Trang 320.6 0.4
20 60 100 0.3
0.5 0.7
Hình 10: Nồng độ cân bằng của ion Mn3+ như một hàm của nhiệt độ trong dung
cân bằng của Hydro cách khá xa điện thế cân bằng của Mangan.Vì vậy nếu pH
dung dịch cao, nồng độ Mn2+ thấp (để giảm điện thế phóng điện của Hydro và
tăng điện thế phóng điện của Mangan) và katôt có quá thế thoát Hydro cao thì sẽ
thuận lợi cho Mn phóng điện
Trong quá trình điện phân sản xuất MnO2 cần hạn chế sự phóng điện của
Mn2+ trên katôt Như vậy dung dịch phải có pH thấp (dung dịch axit) và nồng độ
Mn2+ không quá bé Theo Kygpryeba [21] thì nồng độ MnSO4 nhỏ hơn 30g/l thì
có thể xảy ra sự phóng điện của Mn2+ ở katôt Vật liệu katôt cũng ảnh hưởng tới
sự phóng điện của Mn2+ và H+: không nên chọn vật liệu katôt có quá thế thoát
Hydro lớn (katôt Thép) mà nên sử dụng katôt có quá thế thoát Hydro bé như
Chì, Grafit,
Chương 3 : Các phương pháp nghiên cứu tính chất điện hoá của MnO 2
Trang 33Đ1 Phương pháp đo đường cong phân cực
1 Sơ đồ đo đường cong phân cực
Trong sơ đồ bao gồm :
1 : Thiết bị điện hoá potentiostat/galvanostat
2 : Bình điện phân (hình 12): WE là điện cực làm việc(viên MnO2), CE
là điện cực lưới platin Điện cực so sánh RE là điện cực calomen bão
hoà (SCE)
3: Bộ chuyển tín hiệu số thành thành tín hiệu điện và ngược lại
4: Máy tính lưu giữ và xử lý các số liệu đo được
Phương pháp đo đường cong phân cực được thực hiện trên thiết bị điện hoá
(IM6 do hãng Zahner cộng hoà liên bang Đức sản xuất) theo sơ đồ khối trên
hình 11 Tốc độ quét thế là 5mV/s
2 Nguyên lý đo đường cong phân cực
Hình 11 : Sơ đồ khối đo đường cong phân cực
Điện cực nghiên cứu
Hình 12: Bình đo
Trang 34Điện cực làm việc được áp điện thế biến thiên theo thời gian và đo đáp
ứng dòng điện Tại mỗi giá trị của điện thế, máy đo sẽ ghi lại giá trị dòng điện
đáp ứng Các giá trị dòng và thế được máy tính lưu vào bộ nhớ và được xử lý
qua phần mềm Đường cong phân cực I - ϕ được đưa ra màn hình hoặc máy in
3 Đo Tafel
Năm 1905 Tafel giới thiệu phương trình tổng quát :
η = a + blgi
Phần đồ thị η(i) được gọi là đường thẳng Tafel (xem hình 13) Độ dốc của
đường thẳng này được gọi là độ dốc Tafel, chúng dùng để xác định các thông
số động học của phản ứng chuyển điện tích io và α Với giá trị η lớn (η > 0,1V
nếu n = 1) thì các đường trên đồ thị Tafel là đường thẳng
Đối với nhánh anot ηa = aa+ balgi với
α
logI 0
η (mV)
Trang 35Khi ta cho một tín hiệu xoay chiều hình sin có biên độ U0 (Hình 14), tần số
góc ω = 2πf đi qua một hệ điện hoá, trong mạch sẽ xuất hiện một dòng điện đáp
ứng hình sin có biên độ I0 cùng tần số ω nhưng lệch pha một góc φ so với thế đặt
Trang 36Hình 15 : Biểu diễn hình học của Z(ω)
Khảo sát đặc tính tần số Z = f(ω) cho phép ta xác định các đại lượngZ,
Zr , Zi và góc lệch pha φ = arctg(Zi/Zr)
Tổng trở Z bao gồm các thành phần như điện trở, dung kháng và cảm
kháng Nhờ kỹ thuật xử lý toán học ta có thể tính được các giá trị cho Clk, Rdd,
Rct, Rw và cho đến các thông số động học cuối cùng của hệ điện hoá( i0, k0,
D…) Kết quả nhận được thường biểu diễn dưới dạng đồ thị mà người ta thường
gọi là phổ (Nyquits, Bode, )
2 Sơ đồ khối của thiết bị đo EIS
Tổng trở Z của mạch tương đương trong hình 14 có thể biểu diễn bằng
hàm của tần số f = ω/2π như sau :
Z = Rdd +
p lk
p
R C j
R
ω +
Các giá trị RP và Rdd có thể được xác định tương ứng từ giới hạn tần số
cao và tần số thấp của phổ tổng trở đo được theo phương trình sau :
Hình16: Mạch tương đương ứng với hệ điện hoá bị khống
chế bởi quá trình chuyển điện tích
Rdd : điện trở thuần
R P : điện dung của bề mặt điện cực
C lk : điện trở phân cực
Trang 37Trong đồ thị, quan hệ –Zi theo Zr ( phổ Nyquist) sẽ nhận được một cung bán
nguyệt với bán kính bằng (RP – Rdd)/2 Có thể xác định giá trị Rdd và RP từ điểm
cắt của cung này trên trục thực (Zr) Điện dung Clk có thể xác định từ RP và giá
trị tần số fmax của cực đại tổng trở ảo –Zi
2C 2D
nF
RT là hằng số Warburg
b Tổng trở Randles
Trong trường hợp phản ứng điện cực bị khống chế bởi cả giai đoạn
chuyển điện tích và khuếch tán ta có tổng trở Ersler – Randles
2D
C nF
Trang 38Hình 17 : Sơ đồ tương đương của bình điện phân
Điện trở chuyển điện tích Rct thường được xác định bằng cách ngoại suy tổng
trở ở tần số thấp về Zi = 0
5 Biểu diễn tổng trở trên mặt phẳng phức
Nếu hệ thống bình điện phân thoả mãn sơ đồ Randles thì tổng trở sẽ là :
Zbdf = Rdd +
[ 1/2]1
) 1 (
1
−
−
− +
−
+ +
+
+
δω ω
δω
δω
ct lk lk
ct
R C C
2 2 / 1
1
) (
−
−
−
+ +
+
+ +
+
δω ω
δω
δω δ
δω ω
ct lk lk
lk ct
lk
R C C
C R
C
Khi tần số ω → 0thì :
Zr = Rdd + Rct + δω-1/2 và Zi = - δω-1/2- 2.δ2Clk
Phổ nhận được tuỳ theo cách biểu diễn số liệu có 2 dạng với tên gọi là
phổ Nyquit hoặc phổ Bode Đường biểu diễn Zr theo Zi (phổ Nyquit) sẽ là
0
→ ω
ω max =
lk
ct C R
Trang 39R C
R C
ω
ω + Cuối cùng ta có (Zr – Rdd -
Khi có sự hấp phụ còn thấy nửa vòng tròn ở dưới trục Zr khi ω→ 0và khi có
thụ động còn thấy giá trị điện trở âm Phổ bán nguyệt dẹt góc nén θ chỉ thị điện
cực có bề mặt phát triển
Đ3 Phương pháp đo đường cong phóng điện
Các phương pháp đo đường cong phóng điện thông thường bao gồm :
1 Phóng với dòng không đổi
Phương pháp phóng với dòng không đổi dùng để khảo sát sự giảm thế
của điện cực MnO2 theo thời gian Đường cong phóng thu được sẽ có dạng :
Dung lượng của viên MnO2 được xác định như sau :
t (giờ)
U (V)
Hình 19 : Đường cong điện thế phụ thuộc vào thời gian
Trang 40t là thời gian phóng
2 Phóng với điện trở không đổi
Phương pháp phóng điện với điện trở không đổi khảo sát sự biến thiên của
điện thế và dòng điện theo thời gian Các viên MnO2 được phóng với điện trở
không đổi Đường cong phóng điện thu được chỉ ra sự phụ thuộc giữa dòng và
thế theo thời gian như trên hình 20
Đ4 Phương pháp xác định sự biến thiên của nội trở
Để xét sự biến thiên của nội trở, từ đường cong phóng ứng với mỗi giá trị
điện thế U tại thời điểm t sẽ xác định được các giá trị nội trở theo công thức :
RDC =
I
t U
U( − 1 ) − ( )
Ở đây : RDC là nội trở bao gồm phần nội trở thuần, phần điện trở chuyển điện
tích và quá thế do các quá trình khác gây ra
RAC là nội trở thuần ôm của viên MnO2
U(1) là điện thế ban đầu ; U(t) là điện thế tại thời gian t
U(t - 1) là điện thế đo trước điện thế U(t)
Thời gian đàu tiên khi bắt đầu phóng, RDC và RAC có giá trị gần như bằng
nhau, vì lúc chưa có quá trình chuyển điện tích và quá thế do các quá trình
khác gây ra Nhưng sau đó thì quá trình chuyển điện tích và các quá trình khác
xảy ra, do đó nội trở RDC tăng lên, còn RAC vẫn giữ nguyên (Hình 21)
Hình 20 : Đường cong phóng điện
U (V)
t (h)
I (A)
t (h)