1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam

223 510 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 5,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các CĐHT này bao gồm sáu đề tài chung, thời sự, thể hiện mối liên quan chặt chẽ giữa các môn học: năng lượng, môi trường và phát triển bền vững, khí tượng học và khí hậu học, vai trò của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐỖ XUÂN HỘI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết

quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Mai Thị Đắc Khuê

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình từ gia đình, thầy cô, nhà trường và bạn bè Thông qua luận văn, tác giả muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến:

- Gia đình đã luôn luôn mang lại sức mạnh tinh thần cho tác giả;

- TS Đỗ Xuân Hội – GV hướng dẫn trực tiếp - người thầy đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn, định hướng cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn;

- Quý thầy (cô), khoa Vật lí Đại học Sư Phạm, phòng Sau đại học trường Đại học Sư Phạm TPHCM cũng như các anh (chị) lớp Lí luận và phương pháp dạy học môn Vật

lí K22 đã giúp đỡ trong suốt thời gian làm luận văn

Bình Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và làm luận văn

Cuối cùng, xin kính gửi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc đến tất cả mọi người

Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 09 năm 2013

Mai Thị Đắc Khuê

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu 10

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Giả thuyết khoa học 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Những đóng góp của luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÁC CHỦ ĐỀ HỘI TỤ12 1.1 Dạy học tích hợp 12

1.1.1 Các khái niệm 12

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp 13

1.1.3 Vì sao phải thực hiện dạy học tích hợp 14

1.1.4 Các mục tiêu của dạy học tích hợp 17

1.1.5 Một số hình thức tích hợp trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông 18

1.1.6 Các nguyên tắc tích hợp 21

1.2 Tích hợp trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông tại Việt Nam 22

1.2.1 Đặc điểm, nhiệm vụ dạy học môn Vật lí hiện nay ở trường phổ thông 22

1.2.2 Thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lí 23

1.3 Tổng quan về các chủ đề hội tụ ở Pháp 23

1.4 Kết luận chương 1 27

CHƯƠNG 2: CÁC CHỦ ĐỀ HỘI TỤ ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÍ THCS Ở PHÁP 29

2.1 Chủ đề hội tụ 1: Năng lượng 29

2.2 Chủ đề hội tụ 2: Môi trường và phát triển bền vững 37

2.3 Chủ đề hội tụ 3: Khí tượng học và khí hậu học 48

2.4 Chủ đề hội tụ 4: Vai trò của tư duy thống kê trong khoa học 50

2.5 Chủ đề hội tụ 5: Sức khỏe 54

Trang 6

2.6 Chủ đề hội tụ 6: An toàn 61

2.7 Kết luận chương 2 70

CHƯƠNG 3: SỰ THỂ HIỆN CÁC CHỦ ĐỀ HỘI TỤ CỦA PHÁP TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ THCS Ở VIỆT NAM THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM72 3.1 Sự thể hiện các chủ đề hội tụ của Pháp trong chương trình Vật lí THCS ở Việt Nam 72 3.1.1 Chủ đề hội tụ 1: Năng lượng 72

3.1.2 Chủ đề hội tụ 2: Môi trường và phát triển bền vững 73

3.1.3 Chủ đề hội tụ 3: Khí tượng học và khí hậu học 74

3.1.4 Chủ đề hội tụ 4: Vai trò của tư duy thống kê trong khoa học 75

3.1.5 Chủ đề hội tụ 5: Sức khỏe 75

3.1.6 Chủ đề hội tụ 6: An toàn 76

3.1.7 Ý kiến của các giáo viên Vật lí THCS về các chủ đề hội tụ của Pháp trong chương trình, sách giáo khoa Việt Nam 77

3.2 Một số kiến nghị về việc tích hợp các chủ đề trên vào chương trình Vật lí THCS ở Việt Nam 79

3.2.1 Chủ đề hội tụ 1: Năng lượng 79

3.2.2 Chủ đề hội tụ 2: Môi trường và phát triển bền vững 82

3.2.3 Chủ đề hội tụ 3: Khí tượng học và khí hậu học 84

3.2.4 Chủ đề hội tụ 4: Vai trò của tư duy thống kê trong khoa học 86

3.2.5 Chủ đề hội tụ 5: Sức khỏe 87

3.2.6 Chủ đề hội tụ 6: An toàn 89

3.3 Một số nội dung tích hợp đề nghị thêm 91

3.3.1 Lịch sử khoa học 91

3.3.2 Định hướng nghề nghiệp 93

3.4 Thiết kế giáo án một số bài học Vật lí có tích hợp các chủ đề hội tụ 98

3.4.1 Các bước tích hợp nội dung các CĐHT trong dạy học Vật lí 98

3.4.2 Hình thức tổ chức dạy học có tích hợp các nội dung của các CĐHT 99

3.5 Thực nghiệm sư phạm – Kết quả 100

3.5.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 100

3.5.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 102

3.5.3 Nhận xét của giáo viên THCS về những nội dung được tích hợp trong các giáo án đã biên soạn 103

3.5.4 Kết quả thực nghiệm của hai lớp đối chứng và thực nghiệm về nội dung giảng dạy – Ý kiến của học sinh về các hoạt động thực nghiệm 106

3.6 Kết luận chương 3 114

Trang 7

KẾT LUẬN 116

KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG ĐỀ TÀI 118

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 124

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong công cuộc đổi mới hiện nay của nước ta, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, năng lực, sáng tạo có khả năng thích nghi với xu thế toàn cầu hoá là một trong những mục tiêu quan trọng nhất Đại hội Đảng khóa VIII đã khẳng định những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của mọi quốc gia… Hướng bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam nhằm không ngừng gia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân kết hợp với sức mạnh của cả cộng đồng Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Điều 27 của luật GD (2005) có nêu: “Mục tiêu GD PT là giúp HS phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [24, tr.7] Để hiện thực mục tiêu

đó, nội dung nền học vấn PT thường bao gồm nhiều môn học khác nhau Các môn học đó phải liên kết với nhau để cùng thực hiện mục tiêu GD nêu trên Chính đặc trưng này của học vấn PT đã giúp phát triển toàn diện nhân cách của HS, cũng là biểu hiện quan trọng của chất lượng GD PT Tuy nhiên, trong thực tế, DH các môn học nói chung, môn Vật lí nói riêng, việc thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của môn học, cũng như khai thác mối quan hệ giữa các môn học đã không được quan tâm đúng mức Điều đó dẫn đến chất lượng GD PT, mà biểu hiện cụ thể thường là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế, cũng như năng lực giải quyết vấn đề của HS bị hạn chế

Thêm vào đó, các tri thức khoa học và kinh nghiệm xã hội của loài người phát triển như

vũ bão, trong khi quỹ thời gian cũng như kinh phí để HS ngồi trên ghế nhà trường là có hạn thì không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường, cho dù những tri thức này là rất cần thiết Chẳng hạn, ngày nay người ta nhận thấy cần thiết phải trang bị nhiều kỹ năng sống cho HS trong khi những tri thức này không thể tạo thành môn học mới để đưa vào nhà trường vì lí do phải đảm bảo tải học tập phù hợp với sự phát triển của HS Ví dụ, các kiến thức về an toàn giao thông, về bảo vệ môi trường sống, về năng lượng và sử dụng năng

Trang 10

lượng, về hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, các tri thức để định hướng nghề nghiệp

Góp phần khắc phục những hạn chế này của chất lượng GD PT, nhiều nước có nền GD tiên tiến đã nghiên cứu và vận dụng lý thuyết sư phạm TH hay DHTH Theo thống kê của

quan điểm TH ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến TH hoàn toàn theo CĐ Cũng từ 1960, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo quốc tế đã được tổ chức để cung cấp trao đổi

Đức, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…

khai quan điểm TH trong việc xây dựng các CT DH và đổi mới phương pháp DH Định hướng đổi mới nội dung CT nước ta trong những năm sắp tới theo TS Vũ Đình Chuẩn - Vụ

trưởng Vụ GD Trung học (Bộ GD và Đào tạo) là: “CT mới sẽ được xây dựng theo

hướng tiếp cận năng lực; tức là xuất phát từ các năng lực mà mỗi HS cần có trong cuộc sống và kết quả cuối cùng phải đạt các năng lực ấy Theo đó nội dung, phương pháp DH, phương pháp kiểm tra đánh giá đều phải hướng tới năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, trong cuộc sống; coi trọng rèn luyện kỹ năng sống… Nội

huống đời sống và yêu cầu giải quyết vấn đề; TH tránh sự trùng lặp không cần thiết gây nên

sự quá tải của CT” [45]

Hiện nay, các vấn đề như ô nhiễm môi trường, cạn kiệt năng lượng, dịch bệnh nguy hiểm, tai nạn… đã và đang là mối quan tâm lớn của xã hội Làm thế nào để làm giảm sự gia tăng và giải quyết các vấn đề đó là một câu hỏi lớn đang đặt ra Muốn làm được như vậy, việc đầu tiên là làm thế nào để mọi người hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả của chúng Chính

vì vậy, GD ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, an toàn cho mọi người nhất là đối tượng HS – thế hệ mai sau là rất quan trọng Hơn ngành nào hết,

ngành GD phải đi đầu trong việc này

Hãy nhìn lại hệ thống GD nước ta, HS phải học hơn mười môn với mỗi môn có những lượng kiến thức lớn Nếu đưa thêm vào những nội dung đó trong CT sẽ quá sức HS Phải chăng có một biện pháp nào để GD mà không gây quá tải cho HS Câu trả lời ở đây chính là

TH những nội dung đó vào trong CT giảng dạy các môn học

Trang 11

Ở nước ta, việc TH GD môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong một

số môn như: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Công nghệ… đã được triển khai cho các tỉnh và đã

in thành sách cấp phát cho tất cả các tỉnh tham gia tập huấn từ năm 2008 Tuy nhiên, các CT nêu trên chỉ có tính chất định hướng, trong quá trình dạy GV cần nghiên cứu nội dung DH

để bổ sung và hoàn thiện Mặt khác, những kiến thức này không được trình bày rõ ràng trong SGK hoặc trình bày chưa có hệ thống, có một số nội dung lặp lại nhiều lần trong những bộ môn khác nhau

Ở Pháp, các vấn đề đó được gộp lại thành “các CĐHT (thèmes de convergence)” để GD

cho HS Các CĐHT này bao gồm sáu đề tài chung, thời sự, thể hiện mối liên quan chặt chẽ giữa các môn học: năng lượng, môi trường và phát triển bền vững, khí tượng học và khí hậu học, vai trò của tư duy thống kê trong khoa học, sức khỏe, và an toàn Các CĐ này được đưa vào từ năm 2006, là phần bắt buộc trong CT giảng dạy các môn toán học và Khoa học Tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Khoa học về Đời sống và Trái đất), và Lịch sử, Địa lí, nhằm mục đích giúp cho HS có một nền văn hóa khoa học, có một cái nhìn tổng quan về thế giới mà các em đang sống, và cũng cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày HS phải nên có một quan niệm tổng quan và kết hợp về thế giới Quan niệm này được hình thành từ việc khảo sát các CĐ cơ bản cho từng cá nhân và toàn xã hội Việc xây dựng các đối tượng trên phải cho HS nhận thức được sự hội tụ giữa các môn học và phân tích các thực tại của thế giới hiện đại theo một quan điểm tổng quát

trong những mảng kiến thức nào? TH như thế nào? Liệu rằng chúng ta có thể vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài vào thực tiễn nước ta được hay không? Và nếu có thì sẽ vận dụng ra sao? Đó chính là ý tưởng mà đề tài “Nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình Vật

lí THCS ở Pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình Vật lí THCS ở Việt Nam” được

hình thành

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích đưa kiến thức trong SGK đến gần với thực tiễn đời sống và ngược lại, hướng dẫn HS vận dụng những kiến thức này trong đời sống hằng ngày, bằng cách đề nghị TH các CĐHT được thực hiện ở CT Vật lí THCS ở Pháp vào trong CT giảng dạy môn Vật lí THCS ở nước ta một cách hệ thống Qua đó cho phép HS nhận thấy được sự

Trang 12

hội tụ giữa các môn học và có thể phân tích các thực tại của thế giới đương đại theo một cái nhìn tổng thể

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của CĐHT;

Vật lí THCS hiện hành tại Việt Nam;

CT Vật lí THCS ở Việt Nam;

- TNSP để đánh giá tính khả thi của các CĐHT này trong thực tiễn DH Vật lí THCS ở Việt Nam

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khách thể: Quá trình học tập môn Vật lí của HS THCS.

 Đối tượng: Các CĐHT trong CT Vật lí THCS ở Pháp: năng lượng, môi trường và phát

triển bền vững, khí tượng học và khí hậu học, vai trò của tư duy thống kê trong khoa học,

sức khỏe, an toàn

 Phạm vi nghiên cứu: Các CĐHT trong CT Vật lí THCS ở Pháp và ở Việt Nam bao

gồm: năng lượng, môi trường và phát triển bền vững, khí tượng học và khí hậu học, vai trò

của tư duy thống kê trong khoa học, sức khỏe, an toàn

5 Giả thuyết khoa học

Nếu TH hợp lí, có hiệu quả các CĐHT đã được thực hiện ở CT Vật lí THCS ở Pháp vào

phân tích các thực tại của thế giới xung quanh theo một cái nhìn tổng thể, đồng thời cũng cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày

6 Phương pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của DHTH, của các CĐHT;

Trang 13

- Nghiên cứu vận dụng các CĐHT trong CT giảng dạy môn Vật lí THCS ở Pháp vào CT Vật lí THCS ở Việt Nam

 TN sư phạm

7 Những đóng góp của luận văn

 V ề mặt lý luận

- Nghiên cứu sự thể hiện các CĐHT ở Pháp trong CT Vật lí THCS ở Việt Nam

Trang 14

C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÁC CHỦ ĐỀ

HỘI TỤ 1.1 Dạy học tích hợp

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Tích hợp

Theo từ điển tiếng việt: “TH có nghĩa là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ

thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [33, tr.1217]

Theo từ điển GD học: “TH là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy,

học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch DH”

[5, tr.383]

Cũng theo từ điển GD học có hai loại TH: TH dọc và TH ngang

- TH dọc là loại TH dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau

- TH ngang là kiểu TH dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau

1.1.1.2 Khái niệm dạy học tích hợp

DHTH được UNESCO định nghĩa là: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí

khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” (Hội nghị phối hợp

trong CT của UNESCO, Paris 1972) [44] Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và nguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung

Xavier Roegiers cho rằng GD nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực là khái niệm cơ sở của sư phạm

bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực cụ thể có thể dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho quá trình học tập sau này hoặc hoà nhập

HS vào cuộc sống Như vậy, DHTH làm cho quá trình học tập có ý nghĩa (dẫn theo [14])

Theo Nguyễn Văn Khải “DHTH để chỉ quá trình DH, trong đó GV quan tâm xây dựng

các tình huống để HS học cách sử dụng phối hợp các kiến thức, kỹ năng từ các môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, chúng được huy động và phối hợp với nhau, tạo thành một

Trang 15

nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lý luận và thực tiễn được đề cập trong các lĩnh vực đó” [14]

gia Pháp, DHTH có thể được hiểu là:

cơ sở các mối liên hệ lý luận và thực tiễn được đề cập trong các lĩnh vực đó Từ đó, HS thấy được sự “hội tụ” giữa các môn học và có quan điểm tổng hợp khi giải quyết vấn đề

Những tình huống thực tế, thiết thực ở đây chính là những vấn đề đã và đang là mối quan tâm lớn của xã hội Ở Pháp, những vấn đề đó được gộp lại thành CĐHT bao gồm sáu

đề tài chung, thời sự, thể hiện mối liên quan chặt chẽ giữa các môn học: năng lượng, môi trường và phát triển bền vững, khí tượng học và khí hậu học, vai trò của tư duy thống kê trong khoa học, sức khỏe, và an toàn

1.1.2 Tình hình nghiên c ứu và vận dụng dạy học tích hợp

thế giới quan tâm thực hiện Nhiều nước đã và đang tiến hành xây dựng CT theo quan điểm

TH các môn khoa học và môn nghiên cứu xã hội Các nước có nội dung CT thể hiện rõ quan điểm này là Pháp, Nga, Hoa Kì… Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đã thực

10) [18]

Ở nước ta đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng TH vào quá trình

DH để nâng cao chất lượng GD Từ năm 1987, nhóm Trung tâm nghiên cứu nội dung và phương pháp nay là Trung tâm nghiên cứu GD PT nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng môn

nước trên thế giới và kết quả nghiên cứu là môn Tự nhiên và Xã hội cấp tiểu học ở Việt

Trang 16

đề tài nghiên cứu TH GD các mặt bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng hợp lí, an toàn

nhiều môn học riêng lẻ thành một môn học thống nhất Một số công trình khoa học mà tác

giả đã được tham khảo:

nhà trường PT”, Tạp chí GD, (22), tr.12-14

CT GD PT các môn học ở trường PT Việt Nam”, Hội thảo quốc gia về khoa học GD Việt

- Tác giả Dương Tiến Sĩ (02/2002), “Phương thức và nguyên tắc TH các môn học

nhằm nâng cao chất lượng GD – Đào tạo”, Tạp chí GD, (26), tr.21-22

lí để nâng cao chất lượng GD HS”, Tạp chí GD, (176), tr.29-30

Tạp chí GD, (82), tr.19-20

một số bài học Vật lí (CT và SGK cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng GD kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp cho HS THCS, Luận văn thạc sĩ GD, Đại học Thái Nguyên

- Tác giả Trần Thị Tú Anh (2009), TH các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong

Trong các nghiên cứu trên, các tác giả đã đi sâu vào từng khía cạnh của quá trình GD:

TH các môn học để thành một môn học mới; TH một số nội dung như GD nghề nghiệp, các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong DH nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình nhận thức Bước đầu đã vận dụng được tư tưởng sư phạm TH trong DH

1.1.3 Vì sao phải thực hiện dạy học tích hợp

Báo cáo của hội đồng GD thuộc UNESCO về “GD thế kỉ XXI” được đề ra từ năm 1997

với thông điệp: “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” đề xuất “Bốn trụ cột của GD” mà việc học

là hạt nhân, xác định GD phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình cơ bản trong cuộc đời

Trang 17

mỗi con người, chúng là những trụ cột kiến thức chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm:

- Học để biết là thu thập thông tin, chuyển hóa thành kiến thức;

- Học để làm là phải có những khả năng hoạt động sáng tạo tác động vào môi trường

sống của mình;

- Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những người khác trong mọi hoạt động của con người Học để tự khẳng định: tự quyết định, tự chịu trách nhiệm, tự kiểm soát…;

- Học để làm người là sự tiến triển quan trọng nảy sinh từ ba loại hình trên

Như vậy, mục tiêu GD các môn khoa học theo UNESCO là sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu nhân văn, đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của cá nhân, và các phong cách học tập khác với mục tiêu truyền thống hướng tới những nội dung kiến thức và kỹ năng cần thiết phục vụ cho nhu cầu sự phát triển có định hướng nguồn nhân lực cho xã hội

Mục tiêu GD toàn diện của nhà trường PT là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động

và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách

và trách nhiệm công dân

Hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng GD luôn là một trong những quan tâm hàng đầu của toàn xã hội Những nỗ lực thu hút nhân tài, đào tạo đội ngũ cán bộ, GV, tổ chức hội thảo, hội nghị GD của nhà nước trong những năm gần đây… nhằm tìm cách khắc phục những hạn chế trong GD hiện hành đồng thời tìm một hướng đi mới cho GD nước nhà, thể hiện sự cấp bách của nhu cầu nâng cao chất lượng GD Mục tiêu của việc đổi mới CT GD

PT là xây dựng nội dung CT, phương pháp GD, SGK PT mới nhằm nâng cao chất lượng

GD toàn diện cũng như đáp ứng mục tiêu GD thế kỉ XXI mà UNESCO đưa ra “học để biết,

học để làm, học để chung sống và học để khẳng định” Để Đào tạo nên những con người

phát triển toàn diện cũng như đáp ứng mục tiêu GD thế kỉ XXI mà UNESCO đưa ra, nhiều môn học đã được đưa vào trong CT giảng dạy Các môn học đó phải liên kết với nhau để cùng thực hiện mục tiêu GD đã đề ra

Thêm vào đó, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão làm cho lượng tri thức của loài người càng tăng nhanh chóng Vào những năm 60, kiến thức được tăng lên gấp đôi trong vòng bảy năm, nhưng đến giữa những năm 70 thì chỉ còn hai năm Trong vòng sáu

Trang 18

tháng đầu năm 2000 đã có năm triệu trang web mới xuất hiện cho thấy một điều đã đến lúc tri thức không còn tính toán hay kiểm soát được nữa [3] Việc cập nhật tin tức cho các nội dung khoa học của các môn học như Vật lí, Hóa học, Sinh học… đang gia tăng với tốc độ lớn trong khi quỹ thời gian cũng như kinh phí để HS ngồi trên ghế nhà trường là có hạn Do vậy, không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường, cho dù những tri thức này là rất cần thiết

Sự xuất hiện internet đã giúp HS tiếp thu nhiều kiến thức và có nhiều kênh tiếp nhận kiến thức khác nhau Vì thế, sự độc quyền của nhà trường về truyền đạt tri thức đã bị phá

vỡ Điều này đặt ra yêu cầu cần một hướng nghiên cứu khác về tổ chức tri thức cho CT học

là việc tạo ra những lĩnh vực tri thức “mới” bằng cách TH những môn học đã có Khi đó,

HS có thể sẽ học được nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ các tư liệu học tập được biên soạn trong khuôn khổ một CT TH các khoa học một cách hợp lí HS có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn nếu phương pháp DH của GV thực sự chuyển hóa thành phương pháp dạy cách học cho HS, theo cách tiếp cận DH giải quyết vấn đề mà HS là trung tâm quá trình học Cần phải TH các khoa học, dạy cho HS cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế

 Do bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học

Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, các Khoa học Tự nhiên đã nghiên cứu giới tự nhiên theo

tư duy phân tích, mỗi khoa học nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chất Nhưng bản thân giới tự nhiên là một thể thống nhất nên sang thế kỷ XX đã xuất hiện những khoa học liên ngành, giao ngành, hình thành những lĩnh vực tri thức đa ngành,

liên ngành

Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hoá sâu, song song với TH liên môn, liên ngành ngày càng rộng Việc giảng dạy các khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, bởi vậy không thể cứ tiếp tục giảng dạy các khoa học như là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ Mặt khác, khối lượng tri thức khoa học đang gia tăng nhanh chóng mà thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học TH

 Góp phần giảm tải học tập cho HS

Quá trình học tập của HS khi DHTH các môn học sẽ tránh được tình trạng trùng lặp nội dung giữa các môn đó, giảm thiểu khối lượng kiến thức môn học, hoặc thêm thời lượng cho việc DH một nội dung theo qui định, nó góp phần làm giảm tải học tập DHTH tạo ra các

Trang 19

tình huống gắn liền với thực tế cuộc sống để HS vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết chúng Quá trình DHTH làm cho HS thấu hiểu nghĩa của các kiến thức cần tiếp thu nên các em sẽ cảm thấy thích thú hơn trong học tập Từ đó, HS sẽ nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn nhận thức và việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn

1.1.4 Các mục tiêu của dạy học tích hợp

 Làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa và mang tính mục đích rõ rệt

Trong môn học TH, các quá trình học tập không tách rời cuộc sống hàng ngày, mà được tiến hành trong mối liên hệ với các tình huống cụ thể Không còn hai thế giới riêng biệt: thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống Bằng cách đặt quá trình học tập vào các tình huống trong cuộc sống để HS nhận thấy ý nghĩa của các kiến thức, kỹ năng, năng lực cần lĩnh hội Điều đó có ý nghĩa lớn trong việc tạo động lực học tập cho HS, điều mà hiện nay nhiều HS

đã không có được và do đó việc học tập trở nên nặng nề, thiếu niềm vui và hứng thú Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức, kỹ năng, năng lực của HS đều được huy động và gắn với thực tế cuộc sống Khi gặp những tình huống tương tự thì các em có thể biết nên dùng những kiến thức, kỹ năng, năng lực nào để giải quyết cho phù hợp

 Xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cái ít quan trọng hơn

Cái cốt yếu là những kiến thức, kỹ năng cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo Trong thực tế nhà trường có nhiều điều chúng ta dạy cho HS nhưng không thật sự

có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian Chẳng hạn ở tiểu học, HS được biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một bài văn, HS biết trong một kilômét có bao nhiêu centimét nhưng lại không chỉ ra được một mét áng chừng dài bằng mấy gang tay Mục tiêu này đòi hỏi phải lựa chọn kiến thức, kỹ năng cốt yếu xem là quan trọng đối với quá trình học tập của HS và dành thời gian cũng như các giải pháp hợp lí cho chúng

 Dạy cách tìm tòi sáng tạo và vận dụng tri thức vào các tình huống khác nhau

Thể hiện cụ thể là:

- Nêu bật cách thức sử dụng kiến thức đã học;

- Tạo các tình huống học tập để HS vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tự lực

Theo yêu cầu này thì DHTH không chỉ quan tâm đánh giá việc HS hiểu những kiến thức đã học, mà chủ yếu sẽ đánh giá khả năng vận dụng các kiến thức trong các tình huống

có ý nghĩa hay không

Trang 20

 Vượt lên trên các nội dung môn học, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức, các kỹ năng, tạo động cơ, năng lực cho người học

Trong quá trình học tập, HS có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ thống nhất trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp

Tuy có những ưu điểm vượt trội như trên nhưng DHTH cũng có một vài nhược điểm như sau:

- Khi tiến hành DHTH thì người thiết kế kế hoạch giảng dạy phải có suy nghĩ về CT,

về SGK một cách đầy đủ, phải có cái nhìn tổng hợp để TH đúng mức nội dung, kỹ năng, có hiểu biết về cách đánh giá kết quả học tập của HS Việc xây dựng CT và SGK phải do tập thể các tác giả bộ môn xây dựng, phải có suy nghĩ về mục tiêu đã đặt ra và phải vượt qua khỏi tầm nhìn bộ môn thì mới đạt được kết quả

cũng như tâm lí của GV, HS, cán bộ quản lí, phụ huynh nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn cả về công sức và tiền bạc

- Đội ngũ GV còn chưa được chuẩn bị đầy đủ về cả lý thuyết và kỹ năng giảng dạy, do

đó cần tác động vào việc đào tạo GV để họ có thể đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra

chuyên ngành không được sâu sắc như trước

tâm của việc học; thay đổi cách kiểm tra, đánh giá chủ yếu về nội dung kiến thức kỹ năng cần lĩnh hội sang cách đánh giá khả năng vận dụng các kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không

1.1.5 Một số hình thức tích hợp trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông

Theo D' Hainaut có bốn quan điểm TH khác nhau đối với các môn học (dẫn theo [25])

môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ

Trang 21

- Quan điểm “đa môn”: Một CĐ trong nội dung học tập có liên quan với những kiến thức,

kỹ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn học tiếp tục được tiếp cận riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung

- Quan điểm “liên môn”: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kỹ năng của những môn học khác nhau

lực cơ bản mà HS có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết những tình huống khác nhau

Robin Fogarty đã tổng hợp và chỉ ra mười cách TH khác nhau trong CT giảng dạy theo

ba dạng chính: TH trong nội bộ một môn, TH xuyên môn, bên trong và giữa người học [51] Mười mô hình này cung cấp cho khoa học một nền tảng vững chắc để thiết kế các CT đào tạo giúp HS tạo kết nối có giá trị trong khi học tập

Xuất phát từ các cách tiếp cận trên và qua việc nghiên cứu các xu hướng TH của các nước trên thế giới, TS.Cao Thị Thặng đã phân chia ra có hai cách cơ bản TH các môn học/nội dung riêng rẽ thành các môn học mới và TH không tạo nên môn học mới [29]

- TH trong nội bộ môn học: TH những nội dung của các phân môn, các nội dung thuộc cùng một môn học theo những CĐ, chương, bài cụ thể nhất định Ví dụ: TH các phân môn

Cơ học, Điện, Nhiệt học và Quang học trong môn Vật lí; Đại số, Hình học, Lượng giác trong môn Toán…

- TH đa môn: TH một nội dung, một vấn đề trong các môn học khác nhau theo góc độ riêng của từng môn Ví dụ: Nội dung GD môi trường, sử dụng năng lượng hợp lí có thể TH vào các môn như: Vật lí, Hóa học, Sinh học… nhưng mỗi môn có hướng nghiên cứu riêng

một CĐ nào đó trong khi các môn học vẫn độc lập với nhau Ví dụ: CĐ nước, các nội dung như tính chất vật lí, tính chất hóa học, vai trò của nước… đều xuất phát từ các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học Những kiến thức này đều nằm trong phạm vi SGK

các môn học vẫn độc lập với nhau Ví dụ: Trong mỗi CĐ: không khí, năng lượng, nước…

có thể lồng ghép nội dung liên quan của các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí… Những

Trang 22

nội dung này là do HS có nhu cầu tìm hiểu, nội dung này vượt ngoài SGK, gắn liền với thực tiễn đời sống thực của HS

TH này có thể được thực hiện như sau:

cấp học Ví dụ: Các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn đề chung của các Khoa học Tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, HS được đánh giá bằng một bài thi tổng hợp kiến thức

đặn trong năm học Ví dụ: Các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học vẫn được giảng dạy riêng rẽ

HS quen dần với việc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi với nhau

thành môn học mới nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học Ví dụ:

riêng lẻ

Tự nhiên, đến đời sống thực mà HS cần tìm hiểu Ranh giới giữa các môn học không còn nữa mà chỉ có các CĐ

TH này có thể được thực hiện như sau:

+ Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài TH Cách này được

áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung cho nhau, và khai thác tính bổ sung lẫn nhau đó Dạng TH này duy trì những mục tiêu riêng rẽ trong mỗi môn học, đồng thời liên kết các môn học này một cách hài hòa trên cơ sở xây dựng các đề tài Cách tiếp cận này chủ yếu có giá trị trong giảng dạy đối với những đề tài đơn giản, không bảo đảm chắc chắn HS thực sự có khả năng đối phó với một tình huống thực tế

quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học TH Cách này dạy cho

HS cách giải quyết những tình huống phức hợp có sự vận dụng nhiều môn học Dạng TH

Trang 23

này chỉ có thể thực hiện với những môn học nhằm những kỹ năng như nhau và ta có thể phát biểu một mục tiêu TH chung cho những môn học đó

tiểu học hiện hành, việc thực hiện TH theo các hướng: ở các lớp 1, 2, 3 TH các nội dung của

cả hai lĩnh vực trong môn Tự nhiên – Xã hội; lớp 4, 5 TH lĩnh vực tự nhiên trong môn Khoa học và lĩnh vực xã hội trong môn Lịch sử - Địa lí Còn các hình thức TH khác, Việt Nam chưa áp dụng Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu và thử nghiệm các CĐ TH liên môn theo phương pháp DH theo dự án cho thấy việc TH theo hình thức này có thể thực hiện được [17]

1.1.6 Các nguyên tắc tích hợp

Theo [17] khi TH các môn học với nhau thì cần theo những nguyên tắc sau:

 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu: Việc sắp xếp lựa chọn và liên kết các kiến thức và

kỹ năng phải nhằm đạt tới mục tiêu GD của các nội dung cần GD, của môn học, của cấp học

và cả của mục tiêu GD chung

 Đảm bảo tính khoa học, hiện đại: Các kiến thức được TH phải khách quan, phản ánh đúng bản chất sự vật, hiện tượng, có ý nghĩa và phù hợp tâm sinh lí nhận thức của lứa tuổi…

những nét tương đồng trong nội dung và phương pháp có thể bổ trợ cho nhau Khi đó, người học có thể vận dụng dễ dàng trong quá trình học tập, trong cuộc sống

 Đảm bảo tính khả thi

nội dung, môn học và cao hơn nữa là có thể giải quyết được những tình huống thường gặp trong cuộc sống hàng ngày

- Người dạy có đủ điều kiện để tổ chức, hướng dẫn việc học tập

Điều này có thể hiểu là vừa sức đối với cả người học lẫn người dạy

Do đặc điểm cấu trúc CT và SGK các môn học ở trường THCS, THPT hiện nay hướng đến tính hệ thống chặt chẽ của nội dung, tính khoa học bộ môn tương đối sâu, nên việc đưa các nội dung trên vào các môn học trong trường PT cũng phải thực hiện sao cho không ảnh hưởng tới mục tiêu riêng của các môn học Với ý nghĩa như vậy thì dạng TH thứ nhất thường được thực hiện vì nó phù hợp với thực tế nhà trường hiện nay

Trang 24

1.2 Tích hợp trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông tại Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm, nhiệm vụ dạy học môn Vật lí hiện nay ở trường phổ thông

1.2.1.1 Đặc điểm của môn Vật lí ở trường phổ thông tại Việt Nam

- Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, cho nên những kiến thức của Vật lí là cơ sở của nhiều ngành Khoa học Tự nhiên, nhất là của Hóa học và Sinh học;

- Vật lí học ở trường PT chủ yếu là Vật lí TN Phương pháp chủ yếu của nó là phương pháp TN;

thức Vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở HS;

- Vật lí học là cơ sở lý thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong đời sống

và sản xuất;

- Vật lí học là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có khả năng quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy lôgic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chân lí

1.2.1.2 Các nhiệm vụ của việc dạy học Vật lí ở trường phổ thông

Căn cứ vào mục tiêu chung của hệ thống GD quốc dân, của nhà trường PT, căn cứ vào đặc điểm của bộ môn Vật lí, việc DH Vật lí ở trường PT có các nhiệm vụ cơ bản như sau:

năng kỹ xảo tương ứng nhằm làm nền tảng cho họ có thể tham gia lao động sản xuất và tiếp tục theo học những chuyên ngành khoa học kỹ thuật cao hơn ở bậc đại học hoặc tự học, tự bồi dưỡng trong quá trình lao động, sản xuất;

- Góp phần cùng các môn học khác rèn luyện tư duy, bồi dưỡng năng lực sáng tạo

và khả năng tự học cũng như khả năng hoạt động độc lập của HS;

Trang 25

- Góp phần GD kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, GD thẩm mỹ cho HS Các nhiệm vụ trên luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ nhau, được tiến hành đồng thời trong quá trình

DH Vật lí, góp phần tạo ra những con người phát triển hài hoà toàn diện

1.2.2 Thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lí

Nền GD của nước ta trong những năm qua chú trọng thi cử, quan tâm đến dung lượng

và mức độ đồng hóa kiến thức Nhiều kiến thức mới đưa vào mà HS không thấy được sự vận dụng của chúng trong thực tế Việc vận dụng kiến thức chủ yếu được quy về các kỹ năng giải bài tập Vật lí mà cùng với thời gian chúng ngày càng biến tướng thành những dạng bài toán Vật lí lắt léo, đánh đố, xa rời thực tiễn, nhưng lại cần nhiều thủ thuật và thời gian khổ luyện Nhiều môn học được đưa vào trong CT nhưng mỗi môn chỉ khai thác những

vấn đề khác nhau Sau khi học xong CT, HS không thấy được sự “hội tụ” lẫn nhau giữa các

môn học Trong khi thực tế để giải quyết một vấn đề chúng ta phải tổng hợp nhiều môn học

để giải quyết chúng Phải chăng chúng ta cần một giải pháp trong vấn đề này

Ngoài ra, một số rất thiết thực cho cuộc sống của các em và cho xã hội mai sau nhưng chưa được đề cập nhiều trong chương như: vấn đề đạo đức, hướng nghiệp trong môn Vật lí, thái độ của HS đối với các vấn đề nhức nhối của xã hội hiện nay (sức khỏe, môi trường, an toàn….) Việc GD cho HS những vấn đề này là điều rất cần thiết và cấp bách

1.3 Tổng quan về các chủ đề hội tụ ở Pháp

Từ năm 2006, các CĐHT được Bộ GD Quốc gia Pháp chính thức đưa vào CT học cho

HS cấp THCS trên toàn quốc Mỗi CĐ này là một đề tài thiết thực, xuất phát từ đời sống, liên quan mật thiết đến cá nhân, gia đình, tập thể, và cả xã hội Thực tế, trước khi có quyết định này, ý tưởng của mỗi CĐ cũng đã được đề cập đến trong từng môn học, xem như là phần ứng dụng trong đời sống của mỗi môn học này Theo [40], các CĐ này đã được chọn lựa kĩ lưỡng bởi Bộ GD Quốc gia Pháp, là những đề tài quan trọng gần với đời sống xã hội, liên quan đến những mối quan tâm hằng ngày của HS Ý nghĩa của việc khảo sát các CĐ này khơi gợi trong HS những ý thức có tính quyết định Trong khi theo đuổi mục đích riêng của từng môn học, các GV đưa vào nội dung của từng CĐ chứ mỗi CĐ này không phải là từng môn học riêng biệt

Mục tiêu tổng quát

nhiên (Vật lí, Hóa học, Khoa học về Đời sống và Trái đất), và Lịch sử, Địa lí tại Pháp, nhằm

Trang 26

mục đích giúp cho HS có một nền văn hóa khoa học, có một cái nhìn tổng quan về thế giới

mà các em đang sống, và cũng cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày HS cần có một quan niệm tổng quan và kết hợp về thế giới Quan niệm này được hình thành từ việc khảo sát các CĐ cơ bản cho từng cá nhân và toàn xã

hội Việc xây dựng các đối tượng trên phải cho HS nhận thức được sự hội tụ giữa các môn

học và phân tích các thực tại của thế giới hiện đại theo một quan điểm tổng quát Đồng thời cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày

Các CĐHT được đề nghị bởi Bộ GD Quốc gia Pháp

Một số CĐ được lựa chọn để kết hợp các khoa học lại với nhau bằng một loạt các ứng dụng trực tiếp dựa trên nền tảng các môn khoa học Phần các CĐHT này bao gồm sáu đề tài chung, thời sự, thể hiện mối liên quan chặt chẽ giữa các môn học: năng lượng, môi trường

và phát triển bền vững, khí tượng học và khí hậu học, vai trò của tư duy thống kê trong khoa học, sức khỏe, và an toàn

Mỗi CĐ trên đều chứa đựng một số đề tài nhỏ hơn nhằm khai triển ý tưởng tổng quát Mỗi đề tài nhỏ đều được vạch rõ nội dung cụ thể giảng dạy cho mỗi môn học và đều có sơ

đồ nêu ra mối liên quan giữa các môn học (xem một số đề tài ví dụ trong mỗi CĐHT ở chương 2) Theo đó, mỗi Nxb sẽ triển khai các nội dung này theo cách riêng của mình dựa trên ý tưởng tổng quát nhưng không nhất thiết phải theo một khuôn mẫu nhất định Vì vậy, trong chương 2, chúng tôi sẽ trình bày nội dung các CĐHT của hai Nxb lớn ở Pháp: Nxb

cần GD cho HS

Hội tụ giữa các môn

Một số nội dung của một số môn học có những điểm tương đồng ở những CĐHT, những CĐHT này là những vấn đề của môi trường xung quanh Trong một số trường hợp, những CĐHT được đưa ra trong các mục tiêu học tập, trong trường hợp khác, nó chỉ đơn thuần là cung cấp các hoạt động hỗ trợ trong các ngành Sau đây là mối quan hệ giữa các môn học và CĐHT

CHỦ ĐỀ HỘI TỤ

SỰ SỐNG VÀ TRÁI ĐẤT VẬT LÍ – HÓA HỌC

Trang 27

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các môn học và CĐHT

đích của các CĐHT chủ yếu là làm sáng tỏ các vấn đề có tầm quan trọng rất lớn trong xã hội Nó không nên được xem xét như là một tập tối thiểu các kỹ năng để có được

Phương pháp tiếp cận các CĐ này được dựa trên phương pháp tiếp cận đa ngành Nội dung của nó là một phần của các CT của các môn khoa học, nhưng cũng có thể chỉ là mối quan tâm theo CĐ ở các môn thể thao và GD Thể chất, Lịch sử và Địa lí, Nghệ thuật, Công dân, Công nghệ

Trang 28

Hình 1.2: Hình ảnh triển khai các CĐHT trong CT Điện học Vật lí 5eme

Kiến thức Khả năng Ghi chú MẠCH ĐIỆN

Các thí nghiệm không được thực hiện với dòng điện vùng vì lí do an toàn

Máy phát điện cần thiết để thắp

sáng một bóng đèn, để làm động cơ

quay

Máy phát điện chuyển tải điện năng

cho bóng đèn hay cho động cơ để

bóng đèn hay động cơ chuyển đổi

thành dạng năng lượng khác

Một pin quang điện chuyển đổi

năng lượng ánh sáng thành điện

năng

Thực hiện một mạch điện đơn giản cho phép thắp sang một bóng đèn hay làm quay một động cơ

Theo một quy trình cho trước CĐHT: năng lượng

Khi có một máy phát điện, mạch

điện phải đóng để chuyển tải năng

lượng Khi đó có sự vận chuyển của

dòng điện

Trường hợp cần thiết, giáo sư trả lời các câu hỏi quay trở lại bằng “khối lượng” nhưng không tháo gỡ khó khăn này

Nguy hiểm khi có đoản mạch một

máy phát điện Xác định tình thế có đoản mạch của máy phát điện và nguy cơ

tương ứng

Tuân thủ các quy định an toàn

Giáo sư nêu ra những nguy hiểm do thiết bị lấy điện mà các kẹp gắn vào các cực của máy phát điện Sự tiếp xúc giữa cơ thể người với cực dương (pha) và mặt đất hay với cực dương (pha) và cực âm gây ra nhiễm điện hay ngay cả điện giật

CĐHT: an toàn MẠCH ĐIỆN MẮC NỐI TIẾP

Các lưỡng cực cấu thành mạch điện

mắc nối tiếp chỉ tạo ra một vòng Thực hiện một mạch điện mắc nối tiếp nhờ vào một sơ đồ Không khảo sát điốt như một lưỡng cực

Trang 29

lặp

Chiều quy ước của dòng điện

Kí hiệu chuẩn của một bóng đèn,

một máy phát điện, một điốt, một

điốt quang điện (DEL)

Vẽ một sơ đồ mạch điện mắc nối tiếp tuân thủ các quy ước

Lí luận, tranh biện, thực hành một quy trình TN liên quan đến chiều quy ước của dòng điện

Đối với một mạch điện cho trước,

thứ tự của các lưỡng cực không ảnh

hưởng đến hoạt động của chúng

Khẳng định hoặc phủ định giả thiết tương ứng Giáo sư nêu ra những nguy hiểm do thiết bị lấy điện mà các kẹp gắn vào

các cực của máy phát điện Sự tiếp xúc giữa cơ thể người với cực dương (pha) và mặt đất hay với cực dương (pha) và cực âm gây ra nhiễm điện hay ngay cả điện giật

CĐHT: an toàn

Một vài vật liệu dẫn điện; các vật

liệu khác cách điện

Cơ thể người là một vật dẫn điện

Một cái ngắt điện mở hoạt động

như là một vật cách điện; một cái

ngắt điện đóng hoạt động như là

một vật dẫn điện

Khẳng định hoặc phủ định giả thiết về tính dẫn điện hoặc cách điện của một vật liệu CĐHT: an toàn

Lí luận, tranh biện, thực hành một quy trình TN

Khảo sát giới hạn đến các mạch điện chỉ có một nhánh rẽ

Khảo sát về lắp đặt mạch điện nhà ngoài CT

là tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết các nhiệm vụ trong học tập và trong cuộc sống Xét về thiết kế CT

cuộc họp báo ngày 19/09/2013, DHTH không gây xáo trộn về số lượng và cơ cấu GV, không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học DHTH là

Trang 30

thay đổi căn bản ở THPT, bỏ hình thức phân ban, chuyển sang dạy học tự chọn Lớp 11 và

12 học rất ít môn bắt buộc vì thế có thời gian tập trung cho các môn học tự chọn [53]

Các vấn đề GD sử dụng năng lượng hợp lý, GD bảo vệ môi trường, GD an toàn… chưa được quan tâm thực sự và chưa có một bộ môn cụ thể nói về vấn đề này Thêm vào đó, thời gian học tập trên trường của HS là hạn chế nên không thể đưa vào nhiều bộ môn trong CT Nếu như có thể TH những nội dung này có hệ thống, hiệu quả vào trong CT của các bộ môn liên quan thì sẽ nâng cao chất lượng GD cũng như phù hợp với mục tiêu GD thời đại mới

bộ môn học Toán, Ngữ Văn, Ngoại ngữ, Công nghệ, GD công dân… và lồng ghép các vấn

đề như môi trường, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản… vào các môn

học và hoạt động GD [54]

CĐHT là một khía cạnh trong DHTH ở Pháp Việc khai thác các CĐHT ở Pháp nhằm mục đích: giúp cho HS có một cái nhìn tổng quan về thế giới mà các em đang sống; tránh tầm nhìn chia ngăn giữa các ngành; cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày Những CĐHT này là phần bắt buộc giảng dạy trong CT các môn học nhưng không đòi hỏi thêm thời gian giảng dạy và được đưa trực tiếp vào trong SGK Mỗi CĐ sẽ được khai thác ở mức độ từng bộ môn riêng và những CĐ được lựa chọn phải thỏa mãn được cả ba mục đích trên

Nội dung các CĐHT được lựa chọn là những vấn đề đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người nên trong quá trình tìm hiểu cũng như tìm biện pháp giải quyết vấn đề trong bài toán đưa ra sẽ giúp HS có thêm kiến thức, kỹ năng để sử dụng trong đời sống thường ngày

Trang 31

C HƯƠNG 2: CÁC CHỦ ĐỀ HỘI TỤ ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG

Các CĐHT được đề nghị bởi Bộ GD và Quốc gia Pháp bao gồm: năng lượng, môi trường, khí tượng học và khí hậu học, vai trò của tư duy thống kê trong khoa học, sức khỏe,

an toàn Trong chương này, chúng ta sẽ khảo sát chi tiết những CĐ này, ý nghĩa của việc đưa các CĐHT này vào CT học tại Pháp, một số đề tài được định hướng trong mỗi CĐ bởi

Bộ GD Quốc gia Pháp và đồng thời, chúng ta sẽ xem xét việc thể hiện những CĐ này trong từng bộ SGK Pháp như thế nào Sau đây là nội dung chi tiết những điều này:

2.1 Chủ đề hội tụ 1: Năng lượng

Năng lượng được lựa chọn do tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của xã hội loài người, vì sự tăng cao nhu cầu năng lượng trên thế giới, kết hợp với sự không cân đối

liên quan đến nhiều ngành

Mục tiêu

CĐHT này có mục tiêu làm gần lại các quan điểm và làm cho HS quen thuộc với khái

niệm năng lượng với suy nghĩ đa môn học thông qua nhiều ví dụ từ cuộc sống hàng ngày

Công nghệ nghiên cứu sự tiến bộ và kỹ thuật thực hiện Trong việc sản xuất, năng lượng đóng vai trò quan trọng Tiến bộ cần kết hợp với nghiên cứu để tối ưu hóa việc quản lý dự trữ, xuất hiện những kỹ thuật mới

Toán học làm phong phú thêm CĐ cụ thể bằng công thức và sử dụng các kí hiệu khoa học để thiết lập biểu đồ, các bảng dữ liệu và so sánh thống kê về dự trữ, tiêu thụ, triển vọng cho địa phương, quốc gia, toàn cầu Việc sử dụng máy tính là rất cần thiết

Trang 32

Khoa học về Sự sống và Trái đất cho phép HS thấy rằng các nhà máy cần năng lượng để chế biến thực phẩm, khoáng sản, trong khi đó cơ thể người nhận oxi đốt cháy năng lượng để

sử dụng Đây là một cơ hội để nâng cao nhận thức về chế độ ăn uống hợp lí Ví dụ như động đất có liên quan với giải phóng năng lượng Các lực tác động liên tục trên những tảng đá dẫn đến sự tích tụ các năng lượng mà cuối cùng làm cho chúng bị vỡ đột ngột

GD thể chất và thể thao sử dụng khái niệm năng lượng trong tất cả các hoạt động thể chất của HS, bất kể các môn thể thao nào Nó xem xét cụ thể các tác động của kỹ năng vận động và biến dạng vật lí trên cơ thể Nó giúp HS đánh giá và điều chỉnh năng lực của họ đối với các hành động nhằm mục đích giữ gìn sức khỏe

Địa lí cho phép việc xác định vị trí và tầm quan trọng của một số nguồn tài nguyên lớn hoặc các cơ sở tiêu thụ năng lượng đáng kể trên hành tinh như: Hoa Kì, Nhật Bản và Liên minh châu Âu

Lịch sử nghiên cứu các cuộc cách mạng công nghiệp, nghiên cứu các quan điểm công nghệ tiến bộ - có liên quan đến những khám phá khoa học

Một số đề tài ví dụ về CĐ năng lượng đề nghị bởi Bộ GD quốc gia Pháp

 Đề tài 1 : - Con người và năng lượng (sản xuất và chuyển giao)

- Nguồn lực được sử dụng ngày hôm nay, các dạng năng lượng được sử dụng bởi con người,

dự trữ, tiêu thụ: cân bằng năng lượng

 Đề tài 2 : - Quản lý các nguồn tài nguyên năng lượng (hôm nay cho ngày mai)

- Lựa chọn thay thế năng lượng tái tạo và không tái tạo?

Việc hướng dẫn thực hiện ý tưởng này được biểu thị bởi sơ đồ 2.1

 Đề tài 3 : - Năng lượng: Định nghĩa?

- Thế nào là sử dụng năng lượng hợp lí?

- Những công nghệ gì để thực hiện?

 Đề tài 4 : - Năng lượng mặt trời (thu thập, sử dụng hoặc chuyển đổi)

- Nó có thể đáp ứng nhu cầu năng lượng hàng ngày không?

- Chi phí nào để thực hiện?

Sơ đồ triển khai chi tiết đề tài 1, 3, 4 được thể hiện trong phụ lục 2

Trang 33

Hình 2.1: Sơ đồ khai triển đề tài 2 của CĐHT “năng lượng” trong mỗi môn học

QUẢN LÍ CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG

(Hôm nay cho ngày mai)

• Năng lượng tái tạo được và năng lượng không tái tạo được

• Các dạng năng lượng khác?

VẬT LÍ – HÓA HỌC Lớp 9: Các thành phần hóa học trong pin chứa năng lượng hóa

học được chuyển một phần thành các dạng năng lượng khác

Giải thích việc sản xuất điện năng trong nhà máy thủy điện

hay nhà máy điện gió và do năng lượng Mặt trời

Làm thế nào để thu được điện năng?

GIÁO DỤC THỂ CHẤT

VÀ THỂ THAO

SỬ, ĐỊA, GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Trả lời về ý muốn phân hóa

và tự trị

Lớp 6: những tiêu chuẩn lớn về Địa lí: xác định vị trí

những tài nguyên năng lượng chính hiện nay Ai sản xuất, Ai tiêu thụ?

TOÁN Lớp 6, 7: biểu diễn và quản lí dữ liệu Tỉ lệ

Lớp 8,9: so sánh độ lớn, lũy thừa 10, khái

niệm khoa học

Đổi đơn vị, độ lớn sản phẩm

Xử lí dữ liệu

KHOA HỌC VỀ SỰ SỐNG VÀ TRÁI ĐẤT

Lớp 7: Hành động của con người, trong môi trường

địa chất, ảnh hưởng lên sự tiến hóa của cảnh vật

(thảo luận một ví dụ ở địa phương vể trách nhiệm

của con người trong việc quản lí môi trường địa

chất)

Lớp 9: trách nhiệm tập thể vể môi trường (năng

lượng tái tạo được)

CÔNG NGHỆ Lớp 6: (CĐ chuyển tải) từ vật thể kĩ thuật được khảo

sát, xác định các yếu tố của việc biến đổi năng lượng, chỉ ra tính chất ô nhiễm nhiều hay ít của năng lượng

Lớp 7: xây dựng và tổ chức khung cảnh sống – năng

lượng Liệt kê các dạng năng lượng

Lớp 8: sử dụng và làm chủ năng lượng – các dạng năng

lượng, sản xuất năng lượng

Trang 34

Theo [8], ở Pháp có nhiều Nxb tư nhân Các Nxb này, theo luật, không bắt buộc phải xuất bản SGK có nội dung theo đúng CT của Bộ GD Quốc gia ban hành CT chỉ thể hiện tinh thần của kiến thức, kỹ năng Mỗi SGK có thể vận dụng linh hoạt tinh thần này qua việc

bố cục sách, nội dung sách, trình tự học tập… Trong mỗi SGK, nội dung trình bày để khai triển CT rất linh hoạt, không nhất thiết phải theo một trình tự nhất định nào do CT yêu cầu

Ví dụ, trong CT môn Vật lí – Hóa học lớp 5eme, có ba phần chính là điện học, quang học, và nước, thì trong SGK của Nxb Nathan trình bày theo trình tự trên, trong khi ở bộ sách của các NXB Hachette và Bordas thì trình bày theo thứ tự nước, điện học, và quang học

Như đã nói ở trên, dựa trên những đề tài ví dụ, khung CT của Bộ GD và Quốc gia Pháp đưa ra, các Nxb có hoặc không khai thác đề tài đó nhưng lại khai thác đề tài khác mà họ cho

là hợp lí hơn dưới sự đồng ý của của Bộ GD và Quốc gia Pháp Chẳn hạn như trong bài

Nathan lại trình bày về năng lượng biển trong phần kết thúc điện học, xe điện, gió – nguồn

năng lượng mới, đèn điện tiết kiệm trong bài học; SGK của Nxb Bordas trình bày vấn đề tái chế pin trong bài học

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ khai thác các CĐHT dưới góc độ bộ môn Vật lí

và Bordas

Bảng 2.1: Bảng thống kê nội dung CĐHT “năng lượng” được thể hiện trong SGK Vật lí

sáng

Lò năng lượng mặt trời/68

9

Bài 11: Thế năng và năng

lượng hạt nhân

Nhà máy năng lượng hạt nhân/174

Trang 35

đổi

công nghiệp/138 Bài 12: Điện

áp giữa hai đầu

Bài 14: Vôn kế

đo điện áp

xoay chiều

Điện áp 110V hay 220V/227

Bài 15: Công

suất và năng

lượng điện

Tiêu thụ năng lượng điện/243

Đọc hóa đơn tiền

nào?/238

Sau đây là một số nội dung chi tiết của CĐ trên

Lớp 7 Nathan

1 Năng lượng biển (trang 55)

Các chuyển động của biển đôi khi tàn phá, tuy nhiên năng lượng có sẵn trong nó rất đáng kể Nó là một nguồn năng lượng tái tạo, có tiềm

năng cao hơn nhiều so với gió và mặt trời Thách thức

ở đây là sử dụng năng lượng này trong việc chuyển

hóa sự chuyển động của nước thành điện Từ năm

1967, nhà máy thủy điện Rance của dạng năng lượng

này hoạt động

Các tuabin thủy triều như “gió dưới nước” nằm

trong khu vực dòng hải lưu mạnh mẽ Tuabin thủy triều

đầu tiên được thử nghiệm trên sông Odet Dự án thủy

triều Paimpol gồm sáu máy được xây dựng Nó được

Sóng biển là một nguồn năng lượng

Trang 36

xây dựng vào tháng 07/2008 và sẽ đi vào hoạt động năm 2011

“Làn sóng năng lượng” hoàn toàn khác nhau, được thiết kế để sử dụng năng lượng của sóng Sự chuyển động của sóng tạo thành năng lượng điện L’Ecole Central de Nantes hiện đang làm việc trên dự án “làn sóng năng lượng”, các tuabin được đề xuất có kích thước 24

m x 14 m và khối lượng 1000 tấn

a Loại năng lượng nào được sử dụng trong dự án này?

b So sánh nguồn năng lượng tạo bởi tuabin thủy triều và gió?

c Chỉ ra các đặc điểm của biển được sử dụng bởi các tuabin thủy triều và hệ thống năng lượng sóng

Tìm hiểu thêm

phát triển được trong lĩnh vực này

- Tìm kiếm trên internet các quốc gia có nhà máy hoạt động dựa vào năng lượng biển

2 Lò năng lượng mặt trời (trang 68)

Ở dãy núi Pyrenees Orientales, lò năng lượng mặt trời Odeillo là một phòng thí nghiệm của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS),

nơi chúng tôi thực hành về việc chuyển đổi năng lượng

và hoạt động của vật liệu ở nhiệt độ cao, thăm dò vũ trụ

Đối với nhiệt độ lớn trong lò, năng lượng ánh sáng

mặt trời được tập trung bởi sử dụng gương, điều này có

nghĩa là tập trung năng lượng “10000 mặt trời” Trong

tháp, nhiệt độ khoảng cỡ 250oC đến 3500o

C Kính

xoay 63ođể hứng năng lượng ánh sáng trên đĩa parabol

a Lò năng lượng mặt trời hoạt động dựa trên các nguyên tắc nào?

b Tại sao phải xoay để hứng năng lượng mặt trời?

c Nguồn năng lượng mặt trời được chuyển

hóa thành gì trong tháp trung tâm?

Trang 37

1 Tiêu thụ điện năng (trang 243)

Biểu đồ cho thấy sự phân bố năng lượng tiêu thụ điện trung bình trong một hộ gia đình (không bao gồm sưởi ấm)

Câu hỏi bài tập

a Công việc nào tiêu thụ nhiều năng lượng nhất?

b Làm thế nào để tiết kiệm điện trong công việc này?

Tìm hiểu thêm

c.Tìm kiếm trên trang web http://www.defipourlaterre.org/outils các thiết bị sử dụng để tiết kiệm năng lượng

2 Chúng ta có thể đọc được gì trên hóa đơn tiền điện? (trang 238)

Tại cổng vào của hệ thống điện trong một ngôi nhà, đồng hồ đo điện năng là dụng cụ đo năng lượng điện “tiêu thụ” trong các hoạt động hàng ngày

Nhà cung cấp điện cung cấp một hóa đơn để trả giá cho điện năng tiêu thụ, mà còn cho các thông tin về các dịch vụ phân phối điện Những thông tin nào chúng ta được cung cấp trên một hóa đơn tiền điện?

Các thông tin chi tiết được mô tả dưới đây: giờ không thuế suất (HC), giá thuế suất (HP), số ngày tiêu thụ…

Đơn giá cho giờ cao điểm hoặc ngoài giờ cao điểm được hiển thị không bao gồm thuế giá trị gia tăng và các loại thuế địa phương áp dụng đối với giá điện Thuê bao trả trước cho thời gian tới

Phân bố năng lượng điện tiêu thụ trung bình

Trang 38

Khi đọc hóa đơn này, HS sẽ biết được các thông tin sau: biến động giá điện; lượng điện năng tiêu thụ trong giờ thường, giờ cao áp và tổng số điện năng tiêu thụ; số giờ tiêu thụ được trợ giá và không trợ giá; giá 1kWh điện được tính trong giờ thường, giờ cao áp; các loại thuế phụ thu; số tiền phải trả cho công ty điện lực, tiền thuế đóng góp cho Nhà nước và tổng số tiền phải trả Trong khi ở Việt Nam, HS chỉ được học lý thuyết tính giá điện năng tiêu thụ là: giá 1kWh x điện năng tiêu thụ Chính vì vậy mà trong thực tế, HS không tính được tiền điện tiêu thụ trong gia đình

a Bao nhiêu năng lượng điện đã được tiêu thụ trong hóa đơn này?

b Nhà này tiêu thụ bao nhiêu tiền trong một ngày?

c Tổng công suất cung cấp là 6 kW Điều gì sẽ xảy ra nếu máy giặt (2500 W), máy sấy (2600 W) và lò nướng (2000 W) hoạt động đồng thời?

d Các loại thuế nào áp dụng cho giá điện?

Lớp 9 Bordas

1 Năng lượng hạt nhân (trang 123)

Sự khác biệt duy nhất giữa một nhà máy nhiệt điện thông thường và một nhà máy hạt nhân nằm ở chỗ làm thế nào để làm nóng nước, sau đó chuyển thành hơi nước, làm quay tuabin Trong nhà máy điện hạt nhân, nước được

nung nóng bởi lượng nhiệt phát ra khi phá vỡ các

hạt nhân uranium bằng cách bắn phá bởi các hạt nhẹ

hơn Năng lượng này rất lớn vì 1g uranium có thể

sản xuất ra năng lượng điện tương đương với 2,7

tấn than! Nhược điểm là hạt nhân sau khi phóng xạ

rất nguy hiểm

Ngày nay, chúng ta cố gắng sản xuất phản ứng nhiệt hạch trong tự nhiên, trong đó bao gồm việc kết hợp hai hạt nhân của nguyên tử hydro để tạo thành một nguyên tử helium Phản ứng này tạo nhiều năng lượng hơn phân hạch, không tạo ra chất thải phóng xạ CT ITER tại Cadarache được thành lập cho mục đích này

a Điều gì xảy ra khi bắn phá một hạt nhân uranium bằng các hạt nhỏ hơn?

b Phản ứng nhiệt hạch là gì? Lợi thế của nó so với phản ứng phân hạch?

c Hiện nay, tại sao người ta không thể sản xuất năng lượng nhiệt hạch?

2 Công nghiệp phát điện xoay chiều (trang 138)

Sơ đồ nhà máy điện hạt nhân

Trang 39

Nhà máy điện được nối với tuabin công nghiệp, trong đó

có một chuyển động quay Năng lượng cơ học được máy

phát điện chuyển đổi thành năng lượng điện Nhờ tuabin

(hình bên), máy phát điện tạo ra một dòng điện xoay chiều

Nó bao gồm hai phần: phần một di động được được gọi là

roto và một phần cố định được gọi là stato Roto là các nam

châm và stato là thanh đồng

Điều bắt buộc là tất cả các máy phát điện tạo thành một

hệ thống đồng bộ, chúng duy trì với một tốc độ quay chính xác (1500 vòng/phút hoặc 3000 vòng/phút) Các thiết bị tiêu thụ điện được thiết kế để hoạt động với một tần số dòng điện xoay chiều cụ thể Tần số này phụ thuộc tốc độ quay của nhóm, có nghĩa rằng số lần trong 1 giây các nam châm đi qua thanh kim loại dẫn điện của stato

Tại Bắc Mỹ, tần số là 60 vòng/giây; ở châu Âu là 50 vòng/giây

a Nguyên tắc vật lí nào để sản xuất dòng điện xoay chiều?

b Nêu sự khác biệt dòng điện ở châu Âu và Bắc Mỹ?

Tìm hiểu một nam châm điện

2.2 Chủ đề hội tụ 2: Môi trường và phát triển bền vững

Kể từ khi ra đời, loài người thể hiện khả năng tuyệt vời để thay đổi môi trường tương thích với điều kiện sống của mình cho đến ngày nay Khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với tăng trưởng kinh tế và dân số đã dẫn đến việc các tổ chức xã hội hợp tác lại với nhau để giải quyết với những biến động của tự nhiên Giải quyết nhưng không thể tách rời với phát triển bền vững, đó là để nói, một sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai

Mục tiêu

HS phải có một cái nhìn tổng thể về thế giới mà con người đã tương tác làm biến đổi sâu sắc Các em phải nhận thấy được lối sống của mình có ảnh hưởng đến sự biến đổi đó Đồng thời, các em phải đối mặt với những thách thức của thế kỉ XX

Nội dung

Vật lí và Hóa học cung cấp những kiến thức mô tả môi trường, đơn vị và đo lường Khoa học về Đời sống cung cấp các kiến thức về các sinh vật sống và sự đa dạng của chúng Từ việc quan sát môi trường sống của sinh vật, người ta có thể phân tích được mối

Tuabin công nghiệp

Trang 40

quan hệ và đặc tính lí hóa giữa chúng Việc phân tích sự phân bố sống trong một khu vực giúp người ta nhận thức được những hậu quả của việc sửa đổi các yếu tố tự nhiên đối với hoạt động con người

Khoa học về Trái đất đóng góp sự hiểu biết về bản chất, kiến thức về vị trí của tài nguyên, các dạng tài nguyên tái tạo hay không tái tạo được

Toán học cung cấp các công cụ để xử lí và các số liệu để phân tích các hiện tượng phức tạp

Địa lí chỉ ra các khía cạnh vật lí của môi trường sống trong xã hội con người thông qua các nghiên cứu về sự phân bố và các đối tượng chính trong các lĩnh vực: khí hậu, địa sinh học và xác định vị trí của địa hình

GD công dân kêu gọi trách nhiệm của các cá nhân và các công ty môi trường

Công nghệ cần thiết cho sự hiểu biết về các vấn đề môi trường từ hành tinh đến các hoạt động của con người

Thể dục thể thao góp phần vào kiến thức thực tế của môi trường Các hoạt động thể chất được phát triển như leo núi, xe đạp leo núi, chèo thuyền, trượt tuyết đòi hỏi HS phải biết được đặc điểm của môi trường để di chuyển một cách hiệu quả nhất có thể

Một số đề tài ví dụ về CĐ môi trường và phát triển bền vững đề nghị bởi Bộ GD

quốc gia Pháp

 Đề tài 1: Làm thế nào tốt hơn để sống trong thành phố?

Sơ đồ 2.2 cho phép ban soạn thảo SGK cũng như GV hình dung rõ được mối liên quan giữa các bộ môn đối với đề tài 1 của CĐ này

 Đề tài 2: Nước cần thiết cho cuộc sống Làm thế nào để đảm bảo số lượng và chất lượng nước cho toàn thể nhân loại hôm nay và ngày mai

Sơ đồ triển khai chi tiết đề tài 2 được thể hiện trong phụ lục 2

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Tú Anh (2009), TH các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong DH môn Hóa học lớp 12 THCS, Luận văn thạc sĩ GD, Đại học Sư Phạm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: TH các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong DH môn Hóa học lớp 12 THCS
Tác giả: Trần Thị Tú Anh
Năm: 2009
2. Đặng Quốc Bảo (08/2010), “Quan điểm của UNESCO về bốn trụ cột GD”, GD Thủ đô , (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của UNESCO về bốn trụ cột GD”, "GD Thủ đô
3. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về CT và quá trình DH , Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về CT và quá trình DH
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
4. Nguyễn Dược (Tổng chủ biên) – Đỗ Thị Minh Đức (Chủ biên) – Vũ Như Vân – Phạm Thị Sen – Phí Công Việt (2013), Địa lí 9 , Nxb GD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí 9
Tác giả: Nguyễn Dược (Tổng chủ biên) – Đỗ Thị Minh Đức (Chủ biên) – Vũ Như Vân – Phạm Thị Sen – Phí Công Việt
Nhà XB: Nxb GD Việt Nam
Năm: 2013
6. Đỗ Xuân Hội (2007), “Bài giảng phương pháp Problem Based Learning”, Laurent Sting School, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp Problem Based Learning”, "Laurent Sting School
Tác giả: Đỗ Xuân Hội
Năm: 2007
7. Đỗ Xuân Hội, Nguyễn Thị Thu Thủy (2010), “Chiến lược PBL – Vận dụng trong giảng dạy CT Vật lí PT Việt Nam”, Hội thảo khoa học giảng dạy Vật lí, Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam, Hội Vật lí Vieeyj Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược PBL – Vận dụng trong giảng dạy CT Vật lí PT Việt Nam”, "Hội thảo khoa học giảng dạy Vật lí
Tác giả: Đỗ Xuân Hội, Nguyễn Thị Thu Thủy
Năm: 2010
8. Đỗ Xuân Hội (02/2012), “CT và sách giáo khoa Pháp. Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam”, Hội thảo sách giáo khoa thế kỉ XXI, kinh nghiệm thế giới – thực tiễn Việt Nam , Ban Tuyên Giáo Trung Ương và Nxb GD Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CT và sách giáo khoa Pháp. Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam”, "Hội thảo sách giáo khoa thế kỉ XXI, kinh nghiệm thế giới – thực tiễn Việt Nam
Nhà XB: Nxb GD Việt Nam
9. Đỗ Xuân Hội, Mai Thị Đắc Khuê (11/2012), “Tổng quan về triển khai các chủ đề hội tụ trong CT dạy học và sách giáo khoa tại Pháp”, Hội thảo khoa học , Dạy học tích hợp – Dạy học phân hóa trong CT GD phổ thông , B ộ GD và Đào tạo, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về triển khai các chủ đề hội tụ trong CT dạy học và sách giáo khoa tại Pháp”, "Hội thảo khoa học, Dạy học tích hợp – Dạy học phân hóa trong CT GD phổ thông
10. Đoàn Duy Hinh (Chủ biên) – Nguyễn Văn Hoa – Ngô Mai Thanh – Nguyễn Đức Thâm (2012), Bài tập Vật lí 9 , Nxb GD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tậpVật lí 9
Tác giả: Đoàn Duy Hinh (Chủ biên) – Nguyễn Văn Hoa – Ngô Mai Thanh – Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: Nxb GD Việt Nam
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Hoàn (2009), TH các kiến thức về sản xuất điện năng khi dạy một số bài học Vật lí (CT và SGK cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng GD kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp cho HS THCS, Luận văn thạc sĩ GD, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: TH các kiến thức về sản xuất điện năng khi dạy một số bài học Vật lí (CT và SGK cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng GD kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp cho HS THCS
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàn
Năm: 2009
12. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), TH và liên hội hướng tới kết nối trong DH Ngữ văn , T ạp chí GD, (22), tr.21-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí GD
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Năm: 2002
13. Nguyễn Mạnh Hùng (2001), Phương pháp DH Vật lí ở trường THCS , Nxb Đại học Sư Phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp DH Vật lí ở trường THCS
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm TP.HCM
Năm: 2001
14. Nguyễn Văn Khải (11/2007), “Vận dụng tư tưởng sư phạm TH trong DH Vật lí để nâng cao chất lượng GD HS”, Tạp chí GD , (176), tr.29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng sư phạm TH trong DH Vật lí để nâng cao chất lượng GD HS”, "Tạp chí GD
15. Hồ Văn Liên – Vũ Thị Sai (2006), Hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS, Tài liệu bồi dưỡng GV cốt cán ở trường THCS, Nxb Đại học Sư Phạm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS
Tác giả: Hồ Văn Liên – Vũ Thị Sai
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm TPHCM
Năm: 2006
16. Hoàng Phê và các tác giả (2008), Từ điển tiếng việt , Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Tác giả: Hoàng Phê và các tác giả
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
18. Nguyễn Minh Phương, Cao Thị Thặng (02/2002), “Xu thế TH môn học trong nhà trường PT”, Tạp chí GD, (22), tr.12-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế TH môn học trong nhà trường PT”," Tạp chí GD
19. Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Bùi Gia Thịnh (Chủ biên) –Nguyễn Phương Hồng (2012), Vật lí 6 , Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 6
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Bùi Gia Thịnh (Chủ biên) –Nguyễn Phương Hồng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2012
20. Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Bùi Gia Thịnh (Chủ biên) – Dương Tiến Khang – Nguyễn Phương Hồng (2012), Vật lí 8 , Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 8
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Bùi Gia Thịnh (Chủ biên) – Dương Tiến Khang – Nguyễn Phương Hồng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2012
21. Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Đoàn Duy Hinh (Chủ biên) – Nguyễn Văn Hòa – Ngô Mai Thanh – Nguyễn Đức Thâm (2007), Vật lí 9 , Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 9
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Đoàn Duy Hinh (Chủ biên) – Nguyễn Văn Hòa – Ngô Mai Thanh – Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
22. Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Đoàn Duy Hinh (Chủ biên) – Nguyễn Văn Hòa – Ngô Mai Thanh – Nguyễn Đức Thâm (2007), Sách GV Vật lí 9 , Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 9
Tác giả: Vũ Quang (Tổng chủ biên) – Đoàn Duy Hinh (Chủ biên) – Nguyễn Văn Hòa – Ngô Mai Thanh – Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2:  Hình ảnh triển khai các CĐHT trong CT Điện học Vật lí 5 eme - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Hình 1.2 Hình ảnh triển khai các CĐHT trong CT Điện học Vật lí 5 eme (Trang 28)
Hình 1.3:  Bản dịch hình ảnh triển khai các CĐHT trong CT Điện học Vật lí 5 eme - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Hình 1.3 Bản dịch hình ảnh triển khai các CĐHT trong CT Điện học Vật lí 5 eme (Trang 29)
Hình 2.2:   Sơ đồ khai triển đề tài 1 của CĐHT  “ môi trường và phát triển bền vững” trong mỗi môn học - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Hình 2.2 Sơ đồ khai triển đề tài 1 của CĐHT “ môi trường và phát triển bền vững” trong mỗi môn học (Trang 41)
Bảng 3.2: Sự thể hiện CĐHT “môi trường và phát triển bền vững” trong CT Vật lí THCS - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Bảng 3.2 Sự thể hiện CĐHT “môi trường và phát triển bền vững” trong CT Vật lí THCS (Trang 75)
Bảng 3.3: Sự thể hiện CĐHT “khí tượng và khí hậu học” trong CT Vật lí THCS ở Việt - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Bảng 3.3 Sự thể hiện CĐHT “khí tượng và khí hậu học” trong CT Vật lí THCS ở Việt (Trang 76)
Bảng 3.7: Bảng TH đề tài 2 của CĐ “năng lượng” vào CT Vật lí THCS - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Bảng 3.7 Bảng TH đề tài 2 của CĐ “năng lượng” vào CT Vật lí THCS (Trang 82)
Bảng 3.8: Bảng TH đề tài 3 của CĐ “năng lượng” vào CT Vật lí THCS - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Bảng 3.8 Bảng TH đề tài 3 của CĐ “năng lượng” vào CT Vật lí THCS (Trang 83)
Bảng 3.11: Bảng TH đề tài 2 của CĐ “môi trường và phát triển bền vững” vào CT Vật lí - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Bảng 3.11 Bảng TH đề tài 2 của CĐ “môi trường và phát triển bền vững” vào CT Vật lí (Trang 86)
Bảng 3.23: Bảng so sánh phân phối tần suất tích lũy điểm kiểm tra tự luận - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Bảng 3.23 Bảng so sánh phân phối tần suất tích lũy điểm kiểm tra tự luận (Trang 111)
Hình 2  Sơ đồ khai triển một trong các CĐHT về năng lượng - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Hình 2 Sơ đồ khai triển một trong các CĐHT về năng lượng (Trang 149)
Hình 3  Một số nội dung của các CĐHT thể hiện trong SGK vật lý VN - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
Hình 3 Một số nội dung của các CĐHT thể hiện trong SGK vật lý VN (Trang 150)
Hình PL3:  Sơ đồ khai triển đề tài 4 của CĐHT  “năng lượng ”  trong mỗi môn học - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
nh PL3: Sơ đồ khai triển đề tài 4 của CĐHT “năng lượng ” trong mỗi môn học (Trang 154)
Hình PL9:  Sơ đồ hướng dẫn khai triển đề tài 2 của CĐHT  “sức khỏe  ”  trong mỗi môn học - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
nh PL9: Sơ đồ hướng dẫn khai triển đề tài 2 của CĐHT “sức khỏe ” trong mỗi môn học (Trang 160)
Hình PL10:  Sơ đồ hướng dẫn khai triển đề tài 1 của CĐHT  “ an toàn”  trong mỗi môn học - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
nh PL10: Sơ đồ hướng dẫn khai triển đề tài 1 của CĐHT “ an toàn” trong mỗi môn học (Trang 161)
Hình PL11 : Sơ đồ hướng dẫn khai triển đề tài 2 của CĐHT  “ an toàn ” trong mỗi môn học - nghiên cứu các chủ đề hội tụ trong chương trình vật lí thcs ở pháp và đề xuất vận dụng vào chương trình vật lí thcs ở việt nam
nh PL11 : Sơ đồ hướng dẫn khai triển đề tài 2 của CĐHT “ an toàn ” trong mỗi môn học (Trang 162)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w