1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông

130 777 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Trúc Mai MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TR

Trang 1

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Trúc Mai

MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Mã số: 60 14 01 11

PGS.TS Lê Văn Năm

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

tình của các thầy cô, anh chị đồng nghiệp, các em học sinh và của những người thân trong gia đình Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:

- PGS.TS Lê Văn Năm, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện để em hoàn thiện luận văn này

cũng như trong quá trình làm luận văn

pháp dạy học hóa học khóa 22, các thầy cô đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm

vô cùng quí báu cho chúng em trong suốt khóa học

đã tạo điều kiện cho em được học và hoàn thành khóa học cao học Lý luận và phương pháp dạy học khóa 22

những người đã đồng hành và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt 2 năm học vừa qua

thục Hồng Đức, THPT Nguyễn Trung Trực, Quốc tế Á Châu, THPT Vũng Tàu, THPT Nguyễn Đình Chiểu đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thành các thực nghiệm

sư phạm của đề tài

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả những người thân trong gia đình đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ em vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện luận văn này

Nguyễn Thị Trúc Mai

Trang 4

M ỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 2

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

M Ở ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7

5 Phạm vi nghiên cứu 7

6 Giả thuyết khoa học 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9

1.1.1 Các tài liệu, giáo trình về sách giáo khoa 9

1.1.2 Các luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp 11

1.2 Phương tiện dạy học 13

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Phân loại phương tiện dạy học [42] 14

1.2.3 Tác dụng của phương tiện dạy học [42] 15

1.2.4 Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học [42] 16

1.3 Sách giáo khoa 18

1.3.1 Khái niệm 18

1.3.2 Cấu trúc chung của sách giáo khoa [10], [15], [20], [27], [37] 19

1.3.3 Tác dụng của sách giáo khoa [27], [30], [38] 19

1.3.4 Các hoạt động của học sinh với sách giáo khoa [45] 20

1.4 Đổi mới phương pháp dạy học 21

1.4.1 Mô hình ba bình diện về phương pháp dạy học 21

1.4.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [5] 22

1.4.3 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm [5], [46], [52] 23

1.4.4 Dạy học tích cực [5] 25

1.4.5 Dạy học hợp tác [5] 26

Trang 5

1.5 Thực trạng sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 ở một số trường THPT

27

1.5.1 Mục đích điều tra 27

1.5.2 Đối tượng điều tra 28

1.5.3 Tiến hành điều tra 28

1.5.4 Kết quả điều tra 28

CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 THPT 38

2.1 Cơ sở khoa học của việc đề xuất các biện pháp 38

2.1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh khi học tập môn Hóa học 38

2.1.2 Các hoạt động của học sinh khi học tập môn Hóa học 39

2.1.3 Những nhiệm vụ cơ bản của môn Hóa học ở trường phổ thông 40

2.1.4 Đặc điểm của sách giáo khoa Hóa học 10 [10], [30] 42

2.2 Các hình thức sử dụng SGK trong dạy học hóa học 48

2.2.1 Đọc to cho cả lớp nghe 48

2.2.2 Tìm chữ thần 48

2.2.3 Tóm tắt nội dung một đoạn trong SGK 48

2.2.4 Lập dàn ý nội dung bài học theo SGK 49

2.2.5 Dựa vào SGK trả lời các câu hỏi 49

2.2.6 Khai thác thông tin từ hình vẽ, mô hình trong SGK 49

2.2.7 So sánh, phân tích các bảng số liệu trong SGK 50

2.2.8 Dựa vào SGK giải thích các tình huống, các hiện tượng thực tiễn 50

2.2.9 Đặt câu hỏi cho từng nội dung bài học (người học đặt câu hỏi) 51

2.2.10 Làm bài tập với SGK 51

2.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 THPT 52

2.3.1 Tăng thời gian cho HS làm việc với SGK 52

2.3.2 Rèn cho HS các kỹ năng làm việc với SGK 52

2.3.3 Tạo thói quen đọc sách trước khi đến lớp 53

2.3.4 Sử dụng các phương pháp thích hợp với từng nội dung 53

2.3.5 Vận dụng linh hoạt các hình thức sử dụng SGK 54

2.3.6 Kết hợp sử dụng với các phương tiện dạy học khác 55

2.3.7 Tạo hứng thú cho HS khi sử dụng SGK 56

2.3.8 Tăng cường việc kiểm tra, đánh giá 56

2.3.9 Nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên 57

Trang 6

2.4 Một số giáo án có sử dụng các hình thức và biện pháp đề xuất trong dạy học hóa

lớp 10 THPT 57

2.4.1 Giáo án bài "Thành phần nguyên tử" 57

2.4.2 Giáo án bài "Cấu tạo vỏ nguyên tử" 62

2.4.3 Giáo án bài "Khái quát về nhóm halogen" 68

2.4.4 Giáo án bài "Hiđro clorua, axit clohiđric và muối clorua" 72

2.4.5 Giáo án bài "Lưu huỳnh" 76

2.4.6 Giáo án bài "Hiđro sunfua – Lưu huỳnh đioxit – Lưu huỳnh trioxit" 81

2.4.7 Giáo án bài "Axit sunfuric – Muối sunfat" 81

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84

3.1 Mục đích thực nghiệm 84

3.2 Đối tượng thực nghiệm 84

3.3 Nội dung thực nghiệm 84

3.4 Tiến hành thực nghiệm 85

3.4.1 Chuẩn bị 85

3.4.2 Tiến hành hoạt động dạy học trên lớp 85

3.4.3 Tổ chức kiểm tra 85

3.4.4 Phân tích chất lượng học tập của HS 86

3.5 Kết quả thực nghiệm 88

3.5.1 Kết quả về mặt định lượng 88

3.5.2 Kết quả về mặt định tính 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 111

PH Ụ LỤC 115

Trang 7

13 PPNC: Phương pháp nghiên cứu

14 PTDH: Phương tiện dạy học

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Tính cả chương trình hiện hành thì ngành giáo dục nước ta đã tiến hành 4 lần cải cách chương trình giáo dục phổ thông vào những năm: 1950, 1956, 1981 và 2002 Tùy theo hoàn cảnh của từng giai đoạn lịch sử mà mỗi lần cải cách ngành giáo dục lại giải quyết

những vấn đề khác nhau Ở lần cải cách thứ 4 diễn ra khi chúng ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì theo Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09

tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X đã khẳng định "Mục tiêu của việc đổi mới chương

qui định trong Luật Giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình, sách

Như vậy, mục tiêu của việc cải cách lần thứ tư là tập trung đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục và SGK; 3 mục tiêu này có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong

đó SGK là tài liệu thể hiện một cách cụ thể nội dung và phương pháp giáo dục của mỗi môn

học trong chương trình giáo dục Đó là công trình khoa học sư phạm thể hiện mục tiêu giáo dục qui định trong Luật Giáo dục SGK là đối tượng, nội dung và cả phương pháp trong suốt quá trình dạy và học ở nhà trường phổ thông Bộ SGK chứa đựng những kiến thức cơ bản phù hợp với nhận thức của HS, là bộ sách dùng chung cho HS và GV

SGK là phương tiện học tập rất gần gũi với HS Mỗi HS khi đến trường đều được trang bị một bộ SGK theo đúng chương trình học để các em có thể sử dụng cho việc học nhằm mang lại kết quả học tập tốt hơn Nhưng thực tế hiện nay có nhiều HS đã không biết cách sử dụng SGK thế nào cho hiệu quả, thậm chí có những HS cho rằng việc sử dụng SGK trong học tập là không cần thiết Sở dĩ các em có những suy nghĩ và hành động như vậy là

do trong quá trình dạy học GV đã không chỉ cho các em thấy những giá trị tích cực mà việc

Trang 9

sử dụng SGK mang lại, không chú ý hướng dẫn các em dựa vào SGK để truy tìm và lĩnh hội kiến thức Với những trăn trở làm sao để SGK nói chung và SGK hóa học nói riêng có thể phát huy hết vai trò của mình; làm sao để HS hiểu được ý nghĩa của SGK, biết cách sử dụng SGK thành thạo và hiệu quả Đó chính là lí do tôi thực hiện đề tài "MỘT SỐ HÌNH THỨC

VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG"

2 M ục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số hình thức và biện pháp sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp

10 THPT; vận dụng các hình thức, biện pháp này vào trong quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học lớp 10 THPT

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu tổng quan về hướng nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu, hệ thống các kiến thức về cơ sở lý luận của đề tài

- Điều tra thực trạng sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 ở một số trường THPT

- Xây dựng cơ sở khoa học của việc đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 THPT

- Đề xuất các hình thức và biện pháp sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 THPT

- Thiết kế một số bài lên lớp vận dụng các hình thức và biện pháp sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 THPT

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các hình thức và biện pháp sử dụng SGK đã đề xuất

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: SGK, các hình thức và biện pháp sử dụng SGK trong dạy học hóa học ở khối lớp 10

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT

5 Ph ạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Kiến thức môn Hóa học ở khối lớp 10

Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT ở TP HCM, Tiền Giang, Vũng Tàu

Trang 10

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2012 đến 10/2013

6 Giả thuyết khoa học

Nếu hiểu về SGK và có các hình thức, biện pháp sử dụng SGK một cách khoa học thì

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học ở các trường THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài

- Sử dụng phối hợp các phương pháp: phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Thăm lớp, dự giờ, trò chuyện, trao đổi ý kiến với giáo viên và học sinh

- Phương pháp chuyên gia

- Điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp thực nghiệm (Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm giá trị thực tiễn của các kết quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng của những đề xuất)

7.3 Các phương pháp toán học

- Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê toán học

8 Nh ững đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận về SGK

- Đề xuất một số hình thức và biện pháp sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 THPT

- Thiết kế một số bài lên lớp vận dụng các hình thức và biện pháp sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 THPT, giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu kiến thức hóa học, nâng cao hiệu quả của việc dạy và học

Trang 11

C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Những vấn đề về giáo dục luôn được cả xã hội quan tâm và có nhiều nghiên cứu giá

trị Nghiên cứu về giáo dục mà đặc biệt là giáo dục phổ thông thì không thể không nói đến SGK Tuy nhiên, các công trình chuyên sâu về SGK lại chưa nhiều Cứ sau mỗi lần cải cách thay SGK thì những bài viết đưa ra những ý kiến khen, chê xuất hiện tràn lan trên các trang báo Mặc dù, những ý kiến này đã có những đóng góp nhất định để xem xét chỉnh sửa, thay đổi Tuy nhiên việc này lại cần có thời gian để các nhà chuyên môn thảo luận, cân nhắc; trong khi đó HS hàng ngày vẫn phải sử dụng SGK để học tập Do đó thiết nghĩ các nhà giáo

dục, các cơ quan chức năng bên cạnh những ý kiến nhận xét, đánh giá nên tìm ra những biện pháp giúp HS sử dụng tốt hơn bộ SGK đã được ban hành bởi hiện nay mới chỉ có một số công trình nghiên cứu quan tâm về vấn đề này

1.1.1 Các tài liệu, giáo trình về sách giáo khoa

Hiện nay, những vấn đề về lí luận SGK chỉ mới có Nhà xuất bản Giáo dục là nghiên

cứu một cách hệ thống nhất Trong tủ sách nghiệp vụ về SGK, Nhà xuất bản Giáo dục đã

xuất bản 15 tập "Các vấn đề Sách giáo khoa", 3 tập "Thông tin Sách giáo dục" và hơn 10 tập

"Các vấn đề Sách giáo dục"

Trong đó "Các vấn đề Sách giáo dục – Tuyển tập" [27], là công trình tuyển chọn các bài viết có giá trị rút ra từ các Kỉ yếu và các tập sách nghiệp vụ nói trên Tuyển tập đã trình bày những vấn đề cơ bản như: quan niệm về SGK, phương thức biên soạn, mô hình cấu trúc SGK, chức năng của SGK, ngôn ngữ trong SGK, mĩ thuật trong SGK, phương pháp luận đánh giá SGK của nhiều tác giả như: Nguyễn Khắc Phi, Vũ Dương Thụy, Dương Trọng Bái, Trần Kiều, Lê Xuân Trọng, Đỗ Ngọc Thống, Đào Trọng Quan, Nguyễn Quốc Túy và

một số tác giả nước ngoài như: Francois Marie Gerard, Xavier Roegiers Tuyển tập là một tài liệu tham khảo quan trọng khi tìm hiểu về SGK

Bên cạnh tuyển tập trên, "Sách giáo khoa một số vấn đề lí luận và thực tiễn" là nhan

đề phần bốn trong tài liệu "Nguyễn Khắc Phi tuyển tập" [29] do Vũ Thanh tuyển chọn cũng

là một tài liệu rất có giá trị bàn về SGK Ngoài những vấn đề lí luận về SGK, trong các bài

viết tác giả đã nhấn mạnh một số điểm về phương pháp khi tiếp cận SGK làm sao phát huy được ưu thế của phương châm tích hợp

Trang 12

Hay các bài viết: "Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK", "Cơ sở lựa

chọn học vấn phổ thông để xây dựng chương trình môn học", "Về chương trình và SGK phổ thông", "Đổi mới cách viết SGK bậc Trung học", "Những điều kiện ràng buộc đối với công

cuộc đổi mới chương trình và SGK Trung học" của Trần Bá Hoành đi sâu vào nghiên cứu

những mục đích yêu cầu và những định hướng chính cho việc thiết kế chương trình và viết SGK Qua các bài viết tác giả mong muốn chúng ta sẽ có một bộ máy chuyên và một cơ chế đáp ứng nhanh hơn nữa để không ngừng phát triển chương trình phổ thông theo yêu cầu phát triển của đất nước

Về vấn đề "phương pháp làm việc với SGK", hiện nay vẫn chưa có tài liệu chuyên sâu về vấn đề này Chủ yếu được đề cập đến trong các tài liệu, giáo trình về phương pháp

dạy học của các môn học như "Phương pháp dạy học văn" của Phan Trọng Luận và Trương Dĩnh [25], "Phương pháp dạy lịch sử'" của Phan Ngọc Liên [23], "Phương pháp dạy học địa

lí THPT" của Nguyễn Quốc Tuấn [41], "Các phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả" của

Trịnh Văn Biều [5] Các tài liệu này trình bày rất nhiều phương pháp dạy học, đặc biệt là nhưng phương pháp phù hợp với đặc trưng của từng môn học Vì vậy phương pháp làm việc

với SGK (phương pháp sử dụng tài liệu in) chỉ là một phương pháp nhỏ nên vẫn chưa được trình bày chi tiết Ngoài các tài liệu trên, có các bài báo khoa học đã quan tâm đến vấn đề " Rèn luyện kỹ năng làm việc với kênh hình trong dạy học vật lý cho học sinh trung học phổ thông" của Lê Công Triêm, Đỗ Văn Năng trên Tạp chí khoa học, số 68, Đại học Sư phạm Huế [35]; "Biện pháp tổ chức HS diễn đạt nội dung SGK trong dạy học sinh học ở THPT"

của Nguyễn Duân trên Tạp chí Giáo dục, số 227 [14]; Đậu Thị Hòa, Nguyễn Thị Phượng

"Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học với kênh chữ trong SGK Địa lí lớp 10", Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 1 (42) [18]; Nguyễn Thị Khiên "Quá trình sử

dụng câu hỏi tình huống có vấn đề giúp HS tự lực nghiên cứu sách giáo khoa trong dạy học

phần tiến hóa sinh học 12", Tạp chí Giáo dục, số 216 [22] Mặt dù chỉ mới quan tâm nghiên cứu một vài phương pháp sử dụng SGK, nhưng nhìn chung các phương pháp này được nghiên cứu tương đối sâu sắc và phù hợp với SGK từng môn học Đây là những tài

liệu tham khảo rất có giá trị

Riêng về SGK hóa học "Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông" của Nguyễn Xuân Trường [38] đã trình bày: quan niệm, vai trò, chức năng của SGK, giới thiệu

việc biên soạn SGK, đặc biệt tác giả đã đề cập đến việc cho HS dùng SGK "Phương pháp

dạy học hóa học" của Nguyễn Thị Sửu và Lê Văn Năm [30], trong chương 1 của tài liệu này

Trang 13

trình bày: các vấn đề về nguyên tắc xây dựng, nội dung, cấu trúc chương trình và cả những đánh giá về SGK hóa học phổ thông Việc nắm vững những vấn đề này là hết sức cần thiết,

có ý nghĩa to lớn và có tầm quan trọng đặc biệt đối với các hoạt động của GV, các nhà quản

lí và nghiên cứu giáo dục Tài liệu "Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông môn Hóa học" của Nhà xuất bản Giáo dục, "Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Hóa học" của Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể và rõ ràng hơn những đổi mới của giáo dục phổ thông bao gồm: chương trình và SGK cụ thể là SGK hóa học 10, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học

và phương pháp đánh giá kết quả học tập của HS

Nói tóm lại, cho tới hiện nay đã có nhiều tài liệu, giáo trình trình bày những vấn đề lí

luận về SGK Tuy nhiên, để có một hệ thống lí luận về SGK tương đối hoàn chỉnh thì vẫn

cần các nghiên cứu chuyên sâu hơn Đặc biệt cần nhiều hơn nữa các tài liệu hướng dẫn về cách làm việc với SGK để nâng cao kết quả việc dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng

1.1.2 Các luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp

Hiện nay, tại các trường đại học đã có những sinh viên thực hiện các khóa luận tốt nghiệp về sách giáo khoa Cụ thể có một số đề tài như sau:

- Trần Thị Hải (2007), PP sử dụng kênh hình trong SGK Địa lý lớp 10 theo hướng phát huy tính tích cực của HS, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Huế

- Nguyễn Quang Thắng (2011), Phương pháp sử dụng SGK Địa lý lớp 10 theo chuẩn kiến thức kỹ năng, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Huế

- Nguyễn Thị Hòa, Biện pháp hướng dẫn học sinh tự học SGK qua kênh chữ khi dạy

- Đặng Thị Loan (2007), Sử dụng kênh hình trong SGK theo hướng phát huy tính tích

Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Hà Nội

- Phạm Thị Xuân Lương (2007), Một số biện pháp sử dụng kênh hình trong SGK lịch

XVIII (chương trình chuẩn lớp 10 THPT), Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Hà Nội

Bên cạnh các khóa luận tốt nghiệp, cũng đã có một số luận văn nghiên cứu về SGK, phương pháp làm việc với SGK như:

Trang 14

- Trần Ngự Đàn (2008), Sách giáo khoa và phương pháp làm việc với SGK Ngữ văn

- Võ Thị Bích Thủy (2007), Các biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt

[33] Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế

- Lã Hồng Mai Anh (2012), Rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt kiến thức từ

sĩ, [2] Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong số các luận văn thạc sĩ kể trên thì 2 đề tài nghiên cứu của tác giả Võ Thị Bích Thủy và Lã Hồng Mai Anh là những luận văn đã quan tâm đến vấn đề hình thành kỹ năng diễn đạt của HS khi học tập với SGK giúp HS nâng cao hiệu quả tự học Đây là một trong những kỹ năng cần có của HS khi làm việc với SGK Tuy nhiên để khai thác hiệu quả SGK còn cần thêm những kỹ năng khác nữa

Đề tài nghiên cứu của tác giả Trần Ngự Đàn được xem là tương đồng với nội dung đề tài đang nghiên cứu nhất Cụ thể luận văn này gồm các phần như sau:

Nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận cơ bản của sách giáo khoa

Chương 3: Phương pháp làm việc với SGK Ngữ văn 10

3.1 Nhận xét chung về chương trình, SGK Ngữ văn 10

Trang 15

3.3 Sách tham khảo môn Ngữ văn trong thực tế dạy học

Nhận xét: Luận văn đã góp phần hệ thống hóa các luận điểm về SGK giúp GV và

HS hiểu được những điểm cơ bản về phương tiện học tập này Đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc, nội dung và hình thức của SGK Ngữ văn 10 Những cảm nhận của tác giả về

bộ SGK Ngữ văn 10 cũng như bộ SGV, STK Ngữ văn Tuy nhiên, luận văn chỉ nói lên thực

tế dạy và học với SGK Ngữ văn 10 mà chưa đưa ra những phương pháp làm việc cụ thể để nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa, giúp nâng cao hiệu quả dạy và học

1.2 Phương tiện dạy học

đó mà thực hiện nhiệm vụ dạy học"

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hưng: "Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất do giáo viên hoặc (và) học sinh sử dụng dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học, tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học"

Trang 16

Theo PGS.TS Phan Trọng Ngọ: "Phương tiện dạy học là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên và học viên sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học Phương tiện dạy học có chức năng khơi dậy, dẫn chuyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy và người học đến đối tượng dạy học"

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường: "Phương tiện dạy học là một tập hợp vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS Đối với HS, đó là nguồn tri thức phong phú, sinh động, là các phương tiện giúp HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng"

Tóm lại: Có thể hiểu một cách tổng quan PTDH là những công cụ mà người dạy và người học sử dụng nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học

1.2.2 Phân loại phương tiện dạy học [42]

Tùy theo quan điểm sử dụng mà có các cách phân loại phương tiện dạy học khác nhau Tuy nhiên có thể phân loại PTDH theo các cách sau:

- Dựa vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện Phương tiện

dạy học có thể được phân làm hai phần: phần cứng và phần mềm

+ Phần cứng bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các nguyên lý thiết kế về cơ, điện, điện tử theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng Các phương tiện này có thể là: các máy chiếu phim (phim, ảnh, xinê), radio, tivi, máy dạy học, máy tính điện

tử, máy phát thanh và truyền hình Phần cứng là kết quả tác động của sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nhiều thế kỷ Khi sử dụng phần cứng người GV đã cơ giới hóa và điện tử hóa quá trình dạy học, mở rộng không gian lớp học và phạm vi kiến thức truyền đạt

+ Phần mềm là những phương tiện trong đó sử dụng các nguyên lý sư phạm, tâm

lý, khoa học kỹ thuật để xây dựng nên cho người học một khối lượng kiến thức hay cải thiện hành vi ứng xử cho người học Phần mềm bao gồm: chương trình môn học, báo chí, sách

vở, tạp chí, tài liệu giáo khoa, giáo trình

- Dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các phương tiện dạy học thành hai loại:

phương tiện dùng trực tiếp để dạy học và phương tiện dùng để hỗ trợ, điều khiển quá trình dạy học

Trang 17

+ Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học bao gồm những máy móc, thiết bị và dụng cụ được GV sử dụng trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS Đó có thể là:

Máy chiếu, máy chiếu phim dương bản, máy chiếu phim, máy ghi âm, máy quay đĩa, máy thu hình, máy dạy học, máy tính điện tử, máy quay phim

Các tài liệu in (SGK, giáo trình, sách chuyên môn, các tài liệu chép tay, sổ tay tra cứu, sách bài tập, chương trình môn học )

Các phương tiện mang tin thính giác, thị giác và hỗn hợp (băng ghi âm, đĩa ghi

âm, các chương trình phát thanh, tranh vẽ, biểu bảng, đồ thị, ảnh, phim dương bản, phim cuộn )

Các vật mẫu, mô hình, tranh lắp ghép, phương tiện và vật liệu thí nghiệm, máy luyện tập, các phương tiện sản xuất

+ Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học là những phương tiện được

sử dụng để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, có hiệu quả và liên tục

Phương tiện hỗ trợ bao gồm các loại bảng viết, các giá di động hoặc cố định, bàn thí nghiệm, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng

Phương tiện điều khiển bao gồm các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiến trình học tập, về thành tích học tập của HS

- Dựa vào cấu tạo của phương tiện có thể phân các loại phương tiện dạy học thành

hai loại: các phương tiện dạy học truyền thống và các phương tiện dạy học nghe – nhìn hiện đại

+ Phương tiện dạy học truyền thống: là các loại phương tiện dạy học đã được sử dụng lâu đời và ngày nay vẫn còn được sử dụng trong dạy học Và thông thường, phương tiện dạy học truyền thống được hiểu là những đồ dùng trực quan được dùng trong dạy học

+ Phương tiện dạy học hiện đại: chủ yếu là phương tiện dạy học nghe – nhìn, được hình thành do sự phát triển của kỹ thuật, đặc biệt là điện tử

1.2.3 Tác dụng của phương tiện dạy học [42]

Phương tiện dạy học có ý nghĩa to lớn đối với quá trình dạy học

- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính

Trang 18

chất có thể tri giác trực tiếp của chúng Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp

- Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học

- Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt

là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy )

- Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao

Tóm lại, phương tiện dạy học góp phần nâng cao hiệu suất lao động của thầy và trò

1.2.4 Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học [42]

Phương tiện dạy học có tác dụng làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của học sinh, giúp cho học sinh thu nhận được kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan Tuy vậy, nếu không sử dụng phương tiện dạy học một cách hợp lý thì hiệu quả sư phạm của phương tiện dạy học không những không tăng lên mà còn làm cho học sinh khó hiểu, rối loạn, căng thẳng Do đó các nhà sư phạm đã nêu lên các nguyên tắc đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ

Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng lúc

Sử dụng phương tiện dạy học có ý nghĩa là đưa phương tiện vào lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn nhất (mà trước đó thầy giáo đã dẫn dắt, nêu vấn đề, gợi ý ) và được quan sát, gợi nhớ trong trạng thái tâm sinh lý thuận lợi nhất

Hiệu quả của phương tiện dạy học được nâng cao rất nhiều nếu nó xuất hiện đúng vào lúc mà nội dung, phương pháp của bài giảng cần đến nó Cần đưa phương tiện vào theo trình tự bài giảng, tránh việc trưng ra hàng loạt phương tiện trên giá, tủ trong một tiết học hoặc biến phòng học thành phòng trưng bày, triển lãm Phương tiện dạy học phải được đưa

ra sử dụng và cất giấu đúng lúc

Nếu các phương tiện dạy học được sử dụng một cách tình cờ, chưa có sự chuẩn bị trước cho việc tiếp thu của học sinh thì sẽ không mang lại kết quả mong muốn, thậm chí còn làm tản mạn sự theo dõi của học sinh

Trang 19

Với cùng một phương tiện dạy học cũng cần phải phân biệt thời điểm sử dụng: khi nào thì được đưa vào trong giờ giảng, khi nào thì dùng trong buổi hướng dẫn ngoại khóa, trưng bày trong giờ nghỉ, trưng bày ở ký túc xá hoặc cho học sinh mượn về nhà quan sát

Cần cân đối và bố trí lịch sử dụng phương tiện dạy học hợp lý, thuận lợi trong một ngày, một tuần nhằm nâng cao hiệu quả của từng loại phương tiện

Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ

Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ tức là phải tìm vị trí để giới thiệu, trình bày phương tiện trên lớp hợp lý nhất, giúp học sinh có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan để

tiếp thu bài giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trên lớp

Một yêu cầu hết sức quan trọng trong việc giới thiệu phương tiện dạy học trên lớp là phải tìm vị trí lắp đặt sao cho toàn lớp có thể quan sát rõ ràng, đặc biệt là hai hàng học sinh ngồi sát hai bên tường và hàng ghế cuối lớp

Vị trí trình bày phương tiện phải bảo đảm các yêu cầu chung và riêng của nó về điều kiện chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kỹ thuật riêng biệt khác

Các phương tiện phải được giới thiệu ở những vị trí tuyệt đối an toàn cho giáo viên

và học sinh trong và ngoài giờ giảng, đồng thời phải bố trí sao cho không ảnh hưởng đến quá trình làm việc, học tập của các lớp khác

Đối với các phương tiện được cất tại các nơi bảo quản, phải sắp xếp sao cho khi cần đưa đến lớp giáo viên ít gặp khó khăn và mất thời gian

Phải bố trí chỗ cất giấu phương tiện ngay tại lớp sau khi sử dụng để không làm mất tập trung tư tưởng của học sinh khi nghe giảng

Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng cường độ

Nguyên tắc này chủ yếu đề cập nội dung và phương pháp giảng dạy sao cho thích hợp, vừa với trình độ và lứa tuổi của học sinh

Mỗi loại phương tiện dạy học có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Nếu kéo dài việc trình diễn phương tiện dạy học hoặc dùng lặp đi lặp lại một loại phương tiện quá nhiều lần trong một buổi giảng, hiệu quả của nó sẽ giảm sút Theo nghiên cứu của những nhà sinh lý học, nếu như một dạng hoạt động được kéo dài quá 15 phút thì khả năng làm việc sẽ bị giảm sút rất nhanh

Trang 20

Việc áp dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn ở trên lớp sẽ dẫn đến sự quá tải về thông tin do học sinh không kịp tiêu thụ hết khối lượng kiến thức được cung cấp Sự quá tải lớn về thị giác sẽ ảnh hưởng đến chức năng của mắt, giảm thị lực và ảnh hưởng xấu đến việc dạy và học Để bảo đảm yêu cầu về chế độ làm việc của mắt chỉ nên sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 2-3 lần trong tuần và mỗi lần không quá 20-30 phút

Những vấn đề xét ở trên chỉ mới vạch ra con đường giải quyết và những khó khăn gặp phải khi sử dụng phương tiện Việc áp dụng có hiệu quả phương tiện dạy học còn tùy thuộc vào khả năng sáng tạo, kinh nghiệm nghề nghiệp của giáo viên

1.3 Sách giáo khoa

1.3.1 Khái niệm

Theo Đại từ điển Tiếng Việt [44]: “Sách giáo khoa là sách soạn theo chương trình để

Trong Luật Giáo dục, chương 2, mục 2, điều 29 [8]: “Sách giáo khoa cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở những lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giảng dạy phổ thông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa”

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường [38]: “Sách giáo khoa là tài liệu nhằm cụ thể hóa chương trình môn học qua một hệ thống các bài học”

Như vậy có thể hiểu: SGK là tài liệu chính thức được sử dụng để dạy và học trong nhà trường phổ thông, thể hiện một cách cụ thể chương trình của từng môn học thông qua các bài học

Tuy nhiên phải lưu ý phân biệt SGK với tổ hợp giáo khoa Tổ hợp giáo khoa là một

chỉnh thể gắn bó mật thiết của: sách giáo khoa, sách tham khảo, sách công cụ có liên quan đến việc dạy học của GV và HS Trong đó SGK phải là tài liệu giữ vai trò chủ đạo, các loại sách trong tổ hợp phải phụ thuộc vào SGK

Trang 21

1.3.2 Cấu trúc chung của sách giáo khoa [10], [15], [20], [27], [37]

Nhìn chung, SGK của các môn học hoặc đối với cùng môn học cho những lớp học có thể có vài đặc điểm khác nhau trong cấu trúc Về mặt lí thuyết, mô hình cấu trúc SGK thường gồm 3 phần: phần đầu, phần giữa và phần cuối

- Phần đầu SGK mỗi môn học gồm có: trang bìa chính và bìa lót Trên đó ghi tên Bộ Giáo dục và Đào tạo, tên tác giả, tên sách, tên lớp, tên Nhà xuất bản và năm xuất bản Tùy theo từng môn học mà phần đầu có thêm những thông tin khác

- Phần giữa SGK là phần chính của sách, tùy theo đặc trưng bộ môn mà SGK có thể được cấu trúc theo phần hay chương Bên trong các phần hay chương này là các bài học, đó

là những đơn vị kiến thức của môn học được trình bày dưới dạng lời văn, hình ảnh (ảnh chụp, tranh vẽ, sơ đồ, lược đồ, bản đồ…) và những chỉ dẫn về cách tiến hành các hoạt động học tập để lĩnh hội các đơn vị kiến thức

- Tùy theo tính chất của môn học mà nội dung phần cuối khác nhau, phần cuối SGK thường có: mục lục của SGK, mục lục tra cứu, phần phụ lục

1.3.3 Tác dụng của sách giáo khoa [27], [30], [38]

SGK là phương tiện dạy và học rất quan trọng đối với GV và HS SGK có những tác dụng sau đây:

HS là đối tượng phục vụ hàng đầu của SGK Những tác dụng mà SGK mang lại cho đối tượng này là rất lớn, có thể liệt kê như sau:

- Cung cấp cho HS những kiến thức, kỹ năng cơ bản, hiện đại, thiết thực và có hệ thống theo những quy định trong chương trình của môn học

- Góp phần hình thành cho HS phương pháp học tập tích cực, khả năng tự học, tự nghiên cứu môn học SGK là tài liệu quan trọng nhất để HS tự học, tự tiếp thu tri thức cần thiết cho bản thân

- Tra cứu, tham khảo: SGK được coi là một công cụ tin cậy, có tính thuyết phục cao đối với HS, giúp cho HS tìm kiếm được những thông tin chính xác, phù hợp với lứa tuổi,

với trình độ hiện tại của HS

Trang 22

- Tạo điều kiện cho HS tự kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, tự khẳng định khả năng của mình đối với môn học, từ đó mà có những biện pháp cụ thể để tự bổ sung kiến thức và kỹ năng cho mình

- Giúp HS củng cố và vận dụng những hiểu biết trong những tình huống khác nhau của thực tiễn, đảm bảo sự bền vững và tính hiệu quả của kiến thức và kỹ năng cho HS Đồng thời giúp HS liên kết những kiến thức kỹ năng đã học với cuộc sống và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng

- Phát triển ở HS khả năng ứng xử, có hành vi văn minh, giúp họ ý thức được vị trí

của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội Góp phần chủ yếu trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và nhân cách cho HS

- Chuẩn bị và tạo điều kiện cho HS tiếp tục học lên hoặc vào các trường học nghề hoặc tham gia các hoạt động của đời sống xã hội

SGK không chỉ phục vụ cho quá trình học của HS mà còn phục vụ cho quá trình dạy

của GV, cụ thể như sau:

- Quy định phạm vi và mức độ kiến thức, kỹ năng mà GV cần phải chuyển tải đến

- Là phương tiện dạy học của GV trong các giờ lên lớp

1.3.4 Các hoạt động của học sinh với sách giáo khoa [45]

SGK là nguồn cung cấp tri thức quan trọng cho học sinh, ngoài ra SGK còn là tài liệu hướng dẫn chỉ đạo học tập rất hiệu quả, giúp HS đạt lượng kiến thức cần thiết của môn học Khi làm việc với SGK môn học HS có thể thực hiện các hoạt động sau:

- Tìm thông tin: HS có thể dựa vào mục lục của sách hay dựa vào câu hỏi của GV đặt

ra để tìm thông tin

- Tiếp nhận thông tin: Sau khi đọc các đoạn văn, xem hình vẽ, tra cứu số liệu trong SGK, HS sẽ thu nhận những thông tin vào trong trí óc

Trang 23

- Định hình thông tin: Thông tin ban đầu thu nhận được chỉ là những kiến thức ở

dạng thô Từ những thông tin này, HS cần xác định cho được ý chính, ý phụ

- Chế biến thông tin theo mục đích đặt ra: Tùy theo yêu cầu đặt ra mà HS phải gia

công các thông tin thành các ý để diễn đạt

- Vận dụng thông tin trong phạm vi nhất đinh: Có thể vận dụng thông tin để giải bài

tập, để giải thích hiện tượng, để chứng minh giả thuyết

1.4 Đổi mới phương pháp dạy học

1.4.1 Mô hình ba bình diện về phương pháp dạy học

Mô hình ba bình diện về phương pháp dạy học của Meier được thể hiện như sau:

Hình 1.1 Mô hình ba bình diện về phương pháp dạy học của Meier

Trong đó:

- Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hoạt động, phương pháp,

trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lí thuyết của

lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò

của GV và HS trong quá trình dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính

Quan điểm dạy học

Phương pháp dạy học

Kĩ thuật dạy học

- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

- Dạy học tích cực

- Dạy học hợp tác

- Dạy học tương tác

Phương pháp: nghiên cứu, đàm thoại,

nêu vấn đề, hoạt động nhóm, dạy học

Trang 24

chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học Mỗi quan điểm dạy học bao hàm nhiều phương pháp khác nhau

Ví dụ: Quan điểm dạy học tích cực bao hàm: phương pháp nghiên cứu, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đàm thoại

- Phương pháp dạy học (nghĩa hẹp) là những hình thức, cách thức hành động của GV

và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể PPDH cụ thể quyết định những hoạt động của GV và HS Các phương pháp dạy học được thể hiện trong các hình thức xã hội và các tiến trình phương pháp Mỗi phương pháp có thể thuộc một hoặc nhiều quan điểm

Ví dụ: Phương pháp hoạt động nhóm có thể thuộc quan điểm dạy học tích cực, hoặc cũng có thể thuộc quan điểm dạy học hợp tác

- Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hoạt động của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Kỹ thuật dạy học thường gắn với một công việc cụ thể Các kỹ thuật dạy học chưa phải là các PPDH độc lập mà là các thành phần của PPDH và được hiểu là đơn vị nhỏ nhất của PPDH Sự phân biệt giữa KTDH và PPDH nhiều khi không rõ ràng

Ví dụ: Phương pháp não công hoặc cũng có thể gọi là kỹ thuật não công

1.4.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [5]

Đổi mới phương pháp là một quá trình liên tục phát huy, kế thừa những tinh hoa của giáo dục truyền thống và tiếp thu có chọn lọc những phương pháp hiện đại Trên thế giới và

ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học theo các hướng khác nhau Sau đây là một số xu hướng đổi mới cơ bản:

- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm

từ hoạt động của GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá

Tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo

- Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời Không

chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp

tự học để thực hiện phương châm học suốt đời

Trang 25

- Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống

thực tế Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng

kiểm tra thích hợp với từng môn học

- Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển

của HS, theo cấp học, bậc học)

1.4.3 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm [5], [46], [52]

Về tên gọi, “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” được các nhà nghiên cứu, các nhà PPGD gọi bằng nhiều tên khác nhau (như: "dạy học hướng vào người học", "dạy học hướng tập trung vào học sinh") Một số người cho rằng đó là một đường hướng, một số khác cho rằng đó là một tư tưởng, một quan điểm giáo dục, một số khác nữa cho rằng nó là một phương pháp

Thực chất của quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, đó là hệ phương pháp dạy - học tích cực lấy người học làm trung tâm còn gọi là hệ PP dạy - tự học, được xem như

là một hệ thống PPDH có thể đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục trong thời kỳ đổi mới hiện nay Có thể hiểu quan điểm này như sau:

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đặt người học vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy - học, xem cá nhân người học - với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người - vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện thiết bị hiện đại, để cho tiềm năng của mỗi HS được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào việc xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội

Trang 26

1.4.3.2 Đặc trưng dạy học lấy học sinh làm trung tâm

- Tôn trọng người học; đề cao vai trò, lợi ích của người học; để người học tự phát triển

- Người học vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá trình

- Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện cho HS kỹ năng nắm bắt vấn đề, kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức và năng lực giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn

- GV có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, điều khiển các hoạt động dạy và

học

- HS chủ động tìm tòi, sáng tạo, tham gia các hoạt động để chiếm lĩnh tri thức

- Đổi mới khâu kiểm tra – đánh giá: GV đánh giá HS và quan trọng là HS tự đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau

- Giúp người học sớm thích nghi với đời sống xã hội, hòa nhập với cộng đồng

- Coi trọng lợi ích, nhu cầu, hứng thú và sự phát triển nhiều mặt của người học

- Phát huy cao nhất các năng lực tiềm ẩn của người học

- Hình thành cho người học phương pháp học tập khoa học, năng lực sáng tạo, phát

hiện và giải quyết vấn đề, khả năng vận dụng kiến thức, thích ứng với môi trường

- Chọn lọc những kiến thức giúp người học đáp ứng các yêu cầu của nghề nghiệp và

cuộc sống Chú ý các kỹ năng mềm

- Dạy cái học sinh cần chứ không phải dạy cái người thầy có

- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học

- GV không chỉ truyền đạt kiến thức mà quan trọng hơn là tổ chức ra những tình

huống học tập kích thích trí tò mò, tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, hướng dẫn học sinh học tập

- Người học được tham gia vào quá trình đánh giá, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

Trang 27

1.4.4 Dạy học tích cực [5]

Dạy học tích cực là các phương pháp dạy học hướng đến việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, điều khiển và định hướng của người dạy nhằm đạt được kết quả tối ưu của quá trình hoạt động nhận thức

Dạy học tích cực đồng nghĩa với việc học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học

Một số phương pháp dạy học tích cực:

- Phương pháp dạy học theo mục tiêu

- Phương pháp dạy học theo dự án

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Phương phápdạy học tích hợp

- Phương pháp seminar

- Phương pháp dạy học theo chủ đề

- Phương pháp dạy học thuyết trình theo chủ đề

- Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp đóng vai

- Phương pháp dạy học tình huống

- Phương pháp não công

- Phương pháp hoạt động nhóm

- Phương pháp bể cá

- Phương pháp sử dụng SGK, tài liệu học tập

- Phương pháp sử dụng phiếu câu hỏi

- Phương pháp lấy thông tin phản hồi

- Sử dụng câu hỏi để phát huy tính tích cực

- Sử dụng bài tập để phát huy tính tích cực

- Đặt trọng tâm vào hoạt động của người học

Trang 28

- Tính chủ động, tự lực, tích cực, của mỗi cá nhân được tăng cường

- Coi trọng hoạt động tổ chức, điều khiển của giáo viên trong quá trình dạy học

- Các mối quan hệ tương tác giữa thầy – trò, trò – trò phong phú và đa dạng

- Tính vấn đề cao của nội dung dạy học

- Mang lại kết quả học tập cao

Khuyến khích sự tham gia chủ động, độc lập sáng tạo của học sinh vào quá trình học tập

- Tạo điều kiện cho người học phát triển tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo

- Tạo điều kiện cho người học phát triển năng lực giải quyết vấn đề

- Tạo điều kiện cho người học hiểu sâu và nắm vững kiến thức

- Góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quá trình dạy học

- Tạo điều kiện cho người dạy phát triển năng lực tổ chức, điều khiển khả năng ứng

xử sư phạm và năng lực hợp tác

1.4.5 Dạy học hợp tác [5]

- Phương pháp dạy học hợp tác là các phương pháp dạy học có sự tương tác giữa những người học với nhau dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên

- Phương pháp dạy học hợp tác bao gồm: phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp seminar, phương pháp não công, Phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai…

- Đặt trọng tâm vào hoạt động của người học

- Mức độ tương tác và liên thông cao giữa các thành viên với nhau

- Tính chủ động, tự lực, tích cực của mỗi cá nhân được tăng cường

Trang 29

- Có bầu không khí dễ chịu, sự quan tâm và khoan hoà, tự do trao đổi thông tin thân mật, trò chuyện bình thường thoải mái giữa các thành viên

- Sự giao tiếp đa phương và đa chiều Những ý tưởng có thể bắt nguồn từ bất cứ người nào và sự phản ứng cũng có thể từ bất cứ ai

- Tính vấn đề cao của nội dung dạy học

- Mang lại kết quả học tập cao

- Góp phần nâng cao tính chủ động, sáng tạo của người học

- Phát triển kỹ năng giao tiếp và diễn đạt bằng ngôn ngữ một cách dễ dàng

- Góp phần gây hứng thú học tập qua quá trình tư duy, tranh luận tích cực giữa các thành viên trong nhóm

- Góp phần nâng cao năng lực hợp tác, khả năng làm việc theo nhóm, kỹ năng phân tích, giải quyết vấn đề, kỹ năng trình bày, bảo vệ và phản biện ý kiến trước đám đông

- Tăng sự đoàn kết giữa các thành viên trong tập thể

- Giúp cho người dạy phát triển năng lực tổ chức, điều khiển khả năng ứng xử sư phạm và năng lực hợp tác

1.5 Thực trạng sử dụng SGK trong dạy học hóa học lớp 10 ở một số trường THPT

1.5.1 Mục đích điều tra

Khi tiến hành điều tra chúng tôi đặt ra những mục tiêu chính sau đây:

- Tìm hiểu tình hình sử dụng sách giáo khoa trong việc dạy học hóa học ở trường THPT

- Tìm hiểu nguyên nhân, những khó khăn trong việc sử dụng SGK trong việc dạy học

hóa học ở trường THPT

- Tìm các hình thức và biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng SGK trong dạy học hóa học ở trường THPT

Trang 30

1.5.2 Đối tượng điều tra

GV hóa học THPT ở các loại hình trường từ chuyên, công lập, tư thục đến Giáo dục thường xuyên

Bảng 1.1 Số liệu GV các trường tham gia khảo sát ý kiến

1 HV lớp ôn thi đầu vào cao học LL&PPDH Hóa học K23 41

2 HV lớp cao học LL&PPDH Hóa học K22 12

3 GV trường Quốc tế Á Châu, cơ sở Cộng Hòa 4

6 GV trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, Tiền Giang 7

7 GV trường THPT Vũng Tàu, Bà Rịa Vũng Tàu 4

1.5.3 Tiến hành điều tra

Chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi và sử dụng phiếu tham khảo ý kiến với GV: phát 80 phiếu tham khảo ý kiến đến GV các trường THPT ở các tỉnh và thu về 73 phiếu

1.5.4 K ết quả điều tra

Từ kết quả thu được chúng tôi thống kê, xử lí số liệu theo 1 trong 2 cách sau:

ni: Số GV lựa chọn mức độ i

- Cách 2: Tính phần trăm

X% = n i *100%

n

Trong đó: ni: số GV lựa chọn ý kiến thứ i

n: Số GV tham gia thực nghiệm

Câu 1 Thầy/cô cho biết ý kiến của mình về mức độ cần thiết của việc sử dụng SGK khi dạy học hóa học

Trang 31

Bảng 1.2 –Mức độ cần thiết của việc sử dụng SGK khi dạy học hóa học

Lựa chọn Số phiếu Phần trăm

 Rất cần thiết 24 32,88%

 Bình thường 9 12,33%

* Nhận xét: Dựa vào số liệu thu được ta thấy, đa số GV đều cho rằng sử dụng SGK

trong dạy học hóa học là cần thiết và rất cần thiết, không có GV nào phủ nhận điều này và chỉ có một số ít cho là bình thường Như vậy hầu hết GV cho rằng SGK hóa học là một phương tiện dạy và học không thể thiếu ở trường THPT

Câu 2 Theo thầy/cô việc sử dụng SGK khi dạy học hóa học có những tác dụng nào

dưới đây ? (Có thể đánh dấu X vào nhiều lựa chọn)

Bảng 1.3 – Tác dụng của việc sử dụng SGK khi dạy học hóa học

 Tận dụng được nguồn kiến thức có sẵn 69 94,52%

 Thầy và trò đều đỡ mất công sức (giảng

Ý kiến khác………

* Nhận xét: Nội dung kiến thức trong SGK được chọn lọc và trình bày một cách

khoa học, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng học sinh Vì vậy mà hầu hết các GV đều đồng tình việc sử dụng SGK trong DHHH sẽ tận dụng được nguồn kiến thức có sẵn (94,52%) Đồng thời, sử dụng SGK sẽ góp phần rèn cho HS cách tự học, tạo tiền đề cho việc học tập suốt đời (83,56%) Các tác dụng còn lại của việc sử dụng SGK cũng được các GV lựa chọn tuy ở mức độ thấp hơn: thầy – trò đều đỡ mất công sức (67,12%), HS nhớ bài tốt hơn (50,67), tiết kiệm thời gian (46,58)

Trang 32

* Nhận xét: SGK là một PTDH không thể thiếu trong quá trình DHHH ở trường

THPT, chính vì vậy trong quá trình dạy học hầu hết các GV đã chú ý đến việc sử dụng SGK

và đã tổ chức cho HS sử dụng khi học tập hóa học Tuy nhiên, có một số GV do có những khó khăn khách quan cũng như chủ quan đã không hoặc rất ít khi tổ chức cho HS sử dụng SGK

Câu 4 Thầy/cô đã tổ chức cho học sinh sử dụng SGK dưới hình thức nào và mức độ

sử dụng của chúng ? (mức độ 1: không sử dụng, Mức độ 2: thỉnh thoảng, mức độ 3: bình thường, mức độ 4: thường xuyên, mức độ 5: rất thường xuyên)

Bảng 1.5 – Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức cho HS làm việc với SGK

2 Dựa vào SGK trả lời các câu

Dựa vào SGK giải thích các

tình huống lí thuyết hoặc các

hiện tượng thực tiễn

9 18 24 14 8 2.92

7 Khai thác thông tin từ hình vẽ, 7 23 24 12 7 2.85

Trang 33

* Nhận xét: Dựa vào số liệu ở bảng 1.4 cho thấy GV tổ chức cho HS sử dụng SGK

chỉ tập trung vào một số hình thức quen thuộc, dễ sử dụng như: sử dụng SGK để chuẩn bị trước khi lên lớp (4,01); dựa vào SGK trả lời các câu hỏi (3,84), đây là 2 hình thức được sử dụng thường xuyên nhất Xếp theo sau là các hình thức: tóm tắt một đoạn trong SGK (3,29); làm bài tập với SGK (3,21); so sánh, phân tích các bảng số liệu (3,10) Những hình thức còn lại vẫn được các GV sử dụng nhưng với mức độ thấp hơn

Câu 5 Thầy/cô đánh giá mức độ hiệu quả việc sử dụng SGK khi dạy học hóa học hiện nay như thế nào ?

* Nhận xét: Mặc dù cho rằng cần phải sử dụng SGK trong dạy học hóa học và các

GV cũng đã tổ chức cho HS sử dụng SGK trong dạy học hóa học Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy việc sử dụng này đạt hiệu quả chưa cao (2,77 – là giá trị nằm giữa mức thấp và trung bình) Vậy có những khó khăn nào khi sử dụng SGK trong dạy học hóa học Điều này

sẽ được tìm hiểu trong mục tiếp theo

Trang 34

1.5.4.2 Những khó khăn của giáo viên khi sử dụng SGK trong dạy học hóa học ở trường THPT

Câu 6 Thầy/cô có những khó khăn nào khi cho học sinh sử dụng SGK ? (Có thể đánh dấu X vào nhiều lựa chọn)

Bảng 1.7 – Những khó khăn khi cho HS sử dụng SGK

 HS không nhận ra tầm quan trọng của việc

* Nhận xét: Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây khó khăn đối với GV khi tổ chức

cho HS sử dụng SGK Trong đó, các nguyên nhân được cho có các tác động nhiều nhất là:

- HS không nhận ra tầm quan trọng của việc học với SGK (82,19%) Đây được xem

là nguyên nhân chính gây khó khăn cho việc tổ chức HS sử dụng SGK của GV

Trang 35

- HS không có thói quen đọc sách (80,82%) Đây cũng là đặc điểm chung không tốt của nhiều HS Việt Nam Vì vậy, rất cần những giải pháp để giúp cho HS dần dần hình thành thói quen hữu ích này

- HS không có kỹ năng đọc sách (75,34%) Điều này là một trong những nguyên nhân làm cho việc sử dụng SGK của HS chỉ đạt kết quả ở mức gần trung bình và làm cho

GV ngại tổ chức cho HS sử dụng SGK khi dạy học

- GV chưa tìm ra biện pháp để việc sử dụng SGK đạt hiệu quả tốt nhất (73,97%) Vì vậy để khắc phục rất cần những tài liệu hướng dẫn, những buổi nói chuyện, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của các đồng nghiệp với nhau để cùng tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất

- Một số phần trong SGK còn nặng về kiến thức (72,60%) Đây là ý kiến đã được đề cập rất nhiều ngay từ khi bộ SGK hiện hành ra đời Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng không phải kiến thức trong SGK đều nặng so với các em mà chỉ có một phần nhỏ kiến thức như vậy Để khắc phục, GV nên chia nhỏ những kiến thức này, tổ chức các hình thức hấp dẫn, phù hợp và đưa ra những hướng dẫn hợp lí cho các em

Những khó khăn còn lại GV vẫn có thể gặp phải khi cho HS sử dụng SGK tuy nhiên không nhiều, chiếm tỉ lệ trong khoảng từ 52,05% đến 61,64%

Như vậy, hầu hết GV đều xác nhận việc sử dụng SGK trong dạy học hóa học là cần thiết, nhưng vẫn còn có những khó khăn làm cho việc sử dụng còn hạn chế và chưa đạt được hiệu quả như mong đợi Do đó, rất cần đề ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng SGK trong dạy học hóa học

1.5.4.3 Ý kiến của giáo viên về tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất

Câu 7 Thầy/cô vui lòng cho biết để nâng cao hiệu quả sử dụng SGK cần có những

biện pháp nào và mức độ hiệu quả của chúng ? (mức độ 1: rất thấp,mức độ 2: thấp, mức độ

Bảng 1.8 – Mức độ hiệu quả của các biện pháp sử dụng SGK

Trang 36

* Nhận xét: Để nâng cao hiệu quả sử dụng SGK cần: nâng cao năng lực sư phạm của

GV (3,99), tạo hứng thú cho HS khi sử dụng SGK (3,90), sử dụng phương pháp thích hợp với từng nội dung (3,86), vận dụng linh hoạt các hình thức sử dụng (3,79), tạo thói quen đọc sách trước khi đến lớp (3,74), rèn cho HS các kỹ năng làm việc với SGK (3,70) Ngoài ra còn có một số biện pháp khác như: kết hợp sử dụng các phương tiện dạy học khác, tăng cường việc kiểm tra, đánh giá, tăng thời gian cho HS làm việc với SGK Như vậy, hầu hết các biện pháp đưa ra đều được các GV đánh giá là hiệu quả (3,30 – 3,90)

Câu 8 Theo thầy/cô cần có những lưu ý nào khi tổ chức cho học sinh sử dụng SGK ?

 Yêu cầu HS đọc bài trước ở nhà để tiết kiệm

Trang 37

 Hướng dẫn cho học sinh cách sử dụng SGK

 Dù có SGK, nhưng HS vẫn phải ghi chép bài

học vào vở ghi (ít nhất cũng phải ghi dàn bài) 2 5,41%

 Ngoài bài tập trong SGK nên cho thêm bài

 Ở giai đoạn đánh giá kết quả làm việc với

SGK của HS, GV phải kiên nhẫn sửa chữa

những cái sai, bổ sung những cái chưa đầy đủ

 GV phải quan sát, quản lí tốt lớp học 2 5,41%

 Các câu hỏi GV đặt ra không nên quá dễ mà

nên đòi hỏi HS cần động não để trả lời 1 2,70%

GV nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ khi HS gặp

 Tổ chức cho HS làm việc theo nhóm, thảo

 Không quá phụ thuộc vào cấu trúc của SGK 1 2,70%

 Các hình thức sử dụng tăng dần từ đơn giản

* Nhận xét: Theo số liệu ở bảng 1.8 cho thấy: Để tổ chức cho HS sử dụng SGK đạt

hiệu quả, nhiều GV cho rằng trước hết nên yêu cầu HS đọc bài trước ở nhà để tiết kiệm thời gian trên lớp, hướng dẫn cho học sinh cách sử dụng SGK dưới dạng các nhiệm vụ cụ thể

Trang 38

Tiếp theo là những ý kiến: nội dung kiến thức không phải chỉ đóng khung theo SGK, GV nên thay đổi các hình thức sử dụng để tránh nhàm chán, chú ý đến sự hứng thú của HS (nhiệm vụ mới lạ, kích thích trí tò mò của HS) Như vậy, để việc sử dụng SGK đạt hiệu quả người GV đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với sách, dần hình thành những kỹ năng, những thói quen tốt, là tiền đề để học tập suốt đời

- Hầu hết GV tổ chức cho HS làm việc với SGK với những hình thức quen thuộc và lặp đi lặp lại Không có nhiều GV thực hiện các hình thức mới lạ, hấp dẫn, gây kích thích cho người học

- Các GV đồng ý với các biện pháp đưa ra và cho rằng hiệu quả của việc sử dụng SGK trong dạy học hóa học sẽ được nâng cao nếu sử dụng các biện pháp này

làm việc với SGK thì có rất ít tài liệu thật sự quan tâm đến vấn đề này Nếu có, cũng chỉ quan tâm đến một phần của sách, một vài cách làm việc với SGK Hơn thế nữa, cho đến

Trang 39

hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về việc sử dụng SGK hóa học ở trường THPT

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài:

+ Phương tiện dạy học: Trình bày cơ sở lí luận về phương tiện dạy học để giúp người đọc hiểu rõ hơn về phương tiện dạy học nói chung

+ Sách giáo khoa: Bổ sung và hoàn thiện hệ thống lí luận về SGK Cụ thể chúng tôi đã hoàn thiện hệ thống lí luận về khái niệm, cấu trúc chung của sách, tác dụng và bổ sung thêm các hoạt động của HS khi sử dụng SGK

+ Đổi mới phương pháp dạy học: Tìm hiểu những vấn đề về mô hình của PPDH,

xu hướng đổi mới PPDH cũng như một số phương pháp dạy học theo xu hướng dạy học mới để những hình thức và biện pháp đưa ra phù hợp với xu hướng, với nhu cầu giáo dục hiện nay

- Điều tra thực trạng của việc sử dụng SGK trong dạy học hóa học ở một số trường THPT hiện nay qua khảo sát 73 GV ở các trường THPT và nhận ra rằng hầu hết các GV đều nhận thấy mức độ cần thiết của việc cho HS sử dụng SGK khi học tập, tuy nhiên do còn gặp phải những khó khăn nên việc sử dụng này vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi

Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề xuất các hình thức, biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng SGK trong dạy học hóa học ở trường THPT

Trang 40

C HƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG SÁCH

2.1 Cơ sở khoa học của việc đề xuất các biện pháp

2.1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh khi học tập môn Hóa học

Hoá học là một môn khoa học có nhiều khả năng trong việc phát triển những năng lực nhận thức cho học sinh

Việc nghiên cứu các vấn đề lí thuyết (các khái niệm nguyên tử, phân tử, phản ứng hoá học, các định luật hoá học, các thuyết ) có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tư duy, năng lực khái quát và trừu tượng hoá của học sinh Học sinh phải quen tư duy với những phần tử rất nhỏ bé mà mắt thường không nhìn thấy được, nhờ đó mà trí tưởng tượng khoa học của các em được hình thành và phát triển

Khi sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan để nghiên cứu những tính chất, học sinh phải quan sát, phải huy động tất cả các giác quan cảm thụ, đối chiếu hiện tượng đang diễn biến với các nguyên lí lí thuyết, phân tích các khía cạnh của thí nghiệm và tổng hợp lại để tìm ra mối liên hệ nhân quả giữa các tác nhân và sản phẩm nghĩa là thực hiện những suy lí, quy nạp, diễn dịch, đi tới những kết luận khái quát hoá từ nhiều dữ kiện riêng lẻ

Để đạt được mục đích đó, cần xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể của việc phát triển hoạt động nhận thức học tập của học sinh:

- Phát triển trí nhớ và tư duy học sinh

- Hình thành dần dần và có định hướng kỹ năng khái quát hóa về trí tuệ và thực hành, thực nghiệm

- Phối hợp hợp lí các phương pháp và phương tiện tích cực hoá tất cả các dạng hoạt động nhận thức, học tập về Hóa học, tăng cường tính phức hợp của hoạt động này, tăng cường áp dụng phương pháp nghiên cứu và dạy học nêu vấn đề

- Tăng cường giáo dục động cơ học tập, làm rõ và phát triển hứng thú nhận thức cho học sinh

- Xây dựng những điều kiện nâng cao tính tự giác, tích cực của học sinh Phát triển tính sáng tạo, nâng cao tính độc lập cho học sinh

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình ba bình diện về phương pháp dạy học của Meier - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình 1.1. Mô hình ba bình diện về phương pháp dạy học của Meier (Trang 23)
Bảng  1-Khối  lượng  và  điện  tích  của  các  hạt cấu tạo nên nguyên tử - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
ng 1-Khối lượng và điện tích của các hạt cấu tạo nên nguyên tử (Trang 63)
Hình thức: - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình th ức: (Trang 68)
Sơ đồ phân bố e của nguyên tử magie: - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Sơ đồ ph ân bố e của nguyên tử magie: (Trang 69)
Hình thức: - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình th ức: (Trang 76)
Hình thức: - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình th ức: (Trang 77)
Hình  thức:  Dựa  vào  SGK  giải  thích  tình - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
nh thức: Dựa vào SGK giải thích tình (Trang 81)
Hình  thức:  Tóm  tắt  nội  dung  một  đoạn - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
nh thức: Tóm tắt nội dung một đoạn (Trang 82)
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 1 (Trang 91)
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 2 - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra lần 2 (Trang 93)
Hình 3.4. Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình 3.4. Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 (Trang 94)
Bảng 3.11. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 3 - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Bảng 3.11. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 3 (Trang 95)
Hình 3.7. Đồ thị đường lũy tích 3 bài kiểm tra - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Hình 3.7. Đồ thị đường lũy tích 3 bài kiểm tra (Trang 97)
Bảng 3.23. Đánh giá về biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng SGK - một số hình thức và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng sách giáo khoa trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Bảng 3.23. Đánh giá về biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng SGK (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w