Các nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh du lịch của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo .... Nằm trong tình hình phát triển du lịch chung của toàn tỉnh, Trung tâm giải trí sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Thùy Trang
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH ĐẾN VỚI TRUNG TÂM GIẢI TRÍ SINH THÁI THUẬN THẢO (THÀNH PHỐ TUY HÒA,
TỈNH PHÚ YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2Trương Thị Thùy Trang
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH ĐẾN VỚI TRUNG TÂM GIẢI TRÍ SINH THÁI THUẬN THẢO (THÀNH PHỐ TUY HÒA,
TỈNH PHÚ YÊN)
Chuyên ngành : Địa lí học
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM XUÂN HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Người thực hiện
Trương Thị Thùy Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Địa lí và các Thầy cô trong khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Xuân Hậu - Thầy
đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn UBND Thành phố Tuy Hòa, Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chi cục thống kê thành phố Tuy Hòa, Sở Văn Hóa, Thể Thao và
Du lịch tỉnh Phú Yên và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè, thân hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh 2014
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG 8
1.1 Những khái niệm liên quan 8
1.1.1 Du lịch 8
1.1.2 Sản phẩm du lịch 11
1.1.3 Khách du lịch 12
1.1.4 Nhu cầu du lịch 13
1.1.5 Thị trường du lịch 15
1.1.6 Điểm đến du lịch 18
1.1.7 Marketing điểm đến du lịch 23
1.2 Kinh nghiệm về phát triển du lịch tại các Khu du lịch và Trung tâm giải trí sinh thái ở Việt Nam 25
1.2.1 Khu du lịch sinh thái Vàm Sát 25
1.2.2 Khu du lịch sinh thái Green ECO 26
1.2.3 Khu du lịch sinh thái Nhân Tâm 26
1.2.4 Khu du lịch sinh thái Hầm Hô 27
1.2.5 Khu du lịch Tư Rừng Đước 27
1.3 Thị trường khách du lịch đến Việt Nam 28
1.3.1 Đặc điểm chính của khách du lịch châu Âu 30
Trang 61.3.2 Nhu cầu, sở thích của khách du lịch châu Âu 30
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH TẠI TRUNG TÂM GIẢI TRÍ SINH THÁI THUẬN THẢO (THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN) 33
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Vị trí địa lý 33
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 33
2.2 Các nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh du lịch của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo 36
2.2.1 Tài nguyên du lịch 36
2.2.2 Hệ thống hạ tầng phục vụ hoạt động kinh doanh du lịch 45
2.2.3 Lao động và sử dụng lao động trong du lịch 48
2.2.4 Cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật 50
2.2.5 An ninh chính trị, an toàn xã hội 57
2.2.6 Các chính sách phát triển của tỉnh, ngành, thành phố 57
2.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tại Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo 60
2.3.1 Về tổ chức và quản lý 60
2.3.2 Các hoạt động du lịch 66
2.3.3 Chính sách kinh doanh 68
2.3.4 Khách du lịch 75
2.3.5 Doanh thu du lịch 77
2.3.6 Kết quả khảo sát sự hài lòng của khách du lịch đối với Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo 79
2.4 Đánh giá chung 83
2.4.1 Những kết quả đạt được 83
2.4.2 Hạn chế 84
2.4.3 Thời cơ 86
Trang 72.4.4 Thách thức 87
Tiểu kết chương 2 89
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN VỚI TRUNG TÂM GIẢI TRÍ SINH THÁI THUẬN THẢO (THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN) 90
3.1 Những căn cứ để đưa ra các giải pháp 90
3.1.1 Kế hoạch phát triển tổng hợp kinh tế quốc dân tỉnh, thành phố 90
3.1.2 Chiến lược phát triển du lịch tỉnh và thành phố 91
3.1.3 Nhu cầu du lịch 92
3.1.4 Thực trạng phát triển và mức độ hài lòng của khách du lịch tại Trung tâm trong thời gian qua 92
3.2 Những định hướng để phát triển 93
3.3 Các giải pháp phát triển nhằm thu hút khách đến với Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo 94
3.3.1 Đầu tư quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật 94
3.3.2 Phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch độc đáo tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch 97
3.3.3 Xác định lại các phân khu chức năng, xây dựng các tuyến tham quan nội bộ hợp lý 98
3.3.4 Đẩy mạnh liên kết trong hoạt động kinh doanh du lịch 99
3.3.5 Phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 101
3.3.6 Tăng cường xúc tiến quảng bá các sản phẩm du lịch 102
3.3.7 Bảo vệ môi trường sinh thái 104
Tiểu kết chương 3 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 15 thị trường dẫn đầu về khách quốc tế đến Việt Nam giai
đoạn 2000 – 2012 29 Bảng 2.1 Tài nguyên du lịch biển tự nhiên của Tuy Hòa có khả năng
khai thác phát triển du lịch 37 Bảng 2.2 Điều kiện khí hậu ở Tuy Hòa phục vụ cho phát triển du lịch 38 Bảng 2.3 Một số di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng của Tuy Hòa có
khả năng khai thác phát triển du lịch 43 Bảng 2.4 Các làng nghề có khả năng khai thác phục vụ du lịch ở
Tuy Hòa 45 Bảng 2.5 Cơ cấu lao động trong du lịch của Trung tâm giải trí sinh thái
Thuận Thảo, thành phố Tuy Hòa năm 2012 48 Bảng 2.6 Nguồn thông tin khách du lịch được biết về Trung tâm giải
trí sinh thái Thuận Thảo 80 Bảng 2.7 Những vấn đề làm khách du lịch không hài lòng về Trung
tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo 82 Bảng 2.8 Số lượng khách đến với Trung tâm giải trí sinh thái Thuận
Thảo và tỉnh Phú Yên trong giai đoạn 2005 – 2012 75 Bảng 2.9 So sánh doanh thu của Trung tâm với tổng GDP nền kinh tế
và ngành du lịch tỉnh Phú Yên 79
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Doanh thu của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo
giai đoạn 2008 – 2013 77
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng quan trọng của đời sống xã
hội Đây được mệnh danh là ngành “công nghiệp không khói”, là “ngòi nổ” để
phát triển kinh tế, tạo ra thu nhập và giải quyết việc làm cho nhiều lao động Không chỉ vậy, du lịch còn giúp quảng bá hình ảnh đất nước, tạo ra mối quan hệ
về kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới Do đó, đẩy mạnh phát triển du lịch là xu hướng chung của hầu hết các nền kinh tế (trong đó có Việt Nam)
Du lịch là một trong những ngành kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn Du lịch đem đến cho du khách sự thỏa mãn về nhu cầu giải trí và cân bằng trạng thái tinh thần, thể lực sau những ngày lao động mệt mỏi của đời sống công nghiệp Tuy nhiên, phát triển du lịch cũng
đã và đang đặt ra nhiều vấn đề về môi trường và con người Bước vào thế kỷ 21,
để phát triển du lịch một cách bền vững cần phải có sự thay đổi trong phương pháp quản lý để du lịch thật sự phát triển
Khác các ngành kinh tế khác, hoạt động du lịch chỉ diễn ra ở những vùng đất có cảnh quan thiên nhiên độc đáo, đặc sắc; có những di tích mang sắc thái và dấu ấn riêng Phú Yên, một tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam, có tiềm năng
du lịch được xem là “mỏ vàng lớn” cho phát triển Tuy nhiên, tiềm năng to lớn
này đến nay vẫn chỉ khai thác ở mức độ khiêm tốn trong quá trình phát triển
kinh tế – xã hội tỉnh, dẫn đến sự “tụt hậu” khá xa về kinh tế nói chung và du lịch
nói riêng so với một số tỉnh trong khu vực Nằm trong tình hình phát triển du lịch chung của toàn tỉnh, Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo đã được đầu tư xây dựng, phát triển với quy mô hơn 30 ha ngay giữa trung tâm thành phố Với
vị trí địa lý thuận lợi, các nguồn lực ưu thế, cùng với sự tâm huyết của lãnh đạo thành phố và các nhà đầu tư, trong 10 năm qua, Trung tâm đã không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, hệ thống dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch, đã
Trang 12đem lại lợi ích kinh tế đáng trân trọng, góp phần đáng kể cho phát triển kinh tế–
xã hội của thành phố và tỉnh Song xét về tương quan đã cho thấy hiệu quả kinh doanh chưa tương xứng với tiềm lực hiện có Do vậy, việc tìm ra được những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, thu hút khách đến với Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo là yêu cầu cấp thiết trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp kinh doanh nói riêng và kinh tế – xã hội Phú Yên nói chung Trăn
trở trước thực tế đó, với tâm thế là một nhà Địa lí, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp thu hút khách đến với Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên)” làm luận văn tốt nghiệp Cao học
2 Những công trình nghiên cứu liên quan
Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo mới đi vào hoạt động chưa đầy mười năm Do vậy, những nghiên cứu về Trung tâm chưa nhiều và chủ yếu dừng ở mức mô tả nó như một nơi vui chơi, giải trí, một điểm đến thú vị không nên bỏ qua khi đến với Phú Yên Bước đầu cũng đã có những nghiên cứu xem xét Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo như là một điểm trong nhiều tuyến
du lịch trong và ngoài tỉnh
Ngoài ra, trong một số tạp chí như tạp chí du lịch, các báo, đài truyền hình trung ương và địa phương, mạng internet… cũng có giới thiệu nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu không chuyên, các nhà báo, các du khách về hoạt động phát triển du lịch ở Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo Tuy nhiên, các công trình nêu trên chỉ đề cập những mặt nào đó của phát triển du lịch của Trung tâm, chưa đánh giá hết tiềm năng của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo; đồng thời điều kiện phát triển du lịch hiện nay ở Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo đã có nhiều thay đổi, rất cần phải cập nhật và có biện pháp phù hợp với hoàn cảnh mới Vì vậy, đề tài của luận văn là bước tiếp nối để góp phần vào phát triển du lịch Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo trong thu hút du
khách
Trang 133 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn vào việc phân tích các điều kiện và thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tại Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) Từ đó, đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm khai thác các điều kiện theo hướng bền vững để thu hút nhiều hơn nữa
khách du lịch đến với Trung tâm này
– Xử lý tư liệu, số liệu và thực hiện phân tích, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động kinh doanh du lịch thời gian vừa qua Có chú ý phân tích sâu về số lượng khách, thị trường khách đến và vấn đề duy trì bảo vệ môi trường
– Đề xuất những giải pháp hợp lý nhằm thu hút nhiều hơn nữa khách đến, tương xứng với những tiềm năng của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo
3.3 Giới hạn
– Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn marketing điểm đến du lịch nhằm đề xuất một số giải pháp thu hút khách du lịch đến với Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo
– Về không gian: Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
– Về thời gian: Các số liệu phục vụ đánh giá thực trạng quản lý, bảo tồn và khai thác phát triển du lịch của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo: sử dụng các số liệu từ năm 2005 đến 2012
Trang 14Phần định hướng phát triển và các giải pháp thu hút khách du lịch phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển du lịch bền vững đến năm 2025
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm nghiên cứu
Xét trên quan điểm hệ thống, khu vực nghiên cứu không chỉ đơn thuần là một hệ thống địa tự nhiên và kinh tế xã hội tồn tại tách rời, độc lập mà còn chịu tác động mạnh mẽ của các hệ thống tự nhiên, kinh tế xã hội khác, các hoạt động khai thác du lịch hiện tại và tương lai Đặc biệt, du lịch lại là ngành có quan hệ qua lại rộng rãi nhất với các ngành kinh tế khác; là ngành có quan hệ liên ngành, liên nghề và là cầu nối liên kết các vùng miền và các quốc gia Do đó, trong quá trình phát triển của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo chúng ta cần phải thấy được vai trò của các đối tượng, các thành phần và vị trí của nó trong phát triển du lịch của toàn ngành
– Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều có sự khác nhau giữa lãnh thổ này với lãnh thổ khác Phát triển du lịch của bất cứ địa phương nào cũng là một phần cấu thành không tách rời trong hệ thống du lịch chung của cả nước Chính vì vậy khi nghiên cứu phải tìm ra được nét độc đáo của lãnh thổ đó để đánh giá vấn đề một cách cụ thể và thực tế hơn Và các đối tượng nghiên cứu của địa lí cần được xác định trên một lãnh thổ để phân tích, nghiên cứu tìm ra những sự khác biệt và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
Trang 15– Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi hay phát triển theo quá trình của nó Nghiên cứu quá khứ để có được những đánh giá đúng đắn hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển và có cơ sở để đưa ra các dự báo về xu hướng phát triển Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển của Trung tâm cũng như
xu hướng phát triển của địa bàn nghiên cứu
– Quan điểm sinh thái – phát triển bền vững
Du lịch đã thực sự trở thành một ngành kinh tế, một hoạt động có tính đến lợi ích và chi phí Những lợi ích thu về trong hoạt động du lịch không chỉ có lợi ích kinh tế và văn hóa mà còn phải tính đến lợi ích về môi trường sinh thái Do
đó phải tính đến những thiệt hại tới môi trường, tới hệ sinh thái ở cấp lãnh thổ
du lịch do hoạt động du lịch gây ra trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
4.2 Các phương pháp nghiên cứu chính:
– Phương pháp thu thập tổng hợp thông tin, tài liệu
Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hoá lịch sử, quy hoạch phát triển và một số nghiên cứu về hoạt động du lịch ở Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo, làm cơ sở cho những phân tích đánh giá
về sau
– Phương pháp so sánh
Vận dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu, xem xét điều kiện, khả năng phát triển của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo so với các trung tâm giải trí khác trong khu vực và cả nước Đồng thời, đánh giá đóng góp của Trung tâm vào sự phát triển kinh tế – xã hội địa phương so với các đơn vị kinh tế khác; từ
đó thấy được hiệu quả của loại hình kinh doanh du lịch này
– Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu địa lí, nhất là địa lí
du lịch Kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu có liên quan, phương pháp thực
Trang 16địa được coi là một trong những phương pháp chủ đạo của đề tài vì đặc trưng phạm vi lãnh thổ nghiên cứu nhỏ Do vậy, đề tài đã tiến hành khảo sát các điểm
du lịch của Trung tâm và khu vực dân cư xung quanh Các điểm du lịch và các sản phẩm du lịch bổ trợ được nghiên cứu, đánh giá, so sánh về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, làm căn cứ để đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển về lâu dài của Trung tâm
– Phương pháp điều tra
Cùng với phương pháp thực địa, phương pháp điều tra có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích các hiện tượng thực tế Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm làm rõ tình hình khai thác và mức độ thu hút khách du lịch tại Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo trong thời gian qua Đối tượng điều tra thông qua phỏng vấn bằng phiếu với hệ thống câu hỏi lựa chọn là khách du lịch nội địa bằng phương pháp chọn mẫu xác suất theo kiểu ngẫu nhiên phân tầng, việc xác định cỡ mẫu dựa trên mối tương quan về số lượng khách Tiến hành phỏng vấn, xin ý kiến người dân địa phương, cán bộ quản lý du lịch và cán bộ quản lý địa phương về hoạt động kinh doanh du lịch của Trung tâm
5 Những đóng góp khoa học của đề tài
– Góp phần bổ sung hệ thống lý luận về các giải pháp thu hút khách trong hoạt động du lịch
– Đánh giá được thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch của Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo; phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của hoạt động du lịch tại Trung tâm trong xu thế hội nhập, bước đầu đánh giá được mức độ hài lòng của khách du lịch đối với Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo
– Đưa ra được những định hướng và giải pháp phát triển loại hình và sản phẩm du lịch nhằm thu hút nhiều và đa dạng nguồn khách du lịch, đảm bảo phát triển du lịch tại Trung tâm giải trí sinh thái Thuận Thảo theo hướng bền vững
Trang 176 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận
văn gồm ba chương như sau:
Chương 1 Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn chung
Chương 2 Thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tại Trung tâm giải trí
sinh thái Thuận Thảo (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên)
Chương 3 Một số giải pháp thu hút khách du lịch đến với Trung tâm giải
trí sinh thái Thuận Thảo (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên)
Trang 18hỗ lẫn nhau giữa bốn nhóm nhân tố khách du lịch, các nhà kinh doanh phục vụ
du lịch, dân cư địa phương và chính quyền địa phương
Theo WTO (1994): Du lịch “là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức, và nhìn chung là vì những lí do không phải là kiếm sống”
Bên cạnh đó, Luật Du lịch Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2006) đã nêu rõ: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Như vậy, trong xu hướng hiện nay, du lịch được định nghĩa bao hàm các nội dung liên quan đến dạng chuyển cư đặc biệt, cách thức sử dụng thời gian tại nơi đến và các hoạt động kinh tế xã hội liên quan diễn ra tại nơi đó Từ đó có thể thấy, du lịch là một ngành liên quan đến nhiều thành phần: khách du lịch, phương tiện giao thông, địa bàn đón khách, trong đó diễn ra các hoạt động du lịch và các hoạt động kinh tế – xã hội khác Bởi vậy, để thu hút được khách đến với sản phẩm du lịch cần các giải pháp đồng bộ, tác động đồng thời lên nhiều đối tượng
Trang 19Có nhiều hình thức du lịch khác nhau được quan tâm nghiên cứu:
Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch đáp ứng dựa vào thiên nhiên, gắn bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững
Ở Việt Nam, tại Hội thảo quốc gia về "Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam" đã đưa ra định nghĩa: "Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa bản địa có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương"
Du lịch sinh thái là du lịch kết hợp của cả du lịch dựa vào tự nhiên, du lịch mạo hiểm và bao hàm cả các yếu tố trong du lịch bền vững như: mang tính giáo dục cao, hỗ trợ bảo tồn và quan tâm tới cộng đồng
Như vậy, du lịch sinh thái được nhìn nhận như là du lịch lựa chọn những mặt tích cực của một số loại du lịch và có thể được biển diễn bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc du lịch sinh thái theo mô hình của TS Nguyễn Thị Sơn
Sự khác biệt của DLST với các loại hình du lịch khác ở việc đảm bảo đầy
đủ các yếu tố đặc trưng chủ yếu:
Trang 20– Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên và các yếu tố văn hóa bản địa;
– Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn;
– Có giáo dục môi trường;
– Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích du lịch; – Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách
Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch đáp ứng dựa vào bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Du lịch bền vững
Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới – WTO đưa ra tại hội nghị
về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Riode Janeiro năm 1992: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển các hoạt động
du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu kinh tế – xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa đa dạng sinh học, sự phát triển của hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”
Như vậy, về cơ bản, du lịch bền vững phải thỏa mãn ba tiêu chí:
– Thân thiện với môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên, giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm, ) và cố gắng có lợi cho môi trường
– Gần gũi về xã hội và văn hóa, không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hóa của cộng đồng; tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương; khuyến
Trang 21khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, nhà quản
lý chính quyền) tham gia trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển, giám sát; và giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ
– Du lịch có đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương
1.1.2 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là tập hợp tất cả các yếu tố có thể thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của khách du lịch Sản phẩm du lịch bằng tổng hợp của: Hàng hóa du lịch + Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch
và như vậy, sản phẩm du lịch không thể được đánh giá chất lượng theo những chỉ tiêu từ phía các nhà kinh doanh, mà được đánh giá từ sự cảm nhận của khách hàng (tính chủ quan) Chính vì điều này đã gây khó khăn trong việc quản lý chất lượng sản phẩm trong du lịch
– Sản phẩm du lịch thường gắn liền với tài nguyên du lịch Vì vậy, hướng vận động trong kênh sản xuất tiêu thụ là ngược với sản xuất hàng hóa (cung tìm đến cầu, còn trong du lịch cầu tìm đến cung); gây khó khăn cho tiêu thụ sản phẩm do thiếu tính chủ động của nhà kinh doanh Do đó, việc tìm ra nguồn khách là một trong những hoạt động quan trọng nhất của nhà kinh doanh du lịch
Trang 22– Việc tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch là có sự trùng lặp về mặt không gian và thời gian; cho nên, sản phẩm du lịch chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất định không thể vận chuyển đến nơi khác, không thể tồn kho lưu bãi, gây khó khăn cho việc hoạch toán kinh doanh
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tính thời vụ là khác nhau đối với các loại hình du lịch khác nhau, đối với các nhà kinh doanh khác nhau
+ Thời gian chuyến đi phải trên 24 giờ (để khách tiêu dùng dịch vụ lưu trú điểm đến)
Như vậy, khách du lịch là chỉ người tạm thời rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình tới một nơi khác, ở lại tối thiểu 24 giờ, tiến hành đi lại, ăn, ngủ,
du ngoạn, vui chơi, giải trí, mua sắm nhằm đạt được sự hưởng thụ về tinh thần
và vật chất
– Liên Hợp Quốc (1963) định nghĩa: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của
họ
– Pháp lệnh du lịch Việt Nam xác định:
+ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp
đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Trang 23+ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
+ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài đang
cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
1.1.4 Nhu cầu du lịch
1.1.4.1 Quan niệm
Nhu cầu du lịch, xét về mặt bản chất là một trong số những nhu cầu của con người Tuy nhiên, đây là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người, nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu tâm
lý (ăn mặc, ngủ, đi lại, ) và các nhu cầu tinh thần (nghỉ ngơi, giải trí, nhận thức
và khẳng định mình) Nhu cầu du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội Trình độ xã hội ngày càng cao, các mối quan
hệ ngày càng hoàn thiện thì nhu cầu du lịch của con người càng tăng và là một đòi hỏi tất yếu Nhu cầu du lịch được khơi dậy và chịu ảnh hưởng đặc biệt của nền văn minh công nghiệp Nhu cầu du lịch một mặt phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên xã hội, chính trị xã hội trong một xã hội, một nhóm xã hội cụ thể nào đó mà người ta sống, lao động và giao tiếp Mặt khác, nhu cầu du lịch phụ thuộc vào kinh nghiệm và đòi hỏi bên trong của mỗi cá nhân riêng biệt Vì vậy, nghiên cứu về nhu cầu phải dựa trên cơ sở nghiên cứu về xã hội và nghiện cứu đặc điểm của mỗi cá nhân
1.1.4.2 Đặc điểm
– Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu thứ yếu đặc biệt Vì nhu cầu này chỉ được thỏa mãn ở những nơi có đủ hai điều kiện là tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch Người ta đi du lịch với mục đích “sử dụng” tài nguyên
du lịch mà nơi ở thường xuyên của mình không có Lẽ dĩ nhiên muốn sử dụng tài nguyên du lịch ở nơi nào đó, bắt buộc người ta phải tiêu dùng các hàng hóa
Trang 24dịch vụ phục vụ cho hành trình của mình Vì vậy, các cơ sở cung cấp ra đời để đáp ứng những nhu cầu đó
Do tính cố định về không gian của tài nguyên du lịch và tính phân tán của cầu du lịch đã dẫn đến một vấn đề buộc các nhà kinh doanh dịch vụ du lịch phải thu hút được khách ở khắp nơi tập trung về địa điểm du lịch; điều này liên quan trực tiếp đến công tác thu hút khách và sức hấp dẫn của điểm đến
– Nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp Nhu cầu du lịch chỉ được thỏa mãn khi người ta có đủ hai điều kiện là khả năng thanh toán và thời gian rỗi Khi đó, nhu cầu du lịch luôn có tính thụ hưởng, nghĩa là du khách luôn đòi hỏi tính cao cấp của sản phẩm Vì vậy, muốn kinh doanh hiệu quả, các doanh nghiệp phải chú ý đến tính toàn diện, tính cao cấp, tính độc đáo của sản phẩm Đặc điểm này yêu cầu các nhà kinh doanh du lịch phải chú trọng đến vấn đề chất lượng sản phẩm, một trong những biện pháp hữu hiệu để thu hút khách
– Nhu cầu du lịch là nhu cầu mang tính tổng hợp và đồng bộ cao Nhu cầu
du lịch gồm ba nhóm: nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bổ sung + Nhu cầu thiết yếu gồm nhu cầu vận chuyển, nhu cầu lưu trú, nhu cầu ăn uống
Nhu cầu vận chuyển được hiểu là sự tất yếu của con người khi rời khỏi nơi
cư trú thường xuyên của mình Đó là sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, chủ yếu tồn tại dưới dạng phi vật chất lại gắn với tài nguyên du lịch bất biến về không gian và xa cách với người tiêu dùng
Nhu cầu lưu trú, ăn uống là nhu cầu thiết yếu của du khách trong suốt chuyến đi Đặc biệt, trong du lịch, nhu cầu này cao cấp hơn nhu cầu lưu trú, ăn uống hàng ngày Do đó, nhà kinh doanh du lịch phải nghiên cứu và cung cấp các chủng loại sản phẩm độc đáo, riêng biệt nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách
+ Nhu cầu đặc trưng: Đây là nhu cầu thôi thúc con người đi du lịch, gồm: nhu cầu cảm thụ cái đẹp, nhu cầu giải trí, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu tìm hiểu
Trang 25khám phá Nhu cầu đặc trưng phải được thỏa mãn nếu không chuyến đi của du khách không thể coi là thành công được Việc thỏa mãn phụ thuộc vào các nhân
tố như đặc điểm tiêu dùng của khách, mục đích chuyến đi, khả năng thanh toán, đặc điểm cá nhân như khiếu thẩm mỹ, trình độ, nghề nghiệp, tôn giáo, giới tính, Nắm được những nhu cầu đặc trưng của từng nhóm khách hàng sẽ giúp nhà kinh doanh định lượng được đặc tính sản phẩm của mình Điều này sẽ góp phần tích cực vào việc tăng khả năng thu hút khách
+ Nhu cầu bổ sung: là nhu cầu thứ yếu phát sinh trong chuyến đi của khách, gồm: nhu cầu mua sắm, nhu cầu thông tin liên lạc, nhu cầu làm đẹp bản thân, nhu cầu y tế,
Như vậy, có thể thấy, nhu cầu của khách rất phong phú, đa dạng, mang tính tổng hợp cao Điều này đòi hỏi nhà kinh doanh du lịch phải thật sự nhạy bén trong việc nắm bắt nhu cầu của du khách để có thể khai thác và đáp ứng được tối
đa
1.1.5 Thị trường du lịch
1.1.5.1 Khái niệm
Thị trường du lịch được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
Theo PGS TS Nguyễn Văn Đính: “Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường hàng hóa nói chung (là một bộ phận cấu thành đặc biệt) bao gồm toàn bộ các mối quan hệ và cơ chế kinh tế gắn liền với địa điểm, thời gian, điều kiện, phạm vi thực hiện hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách
du lịch”
Theo TS Nguyễn Văn Lưu: “Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung – cầu và toàn bộ các mối quan hệ thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn các mối quan hệ đó trong lĩnh vực dịch vụ” (Thị trường du lịch – NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội – 1999)
Trang 26Như vậy, thị trường du lịch là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ du lịch dưới tác động của các quy luật thị trường
Thị trường du lịch có các chức năng cơ bản: thực hiện, điều tiết và thông tin
– Căn cứ vào tính thời vụ trên thị tường du lịch có thị trường du lịch thời
vụ và thị trường du lịch quanh năm
– Căn cứ vào đặc thù của hàng hóa dịch vụ du lịch có thể chia thành các loại thị trường du lịch: du lịch khách sạn, du lịch văn hóa, du lịch thiên nhiên, du lịch Motel, du lịch Bungalow, du lịch Camping, du lịch nhà trọ thanh niên, làng
du lịch,
– Căn cứ và đặc điểm địa lí của điểm du lịch có các loại thị trường: du lịch miền biển, du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê,
– Căn cứ vào phương tiện giao thông có các loại hình: du lịch đi bộ, du lịch
xe đạp, du lịch ô tô, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy,
Trang 27cầu thiết yếu của cuộc sống được thỏa mãn và khi khách du lịch với sự tiêu dùng
của họ tác động tới “sản xuất” hàng hóa du lịch ở ngoài nơi mà họ thường trú
– Sản phẩm trên thị trường du lịch chủ yếu là dịch vụ, hàng hóa vật chất chiếm tỉ trọng nhỏ Sản phẩm bao gồm các dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tham quan, dịch vụ vui chơi giải trí, môi giới, hướng dẫn, Ngoài ra, hàng hóa vật chất cũng được bán trên thị trường du lịch nhưng chiếm tỉ lệ rất thấp
– Về cơ bản, không có sự dịch chuyển sản phẩm trên thị trường du lịch Sản phẩm du lịch không thể vận chuyển đến nơi có khách hàng mà nó đòi hỏi khách hàng phải đến nới có sản phẩm du lịch để tiêu dùng nó Khách hàng có thể tự tìm kiếm thông tin qua các hãng lữ hành hoặc qua các phương tiện quảng cáo Vì vậy, vấn đề giới thiệu sản phẩm du lịch đến được với khách hàng đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động du lịch
– Hàng lưu niệm là một đối tượng đặc biệt trên thị trường du lịch (là cầu nối giữa khách du lịch và điểm du lịch) Đây có thể được coi là một mặt của
“xuất khẩu vô hình” trong du lịch
– Cung và cầu trên thị trường du lịch có sự tách biệt cả về không gian và thời gian Đối tượng mua bán trên thị trường du lịch không có hiện hữu trước người mua Đây là một đặc điểm riêng của thị trường du lịch Nó không giống
với những loại hàng hóa khác Trong quá trình tiêu dùng, người mua phải “mạo hiểm” để bỏ tiền ra trước khi tiêu dùng sản phẩm Người tiêu dùng chỉ có thể
cảm nhận được hàng hóa trước khi tiêu dùng thông qua quảng cáo Như vậy, quảng cáo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ta quyết định mua của khách hàng
– Sản phẩm trên thị trường du lịch không thể lưu kho cất trữ Có thể nói việc sản xuất lưu thông và tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra trong cùng một thời gian và cùng một thời điểm Sản phẩm du lịch nếu như không bán được sẽ không có giá trị
Trang 28– Thị trường du lịch mang tính thời vụ rõ rệt Do cung hoặc cầu chỉ xuất hiện trong một thời gian nhất định trong năm nên điều này ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp
– Theo các nhà nghiên cứu về du lịch: “Điểm đến du lịch là một điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lí, đường biên giới
về chính trị hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch”
– Theo Tác giả Giuseppe Marzano: “Một điểm đến du lịch là một thành phố, thị xã, khu vực khác của nền kinh tế trong số đó phụ thuộc đến mức độ tích lũy đáng kể từ các khoản thu từ du lịch Nó có thể chứa một hoặc nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn”
– Theo quan điểm truyền thống: Điểm đến du lịch là nơi mà con người sử dụng những kì nghỉ của họ Như vậy, theo quan niệm này, điểm đến sẽ là toàn
bộ vùng không gian mà trong đó khách du lịch thực hiện các hoạt động lưu trú,
ăn uống, giải trí, Theo đó, điểm đến du lịch là một khái niệm khá chung chung, mơ hồ và chỉ xem xét khía cạnh từ phía người đi du lịch
Trên phương diện địa lí, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ Điểm đến du lịch là một vị trí địa lí mà du khách thực hiện
Trang 29hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích của chuyến đi Có thể phân biệt hai loại nơi đến: điểm đến cuối cùng và điểm đến trung gian
Điểm đến du lịch chính là sự kết hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, nhằm cung cấp cho du khách khi lưu trú và dừng chân tham quan tại một điểm du lịch của địa phương, làm bàn đạp cho sự tăng trưởng và phát triển du lịch của một điểm đến, tạo được bản sắc hấp dẫn, đủ để cạnh tranh, đó không chỉ là lời phản ánh, một lời hứa kinh nghiệm của điểm đến mà còn chứng minh khả năng đáp ứng các dịch vụ của điểm đến du lịch
1.1.6.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch
– Điểm hấp dẫn du lịch: các điểm hấp dẫn của một nơi đến dù mang đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng tạo ra động lực ban đầu cho sự viếng thăm của du khách Các điểm đến hấp dẫn thường là lĩnh vực bị lãng quên của ngành du lịch bởi tính đa dạng và hình thức sở hữu phân tán của chúng
– Giao thông đi lại (khả năng tiếp cận điểm đến): sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điều kiện căn bản cho sự thành công của các điểm đến du lịch
– Nơi lưu trú và dịch vụ ẩm thực: các dịch vụ lưu trú và ăn uống của điểm đến không chỉ cung cấp nơi ăn, nghỉ mang tính vật chất mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiếp đãi nồng nhiệt, lưu lại ấn tượng khó quên về các món ăn hoặc đặc sản địa phương
– Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi đến du lịch Khả năng cung cấp tiện nghi và các dịch vụ hỗ trợ biểu lộ bản chất đa ngành của yếu tố cung trong du lịch và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch Các nơi đến còn cung cấp những dịch vụ hỗ trợ khác cho cả khách hàng và ngành du lịch thông qua các tổ chức (cơ quan) du lịch địa phương Những dịch
vụ này bao gồm: quảng bá cho nơi đến; lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát sự phát
Trang 30triển của nơi đến; tư vấn và phối hợp với các doanh nghiệp khác ở địa phương; cung cấp một số tiện nghi nhất định (giải trí, thể thao, )
– Các hoạt động bổ sung: các hoạt động bổ sung được tạo ra để giúp du khách thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của mình
Các điểm đến hấp dẫn, giao thông đi lại, nơi ăn ở, nghỉ ngơi tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ, các hoạt động bổ sung là những tiêu chuẩn cho sự tồn tại của một điểm đến du lịch Tùy thuộc vào mỗi cá nhân, các yếu tố này có thể có rất nhiều cách kết hợp khác nhau ở các mức độ khác nhau Sự quyến rũ của điểm đến du lịch mang tính chủ quan của du khách Tuy nhiên, bất kì điểm đến du lịch nào cũng cần phải có năm yếu tố cấu thành trên
1.1.6.3 Phân loại điểm đến du lịch
– Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực (Megadestination): Các điểm đến có quy mô lớn, là điểm đến của một vùng lãnh thổ hay ở cấp độ châu lục như khu vực Đông Nam Á, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Phi, Trên thị trường du lịch thế giới, cạnh tranh nguồn khách rất gay gắt, các nước trong cùng một khu vực trên thế giới đã hợp tác với nhau để cạnh tranh các nguồn khách du lịch thông qua tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch
– Điểm đến du lịch mang tính quốc gia (Macrodestination): Điểm đến vĩ
mô, là các điểm đến ở cấp độ của một quốc gia Các nước trong khu vực vừa hợp tác với nhau để xây dựng hình ảnh điểm đến của khu vực, nhưng đồng thời cũng cạnh tranh với nhau để thu hút khách đến nước mình Mỗi nước đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch để xây dựng hình ảnh của đất nước
trong tâm trí của mọi người trên thế giới như một điểm đến du lịch “an toàn và thân thiện”
– Điểm đến du lịch mang tính địa phương (Microdestination): Điểm đến vi
mô, bao gồm các vùng, tỉnh, thành phố, quận huyện hay thậm chí là một xã, thị trấn, trong lãnh thổ của một quốc gia
Trang 31– Nhóm nhân tố cấp II: có đặc điểm dễ thay đổi, tính cơ động cao và ảnh hưởng cục bộ Sự biến động của mỗi yếu tố trong nhóm này sẽ làm tăng hoặc giảm thuộc tính đặc trưng của nhóm nhân tố cấp I Nhóm nhân tố này gồm: đường lối phát triển du lịch của điểm đến, cung du lịch và chu kì sống của sản phẩm du lịch đặc trưng ở điểm đến Trên thị trường du lịch quốc tế hoặc thị trường du lịch nội địa, nhóm nhân tố cấp II đóng vai trò quyết định tới khối lượng và cơ cấu của cầu trong du lịch Hệ thống luật pháp, hệ thống các công cụ chính sách của Nhà nước Trung ương và địa phương của điểm đến; trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới các chính sách đặc thù đối với lĩnh vực du lịch cơ chế điều hành của chính quyền các cấp để đảm bảo tính hiệu lực của hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế – xã hội Tất cả các thành phần này đều có liên quan đến việc khuyến khích thu hút khách du lịch, tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng cho khách thực hiện chuyến hành trình đến một nơi du lịch nào đó Như
vậy, đường lối phát triển du lịch ở điểm đến như là công cụ để “kéo” hay “đẩy”
khách du lịch
– Nhóm nhân tố cấp III: không ổn định, luôn thay đổi Tính hấp dẫn của nhóm nhân tố này được xác định thông qua hoạt động marketing giá cả và cơ quan tổ chức du lịch ở điểm đến du lịch Nhóm nhân tố này có vai trò truyền tải
Trang 32và làm cho tính hấp dẫn của các yếu tố trong nhóm nhân tố cấp I và cấp II đến với khách du lịch, giúp cho cung cầu gặp nhau
Sự tổng hợp của ba nhóm nhân tố trên tạo ra sức hút của điểm đến du lịch đối với các thị trường khách du lịch
Nguồn: [10]
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ của ba nhóm nhân tố tạo ra tính hấp dẫn
của điểm đến du lịch
1.1.6.5 Sức chứa tiềm năng
Sức tải của điểm du lịch là mức giới hạn mà hệ sinh thái và môi trường điểm đến có thể tiếp nhận được về số lượng khách, lượng rác thải, nước thải, nhiệt độ, độ ẩm, Nếu lượng khách vượt quá mức giới hạn này thì năng lực quản lý, khả năng chịu đựng của môi trường và hệ sinh thái sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, mất khả năng kiểm soát hoạt động của khách du lịch và hậu quả tất yếu là ảnh hưởng đến môi trường, hệ sinh thái, tài nguyên của khu vực, sinh cảnh của điểm du lịch sẽ không còn tồn tại Các loại sức tải gồm :
– Sức tải sinh thái (Ecological capacity): Số lượng cực đại khách du lịch tại một vùng có thể có được mà hệ sinh thái của vùng không bị ảnh hưởng
– Sức tải vật lý (Physical capacity): Giá trị tuyệt đối về mặt số lượng khách
du lịch một vùng mà nguồn lợi tại đó có thể chịu đựng được Sức tải vật lý bao
Nhóm nhân tố cấp I
Tự nhiên Văn hóa Kết cấu hạ tầng
Tính hấp dẫn của điểm đến du lịch Nhóm nhân tố cấp III
Marketing Giá cả
Trang 33gồm các thiết bị điện, cấp nước, chất thải rắn, lỏng, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông
– Sức tải môi trường (Environmental capacity): Số lượng cực đại khách du lịch có thể sống tại một khu vực mà không làm giảm sự hấp dẫn chung của nó
1.1.7 Marketing điểm đến du lịch
– Marketing điểm đến du lịch: là một quá trình trực tiếp cho phép các
doanh nghiệp và các cơ quan du lịch xác định khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để doanh nghiệp có khả năng thiết kế và tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra
– Hình ảnh điểm đến:
Hình ảnh của điểm đến du lịch là sự kết hợp các ý niệm, niềm tin, ấn tượng
và nhận thức của khách hàng về điểm đến Do vậy, nó là yếu tố cơ bản tác động đến ứng xử mà người dân và du khách thể hiện đối với điểm đến Tuy nhiên, hình ảnh điểm đến không xuất hiện một cách nhất thời, rời rạc, chủ quan giống như cảm nhận ban đầu đối với các thông tin nhận được về sản phẩm cụ thể Hình ảnh điểm đến được hình thành qua thời gian với quá trình xử lý nhiều nguồn thông tin khác nhau của khách hàng Một điểm đến du lịch được xem như
là sự kết hợp của những yếu tố hấp dẫn, khả năng tiếp cận, cơ sở vật chất và tiện nghi cũng như các hoạt động và dịch vụ bổ trợ
Đối với khách du lịch, khi quyết định đến với một điểm đến du lịch thì nơi
đó phải có tối thiểu ba yếu tố:
+ Đủ sức hấp dẫn họ
+ Dễ dàng tiếp cận
+ Có các thông tin cần thiết về điểm đến
– Các hoạt động cơ bản của marketing điểm đến du lịch:
Trang 34Marketing điểm đến du lịch là quá trình quản lý nhằm xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa điểm đến du lịch và khách hàng (khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng) thông qua việc dự báo và đáp ứng các nhu cầu của khách đối với điểm đến
Tùy theo đặc điểm, phạm vi và quy mô điểm đến (quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và điểm tham quan du lịch cụ thể ở từng địa phương) mà hoạt động marketing có thể sẽ có mức độ phức tạp khác nhau Quá trình quản lý của marketing điểm đến bao gồm các bước sau :
+ Phân tích phạm vi, tiềm năng của điểm đến để xây dựng mục tiêu marketing
+ Nghiên cứu và phân đoạn thị trường
+ Định vị và xây dựng hình ảnh điểm đến
+ Xác định các công cụ và phương tiện quảng bá cụ thể
+ Lập kế hoạch marketing bao gồm xây dựng chiến lược, nội dung và ngân sách marketing
+ Giám sát và đánh giá hoạt động marketing
– Quy trình marketing điểm đến du lịch:
+ Nghiên cứu môi trường kinh doanh bên ngoài: là việc nghiên cứu khách hàng hiện tại và tiềm năng, môi trường bên ngoài Chỉ có rất ít nhà điều hành lớn (như các hãng hàng không và chuỗi khách sạn) có đủ nguồn lực để thực hiện các nghiên cứu marketing quy mô lớn Cung cấp thông tin thị trường hữu ích là cơ
sở quan trọng nhất cho tạo điều kiện hiệu quả Thất bại trong truyền thông dữ liệu hiệu quả có nghĩa là phương thức giá trị có tiềm năng nhất để tác động đến quyết định của những nhà cung ứng bị mất đi
+ Chính sách của chính phủ và chiến lược du lịch: Các chính sách chính phủ liên quan đến chiến lược marketing du lịch gồm: tạo ra và làm thu nhập du lịch tăng lên, thỏa mãn nhu cầu theo mùa và theo vùng của đất nước, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và tăng cường chất lượng sản phẩm và môi trường điểm
Trang 35đến, bảo đảm phát triển bền vững, thường gọi là tăng trưởng thông minh (wise growth)
+ Hoạch định marketing: Các hạn chế của ngân sách tổ chức điểm đến du lịch tập trung sự chú ý vào các thứ tự lựa chọn và đưa chúng vào trong các chiến lược và các mục tiêu chuyên biệt cho sản phẩm và cho các phân khúc cần đạt thông qua các chiến dịch tạo điều kiện hay xúc tiến
+ Các mục tiêu marketing: Đầu ra quan trọng nhất của quy trình hoạch định marketing là việc nhận diện các sản phẩm/ thị trường chiến lược nhằm làm phù hợp các khuynh hướng thị trường, nguồn sản phẩm và sự lựa chọn các mục tiêu định lượng, chuyên biệt nhằm phân bổ các ngân sách marketing
+ Các quyết định ngân sách: Dù ngân sách ra sao, các nhiệm vụ marketing phải liên quan đến mục tiêu; và chi phí thực hiện các nhiệm vụ chuyên biệt phải được xem là cản trở trước tiên trong việc lựa chọn các mục tiêu Các so sánh với tài khóa trước và với ngân sách trước vẫn là quy luật chung trong phân định ngân sách, điều chỉnh lên xuống theo mức lạm phát kinh tế năm đó Các nhiệm
vụ chuyên biệt trên cơ sở nghiên cứu chỉ là cơ sở logic cho việc phân định ngân sách và cho các nguyên tắc công mới hơn nhằm mục tiêu giám sát và đánh giá điều hành
1.2 Kinh nghiệm về phát triển du lịch tại các Khu du lịch và Trung tâm giải trí sinh thái ở Việt Nam
1.2.1 Khu du lịch sinh thái Vàm Sát
Khu Du lịch sinh thái rừng ngập mặn Vàm Sát nằm trong khu dự trữ sinh
quyển thế giới rừng ngập mặn Cần Giờ, thuộc xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ,
thành phố Hồ Chí Minh; là một quần thể động thực vật đa dạng, rất lý tưởng cho mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái và nghỉ ngơi cho du khách
Khu du lịch phục vụ dịch vụ tham quan dựa trên môi trường tự nhiên sẵn
có gồm: tham quan Đầm Dơi, các sân chim, khu bảo tồn động vật hoang dã, tìm
Trang 36hiểu môi trường sống, tập quán và cách săn mồi của cá sấu Nơi đây cũng có một số trò chơi khá ấn tượng: câu cua, du thuyền câu cá sấu, bơi trên hồ nước mặn Khu du lịch còn có nhà hàng Vàm Sát, phục vụ những món ăn chủ yếu được làm từ sản vật sẵn có như tôm, cua, cá, sò, ốc, và đặc sản cá thòi lòi
Do Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn Vàm Sát nằm trong vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển thế giới rừng ngập mặn Cần Giờ, việc tuân thủ các tiêu chuẩn về môi trường luôn được đưa lên hàng đầu trong chiến lược xây dựng và phát triển Mọi hoạt động của Vàm Sát luôn theo sát ý kiến của các chuyên gia, các nhà sinh vật học để không làm hỏng môi trường tự nhiên
1.2.2 Khu du lịch sinh thái Green ECO
Quần thể Green Eco được quy hoạch, thiết kế quy mô, bài bản theo mô hình hoạt động đa dịch vụ gồm khu khách sạn, nhà hàng ẩm thực, khu dịch vụ cà phê giải khát, khu câu cá giải trí, khu vui chơi thể thao đáp ứng nhu cầu cho mọi lứa tuổi vừa có ý nghĩa bảo vệ, giữ gìn môi trường sinh thái vừa khẳng định giá trị văn hóa truyền thống và tôn vinh vẻ đẹp cảnh quan đô thị của thành phố trẻ Khu du lịch phục vụ những món ẩm thực đặc sản của Hà Tĩnh: lươn đồng Long Tuyến, bún bò Đức Thọ, cháo bồ câu hầm thuốc bắc cách thủy Đặc biệt, nơi đây có khu vườn sinh thái phục vụ nhu cầu tham quan vườn cò vào dịp mùa Thu
1.2.3 Khu du lịch sinh thái Nhân Tâm
Cách thành phố Nha Trang 30km về hướng Tây, thuộc xã Diên Xuân, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, khu du lịch sinh thái Nhân Tâm nằm trải dài trên 15 ha trang trại cây ăn quả Khu du lịch bao gồm 3 khu:
Khu 1: Diện tích 10 ha Là nơi trồng vườn cây ăn trái với đầy đủ các loại
trái cây từ xoài, cam, sầu riêng đến mít, bưởi, chôm chôm Bên cạnh đó là hàng trăm cây dầu, sao, dó bầu (những loại cây cho gỗ quý với tuổi thọ hàng trăm năm) trong đó, đặc biệt là cây dó bầu (loại cây cho ra trầm hương – một điều
đặc biệt mà thiên nhiên ban tặng cho tỉnh Khánh Hòa)… Và đây cũng chính là
Trang 37nơi tập trung các dịch vụ chính của khu du lịch bao gồm: Câu cá, câu cá sấu, tát
mương bắt cá, nhà nghỉ, nhà hàng, hồ bơi, cà phê, karaoke, khu trò chơi trẻ
em, tổ chức chương trình Gala Dinner, tiệc BBQ
Khu 2 (khu dã ngoại): Diện tích 2 ha, đây là nơi có rừng trúc rộng rãi
thoáng mát thích hợp tổ chức trò chơi tập thể, teambuiding, đốt lửa trại và làm
khu huấn luyện dã ngoại Sát bên rừng trúc là con sông "Chò" phục vụ tắm suối thiên nhiên, trò chơi "xuôi thuyền", đu dây ZipLine vượt qua sông
Khu 3 (khu tâm linh): Nơi đây có nhà thờ phật thích ca, và các vị phật khác
được điêu khắc hoàn toàn bằng gỗ rất tinh xảo và công phu (Gian Thành Tâm), nhà thờ vua Hùng, Bác Hồ, và đại tướng Trần Hưng Đạo (Gian Thành Nhân),
chiếc bàn “xoay” biết làm theo tiếng người và khu tham quan 12 tầng địa ngục
1.2.4 Khu du lịch sinh thái Hầm Hô
Khu Du lịch Sinh thái Hầm Hô thuộc thôn Phú Lâm, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; cách thành phố Quy Nhơn 50 km về phía Tây Bắc, nằm trong lòng sông Kôn
Đến Hầm Hô, du khách đi thuyền, đạp vịt hay kayak thưởng ngoạn các địa danh sử thi như: Đá Thành, đá Bàn Cờ, đá Chùm, đá Dựng, đá Trải, thác Cá Bay, vũng Cá Rói, hòn Trào, hòn Lò Rượu, dấu Chân Khổng Lồ Tham quan căn cứ địa của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, nghĩa binh Cần Vương chống Pháp của Mai Xuân Thưởng, nơi hoạt động của lực lượng Cách mạng ở địa bàn Tây Nam huyện Tây Sơn những năm chống Mỹ cứu nước; các di tích lịch sử ngay bên cạnh như: Bảo tàng Quang Trung, các tháp Chàm, nhà từ đường của các võ tướng thời Tây Sơn: Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng
1.2.5 Khu du lịch Tư Rừng Đước
Rừng đước ở xã Vĩnh Thái (Nha Trang), với diện tích 25.000m2
, đang trở thành điểm du lịch sinh thái độc đáo ngay trong lòng thành phố biển Hiện khu rừng đước độc đáo đang này trở thành nơi trú ẩn và làm tổ của cò xanh và là nơi
Trang 38tụ tập của cò trắng vào mùa Xuân; đặc biệt, có hai loại sinh vật độc đáo chỉ thấy
ở miền Nam là con ba khía và con nha
Với quan điểm "làm du lịch theo kiểu không xâm hại đến cánh rừng", khu
du lịch cấm du khách bỏ rác thải xuống nước; không dùng thuyền máy có động
cơ nhằm bảo vệ tôm cá trong rừng, tránh gây sợ hãi cho những đàn cò bay về Khu du lịch phục vụ nhu cầu tham quan rừng đước với các loài đặc hữu; cho thuê cần, chòi câu cá và chế biến, thưởng thức thành quả tại chỗ
1.3 Thị trường khách du lịch đến Việt Nam
Trong giai đoạn 2000 – 2012, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng Thị trường trọng điểm là các nước Đông Bắc Á, Châu Âu, Trong
đó, thị trường Trung Quốc chiếm tỉ trọng lớn nhất (gần 21% năm 2012), tiếp đó
là thị trường Hàn Quốc (hơn 10% năm 2012); một số thị trường có xu hướng tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây là Nga, Thái Lan, Malaisia, Pháp, Anh, Tuy cơ cấu thị trường khách có nhiều thay đổi nhưng vẫn chưa thu hút được nhiều khách du lịch cao cấp, tỉ trọng khách du lịch thuần túy, nghỉ dưỡng dài ngày, chi tiêu cao vẫn hạn chế Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần những giải pháp kịp thời để thu hút được những thị trường gửi khách lớn trên thế giới, với mức chi tiêu cao dành cho du lịch Châu Âu chính là một thị trường như thế, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là một trong những điểm đến ưa thích của đối tượng khách này
Trang 39Bảng 1.1 15 thị trường dẫn đầu về khách quốc tế
đến Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012
Năm
Nước
Số lượt khách
Tỉ trọng (%)
Số lượt khách
Tỉ trọng (%)
Số lượt khách
Tỉ trọng (%)
Trang 401.3.1 Đặc điểm chính của khách du lịch châu Âu
– Kênh thông tin tiếp cận để đi du lịch: Một trong những kênh thông tin
tiếp cận để đi du lịch đối với người châu Âu hiện nay là mạng internet với hai hình thức phổ biến, mang tính quyết định là thông tin quảng cáo trên mạng internet truyền thống và thông tin qua mạng xã hội Bên cạnh đó, người châu Âu coi trọng lời khuyên của người thân, bạn bè và cả những gợi ý của những chuyên gia đi du lịch thông qua những bài viết, những nhận xét trên trang thông tin cá nhân của họ khi cân nhắc đưa ra những quyết định đi du lịch
– Hình thức tổ chức chuyến đi: Đối với nhóm người châu Âu đi du lịch xa
dài ngày đến châu Á, châu Mỹ và châu Phi thường đi thành đoàn thông qua các công ty lữ hành
– Thời gian đi du lịch và độ dài chuyến đi: Người châu Âu thường đi du
lịch vào các kỳ nghỉ dài ngày như Giáng sinh, nghỉ hè Thời gian trung bình một chuyến du lịch xa đến các nước châu Mỹ, Đông Á… thì có thể kéo dài hai tuần hoặc hơn
1.3.2 Nhu cầu, sở thích của khách du lịch châu Âu
– Về vận chuyển: Hàng không có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển
khách châu Âu sang du lịch Việt Nam Khách châu Âu khi đến Việt Nam thích thuê xe đạp tự đi hoặc đi bằng xích lô để có thể dễ dàng tiếp cận được với cảnh vật và con người xung quanh ở các điểm tham quan tại các thành phố, các điểm đến du lịch
– Về lưu trú và ăn uống: khách châu Âu là nhóm khách thích đến lưu trú và
ăn uống tại các khách sạn, nhà hàng do người châu Âu đầu tư hoặc quản lý và thường lựa chọn các khách sạn từ 3 sao trở lên (chiếm đến 76%) Khách châu
Âu thích uống cà phê, rượu vang, thích các món nướng, rán, các món nấu nhừ,
ăn súp vào buổi tối, tráng miệng bằng các loại hoa quả, bánh ngọt
– Về vui chơi, giải trí và mua sắm: Việt Nam với những bãi biển dài bên bờ
cát trắng xinh đẹp thu hút người dân châu Âu vốn có sở thích tắm nắng, và du