1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

200 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các thể loại như thơ, văn, trướng, đối…Ngoài số này ra, tác phẩm của Nguyễn Khắc Trạch còn được chép lẫn trong không ít sách của người khác.. Nhưng điểm mấu chốt khiến cho tôi băn khoăn

Trang 1

NGUYỄN THỊ HOA LÊ

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG

TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI

VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM

MÃ SỐ: 60.22.40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TRẦN NGHĨA

H NỘI - 2007

Trang 2

các thể loại như thơ, văn, trướng, đối…Ngoài số này ra, tác phẩm của Nguyễn

Khắc Trạch còn được chép lẫn trong không ít sách của người khác

Trong các tác phẩm đó, thơ chiếm phần chủ yếu Bản nhiều nhất có đến

422 bài (bản VHv.212), về văn, bản nhiều nhất có 54 bài Nếu tổng cộng các văn

bản lại, có đến hơn một nghìn bài thơ và mấy trăm bài văn Số lượng thơ văn

như thế quả là đồ sộ Nhưng đó mới chỉ là nhìn từ góc độ hình thức Còn khi đi

sâu vào nội dung cụ thể từng văn bản ta mới thấy chúng đang hàm chứa nhiều

ẩn số Các nhà văn bản học Hán Nôm cho biết kho thư tịch Hán Nôm của chúng

ta hiện nay, nhất là các văn bản viết tay, thường có nhiều vấn đề phức tạp, rối

rắm về mặt văn bản Nào là “thật giả lẫn lộn, sao đi chép lại quá nhiều”; nào là

“khó đọc, khó hiểu”…Các văn bản của nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc

Trạch hiện còn cũng không nằm ngoài tình trạng đó Khi xem cụ thể nội dung

trong từng tác phẩm, thấy sự tương đồng và dị biệt giữa các tác phẩm rất nhiều

Ngoài ra, có những bản còn có chép cả thơ văn của người khác Bởi vậy, việc

nghiên cứu văn bản nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch là một nhu

cầu khách quan mang tính điển hình về mặt văn bản học đối với di sản Hán

Nôm Đó là lí do đầu tiên thôi thúc tôi lựa chọn đề tài này

Lí do thứ hai, nhóm tác phẩm mang tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch chủ

yếu ra đời vào thời Nguyễn Đây là thời kì khoa cử rất phát triển, người đỗ đạt

rất nhiều, vì vậy người trùng tên trùng họ cũng không ít Trong các sách như Cổ

kim trùng tính trùng danh khảo của Mai Phong - Đặng Xuân Khanh, sách Hán ra

đời vào khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, hay Quốc triều Hương khoa lục

của Cao Xuân Dục, hoặc Trạng nguyên Tiến sĩ hương cống Việt Nam, và Những

ông nghè ông cống triều Nguyễn… đều cho biết thời Nguyễn có bốn người trùng

tên họ, đều đỗ Cử nhân tên là Nguyễn Khắc Trạch Vậy nhóm tác phẩm mang

tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch trên là thuộc về ai trong số bốn vị này? Học giả

Trần Văn Giáp trong sách Lược truyện các tác gia Việt Nam Nxb.KHXH, 1971

Trang 3

nghiệp của Nguyễn Khắc Trạch ở xã Bình Hồ, huyện Đông Yên, và sách này đã

mặc nhiên coi nhóm tác phẩm mang tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch là của

Nguyễn Khắc Trạch làng Bình Hồ Phần Phụ lục trong sách có trích dịch khoảng

80 bài thơ trong nhóm các tác phẩm này Nhưng điểm mấu chốt khiến cho tôi

băn khoăn trăn trở và dẫn dắt tôi thao thức với mỗi dòng chữ trong các văn bản

của các phẩm, chính là lời của GS Trần Nghĩa người được tác giả Nguyễn Khắc

Chính mời viết “Lời giới thiệu” cho cuốn sách, GS viết rằng: “Nguyễn Khắc

Trạch là quan chức thanh liêm, chính trực, được người đời ngưỡng mộ, quý

mến, triều đình trọng dụng Ông đồng thời còn là một nhà văn hóa đa diện, có

những đóng góp nhất định trong các lĩnh vực giáo dục, lịch sử, kiến trúc, xây

dựng và văn hóa Về sáng tác, sách Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập I, do

Trần Văn Giáp chủ biên, NXB KHXH, 1971, cho biết Nguyễn Khắc Trạch có

các tập thơ văn sau đây: Nhuế Xuyên bạch bút thi tập, Nhuế Xuyên tập, Nhuế

Xuyên thi tập , Nhuế Xuyên văn tập… Nhìn chung, đối với một số tác phẩm Hán

Nôm hiện nay, còn có điều chưa được rõ ràng, cần tiếp tục được nghiên cứu”

Ngay soạn giả Nguyễn Khắc Chính trong sách Danh nhân Nguyễn Khắc Trạch

(1797-1884), thân thế và sự nghiệp, trang 50, chú thích (32), sau khi liệt kê các

tác phẩm của Nguyễn Khắc Trạch, cũng cảm thấy băn khoăn: “Danh mục các

tác phẩm trên tập hợp từ nhiều sách, báo, tạp chí Tuy nhiên vẫn còn những điều

chưa được xác định rõ ràng, cần nghiên cứu thêm” Quả thực khi xem hết lượt

các tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch hiện còn, thấy nhận định của học

giả Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam về tác giả của nhóm

tác phẩm trên đã có chỗ không đúng Ông đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”

Bởi vậy tôi quyết định nghiên cứu văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn

Khắc Trạch hiện còn, nhằm làm sáng tỏ ai trong bốn vị Nguyễn Khắc Trạch

cùng đỗ Cử nhân dưới triều Nguyễn là tác giả đích thực của nhóm tác phẩm này

2 Lịch sử vấn đề:

Trang 4

Nguyễn Khắc Trạch làng Bình Hồ, Nguyễn Khắc Chính đã giới thiệu tác phẩm

của ông bao gồm những tác phẩm như LTCTGVN và sách DSHNVN-TMĐY đã

thống kê Trong phần phụ lục sách này, tác giả Nguyễn Khắc Chính có giới

thiệu bản dịch và chú thích khoảng 80 bài thơ trích trong tác phẩm Nhuế Xuyên

tùy bút thi tập (VHv.212) và Nhuế Xuyên thi tập (A.444) Theo nguyên chú ở

trong sách, phần trích dịch này do GS.Trần Nghĩa và Thọ Nhân dịch Ngoài ra,

trong sách này tác giả Nguyễn Khắc Chính còn trích rất nhiều những nhận định,

nhận xét của các sách, các bài báo khác ở tỉnh Hưng Yên viết về sự nghiệp văn

học của Nguyễn Khắc Trạch ở xã Bình Hồ Chẳng hạn như Nguyễn Phúc trong

sách Danh nhân Hưng Yên (Sở VHTT và Hội VHNT Hưng Yên, 1997) viết:

“Nói về văn chương Nguyễn Khắc Trạch thì thật là một điều khiến nhiều người

sửng sốt, ông để lại trên một chục tác phẩm với hàng nghìn bài thơ, vài trăm bài

văn…” Còn Hai trăm năm nhớ về một con người (Báo Hưng Yên ngày 06- 12-

1997) Thế Hải viết: “Ân Thi xưa sau Nguyễn Trung Ngạn (1298 - 1370) có tài

học rộng, văn thơ hay phải kể đến Nguyễn Khắc Trạch (1797- 1884), ông đã để

lại hàng nghìn bài thơ và hàng trăm bài văn”

Tóm lại, cũng như Nguyễn Khắc Chính, các sách báo khác ở Hưng Yên

khi viết về Nguyễn Khắc Trạch ở xã Bình Hồ đều cho biết ông có những tác

phẩm như Trần Văn Giáp đã cho biết trong LTCTGVN và DSHNVN-TMĐY đã

lên thư mục Những nhận định, đánh giá về những tác phẩm của Nguyễn Khắc

Trạch còn dừng lại ở mức chung chung, chưa thật cụ thể Bởi vậy, luận văn của

tôi sẽ là cố gắng đầu tiên đi vào nghiên cứu văn bản những tác phẩm mang tên

Nguyễn Khắc Trạch hiện còn được lưu trữ ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán

Nôm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Văn bản nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc

Trạch được viết bằng chữ Hán, hiện lưu giữ ở thư viện Viện nghiên cứu Hán

Trang 5

Do yêu cầu nghiên cứu văn bản, luận văn sẽ vận dụng các phương pháp của

văn bản học, bắt đầu là việc thu thập đầy đủ văn bản nhóm tác phẩm mang tên

Nguyễn Khắc Trạch mà cuốn DSHNVN-TMĐY đã nêu trong thư mục Thứ đến,

tiến hành mô tả vật lý, đọc văn bản, xử lí các nội dung chứa trong văn bản, làm

thư mục các bài thơ bài văn để so sánh đối chiếu nhằm tìm ra bản tiêu biểu nhất,

đáng tin cậy nhất Ngoài ra còn tìm hiểu về quá trình truyền bản, chữ kiêng húy

để xác định niên đại của văn bản

4.2 Phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu, phân tích chứng minh

Luận văn thống kê những cứ liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp của

các vị Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch trong và ngoài tác phẩm (nội chứng, bàng

chứng) để từ đó tiến hành so sánh đối chiếu, từ đó chứng minh ai là tác giả đích

thực của nhóm văn bản này

5 Đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất, trên cơ sở thu thập văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn

Khắc Trạch hiện còn, tiến hành nghiên cứu văn bản tìm ra bản đáng tin cậy nhất,

đây là điều trước đây chưa ai làm Đồng thời, lập thư mục số lượng các bài trong

các dị bản, tiến hành so sánh đối chiếu sự tương đồng và dị biệt để đi đến xác

định số lượng các bài thơ, bài văn đích thực của tác giả là bao nhiêu

Thứ hai, từ các nội chứng trong tác phẩm, kết hợp với những bàng chứng

về thân thế và sự nghiệp của tác giả, luận văn đã chứng minh được ai là tác giả

đích thực của nhóm tác phẩm này, nhằm đem lại quyền tác giả cho tác phẩm

Tránh tình trạng từ một ngộ nhận của một học giả đi trước mà kéo theo bao nhận

định sai lầm khác của các thế hệ kế sau

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn có 3 chương như sau:

Trang 7

cho biết văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch tại thư viện

Viện nghiên cứu Hán Nôm còn có 9 bản Tên gọi các tác phẩm phần lớn có hai

từ chung đứng đầu là “Nhuế Xuyên”, cũng có bản viết là “Nhuế Giang” hay

“Thuấn Nhuế” Theo nội dung bài thơ “Tân định danh hiệu trình Vĩnh Lăng nhị

thú đài” trong tác phẩm Nhuế Xuyên tùy bút thi tập, thì “Nhuế Xuyên” là tên

hiệu của Nguyễn Khắc Trạch tự đặt cho mình Vậy có thể tên gọi các tác phẩm

như thế là do tác giả tự ghi, cũng có thể do người sưu tầm sao chép số thơ này tự

ý ghi vào Tên cụ thể của các văn bản là:

(1) Nhuế Xuyên thi tập Kí hiệu A.444

(2) Nhuế Xuyên thi tập Kí hiệu VHv.213

(3) Nhuế Xuyên tùy bút thi tập Kí hiệu VHv.212

(4) Nhuế Xuyên bạch bút thi tập Kí hiệu A.517

(5) Nhuế Xuyên văn tập Kí hiệu A.2169

(6) Nhuế Xuyên thặng bút văn tập Kí hiệu VHv.214

(7) Nhuế Xuyên trướng tập Kí hiệu VHv.215

(8) Thuấn Nhuế thi văn tập Kí hiệu A.2538

(9) Thọ tịch châu cơ Kí hiệu VHv.608

(10) Ngoài ra, thơ, phú của Nguyễn Khắc Trạch còn có chép trong nhiều

tác phẩm của người khác Như thơ của Nguyễn Khắc Trạch có chép trong Minh

đô thi tuyển Kí hiệu A.2171; Vi giang hiệu tần tập Kí hiệu VHv.216; Vũ trung

tùy bút Kí hiệu A.2312 Phú có chép trong Tam đăng Hoàng Giáp trường phú

Kí hiệu VHv.321

Ở đây chúng tôi chủ yếu chỉ đi vào mô tả tình trạng văn bản và đi sâu tìm

hiểu các văn bản độc lập của Nguyễn Khắc Trạch, còn thơ văn trướng phú của

ông chép ở tác phẩm của người khác thì chỉ tìm hiểu về phần của Nguyễn Khắc

Trạch ở trong đó mà thôi Sau đây là tình trạng của từng loại văn bản

1.1.1 Tình trạng các văn bản thơ

Trang 8

phẩm Tên tác phẩm viết dọc bằng bút lông mực tàu đen, cỡ chữ lớn hơn phần

chính văn Sau tờ này, còn có hai tờ giấy để trống, rồi mới đến phần chính văn

Mặt a tờ thứ nhất (trong hai tờ giấy để trống) có dòng chữ Hán “Sơn Tây Yên

Sơn Thuấn Nhuế nhân, Tự Đức tứ thập niên Tân Dậu khoa Cử nhân, quan sử

quán biên tu” Dòng chữ này viết bằng bút mực xanh của thời nay, nên đây là

chữ của người thời nay mới viết vào Tiếp đến là phần chính văn Dòng đầu tiên

của phần chính văn “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất” Sau dòng này,

có một đoạn đề bạt (khoảng ba dòng), tiếp đến thơ

Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ, để trống một khoảng để viết tên tác phẩm

“Nhuế Xuyên tùy bút thi tập” Bản này không thấy đánh số trang Phần chính

văn tổng cộng 189 trang, mỗi trang văn bản được chép 8 dòng, mỗi dòng có

khoảng 23 đến 24 chữ Cả bản đều chép thơ, tổng cộng 422 bài Tên các bài thơ

đều viết án xuống nên rất dễ nhận ra Thơ vừa có tứ tuyệt vừa có thất ngôn bát

cú, cũng có lẫn vài bài ngũ ngôn và thất ngôn trường thiên Riêng trong “Nhuế

Xuyên tùy bút quyển chi nhất” đều làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt; còn các

quyển sau thì chủ yếu là thơ thất ngôn bát cú Trong thơ có rất nhiều phụ chú và

cước chú, gần như bài nào cũng có Cước chú và phụ chú, cỡ chữ nhỏ hơn chính

văn

Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ gạch, viết bằng

bút lông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, bổ sung chữ thiếu, xóa chữ

viết sai, đồng thời viết chữ đúng theo cách nhìn của người đọc duyệt văn bản

Nét bút duyệt này ở q1và q4 chỉ dùng để ngắt câu, không thấy có sửa chữa hay

thêm bớt gì Ở q2 và q3 việc thêm chữ, thêm câu chú, gạch bỏ sửa lại xuất hiện

tương đối nhiều Tính ra có đến khoảng 45 chỗ Có những chỗ thêm cả câu chú

vào văn bản, như ở trên cùng d8 t77 thêm vào mấy chữ “Lê thần dĩ hạ”; bên

phải d6 t80 thêm vào mấy chữ “Thiên cổ trung nhất can bút họa xuất”; bên phải

d6 t104 thêm vào mấy chữ “Thiếu bảo Bùi Tuấn dã” vv Ngoài ra, dấu bút duyệt

Trang 9

quyển cộng với một phần cuối chia tác phẩm theo thời gian sáng tác Thứ tự các

quyển và phần phụ thêm cụ thể như sau:

- “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất” từ t1 đến d7 t41

- “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi tứ” từ d8 t41 đến hết t76

- “Nhuế Xuyên thi tập quyển chi nhị” từ t77 đến d1 t147, cộng với một

phần phụ thêm ở cuối quyển 3 từ t165 đến t170, phần phụ thêm chắc do người

chép bổ sung

- “Dĩ hạ tại đệ tam quyển” từ d2 t147 đến t163 Giữa quyển ba và phần

chép thêm của quyển hai để trống một mặt giấy Tên quyển ba không trình bày

như ba quyển trên, tức tên quyển không viết chữ to bằng chính văn và viết giống

quyển 1 và quyển 4 theo kiểu “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi…” mà viết

bằng cỡ chữ nhỏ như phụ chú dưới mục đề của một bài thơ, tức chỉ viết “dĩ hạ

tại đệ tam quyển”, sau bài cuối cùng quyển này còn chú cho rõ thêm “hữu tại đệ

tam quyển

- “Nhuế Xuyên thi tập, nc: Đinh Sửu dĩ hạ”, từ t171 đến t189 (đến hết)

Phần này không chia theo quyển mà chia theo trình tự thời gian sáng tác Năm

sáng tác được ghi chú ngay dưới tên phần thơ đó

Như vậy bản này vừa chia theo quyển vừa chia theo trình tự thời gian sáng

tác Các quyển trong văn bản cũng không đặt theo trình tự, q4 lại đặt lên trước

q2 và q3, có lẽ khi sưu tập thơ của tác giả, người chép tìm thấy q4 trước

Trong cả bản, có ba loại chữ khác nhau Cụ thể là: q1 và q4 (t1 đến t53)

viết cùng một loại chữ, chữ viết theo thể hành, có nhiều chữ viết theo giản thể,

nhưng ít chữ viết ngoáy, nét viết hơi tròn Sang q2 và q3 (t74 đến t170) nét bút

nhìn tổng thể khác với phần trên, cũng viết theo thể hành, có nhiều chữ viết

thảo, đá thảo, nét bút phóng khoáng hơn, thể hiện rõ nét thanh nét đậm, vuông

thành sắc cạnh hơn phần trước Phần “Nhuế Xuyên thi tập, Đinh sửu niên dĩ hạ”

Trang 10

trong hai quyển này đều viết theo kiểu giản thể này

Ở q2 và q3, chữ “thanh” cũng có một số nơi viết theo giản thể nhưng phần

lớn đều viết theo phồn thể và viết thảo, các nét trong chữ gần như viết liền nhau,

như ở: d1 t83, d5 t88, d5 t96, d3 t97, d8 t103, d8 t109, d6 t115, d6 d8 t121, d5

t129, d4 t132, d8 t132, d2 t134, d4 t136, d1 t141, d1 t153, d8 t154, d4 t155, d4

t156, d8 t157, d4 t159, d5 d7 t162…

Ở phần “Nhuế Xuyên thi tập Đinh Sửu niên dĩ hạ”, chữ “thanh” được viết

theo dạng phồn thể, các nét, các bộ phận trong chữ tương đối rõ ràng, chỉ có bộ

“nhĩ” viết tháu giống như con số 3 trong chữ quốc ngữ bây giờ, ví dụ ở: d8t172,

d6t183, d3t185…

Với ba loại chữ khác nhau như thế, cho thấy văn bản này do nhiều người

sao chép

Trong bản, đầu q1 có một đoạn đề tựa đặt sau dòng “Nhuế Xuyên tùy bút

thi tập quyển chi nhất ” như sau: “Dư nhân bình duyệt bản phủ Thái thú Nguyễn

Phát Khoa, (nc: Thừa Thiên Thành Công) Lịch hoạn thi phổ, mỗi ngộ vị an xứ,

tùy bút cải chính, cựu hủy tân thành, toại vi kỷ tác, hỗn nhập tập trung, chí dư

thi dã Biệt cư tập thủ, minh phi dư đề dã Ngự sử cải thụ Thị lang Thuấn Nhuế

Ngoại thôn Nguyễn tiên sinh cẩn thức ” (Ta nhân lúc bình duyệt ‘Lịch hoạn thi

phổ’ của Nguyễn Phát Khoa người xã Thành Công, huyện Quảng Điền, tỉnh

Thừa Thiên là Thái thú ở phủ ta Mỗi khi gặp chỗ chưa ổn, tiện tay sửa đổi, bỏ

cũ thay mới, bỗng trở thành tác phẩm của ta, rồi chép chung vào trong tập thơ

của ta Nhưng số thơ này để riêng ở đầu tập, vì chúng nguyên chẳng phải là thơ

làm theo đề của ta Ngự sử cải thụ Thị Lang Thuấn Nhuế Ngoại thôn Nguyễn

tiên sinh kính cẩn đề tựa) Theo đoạn đề tựa này, nhất là từ “đầu tập”, ở đây

chưa rõ ý của ông “đầu tập” là của “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất”

hay “đầu tập” là phần đầu của tác phẩm “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập” tức cả văn

Trang 11

huyện đường ” rồi bài “Quảng Xương học xá” vv Để sau đây cho tiện gọi xin đặt

cho phần này là “Thanh Hóa thi”

Phần sau, từ bài 80 đến bài 138, nội dung gồm các bài thơ vịnh về núi sông,

cảnh vật, nhân tài, tập tục…ở phủ Quốc Oai Bài đầu tiên của phần này là “Quốc

Oai phủ thành ” rồi bài “Quốc Oai phủ học xá” vv Để sau đây cho tiện gọi

cũng xin đặt cho phần này là “Quốc Oai thi”

Dưới tiêu đề bài “Quốc Oai phủ thành” của phần “Quốc Oai thi” có cước

chú: “Tập trung đại thú khẩu vẫn” (trong tập này ta thay cho giọng điệu của thái

thú) Nếu như dựa vào câu nói này thì phần này lại là thơ của Khắc Trạch ư? Ở

bản Nhuế Xuyên thi tập, Kí hiệu A.444 cũng có phần “Quốc Oai thi” Phần

“Quốc Oai thi” ở Nhuế Xuyên thi tập được mang tên “Nhuế Xuyên lịch hoạn thi

- Quốc Oai thi thảo”, không thấy viết lời tựa nói trên, không thấy chép phần đầu

(phần “Thanh Hóa thi”) Như thế tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập A.444 đã công

nhận phần “Quốc Oai thi” là của Nguyễn Khắc Trạch

Nhưng riêng tôi thì không, tôi cho rằng nửa sau của quyển 1 (tức phần

“Quốc Oai thi” <t24b80 đến t41b138> vẫn là thơ của Nguyễn Phát Khoa Kết

luận này căn cứ vào: thứ nhất như lời của tác giả trong bài tựa đầu quyển 1 đã

nói: “Nhưng số thơ này để riêng ở đầu tập, vì chúng nguyên chẳng phải là thơ

làm theo đề của ta” “Đầu tập” trong câu này chắc là đầu của “Nhuế Xuyên tùy

bút thi tập” tức đầu tác phẩm Thứ hai, ở trong phần này dưới nhiều bài thơ có

các cước chú ở cuối bài thơ kiểu như: “Nam kì nhân hữu bất tri loa giả, cựu

thường vấn dư, dư thư thử dĩ đáp chi” (Người ở Nam Kì không biết loa như thế

nào, trước đây hay hỏi ta, ta viết bài này để trả lời họ) <Phụ đáp vấn loa, t35

b116>; “Nam Kì vô thử thuế cố Thái thú dị nhi mệnh vi đề” (Nam Kì không có

loại thuế này cho nên thái thú thấy lạ mà làm bài này) <Cước mễ thuế,

t40b132>; “Nam vô đê bất tri tác pháp dị nhi mệnh chi” (Trong Nam không có

đê, nên không biết cách làm, thấy lạ nên làm bài này) <Đê tâm gia chử,

Trang 12

trần bày cấp trên ban cho sở quan phủ Quốc Oai chúc mừng quan của bản phủ)

<VHv.214, t126b48>, Phát Khoa sau khi thi đỗ Cử Nhân chức giữ chức đầu tiên

là Án sát tỉnh Thanh Hóa, một thời gian làm Tri huyện huyện Hòa Vinh, phủ

Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Sau đó lại cải bổ Thái thú phủ Quốc Oai Không

những Nguyễn Khắc Trạch duyệt bình, nhuận sắc thơ của Nguyễn Phát Khoa

mà còn làm rất nhiều thơ tặng tiễn, chúc mừng ông, chẳng hạn như chùm thơ

“Tập Đường thập thủ tống song linh tân doãn Nguyễn Phát Khoa chi quan”

<A.515, t43>… Thứ ba, cũng theo bài văn “Tứ Quốc Oai phủ nha hạ bản quan

trướng tự ” có những đoạn viết: “Tân thú doanh phủ Nguyễn công lai, nhi phụ

mẫu ngã, thất nguyệt dĩ cập kim hĩ Mệnh thủy hạ, mạc hữu thức kì tường giả

Chất chư Ngự sử Nhuế Xuyên Nguyễn đài, đài viết ‘ngô hữu dã, ngô tri chi,

quốc sơ Thành Công tổng trấn quan’… Nhuế Xuyên thường tập Đường thi dĩ

tiễn công khứ…Phục văn công hữu ‘Lịch hoạn thi phổ’, cận lai ngã phủ sơn

xuyên, cảnh vật, nhân tài, phong tục, đương dĩ nhập vịnh.” (Thái thú mới ông

Nguyễn lớn lao thay đã đến, ông là quan phụ mẫu của bọn ta từ tháng 7 đến nay

Khi mới có lệnh ông đến phủ ta, không có ai biết tí gì về ông cả, bèn đến hỏi

Ngự sử Nhuế Xuyên Nguyễn đài, ông trả lời rằng ‘là bạn của ta, ta quen ông ấy,

ông là quan ở tổng trấn Thành Công từ đầu thời Tự Đức…’ Ông Nhuế Xuyên

thường làm thơ tập Đường để tiễn ông đi…Còn nghe ông có ‘Lịch hoạn thi

phổ’ phong tục, nhân tài, cảnh vật, núi sông của phủ ta gần đây đã được

ông vịnh vào trong thi phổ) Thứ tư, trong phần này có nhiều cước chú có khi

dưới câu thơ, có khi dưới tiêu đề: “nguyên, nhuận, tân” (để nguyên, sửa đổi, làm

mới) bằng bút mực đen cùng màu với chính văn, nên có lẽ đó là lời chú của

Khắc Trạch khi nhuận sắc phần thơ này Qua đây chúng ta có thể khẳng định

rằng q1 (từ bài“Quốc Oai phủ thành”<b80t25> trở đi) do Nguyễn Phát Khoa

làm, nhưng chắc phần này được Nguyễn Khắc Trạch khi bình duyệt đã sửa đổi

nhiều, có những chỗ sửa chữa nhiều quá, trở thành như thơ của Khắc Trạch

Trang 13

viết Sau tờ này đến tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập Đây là bản hợp đính nên có

hai tác phẩm, tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập có kí hiệu A.444 ở nửa đầu văn bản,

nửa sau là Tốn Trai thi tập kí hiệu A.445 Phần gáy quét sơn đỏ, trên đó viết tên

của tác phẩm nhưng do mối mọt ăn nên đã mất một số chữ chỉ còn “Xuyên thi

tập - Tốn Trai thi” Như vậy đã mất đi chữ “Nhuế” và “tập hợp đính”

Ở mỗi trang, mép bên ngoài đều ghi Nhuế Xuyên thi tập, phía dưới ghi số

thứ tự tờ Phần chính văn tổng cộng 246 trang, viết trên hai mặt giấy, mỗi trang

văn bản có 9 dòng, mỗi dòng có khoảng 19 chữ Dòng đầu tiên tờ 1 phần chính

văn là “Nhuế Xuyên cử nhân Nguyễn Khắc Trạch thi tập”, ở đây chữ “Trạch”

tên tác giả được viết bằng chữ (澤), nhưng ở các bản khác đều viết chữ (宅), cỡ

chữ dòng này bằng chính văn Từ đầu tác phẩm đến cuối tác phẩm được viết

cùng một loại chữ, chữ chân phương, rõ ràng, dễ đọc Các cước chú, phụ chú

khá nhiều, nhưng viết không nhất quán, có chỗ viết chữ nhỏ hơn phần chính văn

(ví dụ: d4 t39; d1 t39; d2 t41), có chỗ lại viết chữ to bằng phần chính văn (d7,8

t38; cả trang 49) Tiêu đề các bài thơ viết không đài lên hay án xuống nên rất

khó nhận ra

Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ hồng, bằng bút

lông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, đánh dấu bên địa danh, nhưng

không thấy sửa chữa, gạch xóa hay thêm bớt Cả bản đều nhất quán viết kiêng

húy chữ “thời” thành chữ “thìn”

Văn bản không có bạt tựa gì, tên tác phẩm là “thi tập”, nhưng trong đó chép

lẫn cả thơ, văn, phú và câu đối Cả bản tổng cộng có 331 bài thơ, 19 bài văn,

hơn 100 cặp câu đối, câu đối chép xen lẫn trong phần văn Từ trang đầu đến

trang 159 chép thơ, sau trang 159 đến hết chép văn và câu đối

Mặc dầu không chia quyển nhưng có các phần đặt theo trình tự như sau:

- “Nhuế Xuyên Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch thi tập” từ t1 đến t92,

Trang 14

Phạm Vũ Khải phụng họa ” <b207 t111>, “Trường Xuân phủ doãn Lê Khắc Cẩn

phụng họa ” <b208 t112> vv Như vậy, theo như tên của phần thơ “Hoàng triều

ngự chế quan chức thi” nên trong phần này có thơ của nhiều khác Tính ra có 17

bài có chú hoặc tiêu đề dạng như vậy

-“Nhuế Xuyên lịch hoạn thi - Quốc oai thi thảo” từ t126 đến t146, có 57 bài

thơ, toàn thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt 57 bài thơ phần này tương đồng

với phần “Quốc Oai thi” ở nửa sau q1 của bản VHv.212 nói trên Như đã chứng

minh, nhận định trong phần tình trạng bản VHv.212, đó là thơ của Nguyễn Phát

Khoa

- Cuối t146 sau phần thơ “Nhuế Xuyên lịch hoạn thi-Quốc Oai thi thảo” có

dòng cước chú “Thượng chư thi Lê triều Trần tiến sĩ cảm tác” (Trên đây là cảm

tác của Tiến sĩ Trần triều Lê) Nếu theo ý câu chú này, phần “Nhuế Xuyên lịch

hoạn thi - Quốc Oai thi thảo” là cảm tác của Tiến sĩ Trần triều Lê Nhưng theo

bài tựa ở bản VHv.212, đó là thơ của Nguyễn Phát Khoa, được Nguyễn Khắc

Trạch bình duyệt và nhuận sắc Vậy có lẽ người sao chép đã viết nhầm chăng?

Quả đúng như lời phỏng đoán, bởi sau dòng chú “Thượng chư thi Lê triều Trần

tiến sĩ cảm tác” có 31 bài thơ Đến cuối bài thứ 26 trong 31 bài này (t157) lại có

dòng cước dưới một bài thơ: “Hữu chư vịnh Lê triều Trần tiến sĩ cảm tác” (Phần

bài vịnh ở trên là cảm tác của Trần tiến sĩ triều Lê) Như vậy chữ “thượng” trong

“Thượng chư thi Lê triều Trần tiến sĩ cảm tác” ở trang 146 phải đổi là “hạ” mới

ăn khớp với chú ở t157, như thế người sao chép đã viết nhầm Vậy 26 bài trong

phần này là của Tiến sĩ Trần triều Lê

- Tiếp đó (t158 và t159), còn có 4 bài thơ, không thấy chú thích gì, nên

cũng chưa biết có phải thơ của Nguyễn Khắc Trạch không?

- Từ trang 160 đến hết chép câu đối lẫn văn, phần văn này chép rất tùy

tiện, nhiều bài không có tiêu đề Nói chung phần văn và câu đối trong bản này

Trang 15

3 Nhuế Xuyên bạch bút thi tập Kí hiệu A.517

Khổ 22 x 32, viết trên giấy dó dày Bìa bằng giấy các tông màu vàng đóng

đôi, phần gáy phía sau đã sờn rách Khoảng 1/3 nửa trên của gáy phía sau đề tên

tác phẩm “Nhuế giang bạch bút thi” Văn bản có đánh số trên tất cả các trang ở

mép ngoài

Trừ tờ bìa chính và tờ bìa phụ, tổng cộng có 142 trang chính văn, chép trên

hai mặt giấy, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ Cả bản viết cùng một loại chữ,

chữ viết rõ ràng chân phương, dễ đọc, không có chữ viết tháu hay thảo Cả tác

phẩm có 306 bài thơ, chép liền mạch không chia quyển hay phần

Trang đầu, dòng đầu viết “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập”, dòng thứ hai “Ngự

sử An Chi Nguyễn Khắc Trạch” Trong dòng thứ hai chữ “Trạch” tên tác giả có

hai chữ, chữ trên viết 澤, bên phải chữ này có dấu gạch bỏ, phía dưới viết lại

bằng chữ 宅

Trong văn bản không có dấu tích đọc duyệt văn bản, rất ít cước chú, phụ

chú Cỡ chữ của phần phụ chú, cước chú hầu như viết bằng chính văn nên rất

khó phân biệt, ví dụ ở d 7,8,9 t1; d1,2,6,7,8 t4; d4 t6…Về tình hình kiêng húy,

chữ “thời” trong toàn văn bản đều viết kiêng húy thành chữ “thìn”

4 Nhuế Xuyên thi tập Kí hiệu VHv.213

Khổ 20 x 18, viết tay trên giấy dó dày Bìa chính bằng giấy xi-măng quét

sơn đen, sau đó có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ,

có để một khoảng trống viết tên tác phẩm Sách được kẻ khung bằng mực đỏ

nhạt để viết cho ngay Mép ngoài giữa hai trang có chữ “Tường Thái tạo”, cũng

bằng mực đỏ Chứng tỏ giấy này do nhà sách Tường Thái làm Sách không đánh

số trang, tính tổng cộng cả bản gồm 72 trang Đầu tác phẩm viết “Nhuế Xuyên

thi tập ”, nhưng dòng 7 trang 42 chép một tập thơ của người khác tên là “Duệ

Trang 16

Trong bản không có dấu tích đọc duyệt văn bản Các chữ “thì” trong văn

bản đều được viết kiêng húy thành chữ “thìn”

5 Thơ của Nguyễn Khắc Trạch chép trong tác phẩm của người khác

- Phần “Nhuế Xuyên bạch bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” trong

tác phẩm Vũ trung tùy bút Kí hiệu A.2312

Phần “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” chép trong tác

phẩm của người khác Chép bắt đầu từ tờ 32a của tác phẩm Vũ trung tùy bút

Phần thơ của Nguyễn Khắc Trạch ở tác phẩm này tổng cộng 26 tờ Tờ đầu, dòng

đầu tiên viết: “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” Dưới dòng

này có dòng chữ nhỏ hơn: “Nguyễn Khắc Trạch An Chi cẩn sao thủ bút” Song

song với dòng chữ nhỏ này có dòng: “Đồng phủ thời dã Cát Đình Hoàng thị

phẩm bình”, dòng này viết bằng bút đỏ gạch Như vậy, phần thơ của Nguyễn

Khắc Trạch trong tác này là thủ bút của chính tác giả, được họ Hoàng Cát Đình

phẩm bình Phần này tổng cộng có 84 bài thơ

Trong bản, dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ gạch

của bút lông, dùng trong các trường hợp như: phẩm bình, ngắt câu, khuyên tròn

bên các câu chữ nào đó, gạch bên những từ chỉ địa danh…Các chữ “thì” kiêng

húy thời Tự Đức đều được viết bằng chữ “thìn”

- Phần thơ trong Minh đô thi tuyển Kí hiệu A.2171

Trong tác phẩm này, phần thơ của Nguyễn Khắc Trạch từ tờ 86a Có tổng

cộng 39 bài Đây là tác phẩm “thi tuyển” nên phần thơ của Nguyễn Khắc Trạch

trong tác phẩm này được tuyển từ nhiều nguồn, trong đó tuyển cả những bài ở

nửa đầu quyển 1 bản VHv.212 (phần “Thanh Hóa thi” và “Quảng Xương thi”,

tức phần chúng tôi đã nhận định là thơ của Nguyễn Phát Khoa do Khắc Trạch

bình duyệt và nhuận sắc) Nói chung, thơ trong phần ít, nhưng tương đồng

nhiều, chỉ có 5 bài dị biệt

- Phần thơ trong Vi giang hiệu tần tập Kí hiệu Vhv.216

Trang 17

Trong phần này có 1 chữ “thời” ở d2 tờ 73a không viết kiêng húy, chứng tỏ

phần thơ trong tác phẩm này được in sau thời Tự Đức

Hiện chỉ còn 4 bản thơ độc lập được mô tả tỉ mỉ ở trên và 3 phần chép

trong tác phẩm của người khác Trong quá trình mô tả văn bản, khi đi vào nội

dung của từng phần trong tác phẩm, chúng tôi đã phát hiện trong trong bản

VHv.212 và A.444 có chép khá nhiều thơ của người khác Bởi vậy, chúng tôi

tổng hợp số lượng thơ của các tác phẩm trước và sau khi đã sàng lọc thơ của

người khác qua bảng I dưới đây

Bảng I: Bảng tổng hợp số lượng thơ trong các tác phẩm trước và sau

khi khấu trừ những bài được nhận định của người khác

Số thơ khi chưa khấu trừ trong các tác phẩm

Số thơ xác định của người khác

Số thơ khi đã khấu trừ trong các tác phẩm

1.1.2 Đối chiếu văn bản và một vài nhận định bước đầu

So sánh đối chiếu văn bản để chọn ra bản có niên đại tương đối sớm và tốt,

đồng thời tìm ra bản có nội dung khá hoàn chỉnh để làm bản nền “để bản”

Qua bảng I, cho thấy số tổng lượng thơ của Nguyễn Khắc Trạch hiện còn

trong các tác phẩm độc lập và các phần chép trong tác phẩm của người khác là

1071 bài Song, trong số 1071 bài này tương đồng và dị biệt rất nhiều Bởi vậy

Trang 18

4 bản độc lập: VHv.212, VHv.213, A.444, A.517 Ngoài ra từ bài 131 đến 306

của bản A.517 xét thấy các bài trong phần này không có sự tương đồng với bản

hay phần nào, khi so sánh cũng mạn phép trừ ra để giảm bớt sự rắc rối trong khi

so sánh So sánh xong chúng tôi sẽ tổng hợp lại sau Phần thơ chép trong tác

phẩm của người khác cũng có sự tương đồng dị biệt, nhưng số lượng thơ ở các

phần này ít, chúng tôi cũng mạn phép so sánh nháp ở ngoài, rồi tổng hợp lại sau

Sự so sánh về tương đồng và dị biệt các bài thơ được thể hiện trong bảng II Còn

sau đây là so sánh để tìm ra để bản

- Bản VHv.212, như tình trạng văn bản đã mô tả, trong một bản có ba loại

chữ, nên bản này do ba người sao chép Hiện chỉ còn thủ cảo của tác giả ỏ phần

“Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” chép ở tác phẩm Vũ trung

tùy bút Chúng tôi đã so sánh nét chữ ở phần này với ba loại chữ trong VHv.212,

không có loại chữ nào giống nhau, vậy có thể kết luận bản VHv.212 này không

phải thủ cảo của tác giả Trong bản này cũng có “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập

quyển chi nhị ” nhưng số lượng bài nhiều gần gấp đôi phần “Nhuế Xuyên tùy bút

thi biên toàn tập quyển chi nhị ” trong tác phẩm Vũ trung tùy bút (VHv.212 có

143 bài, VTTB có 84 bài) Như vậy, qua đây cho thấy q2 của VHv.212 sưu tập

đầy đủ hơn

Đem VHv.212 so với ba bản độc lập VHv.213, A.444, A.517 có một số

điểm vượt trội như sau: Thứ nhất giấy dó bản này mỏng và cũ hơn các bản Sách

mang kí hiệu VHv, có dấu triện của Thư viện KHTƯ, theo nhận định về các

phông sách của DSHNVN-TMĐY, sách ở Thư viện KHTƯ, chủ yếu sách sưu

tầm từ các thư viện thời trước, nên bản này là sách sưu tầm Trong tác phẩm còn

lưu dấu tích bình duyệt và nhuận sắc, điều mà các bản còn lại không có nên nó

gần với thủ cảo hơn Thứ hai, tác phẩm chia quyển và phần rõ ràng, trong các

quyển và phần đó thời gian sáng tác hầu như chưa bị xáo trộn trình tự vốn có Ví

dụ quyển hai chép các bài làm bắt đầu từ năm Tân Dậu (1861), tiếp đến năm

Trang 19

trong chùm thơ “Nhâm Tuất niên kinh hành khán cố Lê tiết nghĩa truyện…” làm

đại diện Kết quả được tổng hợp trong bảng sau:

Nhâm tuất niên kinh hành khán cố Lê

tiết nghĩa truyện, mỗi đáo nhất công

lược vịnh nhất thi dĩ tiện kí ức

Qua bảng trên, cho thấy bản VHv.212 có số lượng cước chú nhiều nhất

Không những thế, câu chữ trong từng chỗ cước chú ở bản này cũng đầy đủ hơn,

mang khẩu khí bạch thoại hơn các bản khác Ví dụ có những chỗ bản này chép:

“giả hạn nhị cá nguyệt” (d8t120), “giáo thụ thất niên cửu hĩ” (d7t122), bản

A.444 chép: “hạn nhị cá nguyệt” (d6t70), “thất niên giáo thụ” (d4t72) Thứ tư,

qua so sánh đối chiếu ở bảng II về các bài tương đồng và dị biệt Bản này có số

lượng bài thơ tương đồng với các bản khác rất nhiều (169 bài) trong tổng số 284,

số lượng dị biệt cũng nhiều (115 bài), chứng tỏ bản này sưu tập được đầy đủ

hơn Qua đây có thể nhận định bản này gần với thủ cảo nhất, và đầy đủ hơn cả

Với những ưu thế vượt trội như vậy, trong khi phân tích chứng minh ở chương

II, chúng tôi chủ yếu căn cứ vào bản này, tức sẽ lấy bản này làm “để bản Nhưng

cũng có những phần bản này không có, khi cần chúng tôi sẽ lấy thêm ở bản

khác

- Về bản A.444, thứ nhất sách này mang kí hiệu A Theo nhận định về các

kho sách của sách DSHNVN-TMĐY, phông sách mang kí hiệu A là sách có

nguồn gốc từ Thư viện Trường Viễn đông bác cổ Lại theo lời ông Dương Thái

Minh (Viện nghiên cứu Hán Nôm) cho biết về tình hình các kí lục Thư viện

Trang 20

đủ: thiếu lạc khoản, có thể thiếu cả Tựa, Bạt; hoặc cách ghi tổng hợp từ nhiều

nguồn do được sao chép về sau…” Bản này cũng gặp phải các tình trạng như

lời ông Dương Thái Minh nói Thứ nhất, văn bản mang kí hiệu A Thứ hai, bản

này giấy dó dày, đang mới, lại có khổ giấy 32 x 23 Vì vậy đây là bản có nguồn

gốc từ Thư viện Trường Viễn đông bác cổ, có lẽ do các kí lục của trường sao

chép lại

Không những bản này không có Tự, Bạt gì mà khi chép còn rất tùy tiện Tên

tác phẩm là “thi tập” nhưng trong đó lại chép lẫn cả văn và câu đối, thậm chí còn

chép rất nhiều văn thơ của người khác vào Chép thiếu, chép sai, ví dụ: bài

“Ngâm kí Vĩnh Tường phủ thái thú” <t101b185> không có câu thơ đầu, nhưng ở

VHv.211 <t72b199> có câu này Chép sai, chép nhầm cũng rất nhiều, như cước

chú ở bài cuối trong chùm thơ “Tống Song Linh doãn tập Đường thập thủ”, bản

này viết “thập thủ hạo cú hựu thị tương phùng dự vi nhị nhân tác sám ngữ”

(câu đầy hạo khí của 10 bài, dự định làm sấm ngữ cho hai chúng tôi gặp nhau)

Bản VHv.212 viết: “thập đề kết cú hựu thị tương phùng dự vi ngô nhị nhân tác

sám ngữ” (Câu kết của mười bài lại là gặp nhau, vì dự định làm sấm ngữ cho hai

chúng tôi gặp nhau) Câu kết của 10 bài này là Bích sơn như họa hựu phùng

quân (Non xanh như tạc, lại gặp ông) Năm 1874 khi vào kinh, qua huyện Minh

Linh (tỉnh Quảng Trị) lại nghe tin Song Linh Nguyễn Phát Khoa cũng vào kinh

nhận lệnh cải bổ, ông đã vui mừng nhắc lại câu hẹn ước năm xưa trong một bài

tứ tuyệt: Nhất cú tập Đường ưng thị sấm Bích sơn như họa hựu phùng quân

(Một câu thơ Tập Đường đáng làm lời sấm, Non xanh như tạc, lại gặp ông)

<VHv.212, t158b363> Như vậy, liên kết với ý của câu thơ cuối ở bài thứ 10,

dùng chữ “kết” mới đúng, có lẽ tự dạng chữ 结 khi viết đá thảo ở bản VHv.212

có tự dạng gần giống chữ 浩 nên bản này đã chép nhầm

Trang 21

Trong bản này cũng có đến 69 bài dị biệt, vì vậy khi chứng minh ở chương

sau, nếu cần đến chúng tôi cũng phải lấy dẫn chứng trong bản này

- Về bản A.517, sách mang kí hiệu A nên bản này cũng có nguồn gốc từ

Thư viện Trường Viễn đông bác cổ Bản này chép cũng rất tùy tiện, cả bản chép

một mạch, không chia quyển, phần, không có tựa bạt gì, cước chú phụ chú rất ít

Chỉ tính riêng 10 bài của chùm thơ “Thống trung thiềm phát thập thủ”, ở bản

VHv.212 có 38 chỗ cước chú mà bản này chỉ có 1 chỗ Các cước chú còn viết

tùy tiện, chỗ thì viết cỡ chữ nhỏ hơn chính văn, chỗ thì viết bằng chính văn Có

những chỗ chép sai Ví dụ bản này có tiêu đề “Nhâm Tuất xuân đán Quảng

Xương huyện đường thí bút ” <t1b1>, nhưng các bản khác đều chép “Giáp Tuất

xuân đán Quảng Xương huyện đường thí bút” <VHv.212, t147b342>, đúng ra

phải là năm Giáp Tuất (1874), vì năm Nhâm Tuất (1862) ông chưa ra làm quan

Vậy bản này đã chép sai

Về tiêu đề bài thơ, bản này soạn lại rất ngắn Qua so sánh tương đồng và dị

biệt ở bảng II, có 96 bài giống với bản VHv.212, nhưng trong đó chỉ có 16 tiêu

đề giống với bản Vhv.212, còn lại 80 tiêu đề đều viết gọn lại Ngoài ra câu chữ

trong thơ ở bản này có nhiều chỗ thay đổi khác với các bản Vì đây là công việc

so sánh tỉ mỉ mất nhiều thời gian nên chúng tôi không lập bảng so sánh hết

được, ở đây so sánh một bài vịnh về Nguyễn Đình Viện trong chùm thơ “Nhâm

Tuất niên kinh hành khán….” để chứng minh:

(Quy tắc trình bày: những từ ngữ được gạch chân thể hiện sự thay đổi so với các

Trang 22

Nhất môn ủy mệnh trung kiêm hiếu, Thiên cổ lưu phương

tử diệc sinh

Huống thị nghĩa cao năng đắc sĩ,

(Nc: Xuất Hàn văn) Đảo trung nhân chỉ thức Điền Hoành

Tâm dị nan bằng ngụy Tây tướng, Thế cô phiên thất Nhật Nam thành

Mai tiên gia chỉ sinh đào mãng, Hải đảo nhân chung tử bào hoành

Hảo thiếp hảo nhi hảo đồ bộc Nhất môn hiếu nghĩa nhất phương danh

ngụy Tây tướng, Thế cô phiên thất Nhật Nam thành

Nhất môn ủy mệnh trung kiêm hiếu, Thiên cổ lưu phương tử diệc sinh

Huống thị nghĩa cao năng đắc sĩ

Đảo trung nhân chỉ thức Điền Hoành

Nhìn vào bảng trên cho thấy bản này thay đổi nhiều nhất, thay đổi nguyên cả

bốn câu cuối, rồi cước chú, phụ chú cũng bị cắt Việc thay đổi tiêu đề, viết tiêu

đề cho gọn lại, rồi từ ngữ, thậm chí cả câu thơ trong bài được sửa đổi nhiều như

thế chứng tỏ bản này được soạn lại theo ý đồ của người soạn sách Thậm chí tên

tác phẩm cũng không nhất quán, phần gáy sách viết “Nhuế Giang thi tập”,

nhưng trang đầu dòng đầu phần chính văn lại viết “Nhuế Xuyên bạch bút thi

tập

Bản này còn có số lượng thơ khá nhiều, tổng cộng 306 bài Có nguyên một

phần từ bài bài 131 đến bài 306 không tương đồng với bản hay phần khác Các

bài thuộc phần này không thấy xuất hiện thời gian hay sự kiện như phần đầu

Nội dung phần này chủ yếu vịnh về các nhân vật lịch sử, thần tiên, các điển tích,

điển cố trong sử sách, hoặc lấy các câu thành ngữ, cách ngôn, điển tích, điển cố

làm tiêu đề, chủ đề cho bài thơ Bởi vậy, phần này cũng là tư liệu đáng quý để

nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật thơ của Nguyễn Khắc Trạch

Trang 23

Ví dụ: VHv.212 có tiêu đề “Đinh Sửu chí niên tịnh tự tính thể dương lịch nhị

thiên ”, ở bản này chia ra hai tiêu đề cho hai bài, b1: “Chí niên quan mê”(Ghi lại

sự mê muội trong khi làm quan), b2:“Chí niên quan bình sinh” (Ghi lại đời làm

quan) Trong bản tổng cộng có 90 bài, có 57 bài giống với ba bản trên, còn 33

bài dị biệt, như vậy bản này có số lượng thơ ít nhưng số lượng bài giống với bản

khác tương đối nhiều, chứng tỏ đây không phải là một phần riêng mà tổng hợp

từ nhiều nguồn, và có nguồn các bản trên không có

Qua so sánh về sự tương đồng và dị biệt của bốn bản độc lập trong bảng

II dưới đây, luận văn tính ra được một số kết quả như sau:

11bài (cùng xuất hiện trong 4 bản), nên chỉ tính: 11 bài

95 bài (cùng xuất hiện trong 3 bản), nên chỉ tính: 95 bài

89 bài (cùng xuất hiện trong 2 bản), nên chỉ tính: 89 bài

229 bài (dị biệt, tức xuất hiện trong 1bản) nên tính: 229 bài

Vậy tổng cộng các bài thơ trong bốn tác phẩm khi đã trừ bài tương đồng là:

11 + 95 + 89 + 229 = 423 bài

Còn có phần ở bản A.517 (từ bài 131 đến bài 306 ) tức 176 bài không

tương đồng với bản nào, đã xin trừ ra ở trong phần nhận định về bản này, bây

giờ xin tổng hợp lại Lại còn số bài dị biệt của các phần chép trong tác phẩm

người khác đã được so sánh nháp ngoài bây giờ xin cộng vào: Vi giang hiệu tần

tập có 10 bài dị biệt; Minh đô thi tuyển có 4 bài dị biệt

Vậy con số tổng hợp cuối cùng về thơ của tác giả trong tất cả các bản

và các phần khi đã trừ bài tương đồng là:

423 + 176 + 10 + 4 = 613 (bài)

1.2.1 Tình trạng văn bản văn, phú, trướng văn, và bản tổng hợp

Về văn bản văn, phú, trướng văn và bản tổng hợp nhiều thể loại hiện còn 5

bản và một phần chép trong tác phẩm của nhiều người là VHv.214, Vhv.215,

Trang 24

phụ bằng giấy dó, trên đó viết tên tác phẩm “Nhuế Xuyên Thặng bút văn tập”, cỡ

chữ của dòng này lớn khoảng 1cm Phần gáy hai đầu quét sơn đỏ, có để trống

một khoảng viết tên văn bản Sau tờ bìa phụ, đến phần chính văn Trang một,

dòng đầu tiên phần chính văn ghi lại tên tác phẩm “Nhuế Xuyên thặng bút văn

tập”, sau đó mới đến tiêu đề bài văn Cả tác phẩm tổng cộng có 55 bài văn, mỗi

trang văn bản 8 dòng, mỗi dòng có khoảng 25

Trong văn bản có hai loại chữ, từ đầu đến trang 138 chữ viết rõ ràng, nét bút

thẳng Phần từ trang 139 đến hết (trang 149) chữ viết theo thể hành, có nhiều bộ

viết theo giản thể Lấy chữ “hữu: có” ở trong hai phần làm ví dụ Lối viết chữ

“hữu” phần trang 1 đến trang 138 viết rõ ràng, nét thứ hai của chữ này là nét

phẩy kéo dài ra như ở d2 t51, d5 t51, d3 t53, d3 t55, d1 t60, d1 t64, d1 t67, d1

t69,d2 t99,d1 t113…Còn chữ “hữu” ở trang 139 đến trang 149 có cách viết

ngoáy, các nét liền nhau, vì không phải dân chuyên về văn bản nên khi mới gặp

chữ này chưa nhận ra chữ gì, qua mấy lần gặp lại, mới nhận ra Như ở d8 t139,

d4 t140, d4 d5 t144, d4 t149

Loại chữ ở phần sau (trang 139 đến trang 149) giống với loại chữ ở phần

“Nhuế Xuyên thi tập Nc: Đinh Sửu đông dĩ hạ” <t171 đến trang cuối 189> của

bản VHv 212 Như chữ “hữu” ở VHv.212 trong các dòng và các trang: d6 t173,

d3 t176, d5 d6 t177, d8 t182, d5 t187…Qua đây cho thấy phần cuối của bản văn

này và phần cuối của VHv.212 và bản này do một người chép

Dấu tích đọc duyệt văn bản thể hiện qua màu mực đỏ, dùng trong các trường

hợp như ngắt câu, sửa sai, xóa chữ viết sai, bổ sung chữ thiếu

Về chữ húy, văn bản nhất quán viết kiêng húy “thời” dưới dạng chữ “thìn”

Khi đi sâu vào nội dung các bài, có sự tương đồng và dị biệt với bản VHv.215

nên đã lập thư mục so sánh trong bảng III

2 Nhuế Xuyên trướng tập Kí hiệu VHv.215

Trang 25

tất cả các tờ của mặt a in chữ “祥 泰 造”, như vậy giấy viết của bản này có

nguồn gốc từ hiệu Tường Thái, điều này cũng giống với bản thơ VHv.213

Mỗi trang viết 6 dòng, mỗi dòng có 16 chữ Cả bản viết cùng một loại

chữ, nhưng nhiều trang, nhiều chữ viết thảo, rất khó đọc, như từ tờ 1 đến tờ 23

có nhiều chữ viết thảo, sau trang 23 có đỡ hơn Cả bản có 29 bài văn, khi đi sâu

vào nội dung các bài này, có sự tương đồng dị biệt với bản VHv.214 nên được

lập thư mục so sánh trong bảng III

Trong bản này, dưới tiêu đề của một số bài có cước chú như “Phạm Chi

Hương soạn” <d3 t47>, “Thượng Hiệp tú tài soạn” <d9 t49>, như vậy trong bản

này có chép cả văn của người khác

Cả bản không có dấu tích duyệt văn bản hay sửa chữa gì, về chữ húy văn

bản nhất quán viết khiêng húy chữ “thời” dưới dạng chữ “thìn”

3 Nhuế Xuyên văn tập Kí hiệu A.2169

Khổ 14 x 26, tổng cộng 74 trang, viết tay trên giấy dó dày Bìa bằng giấy

xi-măng, mặt ngoài được quét sơn đen, sau tờ bìa chính có 1 tờ bìa phụ, tiếp đến

là tờ viết tên văn bản Tên văn bản “Nhuế Xuyên văn tập”được viết bằng cỡ chữ

to Các mép văn bản đều được quét sơn đỏ

Dấu tích đọc duyệt văn bản thể hiện qua màu mực đỏ của bút lông, dùng

trong các trường hợp chủ yếu như ngắt câu, khuyên tròn, không thấy có dấu sữa

chữa hay gạch xóa Về chữ húy văn bản nhất quán viết kiêng húy chữ “thời”

dưới dạng chữ “thìn”

Cả bản có 30 bài văn, mỗi trang văn bản được viết 10 dòng, mỗi dòng 25

chữ, chữ viết hơi đá thảo Các bài trong bản này phần lớn là những bài làm thay

người khác Xét thấy không có sự tương đồng với các bản khác nên đưa thư mục

tiêu đề các bài văn vào dưới đây Sau đây là mục lục các bài văn được sắp xếp

theo A-B-C, cuối tiêu đề, ở trong dấu lớn bé là số trang và trình tự bài ở trong

văn bản:

Trang 26

7 Nghĩ Bắc Ninh học đồ hạ nghiệp sư Hoàng tiên sinh thọ khải <t14b8>

8 Nghĩ Bắc Ninh quân thứ thân biện hạ tổng thống đại thần thăng thụ ….đại học sĩ

trướng văn <t28b16>

9 Nghĩ Hà Ninh tổng đốc Khoái Châu bá Nguyễn Tự Châm tính tự <t47b25>

10 Nghĩ Hà Nội kinh ngoại văn thân vãn Vĩnh Thuận Nguyễn đại phu trướngvăn

<t2b2>

11 Nghĩ Hà Nội văn thân vãn thái bộc tự khanh Trần tiên sinh <t1b1>

12 Nghĩ hạ Sơn Tây tổng thống Nguyễn Sư Phần tân thọ bình văn <t33b18>

13 Nghĩ Hà Tĩnh kinh ngoại văn thân vãn Bắc Ninh tổng đốc Bùi Công Khắc

văn.<t7b5>

14 Nghĩ Hà Tĩnh niết ty hạ niết lão nghiêm đường ân phong <t19b11>

15 Nghĩ Hà Tĩnh văn thân hạ chế lão Đào thất thập thọ văn <t38b21>

16 Nghĩ Hà Tĩnh văn thân hạ sơn phiên Nguyễn Thành Chi lưỡng đường phong

tặng.<t11b7>

17 Nghĩ Hà Tĩnh văn thân vãn cố sơn phiên Nguyễn Thành văn <t10b6>

18 Nghĩ Hải Dương phủ huyện hạ tân tổng thống đại thần trướng văn <t30b17>

19 Nghĩ Hưng Yên liêu thuộc hạ Hoàng bố chánh thăng ….tiểu khải <t24b14>

20 Nghĩ Hưng Yên liêu thuộc hạ y tỉnh lĩnh án sát thăng thị giảng học sĩ Đặng Đình tiểu

khải <t27b45>

21 Nghĩ Kim Cổ tiến sĩ Vũ tử song đường chúc thọ văn <t41b22>

22 Nghĩ Sài Sơn Phan tộc tử tôn … hạ khải <t22b13>

23 Nghĩ Sơn phiên phụ mẫu phong tặng tự thuật chung văn <t45b24>

24 Nghĩ Sơn Tây viên thuộc hạ chế đài Nguyễn Sư Phần thăng hiệp biện đại học sĩ

tự.<t35b19>

25 Nghĩ tham biện đề chánh Nguyễn hạ sinh mẫu tiến phong khải văn <t43b23>

26 Nghĩ Thịnh Liệt Bùi tộc hạ tộc thúc bát thập thọ khải <t20b12>

27 Nghĩ Yên Lãng phân phủ Lương Huy Nhất <t3b3>

28 Thái bộc tự khanh Trần tiên sinh hành trạng <t65b30>

29 Thanh Sơn Thanh Thủy chi huyện văn chỉ bi kí <t52b28>

30 Thượng Phúc Tử Dương chưởng ấn Nguyễn phủ gia phả tự <t50b27>

Trang 27

trang nhưng tính cả bản có 236 trang, viết trên chất giấy dó mỏng Trong bản chép

nhiều tác phẩm của nhiều tác giả, chia thành từng phần, mỗi phần được viết bằng

một loại chữ khác nhau, nên bản này do nhiều người sao chép Phú của Nguyễn

Khắc Trạch trong bản này từ trang 117 đến 161, tổng cộng có 44 trang, mỗi trang

viết 10 dòng, mỗi dòng khoảng 31- 32 chữ, cỡ chữ nhỏ Có rất nhiều phụ chú,

cước chú, cỡ chữ của các cước chú, phụ chú này viết nhỏ hơn phần chính văn, vì

quá nhỏ nên rất khó đọc

Đầu phần phú của Nguyễn Khắc Trạch (tức đầu trang 117), dòng đều tiên

viết “Văn hội hữu đức thành lân phú”, dưới dòng này có chú “Dĩ đề vi vận, Thuấn

Nhuế Thị độc Nguyễn Khắc Trạch soạn dĩ hạ”, tiếp đến là chính văn Như vậy

dòng “Văn hội hữu đức thành lân phú” là tên của bài phú, tổng cộng có 22 bài

Phần này cũng có dấu duyệt văn bản thể hiện qua màu mực đỏ, dùng chủ

yếu trong các trường hợp như ngắt câu, khuyên tròn, sửa chữa, gạch chữ sai, viết

chữ thiếu

Sau đây là Mục lục tiêu đề các bài phú được trình bày theo trình tự ở trong

văn bản, (số thứ tự đặt đầu, số trang để trong dấu lớn bé đặt ở cuối tên bài phú)

1 Văn hội hữu đức thành lân phú <t117>

2 Mạch hoạt từ thanh quan nhân đa thiểu bút lộ (Nguyễn Kế bình) <t118>

3 Bộ khúc chỉnh trai kì cổ sâm diệc nhất ngạn (Nguyễn Tiểu Chi bình) <t120>

4 Lão Bạng sinh châu phú <t122>

5 Châu hoàn hợp phố phú <t124>

6 Bôi tửu thích binh quyền phú <t127>

7 Tiên thụ sinh đồ hậu liệt nữ lạc phú <t128>

8 Quân tử bất khí phú <t130>

9 Tứ hải giai đồng vạn dân khang thái phú <t131>

10 Trung Quý Ưng quy Ngô quận phú <t133>

11 Ô thước kiều phú <t136>

12 Sử Tử Lộ vấn tân phú <t139>

13 Quắc thước thị ông phú <t141>

Trang 28

5 Bản Thuấn Nhuế thi văn tập Kí hiệu A.2538

Khổ 17 x 28, tổng cộng có 70 trang, viết cả hai mặt, trên giấy dó dày Bìa

giống giấy vở học sinh ngày nay Sau tờ bìa, đến chính văn Chữ trong bản này

viết thảo, khó đọc Dòng đầu tiên phần chính văn viết tên tác phẩm “Thuấn

Nhuế thi văn tập”, cỡ chữ dòng này to, tiếp sau dòng này đến chính văn

Trong tác phẩm chỉ có một bài văn có cước chú do Nguyễn Khắc Trạch

soạn, bài này đặt đầu tác phẩm: “Thuấn Nhuế cử nhân Nguyễn Khắc Trạch

phụng soạn trướng văn kì đổng sức đại thần Nguyễn Tri Phương” Các bài sau

đó đều có chú tên người khác soạn, ví dụ: trang 3 có chùm thơ “Ngự chế thi:

Vịnh mai; Vịnh lan; Vịnh cúc; Vịnh trúc”, trang 4 “Mậu Tí khoa Cần chánh

Nguyễn Hữu Độ hạ Hà Nam nhị trường đối liên”…Như vậy, tác phẩm này chép

thơ, văn, câu đối của nhiều người, chỉ có một bài văn của Nguyễn Khắc Trạch,

bài này tương đồng với bài 20 trang 51 bản VHv.215, nên không lên thư mục

tiêu đề các bài trong bản này

6 Bản Thọ tịch châu cơ Kí hiệu VHv.608

Khổ 25 x 19, tổng cộng 68 trang, sách chép tay trên hai mặt, giấy dó mỏng

Bìa bằng giấy xi-măng gấp đôi, không quét sơn Phần gáy phía sau viết tên tác

phẩm: “Thọ tịch châu cơ” Sau tờ bìa chính có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó đã

mủn rách Sách có kẻ khung màu hồng để viết cho ngay Chữ rõ ràng, chân

phương, dễ đọc

Dòng đầu, trang đầu phần chính văn viết lại tên tác phẩm “Thọ tịch châu

cơ ”, sang dòng hai có lưỡng cước chú (cỡ chữ nhỏ hơn) “Hưng Yên Bình Hồ

Hàn Lâm viện trực học sĩ Vĩnh Trai Nguyễn thất thập thọ Kinh thân đầu tặng

thi văn như tả, Tự Đức Bính Dần” (Nguyễn Vĩnh Trai Hàn lâm viện trực học sĩ

Trang 29

Qua việc mô tả về tình trạng các bản văn, cho thấy có hai bản có tương

đồng và dị biệt là VHv.214 và VHv.215 Sự tương đồng dị biệt được so sánh

trong bảng III dưới đây Qua bảng III chúng tôi có một số kết quả như sau:

15 bài (xuất hiện hai lần trong hai bản)

54 bài (xuất hiện một lần)

2 bài (có chú do người khác soạn ) Như vậy hai bản khi trừ đi bài tương đồng và của người khác còn lại là :

15 + 54 - 2 = 67 (bài)

Vậy con số bài văn, trướng văn, phú của tác giả trong tất cả các bản trên là:

22 (phú) + 30 (A.2169) + 67 (VHv.214 và VHv.213 ) = 117(bài)

Về nhận định:

Bản VHv.214 và VHv.215 đều mang kí hiệu VHv, có nguồn gốc từ Thư

viện KHTƯ nên đây là sách sưu tầm Riêng bản VHv.214 ra đời cùng thời với

văn bản thơ VHv.212, bởi hai bản này có một phần do cùng một người sao chép

Bản thơ VHv.212 là bản được coi ra đời sớm nhất trong các bản thơ ở trên nên

bản VHv.214 cũng là bản ra đời sớm, hơn nữa đây là bản có số lượng bài văn

nhiều nhất nên chúng tôi coi bản này là để bản cho phần văn

Nhưng nói chung phần văn ít dị bản nên các bản đều là những tài liệu quý

để chúng tôi tìm hiểu về tác giả cũng như nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Riêng bản VHv.608 là bản tổng hợp thơ văn của người khác chúc mừng

Nguyễn Vĩnh Trai Về nội dung tác phẩm này, chúng tôi sẽ đề cập lại trong

Chương II

1.3 Tiểu kết chương 1

Khảo cứu văn bản là việc làm không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu

văn bản Theo thống kê, nhóm văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc

Trạch hiện còn 9 bản trong đó có bốn 4 bản thơ, 3 bản văn và 2 bản tổng hợp

Trang 30

hơn một nghìn bài thơ Quả thực nếu ngồi “trỏ đầu đen” mà tính thì số lượng thơ

ông đã ngang tầm với “Đỗ Phủ nhà thơ Thánh với hơn một ngàn bài thơ” (Phan

Ngọc) Nhưng qua quá trình khảo sát bước đầu qua bài Tựa và các phụ chú,

cước chú, thấy 238 bài của người khác chép lẫn vào Thêm một bước so sánh

đối chiếu về dị bản nữa, số thơ còn lại chưa đầy một nửa của tổng số trên (còn

613 bài) Con số thực của bài thơ đã rút xuống như thế này là vì dị bản quá

nhiều Chỉ tính riêng mấy chùm thơ như “Nhâm Tuất niên kinh hành…” (gồm

11 bài nhưng có bản chép 11, có bản chép 9, cũng có bản chép 10 nên cứ quy

tròn để tính cho dễ là 10 bài), “Thống trung thiềm phát thập thủ”(10b), “Tập

Đường thập thủ tống Song Linh doãn Nguyễn Phát Khoa chi kinh”(10b) đã xuất

hiện 5 lần trong 6 văn bản (VHv.212, A.444, A.517, trong Minh đô thi tuyển, Vi

Giang hiệu tần tập, Vũ trung tùy bút.) Như vậy, nhẩm tính qua ba chùm thơ này

đã tạo ra 300 bài trong các tác phẩm đó Có những bài thơ, những chùm thơ

được xuất hiện trong nhiều tác phẩm như thế, điều đó chứng tỏ thơ của tác giả

cũng rất được người đời coi trọng, và thơ phải hay mới được người đời coi trọng

như thế

Về việc so sánh để tìm ra để bản, luận án đã chứng minh được bản VHv.212

là bản có chia quyển duy nhất và vẫn còn giữ được trình tự thời gian sáng tác

vốn có, nên lấy bản này làm để bản cho phần thơ, còn phần văn thì sự tương

đồng ít nhưng cũng xét thấy VHv.214 là bản có số lượng bài văn nhiều nhất, lại

có một phần chữ viết giống với để bản thơ (VHv.212) vì vậy phần văn chọn bản

này làm để bản

Các tiêu đề của các bài có dị bản phần lớn lại đều có sự thay đổi, vừa có bớt

đi, vừa có thêm vào, vừa có xáo trộn khiến cho chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn

trong việc so sánh dị bản Vì số lượng thơ nhiều, không thể làm thư mục đối

chiếu thủ công mà phải nhờ vào máy, luận văn buộc phải đánh câu thơ đầu tiên

của bài vào trước tiêu đề rồi sắp xếp theo A-B-C để tìm ra bài giống nhau Khi

Trang 31

Sau khi đã so sánh dị bản, số lượng trang quá nhiều nên chúng tôi lại cắt các

câu thơ đó Bởi vậy mà trong bảng II các tiêu đề không sắp xếp theo thứ tự nào

Qua điều này cho thấy phần nào sự tùy tiện của người làm công việc sao chép và

hiệu chỉnh các sách vở cổ, đồng thời cho thấy các văn bản Hán Nôm chép tay

hết sức phức tạp Nhưng chúng ta cũng phải cảm ơn cổ nhân đã có ý thức trong

việc lưu giữ vốn văn hóa thành văn của ông cha ta Như thế, ngày nay chúng tôi

mới có hơn sáu trăm bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khắc Trạch để tìm hiểu về con

người và sự nghiệp của ông

Thứ hai là vấn đề thời điểm sáng tác Trong tác phẩm xuất hiện rất nhiều bài

có ghi thời gian, như năm Tân Dậu, năm Nhâm Tuất, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ

Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý,

Đinh Sửu, Mậu Dần Đây là thời gian trình tự xuất hiện ở tiêu đề các bài thơ

trong bản VH.v212 và rải rác trong các bản khác Các năm này không đi liền với

niên hiệu Song, căn cứ vào các sự kiện như vịnh tiết liệt triều Lê thì gọi là “cố

Lê tiết nghĩa” (tiết nghĩa triều Lê cũ), “Thập thất nhật đồ trung văn Tấn Mai tình

trạng” (Ngày 17 trên đường đi nghe ngóng tình hình của Trần Tấn và Đặng Như

Mai), <VHv.212, t155b357>, “Thập nguyệt sơ nhị nhật văn Dương nhân chiếm

ngã Long Thành” <VHv.212, t169b382> Hay căn cứ vào những nhân vật có

tiếng đương thời như: Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Bùi Thức Kiên, Hộ đốc

Sơn Hưng Tuyên Vũ Trọng Bình…là những danh nhân sống dưới thời Tự Đức

Hay căn cứ vào cuối bài “Nghĩ Thượng Hiệp Thượng thôn văn từ bi kí” có ghi:

“Tự Đức tam thập niên Đinh Sửu quý xuân thượng hoán dã” (những ngày

thượng hoán cuối xuân năm Đinh Sửu Tự Đức thứ 30) Ngoài ra các văn bản

trên đều nhất quán viết kiêng húy chữ “thì” là tên chính thức của vua Tự Đức

(Nguyễn Phúc Thì) Như vậy các tác phẩm này chủ yếu ra đời vào thời Nguyễn

mà cụ thể hơn là vào khoảng mấy chục năm đầu của nửa sau thế kỉ 19

Trang 33

6 Đinh Mão Nam trường phúc viện ngâm

trình phó chủ khảo Nguyễn Giám sát

9 Tỉnh quan trách bồi điền thổ quyên tiền

lưu hầu phiên đường hí ngâm <t133b318>

10 Phục y tiền vận cầu tá Hoàng Giám sát

Nam du tập <t83b222>

11 Khảo Hạch nhật (tứ nguyệt vọng) hội

điểm hạt nội văn thân, tiếu đàm nhàn

6 Tặng Sơn Tây bố chánh quan <t82b146>

7 Phó Ngọc Trà xã quả phụ khất tái giá

3 Nam trường phúc viện ngâm trình phó chủ khảo giám sát Hoàng <t21 b37>

4 Tứ nguyệt tỉnh hạt thời phương nhiệt kham dao niệm trường sĩ đặc hình chư thi <t38b72>

2 Tạ Quốc Oai thái thú Hồ Vân Đằng tịch

3 Đinh Mão Nam Định trường ngâm trình phó chủ khảo Hoàng

4 Văn sơn niết Vũ công thăng bố chánh quân trung kí hạ nhị thủ

5 Thính độc tì bà vịnh Thương phụ

Trang 34

15 Tặng Quảng Xương huyện môn sinh

tú tài sĩ nhân bái hạ.<t100b255>

16 Hí tặng lân nhân bảo thú thiếp

8 Đại nghĩ tùy hầu đội trưởng Bỉnh hạ huynh tân cai tổng tân gia (Gia tại Bất Bạt Thạch Uyên sơn) <Bất văn vưu thất hưu vưu huynh>

9 Đại nghĩ Xuân Giang tú tài hạ

tiểu muội tân hôn tân cử nhân

<Quy muội chiêm thành kết…>

Trang 35

25 Mậu Thìn khoa sung Nam trường

phúc khảo, trường trung tặng đồng viện

Lê công Doãn Thành nhất thủ, <t87b228>

26 Nhật tương trung đáo Châu thị ngâm kí

hành cảnh <t156b360>

27 Ám văn hữu mệnh cảm quy kì vô nhật

phục y tiền đề nhi phú chi <t148b344>

28 Thập nguyệt sơ nhị nhật văn Dương

nhân chiếm ngã Long Thành <t169b382>

29 Tĩnh toạ đối tiết tức sự <t175b393>

30 Sơ hạ chu dạ ngẫu vũ.<t50b155>

31 Thị nhật dữ lại bộ thượng thư Nguyễn,

Hình bộ tham tri Nguyễn, Nội các Trần

12 Ám văn hữu sự phục y tiền đề nhi phú chi <t2 b3>

13 Nghĩ Triều Dương Từ khư hỉ kíên phụ họa thi úy giải <t39b76>

14 Nhân nhật lập xuân đề <t35b66>

10 Mậu Thìn khoa Nam Định

trường tặng đồng viện phó bảng Lê

Doãn Thành (Quảng Bình nhân)

11 Thập nguyệt sơ nhị nhật văn nhân chiếm ngã Hà Nội

12 Đề Yên Sở bách hộ chủ nhân thưởng tịch

Trang 36

40 Nghĩ Triều Dương thiếu phụ ô tặc chu

trung tư phu <t110b273>

41 Quảng Xương nhàn đường tự thuật

46 Sơ văn tân mệnh ngâm thị tại tọa thân

hào nhân dĩ vi giản.<t149b346>

47 Vịnh nha tiền đào nhất thụ tại đình tây

nam ngung <t105b264>

48 Tam trưng hội thị kí kiến <t66 b188>

49 Đề bản hương Tạ thị tân đường

36 Giáo thụ huấn đạo <t92b164>

37 Đại Quảng Xương nha lại hạ tân sắc

44 Ngâm kí Vĩnh Tường phủ tú tài

16 Nghĩ Triều Dương thiếu phụ ô tặc chu trung tư phu (y thị phu danh Từ Duyên)

Trang 37

56 Thuộc phiên tiểu lí diệc hoa đội trưởng

dẫn ngã thứ chi nhân thành tam tuyệt

<t178b397>

57 Y nhật ô tặc đăng lục tuỳ tiễu cảm tác

<t141b333>

58 Nghĩ tiểu muội văn tỷ xuất liễu ô chu

bất tri hà thác, hí ngâm nhất luật

<t112b277>

59 Giải cừu <t58 b172>

60 Thập tứ nhật dạ tặc tản sư hoàn quỹ

ngâm.<t142b334>

61 Tiễn tân thăng Viên ngoại lang Sơn Tây

thông Phán Nam hồi <t56 b168>

62 Kí tặng Thiệu Hoá phủ Ngô thái thú quý

đài <t128b309>

63 Đại nghĩ sơn nghiệt ân mông song tặng

<t74b206>

64 Tân Mùi đông tam thập nhật tảo tiếp tự

cải thụ đồng tri phủ lĩnh Quảng Xương

46 Tặng nhiếp doãn Nguyễn đài hồi tỉnh cung chức <t20b36>

47 Đề Lưu hầu miếu <t117b222>

48 Kỉ Tỵ niên chính nguyệt thí bút (Nc: thị niên dục phó hội thí, thử thi truyền văn quảng đại Nhuế Xuyên trì thăng duy thi vi triệu)

Trang 38

68 Hạ Sơn Tây niết ty thông phán thăng

Viên ngoại lang sung Quảng Nam bản xứ

hải phòng <t56b167>

69 Vấn Xuân Độ sương phụ hoành dâm

sinh tử tụng duyên tình thứ tội, nhân thị dĩ

thi <t113b279>

70 Luận chính thu Hồ phu phụ <t61 b177>

71 Lưu giản phủ thú (Phú Diễn thủ khoa

Nguyên Tiểu Chi) nhị thủ <t94b241>

72 Phù dã hí vịnh hùng thư nhị vũ (Thử

thiên vịnh hùng vũ) <t44b143>

73 Tiễn Quảng Yên tuần phủ, phó đô ngự

sử Sơn Tây lặc phái chi quan <t184b411>

59 Vấn Độ Xuân (xã danh) dâm phụ sương

cư, hoành dâm sinh tử, tụng duyên tình thứ tội, nhân thị dĩ thi <t57b100>

60 Lưu giản phủ Phú Diễn thủ khoa Nguyễn Tiểu Chi nhị thủ.<t18b32>

61 Tặng Phù Ninh huyện doãn (Nc: do cai kính lộc nhục dữ liên tâm trà) <T83B147>

30 Lưu giản đồng thành Nguyễn thái thú

(Giải nguyên Phú Diễn nhân) <t29b56>

14 Thu dạ thương thuyền nhàn độc Tì bà hành

15 Tạ Phù Ninh huyện doãn Vũ Văn phụng lộc mính chi huệ

Trang 39

82 Phúc Đan Phượng doãn Nguyễn Toán

Biện trần ngôn thư phụ thi <t131b314>

83 Phúc Đan Phượng doãn Nguyễn Toán

Biện trần ngôn thư phụ thi <t130b313>

84 Hoạ nhị thủ <t100b253>

85 Phụ loạn bút <t99b251>

86 Tân Dậu <1861> lĩnh Hương tiến, đại

Tam Gia tiên sinh nghĩ hạ, (Nc: công hậu

thăng Thanh Hoá đốc học, ngô thúc hữu

78 Tiễn Yên Phong doãn thăng phụ dực đồng phủ <t3b6>

18 Phản đương di kinh ngâm kí nhiếp Vĩnh Tường phân phủ công

19 Cố hương trừ tịch

20 Kế văn đại thần Nguyễn Tri Phương dữ phò mã tử ư Hà Nội

Trang 40

98 Thuộc phiên tiểu lí diệc hoa đội trưởng

dẫn ngã thứ chi nhân thành tam

106 Đại Sơn nghiệt nghĩ hạ đồn điền phó

82 Thị niên bất phó xuân thí mạn thuật

86 Khấp trưởng tử thẩm hành <t103b189>

87 Tiễn Nhiếp thú Nguyễn đài hồi Tiên Du nhị thủ <t14b26>

88 Quân trung tạ trà thướng Hà niết

37 Mậu thìn (1868) xuân Đa Phúc thục đường tự thuật nhị thủ <t22 b39>

38 Đại quản viện Phó đô ngự sử Phan đại nhân (húy Khiêm, Thanh Hóa nhân) <t10 b18>

39 Nhâm Tuất xuân đán Quảng Xương huyện đường thí bút <t1 b1>

40 Khải hồi truy tưởng tiễu phỉ sự thực chi dĩ thi nhị thủ<t65b128>

41 Tiễn Đa Phúc phủ nhiếp thú hồi Tiên

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng I: Bảng tổng hợp số lượng thơ trong các tác phẩm trước và sau - NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
ng I: Bảng tổng hợp số lượng thơ trong các tác phẩm trước và sau (Trang 17)
Hình bộ tham tri Nguyễn, Nội các Trần - NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
Hình b ộ tham tri Nguyễn, Nội các Trần (Trang 35)
Bảng III: Đối chiếu sự tương đồng đị biệt các bài giữa hai bản VHv214 và VHv215 - NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
ng III: Đối chiếu sự tương đồng đị biệt các bài giữa hai bản VHv214 và VHv215 (Trang 54)
Hình rồng tạm khuất tức là muốn làm cho ra nhẽ - NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
Hình r ồng tạm khuất tức là muốn làm cho ra nhẽ (Trang 160)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w