Mặt khác, việc thực hiện nhiệm vụ GD mới này không làm tăng nặng chương trình CSGD MN hiện hành, để giải quyết yêu cầu này, Bộ GD & ĐT chọn quan điểm GD tích hợp, những chỉ đạo ban đầu c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thanh Duyên
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thanh Duyên
Chuyên ngành : Giáo d ục học (Mầm non)
Mã s ố : 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỢNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở nghiên cứu nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Trần Thị Thanh Duyên
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên của gia đình Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
Quý Thầy, Cô Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sài gòn, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập chương trình cao học tại trường Đại học Sư phạm Thành
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong hội đồng bảo vệ đề cương
và hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thành tốt luận văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Duyên
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 3
L ỜI CẢM ƠN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
MỞ ĐẦU 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ 14
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 14
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài 14
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 14
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 15
1.2.1 Khái niệm biện pháp GD 15
1.2.2 Khái niệm GD nhận thức 16
1.2.3 Khái niệm GD thái độ, thái độ sống 17
1.2.4 Khái niệm kỹ năng 19
1.2.5 Khái niệm năng lượng 20
1.2.6 Khái niệm tiết kiệm - việc sử dụng năng lượng (một cách) tiết kiệm 21
1.2.7 Khái niệm hiệu quả - việc sử dụng năng lượng (một cách) hiệu quả 21
1.3 Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 22
1.3.1 Ý nghĩa việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 22
1.3.2 Những đặc điểm tâm lý nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi cần thiết cho việc GD nhận thức- kỹ năng và thái độ 23
1.3.3 Các nhiệm vụ GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 25
1.3.4 Nội dung GD căn bản về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 27
Trang 61.3.5 Kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
ở các nền GD tiên tiến 28
1.4 Các điều kiện GD nhận thức cho trẻ MG 5- 6 tuổi 30
1.5 Biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi 32
1.6 Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ MG 5-6 tuổi 33
1.7 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 36
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ 38
2.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng vấn đề 38
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề 38
2.2.1 Nội dung nghiên cứu thực trạng vấn đề 38
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề 39
2.3 Tổ chức nghiên cứu thực trạng vấn đề 42
2.4 Đối tượng tham gia nghiên cứu thực trạng 42
2.5 Kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề 42
2.5.1 Thực trạng nhận thức về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của CBQL, GVMN và PH của trẻ MG 5-6 tuổi 42
2.5.2 Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi nhận thức đúng trong việc sử dụng năng lượng 43
2.5.3 Thực trạng GD thực hành để tập kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG 5-6 tuổi 49
2.5.4 Thực trạng nhận thức của CBQL, GVMN và PH về hình thức tổ chức GD tiết kiệm năng lượng cho trẻ ở trường MN 50
2 5.5 Những khó khăn trong việc vận dụng các biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 52
Trang 72.5.6 Thực trạng hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ
5- 6 tuổi ở các trường MN 53
2.5.7 Thực trạng thực hiện nội dung GD này trong chương trình CSGD MN của Bộ GD&ĐT 54
2.5.8 Thực trạng về công tác và kết quả bồi dưỡng GV nhằm GD trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở một số trường MN, quận Bình Tân 56
Tiểu kết chương 2 59
Chương 3 ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ 60
3.1 Đề xuất chương trình thực nghiệm GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả 60
3.2 Tổ chức thực nghiệm 66
3.3 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 68
Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 85
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, con người sử dụng nguồn năng lượng bị lãng phí, nguồn tài nguyên cạn kiệt, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sự sinh tồn của con người Nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng này là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người Vì vậy, ngày nay, việc GD bảo vệ môi trường trong đó việc GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả được quan tâm ngay từ bậc học
MN Ngày 14 tháng 4 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số
79/2006/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả với chủ trương đưa nội dung GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào hệ thống GDquốc dân [26]
Vấn đề đặt ra là ở độ tuổi nào thì trẻ em có thể nhận thức và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả?Nhà GD học A.X Macarencô (1888-1939) cho rằng, những gì trẻ em không
có được trước 5 tuổi thì sau này rất khó hình thành và việc GD lại rất khó khăn Thực tế GD trẻ em ở nhiều nước cho thấy 5-6 tuổi là giai đoạn hình thành tiền đề của nhân cách, trong
đó đặc biệt là GD trẻ nhận thức, GD cho trẻ có những hành vi và thái độ đúng đắn về thế giới xung quanh
Việc GD này cần thực hiện hiệu quả, bền vững, tránh mang tính hình thức hay mang tính phong trào - mới triển khai thực hiện ồ ạt, sau giai đoạn phát động thì giảm sự quan tâm
và giảm tác động, mất dần tính hiệu quả Mặt khác, việc thực hiện nhiệm vụ GD mới này không làm tăng nặng chương trình CSGD MN hiện hành, để giải quyết yêu cầu này, Bộ GD
& ĐT chọn quan điểm GD tích hợp, những chỉ đạo ban đầu cũng đã được đề ra bởi Phòng MN- Sở GD & ĐT TP.HCM -làm tiền đề pháp lý cho việc nghiên cứu thử nghiệm GD trẻ
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả [24]
Xuất phát từ những lý do trên vấn đề “Một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” được chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả nhằm nâng cao tính khoa học và tính hiệu quả cho việc thực hiện nhiệm vụ GD này ở các trường MN
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10- Nghiên cứu lý thuyết nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài: Lý thuyết được nghiên cứu
theo các vấn đề sau đây:
+ Các khái niệm công cụ của đề tài (biện pháp GD, GD nhận thức, GD thái độ, thái
độ sống, kỹ năng, năng lượng, tiết kiệm, hiệu quả);
+ Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; + Các biện pháp và điều kiện GD nhận thức cho trẻ 5- 6 tuổi;
+ Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ 5- 6 tuổi;
+ Các biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi;
+ Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
- Nghiên cứu thực trạng vấn đề: thực trạng về nội dung, phương thức và điều kiện GD trẻ
MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại một số trường MN ở TPHCM; rút ra nhận xét - đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng và định hướng biên soạn chương trình GD thực nghiệm giải quyết vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu thực nghiệm giải quyết vấn đề: biên soạn chương trình GD thực nghiệm và
tổ chức thực nghiệm chương trình này, rút ra nhận xét - đánh giá kết quả GD thực nghiệm
- Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị.
4 Giả thuyết
Có thể xác định được một số biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả nếu kết hợp 3 mặt tác động: GD nhận thức - GD thái độ sống tiết kiệm - GD
kỹ năng sử dụng đối tượng hiệu quả
5 Khách thể - đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: quá trình GD kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho trẻ MG
Đối tượng nghiên cứu: những biện pháp GD (nghĩa rộng) để trẻ MG 5-6 tuổi bước đầu có nhận thức và có kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện trong giới hạn sau đây:
- Tập trung vào đối tượng nghiên cứu: những biện pháp GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Trang 11- Nghiên cứu trên trẻ MG 5- 6 tuổi và GVMN dạy lớp MG 5-6 tuổi ở 3 trường MN thuộc địa bàn quận Bình Tân, TPHCM, trong năm học 2012-2013
- Hiệu quả GD thực nghiệm chỉ trong quá trình tác động 2 tháng, với 40 trẻ MG 5-6 tuổi và
2 GVMN
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp lý luận về việc vận dụng các biện pháp GD năng lượng cho trẻ MG 5-6 tuổi, đề ra quan điểm nghiên cứu đề tài và biện luận
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Đối tượng quan sát:
a/ Thực trạng vận dụng các biện pháp GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong trường MN và điều kiện thực tế cho phương thức GD này (Kết quả nghiên cứu được dùng để đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu)
Việc quan sát được tiến hành ở 3 lớp MG 5- 6 tuổi, trên 6 GVMN ở 3 trường MN quận Bình Tân (Trường MN Hoa Hồng: 1 lớp/2 giáo viên, trường MN 19/5: 1 lớp/2 giáo viên, trường MN Hương Sen: 1 lớp/2 giáo viên)
Nội dung quan sát: cách tổ chức quá trình GD, biện pháp GD, HĐ thực hành của trẻ, điều kiện thực hiện GD
b/ Khả năng tác động GD cả 3 mặt: GD nhận thức - GD thái độ và GD kỹ năng cho trẻ có liên quan vấn đề nghiên cứu (Kết quả nghiên cứu chủ yếu được khai thác để biên soạn chương trình GD thực nghiệm)
7.2.2 Phương pháp điều tra qua phiếu hỏi ý kiến
Đối tượng điều tra ý kiến: PH trẻ 5-6 tuổi, GVMN phụ trách lớp 5- 6 tuổi, CBQL trường MN có hướng dẫn trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Nội dung điều tra: nhận thức và quan điểm của các đối tượng này về cách xác định
và tổ chức vận dụng những biện pháp GD trẻ sử dụng năng lượng hiệu quả; những thuận lợi
và khó khăn của GVMN và CBQL trường MN trong công tác GD này
Hướng đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề:
- Thực trạng chọn và tổ chức vận dụng các biện pháp GD: những ưu điểm với hiệu quả GD, những hạn chế và cơ hội khắc phục
Trang 12- Có hay không tính đồng bộ trong chiến lược GD hiện nay ở trường MN: GD nhận thức - GD thái độ - GD kỹ năng
- Những điều kiện thuận lợi cho khả năng tác động GD đồng bộ này trong thực tế GD
MN
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn (khi cần làm rõ những vấn đề đã điều tra)
Đối tượng phỏng vấn: GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi, PH của trẻ MG 5-6 tuổi và chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
Nội dung phỏng vấn: những vấn đề chưa rõ từ kết quả thu thập qua phiếu hỏi ý kiến
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Đối tượng chính tham gia chương trình GD thực nghiệm: GVMN dạy lớp 5- 6 tuổi
và trẻ MG 5-6 tuổi
Các nhiệm vụ: việc biên soạn chương trình GD thực nghiệm dựa trên cơ sở lý luận và
cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, việc tổ chức và triển khai chương trình GD thực nghiệm; việc kiểm nghiệm giá trị khoa học và hiệu quả của những biện pháp GD đã đề ra
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16.0 để xử lý số liệu Các thông
số thống kê sử dụng như sau: tần suất, kiểm nghiệm t, điểm trung bình
c/ Đề xuất một số biện pháp GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
và xác định những điều kiện cần thiết
d/ Đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
- Giá trị thực tiễn:
a/ Phác họa thực trạng vấn đề GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại một số trường MN ở TPHCM, rút ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế, cũng như chỉ ra những khả năng hoàn thiện nhiệm vụ GD này
Trang 13b/ Đề ra những điều kiện tổ chức vận dụng biện pháp GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả
9 Cấu trúc đề tài
Mở đầu
Nội dung nghiên cứu
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả
Chương 2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử
dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Chương 3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sử
dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6
TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Đáng chú ý là từ thế kỷ 17, J.A.Cômenxki (người Tiệp Khắc) đã xây dựng chương
trình GDMN thời ấy với quan điểm đưa kiến thức rộng đến với trẻ - cho trẻ biết thế nào là lửa, không khí, nước, mưa, tuyết…[8]
Ở Hàn Quốc và Úc, trẻ em MN được học bảo vệ môi trường, trong đó có nội dung sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Phương pháp GD là trẻ thực hiện sống tiết kiệm trong tiêu dùng, tập làm đồ dùng đồ chơi với nguyên vật liệu đã qua sử dụng nhằm hạn chế rác thải và tiết kiệm- sử dụng lại
Nga đưa nội dung GD trẻ MG về việc con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên Từ
đó, dạy cho trẻ ý thức tiết kiệm
Mỹ là nước tiêu thụ năng lượng đứng thứ hai (sau Trung Quốc) trên thế giới, với
chương trình Năng lượng và bạn (Energy and you) là một chương trình giáo dục năng lượng
phù hợp với các tiêu chuẩn nội dung khoa học California Học sinh có cơ hội để kết nối khoa học lớp học của họ học tập để tiết kiệm năng lượng và bảo tồn Những đứa trẻ và gia đình của họ sẽ tìm hiểu những lợi ích của việc bảo tồn năng lượng, và làm thế nào hành động của họ có thể tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tiền và bảo vệ hành tinh [52]
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Nội dung GD bảo vệ môi trường cho trẻ MG 5 tuổi, Trung tâm Nghiên cứu GDMN, năm 2002 đã đưa ra nội dung các HĐ thực tiễn của trẻ góp phần bảo vệ môi trường: tiết kiệm trong sinh hoạt (tiết kiệm điện, nước, đồ dùng đồ chơi)[9] Chương trình GDMN thí điểm 2005-2006 GD trẻ quan tâm đến môi trường, tiết kiệm điện, nước
Để giải quyết nhiệm vụ triển khai việc GD trẻ MN bảo vệ môi trường, nhóm tác giả
Hoàng Thị Thu Hương – Trần Thị Thu Hòa – Trần Thị Thanh đã gợi ý một số phương pháp,
hình thức để tổ chức GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm theo quan điểm tích hợp chủ đề, lồng ghép với nội dung nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ [13]
Tác giả Hoàng Thị Phương đưa biện pháp tổ chức cho trẻ thực hành tiết kiệm nước: chỉ sử dụng lượng nước cần cho ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh cá nhân; không nghịch nước,
Trang 15không để nước chảy liên tục khi đánh răng, rửa mặt, rửa tay, rửa cốc chén Sử dụng các nguồn năng lượng sạch như: năng lượng mặt trời, gió, thủy điện [19]
Tác giả Kim Phụng, đề cập đến việc GD thiếu niên tiết kiệm năng lượng qua tiết kiệm giấy: chủ yếu tổ chức cho trẻ sử dụng lại giấy còn trống, người lớn trò chuyện, làm gương cho các em làm theo [20]
Tác giả Hoàng Đức Nhuận cùng cộng sự đã đề cập đến việc GD môi trường, trong đó
có nội dung tiết kiệm nước, nguồn tài nguyên, hình thành hành vi bảo vệ nguồn nước, biết phản ứng cần thiết đối với những hành vi phá hoại lãng phí nguồn nước Theo nhóm tác giả trên, thì nội dung này thực hiện một cách tản mạn, thiếu tập trung, không có sự kiểm tra, đánh giá nên hiệu quả GD thấp Do đó cần trang bị cho đội ngũ GV hệ thống kiến thức, biện pháp cần thiết để thực hiện nội dung này Trong đó, chủ yếu cho trẻ tiếp xúc với thiên nhiên, người lớn cần theo dõi uốn nắn trẻ trong các HĐ, trong chế độ sinh hoạt hằng ngày [29] Hai tác giả Lê Xuân Hồng – Nguyễn Thanh Thủy đã đưa ra hoạt động thử nghiệm cho trẻ thấy được nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước, suy đoán về hậu quả xảy ra, từ đó xây dựng hành vi thích hợp: phải biết tiết kiệm nước sạch, không đổ nước bẩn thẳng vào đất Đồng thời thông qua HĐ tạo hình, làm ra sản phẩm đồ chơi từ nguyên vật liệu đã qua sử dụng GD trẻ biết tiết kiệm đồ dùng, đồ chơi, giảm thải ra môi trường [10]
Tác giả Trần Lan Hương nhận định cần phải GD ý thức tiết kiệm lâu bền, tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, giảm tiêu thụ, tái sử dụng, tái chế Tiết kiệm và giảm phế thải là lối sống hợp lý, văn minh Tác giả nhấn mạnh tấm gương của người lớn có tác dụng GD với trẻ rất lớn [12]
Nhìn chung, biện pháp chủ yếu để GD trẻ là tổ chức cho trẻ thực hành tiết kiệm ngay trong sinh hoạt hàng ngày ở trường hay ở nhà, người lớn làm gương; hướng tiếp cận GD là lồng ghép vào chương trình CSGD MN hiện hành
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm biện pháp GD
Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [34]
Theo từ điển của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thì biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể [28]
Từ những khái niệm trên có thể hiểu biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể, hay hướng tới giải quyết nhiệm vụ cụ thể
Trang 16Theo từ điển Tiếng Việt, hiểu theo nghĩa danh từ thì GD là nói đến quá trình HĐ có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong đời sống
GD là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý nghĩa
GD là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách
Theo nghĩa rộng GD là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động GD khác đến con người Theo nghĩa hẹp thì GD có thể xem như là quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của người học (GD đạo đức, GD lao động,
GD lối sống, hành vi ) [31]
Biện pháp GD là cách thức tác động của người thầy lên người trò nằm mục đích thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ Biện pháp GD MN được hiểu là cách làm cụ thể trong HĐ hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD đã đặt
ra ở lứa tuổi MN Phương pháp mang tính khái quát chung còn biện pháp mang tính cụ thể Biện pháp GD có mối quan hệ mật thiết với phương pháp GD và cả hai đều được qui định bằng HĐ hợp tác cùng nhau giữa nhà GD và trẻ nhằm đạt được mục tiêu GD đã đặt ra ở lứa tuổi MN [8]
Ở lứa tuổi MN, các biện pháp GD đặc biệt quan trọng, nó làm cho quá trình GD hấp dẫn trẻ em và phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ Do đó nâng cao hiệu quả của quá trình GD và làm cho HĐ học trở nên nhẹ nhàng sinh động [5]
1.2.2 Khái niệm GD nhận thức
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái
tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”
Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội” [21, tr.9]
Trang 17“GD nhận thức” là khái niệm nghiên cứu của GD học, theo nghĩa rộng được hiểu là cách thức làm cho người học biết được cái mới thông qua con đường học với giáo viên, học với bạn bè, học ở cha mẹ, ở truyền thông
“HĐ nhận thức sơ đẳng góp phần phát triển những năng lực và nhu cầu HĐ nhận thức ở trẻ” [4, tr.71]
Dưới sự tổ chức hướng dẫn của nhà GD, trẻ nắm được tri thức có hệ thống, trẻ có được một số biểu tượng sơ đẳng về thế giới xung quanh Ngoài ra, trẻ hứng thú quan tâm, tò
mò về những hiện tượng, sự vật khác nhau ở xung quanh và dần dần có ý thức gần gũi với môi trường
Với hệ thống kiến thức, dù sơ đẳng, trẻ được hình thành khả năng định hướng trong môi trường xung quanh; có khả năng nhận xét đánh giá khách quan các sự kiện, hiện tượng; hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề hợp lý hơn trước [4]
1.2.3 Khái niệm GD thái độ, thái độ sống
Trong từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của
cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”
Trong từ điển Anh-Việt, “thái độ” được định nghĩa là “cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân”
Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh: “tâm thế - thái độ
… có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần như: nhận thức, xúc cảm, hành vi”
Nhà tâm lý học người Mỹ là H.C.Triandis đã đưa một định nghĩa khác về thái độ Ông cho rằng: “Thái độ là những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm Nó gây tác động đến hành vi nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định Thái độ của con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự
của họ đối với đối tượng đó"
Triandis cho rằng thái độ được hình thành nhờ kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân Thái độ
có tính ổn định và sẽ thay đổi theo tình huống R Marten đã đưa ra định nghĩa: “Thái độ là
xu hướng thường xuyên đối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ (nhận thức) xúc cảm và hành vi Thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi
vì thái độ được xác định bởi tính thống nhất bên trong của nó” [53]
Trang 18Nói tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ Theo quan điểm của đề tài, thì càng có được kinh nghiệm sống đúng đắn thì con người càng có khả năng thống nhất giữa nhận thức, xúc cảm và hành vi Nếu diễn đạt đơn giản hơn thì thì thái độ của con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử sự của họ đối với đối tượng đó
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, GD thái độ cho trẻ là quá trình tác động sư phạm có
mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển cho trẻ những xúc cảm, tình cảm lành mạnh, để hình thành hành vi ứng xử đúng mực với mọi người xung quanh, với thiên nhiên
và bản thân mình Trên cơ sở đó, hình thành cho trẻ khả năng thích ứng xã hội, thiết lập mối
quan hệ và giao tiếp với người khác, đồng thời phát triển tính tự lực cho trẻ [8] Mọi hành động của trẻ đều bị chi phối bởi tình cảm Trẻ thích đối tượng nào thì mới tìm hiểu đối tượng đó, hành động với đối tượng đó Tình cảm điều khiển hành vi của trẻ, hành vi của trẻ tốt hay xấu không phải do nhận thức đầy đủ hay không mà do tình cảm yêu hay ghét [23]
Đối với nhận thức và HĐ, cảm xúc tình cảm có vai trò như một động lực cho quá trình tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh Có thể xem xúc cảm, tình cảm là động cơ bền
bỉ nhất ảnh hưởng và chi phối toàn bộ HĐ của con người
Do đó, trong quá trình tổ chức các HĐ GD, cô giáo muốn trẻ hành động theo mục đích yêu cầu nhất định cần làm cho đối tượng HĐ của trẻ (sự vật, hiện tượng đó hấp dẫn, gây được tình cảm tích cực Tổ chức các HĐ gây được hứng thú với đối tượng để trẻ tích cực HĐ [23]
Ở lứa tuổi MG, trẻ em rất tích cực lĩnh hội những thái độ, chuẩn đạo đức và những qui tắc hành vi Trẻ rất quan tâm đến việc đánh giá về mặt đạo đức những hành động của con người và luôn hỏi người lớn xem cái gì là tốt, cái gì là xấu, hành động nào của những người xung quanh là đúng, còn hành động nào là sai
Trong khi nắm những tiêu chuẩn đạo đức, trẻ bắt đầu không những hiểu ý nghĩa đạo đức của hành động bản thân và của người khác, mà còn bằng cách nào đó thể nghiệm những tiêu chuẩn đạo đức đó, có những tình cảm đạo đức nhất định liên quan đến những tiêu chuẩn
ấy Khi trẻ được tập luyện có hệ thống để quen hoàn thành những nhiệm vụ hết sức đơn giản đối với người lớn, với bạn, với trẻ nhỏ tuổi, nếu công tác GD tiến hành đúng đắn thì ở trẻ sẽ xuất hiện những tình cảm của nghĩa vụ Khi đó, trẻ sẽ cảm thấy vui thích nếu hoàn thành tốt đẹp những nhiệm vụ nhỏ bé của mình, sẽ tức giận với những bạn không hoàn thành nhiệm
vụ, sẽ cảm thấy bối rối khi chính bản thân mình làm trái với những yêu cầu đã định
Trang 19Do vậy, GD thái độ giữ vai trò quyết định trong việc phát triển những phẩm chất ý chí của cá nhân đứa trẻ trong việc hình thành tính cách của nó [5]
Trẻ muốn được khẳng định mình, muốn được sống và làm việc như người lớn, muốn nhận thức sự vật và hiện tượng xung quanh Đặc biệt những động cơ đạo đức, thể hiện thái
độ của trẻ với những người khác có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển các động cơ hành vi, gắn liền với việc lĩnh hội có ý thức những chuẩn mực và những qui tắc đạo đức trong xã hội [14]
1.2.4 Khái niệm kỹ năng
Theo T.A.Ilina, “k ỹ năng là những hành động thực hành mà trẻ có thể thực hiện được trên cơ sở những kiến thức thu nhận được và về sau những hành động thực hành này lại giúp trẻ thu nhận những kiến thức mới” [15, tr.5]
V.A Crutetxki, nhà tâm lý học Xô Viết cho rằng, kỹ năng là sự thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức hành động đúng A.G Côvaliôv quan niệm: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động
Hoàng Phê trong từ điển Tiếng việt định nghĩa “kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [30, tr.308]
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thục tiễn cho phép
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, kỹ năng là khả năng thực hiện, kỹ năng chỉ biểu hiện thông qua một nội dung Kỹ năng được hình thành dần dần trong suốt cả cuộc đời Kỹ năng vừa mang tính nhận thức vừa mang tính hoạt động chân tay
Như vậy, theo quan điểm của đề tài, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với thực tiễn
Sự hình thành kỹ năng chia thành hai bước: một là nắm vững các tri thức về hành động; hai là thực hiện được hành động theo các tri thức đó Để có thể thực hiện được hành động có kết quả, tránh phương pháp thử và sai thì phải có sự tập dượt, phải có sự quan sát mẫu, làm thử Muốn kỹ năng có sự ổn định và sự mềm dẻo để có thể vận dụng vào những điều kiện khác tương tự thì sự tập dượt càng đa dạng, càng kỹ càng Khi kỹ năng ổn định có thể vận dụng được vào nhiều tình huống khác nhau Quá trình hình thành kỹ năng đòi hỏi
Trang 20thực hiện một số lớn hành động thực tiễn Hình thành các kỹ năng một cách có ý thức, nghĩa
là trẻ hiểu tại sao mình phải làm như vậy và làm như thế nào [15]
1.2 5 Khái niệm năng lượng
Theo Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả thì “Năng lượng bao gồm nhiên
liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo và tái tạo” [22, tr.1]
Năng lượng là dạng vật chất có khả năng sinh công, bao gồm nguồn năng lượng sơ cấp: than, dầu, khí đốt và nguồn năng lượng thứ cấp là nhiệt năng, điện năng được sinh ra thông qua quá trình chuyển hoá năng lượng sơ cấp [6]
Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất trên trái đất có nguồn gốc chủ yếu là mặt trời và năng lượng tàn dư trong lòng đất Năng lượng mặt trời tồn tại ở các dạng chính: bức
xạ mặt trời, năng lượng sinh học dưới dạng sinh khối, năng lượng chuyển động của thủy quyển, khí quyển (gió, bão, sóng, các dòng chảy sông suối, các dòng hải lưu)
Năng lượng tàn dư trong lòng trái đất có các dạng chính: các nguồn nước nóng, năng lượng núi lửa, năng lượng của các khối đất đá nóng trong lòng thạch quyển
Hiện nay, năng lượng tiêu thụ phổ biến trong các gia đình thường tập trung vào các loại năng lượng: điện, xăng, dầu, gas, củi, than Các năng lượng này thuộc dạng không tái
tạo Nguồn tài nguyên năng lượng không tái tạo đang có nguy cơ cạn kiệt Trong khi đó,
nhu cầu sử dụng năng lượng của con người gia tăng nhanh chóng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội Chính đây là tính bức thiết của việc GD con người, từ nhỏ, sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả
Những con số thống kê đáng suy nghĩ về lượng sử dụng năng lượng của con người:
- Thời nguyên thủy: khoảng 2000 kcal/người/ngày dưới dạng thức ăn nguyên khai
- Sau khi phát hiện ra và sử dụng lửa: khoảng 10.000 kcal/người/ngày
- Sang thế kỷ XX: gần 70.000 kcal/người/ngày
- Hiện nay: khoảng 200.000 kcal/người/ngày
Theo tính toán, mức gia tăng tiêu thụ năng lượng thường có giá trị gấp hai lần mức gia tăng thu nhập GDP Do đó, tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để chúng ta bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên [2, tr.6]
Để GD trẻ, nhà GD cần giới hạn biểu tượng về năng lượng trong phạm vi điện, gas, sức gió, sức nước, ánh sáng mặt trời- là những dạng năng lượng cụ thể, “thấy được” và trẻ có sử dụng đến trong sinh hoạt
Trang 211.2.6 Khái niệm tiết kiệm - việc sử dụng năng lượng (một cách) tiết kiệm
Tiết kiệm, hiểu theo nghĩa thông thường là hành vi giảm thiểu các lãng phí
Tiết kiệm là khái niệm kinh tế, có liên quan mật thiết tới việc đầu tư Tiết kiệm cho phép tích lũy (dự trữ)…[42] Tiết kiệm trong kinh tế học là phần thu nhập có thể sử dụng không được chi vào tiêu dùng Trong thuật ngữ tài chính cá nhân tiết kiệm đề cập đến việc dự trữ tiền cho tương lai - loại tiền được gửi trong ngân hàng Tiết kiệm khác với sự đầu tư, nơi mà
có những rủi ro [44]
Tiết kiệm năng lượng có nghĩa là giảm lượng năng lượng sử dụng trong khi đạt được một kết quả tương tự sử dụng cuối cùng Sử dụng năng lượng ít hơn có rất nhiều lợi ích - bạn có thể tiết kiệm tiền và giúp cho môi trường Tạo ra năng lượng đòi hỏi nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, ví dụ như than, dầu hoặc khí Vì vậy, sử dụng ít năng lượng hơn giúp chúng ta bảo tồn các nguồn tài nguyên [54]
Tiết kiệm năng lượng đề cập đến việc giảm năng lượng thông qua sử dụng ít hơn của một dịch vụ năng lượng [55]
Tiết kiệm năng lượng là một thách thức đòi hỏi các chương trình chính sách, phát triển công nghệ và thay đổi hành vi
Như vậy, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm (Energy conservation) là việc tiết kiệm năng lượng, giảm tiêu thụ năng lượng không tái tạo [44], là việc sử dụng năng lượng một cách đúng lúc, đúng chỗ - “không dùng nữa thì tắt ngay” [26]
1.2.7 Khái niệm hiệu quả - việc sử dụng năng lượng (một cách) hiệu quả
“Hiệu quả”, được mô tả trong nhiều từ điển, được hiểu như mức độ mà thời gian, công
sức hay chi phí được sử dụng tốt cho công việc hoặc cho mục đích, là nỗ lực để tạo ra một kết quả cụ thể có hiệu quả với một số lượng tối thiểu, chi phí, hay sức lực không cần thiết Hiệu quả là một khái niệm không định lượng, tương đối mơ hồ, chủ yếu là liên quan đến việc đạt được mục tiêu
Hiệu quả là hoàn thành hoặc khả năng để thực hiện một công việc với một chi phí tối
thiểu thời gian và công sức [45]
Hiệu quả là khả năng để làm một cái gì đó hoặc tạo ra một cái gì đó mà không lãng phí vật liệu, thời gian, năng lượng mà chất lượng mức độ được hiệu quả [35]
Sử dụng năng lượng hiệu quả có nghĩa là sử dụng ít năng lượng hơn để cung cấp cùng một mức độ công việc, dịch vụ Nó là một phương pháp để giảm phát thải khí nhà kính của con người [46]
Trang 22Khái niệm “sử dụng năng lượng tiết kiệm” rộng hơn so với khái niệm “sử dụng năng lượng hiệu quả” Trong khái niệm “sử dụng năng lượng tiết kiệm” bao gồm cả những nỗ lực
hoạt động để giảm tiêu thụ năng lượng thông qua việc thay đổi hành vi, ngoài việc sử dụng
năng lượng hiệu quả hơn
Việc sử dụng năng lượng hiệu quả (Energy efficiency) là việc sử dụng một lượng năng lượng ít nhất mà vẫn thỏa mãn nhu cầu sử dụng
“Sử dụng năng lượng hiệu quả là mục tiêu của những nỗ lực nhằm làm giảm lượng
năng lượng cần thiết trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ” [44]
Như vậy, khi sử dụng năng lượng có hiệu quả là đã tiết kiệm Nhưng, khi sử dụng tiết kiệm năng lượng thì chưa hẳn đã đạt tính hiệu quả sử dụng nó [43]
“ Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống” [22, tr.1]
“ Như vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là sử dụng năng lượng một cách hợp lý, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí năng lượng cho hoạt động của các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng mà vẫn đảm bảo nhu cầu năng lượng cần thiết cho các quá trình s ản xuất, dịch vụ và sinh hoạt “
[6, tr.1]
1.3 Những vấn đề chung của việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
1.3.1 Ý nghĩa việc GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Vấn đề ô nhiễm môi trường đang mang tính cấp bách toàn cầu Trẻ em là những thế
hệ tương lai, cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về tiết kiệm năng lượng làm nền tảng cho ý thức, hành động vì môi trường sống của chính mình, gia đình và cộng động
Tuổi MN là giai đoạn đầu của quá trình hình thành nhân cách con người, đặt nền móng cho việc hình thành thái độ đúng đắn của trẻ đối với thế giới xung quanh và giúp trẻ định hướng trong thế giới đó Đây cũng là giai đoạn rất nhạy cảm để hình thành ý thức, thái
độ và hành vi Những kinh nghiệm trong việc sử dụng năng lượng ở giai đoạn này có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển ý thức bảo vệ môi trường trong những gia đoạn tiếp theo [19]
Theo GD học lứa tuổi, ngay ở giai đoạn lứa tuổi MG, nếu trẻ được lĩnh hội những chuẩn hành vi đúng thì hành vi và thái độ của trẻ sẽ dễ trở thành bền vững, nếu lĩnh hội sai cũng dễ uốn nắn hơn các giai đoạn về sau Vì vậy, đây là giai đoạn thích hợp để GD cho trẻ
Trang 23cách sử dụng năng lượng nhằm bảo vệ môi trường Hơn thế, việc GD tiết kiệm năng lượng
góp phần cho trẻ phát triển các mặt về nhận thức, yêu lao động, tình cảm đạo đức, kỹ năng
xã hội
Về nhận thức: qua việc lĩnh hội tri thức về năng lượng, tài nguyên và mối quan hệ
giữa chúng với đời sống con người nhận thức của trẻ sẽ hoàn thiện, tích lũy kinh nghiệm, hình thành các khái niệm đơn giản Ngoài ra, trẻ còn có thể lĩnh hội những tri thức khoa học
sơ đẳng “làm thiết bị chạy như thế nào?”, “điện làm quạt chuyển động, quạt quay làm không khí chuyển động và chúng ta mát”…Việc lĩnh hội tri thức có liên quan trực tiếp đến sự phát triển ở trẻ khả năng nhận thức (tri giác, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng), tập trung chú ý, ngôn ngữ…
GD tiết kiệm năng lượng góp phần hình thành cho trẻ tình yêu lao động Khi được
hành động với các đồ dùng thiết bị, vật thật như người lớn thì trẻ sẽ thích thú “vì được xem
là người lớn”, “được làm như người lớn” Từ đó, trẻ thích tự mình lao động tự phục vụ, thậm chí “bảo lại” cho người khác để họ làm như mình
Qua việc sử dụng tiết kiệm năng lượng rèn luyện cho trẻ kỹ năng xã hội Từ nhận
thức, thái độ tích cực, đúng đắn trong việc sử dụng năng lượng, dẫn đến hành vi sử dụng tiết kiệm, dần dần trở thành thói quen trong cuộc sống cho trẻ Lúc này các HĐ của trẻ hằng ngày đều được tính toán, sắp xếp để tiết kiệm, hiệu quả - không chỉ riêng trong các HĐ sử dụng năng lượng
Như vậy, việc GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả có ý nghĩa lớn lao trong việc GD bảo vệ môi trường và hình thành nhân cách
1.3.2 Những đặc điểm tâm lý nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi cần thiết cho việc GD nhận thức- kỹ năng và thái độ
• Nhận thức quá trình biến đổi hoặc quá trình phát triển của đối tượng:
Các thí nghiệm của N.N Poddiakov cho phép ông khẳng định rằng trẻ 5- 6 tuổi có thể quan sát, tự tri giác từng trạng thái của đối tượng trong các thời điểm khác nhau, liên kết chúng lại trong não và có hình dung (có biểu tượng) về một chuỗi các bước biến đổi hoặc phát triển của đối tượng “Sự liên kết các trạng thái lại thành chuỗi” này hầu như rất hiếm tìm thấy ở trẻ em dưới 4 tuổi
Từ đây, có thể khẳng định rằng nếu được GD nhận thức đúng đắn để có hệ thống kiến thức về sự vật, hiện tượng nào đó thì trẻ 5- 6 tuổi có thể tìm hiểu và suy lý về nguyên
Trang 24nhân - diễn tiến trước mắt - hậu quả lâu sau đó Cơ sở lý luận này vô cùng có ý nghĩa khoa học đối với việc nghiên cứu đề tài này
• Trẻ 5- 6 tuổi có hay không có hệ thống kiến thức?
Trước hết, có thể thấy rằng nếu trẻ 5- 6 tuổi có năng lực liên kết các biểu tượng cụ thể trong giai đoạn để có được biểu tượng về một chuỗi biến đổi, chuỗi các bước phát triển của đối tượng và hình dung được cả quá trình biến đổi hay phát triển này trong đầu thì cũng
có nghĩa là các em có thể hệ thống hóa được kiến thức của mình Kết quả thu được rất đáng chú ý sau đây trong thí nghiệm của N.N Poddiakov: trẻ 5- 6 tuổi, nhờ vào năng lực hệ
thống hóa kiến thức mà có thể lập được các mối liên hệ giữa những bước đã hình thành từ
trước (thậm chí từ rất lâu trước kia mà trẻ không thể tri giác trực tiếp) với cái đang diễn ra bây giờ và cái sẽ xảy đến trong tương lai Có nghĩa là, trẻ em cần được khảo sát để có những biểu tượng (hình dung) cụ thể về thế giới xung quanh, để chúng làm tiền đề cho năng
• Giải quyết vấn đề bằng hình tượng trong đầu và bằng suy lý:
Rất nhiều nhà tâm lý học (J Piaget, A.V Zaporodgets, A.A Liublinxkaia…) đã chứng minh rằng sự xuất hiện tư duy trực quan hình ảnh là bước ngoặt trong sự phát triển nhận thức của trẻ
Theo N.N Poddiakov [40], “Không phải chỉ cần giúp trẻ lĩnh hội kiến thức và kỹ năng đủ là tự trẻ sẽ có bước chuyển từ tư duy trực quan hành động (thường dưới dạng thử - sai trên đối tượng cụ thể) sang năng lực thao tác bên trong não bằng hình ảnh (tư duy trực quan hình ảnh) Trẻ cần nhiều hơn thế, chí ít là được hướng dẫn HĐ với đồ vật, đặc biệt với công cụ, được nói và nghe hiểu, được bắt chước…” Ông nhấn mạnh sự cần thiết thực hiện
3 bước luyện tập dạng nhận thức bằng hình tượng trong đầu sau đây theo ý tưởng của G.I Minskaia, A.V Zaporodgets (đã thực nghiệm với trẻ em từ năm 1954):
Bước 1 Trẻ được đưa vào tình huống có vấn đề và có vật cụ thể trước mắt để hành động với vật đó
Bước 2 Trẻ được quan sát tranh ảnh và được đưa vào tình huống có vấn đề, tự giải quyết (thao tác bằng hình ảnh trong đầu, không có vật cụ thể để thao tác)
Trang 25Bước 3 Trẻ chỉ nghe lời mô tả của người lớn về tình huống có vấn đề (không có vật
cụ thể cũng không có tranh ảnh…), tự giải quyết (thao tác bằng sự suy lý trong đầu, là tiền
đề của tư duy logic - từ ngữ)
Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng trẻ cần được hướng dẫn để có thể hoạt
động định hướng tìm hiểu sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó dần dần trẻ tự phát hiện ra những mối quan hệ mang tính bản chất ẩn chứa trong tình huống có vấn
đề ấy
E.X Komarova (1973) [38] làm thí nghiệm để chứng minh trẻ sau 4 tuổi hoàn thành được các bài tập có sử dụng mô hình hóa, sử dụng hình vẽ kiểu sơ đồ với những ký hiệu Kết quả là có tới 81% số trẻ sau 5-6 tuổi tự giải quyết vấn đề bằng tư duy trực quan sơ đồ (là bước chuyển tiếp từ tư duy trực quan hình ảnh sang tư duy logic - từ ngữ) ở kiểu mô hình phức tạp và cũng đáng kể là có 43% số trẻ này giải quyết được bài tập ở kiểu mô hình rất phức tạp
Như vậy, cần đưa ra nhiệm vụ GD trẻ định hướng và phát hiện các mối quan hệ logic giữa các sự vật, hiện tượng; thiết kế bài dạy trẻ (hoặc HĐ) sao cho trẻ được khảo sát vật thật (thiết bị chẳng hạn) trong sự an toàn, chuyển sang sử dụng tranh ảnh/phim ảnh rồi chuyển thành nghe lời mô tả tình huống, sự kiện và tự giải quyết
Lý thuyết trên đây về sự phát triển tư duy và năng lực hệ thống hóa kiến thức ở trẻ 5-
6 tuổi là cơ sở lý luận quan trọng cho nghiên cứu này
1.3.3 Các nhiệm vụ GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Xuất phát từ quan điểm hiện đại về chống ô nhiễm không khí, làm sạch môi trường, con người thường có những động cơ khác nhau để cải thiện việc sử dụng năng lượng hiệu quả [37], [39], [47]:
- Nỗ lực làm giảm lượng năng lượng cần thiết dẫn đến tiết kiệm chi phí tài chính cho người tiêu dùng
- Giảm sử dụng năng lượng cũng được xem là một giải pháp cho vấn đề giảm chất,
khí thải ra ngoài không khí Việc này giúp kiểm soát lượng khí thải của các loại khí gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu
- Hiệu quả sử dụng năng lượng cũng đạt được bằng cách áp dụng một công nghệ hiệu quả hơn, điển hình như việc chọn đèn compact sẽ tiết kiệm được đến hai phần ba năng lượng so với của đèn sợi đốt, sử dụng công tắc điện “có thể làm mờ” hoặc sử dụng thiết bị cảm ứng với nhiệt độ thân thể (tự động tắt nguồn điện khi người đã đi ra khỏi phòng); việc
Trang 26sử dụng lốp xe cao cấp hơn để giảm ma sát trên mặt đường; việc thay thế một bộ lọc không khí bị tắc…
- Làm chậm tốc độ cạn kiệt nguồn tài nguyên năng lượng trong nước
- Tăng cường sử dụng ánh sáng tự nhiên
- Bật/tắt để chỉ sử dụng lượng ánh sáng cần thiết
Từ những thông tin tuyên truyền sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và có hiệu quả nêu trên, rút ra được những nhiệm vụ GD căn bản có thể triển khai cho trẻ 5- 6 tuổi: a) Hướng dẫn cách sử dụng thông minh:
Trẻ em 5- 6 tuổi cần được tập:
+ Tăng cường sử dụng ánh sáng tự nhiên: đi ra ngoài để làm việc dưới ánh sáng tự nhiên; mở cửa sổ, cửa cái, kéo dẹp màn cửa thay vì chỉ bật sáng đèn trong phòng; cắt cành hay tán cây che mất ánh sáng trên các hành lang
+ Tắt khi không cần dùng (chỉ sử dụng lượng ánh sáng, nước, chất đốt đủ cần thiết)
+ Nhắc người lớn đem xe “đi bảo trì” để tiết kiệm xăng (đem xe đi kiểm tra)
b) Giải thích về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả:
Người lớn - đặc biệt cần phối hợp giữa GV và PH giải thích cho trẻ:
+ “Tiết kiệm điện, nước là tiết kiệm tiền cho cha mẹ”
+ “Sẽ giảm được khói, khí đen ở xung quanh ta nếu giảm đốt điện hoặc giảm đốt xăng, dầu khi đi xe”
+ “Giảm đốt xăng, dầu, giảm thắp sáng bóng đèn điện, giảm đốt lò gas thì môi trường sống của chúng ta sẽ mát mẻ hơn”
+ Giải thích ý nghĩa tiết kiệm điện khi sử dụng thiết bị hiện đại: cùng xem hoặc trò chuyện với trẻ về ý nghĩa tiết kiệm điện của máy lạnh, quạt hơi nước có cảm ứng với nhiệt độ cơ thể người (ngày nay, trẻ có thể bắt gặp các thiết bị này trong các chương trình quảng cáo trên tivi)
+ Biết một số dạng năng lượng thường được sử dụng: điện, xăng, dầu, rơm, củi, gas, than, …thông qua một số đồ dùng sử dụng năng lượng
+ Hiểu được lợi ích của năng lượng để biết tại sao phải sử dụng tiết kiệm năng lượng
+ Hình thành kỹ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm Thực hiện một số biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả
Trang 27+ Hình thành ý thức tiết kiệm năng lượng: biết thể hiện thái độ khi người xung quanh
sử dụng năng lượng không tiết kiệm [1]
c) Tổ chức đời sống sinh hoạt, việc dạy học cho trẻ sao cho trẻ thực hành sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả
1.3.4 Nội dung GD căn bản về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
1.3.4.1 Hiểu biết về năng lượng
Năng lượng bao gồm: điện, nhiên liệu (xăng, dầu, rơm, rạ, gas, củi, than), năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước
Điện là một dạng của năng lượng Điện được tạo ra từ các nhà máy điện như nhà máy thủy điện, nhà máy nhiệt điện…
Làm thế nào điện đến được các nhà? (Từ nhà máy điện, điện được dẫn theo đường điện cao thế đến các trạm điện, rồi theo các dây điện, điện được dẫn đến các nhà)
1.3.4 2 Lợi ích của năng lượng
Lợi ích của điện:
Giúp cho bóng đèn sáng – cung cấp ánh sáng
Giúp cho quạt, máy điều hòa hoạt động – làm mát hoặc làm ấm nhà ở
Giúp cho tivi, đài hoạt động để bé và mọi người có thể nghe đài, xem tivi
Giúp cho máy vi tính hoạt động để cha mẹ, cô giáo làm việc, bé chơi trò chơi trên máy vi tính
Giúp cho tủ lạnh hoạt động bảo quản thức ăn không bị ôi thiu
Điện dùng để nấu chín cơm (nồi cơm điện), nấu chín thức ăn (bếp điện), đun nước sôi (ấm điện), …
Lợi ích của nhiên liệu:
Xăng dầu giúp cho các phương tiện giao thông như xe máy, xe ôtô, tàu hỏa,… di chuyển
Xăng dầu giúp cho thuyền, tàu thủy hoạt động trên sông để vận chuyển người và hàng hóa, giúp ngư dân ra biển đánh bắt tôm cá
Rơm, rạ, củi, than, gas, dầu hỏa có thể làm chất đốt để nấu chín thức ăn
Lợi ích của năng lượng sạch (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước) Đây là những dạng năng lượng sạch không làm hại đến môi trường như những nguồn năng lượng khác (than, dầu hỏa, khí gas tự nhiên) Nguồn năng lượng sạch có rất nhiều, không bao giờ cạn kiệt
Trang 28Năng lượng mặt trời: mặt trời là nguồn năng lượng, chúng ta có thể lắp đặt những tấm
thu nạp ánh nắng mặt trời để tạo ra điện sử dụng trong nhà, làm khô quần áo thay cho việc sấy khô hoặc là quần áo, nhà kính sử dụng năng lượng mặt trời để sưởi ấm cho cây cối phát triển, làm cho ô tô chuyển động bằng cách lắp đặt tấm pin mặt trời trên nóc ôtô để tạo ra điện,
Năng lượng gió: những chiếc tua bin khổng lồ có thể sử dụng năng lượng gió tạo ra
điện Thuyền buồm chạy được trên sông trên biển nhờ vào sức gió Chúng ta nhờ sức gió để thả diều bay trên bầu trời
Năng lượng nước: con người sử dụng sức nước để giã gạo và cắt gỗ, đặc biệt sử dụng
sức nước để tạo ra điện
1.3.4 3 Tiết kiệm năng lượng
Tiết kiệm năng lượng là cách tốt nhất để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Với trẻ MN,
sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở trường và ở gia đình là thực hiện những hành việc phù hợp với khả năng, độ tuổi của mình cụ thể như sau:
Trẻ không mở cửa sổ, cửa ra vào khi máy điều hòa, máy sưởi đang bật Biết tắt đèn, tắt quạt khi ra khỏi phòng Không được mở cửa tủ lạnh trong thời gian dài, luôn đóng kín cửa
tủ khi không có nhu cầu dùng đến Tắt đài khi không nghe Tắt tivi khi không xem Tắt máy tính khi không sử dụng
Bên cạnh đó trẻ cần biết thực hiện việc đảm bảo an toàn cho mình trong sử dụng điện Trẻ luôn luôn hỏi người lớn khi sử dụng các thiết bị liên quan đến điện Không bao giờ tự cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm Không được sờ vào điện khi tay ướt hoặc đi chân đất Không bao giờ được chạm vào dây điện, đặc biệt là các dây điện bị đứt Khi ngửi thấy mùi khét trong nhà, trong lớp học phải báo ngay cho người lớn
Thông qua việc làm trên hình thành hành vi, thái độ tiết kiệm năng lượng cho trẻ Trẻ chú ý quan sát và bắt chước những việc làm của người lớn: khi ra khỏi phòng thì phải tắt điện (tắt đèn, tắt quạt, tắt tivi khi không dùng) Có thái độ không đồng tình với những người không có ý thức tiết kiệm năng lượng Nhận ra người nào sử dụng năng lượng tiết kiệm, người nào sử dụng không tiết kiệm [2]
1.3.5 Kinh nghiệm về phương pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
ở các nền GD tiên tiến
Hầu hết việc GD trẻ tiết kiệm năng lượng được tổ chức ở nhà và PH là những người trực tiếp GD trẻ điều này
Trang 29Ở Ấn Độ, GD môi trường cho trẻ em bắt đầu từ việc cho trẻ thấy được trách nhiệm của mình trong việc giúp tiết kiệm môi trường Trẻ được nghe những lời khuyên về môi trường
và yêu cầu trẻ làm theo Mặc dù chúng thấy bản thân mình quá nhỏ để thực hiện, nhưng khi được nghe tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trẻ cũng quan tâm một cách háo hức Trong đó, GD cho trẻ tránh lãng phí nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường hôm nay là chuẩn
bị cho ngày mai
Trong sinh hoạt hằng ngày, trẻ được dạy tắt vòi nước khi giặt xà phòng, chải răng, khi
sử dụng bồn rửa trong vườn Những điều này PH của trẻ phải là người thực hiện tốt nhất để
PH trang bị bóng đèn huỳnh quang, nhắc trẻ tắt đèn, tắt quạt và các thiết bị điện tử khác khi không sử dụng
Đặc biệt, cho trẻ trồng mảng xanh: tham gia trồng cây trong vườn nhà, hoặc trồng vào cái nồi nhỏ ở ban công Đây là cách tuyệt vời để giúp môi trường
Tiết kiệm giấy Không sử dụng những chiếc cốc giấy, yêu cầu trẻ dùng khăn, giẻ lau
thay khăn giấy và khăn ăn Yêu cầu trẻ dùng tạp chí cũ, báo cũ cho việc thủ công và nghệ thuật Cắt giảm giấy bất cứ nơi nào có thể sẽ giúp tiết kiệm nhiều cây hơn [49]
Chương trình Energy and you ở California giúp học sinh hiểu về tầm quan trọng của
năng lượng, tầm quan trọng của bóng râm, tầm quan trọng của tiết kiệm năng lượng ở trường và ở nhà Từ đó, dạy học sinh trồng cây xanh ở phía nam của ngôi nhà của bạn cung cấp càng nhiều bóng mát mùa hè như máy điều hòa không khí Học sinh được dạy mỗi sản phẩm sử dụng điện có hai chi phí: một là giá mua sản phẩm đó và một là giá trên hóa đơn tiện ích, tức là số tiền trả chi phí năng lượng mà sản phẩm đó đã tiêu thụ Đối với một số sản phẩm năng lượng, chi phí để chạy các sản phẩm có thể lớn hơn chi phí để mua nó nhiều lần Mặc dù một số sản phẩm tiết kiệm năng lượng có thể có giá cao hơn, vì chức năng tiết kiệm điện [52]
Ở Anh, tổ chức BritMum và British Gas đã hợp tác trên một chiến dịch để GD người dân về bảo tồn năng lượng và giảng dạy trẻ em về tiết kiệm năng lượng xung quanh nhà
Trang 30Việc đầu tiên là tắt đèn khi bạn ra khỏi phòng Kế đến là tiết kiệm điện bằng cách đi ngủ mặc bộ đồ dài tay, dày một chút, thêm một cái mền thay vì bật lò sưởi ấm
Tổ chức chơi trò chơi hội đồng Nghĩa là cùng gặp nhau chơi nhóm với các bạn thay
vì mỗi người bật wifi của mình, hay gọi điện thoại cho nhau…Tương tự là GD trẻ thường xuyên đi thăm thân nhân hoặc dành nhiều thời gian tại nhà bạn bè của họ, như thế mình không phải sử dụng năng lượng của nhà mình nhiều
Khi trẻ muốn sử dụng lò vi sóng thì phải đảm bảo đủ một lượng thực phẩm, không được ít sẽ tốn năng lượng [48]
Trẻ em Bulgaria được khuyến khích thực hiện “nội quy” cho tiết kiệm năng lượng Bao gồm việc tắt đèn, tắt quạt, máy tính, tivi… khi rời khỏi phòng, dùng chăn thay vì dùng
lò sưởi vào mùa đông, không để mở cửa tủ lạnh, đóng rèm cửa trong những ngày hè nóng để ngăn chặn mặt trời, trong mùa đông, giữ cho rèm cửa mở, giúp ba mẹ của bạn trồng cây che ngôi nhà của bạn trong những ngày hè….những nội qui này mỗi đứa trẻ thực hiện ở nhà cùng với người thân [50]
Như vậy, nhìn chung ở một số nước GD trẻ tiết kiệm năng lượng từ nhỏ, bằng việc thực hiện các hành động đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày như tắt các thiết bị, đồ dùng khi không dùng đến, đặt ra các nội qui cho trẻ, các hoạt động trồng cây xanh, tận dụng ánh sáng tự nhiên….Những thói quen này được tập luyện hàng ngày và người lớn là hình mẫu cho trẻ làm theo
1.4 Các điều kiện GD nhận thức cho trẻ MG 5- 6 tuổi
Theo từ điển bách khoa, điều kiện là khái niệm chỉ ra những gì mà nếu không có nó thì đối tượng không thể tồn tại được Bản thân đối tượng thể hiện ra như một cái gì có điều kiện, còn điều kiện lại thể hiện ra như một bộ phận của thế giới với tính nhiều màu vẻ của
nó Khác với nguyên nhân là cái trực tiếp sản sinh ra một hiện tượng, một sự vật, một quá trình nhất định, điều kiện là những gì cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của đối tượng Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, điều kiện GD gồm các điều kiện bên trong như đội ngũ CBQL, đội ngũ GVMN, cơ sở vật chất, kinh phí tài chính, môi trường cảnh quang sư phạm… của các cơ sở MN và điều kiện bên ngoài như hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước, hoàn cảnh tự nhiên, môi trường xung quanh cơ sở MN [8]
Trong quá trình GD nhận thức cho trẻ MG 5-6 tuổi, điều kiện cần thiết phải có: môi trường học tập, vui chơi đa dạng phù hợp với những yêu cầu GD; sử dụng kết hợp các hình
Trang 31thức và phương pháp tổ chức HĐ GD kích thích HĐ nhận thức của trẻ; sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và trường MN trong công tác GD nhận thức cho trẻ [8]
Môi trường học tập, vui chơi đa dạng phù hợp với những yêu cầu GD Môi trường vật chất bao gồm không gian trong lớp, các điều kiện, các trang thiết bị, các dụng cụ, tài liệu
Để kích thích trẻ tích cực HĐ cần tạo ra môi trường “mở” mà mọi thứ trong đó có thể thay đổi theo mục đích, nội dung GD, theo mức độ phát triển của trẻ, tạo điều kiện phát huy tiềm năng của mọi trẻ, đảm bảo GD phù hợp với từng cá nhân Môi trường “mở” này tạo cơ hội cho trẻ thực hành, trải nghiệm, phát huy sáng kiến, sáng tạo, tạo động cơ bên trong của chủ thể, kích thích trẻ tích cực HĐ theo đúng khả năng của mình
GV cần bố trí các khu vực thuận tiện cho trẻ HĐ, tạo điều kiện dễ dàng lựa chọn trò chơi, chỗ chơi theo ý muốn, giúp trẻ tự tin vào bản thân Tạo điểm tựa về nhận thức giúp trẻ định hướng nhanh chóng các khu vực có liên quan đến nội dung GD nhận thức, nội dung
GD năng lượng Điểm tựa ở đây có thể sử dụng tài liệu trực quan (mô hình, ký hiệu, sơ đồ ) Các điểm tựa này có thể được tạo ra bằng ngôn ngữ dưới dạng đưa ra các yêu cầu vào luật chơi, vai chơi
Lựa chọn đồ dùng đồ chơi, tài liệu cho các HĐ Các phương tiện này sẽ định hướng việc lựa chọn các nội dung, HĐ của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ lĩnh hội các kỹ năng sử dụng chúng
Sử dụng kết hợp các hình thức và phương pháp tổ chức HĐ GD kích thích HĐ nhận thức của trẻ, làm tăng hiệu quả GD vì phù hợp với đặc điểm của trẻ MN Thực tiễn hiện nay GVMN thường sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp trực quan, dùng lời và thực hành, trải nghiệm với nhau để GD trẻ Cũng như khai thác các hình thức HĐ nhóm, cá nhân, tập thể lớp, tổ chức trong lớp, ngoài sân, HĐ tự do, HĐ theo chủ ý của GV Việc kết hợp này tùy thuộc vào ý đồ GD của GV, vào nội dung, yêu cầu của nội dung GD Chẳng hạn kết hợp nhóm phương pháp như trên có thể tổ chức trong lớp với ngoài sân, tổ chức cho trẻ theo nhóm hoặc cá nhân đều thực hiện được Sự kết hợp này tạo sự mới mẻ, kích thích HĐ của trẻ
Về sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường Gia đình và nhà trường kết hợp, phối hợp trước tiên là thống nhất ở nội dung HĐ GD, bao gồm việc nuôi dưỡng, dạy dỗ ở gia đình và nội dung CS GD ở trường MN
PH tiếp tục dạy cho trẻ ở nhà những nội dung cháu đã học ở trường MN nhằm củng
cố, duy trì cho trẻ những kiến thức cũng như kỹ năng đã được cô hướng dẫn Việc phối hợp
Trang 32này có thể tiến hành trong thời gian đón và trả trẻ, trong các cuộc họp PH định kỳ Qua những cuộc trao đổi ngắn giữa các bậc cha mẹ và cô giáo MN trong giờ đón trả trẻ, gia đình
và nhà trường nắm được tình hình ăn ngủ, sức khỏe, tâm trạng, HĐ học tập, vui chơi của trẻ ở nhà và ở lớp để cô giáo và PH có những điều chỉnh kịp thời về nội dung, phương pháp biện pháp CS GD [32]
1.5 Biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng đối tượng cho trẻ 5- 6 tuổi
Các nghiên cứu tâm lý trẻ em, cho đến nay, hầu như đều khẳng định rằng:
- Trong thời kỳ trước tuổi mẫu giáo, trẻ đã có thể thực hiện những hành động khá phức tạp với các đồ vật, nhưng chưa nhằm vào việc khám phá chức năng và phương thức sử dụng
nó
Nhưng từ tuổi MG trẻ em không chỉ nghịch đồ vật hay chỉ chơi với chúng mà còn tìm hiểu chức năng nhất định và phương thức sử dụng tương ứng Do đó, trẻ hướng hoạt động của mình vào việc nắm cách sử dụng đồ vật Trẻ lĩnh hội những kiến thức về đồ vật, biết cách sử dụng đồ vật giống như người lớn, trong đó người lớn giữ vai trò của người hướng dẫn, người cộng tác, người hỗ trợ trong quá trình lĩnh hội này
- Khi lĩnh hội những hành động sử dụng đồ vật trong sinh hoạt hàng ngày thì đồng thời trẻ cũng lĩnh hội được những qui tắc hành vi trong xã hội Về điểm này, thái độ của người lớn khi họ tham gia sinh hoạt, trước mắt trẻ, mỗi ngày là rất quan trọng, vì bằng cách làm gương chúng ta dạy trẻ sử dụng đúng các đồ vật
Ngoài ra những ý tưởng của O.A Frolova (1981) [36], sau đây thật đặc biệt hữu ích
cho việc GD trẻ MG sử dụng đồ vật:
+ Trẻ MG chưa thể tự mình khảo sát đồ vật một cách đầy đủ và đúng Trẻ em thường
bị thu hút bởi những đặc điểm nổi trội của đồ vật, thay vì tìm kiếm cách sử dụng đúng hay thu thập các chức năng của đồ vật
+ Một biện pháp hữu hiệu là người lớn dùng lời nói để giới thiệu, giải thích, định hướng chú ý khảo sát ở trẻ Nếu GV chỉ dùng những biện pháp trực quan, bỏ qua biện pháp lời nói định hướng hành vi cho trẻ thì trẻ khó có thể tự hệ thống kiến thức của mình; còn nếu GV chỉ dùng lời nói để dạy trẻ mà bỏ qua những hoạt động thực hành, trải nghiệm của trẻ thì kiến thức ở trẻ chỉ mang tính “tưởng tượng”, thiếu thực tế …
+ Biện pháp tổ chức cho trẻ vừa khảo sát vừa so sánh, đối chiếu các kết quả hành động khác nhau trên đồ vật sẽ giúp trẻ sớm nhận ra những nguyên lý sử dụng đồ vật
Trang 33+ Đặc biệt hơn, nên tổ chức cho trẻ được khảo sát đồ vật một cách có mục đích và trong nhiều dạng HĐ khác nhau: trên giờ học, trong lao động tự phục vụ hàng ngày, HĐ trong môi trường tự nhiên và môi trường XH, trong các trò chơi
Tóm lại, O.A Frolova khẳng định, bằng các thí nghiệm của mình, rằng:
- Trong mỗi dạng HĐ trên, người lớn có thể dẫn dắt việc khảo sát và học tập sử dụng đồ vật với những mục tiêu khác nhau; do vậy chọn lựa hình thức HĐ nào để dạy trẻ là tùy thuộc mục tiêu GD (nghĩa rộng) của mình;
- HĐ khảo sát đồ vật giữ vai trò tiền đề cho việc GD trẻ cách sử dụng đồ vật;
- Tạo cơ hội cho trẻ tiếp cận đồ vật, chủ động sử dụng chúng cùng với người lớn là biện pháp tốt cho việc giúp trẻ tích lũy kinh nghiệm về cách sử dụng đồ vật
Từ những kinh nghiệm trên đây về biện pháp GD trẻ sử dụng đồ vật, có thể rút ra hướng tác động GD trẻ sau đây:
- Có thể vận dụng hầu hết các nhóm biện pháp căn bản để GD (nghĩa rộng) cho trẻ
MG, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi, cách sử dụng và chức năng của đồ vật Kết hợp các biện pháp: làm mẫu, chỉ dẫn bằng lời, cùng tham gia vào hoạt động với trẻ; giải thích giảng giải, nhắc nhở động viên, các bài tập luyện tập, các trò chơi…Đồng thời sử dụng các biện pháp giao việc, giao nhiệm vụ, tổ chức các hoạt động của trẻ, tạo các tình huống sư phạm, ghi nhớ, nhắc nhở, chỉ dẫn nhằm luyện tập, củng cố các hành vi, kỹ năng [16]
- Đồng bộ tác động GD lên 3 mặt: nhận thức (để có kiến thức) - tập làm (để có kỹ năng)
và thái độ (trải nghiệm, để có thể tự chỉnh hành vi thành hợp lý hơn- là tiền đề của ý thức)
- Việc tổ chức cho trẻ học cách sử dụng đúng đắn các đồ vật cần được diễn ra dưới nhiều hình thức HĐ khác nhau và có định hướng, đề ra các mục tiêu GD (nghĩa rộng) rõ ràng trong từng dạng HĐ đó
1.6 Các biện pháp GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ MG 5-6 tuổi
Theo nhóm tác giả Lê Thu Hương - Lương Thị Bình – Phan Lan Anh, trẻ tiếp nhận tình cảm từ người khác rất nhạy, đồng thời đáp ứng lại bằng tình cảm của mình đối với họ cũng rất nhanh Chính vì vậy, những tác động GD thái độ sống đến với trẻ trước hết bằng con đường tình cảm Thông qua tình cảm, người lớn có thể gợi lên ở trẻ những điều tốt lành Đối với trẻ, việc dùng lý lẽ hay mệnh lệnh sẽ không có tác dụng tích cực
Biện pháp này cần được hiểu theo hai chiều: chiều thứ nhất là bằng tình thương yêu gắn bó của mình, người lớn hết lòng chăm sóc, dạy dỗ, bảo ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra tình huống để trẻ có cơ hội đáp lại tình cảm của người lớn bằng những hành vi, cử chỉ, thái
Trang 34độ tốt đẹp của trẻ Đây là biện pháp chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình hình thành các thái
độ và hành vi ứng xử của trẻ [14]
Trong quá trình tổ chức các HĐ GD, cô giáo muốn trẻ hành động theo mục đích yêu cầu nhất định cần làm cho đối tượng HĐ của trẻ (sự vật, hiện tượng đó hấp dẫn, gây được tình cảm tích cực Cô phải nhẹ nhàng, tình cảm để trẻ yêu mến cô từ đó mới chinh phục được tình cảm của trẻ, dễ dàng sai bảo trẻ thực hiện yêu cầu đặt ra và phục tùng tiêu chuẩn đạo đức Tổ chức các HĐ gây được hứng thú với đối tượng HĐ để trẻ tích cực HĐ Luôn chú ý động viên, khen ngợi để trẻ phấn khởi, tích cực HĐ và HĐ có hiệu quả [23]
Cũng theo nhóm tác giả Lê Thu Hương - Lương Thị Bình – Phan Lan Anh, GD thái độ (xúc cảm, tình cảm) các biện pháp sau đây có vai trò rất lớn:
Biện pháp dùng trò chơi: Chơi đối với trẻ MG thường gợi ra nhiều hứng thú say mê,
vì trò chơi tác động mạnh vào đời sống tình cảm của cháu Cũng như nghệ thuật, chơi là người bạn đồng hành, là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không phát triển được.Trẻ học được các kỹ năng xã hội như chia sẻ, nhường nhịn nhau Đặc biệt, qua trò chơi sắm vai, trẻ
mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, nổi bật là những mối quan hệ xã hội hiểu hiện các chuẩn mực đạo đức Khi tham gia trò chơi, trẻ trải nghiệm những thái độ, tập luyện những hành vi ứng xử đối với những người xung quanh và qua đó mà trẻ học làm người
Biện pháp dùng nghệ thuật Trong GD thái độ sống tiết kiệm những lời răn dạy dù được nhắc đi nhắc lại nhiều lần cũng khó gợi lên những cảm xúc tích cực ở trẻ, giúp trẻ có những thái độ và hành vi ứng xử tốt đẹp đối với con người và cuộc sốnng xung quanh, nhưng một tác phẩm nghệ thuật (bài thơ, câu chuyện, bài hát, tranh ảnh ) lại có thể làm được điều đó một cách dễ dàng
Biện pháp luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày Trong sinh hoạt hằng ngày, gần như bất cứ lúc nào trẻ cũng phải thể hiện thái độ của mình với thế giới xung quanh bằng những hành vi ứng xử Việc ứng xử đó có lúc đúng nhưng cũng có nhiều lúc sai, nên người lớn cần kiên trì theo dõi, bảo ban đúng lúc Thường xuyên tập luyện hành vi ứng xử mọi nơi mọi lúc sẽ dễ hình thành động hình Cô giáo cần tạo cơ hội để trẻ được trải nghiệm, thể hiện các mối quan hệ, ứng xử với con người và sự vật, hiện tượng xung quanh
Biện pháp làm gương cho trẻ noi theo Do tính hay bắt chước, trẻ thường làm theo người lớn, nếu người lớn thể hiện hành vi ứng xử tốt, lời nói hay, thì đó là tấm gương cho trẻ học tập, trái lại những hành vi chưa đúng, chưa hay cũng được trẻ bắt chước nhanh chóng
Trang 35Biện pháp khen chê đúng lúc, đúng mực Khi trẻ làm vệc tốt cần khen ngay bằng những lời biểu dương ngọt ngào, những phần thưởng mang ý nghĩa tinh thần hơn là vật chất
để khuyến khích động viên trẻ Ngược lại khi trẻ làm một việc chưa tốt Người lớn cần tỏ thái độ chê trách, không đồng ý, làm cho trẻ biết được như vậy là xấu, không ai ưa để trẻ không lặp lại những hành vi xấu đó nữa Trẻ nhỏ rất thích được khen và không muốn bị chê Nên chúng ta cần biết khêu gợi lòng tự hào đúng lúc đúng chỗ để hình thành những phẩm chất cho trẻ
Biện pháp thống nhất các tác động GD Việc thống nhất những tác động GD không chỉ được thực hiện trong mỗi trường MN hay trong mỗi gia đình mà còn phải thống nhất tư tưởng và hành động GD giữa trường MN với các gia đình, giữa cô giáo với cha mẹ các cháu Điều này rất cần cho sự hình thành và phát triển thái độ sống tiết kiệm cho trẻ Trong
sự kết hợp này, phần chủ động thuộc về phía cô giáo của trường MN Vì cô là người được trang bị những tri thức khoa học nuôi dạy trẻ, là người gần gũi trẻ trong suốt cả ngày nên có thể phát hiện những biểu hiện thái độ đúng và chưa đúng của mỗi trẻ và có khả năng tìm ra biện pháp GD, cách giải quyết phù hợp với quy luật phát triển của trẻ
Sự kết hợp giữa GV và PH trong việc GD thái độ sống tiết kiệm cho trẻ có thể tiến hành ở thời điểm nhận trẻ và trả trẻ là thuận lợi nhất Trong thời gian ít ỏi đó, GV có thể trao đổi với PH những biểu hiện tốt và chưa tốt của từng trẻ và những biện pháp GD để PH thực hiện ở nhà với cháu Ngược lại, PH cũng tranh thủ thời gian này để phản ánh với GV biết về tính nết của con mình, nhằm từng bước hình thành cho trẻ thái độ sống tiết kiệm Việc GD này được thực hiện qua các giờ học, thông qua các chủ đề và tiến hành mọi lúc mọi nơi, trong HĐ chơi, HĐ lao động, dạo chơi tham quan và trong sinh hoạt hằng ngày [14]
Ở trong gia đình [4], cha mẹ ông bà có thể GD trẻ thái độ, kỹ năng lao động GD trẻ làm việc gì cũng phải đến nơi đến chốn, có trách nhiệm hoàn thành việc đó, phù hợp với khả năng của mình khi được ba mẹ giao Khi sử dụng nước phải tắt và kiểm tra xem đã tắt hẳn hay chưa GD trẻ các kỹ năng cụ thể dù đối với hoạt động đơn giản nhất: đưa tay bật, tắt công tắc đèn, công tắc tivi đến những hoạt động khó hơn như điều chỉnh nhiệt độ máy điều hòa, đóng kín cửa tủ lạnh
Bên cạnh đó, GD trẻ có ý thức trách nhiệm quý sản phẩm lao động, nghĩa là phải biết
sử dụng đúng mức, vừa phải các sản phẩm, vật dụng hàng ngày của cá nhân và gia đình
Trang 36Nói cách khác là phải có ý thức thái độ cần cù trong lao động, tiết kiệm trong chi tiêu, không sử dụng lãng phí
Để thực hiện những nội dung trên thì nền tảng vững chắc là sự gương mẫu của cha mẹ
Sự gương mẫu của cha mẹ và người lớn trong gia đình phải thể hiện ngay trong lời ăn tiếng nói, cử chỉ, hành động, cách ứng xử với mọi người từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội
Sự gương mẫu của cha mẹ trong nếp sống hàng ngày trực tiếp tác động đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành động của trẻ
Sự gương mẫu của cha mẹ là cơ sở tạo nên uy tín làm tăng thêm lòng kính trọng, thương yêu, tin cậy, tự giác theo những điều cha mẹ sai bảo, khuyên nhủ Đối với trẻ, việc gương mẫu của cha mẹ có tác dụng như những động tác mẫu mực để con bắt chước, sự gương mẫu đó được coi như chân lý giản dị, sáng rõ như ban ngày “Không gì có thể tác dụng lên tâm hồn non nớt của trẻ mạnh hơn quyền lực của sự làm gương, còn giữa muôn vàn tấm gương thì không có gì gây ấn tượng sâu sắc và bền chặt bằng sự mẫu mực của bố mẹ” (N.I.Nôvicốp)
1.7 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc GD trẻ MG 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Trên quan điểm GD lồng ghép và không làm nặng thêm chương trình GD trẻ hiện hành, việc xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả GD thực nghiệm sẽ hoàn toàn dựa trên chương trình CSGD MN mới 2009 của Bộ GD&ĐT, kết hợp với chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi Những tiêu chí đánh giá sau đây được chọn trong nghiên cứu này:
• Về nhận thức:
- Biết việc tiết kiệm năng lượng là để bảo vệ môi trường sống (Chỉ số 57)
• Về thái độ:
- Tự giác tắt khi không dùng (không cần người khác nhắc nhở) (Chỉ số 33)
- Thể hiện sự vui thích khi thực hiện việc tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 32)
- Sẵn sàng điều chỉnh hành vi chưa đúng để tiết kiệm năng lượng (Chỉ số 40)
- Mạnh dạn nhắc nhở người khác khi họ làm sai (Chỉ số 34)
• Về hành vi:
- Tắt vòi nước khi không dùng đến (Chương trình CSGD MN)
- Tắt đèn, tắt quạt khi cả lớp ra khỏi phòng (Chương trình CSGD MN)
- Thường hành động đúng, không làm sai (về tiết kiệm năng lượng) (Chỉ số 56)
Trang 37- Thực hiện việc tiết kiệm năng lượng đến cùng, không bỏ dở nửa chừng (dù gặp khó khăn) (Chỉ số 31)
- Có hành vi tận dụng ánh sáng tự nhiên: kéo rèm cửa sổ, mở rộng cửa ra vào (Chương trình CSGD MN)
Những tiêu chí này được sử dụng nhằm xác định mức độ đạt hiệu quả của các biện pháp GD thực nghiệm của đề tài
- Nội hàm của vấn đề “GD sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” và chuyển tải thành nội dung GD phù hợp độ tuổi 5-6
- Lý luận GD (nghĩa rộng) nhận thức - hành vi - thái độ cho trẻ cuối tuổi MG, đặc biệt
về các nhiệm vụ GD - nội dung GD và từ đó tìm hiểu tính thích hợp của các biện pháp GD
- Kinh nghiệm vận dụng các nhóm biện pháp GD trẻ em sử dụng năng lượng tiết kiệm,
hiệu quả ở các nước và trong nước
Trang 38Chương 2 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5-6
TUỔI SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ
2 1 Mục đích nghiên cứu thực trạng vấn đề
Tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả của GV cho trẻ Qua đó, xác định:
- Những biện pháp GD được vận dụng trong thực tế GDMN ở một số trường MN
- Hiệu quả cũng như hạn chế của chúng, nguyên nhân của mặt hạn chế,
- Định hướng khắc phục
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề
2.2.1 Nội dung nghiên cứu thực trạng vấn đề
Nội dung nghiên cứu xoay quanh vấn đề thực trạng vận dụng các phương thức và điều kiện GD trẻ MG 5-6 tuổi sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tại một số trường MN của
TPHCM; những điều kiện thực tế cho những phương thức GD này
- Khả năng tác động GD cả 3 mặt: GD nhận thức - GD thái độ và GD kỹ năng cho trẻ
có liên quan vấn đề nghiên cứu; những thuận lợi, khó khăn của GVMN, của CBQL trường
MN trong công tác GD này
- Nhận xét - đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng và định hướng biên soạn chương trình GD thực nghiệm nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu
Nội dung điều tra chủ yếu được phân bố ở hai phần:
a/ Nội dung các bảng hỏi (Anket), gồm 30 câu0
1 cho mỗi đối tượng (GVMN, CBQL, PH) nhằm tìm hiểu về:
Trang 39
- Nhận thức của CBQL, GVMN và PH về ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (câu 2, 10, 12, 13, 18, 24, 28)
- Nhận thức của CBQL, GVMN và PH về cách sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả (câu 1, 4, 5, 6, 7, 8, 17, 25, 26)
- Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi thái độ đúng trong việc sử dụng năng lượng (câu 3, 11, 21)
- Những biện pháp của CBQL, GVMN và PH để GD cho trẻ 5-6 tuổi kỹ năng tiết kiệm năng lượng (14, 15, 16, 20)
- Ý kiến của CBQL, GVMN và PH về các biện pháp đạt hiệu quả GD trẻ tiết kiệm năng lượng câu (9, 19, 20, 22, 23, 27, 28, 29, 30)
b/ Nội dung đàm thoại với GVMN về cách lập kế hoạch GD:
- Anh (Chị) lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức GD nội dung này dựa trên cơ sở nào?
- Nội dung GD tiết kiệm năng lượng được phân bổ như thế nào trong kế hoạch? (Mức
độ thường xuyên: hàng ngày? hàng tuần? hàng tháng?)
- Kế hoạch có thường xuyên điều chỉnh, thay đổi không? Điều chỉnh như thế nào?
Hướng đánh giá kết quả nghiên cứu thực trạng vấn đề:
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng vấn đề
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp quan sát và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là chủ đạo, còn lại các phương pháp đàm thoại, nghiên cứu hồ sơ là phương pháp bổ trợ
- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát các thời điểm tổ chức HĐ CSGD trẻ trong
ngày nhằm xác định thực trạng GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả Tiến hành quan sát qua dự giờ, ghi chép trên 6 GVMN dạy lớp MG 5- 6 tuổi và 120 trẻ MG 5-6 tuổi ở
3 trường MN quận Bình Tân (trường MN Hoa Hồng: 40 cháu, 2 GVMN; trường MN 19/5:
Trang 4040 cháu, 2 GVMN; trường MN Hương Sen: 40 cháu, 2 GVMN) Mỗi nhóm lớp được quan sát 3 ngày liên tục Phân tích, nhận định kết quả thực trạng
- Điều tra bằng anket: nhằm rút ra những khó khăn thường gặp của GVMN trong việc
GD trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; đặc biệt quan tâm các biện pháp tác động lên trẻ, điều kiện vận dụng chúng và hiệu quả tác động của những biện pháp GD này
Phiếu điều tra được phát cho 32 CBQL, 30 GVMN và 45 PH của trẻ MG 5-6 tuổi Thu lại phiếu và thống kê xác định khó khăn và thuận lợi của CBQL, của GVMN và PH trong tổ chức GD trẻ về tiết kiệm năng lượng
Cách tính điểm kết quả từ các bảng hỏi:
Các bảng hỏi được xử lý thông tin bằng phần mềm SPSS 16.0:
* Tính phần trăm (%) và vẽ biểu đồ cho những câu có nhiều lựa chọn
* Tính điểm trung bình và và vẽ biểu đồ cho những câu có ba mức độ, đối tượng khảo sát chỉ chọn một mức độ
* Tính theo điểm trung bình: mức cao là 1 đến 1.5 điểm, mức trung bình từ 1.51 đến
2.5 điểm, mức thấp từ 2.51 đến 3 điểm
- N ghiên cứu chương trình CSGD trẻ 5-6 tuổi: Đọc kỹ, phân tích các mục tiêu - nội
dung GD - HĐ gợi dẫn - các minh chứng trong chương trình hiện hành có liên quan vấn đề
GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng, năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
- Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với CBQL và GV chủ nhiệm lớp nhằm tìm hiểu
việc lập kế hoạch tổ chức GD trẻ về tiết kiệm năng lượng
- Phương pháp xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả GD trẻ 5- 6 tuổi sử dụng năng lượng hiệu quả: Tiêu chí được xây dựng trên cơ sở nội dung chương trình CSGD MN mới
2009 của Bộ GD&ĐT, kết hợp với chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi