Mặc dù kỹ năng sống có vai trò quan trọng đối với sinh viên như vậy, nhưng vẫn có không ít các bạn sinh viên dù rất tự tin với những kiến thức đã được trang bị ở giảng đường đại học, như
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Vũ Thúy Nhuần
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Vũ Thúy Nhuần
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi Các nội dung
và kết quả nghiên cứu của đề tài là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào Nếu có gì sai trái, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
TP.HCM, ngày 15 tháng 04 năm 20014
Tác giả
Vũ Thúy Nhuần
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của nhà trường và sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Cảm ơn những bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2014
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
M Ở ĐẦU .1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỐNG 6
1.1.Lịch sử nghiên cứu về kỹ năng sống 6
1.1.1 Một số nghiên cứu kỹ năng sống trên thế giới 6
1.1.2 Nghiên cứu kỹ năng sống ở Việt Nam 9
1.2 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống 13
1.2.1 Khái niệm kỹ năng 13
1.2.3 Kỹ năng sống 19
1.3 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên 22
1.3.1 Sự phát triển thể chất 22
1.3.2 Đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên 23
1.4 Một số kỹ năng sống cần thiết đối với sinh viên 28
1.4.1 Kỹ năng quản lý thời gian 28
1.4.2 Kỹ năng giải quyết vấn đề 30
1.4.3 Kỹ năng quản lý cảm xúc 32
1.4.4 Kỹ năng giao tiếp 35
1.4.5 Kỹ năng làm việc theo nhóm 38
TI ỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
Chương 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỐNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGH Ệ TP HỒ CHÍ MINH 42
2.1 Tổ chức nghiên cứu 42
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 42
2.1.2 Mẫu nghiên cứu 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 42
Trang 62.2.4 Phương pháp toán thống kê 45
2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng 45
2.3.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 45
2.3.3 Nhận thức của sinh viên về khái niệm kỹ năng sống 47
2.3.4 Mức độ cần thiết của kỹ năng sống theo đánh giá của sinh viên và giảng viên 48
2.3.5 Tự đánh giá của sinh viên và đánh giá của giảng viên về kỹ năng sống của sinh viên 50
2.3.7 Kết quả của việc sinh viên có kỹ năng sống tốt 52
2.3.8 Đánh giá của sinh viên và giảng viên về mức độ quan trọng của một số kỹ năng đối với cuộc sống của sinh viên 53
2.3.9 Đánh giá của sinh viên về mức độ 10 kỹ năng sống cụ thể 54
2.3.10 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinh viên thiếu kỹ năng sống 56
2.3.11 Biện pháp giúp sinh viên có kỹ năng sống tốt 59
2.3.12 Mong muốn của sinh viên để có kỹ năng sống tốt 63
2.3.13 Nhận biết của sinh viên về bản thân mình 64
2.3.14 Sinh viên tự đánh giá về kỹ năng quản lý thời gian của mình 66
2.3.15 Tự đánh giá của sinh viên về kỹ năng giao tiếp 67
2.4 Biện pháp tác động nhằm phát triển kỹ năng sống cho sinh viên đại học kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh 68
2.4.1 Tổ chức thử nghiệm 68
2.4.2 Quy trình thử nghiệm 68
2.4.3 Tiêu chí đánh giá kết quả thử nghiệm 69
2.4.4 Phân tích kết quả tác động 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 7UNICEF : Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
UNESCO : Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục
UNFPA : Quỹ dân số Liên Hợp Quốc
Trang 8Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 45
Bảng 2.2 Các mức độ tham gia các khóa huấn luyện kỹ năng sống của sinh viên 46
Bảng 2.3 Nhận thức của sinh viên về khái niệm kỹ năng sống 47
Bảng 2.4 Mức độ cần thiết của kỹ năng sống theo đánh giá của sinh viên và giảng viên .48
Bảng 2.5 Đánh giá của sinh viên và giảng viên về kỹ năng sống của sinh viên 50
Bảng 2.6 Cách thức để sinh viên có kỹ năng sống tốt .52
Bảng 2.7 Kết quả của việc sinh viên có kỹ năng sống tốt 52
Bảng 2.8 Những kỹ năng sống quan trọng đối với cuộc sống của sinh viên 53
Bảng 2.9 Tự đánh giá của sinh viên về mức độ một số kỹ năng sống của bản thân 55
Bảng 2.10 Nguyên nhân khiến cho sinh viên thiếu kỹ năng sống 56
Bảng 2.11 Đánh giá về những biện pháp giúp sinh viên có kỹ năng sống tốt 59
Bảng 2.12 Những mong muốn của sinh viên để có kỹ năng sống tốt 63
Bảng 2.13 Sinh viên tự nhận biết về bản thân mình 64
Bảng 2.14 Tự đánh giá của sinh viên về kỹ năng quản lý thời gian 66
Bảng 2.15 Sinh viên tự đánh giá về kỹ năng giao tiếp của mình 67
Bảng 2.16 Kết quả đánh giá của sinh viên về kỹ năng quản lý thời gian ở nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước .70
Bảng 2.17 Kết quả đánh giá của sinh viên về kỹ năng quản lý thời gian ở nhóm đối chứng và nhóm sau thử nghiệm .71
Bảng 2.18 Kết quả đánh giá của sinh viên sau khi tham gia buổi thử nghiệm kỹ năng quản lý thời gian 73
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế đã đặt con người trước hàng loạt những thách thức của cuộc sống Trước thách thức và những đòi hỏi mới của công cuộc hội nhập, kỹ năng sống đã trở thành hành trang cực kỳ quan trọng đối với mọi người Đặc biệt là đối với sinh viên, là tầng lớp trí thức của xã hội, là đội ngũ trí thức và là lực lượng then chốt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy sinh viên ngoài việc trang bị cho mình những kiến thức chuyên ngành, sinh viên cũng cần trang bị cho mình những kỹ năng sống cần thiết để thích ứng với những thách thức
và đòi hỏi của xã hội
Kỹ năng sống là vấn đề được quan tâm đến trong thời gian gần đây Khi có
kỹ năng sống sinh viên có khả năng sống hòa nhập, biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp, biết ứng phó với sức ép và thách thức trong cuộc sống, dễ dàng tạo được mối quan hệ thân thiện, cởi mở với thầy cô và bạn bè Từ đó giúp cho sinh viên có thêm
sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập và trong công việc
Mặc dù kỹ năng sống có vai trò quan trọng đối với sinh viên như vậy, nhưng vẫn có không ít các bạn sinh viên dù rất tự tin với những kiến thức đã được trang bị
ở giảng đường đại học, nhưng khi ra trường lại không xin được việc làm phù hợp hoặc không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng chỉ vì sinh viên thiếu những kỹ năng sống cơ bản như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng nhận thức bản thân, vv…
Như vậy, có thể nói rằng kỹ năng sống cho sinh viên là một trong những vấn
đề quan trọng trong việc giáo dục toàn diện Nhưng đa phần các trường đại học ở nước ta vẫn chưa đưa được bộ môn kỹ năng sống trở thành môn học chính khóa; vấn đề giáo dục kỹ năng sống trong các trường đại học vẫn còn hạn chế, chưa thật
Trang 10sự được quan tâm đúng mức Việc đào tạo kỹ năng sống hiện nay chỉ tập trung chủ yếu thông qua các chương trình, dự án hợp tác với các trường khác nên tính bền vững không cao, chỉ được triển khai trong thời gian nhất định hoặc cách thức triển khai giáo dục kỹ năng sống của các trường, chủ yếu là thông qua các hoạt động ngoại khóa
Hiện nay, có nhiều người đã nghiên cứu về kỹ năng sống, nhưng việc tìm hiểu
về kỹ năng sống của sinh viên vẫn là vấn đề mới mẻ và vẫn cần được nghiên cứu nhiều Đặc biệt là kỹ năng sống của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh vẫn chưa được ai nghiên cứu
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Kỹ năng sống
của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh”
2 M ục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng kỹ năng sống của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh Qua đó đề xuất những biện pháp phù hợp nhằm phát triển kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Kỹ năng sống của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết nghiên cứu
Một số kỹ năng sống cần thiết của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh chưa cao Nếu có những biện pháp phù hợp thì có thể phát triển được các kỹ năng sống cho sinh viên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kỹ năng sống, biện pháp rèn luyện
kỹ năng sống cho sinh viên
5.2 Tìm hiểu thực trạng kỹ năng sống và biện pháp phát triển kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
Trang 115.3 Tổ chức thử nghiệm các biện pháp tác động nhằm phát triển kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
6 Giới hạn đề tài
6.1 Nội dung
- Đề tài nghiên cứu: Dựa trên kết quả của cuộc khảo sát ban đầu, đề tài chọn ra
3 kỹ năng sống được sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh đánh giá là quan trọng và cần thiết để đưa vào khảo sát thực trạng như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp Đề tài tìm hiểu thực trạng kỹ năng sống hiện nay của sinh viên đồng thời tìm ra một số biện pháp cơ bản trong việc phát triển kỹ năng sống cho sinh viên
6.2 Địa điểm
Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
6.3 Đối tượng khảo sát
- Sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh là 200
- Giảng viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh là 80
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu
- Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết phục vụ cho
việc nghiên cứu, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai, nghiên cứu thực
tiễn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Dành cho sinh viên
+ Bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến theo các bước:
- Bước 1: Xây dựng phiếu thăm dò mở
- Bước 2: Xây dựng phiếu thăm dò thử nghiệm
- Bước 3: Xây dựng phiếu thăm dò chính thức
Trang 12+ Bảng thăm dò được xây dựng thành hai phần:
- Phần một: Giới thiệu và hướng dẫn trả lời
- Phần hai: Nội dung hỏi
* Dành cho giảng viên của trường
- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía giảng viên của trường để:
+ Đánh giá sơ bộ về thực trạng kỹ năng sống hiện nay của sinh viên Đại học
Kỹ thuật Công nghệ TP Hồ Chí Minh
+ Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP Hồ Chí Minh
- Cách tiến hành: Cho đối tượng khảo sát trả lời những câu hỏi trên các phiếu thăm dò ý kiến
- Mục đích: Nhằm so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khi tiến hành các
biện pháp phát triển kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP
Hồ Chí Minh
- Cách tiến hành: Sau khi rút ra kết luận về thực trạng kỹ năng sống của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP Hồ Chí Minh và thăm dò được các biện pháp phát triển kỹ năng sống, người nghiên cứu lựa chọn một kỹ năng sống cơ bản và tổ chức tác động Sau khi tổ chức các biện pháp tác động, người nghiên cứu dùng phiếu điều tra để đo lại kỹ năng sống của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP
Hồ Chí Minh
7.4 Phương pháp thống kê toán học
- Nhằm xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu
8 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài chỉ ra bức tranh thực trạng kỹ năng sống và việc phát triển kỹ năng
Trang 13sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP Hồ Chí Minh Phân tích được các điểm mạnh, điểm yếu cùng với những nguyên nhân của chúng Đây là một trong những công trình nghiên cứu về lĩnh vực kỹ năng sống dành cho sinh viên đại học Vì thế, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần:
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỐNG
1.1.Lịch sử nghiên cứu về kỹ năng sống
1.1.1 Một số nghiên cứu kỹ năng sống trên thế giới
Thuật ngữ “Kỹ năng sống” hiện ngày càng phổ biến và được sử dụng khá
rộng rãi Trên thế giới, “Kỹ năng sống” là những thuật ngữ đã xuất hiện từ rất sớm, cùng với nó là những chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được triển khai rộng
khắp và có hiệu quả ở nhiều quốc gia khác nhau
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ “Kỹ năng sống” được những nhà tâm lý
học thực hành đưa ra và coi đó như là khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân Đến năm 1979, Gilbert Botvin (tiến sĩ người Mỹ - nhà khoa học hành vi và giáo sư tâm thần học) đã công bố một chương trình đào tạo kỹ năng sống
có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9 Thông qua modul tương tác, chương trình đã tạo cơ hội cho người học được tiếp cận với những kỹ năng như: Quyết đoán, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề, để thể hiện sự từ chối các chất gây nghiện như thuốc lá Chương trình này đã được triển khai trong nhiều trường học khác nhau, từ các trường công lập đến các trung tâm tạm giam người chưa thành niên và đã thu được kết quả ấn tượng Nó không chỉ giúp ngăn
ngừa hút thuốc trong thanh thiếu niên mà còn giúp tăng thêm giá trị trong mối quan
hệ giữa giáo viên và học sinh, kết quả học tập và sự quan tâm của nhà trường Như
vậy, giáo dục kỹ năng sống đã được đưa vào chương trình tiểu học và trung học ở các nước phát triển từ khá sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở trẻ em, tạo nền
tảng vững chắc cho các em khi bước vào tuổi trưởng thành [18]
Chương trình giáo dục kỹ năng sống, với tài trợ của các tổ chức quốc tế (UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO) đã được phát triển rộng khắp Thông qua
mạng lưới toàn cầu, các tổ chức đã mở các cuộc hội thảo, cung cấp tài liệu, đồng
thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong thanh thiếu niên với nhiều cách tiếp cận khác nhau Chương trình đã được thực hiện và phát triển mạnh trong khu vực Mỹ La Tinh và Caribe, khu vực Nam Phi và Bostswana, khu vực Châu Á
Trang 15Tại Mỹ La Tinh, năm 1996, một hội thảo về kỹ năng sống được tổ chức tại
Costa Rica nhằm đẩy mạnh giáo dục sức khỏe thông qua giáo dục kỹ năng sống trong các trường học và coi đó như là những ưu tiên của mạng lưới y tế tại Mỹ Latinh Năm 1998, một hội thảo khác được tổ chức tại Mexico nhằm củng cố sự cam kết thực hiện chương trình, đồng thời cung cấp thêm vật liệu cho các quốc gia tham gia (các tài liệu của WHO về kỹ năng sống) Colombia là một trong những
quốc gia nhận được tài trợ lớn từ PAHO / WHO và các quốc gia khác để thực hiện chương trình này trên toàn hệ thống giáo dục quốc dân Đầu tiên, chương trình là sáng kiến làm giảm tỉ lệ tử vong và bệnh tật liên quan đến các vụ giết người và bạo
lực, sau đó dần được thay đổi để đáp ứng nhu cầu của nhiều thanh thiếu niên và họ
gọi là giáo dục toàn diện Chương trình giáo dục Kỹ năng sống của Colombia gồm các tài liệu hướng dẫn và hoạt động thiết kế dành cho đối tượng từ lớp 4 đến lớp 9
và được thực hiện ở các trường nghèo trong 20 thành phố ở Colombia, với sự tham gia của khoảng 15 ngàn học sinh [18]
Tại vùng biển Caribe, Liên hợp quốc phối hợp với Đại học Tây Ấn, Bộ giáo dục và Bộ y tế đã điều hành dự án CARICOM (Caribbean community) nhằm đưa chương trình giảng dạy kỹ năng sống vào các bậc học: Mẫu giáo, tiểu học và trung
học trên toàn vùng Caribe thông qua cách tiếp cận giáo dục sức khỏe và cuộc sống gia đình
Tại Botswana và Nam Phi, từ năm 1966, được sự hỗ trợ của trung tâm chính sách quốc tế về rượu (ICAP), chương trình “Growing up” (1996 – 1999) ra đời
nhằm thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho một số trường tiểu học ở một số khu vực này “Growing up” được thiết kế để giúp người học tìm hiểu một số kỹ năng liên quan đến cuộc sống hàng ngày, bao gồm 7 chủ đề: 1 Xây dựng một lớp học chia sẻ;
2 Học tập để hợp tác, làm việc nhóm, giao tiếp, lắng nghe và kết bạn; 3 Đối phó
với tình cảm và cảm xúc; 4 Ra quyết định; 5 Lớn lên khỏe mạnh; 6 Giúp đỡ để trường học và gia đình trở thành nơi an toàn hơn; 7 Mỗi cá nhân là một người đặc
biệt Chương trình này đã đạt được nhiều thành công lớn và càng được mở rộng với
trọng tâm mới là: HIV/AIDS [18]
Trang 16Tại khu vực Châu Á, được sự tài trợ của tổ chức UNESCO, UNICEF, UNFPA, các chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được triển khai rộng khắp ở cả Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Sri lanka), Đông Á (Trung Quốc), Trung Á (Mông Cổ), Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philipines, Thái Lan, Myanmar, Đông Timor, Việt Nam)
Tại khu vực Đông Nam Á, các chương trình giáo dục kỹ năng sống xuất hiện
ở các quốc gia chủ yếu vào 5 năm cuối của thế kỷ XX Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau qua từng lĩnh vực cụ thể, các quốc gia đã từng triển khai để đưa kỹ năng
sống vào giáo dục ở trong và ngoài nhà trường Kỹ năng sống được coi như một phương tiện hiệu quả trong việc phát triển kỹ năng trong thanh thiếu niên để có thể
lựa chọn lối sống lành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lý
Ở Lào - được bắt đầu quan tâm từ 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo
dục chính quy Năm 2011 giáo dục kỹ năng sống ở Lào được mở rộng sang các lĩnh
vực như: Giáo dục dân số, giới tính, sức khỏe sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường [23]
Ở Campuchia cũng đã nghiên cứu và phát triển chương trình dạy kỹ năng
sống ở các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến trung học phổ thông Nhưng vấn
đề nổi rõ nhất vẫn là việc xác lập các kỹ năng cần huấn luyện cho từng lứa tuổi cũng như phương thức huấn luyện hiệu quả [31]
Giáo dục kỹ năng sống ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời sống gia đình Nhiều nhà nghiên cứu ở nước này coi kỹ năng sống là môn
học của cuộc sống và môn này đã được dạy như một môn học ở trường tiểu học và trung học cơ sở
Còn tại Indonexia thì kỹ năng sống được tập trung nghiên cứu trên bình diện như một khoa học giáo dục Kỹ năng sống được xem như những kiến thức, kỹ năng, thái độ giúp người học sống một cách độc lập Việc giáo dục kỹ năng sống sẽ mang đến những lợi ích nhất định như: Nâng cao cơ hội việc làm cho người học, nâng cao
Trang 17chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thục hiện chính sách tự chủ của địa phương, tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt [31]
Ở Thái Lan – giáo dục kỹ năng sống được quan tâm đến rất sớm và được thực
hiện bởi những tổ chức phi chính phủ và cả những tổ chức giáo dục của bộ - ban ngành trong nước Tại đây, họ quan niệm kỹ năng sống là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hang ngày một cách hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc hoặc
có thể hiểu kỹ năng sống là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày để có thể sống hạnh phúc
Cũng tương tự với quan điểm này, tại Philippine với quan niệm coi kỹ năng
sống là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có
thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày [31]
Nhìn chung các quốc gia Đông Nam Á cũng mới bắt đầu triển khai chương trình và biện pháp giáo dục kỹ năng sống nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, còn đang trong giai đoạn nghiên cứu theo hướng tập trung giải quyết cách hiểu về kỹ năng sống, phân loại kỹ năng sống cũng như hướng huấn luyện kỹ năng sống
Như vậy, trên thế giới nói chung và ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, kỹ năng sống đã được triển khai đưa vào giáo dục, cả trong giáo dục chính quy và không chính quy Đến nay, quá trình giáo dục kỹ năng sống ở các quốc gia này
phần lớn đã đi vào quy trình và đang phát triển mạnh mẽ
1.1.2 Nghiên cứu kỹ năng sống ở Việt Nam
Thuật ngữ “Kỹ năng sống” bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 90 – khi xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp – nền kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài vào Việt Nam hay sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn đến con người Vì
lẽ đó đã đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi với những sự thay đổi đó Từ đây, những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức, năng lực làm việc
Trang 18bắt đầu được xem xét và quan tâm – đó chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam quan tâm đến thuật ngữ kỹ năng sống trong chương trình và triển khai một số dự án
của các tổ chức khác trên thế giới [2]
Bắt đầu từ chương trình của UNICEF năm1996 (giáo dục kỹ năng sống để bảo
vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Thuật ngữ kỹ năng sống mới thực sự phổ biến và được mọi người biết đến Quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá
trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng đặt mục tiêu… nhằm vào những chủ đề giáo dục
sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn Đến giai đoạn hai với chương trình “Giáo
dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” thì quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối
với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn [19]
Đầu những năm 90 Thủ tướng chính phủ cũng đã có văn bản chỉ đạo tại quyết định 1363/TTg về việc “Đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục
quốc dân” Quyết định này chưa thấy rõ về việc phải rèn luyện kỹ năng sống ở các bậc học Tuy nhiên nội dung của quyết định đã đề cập đến việc trang bị những kỹ năng ứng xử với môi trường, thái độ sống như biểu hiện ban đầu của kỹ năng sống
Chỉ thị 10/GD & ĐT năm 1995 hay chỉ thị 24/CT & GD năm 1996 của bộ trưởng
bộ giáo dục và đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống HIV/AIDS hay tăng cường công tác phòng chống ma túy tại trường học Trong đó cũng bao
gồm các kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp ứng xử với người nhiễm HIV, kỹ năng tự
bảo vệ bản thân, kỹ năng từ chối…Như vậy, ít nhiều cũng đã lồng ghép những nội dung của thuật ngữ kỹ năng sống ở trong đó [4]
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục kỹ năng sống” (UNESCO hỗ trợ tổ
chức) đã làm rõ hơn khái niệm về kỹ năng sống Kỹ năng sống được tiếp cận dựa trên 4 trụ cột của việc học: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học
để tự khẳng định” Sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” thì khái
niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng “Kỹ năng sống là các
kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh”
Trang 19Từ đây, những người làm công tác giáo dục đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống và
bắt đầu quan tâm đến kỹ năng sống và cách thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh [2]
Từ năm 2002 – 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông (tiểu học và trung học cơ sở) trong cả nước Trong chương trình tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng sống thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, tự nhiên – xã hội (lớp 1 – 3) và môn khoa học (lớp 4 – 5) Kỹ năng sống được giáo dục thông qua một số chủ đề “Con người và sức
việc triển khai để đưa giáo dục kỹ năng sống vào các môn học ở nhà trường phổ thông vẫn hạn chế Hầu hết giáo viên và học sinh trường phổ thông ở nước ta vẫn còn xa lạ với các thuật ngữ cũng như những vấn đề cơ bản liên quan đến kỹ năng
sống và giáo dục kỹ năng sống Hiện nay, giáo dục kỹ năng sống ở nước ta vẫn đang ở mức độ bắt đầu triển khai thông qua việc tập huấn giáo viên để đưa kỹ năng
sống tích hợp giảng dạy trong các môn học ở nhà trường phổ thông [19]
Một số nhà chuyên môn ở nước ta cũng đã bắt đầu nghiên cứu về kỹ năng
sống Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống là tác giả Nguyễn Thanh Bình Với đề tài cấp bộ, tác
giả đã nghiên cứu về “Thực trạng kỹ năng sống cho học sinh và đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” Tác giả cũng cho ra đời “Giáo trình giáo dục kỹ năng sống” (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2008) sau khi tham gia dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở Giáo trình đã tập trung phân tích
về khái niệm kỹ năng sống, nội dung, nguyên tắc và các phương pháp giáo dục kỹ năng sống, cách đánh giá kết quả và tác động của giáo dục kỹ năng sống [21]
Trang 20Một nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc là “Triết lý Giáo dục Việt Nam và
Thế giới” cũng có giá trị quan trọng trong việc định hướng và tiếp cận việc nghiên
cứu kỹ năng sống, nhưng không trực tiếp đề cập đến vấn đề kỹ năng sống, giáo dục
kỹ năng sống như đối tượng nghiên cứu
Một số bài báo viết về kỹ năng sống có giá trị thực tiễn và được nhiều người quan tâm như bài báo của tác giả Nguyễn Quang Uẩn “Khái niệm kỹ năng sống xét theo góc độ tâm lý học” trong tạp chí tâm lý học [5]
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Oanh đã nghiên cứu, tìm hiểu và cho ra nhiều
quấn sách về kỹ năng sống như: “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên”, “10 cách
thức rèn kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên”, vv…
Năm 2009, tác giả Huỳnh Văn Sơn cũng cho ra đời những cuốn sách đề cập đến khái niệm kỹ năng sống như: “Nhập môn kỹ năng sống”, “Bạn trẻ và kỹ năng
sống”, “Mô hình kỹ năng sống hiện đại”, “Những kỹ năng thực hành xã hội” Ngoài
ra, tác giả Huỳnh Văn Sơn còn chủ nhiệm một số đề tài cấp bộ về kỹ năng sống như: “Thực trạng kỹ năng sống của sinh viên một số Trường Đại học tại Thành phố
Hồ Chí Minh”, “Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên các Trường Đại học Sư
phạm”, “Thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, vv…
Nhìn chung, giáo dục kỹ năng sống cho con người nói chung và cho học sinh, sinh viên nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu và giáo dục trong nước quan tâm khai thác, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau nhưng chưa tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một cách có hệ thống về phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng sống và chưa có kết quả thử nghiệm chưa rõ ràng, cụ thể nên tính thuyết phục chưa cao Hơn nữa, việc nghiên cứu kỹ năng sống ở Việt Nam cũng như việc triển khai chương trình rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên mới
chỉ thể hiện ở chương trình giáo dục ngoài khung chương trình đào tạo Chưa có văn bản, tài liệu khoa học hay giáo trình giảng dạy kỹ năng sống một cách chính
thống
Trang 21Mặc dù việc triển khai giáo dục kỹ năng sống chưa được tiến hành một cách
hệ thống và rộng rãi trong các nhà trường phổ thông nhưng lại đang là vấn đề được nhiều tổ chức nước ngoài và tư nhân nước ta quan tâm Các trung tâm giáo dục kỹ năng sống được ra đời và tổ chức ở nhiều nơi nhưng lại chưa có sự quản lý về nội dung cũng như nhất quán trong mục tiêu và chương trình đào tạo, giáo dục kỹ năng
sống
1.2 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống
1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Bàn về khái niệm kỹ năng, chúng ta thấy có hai cách đặt vấn đề khác nhau: Cách thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật hành động Cách thứ hai xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người
Theo cách đặt vấn đề thứ nhất, kỹ năng được xem là phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm
vững Người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động [6]
Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như: Ph.N.Gônôbôlin, V.A.Krutretxki, V.X.Cudin, A.G.Kôvaliôv Các tác giả này cho rằng, muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải có tri thức về hành động đó Tức là phải
hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó Vì vậy, nếu ta
nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn theo các yêu
cầu khác nhau, tức là đã có kỹ năng hành động [22]
Nổi rõ lên từ trước những năm 1970 của thế kỷ XX trong các sách tâm lý học
của Liên Xô cũ thường nói đến hành động: Hành động ý chí, hành động tự động hóa
Ph.N.Gônôbôlin (1973) cho rằng: Kỹ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được con người lĩnh
hội trong quá trình hoạt động [22]
Trang 22V.A.Krutretxki (1980) cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động – cái mà con người lĩnh hội được” Để làm rõ khái niệm kỹ năng, tác giả đã phân tích kỹ vai trò của việc luyện tập trong thực tiễn, trong hoạt động, trong quá trình hình thành kỹ năng Tác giả viết: Trong một số trường hợp thì kỹ năng là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thực hành, tức là khi có tri thức, con người cần phải áp dụng và sử dụng chúng vào trong cuộc sống, vào trong thực tiễn Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành kỹ năng trở nên được hoàn thiện và trong mối quan hệ đó hoạt động của con người cũng trở nên được hoàn hảo hơn trước [22]
Theo quan niệm này có thể nhận thấy kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng
Theo cách đặt vấn đề thứ hai: Coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật
của hành động mà nó còn là một biểu hiện về năng lực của con người Kỹ năng theo quan niệm này vừa có tính ổn định lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính
thạo được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo – những cái đã được lĩnh hội
từ trước”
X.I.Kixegof (1977) cũng cho rằng có hai loại kỹ năng: Kỹ năng bậc thấp (kỹ năng nguyên sinh) và kỹ năng bậc cao (kỹ năng thứ sinh) “Kỹ năng nguyên sinh” được hình thành lần đầu tiên qua các hành động đơn giản, nó là cơ sở để hình thành
kỹ xảo Còn “Kỹ năng thứ sinh” là kỹ năng nảy sinh lần thứ hai sau khi đã có các tri thức và các kỹ xảo
Theo K.K.Platônôv thì người có kỹ năng không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều
Trang 23kiện khác nhau Do vậy, theo ông kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm – những cái
đã được lĩnh hội từ trước Hay nói cách khác, kỹ năng được hình thành trên cơ sở
của các tri thức và các kỹ xảo [22]
Quan niệm của các nhà giáo dục Việt Nam như: Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê Văn Hồng và Nguyễn Quang Uẩn cũng tương tự như quan niệm của hai tác giả nói trên
Chẳng hạn, Lê Văn Hồng có viết: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [8]
Có kỹ năng hoạt động chân tay (sử dụng công cụ lao động…), có kỹ năng hoạt động trí óc (kỹ năng giải bài toán chẳng hạn)
Bất kỳ kỹ năng về một hoạt động nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết Cơ
sở lý thuyết đó là kiến thức
Việc xem xét kỹ năng với tư cách là năng lực hành động của cá nhân yêu cầu
ta không chỉ phân tích mặt kỹ thuật của hành động mà còn phải nghiên cứu các yếu
tố nhân cách khác có liên quan tới việc triển khai hành động
Trong Từ điển Tâm lí học của Liên Xô (cũ), kỹ năng được định nghĩa theo quan niệm thứ nhất như sau: “Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến độ kỹ xảo [7]
Trong từ điển tiếng Việt, kỹ năng lại được định nghĩa theo quan niệm thứ hai như sau: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh
vực nào đó vào thực tế” [24]
Theo từ điển tâm lý học do tác giả Vũ Dũng biên soạn thì kỹ năng cũng được
hiểu theo quan niệm thứ hai là: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm
vụ tương ứng” Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn
cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, và còn phải tập
Trang 24trung chú ý căng thẳng Kỹ năng được hình thành qua luyện tập [4]
Tác giả Trần Trọng thủy cũng theo quan niệm thứ nhất khi cho rằng: “Kỹ năng
là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [12]
Còn tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cũng theo quan điểm thứ nhất đã cho rằng: “Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ
thể” [25]
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn lại quan niệm kỹ năng: “Là những kỹ năng tinh
thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn
tại và thích ứng với cuộc sống” [26]
Cũng theo quan điểm thứ hai, tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Kỹ năng là
khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri
thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu
hiện năng lực của con người” [16]
Thực ra hai quan niệm trên về kỹ năng của hoạt động không phủ định nhau
Sự khác nhau là ở chỗ mở rộng (hay thu hẹp) phạm vi triển khai của một kỹ năng hành động trong các tình huống khác nhau
Như vậy, kỹ năng được nhìn nhận ở nhiều mức độ khác nhau Từ những quan niệm khác nhau đó của các tác giả về kỹ năng, chúng tôi cũng cho rằng: “Kỹ năng
là sự vận dụng thực tế các kiến thức, kinh nghiệm đã tiếp thu được để thực hiện
1.2.2 Đặc điểm của kỹ năng
Khi nhắc đến kỹ năng, người ta thường hay đề cập đến một khái niệm “họ hàng” của nó là kỹ xảo Nhưng nếu như kỹ xảo có mức độ tham gia của ý thức khá
ít, thậm chí trong nhiều trường hợp có khi không cảm thấy có sự tham gia của ý
Trang 25thức và đôi khi có sự kiểm tra bằng cảm giác vận động, tầm tri giác được mở rộng thì kỹ năng có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
- Trong kỹ năng, ý thức đóng vai trò tích cực và thường trực Trong quá trình
thực hiện một hành động, chủ thể thực hiện một kỹ năng nào đó thì chính chủ thể luôn sử dụng ý thức để nhận biết được các thao tác và hành động cụ thể
- Khi thực hiện kỹ năng, chủ thể phải sử dụng các loại tri giác khác nhau để
kiểm tra các thao tác thực hiện
- Trong kỹ năng, tùy vào từng mức độ kỹ năng của mỗi chủ thể mà các thao tác được thực hiện đầy đủ, chính xác đến mức độ nào Tuy nhiên, khi thực hiện kỹ năng, thường những động tác thừa, động tác phụ chưa được loại trừ
- Trong kỹ năng, có sự thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt: Có nghĩa là kỹ năng không nhất thiết gắn liền với một đối tượng nhất định, mà trong trường hợp kỹ năng ở mức độ cao thì chủ thể có khả năng di chuyển linh hoạt và dễ dàng sang các đối tượng mới [28]
1.2.3 Các m ức độ của kỹ năng và sự hình thành kỹ năng
Theo K.K Platonov và G.G Golubev, kỹ năng hình thành qua năm giai đoạn:
- Mức 1: Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai,
dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
- Mức 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
- Mức 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính rời rạc, riêng lẻ
- Mức 4: Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động
- Mức 5: Vận dụng sáng tạo những kỹ năng đó trong những tình huống khác nhau [27]
Các tác giả A.V.Petrovxki, N.D Levitov, V.A Kruchexki quá trình hình thành
kỹ năng chia làm ba bước:
- Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
- Bước 2: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện
Trang 26hành động nhằm đạt được mục đích đề ra [27]
Mục đích là kết quả của hành động, định hướng cho hành động Nếu chỉ dừng
lại ở đây thì chưa có kỹ năng, chỉ là lý thuyết tri thức về hành động
Giai đoạn làm thử theo mẫu tiến tới hình thành kỹ năng, giúp con người đối chiếu với tri thức, tiến hành thao tác để giảm bớt sai sót trong quá trình hành động
để đạt kết quả
Cuối cùng muốn có kỹ năng con người phải luyện tập Giai đoạn này các tri thức được củng cố nhiều lần, các thao tác được ôn luyện có hệ thống, kết quả của hành động đạt được một cách chắc chắn hơn Kỹ năng chỉ thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau Việc luyện tập đạt được kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực
của cá nhân
Vấn đề hình thành kỹ năng được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm
Mỗi tác giả có những ý kiến khác nhau, song đều thống nhất kỹ năng được hình thành trong hoạt động
Như vậy, quá trình hình thành kỹ năng là quá trình tiến hành hành động và
1.2.4 Các y ếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
Để hình thành được một kỹ năng hay làm cho quá trình hình thành kỹ năng
hiệu quả, cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng Sự hình thành kỹ năng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
- Nội dung của nhiệm vụ
Nội dung nhiệm vụ đặt ra trừu tượng hóa sẵn hay bị những yếu tố phụ nào đó làm lệch hướng tư duy và ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
Chính vì thế, để hình thành kỹ năng hiệu quả, cần thiết lập thao tác xác định nội dung của nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể Nhất thiết cần trả lời những câu hỏi: Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Thực hiện nhiệm vụ đó nghĩa là thực hiện yêu cầu
cụ thể nào?
Trang 27- Tâm thế và thói quen của chủ thể
Một minh chứng rõ nét nhất về sự ảnh hưởng của tâm thế đến sự hình thành kỹ năng đó là: Những học sinh đã sẵn sàng tham gia vào việc học tập một môn
học thì sẽ dễ dàng hình thành những kỹ năng liên quan đến môn học này Vì
thế, tạo ra một tâm thế thuận lợi, tích cực sẽ giúp chủ thể hình thành kỹ năng
một cách dễ dàng hơn
Ngoài ra, yếu tố thói quen đôi khi là một yếu tố thuận lợi, nhưng cũng có thể
là một yếu tố bất lợi trong một số trường hợp cần hình thành kỹ năng Do vậy, khi hình thành kỹ năng, cần chú ý đến việc phát huy những thói quen sẽ hỗ trợ cho việc hình thành kỹ năng và tiến hành làm thay đổi một thói quen nào đó
nếu nó là yếu tố cản trở cho quá trình hình thành kỹ năng
- Khả năng tư duy
Trong quá trình thực hiện một nhiệm vụ, thông thường chủ thể phải vận dụng rất nhiều những thao tác tư duy như: Phân tích, tổng hợp,…để nhận biết nội dung nhiệm vụ Do vậy, khả năng phân tích, khái quát hóa đối tượng,…tốt thì quá trình hình thành kỹ năng sẽ diễn ra nhanh chóng và dễ dàng [28]
thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác,
với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan
trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã
hội Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này [16]
Trang 28Theo UNICEF thì cho rằng: “Giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến
thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào) [16]
Theo UNESCO cho rằng: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc
thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày” [16]
Theo tác giả Xkomni thì kỹ năng sống là khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống Kỹ năng sống thể
hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã
hội
Trong đề tài “Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên các trường đại học sư
phạm” do tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên) đưa ra quan niệm về kỹ năng sống như: “Kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý Kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống
Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển Kỹ năng sống còn được xem như
một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý – xã hội, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống vốn chứa đựng nhiều thách thức nhưng cũng không thiếu các cơ hội” [28]
cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày"
b Phân loại kỹ năng sống
Có rất nhiều cách phân loại kỹ năng sống Có thể đề cập đến những cách phân
loại sau đây:
Theo WHO, đã xác định một danh sách cơ bản các kỹ năng có thể được chấp nhận ở những nền văn hóa khác nhau Đó là các kỹ năng: Lấy quyết định, giải quyết
vấn đề, suy nghĩ sáng tạo, suy nghĩ có phán đoán, truyền thông có hiệu quả, giao
tiếp giữa người với người, ý thức về bản thân, khả năng thấu cảm, ứng phó với cảm
Trang 29xúc, ứng phó với stress
Theo UNICEF thì gom các kỹ năng dưới 3 cụm chủ đề: Truyền thông và giao
tiếp, lấy quyết định và suy nghĩ có phán đoán, kỹ năng ứng phó và làm chủ bản thân [14]
- Kỹ năng truyền thông và giao tiếp: Kỹ năng thương lượng / từ chối, thấu cảm,
hợp tác và làm việc theo ê – kip, kỹ năng biện hộ
- Kỹ năng lấy quyết định và suy nghĩ có phán đoán: Kỹ năng lấy quyết định / giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy có phán đoán
- Kỹ năng ứng phó và làm chủ bản thân: Kỹ năng làm tăng sức mạnh nội lực để tự
chủ, kỹ năng làm chủ cảm xúc, kỹ năng quản lý stress
Theo tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc) lại phân loại kỹ năng sống thành hai dạng
- Kỹ năng sống để phát triển cá nhân
- Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác
Kỹ năng công nghệ theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị Vì thất nghiệp là một vấn đề lớn, và họ nhấn mạnh kỹ năng về công nghệ thông tin [14]
Dù mỗi một tổ chức dù có khác nhau về tên gọi hay trong cách xắp xếp cho phù hợp với các mục đích khác nhau, nhưng tất cả cũng dựa trên 10 kỹ năng cơ bản sau đây: Lấy quyết định, giải quyết vấn đề, suy nghĩ sáng tạo, suy nghĩ có phán đoán, truyền thông có hiệu quả, giao tiếp giữa người với người, ý thức về bản thân,
khả năng thấu cảm, ứng phó với cảm xúc, ứng phó với stress
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn thì kỹ năng sống được chia thành 3 nhóm chính [17]
- Nhóm thứ nhất: Kỹ năng về cuộc sống cá nhân bao gồm các kỹ năng: Sinh
hoạt cá nhân, rèn luyện giữ sức khỏe, tự nhận thức bản thân, tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân, tự xác định mục đích…
- Nhóm thứ hai: Kỹ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng, với xã hội bao gồm các kỹ năng: Giao tiếp, ứng xử, thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội liên nhân cách, thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, thích ứng xã hội…
Trang 30- Nhóm thứ ba: Kỹ năng nhận thức các vấn đề liên quan đến cuộc sống bao
gồm một số kỹ năng: Ra quyết định và giải quyết vấn đề sáng tạo, phân biệt hành vi
lạm dụng và hành vi yêu thương, vượt qua khó khăn, quản lý thời gian, tổ chức cuộc sống…
Một số tài liệu nghiên cứu về kỹ năng sống gần đây đã có cách phân loại kỹ năng sống khác nhau sao cho phù hợp với từng độ tuổi, phù hợp với những giá trị đặc trưng mà từng độ tuổi cần chiếm lĩnh sao cho hiệu quả nhất
1.3 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên
Về mặt hình thể: Sinh viên lứa tuổi này đã đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc
và sự phối hợp giữa các chức năng của cơ thể Cụ thể như sau
- Sinh viên đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng cơ thể của người trưởng thành
- Là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương và cơ bắp Điều này góp phần tạo nên nét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên sinh viên
- Các tố chất về thể lực như: Sức nhanh, sức bền bỉ, độ dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmôn nam và nữ
- Giai đoạn này có sự hoàn chỉnh về mặt giới tính do hoocmôn sinh trưởng của nam và nữ tăng lên 10-15 lần và sự tăng này sẽ giúp cho hoocmôn sinh trưởng của nam áp đảo tác dụng một phần hoocmôn sinh trưởng nữ còn sót lại trong cơ thể và hoocmôn sinh trưởng của nữ sẽ áp đảo lại tác dụng một phần hoocmôn sinh trưởng nam còn sót lại trong cơ thể Vì vậy, giới tính ở lứa tuổi này đã được phân biệt rõ và phát triển đầy đủ ở mỗi giới, cả về biểu hiện ngoại hình lẫn biểu hiện nội tiết [9]
Hoạt động thần kinh cấp cao đã đạt tới mức trưởng thành Trọng lượng não đạt
Trang 31mức tối đa (trung bình não có trọng lượng là 1400gram), số lượng nơron thần kinh đạt mức cao nhất với chất lượng hoàn hảo nhờ quá trình myêlin hoá cao độ Ở thời
kỳ này, các tế bào thần kinh không có khả năng sản sinh thêm mà chỉ mất dần đi mà thôi
Số lượng xi náp của các tế bào thần kinh đảm bảo cho một sự liên lạc rộng
khắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa vô số các kênh làm cho hoạt động của não bộ
trở nên nhanh, nhạy, chính xác đặc biệt so với các lứa tuổi khác
Như vậy, sự phát triển hoàn thiện về mặt thể chất của lứa tuổi thanh niên sinh viên tạo điều kiện cho các em có sự thành công trong học tập, nghệ thuật và thể thao [9]
1.3.2 Đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên
Bước chân vào trường đại học, một cuộc sống học tập và xã hội mới ngày càng mở rộng ra trước mắt sinh viên Trong môi trường mới này, để hoạt động học
tập có kết quả đòi hỏi sinh viên phải có sự thích nghi với các hoạt động diễn ra trong trường đại học Quá trình thích nghi này chủ yếu tập trung ở các mặt
- Nội dung học tập mang tính chuyên ngành
- Phương pháp học tập mới mang tính nghiên cứu khoa học
- Môi trường sinh hoạt mở rộng
- Nội dung và cách thức giao tiếp phong phú và đa dạng, vv…
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu cũng cho thấy, sau một thời gian học tập
ở trường đại học đa số sinh viên thích ứng khá nhanh chóng với môi trường xã hội mới Khó khăn có tính chất bao trùm hơn cả là việc thích nghi được với nội dung, phương pháp học tập mới có tính chất nghiên cứu khoa học và học nghề đối với
những chuyên gia tương lai Mức độ thích nghi này có ảnh hưởng trực tiếp tới thành công trong học tập của sinh viên Ở đây, bản thân người sinh viên gặp phải một loạt các mâu thuẫn cần giải quyết như:
- Mâu thuẫn giữa ước mơ, mong muốn của sinh sinh với khả năng thực hiện ước mơ đó
Trang 32- Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mà mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định
- Mâu thuẫn giữa lượng thông tin nhiều trong xã hội với khả năng và thời gian
có hạn
Để phát triển, sinh viên phải biết giải quyết các mâu thuẫn này một cách hợp
lý tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sinh viên [9]
Hoạt động nhận thức của sinh viên thực sự là loại hoạt động trí tuệ đích thực, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động trí tuệ này lấy những sự kiện của quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở, song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình
độ cao và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế, uyển chuyển và linh hoạt theo
từng tình huống có vấn đề Do vậy, đa số sinh viên lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén
những vấn đề mà giáo viên trình bày Họ thường ít thoả mãn với những gì đã biết, luôn mong muốn đào sâu suy nghĩ để nắm vững vấn đề hơn
Trong quá trình tiến hành hoạt động học tập, tính chất chọn lọc của tri giác ở sinh viên rất cao Sinh viên thường tri giác những tài liệu học tập liên quan tới hứng thú nhận thức và có ích cho hoạt động nghề nghiệp
Bên cạnh đó, các quá trình trí nhớ thường diễn ra trong suốt quá trình học tập
của sinh viên Nhờ có trí nhớ, sinh viên tích luỹ được tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng
kỹ xảo nghề nghiệp tương lai
Quá trình tư duy của sinh viên khác về chất so với các lứa tuổi trước Sinh viên biết tự đặt ra vấn đề, tự tìm cách giải quyết vấn đề theo nhiều phương hướng khác nhau, có ý chí theo đuổi mục đích đến cùng và có khả năng tự đánh giá kết quả tìm được Phẩm chất tư duy sáng tạo cũng được bộc lộ trong hoạt động học tập của sinh viên Sinh viên biết vượt ra khỏi giới hạn những tài liệu cơ bản, tìm thấy mối liên hệ mới giữa các đối tượng Sinh viên biết huy động hợp lý, rộng rãi các tri thức
và kinh nghiệm để giải quyết vấn đề [9]
Trang 33Nhân cách sinh viên là nhân cách của con người trẻ đang được chuẩn bị để
thực hiện chức năng người lao động có trình độ nghiệp vụ cao trong một lĩnh vực
hoạt động nào đó của xã hội Sự phát triển nhân cách người sinh viên được diễn ra theo các hướng cơ bản sau
- Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp và các năng lực cần thiết được củng cố và phát triển
- Các quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình nhận thức được nghề nghiệp hoá
- Tình cảm nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập được nâng cao, cá tính và lập trường sống của các thành viên được bộc lộ rõ rệt
- Mong ước đối với nghề nghiệp tương lai được phát triển
- Sự trưởng thành về mặt xã hội, các phẩm chất nghề nghiệp và sự ổn định chung về nhân cách được phát triển
- Khả năng tự giáo dục của sinh viên được nâng cao
- Tính độc lập và tinh thần sẵn sàng hoạt động nghề nghiệp tương lai được
củng cố
Như vậy, qua việc tìm hiểu xu hướng phát triển nhân cách của người sinh viên chúng ta thấy, nhân cách sinh viên được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động
Tự đánh giá ở tuổi sinh viên là một dạng hoạt động nhận thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu thập, xử lý thông tin về chính mình, chỉ ra được mức độ nhân cách tồn tại ở bản thân, từ đó có thái
độ, hành vi, hoạt động phù hợp nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện và phát triển
Tự ý thức là một trình độ phát triển cao của ý thức, nó giúp sinh viên có hiểu
biết về thái độ, hành vi, cử chỉ của mình để chủ động hướng hoạt động của mình theo những yêu cầu đòi hỏi của tập thể, của cộng đồng xã hội
Các công trình nghiên cứu về tự ý thức, tự đánh giá ở sinh viên cho thấy, mức
độ phát triển của những phẩm chất nhân cách này có liên quan tới học lực cũng như
Trang 34kế hoạch sống tương lai của sinh viên Những sinh viên có kết quả học tập cao thường chủ động, tích cực trong việc tự nhìn nhận, tự đánh giá, tự kiểm tra hành động, thái độ cư xử, cử chỉ giao tiếp để hướng tới những thành tựu khoa học, lập kế hoạch học tập, nghiên cứu khoa học một cách cụ thể nhằm tự hoàn thiện bản thân
Những sinh viên có kết quả học tập thấp dễ tự đánh giá bản thân không phù hợp Có
những sinh viên tự đánh giá bản thân mình quá cao, thường bị động trong học tập, nhu cầu giao tiếp mạnh hơn nhu cầu nhận thức và hoạt động của họ hướng chủ yếu vào các mối quan hệ Ngược lại, có một số sinh viên lại đánh giá mình quá thấp, thường bi quan trước kết quả hoạt động, thụ động trong quan hệ giao tiếp với bạn
bè, họ ít phấn đấu vươn lên trong học tập nên việc tự giáo dục, tự hoàn thiện đạt
mức thấp
Tóm lại, tự đánh giá về mức độ trí tuệ là thành phần quan trọng trong tự ý
thức, tự giáo dục ở sinh viên Những sinh viên tự đánh giá mình quá thấp về mặt này thường gây khó khăn cho họ trong quá trình học tập Vì vậy, cần giúp những sinh viên này thay đổi sự tự đánh giá ở mức lạc quan, tự tin hơn tạo điều kiện cho
sự vươn lên trong học tập, phấn đấu, rèn luyện nhân cách
Hoạt động học tập tiếp tục giữ vị trí quan trọng ở tuổi thanh niên, sinh viên, nhưng hoạt động này mang tính chuyên ngành, phạm vi hẹp nhưng sâu sắc hơn Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách
Sinh viên không những phải nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… mà sinh viên còn phải có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, khả năng diễn đạt ý tưởng, biết cách tổ chức và xử lý thông tin… Điều này đòi hỏi hoạt động học tập
của sinh viên phải tăng cường tính chủ động, tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo nhiều hơn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Vì vậy, tự học và nghiên cứu khoa học là hoạt động đặc trưng ở bậc đại học
Ngoài ra hình thức tổ chức dạy và học của nhà trường, phương pháp giảng dạy
của giảng viên linh động, mềm dẻo… nhằm hình thành và rèn luyện cho sinh viên
Trang 35các kỹ năng Trong đó, dạy và học theo nhóm là một trong những hoạt động học tập giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng tự học thông qua hoạt động nhóm
Định hướng giá trị của sinh viên liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách
và kế hoạch đường đời Với sinh viên, ước mơ, hoài bão, lý tưởng của tuổi thanh xuân dần dần được hiện thực, được điều chỉnh trong quá trình học tập ở trường đại
học Tính viển vông, huyễn tưởng nhường chỗ cho kế hoạch đường đời cụ thể do việc học để trở thành người có nghề nghiệp đã được xác định rõ ràng Sinh viên không chỉ đặt ra kế hoạch đường đời cho mình mà còn tìm cách để thực hiện kế
hoạch đó theo những giai đoạn nhất định
Sinh viên là những người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên,
do quy luật phát triển không đồng đều về tâm lý, do điều kiện, hoàn cảnh sống và giáo dục khác nhau nên không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển ở mức
tối ưu Điều này phụ thuộc rất nhiều vào định hướng đúng đắn cũng như tính tích
cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Ở giai đoạn này, sự chi phối của thế giới quan và nhân sinh quan đối với hoạt động của sinh viên đã thể hiện rõ rệt Những sinh viên có sự nhìn nhận đúng đắn, khoa học về sự phát triển của thế giới tự nhiên,
xã hội và con người sẽ có những kế hoạch đường đời phù hợp, có mục tiêu phấn đấu rõ ràng và thường trở thành những người có ích cho bản thân, gia đình và xã
hội
Theo B.G.Ananhep và các nhà tâm lý học khác, tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động và trong đời sống sinh viên Đặc điểm của nó là tính có hệ thống và bền vững
so với thời kỳ trước đó Hầu hết sinh viên biểu lộ sự chăm chỉ, say mê của mình với chuyên ngành và nghề nghiệp đã chọn Để thoả mãn tình cảm trí tuệ, họ học tập không chỉ ở giảng đường và thư viện trường đại học mà còn tự học thêm, tham gia các khoá học khác… Chính tình cảm trí tuệ này làm cho lượng tri thức mà sinh viên
Trang 36tích luỹ được thường rất lớn, vượt xa những sinh viên không có loại tình cảm này về
mọi mặt
Tình bạn cùng giới và khác giới ở tuổi sinh viên tiếp tục phát triển theo chiều sâu Những bạn bè thời trung học phổ thông tiếp tục chiếm vị trí quan trọng trong đời sống sinh viên Bên cạnh đó, việc hình thành những tình bạn mới ở trường đại
học cũng không kém phần bền vững Tình bạn ở tuổi sinh viên làm phong phú thêm tâm hồn, nhân cách của sinh viên
Bên cạnh tình bạn, tình yêu nam nữ ở tuổi sinh viên là một lĩnh vực rất đặc trưng Loại tình cảm này có mầm mống ở giai đoạn dậy thì, có sự thể nghiệm ở giai đoạn đầu tuổi thanh niên và đến thời kỳ này thì phát triển với một sắc thái mới Nhìn chung, tình yêu nam nữ ở lứa tuổi sinh viên rất đẹp và lãng mạn Song loại tình cảm này cũng thể hiện không đồng đều ở sinh viên do hoàn cảnh, điều kiện và
kế hoạch đường đời của mỗi người khác nhau [9]
Tóm lại, viên có độ tuổi từ 18 đến 25, là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về
thể lực sang sự trưởng thành về phương diện tâm lý – xã hội Lứa tuổi này được đánh giá là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm, đạo đức và thẩm mĩ; là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Đặc biệt là sinh viên đã có vai trò người lớn
thực sự Sinh viên có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình, chịu trách nhiệm về hành vi và độc lập trong phán đoán
1.4 Một số kỹ năng sống cần thiết đối với sinh viên
Trong quá trình khảo sát ban đầu, chúng tôi đã đưa ra 20 kỹ năng sống cần thiết đối với sinh viên để khảo sát Kết quả thu lại cho thấy có 5 kỹ năng đã được sinh viên đánh giá là quan trọng và cần thiết đối với sinh viên, đó chính là những 5
kỹ năng sau đây:
1.4.1 Kỹ năng quản lý thời gian
Khái niệm: Quản lý thời gian là biết hoạch định thời gian của mình với những mục tiêu và những nhiệm vụ thật cụ thể Quản lý thời gian không có nghĩa luôn tiết
kiệm thời gian mà là biết làm chủ quỹ thời gian của mình một cách khoa học và hợp
lý [11]
Trang 37Quản lý thời gian không chỉ đơn thuần là vấn đề thời gian, mà đó là cách chúng ta quản lý bản thân mình trong mối quan hệ với thời gian Điều này có nghĩa
là phải thay đổi những thói quen và hoạt động làm lãng phí thời gian Đó là việc sẵn sàng thử nghiệm các phương pháp và ý tưởng khác nhau, cho phép bạn tìm ra cách
tốt nhất để sử dụng tối đa quỹ thời gian hạn hẹp của bạn [11]
Để quản lý thời gian hiệu quả, chúng ta cần thực hiện tốt những điều sau đây:
Thiết lập mục tiêu: Để bắt đầu quản lý thời gian một cách hiệu quả, chúng ta
cần đặt ra mục tiêu cho mình Một khi hiểu rõ cái cần đạt được, chúng ta sẽ biết chính xác điều cần phải làm và theo thứ tự nào Nhưng một khi không đặt ra mục tiêu đúng đắn, chúng ta sẽ phải phí thời gian với những mâu thuẫn trong công việc
và sẽ làm rối tung chúng lên Nhiều người có khuynh hướng lờ đi việc thiết lập mục tiêu bởi vì nó cần thời gian và nỗ lực Họ không biết rằng nếu đầu tư một chút cho
việc này, lại tiết kiệm được một khối lượng khổng lồ thời gian, nỗ lực và cả sự thất
bại trong tương lai
Sắp xếp thứ tự ưu tiên: Lập thứ tự ưu tiên cho công việc rất quan trọng Không
có nó, chúng ta có thể làm cật lực nhưng sẽ không đạt được những kết quả như mong muốn Bởi vì cái chúng ta đang làm không có tầm quan trọng chiến lược Để làm việc hiệu quả, chúng ta cần làm trước những việc quan trọng nhất Bằng cách này ta sẽ không phải gào thét khi công việc trở nên khẩn cấp, sắp tới hạn chót phải hoàn thành Để bắt đầu xác định ưu tiên cho công việc, chúng ta cần tìm hiểu về:
Bảng ghi chép hoạt động – thiết lập danh sách những việc ưu tiên – xác định ưu tiên theo các cấp độ
+ Những việc quan trọng và khẩn cấp
+ Những việc quan trọng nhưng không khẩn cấp
+ Những việc không quan trọng nhưng khẩn cấp
+ Những việc không quan trọng và không khẩn cấp
Chúng ta cần ưu tiên cho những công việc quan trọng và khẩn cấp trước, sau
đó mới đến những công việc quan trọng nhưng không khẩn cấp, cuối cùng mới đến
những công việc không quan trọng nhưng khẩn cấp và việc không quan trọng và
Trang 38không khẩn cấp
Vượt qua sự trì hoãn: “Công việc này để làm sau nhé” sau nhiều lần “Để làm
sau” lượng công việc dồn lại ngày càng nhiều và cuối cùng là không thể nào giải quyết được Sự trì hoãn giống như lời cám dỗ chết người Cách tốt nhất để đánh bại
nó là chúng ta phải nhận thức được rằng liệu chúng ta có thật sự cần phải trì hoãn công việc lại hay không, sau đó tìm ra lý do Một khi chúng ta biết được tại sao chúng ta hay trì hoãn công việc thì từ đó chúng ta có thể lập kế hoạch để đánh bại thói quen xấu này
sử dụng thời gian của chính mình Khi biết được mục tiêu và những việc thiết yếu
cần thực hiện Điều tiếp theo chúng ta phải làm là lập kế hoạch để đảm bảo luôn đi đúng hướng và giúp bạn tránh khỏi những áp lực công việc Chúng ta không những
phải lên kế hoạch nhiệm vụ với độ ưu tiên, mà còn phải dự tính trước cho những khoảng thời gian bị gián đoạn và bị sao nhãng do những việc xảy ra không nằm trong kế hoạch, nếu không chúng ta sẽ bị xáo trộn với kế hoạch của mình Bằng cách lên kế hoạch hợp lý hỗ trợ việc đạt được mục tiêu của mình, ta sẽ có sự kết
hợp đầy thuyết phục rằng: “Tôi sẽ kiểm soát được quỹ thời gian và giữ cho cuộc
sống của mình luôn cân bằng”
Như vậy, quản lý thời gian là kỹ năng thiết yếu giúp mọi người kiểm soát được công việc của mình, cũng như hạn chế tối đa stress do công việc gây ra Đặc
biệt là đối tượng sinh viên, những người sắp bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời,
cần có kỹ năng quản lý thời gian tốt để kiểm soát được mục tiêu và mục đích mà mình đã đặt ra Nếu biết cách quản lý tốt thời gian hiệu quả thì chắc chắn, sinh viên
sẽ từng bước đạt được những mục tiêu và mục đích của mình một cách dễ dàng
1.4.2 Kỹ năng giải quyết vấn đề
Khái niệm: Kỹ năng giải quyết vấn đề là sự giải quyết có kết quả những vấn
đề nảy sinh trong hoạt động hàng ngày của con người bằng cách tiến hành đúng đắn các thao tác, hành động trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm của chủ
thể [29]
Trang 39Để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, chúng ta cần thực hiện giải quyết vấn
đề theo từng bước sau đây:
Nhìn nh ận và phân tích
Trước khi cố tìm hướng giải quyết vấn đề, chúng ta nên xem xét kỹ đó có thật
sự là vấn đề đúng nghĩa hay không, bằng cách tự hỏi: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ?
hoặc giả sử như việc này không thực hiện được thì ? Chúng ta không nên lãng phí
thời gian và sức lực vào giải quyết nếu nó có khả năng tự biến mất hoặc không quan trọng
Không phải tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến ta đều do chính ta giải quyết
Nếu ta không có quyền hạn hay năng lực để giải quyết nó, cách tốt nhất là nên chuyển vấn đề đó sang cho người nào có thể giải quyết
Chưa hiểu rõ nguồn gốc của vấn đề sẽ dễ dẫn đến cách giải quyết sai lệch,
hoặc vấn đề cứ lặp đi lặp lại Nếu nói theo ngôn ngữ của y khoa, việc “Bắt không đúng bệnh” thì chỉ trị triệu chứng, chứ không trị được bệnh, đôi khi “Tiền mất, tật mang” Chúng ta cũng nên dành thời gian để lấy những thông tin cần thiết liên quan
vấn đề cần giải quyết, theo gợi ý sau: Mô tả ngắn gọn vấn đề Nó đã gây ra ảnh hưởng gì? Vấn đề xảy ra ở đâu? Lần đầu tiên nó được phát hiện ra là khi nào? Có gì đặc biệt hay khác biệt trong vấn đề này không?
Sau khi đã tìm hiểu được cội rễ của vấn đề, chúng ta sẽ đưa ra thật nhiều giải pháp để lựa chọn Yếu tố sáng tạo sẽ giúp cho chúng ta tìm được giải pháp đôi khi hơn cả mong đợi Cần lưu ý là một giải pháp tối ưu phải đáp ứng được ba yếu tố:
Có tác dụng khắc phục giải quyết vấn đề dài lâu, có tính khả thi, và có tính hiệu
quả
Khi chúng ta tin rằng mình đã hiểu được vấn đề và biết cách giải quyết nó, chúng ta có thể bắt tay vào hành động Để đảm bảo các giải pháp được thực thi hiệu
Trang 40quả, chúng ta cần phải xác định ai là người có liên quan, ai là người chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi giải pháp, thời gian để thực hiện là bao lâu, những nguồn lực sẵn có khác vv
Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, chúng ta cần kiểm tra xem cách
giải quyết đó có tốt không và có đưa tới những ảnh hưởng không mong đợi nào không Những bài học rút ra được ở khâu đánh giá này sẽ giúp chúng ta giảm được rất nhiều “Calori chất xám” và nguồn lực ở những vấn đề khác lần sau [29]
trong học tập và trong công việc Đối với sinh viên thì đây là một trong những kỹ năng đòi hỏi sinh viên phải nâng cao, bởi hiện nay hầu hết các nhà tuyển dụng trong các công ty, xí nghiệp đều rất chú trọng đến kỹ năng này và xem nó là tiêu chí để đánh giá năng lực làm việc của người lao động Bởi cuộc sống là một chuỗi những
vấn đề đòi hỏi con người luôn phải tìm cách giải quyết, mà không vấn đề nào giống
vấn đề nào và cũng không có một công thức chung nào để giải quyết mọi vấn đề Điều quan trọng là sinh viên phải tự trang bị cho mình những công cụ cần thiết, để khi vấn đề nảy sinh thì có thể vận dụng những kỹ năng sẵn có, để giải quyết vấn đề
đó một cách hiệu quả nhất
1.4.3 Kỹ năng quản lý cảm xúc
Khái niệm: Kỹ năng quản lý cảm xúc là khả năng con người tự nhận biết và tự điều khiển, điều chỉnh cảm xúc của bản thân nhằm duy trì trạng thái cân bằng của
cơ thể để tránh xảy ra những sai lầm đáng tiếc trong cuộc sống [13]
Cảm xúc của con người cũng có nhiều loại khác nhau, nhưng nhìn chung ta có
thể tạm phân làm hai loại cảm xúc trái ngược nhau đó là: Cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực
Trong phạm vi của đề tài, kỹ năng quản lý cảm xúc được xem xét ở góc độ quản lý cảm xúc tiêu cực
Như vậy cấu trúc của kỹ năng quản lý cảm xúc bao gồm: Khả năng nhận biết
cảm xúc và khả năng tự điều khiển cảm xúc [13]