1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan hệ việt nam ấn độ từ năm 1956 đến những năm đầu thế kỷ xxi

212 1,6K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo dự báo của một số tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giớiWB, Quỹ tiền tệ quốc tếIMF và theo đánh giá của nhiều công trình nghiên cứu thì trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, nền ki

Trang 1

- TRƯỜNG ĐHSP TP HỒ CHÍ MINH

ĐẾN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI”

( Đề tài khoa học cấp Trường, Mã số: CS 2009.19.56)

Chủ nhiệm đề tài:

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6- 2010

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Ý nghĩa đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8

3 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 13

4 Phương pháp nghiên cứu: 14

5 Nguồn tư liệu 14

6 Đóng góp của công trình 15

6 Bố cục 15

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TRƯỚC NĂM 1956 16

1.1 Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Việt Nam ở thời kỳ Cổ- Trung đại 16

1.2 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ ở thời kỳ Cận đại 19

1.3 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ 1945 đến năm 1956 21

Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TỪ 1956 ĐẾN 4-1975 28

2.1 Bối cảnh lịch sử 28

2.1.1 Tình hình thế giới 28

2.1.2 Tình hình Việt Nam 30

2.1.3 Tình hình Ấn Độ 31

2.2 Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ năm 1956 đến năm 1975 33

2.2.1 Quan hệ chính trị 33

2.2.2 Quan hệ kinh tế, văn hoá- khoa học kỹ thuật 36

Chương 3: QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TỪ 5- 1975 ĐẾN 7-1991 38

3.1 Bối cảnh lịch sử 38

2

Trang 3

3.1.1 Tình hình thế giới và khu vực 38

3.1.2 Tình hình Việt Nam, Ấn Độ 40

3.2 Quan hệ chính trị 43

3.2.1 Quan hệ giữa hai Nhà nước, Chính phủ 43

3.1.2 Quan hệ giữa Đảng Cộng sản, các tổ chức xã hội Việt Nam với các đảng phái hàng đầu và các tổ chức xã hội Ấn Độ 50

3.3 Quan hệ kinh tế 51

3.3.1 Q uan hệ thương mại 52

3.3.2 Quan hệ đầu tư 52

3.3.3 Sự giúp đỡ của Chính phủ Ấn Độ đối với Việt Nam 53

3.4 Quan hệ văn hoá và khoa học - kỹ thuật 53

3.4.1 Quan hệ văn hoá, giáo dục 53

3.4.2 Q uan hệ, hợp tác khoa học-kỹ thuật 55

Chương 4: QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TỪ 7-1991 ĐẾN NĂM 2000 58

4.1 Bối cảnh lịch sử 58

4.1.1 Tình hình thế giới 58

4.1.2 Tình hình Việt Nam, Ấn Độ 62

4.2.1 Quan hệ giữa hai Nhà nước, Chính phủ 70

4.2.2 Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với những đảng phái chính trị hàng đầu Ấn Độ 77

4.2.3 Quan hệ giữa các tổ chức chính trị- xã hội hai nước 81

4.3 Quan hệ kinh tế 82

4.3.1 Quan hệ thương mại 82

4.3.2 Quan hệ đầu tư 89

3

Trang 4

4.3.3 Sự giúp đỡ của Ấn Độ đối với Việt Nam 91

4.4 Quan hệ văn hoá, khoa học- kỷ thuật 92

4.4.1 Quan hệ văn hóa- giáo dục 93

4.4 2 Quan hệ khoa học - kỹ thuật 98

4.5 Quan hệ an ninh- quốc phòng 104

Chương 5: QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2009 109

5.1 Bối cảnh lịch sử 109

5.1 1 Nhiều cường quốc vươn lên mạnh mẽ về kinh tế và chính trị 109

5.1 2 Chính sách của Trung Quốc, Nhật Bản trong việc đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam 111

5.1.3 Chính sách “hướng Đông” được đẩy mạnh 114

5.1.4 Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 116

5.1.5 Tình hình Việt Nam, Ấn Độ 116

5.2 Quan hệ chính trị 117

5.2.1 Quan hệ giữa hai Nhà nước, Chính phủ 117

5.2 2 Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với những đảng phái chính trị hàng đầu Ấn Độ 123

5.3 Quan hệ kinh tế 125

5.3.1 Động lực mới của quan hệ kinh tế Việt Nam-Ấn Độ 125

5.3.2 Quan hệ thương mại 127

5.3 3 Đầu tư trực tiếp 130

5.4 Quan hệ văn hóa, khoa học- kỷ thuật 132

5.4.1 Quan hệ văn hóa, giáo dục 132

5.4.2 Quan hệ khoa học- kỷ thuật 140

4

Trang 5

5.5 Quan hệ an ninh, quốc phòng 141

Chương 6: ĐẶC ĐIỂM, THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM; CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ 146

6.1 Đặc điểm của quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1956 đến những năm đầu thế kỷ XXI 146 6.1.1 Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1956 đến những năm đầu thế kỷ XXI được kế thừa mối quan hệ lâu đời và hữu nghị 146

6.1.2 Là mối quan hệ giữa hai nước có nhiều điểm tương đồng và khác biệt 146

6.1.3 Qua n hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1956 đến những năm đầu thế kỷ XXI diễn ra trong tình hình thế giới, khu vực và ở mỗi nước đầy những biến động, phức tạp 147

6.1.4 Do sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, chính sách đối ngoại của mỗi nước, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1956 đến những năm đầu thế kỷ XXI diễn biến với những bước thăng trầm, nhưng nhìn tổng thể, mối quan hệ này phát triển theo xu hướng này càng tốt đẹp, toàn diện 147

6.1 5 Trong các quan hệ, quan hệ chính trị chiếm vị trí nổi bật và có tác dụng mở đường cho các quan hệ khác phát triển 147

6.2 Thà nh tựu 148

6.3 Bài học kinh nghieäm 151

6.3 Cơ hội, thách thức và triển vọng của quan hệ Việt Nam-Ấn Độ 154

KẾT LUẬN 159

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

PHẦN PHỤ LỤC 169

Phụ lục 1 169

Phụ lục 2 170

PHỤ LỤC 3 176

Phụ lục 4 179

5

Trang 6

Phụ lục 5 183

NHỮNG BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 208

6

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa đề tài

Cộng hòa Ấn Độ ngày nay là một quốc gia lớn ở Nam Á (có diện tích là 3.287,590 km2

, đứng thứ 7 thế giới) với dân số đông hàng thứ hai thế giới - hơn 1095, 351 triệu người (7/2006), có lịch sử lâu đời và là một trong những trung tâm văn minh lớn của thế giới thời kỳ Cổ - Trung đại

Từ khi giành được độc lập (8- 1947) và thành lập nước Cộng hòa ( 1-1950) đến nay, với đường lối xây dựng đất nước độc lập, tự chủ và sáng tạo, với ý chí tự cường mạnh mẽ, Cộng hoà Ấn Độ đã thu được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Ngày nay, Ấn Độ được xếp vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới với nhiều ngành khoa học-công nghệ ngang hàng với các nước công nghiệp phát triển, như: nghiên cứu vũ trụ, năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin…Nhiều

dự báo rất khả quan về triển vọng của Ấn Độ Theo dự báo của một số tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới(WB), Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF) và theo đánh giá của nhiều công trình nghiên cứu thì trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, nền kinh tế Ấn Độ sẽ có những biến đổi nhanh và mạnh hơn trước, Ấn Độ có khả năng trở thành một trong bốn nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP đạt gần 30.000 tỷ USD, vượt Nhật Bản, chỉ đứng sau Trung Quốc và Mỹ1

Thi hành chính sách đối ngoại giàu tính nhân văn là hoà bình, độc lập, không liên kết, chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình, ủng hộ phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, hoà bình và tiến bộ, quan hệ hữu nghị với các nước, đa dạng hoá quan

hệ, chú trọng cải thiện quan hệ với các nước láng giềng; Ấn Độ có vai trò và uy tín cao trong Phong trào không liên kết, Tổ chức Liên Hợp Quốc cũng như trong khu vực và trên thế giới,

có vai trò và cống hiến quan trọng vào việc bảo vệ hoà bình, an ninh của khu vực và trên thế

1 Đỗ Đức Định, Kinh tế Ấn Độ 20 năm đầu thế kỷ XXI, trong sách Cục diện kinh tế thế giới hai thâp niên đầu thế kỷ XXI, NXB.Thế giới, H.2005- PGS.TS Lê Văn Sang chủ biên, tr.671

7

Trang 8

giới Ấn Độ đang vận động để trở thành ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khi tổ chức thế giới lớn nhất hành tinh này mở rộng

Việt Nam và Ấn Độ là hai nước có lịch sử lâu đời, cùng ở châu á, có nhiều nét tương đồng và gần gũi về lịch sử, văn hoá cũng như quan điểm về những vấn đề quan trọng của khu vực và quốc tế, có quan hệ hữu nghị lâu đời và sâu đậm Từ mối quan hệ truyền thống hữu nghị và lâu đời đó, bước sang thời kỳ hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh, M.Gandi, J Nehru cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước đã không ngừng dày công vun đắp làm cho quan hệ hai nước ngày càng phát triển, đơm hoa kết trái, trở thành mối quan hệ toàn diện, chiến lược Đây là thành quả và sức mạnh to lớn của hai dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Vào thời kỳ đổi mới đất nước, trong khi thực hiện đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong công đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn luôn coi trọng phát triển quan hệ với Ấn Độ, coi Ấn Độ

là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình Từ 7- 2007, Việt Nam và Ấn

Độ đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, là nước thứ hai Việt Nam thiết lập quan hệ chiến lược ( sau CHLB Nga)

Với sự quý trọng đất nước và con người Ấn Độ, sự thu hút của mối quan hệ Việt Nam –

Ấn Độ, góp phần vào việc tìm hiểu lĩnh vực này; đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu tham khảo của học viên cao học Lịch sử, sinh viên ngành Lịch sử, Quốc tế học của Trường ĐHSP TP Hồ

chí Minh và những người khác quan tâm về lĩnh vực này, chúng tôi chọn đề tài “Quan hệ Việt

Nam – Ấn Độ từ năm 1956 đến những năm đầu thế kỷ XXI” làm đề tài nghiên cứu khoa

học cấp Trường của mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay, lịch sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu Sau đây, chúng tôi sẽ điểm qua một số công trình, luận

án, luận văn, bài viết tiêu biểu về quan hệ Việt Nam- Ấn Độ từ 1956 đến nay

a Những công trình của tác giả trong và ngoài nước viết về lịch sử Ấn Độ và quan

8

Trang 9

hệ Việt Nam-Ấn Độ:

- Sar Desai D.R : Indian Foreign Policy in Cambodia, Laos and Vietnam 1947-1964 (Chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Campuchia, Lào và Việt Nam (1947- 1964) xuất bản năm 1968 ở Ấn Độ Cuốn sách đã đề cập đến những nội dung chính như: Vai trò của Ấn Độ đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Dương; thái độ của Ấn Độ đối với việc chia cắt đất nước Việt Nam (1954-1958); cuộc xung đột Trung Quốc - Ấn Độ và quan hệ Ấn Độ -Việt Nam

- Vũ Dương Ninh (chủ biên) (1995): Lịch sử Ấn Độ Nxb Giáo dục, Hà Nội Nội dung chủ yếu của công trình là nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ nên quan hệ Việt Nam - Ấn Độ chỉ được trình bày một cách khái quát từ khi hai nước có quan hệ đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX

- Cao Xuân Phổ, Trần Thị Lý (chủ biên),(1997): Ấn Độ xưa và nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Nội dung của công trình là giới thiệu một cách khái quát về đất nước, con người, lịch sử và văn hóa Ấn Độ xưa và nay Trong phần thứ tư, chương II (từ trang 303 - 348), các tác giả trình bày khái quát về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ đầu cho đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX

- T.N Kaun: India, China and Indochina (Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Dương), xuất bản năm 1980 tại Ấn Độ Tác giả của cuốn sách là nhà hoạt động chính trị - xã hội nổi tiếng, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Dương của Ấn Độ Trong công trình này, tác giả đã phê phán Trung Quốc trong việc ủng hộ, giúp đỡ thế lực Pôn Pốt tiến hành xâm lược Việt Nam và trực tiếp đem quân đánh Việt Nam vào đầu năm 1979

- Reports on Indochina (Các báo cáo về Đông Dương) Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Ấn Độ, được xuất bản năm 1983 bằng tiếng Anh Các tác giả cho rằng, sự căng thẳng ở khu vực Đông Nam Ánói chung, Đông Dương nói riêng là do sự can thiệp của những thế lực bên ngoài Các tác giả đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị lâu đời giữa Ấn Độ với các nước Đông Dương nói chung và với Việt Nam nói riêng, đồng thời khẳng định khả năng to lớn trong việc phát triển quan hệ của Ấn Độ với Việt Nam và Đông Dương

9

Trang 10

- Đatt V.P.: Chính sách đối ngoại của Ấn Độ Tác giả cuốn sách là người Ấn Độ, được xuất bản bằng tiếng Nga năm 1988 tại Mátxcơva, Liên Xô (nay là Cộng hoà liên bang Nga) Trong phần: “Ấn Độ - Việt Nam - quan hệ không ngừng củng cố và phát triển” và “Ấn Độ, Việt Nam và ASEAN”, tác giả đã điểm qua về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ Khi đề cập đến quan hệ hai nước từ 1975-1988, tác giả nhấn mạnh đến chuyến thăm Việt Nam vào tháng 11-

1985 của Thủ tướng R Gandhi và cho rằng: kết quả tốt đẹp của chuyến thăm này đã đưa quan

hệ hai nước phát triển thêm một bước mới Tác giả đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong việc gìn giữ hoà bình, ổn định ở Đông Dương và Đông Nam Á Đồng thời, tác giả cũng ủng hộ quan điểm của Việt Nam trong vấn đề Campuchia ( 1979-1991)

- T.N Kaun: India and Indochina (Ấn Độ và Đông Dương), xuất bản năm 1989 ở Mátxcơva Cuốn sách đã đề cập đến một vấn đề rất nóng bỏng của khu vực lúc bấy giờ là vấn

đề Campuchia Tác giả cho rằng: sự có mặt của quân đội Việt Nam ở Campuchia trong những năm 80 là hợp pháp và cần thiết, bởi vì quân đội Việt Nam đến Campuchia là theo yêu cầu và nguyện vọng của Chính phủ và nhân dân nước này Đồng thời, theo tác giả, Việt Nam đã giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng, đem lại hoà bình cho Campuchia

- T.G Giaxốp- nhà nghiên cứu Xô- Viết nổi tiếng, là tỏc giả của nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về chớnh sỏch đối ngoại của Cộng hũa Ấn Độ đối với Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó tiêu biểu là công trỡnh “Cuộc đấu tranh của Ấn Độ vì tự do và độc lập của các nước Đông Dương”, xuất bản năm 1991 bằng tiếng Nga tại Taskent, nước Cộng hoà

Xã hội chủ nghĩa Xô- Viết Uzơbêkistan - Liên Xô (nay là Cộng hoà Uzơbêkistan thuộc Cộng đồng các quốc gia Độc lập - SNG) Trong công trình này, tác giả đã trình bày khá cụ thể về sự ủng hộ của Ấn Độ đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam; làm rõ quan điểm của các đảng phái chính trị Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, nêu bật cuộc đấu tranh của các lực lượng tiến bộ Ấn Độ trong việc phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam

- Trần Thị Lý (chủ biên), (2002): Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ

1991-2000, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Cuốn sách phân tích những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự điều chỉnh chính sách kinh tế và đối ngoại của Cộng hoà Ấn Độ

b Những luận văn, luận án về quan hệ Việt Nam-Ấn Độ

10

Trang 11

Theo chúng tôi được biết, từ trước đến nay, có một số luận văn, luận án nghiên cứu về quan hệ Việt Nam-Ấn Độ đề cập đến khoảng thời gian mà đề tài này quan tâm như sau:

- Đinh Trung Kiên ( 1993): Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1945- 1975, Luận án Phó Tiến

sĩ, Hà Nội Luận án trình bày một cách hệ thống về quan hệ Việt Nam-Ấn Độ trong 30 năm; trong đó tập trung trình bày về các mối quan hệ chính trị, ngoại giao, còn các mối quan hệ về kinh tế, văn hóa chỉ được đề cập ở một mức độ nhất định

- Nguyễn Công Khanh (1990): Quan hệ chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hoá Việt Nam- Ấn Độ từ 1976-1988 (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Taskent - Tiếng Nga) Luận án trình bày tương đối hệ thống về quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, khoa học-kỹ thuật, quan hệ văn hoá Việt Nam - Ấn Độ trong thời kỳ từ năm 1976 đến năm 1988

-Hoàng thị Điệp (2006): Quá trình phát triển của quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1986-2004, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Viện Sử học Luận án có ba nội dung chính:

Ở nội dung thư nhất, với tiêu đề : Kh¸i qu¸t quan hÖ ViÖt Nam - Ấn §é tr-íc n¨m 1986, tác giả đi vào trình bày mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Ấn Độ trong lịch sử, hai nước cùng tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập, sự đồng tình ủng hộ của Ấn

Độ đối với cuộc kháng chiến cứu nước của Việt Nam, sự đồng tình ủng hộ của Việt Nam đối với công cuộc kiến thiết và đường lối hoà bình trung lập của Ấn Độ

Trong nội dung thứ hai: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ 1986 – 2004, tác giả đi vào trình bày những vấn đề chính như: sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam và Ấn Độ từ giữa thập niên 80; quan hệ chính trị, ngoại giao và hợp tác an ninh - quốc phòng; hợp tác kinh

tế và khoa học - kỹ thuật; hợp tác văn hoá và giáo dục - đào tạo giữa hai nước từ năm

1986-2004

Ở nội dung thứ ba tác giả tập trung phân tích những thuận lợi, khó khăn, thành tựu và triển vọng của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đồng thời nêu lên một số kiến nghị nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hai nước

-Nguyễn Thị Phương Hảo (2005 ): Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ 1991-2000, Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH KHXH & NV TP Hồ Chí Minh

11

Trang 12

Luận văn sau khi trình bày một cách khái quát về quan hệ Việt Nam-Ấn Độ trước 1991 đã

đi sâu vào trình bày quan hệ Việt Nam-Ấn Độ trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn khoa học kỷ thuật, an ninh-quốc phòng từ 1991 đến 2001

hóa-c Những bài viết đăng trên các tạp chí khoa học về quan hệ Việt Nam-Ấn Độ

Những bài viết này đề cập đến quan hệ Việt Nam - Ấn Độ ở các giai đoạn và mức độ đậm nhạt khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu Đó là:

- Vũ Dương Ninh (1987), Việt Nam - Ấn Độ trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 + 6

- Đỗ Thanh Bình (1993), Lập trường của các đảng phái chính trị Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, Thông báo khoa học của các trường Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, số 1

- Vũ Dương Huân: Thực trạng và triển vọng quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống

Việt Nam - Ấn Độ, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 43 (2002)

-Đặng Ngọc Hùng: Việt Nam – Ấn Độ: Hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học công nghệ; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á; số 6-2001; Tr.2001

-Đỗ Thu Hà: Quan hệ Việt Nam – Ấn Độ trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục những năm gần đây; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á; số 6-2001

-Nguyễn Huy Hoàng: Nhìn lại 30 năm quan hệ kinh tế Việt Nam – Ấn Độ; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á; số 6-2001

- Phạm Quyết Thắng: Quan hệ Việt Nam – Ấn Độ trong thập kỷ 90, thế kỷ XX; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á; số 6-2001

-Vũ Dương Huân: Thực trạng và triển vọng quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống Việt Nam - Ấn Độ, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 43 (2002)

- Nguyễn Cảnh Huệ , tác giả của công trình này cũng đã công bố trên Tạp chí chuyên ngành, Kỷ yếu Hội thảo khoa học một số bài viết liên quan đến đề tài này như: Quan hệ chính trị Việt Nam - Ấn Độ (1975-1996), Tạp chí Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, số 38(1998); Vài nét về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (2004);

12

Trang 13

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1945 đến nay: Thành tựu, kinh nghiệm và vấn đề đặt ra, Tạp chớ Nghiờn cứu Lịch sử, số 7-2007; Bước phỏt triển mới của quan hệ Việt Nam- Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XXI; Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ III, Hà Nội, 12-2008

Như vậy, điểm qua lịch sử nghiờn cứu về vấn đề này cho thấy, từ trước đến nay, ở trong

và ngoài nước đó cú một số nhà nghiờn cứu tỡm hiểu về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ; nhưng, cú thể do mục đớch, nhu cầu nghiờn cứu, họ chỉ đề cập đến giai đoạn này hay giai đoạn khỏc, khớa cạnh này hay khớa cạnh khỏc của mối quan hệ mà chưa cú một cụng trỡnh nào nghiờn cứu một cỏch hệ thống, toàn diện và cụ thể về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ năm 1956 đến nay Những cụng trỡnh nghiờn cứu trờn đõy đó giỳp chỳng tụi rất nhiều về mặt tư liệu cũng như một số nhận định Chỳng tụi xin bày tỏ lũng cảm ơn đối với tỏc giả của những cụng trỡnh nghiờn cứu trờn đõy

3 Giới hạn, phạm vi nghiờn cứu

- Về mặt thời gian, thời gian được xỏc định là từ 1956 đến năm 2009 Sở dĩ chỳng tụi lấy năm 1956 làm mốc mở đầu cho cụng trỡnh nghiờn cứu vỡ đõy là năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Tổng lónh sự quỏn ; cũn năm kết thỳc là năm 2009- năm hết hạn đăng ký đề tài này

-Về mặt khụng gian, được giới hạn chủ yếu là ở Việt Nam và Ấn Độ

- Về mặt nội dung, tỡm hiểu quan hệ hai nước trờn cỏc lĩnh vực: chớnh trị, kinh tế, văn hoỏ, khoa học-kỹ thuật Tuy nhiờn, mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ thời kỳ này là sự kết thừa quan

hệ hai nước trước đú cũng như sự tỏc động của những nhõn tố từ tỡnh hỡnh thế giới và khu vực nờn chỳng tụi mở rộng sự nghiờn cứu quan hệ hai nước trước năm 1956 cũng như một số vấn

đề từ tỡnh hỡnh thế giới và khu vực cú tỏc động, chi phối đến quan hệ hai nước trong thời kỳ này

Vỡ hạn chế về mặt thời gian và ở trong khuụn khổ một đề tài cấp trường, chỳng tụi chỉ nghiờn cứu quan hệ giữa nước Việt Nam dõn chủ cộng hũa, từ năm 1976 là nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước đại diện cho dõn tộc Việt Nam với Cộng hũa Ấn Độ; cũn

13

Trang 14

quan hệ giữa Ấn Độ với Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn tồn tại từ 1954-1975), chúng tôi xin được không đề cập trong công trình này

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Về cơ sở phương pháp luận, chúng tôi dựa vào quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét, đánh giá vấn đề cũng như đánh giá tư liệu; nhìn nhận các sự kiện lịch sử trong mối quan hệ biện chứng

- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, chúng tôi sử dụng các phương pháp: lịch sử, logic,

so sánh, liên ngành, quan hệ quốc tế, định lượng, phân tích- tổng hợp

5 Nguồn tư liệu

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu chính sau đây:

- Văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam có liên quan đến quan hệ giữa hai nước; tư liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam; Tuyên bố chung, các bài phát biểu trả lời phỏng vấn của các nhà lãnh đạo hai nước được công bố trên báo chí Đây là nguồn tài liệu gốc Nguồn tài liệu này phong phú, có ý nghĩa rất quan trọng đối với chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài

- Các công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu Việt Nam, Ấn Độ, Liên Xô có liên quan đến đề tài được công bố trên các sách, tạp chí, báo, kỷ yếu các cuộc Hội thảo khoa học về quan hệ hai nước bằng tiếng Việt, Anh, Nga Nguồn tài liệu này cũng khá phong phú

Nó có ý nghĩa quan trọng, không chỉ cung cấp tư liệu mà còn gợi mở nhiều vấn dề để chúng tôi

đi sâu nghiên cứu

- Các luận án, luận văn nghiên cứu về quan hệ Việt Nam-Ấn Độ Đây là nguồn tư liệu mà chúng tôi không chỉ kế thừa một nguồn tư liệu phong phú, tin cậy mà còn cả những nhận định khoa học

- Báo chí ở Việt Nam (Bản tin TTXNN, Báo Nhân dân, Quốc tế…)

- Tư liệu trên internét ( trang Web Bộ Ngoại giao Việt Nam) Nguồn tư liệu này cũng khá phong phú

14

Trang 15

6 Đóng góp của công trình

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và tư liệu có chọn lọc thu thập được từ nhiều nguồn, công trình này có một số đóng góp chính sau đây:

1 Dựng lại một cách hệ thống, toàn diện, cụ thể, chân thực về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

từ năm 1956 đến những năm đầu thế kỷ XXI

2.Những nhận xét, kết luận được rút ra, có thể góp phần giúp các cơ quan chức năng tham khảo trong việc đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước

3 Kết quả nghiên cứu và tư liệu thu thập được có thể dùng làm tài liệu tham khảo về quan

hệ Việt Nam - Ấn Độ nói riêng và quan hệ quốc tế thời kỳ hiện đại của Việt Nam nói chung đối với sinh viên, học viên cao học ngành Lịch sử, Quốc tế học, Đông phương học… của trong

và ngoài trường cũng như đối với những người hoạt động liên quan đến lĩnh vực quan hệ Việt Nam-Ấn Độ

6 Bố cục

Luận văn ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; có 6 chương:

Chương I: Khái quát về quan hệ Việt Nam-Ấn Độ trước năm 1956

Chương II: Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1956 đến 1975

Chương III: Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 1975 đến 7- 1991

Chương IV: Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ từ 7- 1991 đến năm 2000

Chương V: Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI

Chương VI: Đặc điểm, thành tựu và kinh nghiệm; cơ hội, thách thức và triển vọng của quan hệ Việt Nam- Ấn Độ

15

Trang 16

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TRƯỚC

NĂM 1956

1.1 Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Việt Nam ở thời kỳ Cổ- Trung đại

Với những ưu thế của mình về lịch sử, văn hóa mà từ rất sớm nền văn hóa của Ấn Độ đã ảnh hưởng, lan tỏa tới nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước láng giềng Đông Nam á, trong

đó có Việt Nam Các mối giao lưu thương mại và văn hoá- tôn giáo giữa Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Ánói chung và Việt Nam nói riêng đã có từ lâu đời- cách đây hàng ngàn năm, thông qua việc các nhà buôn, nhà truyền giáo Ấn Độ Khu vực Đông Nam Áchịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hoá Ấn Độ trên các lĩnh vực: Triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, ngôn ngữ

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sự giao lưu về kinh tế, văn hoá- tôn giáo giữa Việt Nam

và Ấn Độ được bắt đầu từ rất sớm- từ những thế kỷ đầu Công nguyên Văn hoá của Ấn Độ đã xâm nhập vào nước ta một cách hoà bình và để lại dấu tích đậm nét ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam Việt Nam

Ở miền Bắc, một trung tâm Phật giáo là Luy Lâu của xứ Kinh Bắc, còn gọi là Liên Lâu, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã xuất hiện từ trước khi đạo Phật được truyền bá vào Trung Quốc Vào thời Sĩ Nhiếp, khoảng năm 168-169 sau Công nguyên, hai nhà sư Ấn Độ

là Ma-ha-kỳ-vực (tiếng Phạn là Mahajivaka) và Khâu-đà-la (Kssudra) đã đến Luy Lâu dịch kinh và giảng đạo Phật “Trung tâm Phật giao Luy Lâu được thiết lập do sự viếng thăm của thương gia và tăng sĩ Ấn Độ tới bằng đường biển Đạo Phật tại Giao Châu là từ Ấn Độ truyền sang trực tiếp, không phải từ Trung Quốc truyền xuống” 2

Đến thời kỳ phong kiến độc lập, nhất là vào thời Lý, thời Trần, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần của người Việt Phật giáo lúc này được coi là Quốc giáo Hầu hết các vua Lý và nhiều vua Trần đều tôn sùng đạo Phật, sai dựng chùa, tháp, tô tượng đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật… Nhiều quý tộc tôn thất đã quy Phật, như Hoàng hậu Ỷ Lan, Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung Khắp nơi, nhiều chùa chiền đã

2 Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I; NXB Văn học; H.1992; tr.23,19

16

Trang 17

được xõy dựng như chựa Diờn Hựu (Một Cột), Phật Tớch, Long Đọi, Bỏo Thiờn Thời bấy giờ, đụng đảo quần chỳng bỡnh dõn trong làng đó nụ nức theo đạo Phật Lờ Quỏt sống vào cuối đời Trần nhận xột : “ Từ trong kinh thành cho đến ngoài chõu, phủ, kể cả những nơi thụn cựng ngừ hẻm, khụng bảo người mà người cứ theo, khụng hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào cú nhà ở là

ắt cú chựa chiền…Dõn chỳng quỏ nửa nước là sư…” Ở thời Lý và thời Trần cú rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, cú uy tớn và địa vị chớnh trị-xó hội Cú thể kể cỏc nhà sư như: Vạn Hạnh, Món Giỏc, Viờn Thụng, Từ Đạo Hạnh Nhà nước Lý- Trần chuộng đạo Phật, trong bối cảnh của sự khoan dung, hoà hợp tụn giỏo “Tam giỏo đồng nguyờn”, chủ yếu là sự kết hợp giữa Phật và Nho, giữa giỏo lý và thực tiễn cuộc sống Trần Thỏi Tụng núi : “Đạo giỏo của đức Phật là để mở lũng mờ muội, là con đường tỏ rừ lẽ tử sinh Cũn trỏch nhiệm nặng nề của tiờn thỏnh là đặt mực thước cho tương lai, nờu khuụn phộp cho hậu thế” Trần Nhõn Tụng thỡ chủ trương “Sống với đời, vui với đạo” Đạo Phật thời Lý- Trần đó ảnh hưởng đến đường lối cai trị của nhà nước (chớnh sỏch thõn dõn, khoan dung), là đối trọng với Nho giỏo, tạo nờn thế cõn bằng tụn giỏo3

Đến thời Lê (cả nhà Mạc nữa) đối với nhà nước thỡ Nho gớao là quốc giỏo, cũn trong dõn gian, Phật giỏo vẫn rất phỏt triển Nguyờn nhõn của tỡnh hỡnh này là do chiến tranh loạn lạc, mọi người kể cả tầng lớp thống trị và bị trị đều đi tỡm liều thuốc an thần ở Phật giỏo Thời Trịnh Nguyễn, Phật giỏo cũng được chỳ ý: nhiều chựa chiền được xõy dựng, trựng tu Từ nhà Nguyễn về sau, dự khụng ủng hộ Phật giỏo và dựng Nho làm quốc giỏo, song Phật giỏo vẫn tồn tại trong thực tế 4 Trờn địa bàn miền Trung, miền Nam, ảnh hưởng của văn húa- tụn giỏo Ấn

Độ cú từ sớm và càng đậm nột

Chữ viết của Ấn Độ (chữ Sanskrit) được truyền sớm vào miền Trung nước ta Hỡnh thức

phổ biến là nú được lưu lại trờn cỏc tấm bia

Bia vào loại sớm nhất là bia Vừ Cạnh ở Nha Trang, ở nam Chăm -pa, cú niờn đại vào khoảng thế kỷ III Đõy là một tấm bia khổng lồ, cao 2m50, khắc chữ trờn hai mặt liờn, dài

3 Xem Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biờn): Tiến trỡnh lịch sử Việt Nam; NXB Giỏo dục; 2000; tr.96-97

4 Nguyễn Cụng Khanh: Ảnh hưởng văn minh ấn Độ đối với các nước quốc gia Đông Nam á trong Lịch sử, chuyờn đề cao học, ĐH Vinh

17

Trang 18

khoảng 15 dòng, mỗi dòng có 506 chữ khoảng 30 âm tiết, chữ cổ, văn cổ song đã khá hoàn chỉnh, cho biết về một triều vua Sri Mara, tôn thờ Hidu giáo 5

Di chỉ văn hóa Óc Eo (An Giang) là đô thị cổ của nước Phù Nam, một trong những ví dụ điển hình về ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với vùng đất phía Nam nước ta Ở đây đã phát hiện được một chiếc gương đồng thời Hán (Trung Quốc), hai huy chương Rôma thế kỷ thứ II,

36 mãnh kim loại (bạc đồng thiếc) và viên mã não khắc chữ Sankrist, Brahmi (chữ cổ Ấn Độ phổ biến trước Sanskrit) cùng với khá nhiều tượng thần, Phật có nguồn gốc Ấn Độ, hàng trăm mãnh vàng bạc, thiếc khắc hình tượng trưng Phật, thần Hindu giáo Những chữ này khắc trên các vật như nhẫn, con dấu ( chữ chìm hoặc nổi) dùng làm chứng cứ xác thực trong giao dịch, buôn bán, hoặc là một lời tâm nguyện muốn bày tỏ cùng thần, Phật, Om ( kính cẩn), Deva (thần thánh), Yastavyam ( hiến lễ), Dayadanam( biếu tặng) 6

Cũng trên địa bàn nước Phù Nam xưa, đã phát hiện được 4 bia, gọi là bia Phù Nam, được đoán định có niên đại khoảng thế kỷ V Ở đây, chữ viết và văn chương Sanskrit thể hiện hơi muộn hơn một chút song lại phong phú hơn về chữ viết và văn chương so với các minh văn có trước Một trong 4 bia này là bia Tháp Mười còn gọi là bia Hoàng tử Guavarman, tìm thấy ở Đồng Tháp Mười, là một bia lớn, có 12 khổ thơ, gồm 24 dòng, mỗi dòng có khoảng 6 chữ, với khoảng 30 âm tiết, kể về hoàng tử Guavarman “đức độ, sung kính, khoáng đạt, có bước đi của Vikrami(thần Visnu- chinh phục thế giới) đã xây một ngôi đền trên đầm lầy”7

Tại miền Trung, có nhiều pho tượng thần Vishnu là thần Lashmi bằng đá có niên đại tương tự được trưng bày tại Bảo tàng văn hoá Chăm, thành phố Đà Nẵng Có thể nói, tiêu biểu cho sự ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ tại miền Trung là những Tháp Chàm, hiện nằm rải rác dọc các tỉnh duyên hải và và đặc biệt là khu Thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ

5 Lương Ninh: Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa Đông Nam Á, trong sách: Một số chuyên đề Lịch sử Thế giới(Tập II), NXB.ĐHQG HN, 2008 tr.19

6 Lương Ninh, Sđd.; tr.20

7 Lương Ninh, Sđd; tr.19

18

Trang 19

thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa

Giới khoa học Việt Nam cũng đã phát hiện được một di chỉ văn hoá lớn mang đậm ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ là di chỉ Cát Tiên thuộc huyện Cát Tiên (tỉnh Lâm Đồng) Di chỉ này được dự đoán là một khu Thánh Địa

Có thể nói, tiêu biểu cho ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở miền Bắc là hệ thống chùa chiền tôn nghiêm và rất đặc sắc về kiến trúc thì ở miền Trung là hệ thống Tháp Chàm và nhất

là khu Thánh địa Mỹ Sơn nổi tiếng

Như vậy, sự giao lưu kinh tế-văn hoá giữa Việt Nam và Ấn Độ cũng như ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với nước ta đã diễn ra từ rất sớm và quá trình trao đổi đó đã không phải chỉ diễn ra một lần mà liên tục trong thời gian dài với nhiều giai đoạn và địa bàn khác nhau, từ đầu Công nguyên cho đến cuối thời Trần ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam Càng vào phía Nam, ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ càng đậm nét Nguyên nhân chính của điều này, có thể là

do khi văn hoá Ấn Độ vào Việt Nam thì ở phía Bắc nước ta, chính quyền phương Bắc đã đặt xong ách thống trị và ráo riết thi hành chính sách đồng hoá văn hoá Trung Quốc

Nhìn tổng thể, văn hoá Ấn Độ du nhập vào nước ta với một quá trình lâu dài và do bằng con đường hoà bình cũng như có nhiều nét tương đồng với phong tục, tín ngưỡng người Việt nên nó đã thấm vào tâm hồn, tính cách, văn hoá người Việt, tạo thành một bộ phận không thể tách rời của văn hoá Việt Nam Tác động tích cực của văn hoá Ấn Độ đối với nước ta thời kỳ này còn là làm giảm bớt áp lực đồng hóa mang tính cưỡng bức của văn hoá Trung Quốc, là nhân tố khách quan góp phần giúp dân tộc ta đứng vững, không bị đồng hoá bởi văn hoá Trung Quốc

1.2 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ ở thời kỳ Cận đại

Bước sang thời kỳ Cận đại, trước xu thế bành trướng xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây, trong khi cả Việt Nam và Ấn Độ đang đắm chìm trong cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến, trở thành mục tiêu xâm lược của các cường quốc thực dân phương Tây và đều rơi vào ách thống trị của chúng; cùng phải tiến hành cuộc đấu tranh gian khổ để giành độc lập tự do, tuy cuộc đấu tranh ở mỗi nước có những sắc thái khác nhau

19

Trang 20

Do cùng cảnh ngộ, những lãnh tụ và nhân dân hai nước dễ dàng thông cảm và xích lại gần nhau Các sĩ phu yêu nước của Việt Nam đầu thế kỷ XX đã thành lập Tổ chức Đông Á Đồng minh và Chấn Hoa hưng Á nhằm liên kết các chí sĩ yêu nước trong vùng để ủng hộ, giúp

đỡ nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng Phan Bội Châu đã viết bài giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của Mahatma Gandhi, ca ngợi cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ để khích lệ, cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp Chính cùng cảnh ngộ và cùng mục tiêu đấu tranh để giải phóng dân tộc đã làm cho các nhà yêu nước Việt Nam và Ấn

Độ là Motilal Nehru và Nguyễn Ái Quốc cùng hoạt động trong " Hội những người bị áp bức’’ Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã gặp Păngđi Motilal Nehru tại cuộc Hội nghị Quốc tế chống chủ nghĩa thực dân ở Brúcxen (Bỉ) Cuộc gặp gỡ giữa hai nhà yêu nước, hai con người tiêu biểu cùng mục tiêu, lý tưởng chống thực dân, gành độc lập cho dân tộc của hai dân tộc Việt Nam

và Ấn Độ đã mở đầu cho tình bạn thân thiết của hai nhà yêu nước và cũng có thể nói, mở đầu cho một thời kỳ phát triển mới của quan hệ hai nước Năm 1942-1943, khi bị giam giữ trong nhà lao của Tưởng Giới Thạch, biết tin Jawaharlal Nehru (con trai của Motilal Nehru, sau này

là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hoà Ấn Độ) cũng đang bị giam cầm, Hồ Chí Minh đã gửi tới J.Nehru những vần thơ rất cảm động với những câu: ‘’Muôn dặm xa vời chưa gặp mặt Không lời mà vẫn cảm thông nhau…’’ Trong trái tim Người, nhân dân Ấn Độ có một vị trí đặc biệt và vì thế cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân Ấn Độ từ những thập niên đầu thế kỷ XX đã xuất hiện trong nhiều bài viết của Người Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài báo nói về cuộc sống cơ cực của người dân lao động Ấn Độ cũng như lên án đanh thép sự tàn bạo của thực dân Anh đối với nhân dân nước này như các bài: Phong trào cách mạng ở Ấn Độ;

“Lối cai trị của người Anh’’ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Xu Đăng; Phong trào công nhân Ấn Độ; Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ… Những bài viết của Người đều thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đất nước và con người Ấn Độ, thấm đượm tính nhân văn và tinh thần quốc tế cao cả Năm 1939, nhà thơ vĩ đại và là đại văn hào nổi tiếng của Ấn Độ Rabindranath Tagore đến thăm Việt Nam 8

Trang 21

Những trình bày ở trên phần nào cho thấy, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có truyền thống hữu nghị lâu đời và đó là tài sản quý báu của hai dân tộc và cũng là cơ sở vững chắc cho hai nước tiếp tục củng cố, kết thừa và phát triển trong thời kỳ hiện đại

1.3 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ 1945 đến năm 1956

Những sự kiện lịch sử như cuộc Cách mạng Tháng Tám năm1945 thành công dẫn tới sự

ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và cuộc đấu tranh vì độc lập của nhân dân Ấn

Độ giành được thắng lợi năm 1947, đưa đến sự ra đời của nước Cộng hoà Ấn Độ năm 1950,

đã mở ra một trang mới của quan hệ Việt Nam- Ấn Độ

Đối với Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược với âm mưu xâm chiếm, thống trị lâu dài; để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của mình, ngay từ khi mới ra đời, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên bố chính sách ngoại giao “sẵn sàng thân thiện hợp tác chặt chẽ trên nguyên tắc bình đẳng

để ủng hộ lẫn nhau trong sự xây đắp và giữ vững nền độc lập”9

Mặc dù phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chưa cho phép Việt Nam đặt được quan hệ ngoại giao ngay với các nước khác trên thế giới, nhưng Thông cáo này vẫn là định hướng cơ bản và nền tảng tư tưởng cho những mối quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới, trong đó có Ấn Độ ở những chặng đường tiếp theo Ngày 14-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước

Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Trước tình hình đó, vì thực hiện chính sách đối ngoại trung lập, không liên kết nên Ấn Độ chưa công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính quyền Bảo Đại; nhưng, giữa Ấn Độ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có quan hệ trên thực tế Sự ủng hộ của Ấn Độ đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam ngày càng mạnh mẽ

9 Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 10-1945

21

Trang 22

Ở Ấn Độ, đến năm 1946, cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống sự thống trị của thực dân Anh đã giành được thắng lợi bước đầu với việc thành lập Chính phủ Lâm thời Ngày 15-8-

1947, Ấn Độ được trao trả độc lập và tiếp theo đó, tháng 1- 1950, nước Cộng hoà Ấn Độ ra đời

Về đường lối đối ngoại, ngay từ khi chưa nắm được quyền lãnh đạo, Đảng Quốc-đại trong Nghị quyết IX của Uỷ ban toàn quốc của đảng họp tại Tripura từ năm 1939 đã nêu rõ nguyên tắc đối ngoại của mình: “Quốc-đại chống cả chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít và tin rằng hoà bình thế giới và tiến bộ đòi hỏi phải thủ tiêu hai chủ nghĩa này” Lập trường chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phấn đấu giữ gìn hoà bình, chống các cuộc chiến tranh do chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít tiến hành - đó là nền tảng của chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ khi giành được độc lập đến nay Mục tiêu hàng đầu trong hoạt động đối ngoại của Ấn Độ là phấn đấu cho hoà bình giữa các dân tộc Cố Thủ tướng J Nehru đã nói : “ Hoà bình đối với chúng tôi không chỉ là niềm hy vọng nhiệt thành mà còn là một nhu cầu khẩn thiết” Trong các hoạt động đối ngoại, Ấn Độ luôn chủ trương giải quyết bằng thương lượng hoà bình mọi mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột quốc tế

Như vậy, từ sớm, cả Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đảng Quốc Đại, Đảng sau này lãnh đạo nước Cộng hòa Ấn Độ trong nhiều thập kỷ cũng như có vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ và xây dựng nước Ấn Độ mới đã cùng có chung quan điểm là chống chiến tranh xâm lược của đế quốc, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ hòa bình Đây là một trong những nền tảng vững chắc để hai nước đến với nhau, ủng hộ và giúp đỡ nhau trong công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước sau này

Trong những năm tháng nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp trường kỳ, gian khổ và tuy với không ít khó khăn của Ấn Độ vừa mới giành độc lập, nhưng hai nước đã ủng hộ, cổ vũ lẫn nhau Ấn Độ là một trong số ít nước hồi đó nhiệt liệt chào mừng sự

ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập, Chính phủ và nhân dân Ấn Độ đã bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ chúng ta Các cuộc biểu tình, tuần hành ủng hộ Việt Nam diễn ra nhiều nơi trên đất nước Ấn Độ rộng lớn Tháng 6-1946 trên đường sang Pháp và

22

Trang 23

để đàm phán hoà bình, Bác Hồ đã thăm Calcutta, gặp gỡ các chính khách Ấn Độ và nhận được

sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân Ấn Độ đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta Tháng

12-1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi sự đồng tình giúp đỡ của các nước, ngay sau đó J Nehru tỏ rõ thái độ ủng hộ của Chính phủ và nhân dân

Ấn Độ và mong muốn chia sẻ với những nhà yêu nước Việt Nam trong cuộc kháng chiến đó Tháng 1-1947, những người yêu nước Ấn Độ đã kêu gọi nhân dân nước mình hãy sát cánh với nhân dân Đông Dương và chỉ ra rằng, cuộc đấu tranh mà nhân dân Đông Dương đang tiến hành

là một phần của cuộc đấu tranh của nhân dân châu Á chống xâm lược phương Tây để giải phóng dân tộc, vì thế, nó cũng là cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ Cũng trong năm đó, Mahatma Gandhi đã viết một bức thư cho nhân dân Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh gian khổ mà họ đang tiến hành Chính phủ Ấn Độ đã tuyên bố ngày 21-1-1947 là

"Ngày Việt Nam" và được tổ chức ở nhiều thành phố để kêu gọi ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta với sự tham gia đông đảo của sinh viên, công nhân và đông đảo các tầng lớp nhân dân Trong cuộc biểu tình chống Pháp, ủng hộ nhân dân Việt Nam được tổ chức tại Calcutta với sự tham gia của hàng ngàn người, có 200 người đã bị thương và một người chết và hơn

500 người bị bắt trong cuộc biểu tình đó 10

Tại Hội nghị Liên Á năm 1947, Ấn Độ đã bày tỏ

sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân Đông Dương

Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng vui mừng trước những thắng lợi và cũng chia sẻ nổi đau buồn trước những tổn thất của Ấn Độ Nhân ngày Ấn Độ được trao trả độc lập, nước Cộng hoà Ấn Độ ra đời, Chính phủ và nhân dân Việt Nam rất vui mừng trước thắng lợi của bạn Ngày 30-1-1948, lãnh tụ M.Gandhi qua đời, mặc dù trong hoàn cảnh kháng chiến kiến quốc khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chỉ thị tổ chức lễ truy điệu long trọng vào ngày 20-2-1948 và gửi điện chia buồn tới Chính phủ và nhân dân Ấn Độ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nhiệt liệt chúc mừng Chính phủ và nhân dân Ấn Độ nhân những sự kiện trọng đại của Ấn

Độ như ngày Độc lập, ngày Cộng hoà Từ thời gian này, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng

10 Dẫn theo Vũ Dương Ninh ( Chủ biên) : Lịch sử Ấn Độ, Nxb Giáo dục, H.1995, tr 189

23

Trang 24

hòa đã có những mối liên hệ với nước Ấn Độ độc lập: đặt cơ quan đại diện của chính phủ tại

Ấn Độ, tổ chức phòng thông tin tuyên truyền cho cuộc kháng chiến của Việt Nam tại Niw Delhi11

Từ cuối năm 1953 đến năm 1954, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, quan hệ Ấn Độ - Liên Xô và ấn Độ - Trung Quốc có sự phát triển, về khách quan đã tác động tích cực tới quan

hệ Việt Nam- Ấn Độ Tháng 4 năm 1954, khi chiến dịch Điện Biên Phủ ở Việt Nam đang diễn

ra một cách ác liệt, Chính phủ Ấn Độ đã áp dụng lệnh cấm máy bay chở quân đội và vũ khí cung cấp cho chiến trường Đông Dương bay qua lãnh thổ Ấn Độ Cũng trong thời gian này, theo sáng kiến của Ấn Độ, một cuộc hội nghị 5 nước, gồm Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Miến Điện (Myanmar ngày nay) và Inđônêxia, được tổ chức tại Colombo (Sri Lanka) bàn về việc giải quyết hoà bình vấn đề chiến tranh Đông Dương Hội nghị đã ra Tuyên bố về chiến tranh Đông Dương do Ấn Độ soạn thảo Nội dung Tuyên bố bao gồm 6 điểm:

* Kêu gọi các bên kiềm chế, không dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực

* Ngừng bắn và lập Uỷ ban ngừng bắn gồm Pháp, ba Quốc gia liên kết (tức ba chính phủ

bù nhìn do Pháp dựng lên: Bảo Đại, Shihanuk, Phouma) và Việt Minh

* Đòi Pháp cam kết tôn trọng độc lập hoàn toàn của Đông Dương

* Tổ chức ngay cuộc đàm phán trực tiếp với thành phần như Uỷ ban ngừng bắn

* Kêu gọi các nước, trước hết là Mỹ, Liên Xô, Anh và Trung Quốc không được giúp đỡ các bên vì mục đích chiến tranh

* Liên hợp quốc giúp dàn xếp, thực hiện thoả thuận đạt được giữa các bên

Đến tháng 5 năm 1954, Hội nghị Giơnevơ nhằm tìm giải pháp cho cuộc chiến tranh Đông Dương bắt đầu Ấn Độ đó gúp phần đáng kể vào sự thành công của Hội nghị Do có sự phản đối của Mỹ, Ấn Độ không được mời tham gia Hội nghị Giơnevơ Tuy nhiên, Thủ tướng J Nehru vẫn cử đặc phái viên của mình là Quốc vụ khanh K Menon đến Giơnevơ quan sát diễn biến hội nghị K Menon đã tiến hành chiến dịch ngoại giao con thoi, vận động các nước lớn

11 Xem Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân; 2004; tr.132-133

24

Trang 25

đưa ra thoả thuận cam kết tôn trọng độc lập của các nước Đông Dương Cùng với đoàn Liên

Xô, phái viên của Thủ tướng Ấn Độ đã tiến hành nhiều cuộc gặp gỡ không chính thức với các đoàn tham gia hội nghị, góp phần thúc đẩy việc ký kết Hiệp nghị Giơnevơ lập lại hoà bình ở Đông Dương vào tháng 7 -1954, kiên nhẫn và tinh thần cương quyết để thực hiện nhiệm vụ đó”12

Tham gia tích cực trong quá trình tiến tới ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954 và sau đó với trọng trách là Chủ tịch ủy ban Quốc tế giám sát việc thi hành hiệp định này, Ấn Độ đã có những cố gắng để Hiệp định được thực hiện, đem lại hoà bình cho Việt Nam và Đông Dương Thủ tướng J Nehru nói: “Phương châm, chính sách của chúng ta là nỗ lực cho hoà bình ở Đông Dương Chúng ta sẽ dùng tất cả trí não, lòng kiên nhẫn và tinh thần cương quyết để thực hiện nhiệm vụ đó”13

Chuyến thăm Việt Nam vào tháng 10-1954 của Thủ tướng Ấn Độ J.Nehru và con gái Indira Gandhi chỉ một tuần sau khi Hà Nội được giải phóng, là chuyến thăm đầu tiên của một nguyên thủ nước ngoài đến Việt Nam vào giai đoạn đó, là một sự kiện quan trọng trong lịch sử quan hệ hai nước Đáp lại cử chỉ thiện chí trên của Ấn Độ, tháng 4-1955, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Ấn Độ Dư âm về ý nghĩa và kết quả tốt đẹp của chuyến thăm này của Thủ tướng Ấn Độ đến Việt Nam còn vang mãi Năm 2004, ở Hà Nội đã tổ chức cuộc Hội thảo nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 năm (1954-2004) sau chuyến thăm rất ý nghia này của Thủ tướng J Nehru đến Việt Nam Các đại biểu đều đánh giá cao về ý nghĩa của chuyến thăm này đối với lịch sử quan hệ hai nước Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ- ông Natwar Singh cho rằng, cuộc gặp

gỡ giữa Thủ tướng Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh (1954) là một động lực lớn lao Tình hữu nghị xuất phát từ cuộc gặp đầu tiên này đã đặt nền móng vững chắc cho quan hệ Ấn Độ-Việt Nam Tầm nhìn xa trông rộng và sự chân thành của hai nhà lãnh đạo đã giúp dệt nên một thứ

12 Vũ Dương Ninh (1987), Việt Nam - ấn Độ trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5-6 , tr 191

13 Dẫn theo Vũ Dương Ninh ( Chủ biên); Sđd; tr.191

25

Trang 26

sợi bền lâu cho mối quan hệ hiện vẫn đang tỏa sáng và vững bền sau suốt 5 thập kỷ đầy những biến động 14

Trên cơ sở sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ hai nước, tháng 2-1956, hai bên

đã quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Tổng lãnh sự Nguyên nhân nào đã đưa đến sự kiện quan trọng này Theo chúng tôi, có mấy nguyên nhân sau:

T hứ nhất: Trên cơ sở của quan hệ truyền thống hữu nghị giữa hai nước và mối quan hệ

này được củng cố, phát triển từ sau khi hai nước giành độc lập mà những người có công lao lớn

là Hồ Chí Minh, M.Gandhi, J Nehru

Thứ hai: Cuộc đấu tranh anh dũng vì tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam dưới sự

lãnh đạo của chính phủ Hồ Chí Minh đã chiếm được cảm tình của chính phủ và nhân dân Ấn Độ- một nước đã đứng về phía các dân tộc áp bức , chống chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược

Thứ ba: Ấn Độ là nước có cảm tình với các nước xã hội chủ nghĩa với việc chia sẻ

nhiều quan điểm, giá trị của thời đại như về chiến tranh và hòa bình mà Việt Nam là một nước

đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Mô hình xây dựng đất nước Cộng hòa Ấn Độ sau ngày độc lập chịu ảnh hưởng nhiều mô hình của Liên xô cũng như sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và mối quan hệ rất tốt đẹp giữa nước cường quốc xã hội chủ nghĩa này với Ấn Độ là một trong những minh chứng điển hình của điều đó

Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Ấn Độ là sự động viên, cổ vũ to lớn đối với nước

ta Bởi lẽ, một mặt, Ấn Độ là một nước lớn ở khu vực, có uy tín lớn trong thế giới thứ ba; mặt khác, khi đó cách mạng nước ta đang ở giai đoạn hết sức khó khăn do đế quốc Mỹ hất cẳng

Pháp nhảy vào miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta và chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành đàn áp khốc liệt lực lượng yêu nước và cách mạng ở miền Nam bằng chính sách “diệt Cộng, tố cộng” Đây là sự kiện quan trọng, mở ra một giai đoạn phát triển mới của quan hệ hai nước

14

http://www.mofa.gov.vn

26

Trang 27

Tóm lại, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có truyền thống hữu nghị từ lâu đời Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ từ thời xa xưa đối với nước ta có thể nói thật sâu đậm Chắc hẵn sự giao lưu này không chỉ có một chiều mà còn có chiều ngược lại Những nhà truyền giáo, nhà buôn Ấn

Độ sau khi lưu lại ở Việt Nam trở về đất nước mình không thể không mang theo những sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần của của Việt Nam Đó là chưa kể những nét đẹp trong văn hóa Việt Nam ngấm vào họ một cách tự nhiên Có thể nói rằng, trên thế giới này, ít có một mối quan hệ song phương nào tốt đẹp, với bề dày hàng ngàn năm, giữa một nước lớn và một nước nhỏ mà không hề có xung đột vũ trang như quan hệ Việt Nam-Ấn Độ Đây là điều đặc biệt, vừa tài sản quý giá, vừa là cơ sở vững chắc để quan hệ hai nước tiếp tục phát triển trong hiện tại và tương lai

27

Trang 28

Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TỪ 1956 ĐẾN 4-1975

2.1 Bối cảnh lịch sử

Đây là thời kỳ từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và đến khi nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, tiến tới thống nhất đất nước Đây là thời kỳ tình hình thế giới và khu vực có nhiều thay đổi hết sức to lớn và sâu sắc Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày một số nét chính về tình hình thế giới cũng như tình hình Việt Nam, Ấn Độ ảnh hưởng đến quan hệ hai nước trong thời

kỳ này

2.1.1.1 Hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh và phong trào giải phóng dân tộc ngày càng giành được thắng lợi to lớn

Sau Chiến tranh thế giới thứ II, với sự giúp đỡ của Liên- Xô, một loạt nước ở Đông Âu

sau khi giành được độc lập đã đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba sau thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng cũng đi theo con đường đó Chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước và trở thành hệ thống thế giới Mặc dầu có nhiều thiếu sót và sai lầm, nhưng chủ nghĩa xã hội đã thu được nhiều thắng lợi to lớn về nhiều mặt, có ảnh hưởng sâu rộng và tác động mạnh mẽ đến chiều hướng vận động của lịch sử thế giới Chủ nghĩa xã hội với tính nhân văn cao đẹp đã có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều dân tộc trên thế giới Chủ nghĩa xã hội không chỉ là nguồn cổ vũ to lớn mà còn là chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Nhiều nước thuộc địa sau khi giành độc lập đã quyết định

đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, sự mâu thuẫn, bất hòa trong hệ thống xã hội chủ nghĩa mà trước hết là giữa Liên Xô và Trung Quốc đã góp phần làm suy yếu hệ thống xã hội chủ nghĩa

Thắng lợi của Liên Xô và các lực lượng Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít

đã cổ vũ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Phi, Mỹ Latinh bước vào một thời kỳ phát triển mới Đó là thời kỳ phát triển như bão táp của phong trào giải phóng dân tộc với hàng loạt nước giành được độc lập ở những mức độ khác nhau Riêng ở châu Phi, năm 1960 đã có gần 20 nước giành được độc lập và vì vậy, năm 1960

Á-28

Trang 29

được gọi là “năm châu Phi” Thắng lợi to lớn của phong trào giải phóng dân tộc đã làm thay đổi căn bản bộ mặt của thế giới Các nước châu Á, Phi , Mỹ La tinh sau khi giành được độc lập

đã bước lên vũ đài quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển của lịch sử nhân loại Việt Nam với tinh thần hy sinh quả cảm, giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng, trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh vì độc lập tự do trên thế giới

2.1.1.2 Cuộc xung đột biên giới Trung -Ấn 1962

Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có chung đường biên giới dài trên 3000 km và mâu thuẫn sâu sắc về vấn đề biên giới, lãnh thổ Vì vậy, từ năm 1959, tại vùng biên giới giữa hai nước đã xảy ra nhiều cuộc xung đột vũ trang Ngày 20-10-1962, xung đột đã trở thành chiến tranh công khai giữa hai nước Trước sự đòi hỏi của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, ngày 21-11-1962, cuộc xung đột chấm dứt 15

Trong sự kiện này, vì là nước XHCN và nhận được sự ủng hộ, giúp dỡ nhiều của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh giải phóng, Việt Nam đã ủng hộ lập trường của Trung Quốc Vì vậy, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ xấu đi trong những năm đầu thập niên 60

2.1.1.3 Tình hình ở Đông Nam Á

Khu vực Đông Nam Ávới cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, Lào, Campuchia, trở thành khu vực “nóng” nhất trên thế giới trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Ở khu

vực này đã ra đời một số tổ chức, trong đó có SEATO- một tổ chức có mục tiêu “chống cộng”

“Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á”( South-East Asia Treaty Ogranization-SEATO) được thành lập vào ngày 8-8-1954 tại Manila (Philippin) gồm các thành viên: Mỹ , Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilơn, Thái lan, Pakistan và Philipin Liên minh quân sự này nhằm mục đích biến vùng Đông Nam Áthành căn cứ quân sự của Mỹ để chống lại các nước xã hội chủ nghĩa

và các quốc gia độc lập trong khu vực Khối này tuyên bố đặt Campuchia, Lào và miền Nam

15 Xem Lê Trung Dũng- Nguyễn Ngọc Mão đồng chủ biên: Thế giới- những sự kiện lịch sử thế kỷ XX(1946-2000), Tái bản lần thứ nhất, NXB Giáo dục, 2002, tr.106

29

Trang 30

Việt Nam dưới sự bảo trợ của mình, vi phạm nghiêm trọng Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương Do sự mâu thuẫn nội tại, tổ chức này đã giải thể vào tháng 6-1977 16

Là một nước ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, gần gũi với các nước xã hội chủ nghĩa, sự kiện trên như một nhân tố khách quan thúc đẩy Ấn Độ xích lại gần và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa, vì tự do độc lập của nhân dân Việt Nam

Trong thời kỳ Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, có hai nước trong khu vực là Thái Lan và Philipin trở thành đồng minh của Mỹ (cho Mỹ sử dụng đất làm căn cứ và gửi quân sang tham chiến ở Việt Nam)

2.1.1.4 Trung Quốc , Mỹ xích lại gần nhau

Sau một thời kỳ đối đầu căng thẳng, đến đầu những năm 70, Mỹ và Trung Quốc dần dần xích lại gần nhau Qua một số cuộc tiếp xúc bí mật, từ ngày 21 đến 28-2-1972, Tổng thống Mỹ Níchxơn tiến hành thăm Trung Quốc Hai bên đã ra tuyên bố “Thượng Hải” Chuyến thăm Tổng thống Mỹ tới Trung Quốc đã mở ra bước phát triển mới trong quan hệ hai nước 17

Là nước xã hội chủ nghĩa và đã đang ủng hộ, giúp đỡ to lớn, có hiệu quả cho cuộc kháng chiến giải phóng của Việt Nam, nên, hành động này của Trung Quốc có ảnh hưởng bất lợi đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam đang ở vào giai đoạn quyết định Tình hình này về khách quan đã tác động tích cực đến mối quan hệ Việt Nam-Ấn Độ Minh chứng là hai nước đã nâng cấp mối quan hệ từ cấp Tổng lãnh sự lên cấp Đại sứ (1972)

Ở Việt Nam, năm 1954 với thắng lợi vang dội Điện Biên Phủ, dẫn tới Hiệp định Giơnevơ

về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết Nhưng sau đó, Mỹ với âm mưu, kế hoạch từ lâu, đã nhảy vào miền Nam nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta Vì vậy, từ sau năm 1954, nước

ta bị chia làm hai miền với hai chế độ chính tri-xã hội khác nhau Từ năm 1954 đến năm 1975,

Trang 31

nhân dân Việt Nam thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở miền Bắc đấu tranh giải phĩng miền Nam nhằm thống nhất đất nước Tất cả mọi sức lực, trí tuệ của dân tộc đều phục vụ cho việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đĩ Cuộc kháng chiến trường kỳ, chính nghĩa, vơ vàn gian khổ hy sinh gian khổ của nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nươc xã hội chủ nghĩa anh em, của các lực lượng yêu chuộng hịa bình và cơng lý trên tồn thế giới, trong đĩ cĩ chính phủ và nhân dân Ấn Độ

Ấn Độ là một nước cĩ lịch sử lâu đời (trên 5.000 năm), là một trong những cái nơi văn minh của lồi người, một trong những trung tâm văn minh lớn của thế giới ở thời kỳ Cổ- Trung đại Năm 1858, Thực dân Anh chiếm tồn bộ tiểu lục địa Ấn Độ, đặt Ấn Độ dưới sự thống trị của mình Khơng chịu được ách áp bức tàn bạo của thực dân Anh, nhân dân Ấn Độ đã vùng lên đấu tranh Năm 1885, Đảng Quốc gia Đại hội Ấn Độ (gọi tắt là Quốc- Đại) được thành lập và lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ

Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Aán Độ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Trước tình hình đĩ, chính phủ Anh phải nhượng bộ và “kế họach Maobáttơn” ra đời với việc phân chia Aán Độ làm hai nước dựa trên cơ sở tôn giáo: Aán Độ ( Aán Độ giáo) và Pakistan (Hồi giáo) Kế họach này có hiệu lực kể từ ngày 15-8-1947 Từ đây bắt đầu thời kỳ phát triển độc lập của Aán Độ Ngày 26-1-1950 nước Cộng hịa Aán Độ ra đời

Sau khi giành được độc lập về chính trị, Chính phủ và nhân dân Aán Độ bắt tay vào thực hiện những cải cách kinh tế, chính trị-xã hội và văn hoá nhằm xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, thủ tiêu tàn tích xã hội cũ để xây dựng đất nước vững mạnh, phồn vinh

Để xây dựng đất nước, Aán Độ đã thực hiện các kế họach 5 năm Các kế họach năm năm đã dần dần thay đổi bộ mặt của tình hình hình kinh tế-xã hội Aán Độ

Ngày 27-5-1964, Thủ tướng J.Nehru qua đời, giai đọan ổn định tương đối của Aán Độ chấm dứt Từ đây, Ấn Độ lâm vào cuộc khủng hỏang kinh tế-xã hội gay gắt Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, mâu thuẫn xã hội gay gắt làm giảm sút lòng tin vào chính quyền

31

Trang 32

vaứ ẹaỷng Quoỏc ủaùi Thaựng 1-1966, sau khi Thuỷ tửụựng L.B Saxtri, ngửụứi keỏ nhieọm J Nehru qua ủụứi, Inủira Ganủi (con gaựi cuỷa coỏ Thuỷ tửụựng J Nehru) trụỷ thaứnh Thuỷ tửụựng Chớnh phuỷ cuỷa I Gan ủi ủaừ thửùc hieọn nhửừng chớnh saựch mụựi nhaốm khoõi phuùc vaứ phaựt trieồn kinh teỏ Nhửng hoùat ủoọng cuỷa Chớnh phuỷ I Gan ủi trong hoứan caỷnh raỏt khoự khaờn, trong sửù phaõn lieọt naứy caứng saõu saộc cuỷa ẹaỷng Quoỏc -Đaùi Maởc duứ vaọy, Aỏn ẹoọ ủaừ ủaùt ủửụùc nhửừng tieỏn boọ veà kinh teỏ-xaừ hoọi trong thụứi kyứ caàm quyeàn cuỷa baứ I Gan ủi18

Về chớnh sỏch đối ngọai, sau khi giành độc lập, với cương vị là Thủ tướng đầu tiờn của

nước Cộng hũa Ấn Độ, J Nehru đó vạch ra đường lối đối ngọai của đất nước, trong đú cú những điểm đỏng chỳ ý như: chống chiến tranh đế quốc; duy trỡ nền độc lập của Ấn Độ về mặt đối ngọai; bờnh vực sự nghiệp của cỏc dõn tộc thuộc địa; xúa bỏ chế độ phõn biệt chủng tộc, đặc biệt ở Nam Phi; hợp tỏc với cỏc nước chõu Á và thế giới….Mục tiờu hàng đầu trong chớnh sỏch đối ngọai của Cộng hũa Ấn Độ là phấn đấu cho hũa bỡnh giữa cỏc dõn tộc Thủ tướng J Nehru tuyờn bố “ Hũa bỡnh đối với chỳng tụi khụng chỉ là niềm hy vọng mà cũn là một nhu cầu khẩn thiết”

Từ sau khi giành độc lập, Cộng hũa Ấn Độ đó kiờn trỡ theo đuổi chớnh sỏch đú

Ấn Độ luụn luụn đứng về phớa cỏc dõn tộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dõn cũ và mới, chống chủ nghĩa phõn biệt chủng tộc Ấn Độ cũng tăng cường quan hệ với cỏc nước xó hội chủ nghĩa, chủ yếu là với Liờn Xụ- Ấn Độ cú quan hệ tũan diện với Liờn Xụ

và quan hệ hai nước là quan hệ đồng minh, chiến lược

Đến đầu những năm 70, tỡnh hỡnh chớnh trị- xó hội Ấn Độ diễn biến rất phức tạp

Sự tăng cường của lực lượng cỏnh hữu trong Đảng Quốc- đại cựng những lộn xộn do họ gõy ra đó cản trở Chớnh phủ của Bà I Gandhi trong việc thực hiện những nhiệm vụ đề

ra Tỡnh hỡnh kinh tế xó hội, vỡ thế, tiếp tục xấu đi Từ năm 1969 đến năm 1972, thu nhập quốc dõn ngày càng giảm, sự căng thẳng xó hội tăng lờn Thờm vào đú, tỏc động của cuộc khủng hoảng thế giới làm cho Ấn Độ lõm vào cuộc khủng hoảng dầu lửa và

18

Xem Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Sđd, tr 150-154

32

Trang 33

tăng các mặt hàng nhập khẩu (lương thực, phân bón, các nhu yếu phẩm…) Các cuộc nổi dậy của sinh viên, công nhân, nhất là công nhân mỏ và đường sắt đã gây thiệt hại lớn

Đa số nghị sĩ của Đảng Quốc- đại trong Quốc hội bị mất vai trò vì thiếu đoàn kết, chia rẽ

và bị phe đối lập tấn công, một số quan chức Chính phủ bị sát hại, hành hung…

Như vậy, sau khi giành được độc lập, dưới thời thủ tướng J Nêru, tình hình Ấn Độ tương đối ổn định và đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước, nhưng từ khi J Nêru qua đời trở đi, suốt trong nhiều năm, đất nước này rơi vào tình trạng không ổn định về chính trị-xã hội

Tình hình trên đây của thế giới, khu vực, Việt Nam và Ấn Độ đã in dấu đậm nét đến mối quan hệ Việt Nam-Ấn Độ thời kỳ này làm cho mối quan hệ này diễn biến với những bước thăng trầm

2.2 Quan h ệ Việt Nam-Ấn Độ từ năm 1956 đến năm 1975

Từ 1956-1959, những năm sau khi miền Bắc nước ta mới được hoàn toàn được giải phóng và cách mạng miền Nam đang gặp nhiều khó khăn do chính sách đàn áp lực lượng Cách mạng vô cùng tàn bạo của kẻ thù, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ phát triển thuận lợi Thái độ của

Ấn Độ trong việc thi hành hiệp nghị Giơ-ne-vơ về Việt Nam ở giai đoạn này là tích cực Quan

hệ hai nước bắt đầu phát triển và tăng cường củng cố bằng các chuyến thăm lẫn nhau giữa Việt Nam và Ấn Độ và đặc biệt là chuyến thăm Ấn Độ tháng 2-1958 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Chính phủ và nhân dân Ấn Độ đón tiếp rất trọng thị và thân mật Ảnh hưởng tốt đẹp của chuyến thăm này còn tươi mới đến ngày hôm nay Nó mãi mãi sẽ là một cột mốc rất quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam-Ấn Độ Các chuyến viếng thăm tiếp sau của các nhà lãnh đạo cấp cao giữa hai nước đã góp phần vun đắp thêm tình đoàn kết hữu nghị vốn có giữa hai nước

Tuy nhiên, những biến động phức tạp của tình hình thế giới, đặc biệt là quan hệ phức tạp, căng thẳng giữa Ấn Độ với Trung Quốc thời gian này đã tác động rất tiêu cực tới quan hệ Việt Nam - Ấn Độ Khi cuộc chiến tranh biên giới Trung - ấn nổ ra vào tháng 10-1962, từ chỗ né

33

Trang 34

tránh và kêu gọi hai nước giải quyết vấn đề bằng biện pháp thương lượng hoà bình, Việt Nam

đã chuển sang ủng hộ Trung Quốc- nước xã hội chủ nghĩa và đang ủng hộ, giúp đỡ tích cực, hiệu quả cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta và phê phán Ấn Độ trong cuộc chiến tranh này Vì quan điểm này của Việt Nam mà quan hệ Việt Nam - Ấn Độ vào thời gian này xấu đi, xuống tới mức thấp nhất trong lịch sử quan hệ hai nước Vì vậy, từ giữa năm 1964 đến đầu năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam đang trong giai đoạn ác liệt, Chính phủ Ấn Độ do Thủ tướng Sastri đứng đầu vẫn giữ thái độ ủng hộ Mỹ, tăng cường quan

hệ với chính quyền Sài Gòn

Từ giữa năm 1966 trở đi, cùng với thắng lợi liên tiếp và to lớn của quân và dân Việt Nam trên chiến trường miền Nam và tình hình ở Ấn Độ cũng có những diễn biến có lợi cho quan hệ Việt Nam - Ấn Độ Đó là bà I Gandhi- người có cảm tình với Chủ tịch Hồ Chí Minh

và nhân dân Việt Nam- lên làm Thủ tướng Từ đây, Chính phủ I Gandhi ngày càng ủng hộ tích cực đối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam và quan hệ Việt Nam - Ấn

Độ dần dần phát triển theo chiều hướng tốt đẹp Biểu hiện đầu tiên của sự thay đổi này là chính phủ Ấn Độ công khai yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam Ngày 19-5-1967,

Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ nói: “Nếu Mỹ ngừng ném bom không điều kiện thì sẽ tạo ra một bầu không khí cho việc tổ chức nói chuyện hoà bình cấp cao’’19

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã giành được sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của nhân dân Ấn Độ Nhiều cuộc biểu tình, mít tinh khắp đất nước đã được tổ chức để ủng hộ nhân dân ta, tố cáo và lên án cuộc chiến tranh không quân và hải quân chống miền Bắc Việt Nam, đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam, chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc, đòi công nhận Chính phủ Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Những năm 1964 -

1975 trên đất nước Ấn Độ luôn diễn ra các cuộc tuần hành, mít tinh rầm ộ với đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và vang lên khẩu hiệu: “Tên anh, tên tôi đều là Việt Nam!”, đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam Từ đầu những năm 70, việc Mỹ và Trung Quốc xích lại gần nhau đã có tác

19 Dẫn theo Đinh Trung Kiên: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, từ kinh nghiệm lịch sử đến hiện tại và tương lai, Tham luận tại cuộc Hội thảo với chủ đề quan hệ Việt Nam- Ấn Độ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Ấn Độ do Viện nghiên cứu Đông Nam á và Học viện Quan hệ Quốc tế tổ chức; Hà nội, ngày 5-6/1/2002

34

Trang 35

động mạnh tới quan hệ Việt Nam - Ấn Độ Lo ngại ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở châu

á sẽ gây trở ngại cho mình nên Ấn Độ tăng cường quan hệ với Việt Nam để tăng thêm ảnh hưởng, uy tín ở khu vực và trên thế giới cũng như tăng thêm lực lượng đồng minh cho mình Chính vì vậy, Ấn Độ quyết định nâng cấp quan hệ ngoại giao hai nước lên cấp Đại sứ (1-1972) Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử quan hệ hai nước Sau sự kiện này, quan

hệ, hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật đã được mở ra

Về ý nghĩa của sự kiện này, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhận định: ''Việc Chính phủ Ấn

Độ quyết định nâng cấp quan hệ ngoại giao với ta là một thắng lợi có ý nghĩa đối với đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta” Sau sự kiện này báo chí Ấn Độ đã liên tục đưa tin, bình luận về việc nâng cấp quan hệ ngoại giao, ca ngợi cuộc đấu tranh của nhân dân ta, lên

án việc leo thang chiến tranh của Mỹ và hành động trì hoãn việc ký hiệp định Pari (10-1972) Ngày 24-4-1972 tại hội nghị Công đoàn châu á họp ở New Delhi, Thủ tướng I Gandhi nói:

“Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam anh hùng là một bài học cho tất cả chúng ta Yêu cầu tự do và phát triển của chủ nghĩa dân tộc đem lại sức mạnh đoàn kết cho bất cứ dân tộc nào Một nước nhỏ đã có thể đương đầu với một nước mạnh nhất thế giới Còn có tấm gương chói lọi nào hơn về sự bất diệt của tinh thần con người Tôi không nghi ngờ rằng nhân dân Việt Nam sẽ chiến thắng trong một tương lai không xa nữa''

Đặc biệt, khi Mỹ leo thang chiến tranh, dùng B.52 ném bom đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng; Ấn Độ là nước đầu tiên không thuộc phe xã hội chủ nghĩa lúc đó đã tố cáo

Mỹ rất mạnh mẽ Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, Thủ tướng I Gandhi đã gửi điện mừng tới Chính phủ và nhân dân ta Chiều ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Chính phủ Cộng hoà Ấn Độ chính thức công nhận Chính phủ Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và hai bên thoả thuận thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ Ngày 22-5-1975, sau khi trục xuất đại diện của chính quyền Sài Gòn, Chính phủ Ấn Độ quyết định chuyển giao trụ sở Tổng lãnh sự của chính quyền Sài Gòn cho đại diện của Chính phủ Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam

Cùng với sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân Ấn Độ

đã góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, đồng thời nâng cao uy tín của Ấn Độ ở khu vực và trên thế giới Về phần mình, Chính phủ

35

Trang 36

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ủng hộ chủ trương giải quyết vấn đề tranh chấp về vùng đất Casơmia giữa Ấn Độ và Pakistan theo tinh thần Hội nghị Băng Đung, ủng hộ Ấn Độ trong việc thu hồi các vùng đất lúc ấy đang bị Bồ Đào Nha và Pháp chiếm giữ, kêu gọi Trung Quốc

và Ấn Độ chấm dứt cuộc xung đột biên giới (1962) và giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng phương pháp đối thoại

Về kinh tế, trong giai đoạn từ tháng 2-1956 đến tháng 1-1972, giữa Việt Nam và Ấn Độ

đã thiết lập quan hệ kinh tế Song, có thể nói, do sự chi phối của quan hệ chính trị, những hiệp ước đã ký kết chỉ được thực hiện trong thời gian đầu Do yêu cầu của cuộc đấu tranh cách mạng, Việt Nam tập trung mọi sức lực cho cuộc đấu tranh và cần được sự giúp đỡ quốc tế chủ yếu theo hướng viện trợ, chưa có điều kiện thực hiện quan hệ hai bên cùng có lợi Ấn Độ cũng chưa thể viện trợ cho Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó Bởi vì, theo đuổi chính sách đối ngoại trung lập, không liên kết nên trong thời kỳ đó, Ấn Độ bên cạnh có quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam Dân chủ công hoà còn có quan hệ với chính quyền Sài Gòn Cùng với sự phát triển quan hệ chính trị, ngoại giao, quan hệ kinh tế cũng được khởi động

và phát triển Sau Hiệp định Pari về Việt Nam, Ấn Độ chủ động đề xuất việc khôi phục hợp tác kinh tế, văn hoá- khoa học kỹ thuật giữa hai nước Quan hệ kinh tế được bắt đầu từ lĩnh vực nông nghiệp - một thế mạnh của Ấn Độ và cũng là một yêu cầu bức thiết của Việt Nam

Có thể nói, quan hệ kinh tế Việt Nam - Ấn Độ trước 1975 đã đạt được một số kết quả nhất định; nhưng, vẫn còn hạn chế và chưa liên tục, còn phụ thuộc nhiều vào quan hệ chính trị- ngoại giao

Quan hệ văn hoá-khoa học kỹ thuật Việt Nam - Ấn Độ đựợc triển khai từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Tổng lãnh sự Đó là việc Ấn Độ cấp học bổng cho lưu học sinh Việt Nam học tại nước mình; hai bên trao đổi các đoàn đại biểu văn hoá, nghệ thuật, khoa học, tổ chức triễn lãm, chiếu phim; một số tác phẩm văn học Việt Nam được dịch và giới thiệu

ở Ấn Độ, đồng thời các kiệt tác văn hoá Ấn Độ cũng bắt đầu được giới thiệu ở Việt Nam Năm 1973, Ấn Độ cử đoàn chuyên gia về nông nghiệp sang giúp Việt Nam Ấn Độ giúp Việt Nam xây dựng trung tâm nghiên cứu giống ngô và đậu tương, trại trâu sữa thí nghiệm, cung cấp trâu giống Mura, giúp Việt Nam chế tạo vắc-xin chống dịch cho trâu bò và gia cầm…

36

Trang 37

Cũng như quan hệ kinh tế, quan hệ văn hoá- khoa học kỹ thuật Việt Nam - Ấn Độ trước

1975 đã đạt được một số kết quả nhất định; nhưng, vẫn còn hạn chế và chưa liên tục

Như vậy, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có truyền thống từ lâu đời và ngày càng phát triển Bước sang thời kỳ hiện đại, nhiều trang lịch sử của quan hệ hai nước đã được tô bằng máu của những người con Ấn Độ- những chiến sĩ của tình hữu nghị hai nước- đã hy sinh vì ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiếng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Những hình ảnh cao đẹp đó mãi là những biểu tượng cao đẹp, là những viên gạch góp phần xây đắp cho quan hệ hữu nghi giữa hai dân tộc

Tuy nhiên, cũng như nhiều mối quan hệ khác, quan hệ hai nước cũng trải qua những bước thăng trầm do sự chi phối của tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của mỗi nước Một điều cần nhấn mạnh ở đây là, trong thời kỳ này và kể cả các thời kỳ sau vào những lúc Việt Nam gặp khó khăn, Ấn Độ xích lại gần chúng ta hơn ( chẳng hạn: những năm sau hòa bình lập lại ở miền Bắc khi Mỹ và tay sai phá hoại Hiệp định Giơnevơ và thẳng tay đàn áp cách mạng thì Ấn Độ với vai trò là Chủ tịch ủy ban Giám sát thi hành Hiệp định đã có nhiều nỗ lực để đem lại hòa bình cho Việt Nam và Đông Dương dầu rằng Ấn Độ không dễ dàng làm việc này khi đang muốn mở rộng quan hệ với Mỹ để phát triển kinh tế và đang có quan hệ với Chính phủ Sài Gòn; hay năm 1972 khi Trung Quốc bắt tay với Mỹ, Ấn Độ xích lại gần Việt Nam qua việc nâng cấp quan hệ ngoại giao giữa hai nước) Trong khi đó, về phía Việt Nam lại chưa làm được như vậy - Đó là khi cuộc chiến tranh biên giới Trung-Ấn nổ ra năm 1962, Việt Nam đã “xa” Ấn Độ hơn Chính thái độ này của Việt Nam đã làm cho quan hệ hai nước xấu đi trong một thời gian Đây là một kinh nghiệm đắt giá đối với nước ta mà các thời kỳ sau đã khắc phục được

Trong thời kỳ này, do Việt Nam phải dốc toàn lực cho cuộc kháng chiến giành độc lập, tự

do và thống nhất đất nước, đồng thời Ấn Độ còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trước 1975 chủ yếu vẫn là quan hệ chính trị, văn hóa, quan hệ kinh tế còn rất hạn chế, mới chỉ đạt được một số kết quả bước đầu

37

Trang 38

C hương 3: QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TỪ 5- 1975 ĐẾN 7-1991

3.1 Bối cảnh lịch sử

Trong thời kỳ này, tình hình thế giới, khu vực nổi lên những nét chính sau đây:

3.1.1.1 Từ nửa sau những năm 70 đến năm 1991, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên

Xô lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, toàn diện và đi đến sụp đổ Biến động to lớn này đã tác động nghiêm trọng đến cục diện chính trị thế giới Đây là một tổn thất to lớn không gì bù đắp nổi của lực lượng cách mạng, tiến bộ thế giới và trực tiếp tác động đến những nước có quan hệ chặt chẽ với Liên Xô như Việt Nam, Ấn Độ

3.1.1.2 Năm 1989, cuộc “ Chiến tranh lạnh” kéo dài trên 40 năm đã chấm dứt và trong quan hệ quốc tế, từ xu thế “đối đầu” đã dần dần chuyển sang xu thế “đối thoại” hợp tác trên cơ

sở hai bên cùng có lợi, tình hình thế giới trở nên hòa dịu hơn, tuy thế vẫn bùng nổ những cuộc xung đột mang tính chất khu vực Đông Nam Álà một trong những nơi điển hình của tình trạng này

3.1.1.3 Những biến động lớn trong khu vực

Khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ này là khu vực “nóng” của thế giới với việc xảy ra hai cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia, Việt Nam-Trung Quốc cùng Vấn đề Campuchia xuất hiện và diễn biến phức tạp, kéo dài, phá hoại môi trường hòa bình trong khu vực

Về vấn đề Campuchia, như chúng ta đã biết, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước năm 1975 của nhân dân Campuchia, thành quả cách mạng đã rơi vào tay lực lượng “Khơ me đỏ”- một thế lực theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trong thời gian cầm quyền

từ 1975 đến 1978, chính quyền “Campuchia dân chủ” đã biến đất nước Campuchia thành một

“nhà tù”, sát hại hơn 2 triệu người dân vô tội và phát động chiến tranh xâm lược đối với các nước láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam

38

Trang 39

Ngày 7-1-1979, với sự giúp đỡ của quân đội Việt Nam, lực lượng cách mạng Campuchia

đã lật đổ chế độ diệt chủng, thành lập Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia

Để giúp cách mạng và nhân dân Campuchia chống lại âm mưu phục hồi chế độ diệt chủng, bảo vệ thành quả cách mạng còn non trẻ, Chính phủ và nhân dân Campuchia đã yêu cầu quân tình nguyện Việt Nam ở lại đất nước mình

Lợi dụng tình hình này, những thế lực đối lập với cách mạng Campuchia và Việt Nam nêu lên cái gọi là “Vấn đề Campuchia”, “Việt Nam xâm lược Campuchia” và đòi Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia

Các thế lực đối lập ở Campuchia đã liên hợp lại trong “Chính phủ liên hợp Campuchia”

và với sự ủng hộ, giúp đỡ của các thế lực nước ngòai đã gây nên tình hình hết sức căng thẳng

ở Campuchia và phá hoại nghiêm trọng môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực trong suốt thập niên 90

Trong khi nhiều nước, nhất là các nước trong ASEAN lên án Việt Nam, coi Việt Nam xâm lược Campuchia, thì Ấn Độ đã đứng về phía cách mạng Campuchia và Việt Nam, coi sự

có mặt của quân đội Việt Nam ở Campuchia trong những năm 80 là hợp pháp, là không có cách nào khác và giúp bạn khi gặp hoạn nạn Vì quan điểm trên đây của Ấn Độ mà quan hệ giữa các nước ASEAN với Ấn Độ trở nên băng giá

Cùng với sự lớn mạnh của cách mạng Campuchia, quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia rút dần về nước và đến 10-1989, người lính tình nguyện Việt Nam đã rút khỏi Campuchia Vấn đề Campuchia cũng dần dần bớt căng thẳng và bằng sự nổ lực to lớn của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Campuchia, Việt Nam và Cộng đồng quốc tế, Hiệp định hòa bình về Campuchia đã được ký kết ngày 23-10-1991 tại Pari, đánh dấu sự chấm dứt vấn đề Campuchia vốn đã gây ra tình trạng căng thẳng ở khu vực, chia rẽ các nước Đông Dương với các nước ASEAN, chia rẽ Ấn Độ với các nước ASEAN trong suốt thập niên 80

Tình hình thế giới và khu vực trên đây đã tác động đến quan hệ Việt Nam-Ấn Độ trong thời kỳ này

39

Trang 40

3.1 2 Tình hình Việt Nam, Ấn Độ

3.1.1.1 Tình hình Việt Nam

Ở Việt Nam, sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam là: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ làm tăng thêm uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và có tác động tích cực tới phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc và hoà bình, tiến bộ Công cuộc xây dựng đất nước được tiến hành trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi cơ bản những cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn gay gắt

Trong vòng 10 năm xây dựng và bảo vệ tổ quốc (1975-1985), nước ta đã đạt được một số thành tựu, tiêu biểu là thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, đánh thắng hai cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ vững chắc nền độc lập của tổ quốc cũng như đạt được một số thành tích về kinh tế -xã hội; nhưng, đất nước vẫn gặp rất nhiều khó khăn to lớn về nhiều mặt Phải tiến hành hai cuộc chiến tranh để bảo vệ tổ quốc; đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, lại bị các thế lực thù địch quốc tế bao vây, cấm vận gay gắt Tình hình đất nước càng khó khăn thêm khi Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng và đi tới sụp đổ, nước ta không chỉ mất một chỗ dựa tin cậy mà còn mất nguồn viện trợ và thị trường lớn nhất

Từ 1986, do những yêu cầu cấp thiết của tình hình đất nước và xu thế đổi mới trong các nước xã hội chủ nghĩa, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI( 12-1986) đã đề ra chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện đất nước

Về đường lối đối ngoại, trong thời kỳ này, Việt Nam chủ trương ngoài việc tăng cường đoàn kết chiến đấu Việt - Lào - Campuchia và xây dựng quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, thì xây dựng quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước thuộc thế giới thứ

Ba và các nước khác trên cơ sở Năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 24) Trong đó chính sách đối ngoại đó, việc củng cố và phát triển quan hệ, hợp tác với Ấn Độ có tầm quan trọng to lớn, là quốc sách của Việt Nam Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Nhân dân ta đánh giá cao vai trò to lớn và sự lớn mạnh không ngừng của uy tín Ấn Độ trong Phong trào Không liên kết và trên trường quốc tế Chúng

ta biểu lộ sự đồng tình sâu sắc đối với sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam- Ấn Độ Chúng

40

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Ngoại Giao-Vụ châu á 2: Giới thiệu về Cộng hoà Ấn Độ; H. 2000 Khác
2. Bộ Ngoại giao- Vụ châu á 2: Tình hình Ấn Độ và quan hệ Việt Nam- Ấn Độ (Tài liệu phục vụ họp UBHH Việt Nam- Ấn Độ ngày 31/3-2/4/2003) Khác
3. Bộ Ngoại giao: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc; NXB. Sự thật; H. 1981 Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam- Ban chấp hành Trung ương: Chỉ thị về tăng cường quan hệ hợp tác với Ấn Độ; Số 04-CT/TW ngày 9-3-1987 (Tài liệu lưu trữ của Bộ Ngoại giao) Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V; NXB. Sự thật; H.1983 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI; NXB. Sự thật; H.1987 Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII; NXB. Sự thật. H;1991 Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII; NXB. Sự thật. H;1996 Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX; NXB. CTQG; H. 2001 Khác
11. Đỗ Mười: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới; NXB. CTQG; H.1996 Khác
12. Cao Xuân Phổ, Trần Thị Lý (chủ biên): Ấn Độ xưa và nay; Nxb. KHXH; H.1997 Khác
13. Chào mừng những người bạn thân thiết; Xã luận Báo Nhân dân; số ra ngày 8-1-2001 Khác
14. Đặng Ngọc Hùng: Việt Nam và Ấn Độ- Hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học công nghệ; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á; số 6-2001 Khác
15. Đinh Trung Kiên: Quan hệ Việt Nam- Ấn Độ từ 1945-1975; Luận án Phó Tiến sỹ Sử học; Hà Nội. 1993 Khác
16. Đinh Trung Kiên: Ấn Độ hôm qua và hôm nay, NXB. CTQG; H.1995 Khác
17. Đinh Trung Kiên: Quan hệ Việt Nam- Ấn Độ- Từ kinh nghiệm lịch sử đến hiện tại và tương lai; Tham luận tại cuộc Hội thảo với chủ đề quan hệ Việt Nam- Ấn Độ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Ấn Độ; H. 5-6/1/2002 Khác
18. Đinh Trung Kiên: Tìm hiểu nền văn minh Đông Nam Á, NXB. Giáo dục, 2007. 19 . Đỗ Đức Định: 50 năm kinh tế Ấn Độ; Nxb.Thế giới; H.1999 Khác
20. Đỗ Đức Định: 10 năm cải cách kinh tế Ấn Độ; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á; số 6-2001 Khác
21. Đỗ Đức Định, Kinh tế Ấn Độ 20 năm đầu thế kỷ XXI trong sách Cục diện kinh tế thế giới hai thâp niên đầu thế kỷ XXI, NXB.Thế giới, H.2005 Khác
22. Đỗ Thu Hà: Hợp tác Việt Nam- Ấn Độ trong lĩnh vực văn hoá giáo dục những năm gần đây; Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á; số 6-2001.23 . Đức Minh: Nhìn lại quan hệ Việt Trung từ khi bình thường hoá đến nay; Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc; số1-1998 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Tình hình tăng trưởng GDP  Ấn Độ (1990-2000) 45  . - quan hệ việt nam ấn độ từ năm 1956 đến những năm đầu thế kỷ xxi
Bảng 3 Tình hình tăng trưởng GDP Ấn Độ (1990-2000) 45 (Trang 67)
Bảng 11: Số học bổng  Ấn Độ tài trợ cho Việt Nam (1997-2000) 77  . - quan hệ việt nam ấn độ từ năm 1956 đến những năm đầu thế kỷ xxi
Bảng 11 Số học bổng Ấn Độ tài trợ cho Việt Nam (1997-2000) 77 (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w