Do đó đề tài “KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ RA HOA SỚM TRÊN CÂY NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG DIMOCARPUS LONGAN LOUR.” cần được thực hiện nhằm mục đích tìm ra phương pháp xử lí nhãn ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Lê Thị Thanh Huyền
ĐẾN SỰ RA HOA SỚM TRÊN CÂY NHÃN
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công bố trong bất kì công trình nào
Luận văn có sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, các thông tin đã trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014
TÁC GIẢ
Lê Thị Thanh Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn đến:
TS Bùi Thị Mỹ Hồng, người đã truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
KS Đoàn Thị Cẩm Hồng, cán bộ Viện Cây ăn quả miền Nam đã tận tình giúp
đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
TS Lê Thị Trung đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi giải quyết những khó khăn trong suốt thời gian làm đề tài tại phòng thí nghiệm Sinh lý Thực vật Trường Đại học Sư Phạm
Quý Thầy Cô tham gia giảng dạy và truyền đạt kiến thức quý báu trong suốt
thời gian học và làm luận văn
Phòng Sau đại học, Khoa Sinh học, bộ môn Sinh học thực nghiệm - Trường Đại
học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, bộ môn Sinh lý thực vật trường Đại học Khoa học
Tự nhiên - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, phòng thí nghiệm Sinh lý - Sinh hóa -
Vi sinh trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Gia đình chú Hùng, xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi thực hiện đề tài tại vườn nhãn
Cô Thơ, cô Hằng đã hỗ trợ và nhiệt tình chỉ bảo cách làm thí nghiệm tại phòng thí nghiệm Sinh lý - Sinh hóa - Vi sinh trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Chị Hiền, Chị Linh, bạn Quỳnh đã quan tâm giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình làm luận văn
Các bạn của lớp cao học K23 đã cùng chia sẻ, giúp đỡ, động viên trong học tập
và trong công việc
Em Hưng, em Minh đã nhiệt tình hỗ trợ trong thời gian thực hiện đề tài tại Tiền Giang
Cuối cùng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân đã
hỗ trợ về mặt tinh thần trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
I Lí do chọn đề tài 1
II Mục tiêu nghiên cứu 3
III Đối tượng nghiên cứu 3
IV Nhiệm vụ nghiên cứu 3
IV Phạm vi nghiên cứu 3
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đặc điểm cây nhãn Xuồng cơm vàng 4
1.1.1 Phân loại thực vật 4
1.1.2 Đặc điểm nông học của cây nhãn 4
1.1.3 Đặc điểm sinh học và nguồn gốc nhãn Xuồng cơm vàng 7
1.2 Một số khái niệm về sự phát triển ở thực vật có hoa 7
1.2.1 Đủ khả năng ra hoa 7
1.2.2 Cảm ứng ra hoa 7
1.2.3 Sự quyết định ra hoa 8
1.3 Sự chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sang giai đoạn sinh sản 8
1.3.1 Sự thay đổi về hình thái giải phẩu của chồi ngọn 8
1.3.2 Sự thay đổi về kiểu sắp xếp lá 8
1.3.3 Sự thay đổi về mặt sinh hóa của mô phân sinh ngọn chồi 9
1.3.4 Cấu trúc và chức năng của mô phân sinh ngọn chổi 10
1.4 Các yếu tố của sự ra hoa 15
1.4.1 Sự chuyển tiếp ra hoa 15
1.4.2 Sự tượng hoa 15
1.4.3 Sự tăng trưởng và nở hoa 15
1.4.4 Các chất nội sinh 16
1.4.5 Dinh dưỡng 17
Trang 51.5.Các kiểu nở hoa 17
1.6.Sự ra hoa của cây nhãn 17
1.7.Các yếu tố ảnh hưởng lên sự ra hoa của cây nhãn 19
1.7.1 Môi trường 19
1.7.2 Giống 20
1.7.3 Chất điều hòa tăng trưởng 20
1.7.4 Biện pháp canh tác 23
1.8.Một số biện pháp xử lí ra hoa trên cây nhãn 25
1.8.1 Phương pháp khoanh (xiết) cành 25
1.8.2 Xử lí hóa chất 26
1.9.Các nghiên cứu liên quan tới cây nhãn 27
Chương II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Vật liệu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp xử lý ra hoa đến thời gian ra hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng 35
2.2.2 Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp xử lý ra hoa đến tỷ lệ ra hoa và chiều dài phát hoa (%) trên cây nhãn Xuồng cơm vàng 35
2.2.3 Nội dung 3: Quan sát hình thái giải phẫu của chồi non 36
2.2.4 Nội dung 4: Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến hoạt tính của các chất điều hòa sinh trưởng thực vật trong đỉnh sinh trưởng của nhãn Xuồng cơm vàng 37
2.2.5 Nội dung 5: Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến năng suất cây nhãn Xuồng cơm vàng 40
2.2.6 Nội dung 6: Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến phẩm chất trái nhãn Xuồng cơm vàng 41
2.2.7 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến hiệu quả kinh tế 42
2.2.8 Phương pháp xử lí số liệu 42
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Kết quả 43
Trang 63.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp xử lý ra hoa đến thời gian ra hoa
của cây 43
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của các phương pháp xử lý ra hoa đến tỷ lệ (%) ra hoa và chiều dài phát hoa trên cây 45
3.1.3 Quan sát hình thái giải phẫu của đỉnh sinh trưởng trước xử lí và sau khi xử lí 50
3.1.4 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến hoạt tính của các chất điều hòa sinh trưởng thực vật trong đỉnh sinh trưởng của nhãn Xuồng cơm vàng 54
3.1.5 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến năng suất của trái nhãn Xuồng cơm vàng 57
3.1.6 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến phẩm của trái nhãn Xuồng cơm vàng 61
3.1.7 Hiệu quả kinh tế trên 0,1ha 62
3.2 Thảo luận 63
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
4.1 Kết luận 67
4.2 Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 8Bảng 3.3 Ảnh hưởng của GA3đến chiều dài phát hoa (cm) 50
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa đến hoạt tính của các chấtđiều hòa sinh trưởng thực vật trong chồi non nhãn Xuồng cơm vàng sau khi sắc ký 57
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lí ra hoa năng suất của trái nhãn
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô phân sinh ngọn thân 11
Hình 1.2 Quá trình hình thành mô phân sinh ngọn chồi 12
Hình 1.3 Cấu trúc tế bào mô phân sinh ngọn chồi 12
Hình 1.4 A Mô phân sinh ngọn chồi (Arabidopsis) 13
Hình 1.5 Vùng mô phân sinh phân hóa 14
Hình 1.6 Hoa đực (a), hoa lưỡng tính (b) nhãn Long 18
Hình 1.7 a) Nhãn E-daw của Thái Lan, b) Nhãn Xuồng cơm vàng ở Vĩnh Châu 20
Hình 1.8 Cây nhãn được trồng trên mô 23
Hình 1.9 Thời điểm thích hợp để khoanh cành kích thích ra hoa nhãn 26
Hình 1.10 Biện pháp khoanh cành kích thích ra hoa nhãn 26
Hình 2.1 Đo đường kính tán cây 31
Hình 2.2 (a), (c) Cây đang cho đọt 3 và hình (b) lá có màu hồng lợt sắp chuyển sang xanh 32
Hình 2.3 Tưới Chlorate kali 32
Hình 2.5 Khoanh vỏ trên các nghiệm thức B 34
Hình 2.6 Khoanh vỏ trên các nghiệm thức C 34
Hình 2.7 Khoanh vỏ trên các nghiệm thức D 34
Hình 2.8 Khoanh vỏ trên các nghiệm thức E 34
Hình 2.9 Khoanh vỏ chừa cành thở cho cây 35
Hình 2.10 Đo chiều dài phát hoa 36
Hình 2.11 Đếm số trái trên chùm 41
Hình 2.13 Thước đo đường kính trái 41
Hình 2.14 Máy đo độ Brix 42
Hình 3.1 Tại cùng thời điểm, sự ra hoa ở những cây nhãn Xuồng cơm vàng ở nghiệm thức không xử lí ra hoa (đối chứng – hoa chưa nở hoàn toàn) 44
Hình 3.2 Tại cùng thời điểm, sự ra hoa ở cây nhãn Xuồng cơm vàng ở nghiệm thức xử lí hóa chất (hoa đã nở đều trên toàn phát hoa) 44
Trang 10Hình 3.3 Tỷ lệ ra hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng ở nghiệm thức không xử lí hóa
chất (tỷ lệ ra hoa trên các cành không đều) 46
Hình 3.4 Tỷ lệ ra hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng ở nghiệm thức xử lí hóa chất (tỷ lệ ra hoa trên các cành gần như đồng đều) 46
Hình 3.5 Chiều dài phát hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng trong nghiệm thức không xử lí hóa chất (đối chứng) 48
Hình 3.6 Chiều dài phát hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng trong nghiệm thức B 48 Hình 3.7 Chiều dài phát hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng trong nghiệm thức C 49 Hình 3.8 Chiều dài phát hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng trong nghiệm thức D 49 Hình 3.9 Chiều dài phát hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng trong nghiệm thức E 50 Hình 3.10 Giai đoạn chồi dinh dưỡng 50
Hình 3.11 Giai đoạn tượng hoa 50
Hình 3.12 Mô phân sinh dinh dưỡng đang hoạt động ở cây nhãn Xuồng cơm vàng 51 Hình 3.13 Mô phân sinh dinh dưỡng chuyển sang mô phân sinh sinh sản ở cây nhãn Xuồng cơm vàng 52
Hình 3.14 Tượng hoa ở cây nhãn Xuồng cơm vàng 52
Hình 3.15 Phát hoa nhãn Xuồng cơm vàng phát triển bình thường 53
Hình 3.16 Hiện tượng bông lá ở cây nhãn Xuồng cơm vàng 54
Hình 3.17 Số trái trên chùm đối với cây nhãn XCV không xử lí hóa chất ……….59
Hình 3.18 Số trái trên chùm đối với cây nhãn Xuổng cơm vàng xử lí hóa chất 59
Hình 3.19 Cân tính trọng lượng một trái nhãn ở nghiệm thức E 60
Hình 3.20 Đo kích thước trái nhãn Xuồng cơm vàng ở nghiệm thức D 60
Trang 11M Ở ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Nhãn (Dimocarpus longan Lour) là loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, có tính thích ứng rộng, một loài quả quý trong tập đoàn giống cây ăn quả ở nước ta Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng trong quả nhãn cho thấy: đường tổng số 13,38 -22,55% trong đó đường glucose 3,85 - 10,16%, axit tổng số 0,096 - 0,109%, vitamin C 43,12 - 163,70 mg/10g cùi quả, vitamin K 196,5 mg/100 g Như vậy, nhãn có chất dinh dưỡng khá cao rất cần cho sức khỏe con người Nhãn tươi và nhãn chế biến là các
mặt hàng giá trị, được tiêu thụ rộng rãi cả trong và ngoài nước, được xuất khẩu sang các nước như Trung Quốc, Đài Loan, Campuchia, Lào …[20], [21], [22]
Nhãn có thể cao từ 10 - 15 m (nhãn Bắc) trong Nam nhãn Tiêu da bò cao 6 - 7 m, nhãn Long 3 - 4 m Thân nhiều cành, lá um tùm xanh tươi quanh năm Lá dạng kép hình lông chim, mọc so le, gồm 5 - 9 lá chét hẹp, dài từ 7 - 20 cm, rộng 2,5 - 5 cm Mùa xuân vào các tháng 2, 3, 4 nhãn cho ra hoa, mọc thành chùm ở đầu cành và kẽ lá, đài 5 - 6 răng, nhị 6 - 10, bầu 2 - 3 ô, mùa thu hoạch vào tháng 7, 8 [20], [21], [22] Nhãn thuộc nhóm cây ăn quả Á nhiệt đới có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc khu
vực giữa Burma và Ấn Độ Giống nhãn hoang dã được tìm thấy ở quần đảo Hawaii Cây nhãn trồng nhiều ở Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam… Nhãn là cây trồng khá
phổ biến ở Việt Nam Đến cuối năm 2005 diện tích trồng nhãn đạt 120,6 ngàn ha, sản lượng 629,1 ngàn tấn Riêng các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long có 47,7 ngàn ha với
tổng sản lượng 413 ngàn tấn [20], [21], [22]
Trong những năm gần đây, nhãn là cây ăn quả được nhiều địa phương quan tâm
với diện tích ngày càng mở rộng Nhãn được xem là cây trồng chuyển dịch cơ cấu sản
xuất nông nghiệp ở các tỉnh đồng bằng cũng như trung du và miền núi Nhiều tỉnh đang có kế hoạch mở rộng diện tích trồng nhãn như Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, và phía Nam có các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng [20], [21], [22]
Có nhiều giống nhãn được trồng phổ biến như nhãn Tiêu da bò, nhãn Long, nhãn Super, nhãn Idor,…Trong đó, nhãn Xuồng cơm vàng là một trong những giống nhãn
hiện đang được những người trồng nhãn rất quan tâm bởi những ưu điểm như trái to,
Trang 12trọng lượng trái cao, phẩm chất ngon, cơm dày, khả năng sinh trưởng khá Do những đặc điểm nổi bật như vậy nên nhãn Xuồng cơm vàng rất được người tiêu dùng ưa chuộng và do đó giá bán của giống nhãn này cao hơn nhiều so với các giống nhãn khác Tuy nhiên, nhãn thường cho trái muộn do cây không thể khởi phát hoa trừ khi được kích thích hoặc do bản thân cây có khả năng ra hoa nhưng nó lại bị ức chế bởi điều kiện không thích hợp của môi trường Vì vậy, sản lượng qua các năm không đồng đều, thu hái tâp trung vào chính vụ dẫn đến giá bán thấp [8], [12]
Ở Tiền Giang, nhãn ra hoa từng chùm to thường là hoa đực và hoa lưỡng tính, hoa nhãn có 5 cánh màu trắng vàng Nhãn có tính thích ứng rộng, chịu hạn, chịu ngập úng, trồng được trên đất chua, đất nghèo chất dinh dưỡng [20], [21], [22]
Việc thu hoạch nhãn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thường tập trung theo mùa nên có thời điểm sản lượng tăng vọt, khiến cung vượt cầu, dễ dẫn đến tình trạng
dội chợ, giá rẻ Trong khi đó nhãn mùa nghịch hoặc ở các thời điểm khác trong năm thì khan hiếm, giá tăng cao Diện tích trồng nhãn cả nước sẽ còn cao hơn rất nhiều với
sản lượng rất lớn, không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn tham gia xuất khẩu Tuy nhiên, tổng giá trị và lợi nhuận thu được từ nhãn thì vẫn chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế vốn có Do hầu hết các giống cây ăn trái cũng như nhãn trong khu vực đều ra hoa, kết trái và thu hoạch theo mùa vụ nhất định trong năm Vào những thời điểm đó, sản lượng trái cây cung cấp cho thị trường rất lớn, khiến cho
hiệu quả sản xuất không cao Để khắc phục tình trạng này, phương án xử lí ra hoa sớm
ở nhãn để nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vườn một cách bền vững Phương án rải vụ là chủ động xử lý, điều chỉnh sao cho cây ra trái nghịch vụ sớm hơn hoặc muộn hơn thu hoạch để tránh tình trạng thu hoạch tập trung trong một thời gian ngắn với sản lượng lớn Cần chọn thời điểm rải vụ thích hợp và phù hợp với từng vùng sinh thái của địa phương Đảm bảo tỷ lệ
hợp lý để giá cả của nhãn luôn ổn định nhằm đem lại lợi nhuận cao cho nhà vườn [111], [22], [34] Giải pháp rải vụ trên cây trồng cũng đã được nghiên cứu và thực hiện trên nhãn Tiêu da bò và nhãn Xuồng cơm vàng bởi Bùi Thị Mỹ Hồng và cộng sự (2002), (2006) [111], [112]
Trang 13Do đó đề tài “KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ RA
HOA SỚM TRÊN CÂY NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG (DIMOCARPUS
LONGAN LOUR.” cần được thực hiện nhằm mục đích tìm ra phương pháp xử lí nhãn ra hoa sớm, tăng giá thành sản phẩm
II Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm ra những phương pháp xử lý ra hoa thích hợp nhằm tăng khả năng ra hoa
của cây nhãn Xuồng cơm vàng
- Tăng giá thành sản phẩm, góp phần cải thiện thu nhập cho các nhà vườn
III Đối tượng nghiên cứu
- Giống: Nhãn Xuồng cơm vàng, gốc ghép nhãn tiêu da bò, 5 năm tuổi
- Thời gian : Bắt đầu từ tháng 12/2013 đến 7/2014
IV Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các tư liệu sách báo, những đề tài đã thực thi trước đó nhằm áp dụng các kiến thức cần thiết vào đề tài
- Khảo sát sự ra hoa của cây nhãn Xuồng cơm vàng trong tự nhiên
- Quan sát hình thái giải phẫu của chồi non để tìm hiểu ảnh hưởng của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật đến sự ra hoa
- Đo hoạt tính các chất điều hòa sinh trưởng thực vật dạng tự do trong chồi non
- Khảo nghiệm ảnh hưởng của một số phương pháp xử lý đến sự ra hoa trên cây nhãn Xuồng cơm vàng 5 năm tuổi tại Tiền Giang
- So sánh tỷ lệ ra hoa trên cây ở các nghiệm thức để tìm ra những nghiệm thức tốt , kích thích cây nhãn Xuồng cơm vàng ra hoa sớm
- Xác định hiệu quả kinh tế và năng suất nhãn
- Xử lý số liệu
IV Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Thân cửu Nghĩa, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang
Trang 14Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm cây nhãn Xuồng cơm vàng
Loài: Dimocarpus longan Lour [16]
1.1.2 Đặc điểm nông học của cây nhãn
Rễ quá độ: rễ hút hình thành khoảng hơn một tháng thì bó gỗ ở lõi phình to dần
và gỗ hóa, màu sắc từ trắng trong chuyển sang nâu hồng, mô mềm ở ngoài nứt vỡ dần
và mất đi Khả năng hút nước của rễ yếu và kém dần, lúc này khả năng vận chuyển lại tăng lên, sau biến thành rễ vận chuyển [20], [21]
Rễ vận chuyển: Rễ có màu nâu đỏ, sinh trưởng khỏe, bó gỗ khá phát triển, vỏ ngoài của rễ lúc này không còn mô mềm mà có những chấm nhỏ lồi lên Ở những điểm lồi này có thể mọc ra những rễ hút mới Chức năng của rễ lúc này là vận chuyển nước, dinh dưỡng… nên được gọi là rễ vận chuyển [20], [21]
Rễ nhãn cũng như rễ vải thuộc nhóm cây ăn trái có rễ nấm, rễ hút phình to, không có lông hút Nhờ có rễ nấm mà cây có thể thích nghi được với điều kiện đất đồi
Trang 15nghèo dinh dưỡng và thiếu nước Bộ rễ nhãn rất phát triển Cấu tạo của bộ rễ gồm có
rễ cọc và rễ ngang Thông thường rễ cọc ăn sâu 2 - 3 m, cá biệt sâu 5 m, rễ ngang phân
bố trong tầng đất 0 - 70 cm dưới hình chiếu của tán cây Còn ở ngoài tán thì chỉ ở tầng sâu 10 - 30 cm, rễ ngang có thể ăn xa gấp 2 - 3 lần hình chiếu của tán [20], [21]
1.1.2.2 Thân
Theo Trần Thế Tục (1999), mầm ngọn hay mầm nách của nhãn đều có thể phát triển thành cành Hình thành thân cành của nhãn có điểm khác với cây ăn quả khác là khi cây đã ngừng sinh trưởng mầm ngọn ở đỉnh được các lá kép rất non bọc lấy, gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi mầm ở đỉnh này kéo dài thêm Qua các đợt lộc trong năm, cứ mỗi đợt ở phần ngọn lại được bao bọc bởi các tầng lá kép, dần dần các lá này
rụng đi để trơ ra một đoạn trống Cành càng thành thục thì lớp vỏ càng cứng và thô, màu nâu sậm và trên vỏ cành có những đường vân nứt Cây nhãn nhìn chung giống cây vải và chôm chôm Cây nhãn cao trung bình 5 - 10 m, tán tròn đều [4], [20], [21]
1.1.2.3 Lá
Lá nhãn thuộc loại lá kép lông chim Lá đơn mọc đối xứng hay so le Đại bộ phận các giống nhãn có từ 3 - 5 đôi lá, Lá nhãn hình mác, mặt lá đậm, lưng lá nhạt,
cuống lá ngắn, gân chính và gân phụ nổi rõ Lá non màu đỏ, tím hay đỏ nâu tùy giống
và thay đổi theo thời tiết Lá nhãn từ lúc bất đầu đến thành thục biến động trong khoảng thời gian 40 - 50 ngày tùy nơi trồng, điều kiện dinh dưỡng và mùa vụ Tuổi thọ
của lá là 1 - 3 năm [20], [21]
1.1.2.4 Đặc tính hoa nhãn
Cấu tạo của chùm hoa: là loại hoa kép được cấu tạo bởi một trục chính và nhiều nhánh Trên một chùm hoa có nhiều hoa tùy thuộc vào độ lớn của cây và mùa vụ trong năm Theo tạp chí khoa học năm 2008 phát hoa kéo dài và tăng trưởng nhanh trong 4
tuần đầu, tăng trưởng chậm khi bắt đầu nở hoa và đạt kích thước tối đa trong 37,6 ngày, tương ứng với thời điểm hoa nở tập trung Hoa nhãn gồm có bốn loại: hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính và hoa dị hình Trên cây nhiều nhất là hoa đực, rồi đến hoa cái, hoa lưỡng tính không nhiều [20], [21]
Hoa đực: Đường kính 4 - 5 micro, nhị cái thoái hóa, hoa có năm cánh màu vàng
nhạt, có 7 - 8 chỉ nhị và túi phấn xếp hình vòng Túi phấn dính vào đầu chỉ nhị Khi
Trang 16thành thục túi phấn nứt ra, phấn hoa tung ra ngoài để thụ phấn Hoa nở 1 - 3 ngày thì tàn
Hoa cái: Ngoại hình và độ lớn giống hoa đực, có 7 - 8 chỉ nhị, nhưng nhị đực đã thoái hóa Có hai bầu nhị kết hợp làm một, ở giữa có một nhụy khi thành thục đầu
nhụy chẻ làm đôi, cong lại Sau khi hoa cái nở, nhụy hoa tiết ra một loại dịch nước, sau
thụ phấn 2 - 3 ngày cánh hoa héo, bầu hoa phát triển và có màu xanh
Hoa lưỡng tính: Hình thái hoa giống hoa đực và hoa cái, nhị đực và nhị cái của hoa phát triển bình thường, có khả năng thụ phấn để phát triển thành quả [20], [22]
1.1.2.5 Trái
Trái thuộc loại phì quả, đường kính 1 - 3 cm, màu xanh mờ khi còn non, khi trái chín có màu vàng sáng, nâu trắng hay xanh Chùm trái có thể mang đến 80 trái, trọng lượng thay đổi từ 5 - 20 g/trái (trọng lượng tốt nhất để bán tươi là 12 - 18 g/trái), vỏ trái mỏng, láng hay dai Trái có hình cầu, tròn dẹp, cân đối hay hơi lệch, đỉnh trái tròn,
cuống trái hơi lõm Vỏ trái nhãn thường trơn nhẵn, cũng có giống hơi xù xì màu vàng xám hay nâu nhạt [6] Cơm trái ít dính vào hạt, có thể chiếm 75% trọng lượng trái Vì cơm phát triển từ tế bào của tể hạt do đó chỉ làm giảm kích thước hạt chứ không làm tiêu hạt Hàm lượng đường tổng số của cơm trái thay đổi từ 15 - 25% khi chín [5]
1.1.2.6 H ạt
Kích thước hạt thay đổi theo giống, hạt tròn, đen Lá mầm trong hạt màu trắng,
có nhiều tinh bột, phôi màu vàng Độ lớn hạt cũng rất khác nhau giữa các giống, thường từ 1,6 - 2,6 g, chiếm 17,3 - 42,9% trọng lượng trái Cũng có giống nhãn hạt rất
bé, hầu như không có hạt, do kết quả thụ tinh kém [20]
1.1.2.7 Đặc điểm ra hoa, đậu trái
Trên một chùm hoa, hoa cái nở trước và tập chung trong vòng 3 ngày, sau đó đến hoa đực Hoa bắt đầu nở ở gốc và giữa phát hoa, sau đó nở dần lên trên [10]
Hoa nở bắt đầu bằng sự nứt lá đài khoảng 19:00 tối đến khoảng 3:00 sáng ngày hôm sau bắt đầu nhú vòi nhụy Thời gian từ khi nứt đài đến rụng cánh hoa diễn ra trong vòng 3 ngày Hoa nở vào ban đêm, nhưng thụ phấn vào ban ngày, lúc này có nhiều côn trùng hoạt động giúp cho quá trình thụ phấn diễn ra thuận lợi [10]
Trang 171.1.3 Đặc điểm sinh học và nguồn gốc nhãn Xuồng cơm vàng
Nhãn Xuồng cơm vàng là giống có nguồn gốc ở Vũng Tàu, được trồng bằng hạt, cùi dày, màu hanh vàng, ráo nước, giòn, rất ngọt, được thị trường ưa chuộng Đặc điểm dễ nhận diện là quả có dạng hình xuồng, quả chưa chín gần cuống có màu đỏ, khi chín vỏ nhãn có màu vàng da bò Nhãn Xuồng cơm vàng thích hợp trên vùng đất cát,
nếu trồng trên đất thịt hoặc sét nhẹ thường sẽ được ghép trên gốc ghép là giống Tiêu
Đủ khả năng ra hoa được biểu lộ nếu một tế bào, mô hay một cơ quan biểu lộ
một dấu hiệu và sự đáp ứng của nó trong một cách được mong muốn Cây phải đạt được sự thành thục cần thiết để ra hoa [5], [6], [10]
Tình trạng đủ khả năng ra hoa trên cây xoài được định nghĩa là “khi đạt được tình
trạng mà hàm lượng gibberellin trong lá xuống dưới một ngưỡng nào đó” Ở Thái Lan,
mức độ GA3 giảm đều đặn và cây ra hoa ở thời điểm có hàm lượng GA3 thấp nhất [5], [6], [10]
1.2.2 C ảm ứng ra hoa
Cảm ứng xuất hiện khi mô đủ khả năng ra hoa, được hiểu như là một sự chuyển đổi đột ngột của quá trình phát triển [5], [6]
Trên cây xoài, khi đủ khả năng ra hoa trong lá và mầm thì một dấu hiệu cảm ứng
cần thiết xảy ra đồng thời với sự phân hóa mầm hoa là những đợt lạnh của mùa đông ở vùng Á nhiệt đới, trong khi ở vùng Nhiệt đới thì thiếu dấu hiệu này Sự khô hạn có thể thay thế phần nào yếu tố nhiệt độ lạnh nhưng ở vùng nhiệt đới với lượng mưa phân bố tương đối đều trong năm làm sự ra hoa không đều nên năng suất thấp [5], [6]
Trang 181.3 Sự chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sang giai đoạn sinh sản
1.3.1 S ự thay đổi về hình thái giải phẩu của chồi ngọn
Đo lường thời gian chính xác của sự thay đổi về hình thái giải phẫu ở đỉnh chồi trong thời kỳ chuyển sang giai đoạn ra hoa cho thấy hình thành hoa thường đi cùng
hoặc đi trước với nhiều thay đổi được ghi nhận là triệu chứng ra hoa Những dấu hiệu chung và sớm nhất bao gồm:
• Sự kéo dài lóng
• Sự tượng của mầm chồi bên
• Sự sinh trưởng của lá giảm
• Sự thay đổi hình dạng của lá
• Sự tăng tỉ lệ của sự khởi của mô phân sinh lá
• Sự thay đổi hình dạng và kích thước mô phân sinh
Mô phân sinh dinh dưỡng thường phẳng hoặc hơi cong khi có sự tượng của mầm hoa, ta thường thấy mô phân sinh ngọn nhô lên (tăng kích thước chiều rộng và chiều cao) Tăng kích thước mô phân sinh bởi sự gia tăng kích thước tế bào [1], [5], [6]
1.3.2 S ự thay đổi về kiểu sắp xếp lá
Nhịp độ sinh trưởng ở ngọn tăng nhanh một cách khác thường, điều kiện cảm ứng sự khởi phát hoa lấy đi sự ức chế sự sinh trưởng nói chung không những bên trong
mô phân sinh mà c̣òn xuyên qua cả đỉnh chồi [5], [6]
Sự khởi phát hoa sớm của mầm chồi nách, tăng tỉ lệ sự hình thành lá và những
phần phụ khác, kiểu sắp xếp lá thay đổi xuất hiện như là một dấu hiệu chung nhất cho
sự khởi phát hoa [5], [6]
Trang 19Ra hoa có thể xuất hiện riêng lẽ trong điều kiện cảm ứng không đủ để hình thành hoa được gọi là sự cảm ứng từng phần Thay đổi từng phần này chỉ ra rằng: (1) Những
dấu hiệu thay đổi trong mỗi bước theo sau để hình thành hoa hoặc hoàn tất sự gợi phát hoa và (2) sự gợi phát hoa không cần thiết phải qua đủ các giai đoạn [5], [6]
1.3.3 S ự thay đổi về mặt sinh hóa của mô phân sinh ngọn chồi
1.3.3.1 S ự tăng nhanh tế bào
Sự gợi phát hoa được đặc trưng bởi quá trình thúc đẩy phân chia tế bào ở cả phía ngoài và ở giữa của mô phân sinh chồi [5], [6]
1.3.3.2 B ản chất của sự gợi phát hoa
Có nhiều yếu tố môi trường ảnh hưởng lên sự ra hoa và các hình thức sinh sản,
những đặc trưng của sự chuyển tiếp sự ra hoa dường như chung nhất giữa các loài
Khởi phát hoa thì giống nhau ở tất cả các loại cây
Có vô số sự kiện thay đổi xảy ra ở mô phân sinh khi có sự gợi phát hoa, tuy nhiên, điều khó xác định là thay đổi nào quyết định sự gợi ra hoa còn thay đổi nào xảy
ra kèm theo mang tính ngẫu nhiên hay tình cờ
Sự gợi ra hoa được quan niệm như là kết quả sinh ra từ một chất điều hòa sinh trưởng đặc biệt nào đó mà thúc đẩy ra hoa Chất điều hoà sinh trưởng khi đạt đến mô phân sinh tiếp nhận sẽ gây ra hàng loạt thay đổi phức tạp tiếp theo xảy ra một cách đồng thời dẫn đến hình thành mầm hoa [5], [6]
1.3.3.3 Ức chế sinh trưởng cần thiết cho sự gợi ra hoa
Ức chế sinh trưởng cần thiết cho quá trình gợi phát ra hoa, là một bằng chứng thứ hai xuất hiện ở thời kỳ chuyển tiếp giai đoạn ra hoa Kết quả ngoài đồng ruộng trên cây ăn trái và cây hoa kiểng thân gỗ qua việc khoanh cành, tỉa cành, hạn chế bón phân đạm hoặc áp dụng những biện pháp ức chế tăng trưởng thúc đẩy ra hoa cho thấy rằng
có đối lập giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh sản Khô hạn hay lạnh thúc đẩy hình thành mầm hoa là kết quả của việc xử lý làm giảm sinh trưởng [5], [6]
1.3.3.4 Đảo ngược của đỉnh sinh sản đối với sinh trưởng dinh dưỡng
Thông thường cây chuyển qua giai đoạn sinh sản thường bị chi phối bởi yếu tố môi trường (yếu tố quang kỳ hoặc nhiệt độ thấp) Trong một số loài tình trạng sinh sản
Trang 20có thể bị mất một cách rõ ràng và chồi dường như trở lại tình trạng sinh trưởng dinh dưỡng như trước Có nhiều hình thức biến đổi khác nhau như:
− Cành sớm ra hoa và lá có hình hoa thị: Cành “sớm ra hoa” hay còn được gọi là bông lá Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do sự kích thích dưới mức tối hảo hoặc
áp dụng GA3 Sự xuất hiện của tình trạng này có thể gây ra sự nhầm lẫn là mô phân sinh chưa thực sự chuyển sang giai đoạn ra hoa
− Lá bất bình thường hoặc lá bắc có bộ phận như lá: Trong điều kiện cây chỉ
được kích thích ở bên ngoài làm cho lá trở lại tình trạng sinh trưởng hoặc lá bắc có hình dạng, kích thước bất bình thường [5], [6]
− Sự đảo ngược phát hoa: Nghĩa là phát hoa đã hình thành đầy đủ các bộ phận
của hoa hoặc tất cả những đặc tính của một chồi sinh trưởng dinh dưỡng Hiện tượng này xuất hiện một cách tự phát trên một số loài như cây khóm Sự biến đổi phát hoa do:
+ Sự phát triển của lá bắc có những bộ phận như lá, trong lúc đó ở những phát hoa bình thường thì không có lá bắc
+ Sự phát triển chệch hướng của mầm hoa, mầm hoa biến thành chồi nách thay vì
1.3.4 C ấu trúc và chức năng của mô phân sinh ngọn chổi
1.3.4.1 Nh ững điểm cơ bản về mô phân sinh ngọn chồi
Một trong bốn đặc tính của cơ thể sống là tăng trưởng và phát triển Ở thực vật sinh trưởng là vô hạn, đó là kết quả của quá trình hoạt động phân sinh có thể diễn ra trong suốt đời sống thực vật Mô phân sinh gồm những tế bào còn non, phân cắt tích
cực để tạo ra những tế bào mới Mô phân sinh có ở nơi tăng trưởng mạnh như ngọn rễ
và ngọn thân, vỏ cây, giữa phần vỏ và gỗ Những tế bào được sinh ra từ mô phân sinh
Trang 21và chuyên hóa thành mô trưởng thành vĩnh viễn thường vẫn giữ đặc điểm về cấu trúc,
chức năng trong suốt đời sống của chúng và không phân chia nữa
Mô phân sinh bao gồm những tế bào phôi có khả năng phân cắt Phân cắt tế bào
xảy ra trong khắp phôi còn non, nhưng khi cây phát triển, nhiều vùng trở nên chuyên hóa để thực hiện các chức năng khác nhau và ngừng phân cắt Kết quả là sự phân cắt tế bào chỉ diễn ra ở một số vùng nhất định được gọi là vùng phân sinh Tùy theo nguồn
gốc phát triển có thể chia làm mô phân sinh ngọn và mô phân sinh bên [23], [25]
Hình 1.1 Mô phân sinh ngọn thân (a) Mô phân sinh ngọn thân (b) Lá đầu tiên (c) Chồi nách (d) Lá
(e) Mô cơ bản
1.3.4.2 Ngu ồn gốc của mô phân sinh ngọn chồi
Sự hình thành mô phân sinh ngọn chồi: Tế bào noãn cầu sau khi thụ tinh tạo hợp
tử (2n), hợp tử phân chia nhiều lần tạo một khối tiền phôi hình cầu và phát triển thành phôi Ở giai đoạn đầu của sự phát triển, phân chia tế bào tiến hành trong toàn khối phôi, khi phôi đã hoàn chỉnh với “rễ mầm, thân mầm, chồi mầm” và trở nên độc lập thì
những tế bào mới được bổ sung chỉ giới hạn ở một số nơi hay một số vùng c̣òn non
của cây, vùng đó gọi là vùng phân sinh chứa các mô phôi tồn tại suốt đời sống của cây
Ở cây trưởng thành, mô phân sinh còn lại rất ít và được duy trì ở những vùng đặc
biệt gọi là những đỉnh sinh trưởng Các đỉnh sinh trưởng này nằm ở đầu ngọn thân,
Trang 22ngọn cành, chót rễ, chồi nách Sự phát triển theo chiều dài do mô phân sinh đỉnh tạo ra được gọi là sinh trưởng sơ cấp [23], [36]
Hình 1.2 Quá trình hình thành mô phân sinh ngọn chồi [38]
Sự sinh trưởng tận cùng làm cho thân dài ra nhờ vùng sinh trưởng ở đầu ngọn thân Mô phân sinh đỉnh là một khối tế bào hình vòm đang phân chia Tất cả lá đều
mọc ra ở bên cạnh khối mô phân sinh [23], [25], [36]
1.3.4.3 Cấu trúc và chức năng của mô phân sinh ngọn chồi
Tế bào mô phân sinh ngọn thường có kích thước nhỏ, đường kính gần như nhau;
tế bào của tầng phát sinh thường dài, hẹp, hình thoi Chiều dày vách tế bào mô phân sinh thường mỏng, chỉ có lớp chung và vách sơ lập, giữa các tế bào mô phân sinh không có khoảng gian bào
0Hình 1.3 Cấu trúc tế bào mô phân sinh ngọn chồi [36]
Trang 23Mô phân sinh ngọn chồi rất khác nhau về hình dạng và kích thước ở nhóm thực
vật có hạt Thực vật Hạt kín thường có đỉnh chồi nhỏ, có đường kính thay đổi khoảng
giữa 90µm (ở một số thuộc họ Lúa) và 100 - 200 µm ở nhiều thực vật Hai lá mầm
Đặc điểm quan trọng của mô phân sinh ngọn chồi là sự phân lớp và vùng
Hình 1.4 A Mô phân sinh ngọn chồi (Arabidopsis) [23]
B Sơ đồ tổng quát chỉ các vùng mô phân sinh ngọn
Mô phân sinh ngọn chồi (Arabidopsis) có 3 lớp (hình 1.4 A): L1 và L2 tạo ra vỏ, L3 là thể và ở giữa là vùng đỉnh Vỏ cho các lớp biểu bì và dưới biểu bì của thân và lá
một số ít tế bào từ các phân chia trong vỏ và thể cho sơ khởi lá, thân, nụ nách và các
bộ phận của hoa (nếu là nụ hoa)
Vài tác giả chia mô phân sinh ngọn thành 3 vùng chính (hình 1.4 B):
+ Vùng đỉnh: được tạo bởi các tế bào tương đối lớn với không bào to Đó là vùng mô phân sinh chờ, chỉ hoạt động khi mô phân sinh ngọn chuyển sang trạng thái sinh sản + Vùng bên: gồm các tế bào nhỏ hơn với không bào nhỏ, có hoạt tính phân chia cao Vùng bên thường được gọi là vùng khởi sinh hay vùng phát sinh cơ quan, nơi phát sinh các lá và các mô của thân bao gồm các mô dẫn
+ Vùng lõi: nằm dưới vùng đỉnh, được tạo bởi vài dải tế bào xếp chồng lên nhau Các
tế bào có không bào lớn Đây là vùng phát sinh mô,chỉ cho mô lõi (mọi mô khác có nguồi gốc từ vùng bên)
Chồi hiện diện ở ngọn thân hay chồi ngọn hay ở nách lá (chồi nách), được tạo bởi
mô phân sinh ngọn và các phát thể lá phân sinh chồng lên nhau [23], [25], [36]
Trang 241.3.4.4 Ho ạt động của mô phân sinh ngọn chồi
Trong mô phân sinh ngọn có thể phân biệt một vùng mô trước phân sinh và vùng phân sinh ở dưới đó Trong vùng phân sinh thì các nhóm tế bào có sự phân hóa khác nhau chút ít Vùng trước phân sinh gồm các tế bào khởi sinh ngọn.Vùng mô phân sinh phân hóa gồm: tầng nguyên bì (protoderm) sẽ phát triển thành biểu bì của cây
biểu bì của cây, tầng trước phát sinh (promeristem) sẽ phát triển thành mô dẫn sơ cấp
và mô phân sinh cơ bản từ đó phát triển thành mô cơ bản [36]
Hình 1.5 Vùng mô phân sinh phân hóa [36]
a Đỉnh chồi dinh dưỡng
Đỉnh chồi dinh dưỡng được xem là phần tận cùng của chồi ngay trên mầm lá trên cùng Đỉnh chồi dinh dưỡng rất khác nhau về hình dạng, kích thước ở nhóm thực
vật có hạt, sự phân vùng tế bào và hoạt động phân sinh Kiểu sinh trưởng cơ bản là
gồm một vùng khởi sinh nằm ở xa trung tâm (tiền mô phân sinh) và hai vùng dẫn xuất (vùng ngoài và vùng trong), mà ở đó quá trình phát sinh mô và phát sinh cơ quan được
bắt đầu [25], [36]
b Đỉnh chồi sinh sản
Khi cây đạt đến giai đoạn sinh sản thì mô phân sinh ngọn của chồi ngừng hình thành các mầm phiến lá và bắt đầu tạo nên các phần của hoa theo một tuần tự đặc trưng cho từng loài Đỉnh chồi sinh sản thay thế đỉnh chồi dinh dưỡng, sản sinh ra hoa
hoặc cụm hoa.Trong quá trình này mô phân sinh ngọn chuyển từ sự sinh trưởng vô hạn
tới sự sinh trưởng có hạn bởi vì sự hình thành hoa là kết thúc hoạt động của mô phân sinh [25], [36]
Trang 25Cụm hoa có thể được phát sinh trên đỉnh ngọn của trục chính hoặc trục bên hoặc
cả hai Khi mô phân sinh ngọn ở vào giai đoạn sinh sản thì ít nhiều mô đó chịu những
sự biến đổi hình thái Đồng thời, bản chất của các cơ quan lá đối diện với những chồi nách cũng biến đổi, chúng phát triển như các lá bắc ít nhiều khác với lá tán Các mối quan hệ sinh trưởng dường như cũng có thay đổi, trong giai đoạn sinh sản các chồi nách xuất hiện sớm hơn và sinh trưởng mạnh mẽ hơn các mầm lá bắc đối diện
Trong quá trình phát triển hoa vùng mô phân sinh giảm bớt thay vì các phần của hoa lần lượt xuất hiện Ở một số hoa một phần của mô phân sinh còn được giữ lại sau khi bắt đầu hình thành lá noãn nhưng không hoạt động Ở những cây khác thì lá noãn
được sinh ra từ phần tận cùng của mô phân sinh ngọn [1], [23], [36]
1.4 Các yếu tố của sự ra hoa
1.4.1 S ự chuyển tiếp ra hoa
Sự chuyển tiếp ra hoa bao gồm các biến đổi sâu sắc của mô phân sinh ngọn, để
biến mô phân sinh dinh dưỡng thành mô phân sinh tiền hoa Đây là sự đánh thức mô phân sinh chờ Tuy nhiên, các biểu hiện đầu tiên của sự chuyển tiếp ra hoa thường không thấy bằng mắt thường, chỉ nhận biết bởi phân tích tế bào học hay sinh hóa học
Sự chuyển tiếp ra hoa xảy ra đồng thời với sự biến đổi rất rõ của bộ máy dinh dưỡng, đặc biệt là sự kéo dài lóng do hoạt động phân chia tế bào mạnh ở vùng dưới
mô phân sinh tiền hoa [6], [25]
1.4.2 S ự tượng hoa
Sự chuyển tiếp ra hoa cần khoảng 2 - 3 ngày để làm tăng hoạt tính phân chia tế bào của vùng đỉnh (mô phân sinh chờ), dẫn tới sự tượng hoa (sinh cơ quan hoa hay tượng các sơ khởi của bộ phận hoa), các tế bào ngoại vi phân hóa thành các sơ khởi
bầu noãn và bao phấn, các tế bào sâu hơn bên trong cho các cánh hoa Đài hoa có nguồn gốc từ vòng khởi sinh Sự phát triển các sơ khởi hoa xảy ra nhanh chóng, làm
chồi phồng lên thành nụ hoa Nụ hoa dễ thấy dưới kính lúp và sơ khởi của các bộ phận hoa quan sát dưới kính lúp hiển vi qua lát cắt dọc [24], [25]
1.4.3 S ự tăng trưởng và nở hoa
Khi sự tượng hoa hoàn thành, nụ hoa có thể tiếp tục tăng trưởng và nở hay vào
trạng thái ngủ [6], [24]
Trang 26Sự tăng trưởng và nở hoa ít được chú ý vì giống với sự phát triển dinh dưỡng trong khi sự tượng hoa rất được quan tâm vì chuyên biệt cho sự ra hoa [6], [25], [26] Phát thể của hoa khi đã hoàn thành, có thể trở vào trong trạng thái nghỉ trong một
thời gian
Sự tăng trưởng: Phát hoa trồi ra khỏi thân và cọng hoa dài ra Sự gia tăng này do
GA3và người ta có thể làm cho cây dài ra bằng chất này.Ở giai đoạn này mô phân sinh lõi tăng trưởng đột ngột để tạo thành cuống hoa [23], [25]
Sự nở hoa thật sự: Sự phân hóa của vùng ngoại vi của mô phân sinh ngọn để tạo
nụ hoa Khi những núm nhỏ hiện ra trên bề mặt của vùng ngoại vi để tạo nên những phát thể đầu tiên của các cơ quan hoa, khi đó sự tượng hoa hoàn thành [23], [25]
Cuối cùng đài và cánh xòe ra, các chỉ nhụy hay ngay ra Nguyên nhân do áp suất trương của các tế bào đài và vành tăng lên vì hoa bỗng hấp thu nước mau lẹ Khi hoa
nở, thực vật phung phí năng lượng Sự biến dưỡng đường bột và hô hấp tăng nhiều làm nhiệt độ của hoa tăng hơn môi trường
Ở vùng nhiệt đới, hầu hết các cây đều mang lá khi trổ hoa (ngoại trừ một số ít cây ra hoa nhưng chưa ra lá như cây phượng) Trong khi ở vùng ôn đới, cây đơm hoa trước vào mùa xuân, lá xuất hiện sau Cây ra hoa một lần rồi chết gọi là cây đơn kỳ
hoa như cây lúa, cây vạn thọ Cây có khả năng ra hoa nhiều lần gọi là cây đa kỳ hoa
như xoài, nhãn [6], [25], [26]
1.4.4 Các ch ất nội sinh
Các chất nội sinh (do tế bào tiết ra) như phytocrom, các chất điều hòa ra hoa, các hormon tăng trưởng thực vật và các chất dinh dưỡng có vai trò khác nhau trong sự ra hoa Phytocrom là một protein có chứa nhóm sắc thể và có vai trò nhận ánh sáng ở độ dài sóng nhất định trong quang kỳ (không phải ánh sáng trong quang hợp) Các chất điều hòa ra hoa giả thiết như varnalin (do nhiệt độ lạnh) hay florigen (do quang kì cảm ứng) cho tới nay vẫn chưa được chứng minh, tuy nhiên các hormon tăng trưởng thực
vật và các chất dinh dưỡng với vai trò dấu hiệu hóa học của sự ra hoa ngày càng được chú ý nhiều hơn [24], [25], [26]
Trang 271.4.5 Dinh dưỡng
1.4.5.1 Yêu c ầu về lượng
Do sự cạnh tranh giữa hai quá trình tăng trưởng và phát triển cơ quan sinh sản, có hai giới hạn:
+ Giới hạn dưới, mà dưới đó thực phẩm không đủ cho sự ra hoa
+ Giới hạn trên, mà trên đó sự phát triển dinh dưỡng chiếm ưu thế [6], [25]
1.4.5.2 Yêu c ầu về chất
Thông thường sự dinh dưỡng giàu đạm kích thích sự phát triển dinh dưỡng trong khi sự dinh dưỡng giàu carbon kích thích sự ra hoa Do đó, cần một tỉ lệ giữa carbohydrat và nitrogen (tỉ số C/N) thích hợp cho sự ra hoa [33]:
+ Quá cao: sự phát triển dinh dưỡng sẽ yếu (N là yếu tố giới hạn)
+ Cao: Sự ra hoa được kích thích
+ Thấp: Phát triển dinh dưỡng mạnh
+ Quá thấp: Phát triển dinh dưỡng yếu (Carbon là yếu tố giới hạn) [6]
1.5 Các kiểu nở hoa
Vị trí ra hoa trên cây có liên quan đến sự sinh trưởng và có ảnh hưởng rất lớn đến
biện pháp canh tác của cây Đối với ra hoa ở chồi tận cùng như cây xoài, nhãn, vải cây sẽ không sản xuất chồi sinh trưởng khi đang ra hoa hay mang trái [6]
Cây không phân nhánh
Ra hoa ở chồi tận cùng: chuối, khóm
Ra hoa ở nách lá: đu đủ, dừa
Cây phân nhánh
Ra hoa ở chồi tận cùng: Bơ, xòai, nhãn, vải, chôm chôm
Ra hoa ở nách lá: cà phê, ổi…[6]
1.6 Sự ra hoa của cây nhãn
Trong một phát hoa nhãn có mang hoa đực, hoa cái hoặc hoa lưỡng tính (với cả hai bộ phận đực và cái)
+ Hoa đực có ít hơn hoặc bằng tám nhị đực có lông xếp thành hàng đơn trên đế hoa (hình 1.6)
+ Hoa cái có mang bao phấn nhưng bất thụ và không có chức năng đực (hình 1.6)
Trang 28+ Hoa lưỡng tính có hai lá noãn, bầu noãn có nhiều lông tơ với núm nhụy có hai thùy (hình 1.6)
1Hình 1.6 Hoa đực (a), hoa lưỡng tính (b) nhãn Long [6]
2Hoa cái nhãn Tiêu Quế (c) Hoa nhãn thụ phấn chéo nhờ côn trùng như: ruồi (Apis cerana), kiến (A.florea),
ong mật (A.dorsata) Sự nở hoa của một phát hoa nhãn kéo dài từ 1 - 2 tuần [6], [7]
Sự nở của hoa nhãn trên cùng một phát hoa được ghi nhận theo thứ tự như sau: Đầu tiên là hoa đực, tiếp theo là hoa cái , hoa lưỡng tính Sự nở hoa của một phát hoa nhãn kéo dài từ 1 - 2 tuần Đậu trái thường thấy ở những hoa nở cùng với thời kỳ nở
của hoa đực, do đó, những hoa trước hay sau thời kỳ này thường có tỉ lệ đậu trái rất
thấp Quan sát giống nhãn Long và Tiêu da bò ở đồng bằng Sông Cửu Long thấy hoa nhãn thường nở làm ba đợt, đợt một và đợt hai trái phát triển mạnh, trong khi trái đậu vào đợt thứ ba thường phát triển chậm hơn từ 15 - 20 ngày và trái thường nhỏ [6]
b
a
c
Trang 291.7 Các yếu tố ảnh hưởng lên sự ra hoa của cây nhãn
Có bốn yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên sự ra hoa của cây nhãn là môi trường,
giống trồng, chất điều hòa sinh trưởng thực vật và biện pháp canh tác [6]
1.7.1 Môi trường
Yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự ra hoa và đậu trái Mưa nhiều trong thời kỳ ra hoa làm cho hoa bị rụng Điều kiện khí hậu nóng và khô làm cho tỉ lệ đậu trái thấp và làm rụng trái non Nhiệt độ thích hợp cho sự ra hoa và đậu trái nhãn ở Thái Lan từ 20 - 25oC, nhiệt độ trên 40oC làm trái bị thiệt hại và gây ra sự rụng trái non [5], [6]
Việc thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là đạm và kali cũng gây ra sự rụng trái, trái nhỏ
và phẩm chất kém Thời kỳ đậu trái nhãn đòi hỏi ẩm độ đất cao Tuỳ thuộc vào từng
giống và điều kiện khí hậu, thời gian từ khi thụ phấn đến khi thu hoạch vào khoảng 3,5
- 4,0 tháng Nếu gặp điều kiện thời tiết bất lợi, trái đậu đợt thứ ba thì thời gian thu
hoạch có thể kéo dài từ 15 - 20 ngày Hoa nhãn được sản xuất rất nhiều nhưng tỉ lệ đậu trái thấp và thường rụng ở giai đoạn hai tuần sau khi đậu trái (khi trái non có đường kính khoảng 1 cm) và khi trái bắt đầu phát triển thịt trái - “vô cơm” (hai tháng sau khi đậu trái) Phần thịt trái của giống nhãn Long phát triển chủ yếu từ 75 - 90 ngày sau khi đậu trái Trong khi trên giống nhãn Xuồng cơm vàng thời gian từ khi đậu trái đến khi thu hoạch là 12 tuần, trong đó, hạt phát triển nhanh từ tuần thứ 3 và đạt kích thước tối
đa ở tuần thứ 7, thịt trái phát triển từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 11 [2], [5], [6], [8], [18] Nhãn là cây trồng Á nhiệt đới, phát triển rất tốt trong điều kiện nhiệt đới, tuy nhiên sự ra hoa đòi hỏi phải có một mùa đông ngắn với nhiệt độ từ 15 - 22oC trong 8 -
10 tuần để kích thích sự ra hoa và theo sau là điều kiện nhiệt độ cao trong mùa xuân cho hoa phát triển Nếu nhiệt độ thấp kéo dài mầm hoa hình thành nhưng không phát triển được Ở ĐBSCL thời tiết lạnh thường xuất hiện vào tháng 12 đến tháng 1 và nóng dần lên vào tháng 2 - 3 nên đây là điều kiện thích hợp cho cây nhãn ra hoa Nếu mùa đông nhiệt độ lạnh không đạt đến ngưỡng ra hoa sẽ ảnh hưởng đến sự phân hóa
và hình thành mầm hoa nhưng nhiệt độ lạnh kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển
của phát hoa [6], [8]
Trang 30Từ khi đậu trái trở về sau, nhiệt độ không cản trở cho sự phát triển của trái với điều kiện nhiệt ban đêm thấp hơn 20 - 25o
C Khô hạn hay ngập úng cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên sự ra hoa nhãn Ẩm độ đất cao sẽ sản xuất ra bông lá và mang ít trái [5], [6]
1.7.2 Gi ống
Hiện nay, ở ĐBSCL có rất nhiều giống nhãn nhưng có thể phân thành ba nhóm: nhóm nhãn Long, nhóm nhãn Giồng và nhóm nhãn Tiêu da bò [5], [6]
+ Nhóm nhãn Long gồm có nhãn Long, nhãn Super ra hoa tự nhiên theo mùa và
có thể kích thích cho ra hoa quanh năm
+ Nhóm nhãn Giồng như: Nhãn Giồng Bạc Liêu, Vĩnh Châu, Nhị Quý, nhãn
Xuồng cơm vàng, nhãn Xuồng cơm trắng ra hoa theo mùa và khó kích thích ra hoa trái
vụ
+ Nhóm nhãn Tiêu da bò hầu như không ra hoa theo mùa mà phải được kích thích mới ra hoa
3
Hình 1.7 a) Nhãn E-daw của Thái Lan, b) Nhãn Xuồng cơm vàng ở Vĩnh Châu [6]
1.7.3 Ch ất điều hòa tăng trưởng
Lượng cytokinin rất thấp trong thời kỳ ra đọt, sau đó cytokinin được chuyển đến
chồi và tích lũy trong mầm ngủ trong thời kỳ nghỉ và lượng cytokinin tự do tăng trong
Trang 31thời kỳ tượng hoa dẫn đến thúc đẩy sự phát triển mầm hoa Sự gia tăng hàm lượng cytokinin dẫn đến sự thúc đẩy sự phân hóa mầm hoa và sự phát triển phát hoa
Trong thời kỳ tượng hoa hàm lượng cytokinin cao trong khi hàm lượng gibberellin và acid abscisic thấp [5], [6], [29]
Sự biến động của các chất điều hòa sinh trưởng trong thời kỳ ra hoa nhận thấy hàm lượng auxin (IAA) cao trong thời kỳ phân hóa hoa lưỡng tính đực và thấp trong
thời kỳ phân hóa hoa lưỡng tính cái Sự phân hóa hoa đi cùng với sự tăng hàm lượng gibberellin (GA3) Hàm lượng ABA thấp trước khi phân hóa giới tính nhưng tăng ở
thời kỳ hoa nở Tỉ lệ (IAA+ZR+GA3)/ABA tăng trong thời kỳ hình thành hoa cái nhưng thấp trong thời kỳ hoa nở [19], [23], [29]
1.7.3.1 Vai trò c ủa auxin
Auxin kích thích mạnh sự kéo dài tế bào ở ngọn chồi (auxin phối hợp với cytokinin) giúp sự tăng trưởng chồi non và khởi phát sự tạo mô phân sinh ngọn chồi từ nhu mô Tuy nhiên, ở nồng độ cao, auxin cản sự phát triển của chồi nách Auxin gây
hiện tượng ưu thế ngọn Khi chồi ngọn hoặc rễ chính sinh trưởng sẽ ức chế sinh trưởng
của chồi bên và rễ bên [3], [6], [23]
Auxin kích thích sự thành lập hoa ở họ Thơm (Bromeliaceae) thông qua sự kích thích sản sinh ethylene Auxin ngoại sinh như IAA, NAA ức chế sự thành lập hoa khi được áp dụng dưới những điều kiện cảm ứng [3], [6], [23]
1.7.3.2 Vai trò c ủa acid abscisic (ABA)
Acid abscisic được tổng hợp nhiều trong các bộ phận già và các bộ phận đang
ngủ nghỉ của cây Nó được vận chuyển trong cây không phân cực (vận chuyển đi mọi hướng) Khi cây gặp điều kiện ngoại cảnh bất lợi hạn hán, úng, đói dinh dưỡng, bị thương tổn, bị bệnh thì hàm lượng acid abscisic ở trong cây tăng lên làm cho cây mau già
Trong điều kiện ngày ngắn, hàm lượng ABA gia tăng trong lá và mầm chồi đã
dẫn đến sự miên trạng Tuy nhiên cũng có trường hợp trong điều kiện ngày ngắn gây
ra sự miên trạng trong vài loài lại không có sự gia tăng ABA nội sinh Việc xử lý ABA ngoại sinh lên mầm chồi và lên hạt đã kích thích miên trạng của chúng [3], [6], [11] [19]
Trang 321.7.3.3 Vai trò c ủa cytokinin
Tính chất đặc trưng của cytokinin là kích thích sự phân chia tế bào mạnh mẽ Cytokinin ảnh hưởng rõ rệt lên sự hình thành và phân hóa cơ quan của thực vật, đặc
biệt là sự phân hóa chồi Người ta đã chứng minh rằng sự cân bằng giữa tỷ lệ auxin (phân hóa rễ) và cytokinin (phân hóa chồi) có ý nghĩa rất quyết định trong quá trình phát sinh hình thái của mô nuôi cấy in vitro cũng như trên cây nguyên vẹn Nếu tỷ lệ auxin cao hơn cytokinin thì kích thích sự ra rễ, còn tỷ lệ cytokinin cao hơn auxin thì kích thích ra chồi Ðể tăng hệ số nhân giống, người ta thường tăng nồng độ cytokinin
trong môi trường nuôi cấy ở giai đoạn tạo chồi Ở trong cây rễ là cơ quan tổng hợp cytokinin chủ yếu nên rễ phát triển mạnh thì hình thành nhiều cytokinin và kích thích
chồi trên mặt đất cũng hình thành nhiều [28]
Cytokinin có khả năng kích thích chồi bên và đặc biệt là vượt qua ảnh hưởng ưu
thế chồi ngọn [3], [6], [19], [23]
1.7.3.4 Vai trò c ủa gibberellin
Trong tất cả các bộ phận của cây đều phát hiện cógibberellin, kể cả hột khô Tuy nhiên, hiện diện nhiều ở phôi, lá non, cành non, hột đang nảy mầm [18].Gibberellincó tác dụng sinh lý rất rộng, rõ nhất là làm tăng trưởng nguyên cây Cơ chế thúc đẩy sự tăng trưởng của gibberrellin ở tác dụng làm kéo dài tế bào và tăng tốc độ phân bào
GA3 kích thích sự tăng trưởng lá, trái, kéo dài thân và vươn dài lóng để gởi sự trổ hoa, kích thích sự nảy mầm, nảy chồi của các mầm ngủ của hạt và củ [3], [6], [19], [24] Gibberellin được tổng hợp trong phôi đang sinh trưởng và trong các cơ quan đang sinh trưởng khác như chồi non, lá non, rễ non Khác với auxin chỉ di chuyển theo hướng phân cực nhưnggibberellin di chuyển theo mọi hướng trong cây, bao gồm mô
gỗ và mô libe [6]
Khi phân tích gibberellins trong dịch trích của mạch xylem Chen (1987) tìm thấy
sự hoạt động của gibberellins chủ yếu ở thời kì phân hóa lá và sau đó giảm dần khi lá trưởng thành Giai đoạn trước khi hình thành mầm hoa có gibberellin thấp hơn so với giai đoạn lá trưởng thành và hoa nở nhưng khác biệt không có ý nghĩa Qua phân tích định tính và định lượng thấy gibberellin cao nhất trong thời kì ra đọt và thấp nhất trong
thời kì miên trạng và ra hoa [6], [27], [29]
Trang 33Khảo sát sự biến động của hàm lượng gibberellin nội sinh trong lá và chồi qua các giai đoạn phát triển của chồi, nhận thấy hàm lượng gibberellin trong lá thấp hơn trong chồi và hàm hượng gibberellin trong lá non cao hơn lá già [6]
Gibberellin có khả năng kiểm soát sự ra hoa ở nhiều loại thực vật, đặc biệt là trong giai đoạn tượng hoa Gibberellin kích thích cây ngày dài ra hoa trong điều kiện ngày ngắn Ảnh hưởng này có liên quan đến sự kích thích quá trình phân chia tế bào
và vươn dài tế bào [3], [25], [27]
Sự áp dụng gibberellin ngoại sinh thường ngăn cản sự ra hoa trên cây thân gỗ có
hạt kín và hầu hết trên các loại cây ăn trái Trên cây xoài, hàm lượng gibberellin trong
chồi cao đã làm ngăn cản sự ra hoa và gây ra hiện tượng ra trái cách năm [6]
Gibberellin ảnh hưởng lên sự phân hóa giới tính, quả trinh sản Làm tăng số hoa đực trên dưa leo [3]
1.7.4 Bi ện pháp canh tác
1.7.4.1 Đấp mô
Vấn đề đấp mô khi trồng nhãn có ý nghĩa rất quan trọng đến việc điều khiển cho cây ra hoa vì cây có đấp mô rễ cây sẽ thông thoáng, dễ kiểm soát chế độ nước của cây, đặc biệt là khi kích thích ra hoa Mô trồng nhãn thường có chiều cao từ 40 - 60 cm và đường kính khoảng 1,0 - 1,2 m Ban đầu mô được đấp với kích thước vừa phải, sau đó
mô được bồi hằng năm bằng bùn ao [6], [22]
Hình 1.8 Cây nhãn được trồng trên mô [6]
1.7.4.2 T ỉa cành, sửa tán
Nhãn là cây mang phát hoa ở chồi tận cùng nên việc tỉa cành để tạo cành tơ mang trái ở vụ sau có ý nghĩa rất quan trọng Việc cắt, tỉa cành cho cây thông thoáng còn
Trang 34giúp cho tất cả các cành, nhánh trong tán cây có thể nhận được đầy đủ ánh sáng làm cho quá trình quang hợp của cây được đầy đủ Cành nhánh ốm yếu khả năng ra hoa rất
thấp Do đó, việc tỉa cành đúng cách, cũng là một biện pháp kỹ thuật quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây nhãn, đặc biệt đối với những cây nhãn lâu năm, có nhiều cành lá rậm rạp hiệu quả xử lý ra hoa rất thấp vì cành nhánh không nhận được đầy đủ ánh sáng [6], [22]
Việc tỉa cành nhãn bao gồm: Cành mang phát hoa vụ trước nhưng bị rụng trái, cành bị sâu bệnh, cành đan chéo với nhau bên trong mình cây mẹ, cành ốm yếu không
có khả năng sinh sản và cành mọc thấp dưới gốc, ở độ cao dưới 1 m Trong quá trình điều khiển nhãn ra hoa, để nêu rõ vai trò quan trọng của biện pháp tỉa cành và kiểm soát nước, người nông dân đưa ra phương châm: “xiết nước cho khô, tỉa cành cho thoáng” Việc tỉa cành bên, sát mặt đất giúp cho cây được thông thoáng, trồng cây ở khoảng cách thích hợp để giúp cho cây dễ tượng hoa hơn Ngoài ra, việc tỉa cành còn giúp cho vùng rễ cây được khô ráo hạn chế được sự ra trái cách năm [6], [22]
1.7.4.3 Qu ản lý nước trong vườn
Nhãn đòi hỏi nhu cầu nước rất cao ở giai đoạn ra hoa đến trước khi thu hoạch
Xiết nước, làm cho vùng rễ khô ráo trong thời kỳ kích thích ra hoa, ngăn cản sự sinh trưởng dinh dưỡng của cây, giúp cho cây nhãn không ra đọt Ở giai đoạn cây bắt đầu chuyển sang giai đoạn nghỉ, nếu có mưa trong giai đoạn này sẽ làm rối loạn quá trình phân hóa mầm hoa và có thể làm thất bại việc ra hoa
Ngoài ra, theo kinh nghiệm của một số nhà vườn, biện pháp “thụt nước” trong 24
- 36 giờ nhằm tạo cho cây bị “sốc” cũng có tác dụng kích thích cho cây nhãn Long và nhãn Xuồng cơm vàng ra hoa ở những vùng đất gần sông Tiền, sông Hậu có biên độ triều cao và đất có thịt hay cát pha Tuy nhiên nếu thời gian ngập nước kéo dài 3 - 4 ngày có thể làm cho cây nhãn chết
Nhìn chung, việc đấp mô khi trồng, tỉa cành và tạo tán cho thông thoáng và có hệ
thống quản lý nước nhằm tạo điều kiện cho ẩm độ đất khô ráo giúp cho cây nhãn phân hóa mầm hoa, chuyển sang giai đoạn sinh sản [6], [22]
Trang 351.7.4.4 Bón phân
Cây nhãn ra hoa trên chồi tận cùng nên sự tạo chồi mới có ý nghĩa quyết định sự
ra hoa Đọt mập, dài thường dễ ra hoa hơn đọt ốm yếu hoặc bị sâu bệnh tấn công Do
đó, vấn đề bón phân cân đối đạm, lân và kali cho cây ra đọt tốt sau khi thu hoạch là
một trong các biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định đến quá trình ra hoa của cây Tuy nhiên, nếu bón phân đạm quá nhiều, cây ra nhiều đọt non, đọt quá mập, khi làm bông thường không đạt kết quả mà chỉ ra chồi lá Phun KH2PO4 làm tăng năng suất nhãn và vải vì hai loại cây này đòi hỏi kali rất cao trong thời kỳ sinh sản [6], [22] Khi nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng trong lá liên quan đến khả năng cho trái
của cây nhãn, thấy hàm lượng đạm trong lá cao (hơn 1,8% và đặc biệt là lớn hơn hay
bằng 2,0%) thì tỉ lệ ra hoa rất thấp [6], [22]
1.8 Một số biện pháp xử lí ra hoa trên cây nhãn
1.8.1 Phương pháp khoanh (xiết) cành
Khoanh (xiết) cành nhằm ngăn cản sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá
xuống thân, rễ làm tăng tỉ lệ Cacbohydrat/Nitrogen, giúp cho cây phân hóa và hình thành mầm hoa Đây là biện pháp rất phổ biến được nhà vườn áp dụng để kích thích cho nhãn ra hoa ở ĐBSCL Biện pháp này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, mùa
vụ, tình trạng sinh trưởng của cây, kỹ thuật và thời điểm khoanh [6], [12], [33], [35]
Giống nhãn Long do đặc điểm phát triển chậm, lâu liền da nên khi kích thích cho cây ra hoa người ta thường dùng lưỡi cưa hay kéo có bề dày từ 1- 2 mm để khoanh vòng thân hay cành chính của cây gọi là “xiết” hay “cứa” cành Chiều dài của vết khoanh tùy thuộc vào kích thước của cành, và mùa vụ Cành có thích thước lớn vết khoanh phải dài hơn so với cành nhỏ Mùa mưa (mùa nghịch) chiều dài vết khoanh thường dài hơn trong mùa khô, phải chừa “cành thở”, nghĩa là phải chừa lại 1 - 2 cành hay khoảng 20% số cành trên cây trên cây để những cành này cung cấp chất đồng hóa nuôi rễ, nếu không cây nhãn sẽ chết Trên giống nhãn Long, khi thấy chồi non vừa tách ra, còn gọi là “hở mỏ”, kết hợp với độ già của lá là có thể tiến hành xiết cành cho cây ra hoa [4], [6], [11], [12]
Trang 36Hình 1.9 Thời điểm thích hợp để khoanh cành kích thích ra hoa nhãn [6]
a) Trên nhãn Tiêu da bò - Lá non có màu đọt chuối
b) Trên nhãn Long khi thấy chồi ngọn phát triển, “hở mỏ”
5
Hình 1.10 Biện pháp khoanh cành kích thích ra hoa nhãn [9]
a) Nhãn Tiêu da bò; b) Nhãn Xuồng cơm vàng
1.8.2 X ử lí hóa chất
Bắt đầu từ giữa năm 1999, việc sử chlorat kali kích thích ra hoa có hiệu quả trên cây nhãn E-daw (giống nhãn khá nổi tiếng của Thái Lan) trồng ở Đồng Nai và những kết quả từ Thái Lan cho biết việc sử dụng chlorate kali để kích thích cho nhãn ra hoa
đã làm xôn xao dư luận người trồng nhãn Bởi vì từ lâu, người trồng nhãn chỉ áp dụng biện pháp kích thích cho nhãn ra hoa chủ yếu bằng biện pháp khoanh cành mà kết quả thường không ổn định, đặc biệt là trong mùa nghịch Do đó, việc tìm ra một hóa chất
b
a
Trang 37có hiệu quả kích thích ra hoa có hiệu quả và ổn định rất có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học cũng như trong sản xuất [5], [28], [35]
Sử dụng chlorate kali với nồng độ thích hợp và các chất điều hòa tăng trưởng
thực vật để xử lí kích thích cây nhãn ra hoa [6], [11], [12]
1.9 Các nghiên cứu liên quan tới cây nhãn
Chen và ctv (1984) cho biết xử lý ethephon ở nồng độ 500 – 1.000 mg/l làm cho nhãn ra hoa 87,5% so với đối chứng là 28,6% [27] Wong (2000) cho biết xử lý ethephon đã làm tăng hàm lượng tinh bột, có ích cho sự tượng hoa, hình thành và phát triển của phát hoa nhãn [34] Phun ethephon ở nồng độ 400 µl/L trên giống nhãn Shixia đã làm gia tăng hàm lượng cytokinin giúp thúc đẩy sự phân hóa mầm hoa (Qiu
và ctv… 2000) [31]
Nhằm tìm ra hóa chất có hiệu quả kích thích nhãn ra hoa trong mùa nghịch, Sritontip và ctv (2005) đã thử nghiệm trên nhiều loại hóa chất như chlorate kali (bằng phun ở nồng độ 1.000 mg/l, tưới vào đất với liều lượng 5 g/m2), NaOCl (50 mL/m2), KNO3 (2,5%) và thiourea (0,5%) Kết quả cho thấy hóa chất chlorate kali ở hai biện pháp phun hay tưới vào đất đều có tỉ lệ ra hoa cao trong khi Nitrate kali và Thiourea có
Nghiên cứu biện pháp xử lý ra hoa trên giống nhãn Tiêu da bò, Bùi Thị Mỹ Hồng
và ctv (2004) đã đề xuất qui trình xử lý ra hoa cho nhãn Tiêu da bò gồm các bước chủ
yếu như sau [11] Bắt đầu xử lý ra hoa bằng KClO3 với liều lượng 30 g/m đường kính tán khi có đọt thứ hai trong giai đoạn lá lụa (lá non có màu đọt chuối) Bảy ngày sau
tiến hành khoanh vỏ trên cành cấp hai với chiều rộng vết khoanh từ 2 - 3 mm, chừa lại 20% cành “thở” để nuôi rễ Dùng dây nylon quấn quanh vết khoanh để ngăn chặn sự hình thành tượng tầng Ngưng tưới nước sau khi khoanh vỏ Thời gian từ khi khoanh
vỏ đến khi ra hoa từ 25 - 30 ngày Tiến hành tưới nước trở lại khi thấy mầm hoa xuất
Trang 38hiện Sau khi khoanh vỏ 7 ngày có thể áp dụng một trong ba loại hóa chất sau Ethephon ở nồng độ 1.000 mg/l, MKP (Mono potassium Phosphate) ở nồng độ 0,5%
hoặc KClO3 ở nồng độ 2.500 mg/l nếu không áp dụng biện pháp tưới gốc [11], [28] Nitrate kali nồng độ 1% được phun ở giai đoạn 28 ngày sau khi khoanh cành để phá vỡ
sự miên trạng của các đỉnh sinh trưởng, thúc đẩy cho sự nhú ra của đọt hoặc hoa Biện pháp này giúp hạn chế hiện tượng “nghẹn bông”[6]
Trang 39Chương II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
- Vườn cây nhãn Xuồng cơm vàng 5 năm tuổi
- Mô hình được bố trí tại: Xã Thân Cửu Nghĩa, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang
- Thời gian thực hiện từ tháng 11/2013 đến 06/2014
- Hóa chất: các hóa chất dùng trong thí nghiệm: chlorate kali (99,87%, Trung Quốc), gibberellic (Merck) [11], [12]
- Dụng cụ:
+ Bình xịt thuốc 08 lít
+ Thước đo (đo đường kính tán cây)
+ Cân điện tử
+ Cân thường loại 500 gam
+ Thùng tưới nước có vòi
+ Bảng nghiệm thức
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm
5 nghiệm thức, 4 lần lặp lại (một cây trên một lần lặp lại) Các nghiệm thức được liệt
kê như sau (bảng 2.1)
A: Không xử lý (ĐC)
B: Khoanh vỏ + KClO3tưới 15 g/m
C: Khoanh vỏ + KClO3tưới 15 g/m + GA3 25 mg/l
D: Khoanh vỏ + KClO3 phun1.000 mg/l
E: Khoanh vỏ + KClO3 phun1.000 mg/l + GA3 25 mg/l
Trang 40Bảng 2 Các nghiệm thức trong thí nghiệm
Trước khi tiến hành các bước thí nghiệm cây nhãn Xuồng cơm vàng đã được cung cấp dinh dưỡng qua các giai đoạn như sau [11], [12]:
Sau khi thu hoạch tiến hành tỉa cây và cắt bỏ những đọt không ra hoa ở vụ trước
để vụ sau cây ra hoa đồng nhất Tiến hành bón ure, lân, kali với khối lượng theo thứ tự
20 kg - 10 kg - 5 kg cho 63 gốc nhãn trong vườn, tiến hành bón mỗi tháng một lần cho
tới khi cây ra đọt thứ ba
Sau khi cây ra đọt lần thứ nhất tiến hành phun phân bón lá hai tuần một lần để dưỡng lá và chồi Sử dụng phân bón lá cao cấp SUPER Strong 15 - 30 - 15 với liều lượng 10 g cho bình tám lít và phun lên tám cây Bên cạnh đó cũng sử dụng thêm vôi
để rải dưới gốc cây nhầm mục đích tăng lượng canxi cho cây và hạn chế nấm ở gốc cây với liều dùng 50 kg cho 63 gốc cây trong vườn Để tăng thêm dinh dưỡng cho cây bón lót thêm phân chuồng với liều lượng 10 kg/cây Sau khi đọt cây đang ở cơi đọt thứ
ba lá lụa tiến hành xiết nước khoảng 30 ngày rồi sau đó cho nước vào vườn Trong quá trình xiết nước tiến hành thí nghiệm Tiến hành treo bảng tên nghiệm thức lên các cây
STT Nghiệm thức Li ều lượng sử
d ụng Thời điểm áp dụng
màu hồng lợt sắp chuyển sang xanh
- KClO3 tưới trước khi khoanh vỏ 7 ngày
- Phun KClO3 sau khi khoanh vỏ 7 ngày
- Phun GA32 lần:
+ Lần 1: Phun lúc hoa
nhú lên dài 5 - 10 cm + Lần 2: 7 ngày sau lần 1
- GA3 (Merck): 25 mg/l
3 Khoanh vỏ + KClO3 tưới