1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học

136 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chính:  Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường  Xây dựng trình tự tổ chức th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

  

BÁO CÁO NGHIỆM THU

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ (Đã chỉnh sửa theo Hội đồng nghiệm thu ngày 31/12/2010)

XÂY DỰNG CÁC THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN

NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DỰ ĐỐN CHO TRẺ

5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC

Mã số: CS.2009.19.49

Chủ nhiệm đề tài: Ths Đỗ Chiêu Hạnh

Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 – 2010

Trang 2

i

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu, phòng Nghiên cứu Khoa học và các đồng nghiệp khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm TPHCM đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ và động viên của gia đình và bạn bè trong quá trình nghiên cứu

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song đề tài nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp

Trân trọng cảm ơn!

TPHCM, ngày 20 tháng 12 năm 2010

Tác giả ThS Đỗ Chiêu Hạnh

Trang 3

ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN KN DỰ ĐOÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Các khái niệm cơ bản 7

1.3 Vai trò của thí nghiệm đối với việc phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi 8

1.4 Trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học 11

1.5 Vai trò của GVMN khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi 16

1.6 Kết luận chương 1 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN KN DỰ ĐOÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG HĐ KHÁM PHÁ KHOA HỌC 2.1 Mục đích điều tra 21

2.2 Đối tượng và phương pháp điều tra 21

2.3 Phân tích kết quả điều tra 23

2.4 Kết luận chương 2 41

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN KN DỰ ĐOÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG HĐ KHÁM PHÁ KHOA HỌC 3.1 Cơ sở định hướng việc xây dựng thí nghiệm 42

3.2 Tổ chức thử nghiệm 44

3.3 Phân tích kết quả thử ngiệm 46

3.4 Kết luận chương 3 60

KẾT LUẬN CHUNG 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 65

Trang 4

Bảng 2.5 Lứa tuổi có thể sử dụng thí nghiệm 26

Bảng 2.7 Những bước GVMN không thực hiện khi tổ chức TN 30 Bảng 2.8 Một số yêu cầu cần đảm bảo khi tổ chức thí nghiệm 31 Bảng 2.9 Biện pháp phát triển KN dự đoán thông qua TN 32 Bảng 2.10 Khó khăn thường gặp khi sử dụng thí nghiệm 39

Trang 5

Implementing Institution : HoChiMinhCity University of Pedagogy

Duration of Research : from April 2009 to April 2010

1 Research objectives

This research aims to designing simple science experiments in order to develop predicting skill for 5-6 years old children through exploring activities in preschools Based on theoretical research and survey results of using experiments to develop predicting skill for 5-6 years old children through exploring activities in preschools, this study designed and piloted several experiments to develop predicting skill for 5 - 6 years old children

2 Main research tasks

 To researching theoretical framework for using experiments to develop predicting skill for 5 - 6 years old children through exploring activities

 To investigate how predicting skill for 5-6 years old children are being developed through using experiments in exploring activities by using questionnaire and interviewing

 Design and pilot several experiments focusing around “Water” and

“Air” topic to develop predicting skill for 5-6 years old children in preschool

3 Results:

 Building process of exploring activities and finding out some teachers’ roles as guiding children to develop their predicting skill

Trang 7

vi

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài:

Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán

cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học

Nghiên cứu việc xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN

dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN, nâng cao hiệu quả tổ chức HĐ khám phá khoa học ở trường MN

2 Nội dung chính:

 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển

KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường

 Xây dựng trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ

 Chỉ ra một số yêu cầu GVMN cần phải đảm bảo khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ

 Làm rõ thực trạng sử dụng thí nghiệm trong HĐ khám phá khoa học ở các trường MN hiện nay

 Xây dựng các thí nghiệm cho trẻ khám phá hai chủ đề “Nước” và

“Không khí” nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ

 Thống kê các nguồn tài liệu tham khảo hỗ trợ việc sử dụng thí nghiệm

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đứng trước yêu cầu đổi mới Giáo dục Mầm non (GDMN), để hội nhập với GDMN của các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành GDMN đã và đang từng bước đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thức giáo dục trẻ Những phương hướng quan trọng của mục tiêu đổi mới được thể hiện trước hết trong việc đổi mới chương trình GDMN Từ năm 1998 đến

2009, trong mười một năm, chúng ta đã nghiên cứu và đưa ra các chương trình như chương trình GDMN đổi mới hình thức tổ chức (thí điểm 1998) và chương trình GDMN mới (thí điểm 2006, đại trà 2009) Các chương trình này đều có điểm nổi bật là lấy trẻ làm trung tâm của hoạt động (HĐ) giáo dục, dạy học tích hợp và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực Chương trình GDMN mới khuyến khích giáo viên mầm non (GVMN) áp dụng các phương pháp dạy học khác nhau một cách sáng tạo, chú trọng sử dụng các phương pháp thực hành, trải nghiệm, trò chơi; chú ý phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ nhiều hơn; trẻ được tạo nhiều cơ hội hơn để tham gia các HĐ trải nghiệm Tuy nhiên, do mới chuyển từ cách dạy học cũ của chương trình cải cách (dạy theo bộ môn, GV là trung tâm, sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống) sang cách dạy học tích cực của chương trình mới nên GVMN còn nhiều băn khoăn, lúng túng và phụ thuộc nhiều vào tài liệu hướng dẫn, vào sự định hướng của Ban giám hiệu (BGH) GVMN vẫn còn máy móc, rập khuôn khi tổ chức các HĐ giáo dục; trẻ vẫn chưa được trải nghiệm, chưa được khám phá môi trường xung quanh một cách tích cực

và chủ động

Nhận thấy những khó khăn trên, thí nghiệm đã được mạnh dạn đưa vào chương trình dạy học mà cụ thể là trong HĐ khám phá khoa học Thí nghiệm đáp ứng được một trong những yêu cầu của chương trình GDMN mới, đó là dạy trẻ cách ‘suy nghĩ’ thay vì chú trọng cung cấp kiến thức cho trẻ như trong các chương trình cũ Thí nghiệm tạo nhiều cơ hội để trẻ khám phá môi trường xung quanh một cách tích cực, chủ động và đầy hứng thú hơn Tuy nhiên, trên thực tế, GVMN vẫn còn lúng túng, chưa hiểu rõ bản chất, mục đích, những ưu điểm của thí nghiệm trong HĐ khám phá khoa học GVMN cho rằng thí nghiệm là một cái gì đó quá khó so với khả năng của trẻ MN, chỉ có

Trang 9

học sinh cấp hai trở lên mới biết làm “thí nghiệm” GVMN không biết cách chọn thí nghiệm gì để tổ chức cho trẻ, không biết tiến hành HĐ này ra sao để

có thể làm cho trẻ hiểu, hứng thú và phát triển các KN tư duy mà chủ yếu vẫn dựa vào sự hướng dẫn của BGH hoặc “sao chép” rập khuôn những giờ tổ chức thí nghiệm “mẫu” mà GVMN được tham dự

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học” nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua

HĐ khám phá khoa học ở trường MN hiện nay, xây dựng và thử nghiệm một

số thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Xây dựng và thử nghiệm một số thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển

KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển

KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học

4.2 Tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán

cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở một số trường MN tại TPHCM

4.3 Xây dựng và thử nghiệm một số thí nghiệm theo hai chủ đề “Nước” và

“Không khí” nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua

HĐ khám phá khoa học ở trường MN

Do hạn chế về thời gian và kinh phí nghiên cứu thực hiện đề tài nên chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

Trang 10

5.1 Về nội dung nghiên cứu

Hiện nay, các HĐ giáo dục của trẻ ở trường MN hiện nay đều được thực hiện theo chủ đề Do giới hạn về kinh phí và thời gian nghiên cứu nên chúng tôi chỉ xây dựng và thử nghiệm việc phát triển KN dự đoán cho trẻ qua chuỗi các thí nghiệm thuộc hai chủ đề “Nước” và “Không khí”

5.2 Về đối tượng nghiên cứu

Trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN

5.3 Về địa bàn nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng tại một số trường MN trên địa bàn TPHCM, phân bố đều ở nội thành và ngoại thành của thành phố với các loại hình trường công lập, bán công, tư thục và quốc tế

Việc tiến hành thử nghiệm một số thí nghiệm mà đề tài đã xây dựng được tiến hành tại 2 lớp Lá tại các trường MN trên địa TPHCM

6.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, trước hết chúng tôi tiến hành nghiên cứu cơ sở

lý luận của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN Sau đó, chúng tôi xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến, các câu hỏi phỏng vấn và tiến hành điều tra thực trạng

sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ trong HĐ khám phá khoa học ở một số trường MN trên địa bàn TPHCM Trên cơ sở nghiên cứu

lý luận và thực trạng, chúng tôi xây dựng chuỗi thí nghiệm thuộc hai chủ đề

“Nước” và “Không khí” và dạy thử nghiệm trên trẻ lớp Lá tại một số trường

MN trên địa bàn TPHCM Sau khi dạy thử nghiệm trên trẻ, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN

6.2 Phương pháp nghiên cứu

2.3.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu cơ sở

lý luận của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN Các tài liệu mà chúng tôi tìm hiểu bao gồm: chương trình GDMN mới (Ban hành theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009); các tài liệu có liên quan đến KN dự đoán, HĐ khám phá khoa học; thí nghiệm cho trẻ MN, kế hoạch GD của GVMN, các giáo án tổ chức HĐ thí nghiệm của GVMN…

Trang 11

2.3.4.2 Phương pháp điều tra

Chúng chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho các GVMN đang dạy ở một số trường MN bao gồm cả nội và ngoại thành TP.HCM Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu nhận thức của GVMN khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học, những thuận lợi và khó khăn của GVMN trong quá trình tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ GVMN sẽ trả lời một hệ thống bao gồm 17 câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn và in thành phiếu Sau đó, chúng chúng tôi tiến hành xử lý số liệu thu được từ những phiếu trưng cầu ý kiến này và phân tích kết quả điều tra thực trạng nhằm thu thập những thông tin cần thiết về thực trạng của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN hiện nay Tiếp theo, chúng chúng tôi sẽ dựa trên thực trạng này để xây dựng và tổ chức thử nghiệm một số thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN

2.3.4.3 Phương pháp phỏng vấn

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn GVMN nhằm tìm hiểu những thuận lợi

và khó khăn của GVMN khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi và lắng nghe đề xuất của GV để khắc phục những khó khăn

đó Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn BGH các trường MN nhằm tìm hiểu thực trạng việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ và lắng nghe một số đề xuất của BGH ở vai trò người quản lý, tạo điều kiện cho GVMN có thể phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua thí nghiệm một cách tốt nhất Đây là một trong những cơ sở để chúng tôi xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN

2.3.4.5 Phương pháp thí nghiệm

Trang 12

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm giải quyết nhiệm vụ thứ ba của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng phát triển KN

dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi khi sử dụng thí nghiệm, chúng tôi xây dựng và tổ chức cho trẻ tham gia khám phá chuỗi thí nghiệm theo hai chủ đề “Nước” và

“Không khí” nhằm kiểm tra tính khả thi của các thí nghiệm mà đề tài đã xây dựng

2.3.4.6 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp thống kê toán học được sử dụng nhằm xử lý số liệu nghiên cứu thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến

7.1 Đề tài đã xác định và hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc sử dụng thí

nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN

7.2 Làm rõ thực trạng sử dụng thí nghiệm trong HĐ khám phá khoa học ở

một số trường MN trên địa bàn TPHCM

7.3 Xây dựng và thử nghiệm một số thí nghiệm cho trẻ khám phá hai chủ đề

“Nước” và “Không khí” nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học

7.4 Thống kê được nguồn tài liệu chuyên môn về thí nghiệm gồm có sách,

tài liệu dịch, các bài báo và các website

8 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

- Chương 3: Xây dựng và thí nghiệm một số thí nghiệm nhằm phát triển

KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học

- Kết luận và kiến nghị

- Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 13

Ở nước ngoài, tác giả James Belly đã chỉ ra rằng, để việc tổ chức thí nghiệm cho trẻ MN đạt hiệu quả cao thì GVMN cũng tiến hành cho trẻ khám phá giống như các nhà khoa học thường làm Các nhà khoa học thường nghiên cứu vấn đề bắt đầu bằng những câu hỏi, sau đó học sẽ theo một trình

tự hoặc các phương pháp nhất định để tìm ra câu trả lời Đối với trẻ cũng vậy, GVMN cũng cần tuân thủ theo trình tự các bước và thông thường cần bắt đầu bằng một câu hỏi Các bước nghiên cứu thường bắt đầu theo trình tự như sau: Xác định câu hỏi hoặc vấn đề, dự đoán câu trả lời, thực hiện thí nghiệm, quan sát kết quả, rút ra kết luận, ghi chép kết quả cuối cùng (Sprung, Frosschi & Campbell,1995) Kế thừa quan điểm này, tác giả Jamice Bealy cho rằng, trong hoạt động khám phá khoa học của trẻ MN, GVMN cũng cần tiến hành theo trình tự tương tự như trình tự nghiên cứu của các nhà khoa học qua các bước như sau: xác định câu hỏi mà cô muốn trẻ trả lời, đoán xem câu trả lời

sẽ ra sao, xác định cách thức làm sao để trả lời được và cố gắng tìm ra nó, quan sát cái gì sẽ xảy ra, nói về cái đã xảy ra và tranh luận về các câu trả lời đúng - sai, ghi nhận lại những việc đã làm và những gì đã diễn ra

Trong nước, có nhiều tác giả quan tâm đến việc tổ chức thí nghiệm cho trẻ MN Tác giả Huỳnh Thị Bích Liên (2007) nghiên cứu việc sử dụng thí nghiệm trong hoạt động làm quen môi trường xung quanh ở trường MN Trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đi sâu vào vấn đề GVMN cần quan tâm để tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời tác giả cũng chỉ ra những ưu điểm của thí nghiệm có thể mang lại cho sự phát triển toàn diện của trẻ

Tác giả Lê Thị Minh Hạnh (2008) cũng nghiên cứu về việc tổ chức thí nghiệm cho trẻ 5 - 6 tuổi Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả tập trung

Trang 14

vào mảng giáo dục môi trường - GVMN tổ chức thí nghiệm như thế nào để giáo dục môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi

Nhìn chung, nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều khai thác vào hiệu quả của việc sử dụng TN trong hoạt động làm quen môi trường xung quanh nói chung mà chưa đi sâu vào nghiên cứu những lợi ích mà thí nghiệm có thể mang lại cho sự phát triển các kỹ năng nhận thức của trẻ, đặc biệt là kỹ năng dự đoán

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Theo Karen K.Lind và Roslin Charlesworth thì dự đoán là “khả năng đưa ra một nhận định nào đó sẽ xảy ra trong tương lai Những dự đoán này căn cứ trên những gì trẻ quan sát được và suy luận” [14, tr 80]

Như vậy, đối với trẻ 5 - 6 tuổi, KN dự đoán là khả năng có thể đưa ra một kết quả nào đó sắp xảy ra dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết của trẻ

1.2.2 Thí nghiệm

Từ ‘thí nghiệm’ trong tiếng Anh là ‘experiment’ Nó có nguồn gốc từ nguyên ‘experimentum’ trong tiếng La-tinh, có nghĩa là ‘thử, thử thách, kiểm tra, xét nghiệm, bằng chứng’ [3]

Còn theo tác giả Trần Thị Thanh, “Thí nghiệm có nghĩa là sự tự mày mò hành động tìm kiếm, thí nghiệm trong thực tiễn để đi đến kết luận về điều dự đoán trước hoặc trả lời những thắc mắc trong suy nghĩ” [8, tr 73]

Trang 15

Tác giả Hoàng Thị Oanh cho rằng, đối với trẻ MN thì “thí nghiệm là việc tổ chức cho trẻ hành động tác động vào đối tượng, làm thay đổi đối tượng nhằm kiểm nghiệm một tính chất nào đó của sự vật hoặc tạo dựng lại

một hiện tượng nào đó trong tự nhiên” [5, tr 69]

Đồng ý kiến với các tác giả trên, theo chúng tôi, đối với trẻ MN, có thể

hiểu “Thí nghiệm là quá trình GV tổ chức cho trẻ tác động lên một sự vật, hiện tượng nào đó, làm thay đổi nó trong một điều kiện nhất định để quan sát

sự thay đổi của sự vật, hiện tượng nhằm rút ra kết luận về đặc điểm, tính chất

và mối liên hệ giữa các sự vật hiện, hiện tượng đó.”

1.2.3 HĐ khám phá khoa học

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì khoa học là “hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực” [6,484], còn khám phá là “tìm thấy, phát hiện ra cái ẩn giấu,

bí mật” [6, tr 473]

Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học thì cách tốt nhất để học khoa học là phải làm khoa học Đối với trẻ MN, làm khoa học cũng chính là quá trình khám phá nó Khám phá khoa học chính là việc GVMN tạo ra các điều kiện, cơ hội và tổ chức các HĐ để cho trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ Thông qua HĐ khám phá khoa học, GV tạo ra các tình huống và tổ chức cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật, hiện tượng của môi trường xung quanh, thông qua đó trẻ có hiểu biết về đặc điểm, tính chất và mối quan hệ qua lại, sự phát triển và thay đổi của các sự vật hiện tượng Điều quan trọng hơn cả là qua HĐ khám phá khoa học, trẻ học được các kỹ năng quan sát, so sánh, suy luận, dự đoán,

đo lường, giải quyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận [5, tr 16-17]

1.3 VAI TRÒ CỦA THÍ NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DỰ ĐOÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

Trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng và trẻ MN nói chung có nhu cầu tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh rất mạnh mẽ Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham muốn học hỏi, tìm hiểu các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh Tò

mò là một đặc tính bẩm sinh của trẻ Câu hỏi thường xuyên của trẻ là "Tại

Trang 16

sao?” như Tại sao có cầu vồng? Cầu vồng là gì? Tại sao có gió? Ai làm ra sóng? Tại sao phải tưới cây? Tại sao nước biển lại mặn? Tại sao có mưa? Tại sao miếng sắt chìm trong khi con tàu cũng làm bằng sắt lại không chìm? Tại sao bầu trời có màu xanh? Vân tay là gì? Bông hoa là con trai hay là con gái?

‘Thức ăn’ nào sẽ làm cho cây lớn nhanh nhất? Tại sao nam châm có thể hút được vật? Mây có tên không? và muôn vàn cái tại sao khác Một trong những cách tốt nhất để trả lời các câu hỏi tại sao của trẻ là để trẻ tự tìm lấy câu trả lời qua các HĐ thí nghiệm Thí nghiệm tạo nhiều cơ hội cho trẻ HĐ, cho trẻ học thông qua tìm tòi, khám phá, phát hiện, trải nghiệm, giải quyết vấn đề ; giúp trẻ phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ, đặc biệt là mặt nhận thức

Thứ nhất, thí nghiệm cho trẻ thấy những thay đổi bất ngờ giống như làm

ảo thuật khiến trẻ vô cùng thích thú Ví dụ như khi làm thí nghiệm với nước bắp cải tím, trẻ chỉ cần bỏ xà bông vào thì nước màu tím sẽ biến thành màu xanh, vắt chanh vào thì nước màu tím lại chuyển sang màu hồng giống như là

ảo thuật gia Hơn nữa, việc trẻ được tự mình thực hiện những thí nghiệm đơn giản hoặc tích cực tham gia cùng với Cô, với bạn sẽ dẫn đến việc phát triển ham muốn nhận thức ở trẻ, khơi dậy ở trẻ tính tò mò, lòng ham hiểu biết Thứ hai, thí nghiệm tạo ra nhiều cơ hội để rèn luyện và phát triển ở trẻ các KN như quan sát, so sánh, dự đoán, nhận ra sự biến đổi Điều này sẽ giúp trẻ hiểu các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh luôn luôn biến đổi và điều này sẽ thúc đẩy trẻ tìm hiểu nguyên nhân của những biến đổi và đặc biệt là thôi thúc trẻ dự đoán kết quả trước khi tiến hành một thí nghiệm nào đó Đây chính là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu vai trò của thí nghiệm đối với sự phát triển KN dự đoán của trẻ 5 - 6 tuổi

Thứ ba, sau khi làm thí nghiệm, GVMN thường cho trẻ “ghi chép” lại kết quả thí nghiệm bằng cách sử dụng những hình vẽ đơn giản hoặc ký hiệu

để ghi nhớ hoặc mô tả quá trình trẻ đã làm thí nghiệm, hoặc “viết” lại kết quả thí nghiệm mà trẻ vừa làm xong Điều này sẽ giúp phát triển ở trẻ tư duy trực quan sơ đồ, một bước quan trọng để hình thành và phát triển tư duy logic cho trẻ Đồng thời, việc “ghi chép” này cũng chính là tiền đề chuẩn bị cho sự lĩnh hội ngôn ngữ viết sau này

Trang 17

Thứ tư, khi tham gia HĐ thí nghiệm, trẻ buộc phải dự đoán, phải suy luận, qua đó hình thành kỹ năng suy luận cho trẻ, phát triển tư duy logic, hình thành ở trẻ kỹ năng thiết lập mối quan hệ nhân - quả

Đồng thời, khi tiến hành thí nghiệm, trẻ cần phải quan sát, mô tả và diễn đạt bằng lời sự biến đổi của sự vật hiện tượng khi trẻ tác động tích cực vào và trẻ giải thích các hiện tượng xảy ra theo cách hiểu của trẻ Việc được mạnh dạn diễn đạt lại những gì trẻ biết, hiểu và đã được làm như thế này không chỉ giúp phát triển ngôn ngữ mạnh lạc cho trẻ mà còn hình thành ở trẻ tính tự tin, mạnh dạn và duy trì hứng thú của trẻ đối với các HĐ nhận thức

Ngoài ra, phần lớn các thí nghiệm đều được tổ chức dưới hình thức HĐ nhóm nên trẻ có nhiều cơ hội để phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm (phân công công việc, thỏa thuận, bàn bạc ) Đây là một trong những “KN mềm” rất cần thiết cho trẻ trong cuộc sống sau này

Cuối cùng, thí nghiệm là một dạng HĐ thực hành Do đó, nó giúp trẻ phát triển khả năng ứng dụng hiểu biết vào thực tiễn, phát triển khả năng sáng tạo của trẻ Đây cũng chính là ưu điểm khá lớn của thí nghiệm Thông qua thí nghiệm, trẻ thấy được ý nghĩa của những gì mà trẻ đang làm, đang học và có cơ hội được vận dụng những hiểu biết vừa có được qua thí nghiệm vào thực tế Ví dụ như sau khi làm thí nghiệm cây cần ánh sáng để phát triển, trẻ có thể đi tìm những chậu cây nào đang được đặt ở những nơi không có hoặc thiếu ánh sáng để mang ra ngoài nắng Hoặc qua thí nghiệm làm ra đất mùn ‘thức ăn’ mà cây ưa thích nhất, cô và trẻ có thể tự làm ra đất mùn từ thức ăn thừa của lớp, từ vỏ trái cây mà trẻ ăn tráng miệng, từ lá vàng của các chậu câu ở góc thiên nhiên… và sau đó bón cho cây ở góc thiên nhiên…Hay sau khi làm thí nghiệm ‘Cây thích uống loại nước nào nhất’ (nước thường, nước dấm, nước xà bông, nước rửa rau/trái cây/thịt, nước xả quần áo…), trẻ biết nên tận dụng loại nước nào để tưới cây và không nên dùng loại nước nào Như vậy, thí nghiệm giúp trẻ lĩnh hội những khái niệm ban đầu, những tri thức tiền khoa học một cách chủ động và tích cực Trẻ được tự tay thực hiện, được trực tiếp quan sát hiện tượng xảy ra trong những điều kiện tự quy định, điều này sẽ mang lại cho trẻ rất nhiều hứng thú và kích thích trẻ tiếp tục tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ trong thế giới xung quanh Đồng thời, thông qua thí nghiệm, trẻ nhận biết được sự biến đổi không ngừng của các sự

Trang 18

vật hiện tượng trong thế giới xung quanh, điều này thúc đẩy trẻ tìm hiểu nguyên nhân của sự biến đổi đó và cố gắng suy nghĩ, vận dụng những kinh nghiệm, hiểu biết đã có để có thể dự đoán kết quả

1.4 TRÌNH TỰ TỔ CHỨC THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DỰ ĐOÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG HĐ KHÁM PHÁ KHOA HỌC

Để phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua thí nghiệm, GVMN cần đảm bảo trình tự tiến hành thí nghiệm như sau:

 Bước 1: Xác định vấn đề / nội dung thí nghiệm

Đây là bước khơi dậy ở trẻ óc tò mò và sự hiếu kỳ

Ở bước này, GVMN sẽ tiến hành đàm thoại, đặt câu hỏi cho trẻ hoặc đưa trẻ vào một tình huống có vấn đề nhằm hướng sự chú ý của trẻ tới nội dung muốn cho trẻ khám phá Cuộc trò chuyện ngắn này cần kết thúc bằng một câu hỏi và quá trình tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm chính là quá trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mà cô và trẻ vừa đặt ra Ví dụ: khi cho trẻ làm thí nghiệm “Hạt cần gì để nảy mầm”, GVMN cần trò chuyện với trẻ như thế nào

để cuối cùng là câu hỏi: Theo các con, hạt cần gì để nẩy mầm? Chúng ta phải làm gì để hạt đậu xanh này nẩy mầm và lớn lên thành cây?” Hoặc đối với các thí nghiệm về “Nước”, GVMN có thể đặt các câu hỏi như sau: Bằng cách nào để làm nổi một vật chìm trong nước? Làm sao để làm chìm một vật nổi trong nước? Nước ở đâu sẽ bay hơi nhanh hơn (trong ly hay trong đĩa…)? Mực nước sẽ cao hơn hay thấp đi khi đông thành đá? Nước mặn “nặng” hay

“nhẹ” hơn so với nước ngọt? Làm sao để biết được điều đó? Không khí là gì?

Có bắt và “nhốt” không khí được không nhỉ? Làm sao để “cân” được không khí? Trong các loại như trái cây, bánh mì, gạo không biết cái nào hư trước nhất? Cầu vồng là gì? Chúng ta có thể tạo ra cầu vồng được không nhỉ? Làm cách nào để tạo ra cầu vồng?

Ngoài ra, GVMN có thể xây dựng một tình huống có vấn đề để trẻ giải quyết Ví dụ như đối với đề tài “Vật liệu nào thấm nước tốt nhất”, GVMN có thể tạo tình huống là có một vũng nước bị đổ ở sàn và đề nghị trẻ ‘hiến kế’ những cách có thể làm khô chỗ nước đó đi? Hoặc với thí nghiệm về nhiệt, GVMN có thể đưa ra một quả bóng bị méo và đề nghị trẻ “giúp đỡ cô”, làm cho quả bóng tròn lại Đối với thí nghiệm về nam châm, GVMN có thể yêu

Trang 19

cầu trẻ lấy một đồ vật nào đó bằng sắt, inox… cô lỡ đánh rơi ra khỏi một cái

hũ bằng thủy tinh hoặc “truy tìm kho báu” hoặc chiếc chìa khóa cô lỡ đánh rơi mất trong chậu cát mà không được dùng tay

 Bước 2: Cho trẻ đưa ra dự đoán

Đây chính là bước quan trọng nhất để có thể phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua HĐ thí nghiệm Đồng thời, qua bước này, chúng ta có thể phát triển một số kỹ năng tư duy cho trẻ như quan sát, so sánh, phân loại, suy luận, phân tích

Trong bước này, GVMN cần đưa ra câu hỏi “Nếu chúng ta làm như thế này thì chuyện gì sẽ xảy ra?” để trẻ đưa ra dự đoán của mình Ví dụ như khi

làm thí nghiệm đề tài “Bắp cải tím đổi màu”, GV cần đưa ra câu hỏi để trẻ dự

đoán “Cô đố các con, nếu bỏ chanh/ xà bông vào nước bắp cải tím thì chuyện

gì sẽ xảy ra? Nước màu tím sẽ biến thành màu gì?”, hoặc đối với đề tài “Vật nổi, vật chìm”, GV sẽ đưa câu hỏi sau cho trẻ dự đoán “Trong 10 đồ vật trước

mặt các con, cô đố các con, nếu bỏ vào nước thì vật nào sẽ nổi và vật nào sẽ

chìm?”, hoặc đối với đề tài “Làm sinh tố mà không cần tủ lạnh” GV có thể đặt câu hỏi như sau “Bằng cách nào/ Làm như thế nào để làm một bịch sinh

tố mà không cần tủ lạnh” (nước loãng sẽ đông lại cứng hơn) Đối với đề tài

“Cân không khí”, GVMN có thể đặt câu hỏi: Vậy không khí nóng sẽ nhẹ hơn hay nặng hơn so với không khí lạnh” Sau khi đặt câu hỏi hoặc đưa ra tình huống có vấn đề, GV cần dành thời gian để cho trẻ đưa ra dự đoán GV có thể viết hoặc vẽ nhanh dự đoán của trẻ để sau khi làm thí nghiệm xong, trẻ có thể so sánh kết quả cuối cùng với dự đoán ban đầu Dự đoán của trẻ có thể đúng, nhưng cũng có thể sai, và thường là sai vì trẻ thiếu kinh nghiệm Tính đúng/ sai của dự đoán không quan trọng và GVMN cần chấp nhận và khuyến khích tất cả các dự đoán mà trẻ đưa ra và tạo cơ hội để trẻ kiểm chứng những

dự đoán này Điều quan trọng ở đây là trẻ bắt buộc phải “động não”, phải sử dụng các kỹ năng quan sát, suy luận, phân tích… để đưa ra dự đoán của mình

về những gì sắp/ sẽ xảy ra trong thí nghiệm sắp làm Ở bước này, GVMN cần khuyến khích, động viên trẻ nào cũng đưa ra dự đoán của riêng mình Nếu có nhiều thời gian, GVMN có thể hỏi trẻ lý do tại sao lại đưa ra dự đoán như vậy

để lắng nghe trẻ lý giải sự việc Đây không chỉ là cơ hội để phát triển KN dự

Trang 20

đoán cho trẻ mà còn phát triển ở trẻ các KN khác như suy luận, lập luận, giao tiếp

 Bước 3: GV cho trẻ tiến hành làm thí nghiệm

Sau khi trẻ đưa ra dự đoán, GV tiến hành cho trẻ làm thí nghiệm để kiểm chứng những dự đoán đã đưa ra

Trong quá trình này, GV cần lưu ý cho trẻ được tự mình làm thí nghiệm

GV không nên làm thay trẻ mà chỉ hướng dẫn bằng lời Khi tham gia vào HĐ thí nghiệm, thất bại cũng có giá trị như thành công Thất bại cũng là cơ hội cho trẻ học Do đó, kết quả không quan trọng bằng quá trình [11, tr 109] Đối với trẻ MN nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng, hiệu quả của HĐ thí nghiệm nằm ở quá trình trẻ được làm thí nghiệm một cách tích cực, chủ động, hứng thú chứ không nằm ở kết quả thí nghiệm Nếu có điều kiện (về thời gian, về

đồ dùng dạy học…), GVMN có thể cho phép trẻ thử - sai hoặc lập lại nhiều lần để kiểm chứng dự đoán đúng hay chưa đúng Đồng thời, qua việc thử- sai nhiều lần như thế này có thể tập cho trẻ tính kiên trì và kỹ năng ghi nhận thông tin chính xác

 Bước 4: GV hướng dẫn trẻ quan sát và phân tích kết quả

Trong quá trình trẻ làm thí nghiệm, GV cần hướng dẫn trẻ quan sát và phân tích kết quả Do thí nghiệm thường tổ chức dưới hình thức HĐ nhóm nên GV có thể đi từng nhóm để hướng dẫn Đối với thí nghiệm kéo dài như cây cần nước để lớn lên, nước bốc hơi, sự cần thiết của ánh sáng mặt trời đối với cây xanh, cây mọc từ củ (củ hành, khoai lang, khoai tây), giỏ hoa cà rốt…, GV cần hướng dẫn trẻ quan sát, đo đạc mỗi ngày và ghi chép lại kết quả từng ngày Trong bước này, GV cần khuyến khích, động viên trẻ cố gắng giải thích những gì quan sát được Đồng thời, cần hướng dẫn trẻ so sánh kết quả thí nghiệm với trạng thái ban đầu của đối tượng thí nghiệm, so sánh với những gì trẻ đã dự đoán ở bước hai Nếu trẻ chưa hiểu nội dung, bản chất của thí nghiệm, GV có thể giải thích một cách đơn giản, dễ hiểu nhất, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi Điều quan trọng là GVMN cần cho trẻ phân tích kiến thức lĩnh hội được qua thí nghiệm đó và hình thành ở trẻ thái độ tích cực đối với thế giới xung quanh” [11, tr 109]

Ví dụ khi tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm mỗi loại cây cần lượng nước khác nhau, từ đó trẻ biết cách chăm sóc từng loại cây tốt hơn Hoặc khi cho

Trang 21

trẻ làm thí nghiệm về Rác - “Rác nào tốt cho cây hơn” (GVMN tổ chức cho trẻ chôn hai loại rác vào hai chậu cây khác nhau – chậu cây 1 chôn thức ăn thừa, trái cây hư thối; chậu cây hai chôn túi ni lông, hộp sữa…, tưới nước đầy

đủ cho hai chậu cây và để nơi có ánh sáng Sau một thời gian vừa đủ (khỏang 7-10 ngày) sẽ thấy xuất hiện hiện tượng chậu cây chôn rác là thức ăn thừa sẽ phát triển tốt hơn chậu kia), trẻ sẽ biết tác hại của túi ni lông và có hành vi đúng đắn là bỏ rác đúng nơi quy định, hạn chế sử dụng túi ni lông và tuyên truyền với những người xung quanh “Nói không với túi ni lông”

Sau khi quan sát, phân tích thí nghiệm, tìm hiểu nguyên nhân của các hiện tượng đã xảy ra, GVMN sẽ cùng trẻ rút ra kết quả cuối cùng của thí nghiệm Đây vẫn là lúc quan trọng nhất để củng cố tri thức cho trẻ, giúp trẻ ghi nhớ nội dung của thí nghiệm Ví dụ sau khi làm thí nghiệm “Vật nổi – vật chìm”, cuối cùng GV cần cho trẻ rút ra được kết luận trong mười đồ vật mà trẻ làm thí nghiệm thì những đồ vật nào sẽ nổi và những đồ vật nào sẽ chìm; đối với thí nghiệm về nhiệt - đề tài “Khăn ở đâu mau khô hơn” – một cái xếp làm tư để trong dĩa, một cái phơi trong lớp (chỗ mát) và một cái phơi ngoài sân (có nắng) thì trẻ cần rút ra kết luận cuối cùng là “khăn phơi ngoài nắng mau khô nhất”; hoặc đối với thí nghiệm đề tài “Nước bắp cải tím đổi màu” thì trẻ cần rút ra kết luận cuối cùng là khi bỏ chanh vào thì nước màu tím biến thành màu hồng, bỏ xà bông vào thì nước màu tím biến thành màu xanh, bỏ đường, muối… vào thì nước bắp cải tím không đổi màu khác mà vẫn giữ nguyên màu tím Hoặc đối với thí nghiệm về hình dạng của nước, trẻ cần rút

ra kết luận là nước có hình dạng của những vật chứa nó Đối với các thí nghiệm về không khí, trẻ cần rút ra những kết luận như: không khí ở chung quanh trẻ, không khí cũng không có hình dạng mà có hình dạng của những vật chứa nó, không khí nóng nhẹ hơn không khí lạnh… Lưu ý, ở bước này, GVMN không nên đưa ra kết luận thay trẻ mà cần hướng dẫn trẻ tự mình rút

ra kết luận thông qua những câu hỏi gợi ý của GV

 Bước 5: Cho trẻ “ghi chép” lại kết quả thí nghiệm

Sau khi kết thúc thí nghiệm, GVMN cần cho trẻ ghi nhận lại kết quả thí nghiệm bằng cách sử dụng hình ảnh, ký hiệu hoặc sơ đồ đơn giản để “ghi chép” Tuy nhiên, không phải thí nghiệm nào cũng có kết quả để ghi ngay vì cũng có nhiều thí nghiệm diễn ra trong nhiều ngày (như trồng cây, gieo hạt,

Trang 22

củ mọc thành cây, sự cần thiết của ánh sáng mặt trời/ nước đối với sự lớn lên của cây…) Đối với những thí nghiệm diễn ra trong khoảng thời gian dài như thế này thì GV nên cho trẻ quan sát và ghi nhận sự thay đổi của đối tượng thí nghiệm mỗi ngày và ghi chép lại để theo dõi

Có nhiều cách để GVMN hướng dẫn trẻ ghi nhận lại kết quả thí nghiệm như vừa làm thí nghiệm trẻ vừa ghi; làm xong hoàn toàn và có kết quả rõ ràng, cụ thể trẻ mới ghi; theo dõi từng ngày và ghi (đối với những thí nghiệm diễn ra nhiều ngày)

Để ghi nhận lại kết quả thí nghiệm, trẻ có thể ghi bằng cách sử dụng hình vẽ hoặc tô màu vào bảng kết quả, “ghi” chữ (sao chép chữ), sử dụng một

số ký hiệu hoặc dán đồ vật vào vị trí thích hợp GVMN có thể chuẩn bị sẵn bảng kết quả để trẻ sử dụng các ký hiệu như , , , , , , , , , ,

… hoặc sử dụng các biểu tượng    /   để ghi nhận lại kết quả thí nghiệm Tùy thuộc vào nội dung thí nghiệm và khả năng của trẻ lớp mình phụ trách mà GVMN sẽ chọn hình thức ghi nhận kết quả thí nghiệm phù hợp với trẻ nhất

 Bước 6: Chia sẻ kết quả thí nghiệm

Sau khi ghi nhận kết quả, GV cần cho trẻ “thuyết trình” trước lớp về kết quả thí nghiệm mà trẻ vừa “khám phá” xong Ở HĐ này, một mặt GV có thể hình thành sự tự tin, mạnh dạn, khả năng nói trước đám đông của trẻ, mặt khác GV tạo cơ hội cho tất cả mọi trẻ chia sẻ những hiểu biết mà trẻ vừa lĩnh hội được để trẻ có thể học tập lẫn nhau Cuối cùng, với bản ghi chép kết quả thí nghiệm, GV có thể cho trẻ mang về nhà để khoe với bố mẹ, hoặc dán ở bảng kết quả tại góc khoa học Khi chuyển qua thí nghiệm khác, GV sẽ cho trẻ cất các bản ghi kết quả này vào hồ sơ cá nhân của trẻ

Như vậy, để phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua thí nghiệm trong

HĐ khám phá khoa học ở trường MN, GVMN cần lưu ý đảm bảo trình tự theo sáu bước như trên Trong sáu bước này, bước quan trọng nhất để phát triển KN dự đoán cho trẻ chính là bước hai Vì thế, GVMN không được nóng vội, bỏ qua bước này mà cần kiên nhẫn, đặt câu hỏi, khuyến khích, động viên trẻ đưa ra dự đoán của bản thân

Trang 23

Hình 1.1 Trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

1.5 VAI TRÒ CỦA GVMN KHI SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN KN DỰ ĐOÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

Để sử dụng thí nghiệm đạt hiệu quả như mong muốn trong việc phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi, GVMN cần đảm bảo một số vai trò sau: Một là, chọn đề tài thí nghiệm Các đề tài của thí nghiệm phải đơn giản, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi Các nội dung thí nghiệm cần xuất phát từ nhu cầu, kinh nghiệm, khả năng và hứng thú của trẻ 5 - 6 tuổi Đó là các nội dung làm cho trẻ tò mò, tham gia tích cực, gần gũi với

cuộc sống hàng ngày của trẻ như nước, không khí, đất, cát, cây xanh…(Xem phụ lục 5 – Một số thí nghiệm cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN theo chủ đề)

Trong thí nghiệm, nội dung cho trẻ khám phá rất đa dạng và không nhất thiết phải gắn với chủ đề mà lớp đang thực hiện Để lựa chọn đề tài cho thí nghiệm, GVMN có thể dựa trên các nội dung khám phá có trong chương trình khung GDMN, có thể dựa vào các tài liệu tham khảo, sách hướng dẫn

(Xem phụ lục 6 - Danh mục tài liệu tham khảo hỗ trợ cho GVMN tổ chức HĐ thí nghiệm) hay phần mềm vui học Kidsmart – Ngôi nhà khoa học của

Sammy Nội dung thí nghiệm có ứng dụng vào cuộc sống càng tốt Ví dụ như

đề tài Nước/ Ánh sáng cần thiết cho sự phát triển của cây, Quần áo ở đâu khô nhanh hơn?, Cuộc chạy đua của các ngọn nến, Ánh sáng có thể “đi xuyên qua

Trình tự tổ chức thí nghiệm

Bước 1: Xác định câu hỏi Bước 2: Trẻ đưa ra dự đoán Bước 3: Tiến hành làm thí nghiệm Bước 4: Quan sát và phân tích kết quả Bước 5: Ghi nhận kết quả thí nghiệm Bước 5: Chia sẻ kết quả thí nghiệm

Trang 24

những vật nào”?, Loại nước nào không tốt cho cây?, Rác phân hủy và rác không phân hủy – loại rác nào tốt cho cây hơn? , Vật gì thấm nước mau hơn? , Vật nào có thể sử dụng được nhiều lần, vật nào không? Đẩy một hộp nặng ở đâu dễ hơn? (lên dốc, xuống dốc, ở chỗ gồ ghề hay ở chỗ trơn láng)… Nếu như GVMN biết chọn những thí nghiệm mang tính ứng dụng vào cuộc sống sẽ giúp trẻ thấy được ý nghĩa của những gì trẻ đang học, điều này càng nâng cao hứng thú nhận thức của trẻ, đáp ứng yêu cầu của chương trình GDMN mới Hai là, sự an toàn của thí nghiệm Nội dung của các cuộc thí nghiệm cần phải an toàn và dễ thực hiện Đó là những hiện tượng thường diễn ra trong cuộc sống và gần gũi với trẻ Các thí nghiệm này phải có sự thay đổi rõ ràng trong khoảng thời gian nhất định để trẻ dễ dàng nhận biết và rút ra kết luận

Ba là, trong quá trình tổ chức thí nghiệm, trẻ cần được nói nhiều hơn là nghe cô nói Thí nghiệm thường được tổ chức cho lứa tuổi chồi và lá Ở lứa tuổi này, ngôn ngữ của trẻ đã phát triển Trẻ đã có khả năng nghe và hiểu những gì GVMN nói Do đó, trong quá trình tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm, GVMN cần kiên nhẫn lắng nghe những giải thích, cách lý giải vấn đề của trẻ, khuyến khích trẻ “nói nhiều”, mạnh dạn đưa ra những dự đoán của bản thân, động viên trẻ lý giải các nguyên nhân, giải thích theo cách hiểu của trẻ GVMN cần khuyến khích trẻ giao tiếp, chia sẻ ý tưởng, thông tin, kinh nghiệm, trình bày kết luận Trẻ có thể suy luận sai do thiếu kiến thức và kinh nghiệm cần thiết, trong những trường hợp đó, GVMN cần khuyến khích trẻ lặp lại thí nghiệm hoặc làm thêm những thí nghiệm phụ để trẻ hiểu rõ hơn, hoặc GVMN sẽ sử dụng hệ thống câu hỏi gợi ý, tránh áp đặt kết luận của GV trong khi trẻ chưa hoàn toàn bị thuyết phục Đồng thời, GVMN cần trao đổi, khơi gợi, khai thác những kinh nghiệm trẻ đã có trong cuộc sống bằng cách đặt những câu hỏi như Tại sao con lại nghĩ như vậy? Tại sao con biết? Cái gì làm cho…? Vì sao…? Như thế nào…? Bằng cách nào…?

Bốn là, trẻ phải được HĐ nhiều, được làm nhiều hơn là ngồi im một chỗ hoặc chỉ quan sát cô làm/ bạn làm Trong quá trình hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm, GVMN nên tránh việc làm thay trẻ mà nên hướng dẫn trẻ tự làm qua lời hướng dẫn của GV, thay vì GVMN làm cho trẻ xem Điều quan trọng nhất trong thí nghiệm chính là việc trẻ được tự làm, tự tìm tòi, khám phá chứ

Trang 25

không phải là quan sát GV làm/ một bạn trong nhóm làm và rút ra kết luận GVMN nên bỏ tâm lý sợ trẻ làm sai vì trẻ sẽ học được nhiều điều hơn qua việc thử và sai đó Đồng thời, khi tổ chức cho trẻ HĐ theo nhóm, GV cần lưu

ý đến số lượng trẻ trong nhóm để chuẩn bị đồ dùng thí nghiệm sao cho đủ cho tất cả trẻ, tránh việc chỉ có một số trẻ được làm còn một số trẻ khác chỉ quan sát bạn làm

Đồng thời, khi quan sát trẻ HĐ, nghe trẻ lý giải và trả lời câu hỏi, GVMN cần thể hiện thái độ đồng tình, ngạc nhiên hoặc hào hứng cùng trẻ GVMN không nên cho trẻ cảm thấy GVMN đang ở vai trò là “người dạy học”, là người “biết tuốt” mà nên đặt mình vào hoàn cảnh đang tò mò, đang khám phá, đang đi tìm “cái ẩn dấu bên trong” cùng với trẻ

Trong quá trình trẻ thí nghiệm, GVMN cần quan sát trẻ làm, quan tâm đến những trẻ còn lúng túng, chưa thể hiện hứng thú khám phá để gợi ý, giúp

đỡ hoặc cùng làm với trẻ Đặc biệt, trong quá trình trẻ thực hiện, GVMN cần quan sát các tình huống nảy sinh (như nến không tắt khi trẻ chụp ly lên, bịch sirô của trẻ không đông đặc lại mà vẫn còn loãng, cây vẫn sống mặc dù trẻ không tưới nước…) để khai thác, giúp trẻ tìm ra nguyên nhân, tích cực suy nghĩ (nến không tắt có thể do có chỗ hở, vẫn còn oxy, bịch sirô không đông đặc có thể do trẻ không bỏ muối hột mà chỉ bỏ đá đập nhuyễn, cây sống mặc

dù trẻ không tưới nước nhưng có thể bạn khác trong lớp đã tưới…) GVMN cần phải nhận thấy rằng, các tình huống xảy ra không theo sự sắp đặt của mình, không được dự kiến trước trong giáo án chính là một cơ hội tốt để kích thích trẻ suy nghĩ Và điều này cũng chính là một trong những điều mà GDMN mong muốn hướng đến - trẻ học bằng những trải nghiệm của chính bản thân trẻ

Ngoài ra, trong khi trẻ làm thí nghiệm, GVMN cần quan tâm sâu sát đến từng trẻ Nếu thấy thí nghiệm đó quá dễ so với khả năng của trẻ, GVMN cần tạo tình huống để tiếp tục nảy sinh hứng thú khám phá của trẻ (Mình bỏ cái kẹp giấy vào lọ thủy tinh thì không biết nam châm có hút được không nhỉ? Nếu mình đặt thêm một tấm chắn bằng nhựa chứ không phải bằng gỗ thì liệu nam châm có hút được đồ vật nữa không ta? Có cách nào khác để biết nước

Trang 26

mặn nặng hơn nước ngọt nữa không? Hoa của con đổi màu thật đẹp đó Nhưng có cách nào để bông hoa này không chỉ đổi thành một màu như con

đã làm mà đổi thành hai màu khác nhau được không? Cô nghĩ lúc đó chắc là bông hoa do con làm sẽ đẹp và đặc biệt lắm! )

Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức thí nghiệm, GVMN không nên trả lời ngay những câu hỏi “Tại sao?” của trẻ vì một “bí quyết” để thúc đẩy trẻ tích cực suy nghĩ nhằm phát triển tư duy của trẻ nói chung và phát triển KN

dự đoán nói riêng là GVMN không bao giờ trả lời ngay những câu hỏi “Tại sao? Vì sao”, những thắc mắc của trẻ GV phải có “nghệ thuật” trả lời câu hỏi của trẻ, đó là “trả lời” bằng cách “hỏi ngược lại trẻ”, khuyến khích trẻ tích cực “động não” và GVMN cần dành thời gian cho trẻ suy nghĩ, dự đoán kết quả, làm thử và cố gắng tự mình tìm ra câu trả lời

Trong quá trình tổ chức thí nghiệm, GVMN có thể cho phép trẻ làm theo cách thử - sai để giải quyết vấn đề tìm ra câu trả lời GV có thể chấp nhận một số sai lầm của trẻ trong quá trình làm thí nghiệm miễn là các sai lầm này không ảnh hưởng đến sự an toàn của trẻ Trong quá trình quan sát kết quả thí nghiệm, phân tích và rút ra kết luận cuối cùng, GVMN lưu ý không nên đưa ra kết luận thay trẻ mà cần hướng dẫn trẻ tự mình rút ra kết luận thông qua các câu hỏi gợi ý của cô

Ngoài ra, đối với bảng ghi nhận kết quả thí nghiệm của trẻ, GVMN không nên áp đặt trẻ “ghi chép” đúng kết quả mà GVMN đã dự kiến mà cần cho trẻ ghi nhận lại chính xác những gì trẻ đang làm, đang thí nghiệm GVMN cần học cách chấp nhận bảng ghi kết quả của trẻ có thể khác với kết quả của các trẻ khác trong lớp, khác với kết quả mà GV đang chờ đợi hoặc thậm chí “không nằm trong giáo án” Nếu kết quả của trẻ ra khác, GVMN cần tạo điều kiện cho trẻ làm lại thí nghiệm để tìm hiểu nguyên nhân tại sao

ra kết quả khác đó

Khi cho trẻ ghi nhận kết quả thí nghiệm, GVMN đừng quá quan tâm vào kết quả đúng - sai ở từng bảng ghi kết quả thí nghiệm của trẻ mà nên quan tâm, chú ý đến hứng thú và sự say mê tìm tòi, khám phá của trẻ nhiều hơn

Trang 27

Tóm lại, trong quá trình tổ chức cho trẻ 5 - 6 tuổi làm thí nghiệm, GVMN cần đẩy mạnh vai trò tích cực, chủ động khám phá cho trẻ, còn GVMN chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ trẻ những lúc cần thiết và đôi khi cũng phải “đóng vai” là “người được hướng dẫn” Đối với trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng, vui chơi là HĐ chủ đạo Vì thế, thí nghiệm cũng phải được tổ chức dưới hình thức vui chơi đầy hứng thú và cũng đầy bất ngờ - các cuộc thí nghiệm chính là các trò chơi khoa học và trẻ chính là các “nhà khoa học tí hon” trong “trò chơi dự đoán” đầy thú vị đó Trong quá trình tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN, GVMN cần nhớ rõ điều quan trọng nhất trong thí nghiệm không phải là trẻ làm thí nghiệm gì, học được những kiến thức khoa học nào qua thí nghiệm đó mà là trẻ làm như thế nào để khám phá sự vật, hiện tượng đó; việc làm thí nghiệm đó có mang lại

sự thích thú, ham hiểu biết cho trẻ hay không

1.6 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như vậy, ở chương 1, chúng tôi đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trước hết, chúng tôi định nghĩa những khái niệm cơ bản của đề tài Trên cơ sở những khái niệm đó, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề chính có liên quan đến việc xây dựng và sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN như vai trò của thí nghiệm đối với sự phát triển KN

dự đoán của trẻ 5 - 6 tuổi, trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm mục đích phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi và cuối cùng là những yêu cầu mà GVMN cần lưu ý khi tổ chức cho trẻ 5 - 6 tuổi làm thí nghiệm nhằm mục đích phát triển KN dự đoán Toàn bộ phần lý luận ở chương 1 là cơ sở để chúng tôi điều tra thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5

- 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN và xây dựng, thử nghiệm một số thí nghiệm cho trẻ 5 - 6 tuổi khám phá hai chủ đề “Nước” và “Không khí” nhằm mục đích phát triển KN dự đoán

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DỰ ĐOÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC

2.1 MỤC ĐÍCH ĐIỀU TRA

Để có thêm cơ sở cho việc xây dựng các thí nghiệm nhằm phát triển KN

dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN, chúng tôi tiến hành tìm hiểu nhận thức, khó khăn, thuận lợi… của BGH và GVMN khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học

ở các trường MN hiện nay, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng

đó, lắng nghe những đề xuất của BGH và GVMN nhằm khắc phục những tồn tại này

2.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA

Để tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho

188 GVMN ở các trường trên địa bàn TPHCM gồm có 2 trường công lập, 3 trường bán công, 3 trường tư thục và 3 trường quốc tế ở cả nội thành và ngoại thành Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phỏng vấn 10 hiệu trưởng/ hiệu phó chuyên môn và 33 GVMN đang dạy lớp Lá Đồng thời, để tìm hiểu thực trạng một cách sâu sát hơn, chúng tôi cũng tiến hành dự giờ 3 HĐ thí nghiệm

và tìm hiểu hơn 10 giáo án thí nghiệm của GVMN

Các khảo sát này được thực hiện trong thời gian từ tháng 6/2009 đến tháng 10/2010

Bảng 2.1 Phương pháp và đối tượng điều tra

1 Phát phiếu trưng cầu ý kiến 188 GVMN

4 Dự giờ GVMN tổ chức thí nghiệm 3 giờ

5 Phân tích giáo án thí nghiệm 17 giáo án

2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến

Trang 29

Chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường

MN tại TPHCM hiện nay Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng gồm 17 câu hỏi nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức của GVMN về việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi: vai trò của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi, mục đích tổ chức thí nghiệm, trình tự tổ chức thí nghiệm, vai trò của GVMN khi sử dụng thí nghiệm, những thuận lợi, những khó khăn mà GVMN thường gặp phải khi tổ chức thí nghiệm, các biện pháp khắc phục khó khăn, những đề xuất của GVMN để việc sử dụng thí nghiệm đạt hiệu quả cao nhất trong việc phát triển

KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (Xem Phụ lục 2 – Phiếu trưng cầu ý kiến GVMN)

chung và hiệu quả phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng (Xem phụ lục 3 - Câu hỏi phỏng vấn GVMN, phụ lục 4 – Câu hỏi phỏng vấn BGH)

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu các giáo án tổ chức HĐ khám phá thử nghiệm của GVMN nhằm mục đích đánh giá thực trạng lập kế hoạch, hình thức và phương pháp tổ chức thí nghiệm trên thực tế của GVMN Các giáo

án mà chúng tôi tìm hiểu gồm có các đề tài như: Âm thanh trong đời sống, Điều kỳ diệu của nam châm, Cuộc chạy đua của các ngọn nến, Sức gió làm vật chuyển động, Ly nước ba màu, Chất lỏng nào chảy nhanh hơn, Vật nổi vật chìm, Núi lửa dưới nước, Làm một cầu vồng, Đèn cầy cháy nhờ gì?

(Xem phụ lục 8 – Một số giáo án HĐ khám phá - thí nghiệm của GVMN)

2.2.4 Phương pháp quan sát

Trang 30

Để tìm hiểu thêm về thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN

dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN hiện nay, chúng tôi cũng tiến hành dự giờ 3 HĐ khám phá thử nghiệm

2.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

2.3.1 Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác và chương trình GDMN đang dạy của GVMN và cán bộ quản lý tham gia trả lời phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn

Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác và chương trình GDMN đang dạy của GVMN (N=221)

có GV nào dạy theo các chương trình cũ (chương trình cải cách và chương trình đổi mới hình thức tổ chức) mà hầu hết đã và đang dạy theo chương trình GDMN mới (89.59%) và dạy theo các chương trình tiên tiến khác tại các trường MN quốc tế như chương trình của Anh (Trường British International

Trang 31

School), chương trình Montessori…(10.41%) Tất cả những điều này sẽ được tính đến khi phân tích thực trạng sử dụng thí nghiệm ở các trường MN hiện nay

2.3.2 Nhận thức của GVMN về việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua HĐ khám phá khoa học

Bảng 2.3 Đánh giá của GVMN về tầm quan trọng của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (N=188)

có thể mang lại cho sự phát triển KN dự đoán cho trẻ

Bảng 2.4 Vai trò của thí nghiệm đối với sự phát triển KN dự đoán cho trẻ 5

2 Giúp phát triển các kỹ năng tư duy như quan sát,

so sánh, phân loại, suy luận, dự đoán…

3 Phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ 42 22.3%

4 Giúp trẻ nhận biết đặc điểm, tính chất của sự vật

hiện tượng một cách trực quan

kỹ năng tư duy như quan sát, so sánh, phân loại mà đặc biệt là KN dự đoán

Trang 32

…và tạo cơ hội cho trẻ được tự khám phá, tự trải nghiệm Số liệu này cho thấy, GVMN đã nhận thức được rất rõ vai trò của thí nghiệm trong việc phát triển các KN tư duy cho trẻ mà đặc biệt là KN dự đoán Chỉ có 22.3% GVMN nhận thấy thí nghiệm còn giúp phát triển KN giao tiếp cho trẻ - điều này cho thấy trên thực tế tổ chức thí nghiệm ở các trường MN hiện nay, GVMN rất ít khi tạo điều kiện để trẻ phát triển KN giao tiếp Ngoài ra, có 2.13% GVMN còn nhận thấy thí nghiệm còn có những vai trò khác như giúp trẻ được độc lập, chủ động trong các HĐ, trẻ được tận mắt nhìn thấy kết quả

dự đoán, giúp trẻ tự tin, mạnh dạn và trẻ có cơ hội ứng dụng vào cuộc sống Điều này chứng tỏ một số GVMN cũng nhận thấy được thí nghiệm có nhiều lợi ích trong việc giáo dục trẻ

Thống nhất với kết quả nhận được từ phiếu trưng cầu ý kiến, kết quả phỏng vấn GVMN đều cho rằng thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển KN dự đoán cho trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được khám phá đặc điểm, tính chất của các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh một cách chủ động, tích cực và đầy hứng thú Sau đây là ý kiến của một số GVMN:

“Khi làm thí nghiệm, trẻ được tự mình tham gia mọi khâu Khả năng thể hiện bản thân của trẻ được phát triển Trẻ được tích cực HĐ Trẻ có thể tưởng tượng, dự đoán được kết quả trước khi làm thí nghiệm, qua đó phát triển tư duy.” (Cô Nguyễn Th Q.)

“Thí nghiệm tập cho trẻ có kỹ năng, thói quen suy nghĩ để đưa ra dự đoán kết quả Tạo cơ hội cho trẻ vận dụng những gì trẻ biết vào cuộc sống và rèn cho trẻ tính ham học hỏi, thích được làm” (Cô Lê M Ng.)

“Chúng tôi thấy thí nghiệm có giúp trẻ phát triển khả năng dự đoán, suy luận nếu GV chú ý Nó làm cho trẻ hứng thú, tích cực hơn.” (Cô Lê M Tr.)

Với cái nhìn bao quát hơn GVMN, BGH các trường MN còn nhận ra được thí nghiệm chiếm ưu thế hơn các HĐ khác ở trường MN trong việc phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi Dưới đây là ý kiến của một số hiệu phó chuyên môn:

“Thí nghiệm có nhiều cơ hội cho trẻ dự đoán hơn những HĐ khác Nó kích thích được hứng thú của trẻ (trẻ được làm, được thí nghiệm) nên trẻ tò mò và rất thích dự đoán để xem mình và bạn mình, ai là người đoán đúng.” (Cô Lê T T Gi.)

Trang 33

“HĐ khám phá thử nghiệm giúp trẻ phát triển khả năng quan sát, suy luận để đưa ra dự đoán Giúp trẻ phát triển hứng thú và tính tò mò qua việc trẻ được tự làm, tự trải nghiệm để kiểm tra xem những dự đoán mà mình đã đưa ra đúng hay không đúng Càng ngày, trẻ càng có KN dự đoán chính xác hơn dựa trên những phán đoán logic.” (Cô Nguyễn T

Th Tr.)

Như vậy, có thể kết luận rằng, phần lớn cán bộ quản lý và GVMN tham gia nghiên cứu này đều nhận thức rõ được tầm quan trọng và vai trò của thí nghiệm đối với việc phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học

2.3.3 Nhận thức của GVMN về cách tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN

Bảng 2.5 Lứa tuổi có thể sử dụng thí nghiệm nhằm mục đích phát triển

Theo bảng 2.5., có đến 83.51% GVMN cho rằng thí nghiệm có thể tổ chức cho cả hai lứa tuổi chồi và lá Điều này cho thấy hầu hết GVMN tham gia vào nghiên cứu này có nhận thức rất chính xác về độ tuổi có thể tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm Số liệu này đáng tin cậy bởi vì ở bảng 2.2 đã cho thấy hơn 2/3 GVMN tham gia nghiên cứu này (66.06%) là những GV lâu năm, có nhiều kinh nghiệm nên nhận thấy lứa tuổi thích hợp nhất để tổ chức thí nghiệm vẫn là từ 4 tuổi trở lên Điều này rất phù hợp với nhiều tài liệu

chuyên ngành về đặc diểm nhận thức của trẻ mẫu giáo “Bắt đầu hiểu thí nghiệm là gì và trở nên có chủ định, sáng tạo hơn trong việc khám phá Thường thích các thí nghiệm do chúng tạo ra hơn là các thí nghiệm do người lớn hướng dẫn Bắt đầu suy nghĩ, lập kế hoạch cho một HĐ chẳng hạn như nghĩ về việc gieo hạt trước khi trẻ thực hiện hành động thực tế này Bắt

Trang 34

đầu đưa ra những dự đoán dựa trên những gì trẻ được trải nghiệm Thích nghĩ ra những lời giải thích ”[ 2,tr.11]

Tuy nhiên, vẫn còn 16.49% GVMN cho rằng thí nghiệm có thể tổ chức cho cả 3 lứa tuổi Đây là nhận thức hoàn toàn chưa chính xác bởi vì khi tiến hành thí nghiệm, trẻ phải tự mình đưa ra dự đoán, sau đó tự làm, tự rút ra kết luận và so sánh với dự đoán ban đầu, giải thích những gì xảy ra - do đó trẻ lớp Mầm khó có thể tham gia thí nghiệm được vì vốn kinh nghiệm của trẻ còn nghèo nàn, khó có thể đưa ra dự đoán cũng như giải thích hiện tượng đã xảy ra Đồng thời, khả năng nghe hiểu lời nói của trẻ còn hạn chế nên nếu GVMN chỉ hướng dẫn cho trẻ tự thực hành bằng lời thì trẻ khó mà thực hiện được Mặc dù vậy, khi phỏng vấn GVMN về độ tuổi có thể tổ chức thí nghiệm thì cũng có ý kiến cho rằng có thể tổ chức cho cả 3 độ tuổi và cô có giải thích cho quan điểm của mình như sau:

“Có thể tổ chức thí nghiệm cho cả 3 độ tuổi Chồi và Lá thì trẻ đã có khả năng tự làm, tự trải nghiệm Riêng đối với Mầm, cô có thể chọn những thí nghiệm thật đơn giản và hình thức tổ chức cũng khác so với trẻ chồi và lá Ví dụ: với đề tài “Vật nổi - vật chìm”, trẻ chồi và lá cô có thể cho trẻ tự chọn đồ vật và số lượng nhiều , chẳng hạn mười món và ghi nhận kết quả dưới nhiều hình thức như khoanh tròn, dùng bút đánh dấu hay vẽ lại những đồ vật nào là chìm/nổi ; nhưng đối với mầm thì khác, số lượng đồ vật cần ít hơn , khoảng ba,bốn món thôi và cách ghi nhận kết quả cũng khác – cô cho trẻ dán hình mặt cười  nếu đồ vật nổi hoặc mặt mếu  vào nếu đồ vật chìm/ đánh dấu cộng (+) hoặc trừ (-) vào bảng kết quả cô đã làm sẵn hay khoanh tròn / đánh dấu bất kỳ những

đồ vật nào nổi trong bảng kết quả cô đã in sẵn ” (Cô Lê T Th.)

Như vậy, tổng hợp các kết quả nhận được từ phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn, có thể rút ra kết luận như sau: lứa tuổi phù hợp nhất để tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán vẫn là lứa tuổi Chồi và Lá, đặc biệt là

Lá vì HĐ này phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ ở lứa tuổi này Tuy nhiên, tùy vào điều kiện của trường/ lớp, khả năng nhận thức của trẻ do mình phụ trách và khả năng sư phạm của GVMN mà GVMN có thể tổ chức thí nghiệm cho lứa tuổi nhỏ hơn là Mầm Nếu được làm quen với thí nghiệm ngay từ lớp Mầm thì đến khi lên Chồi và Lá, kỹ năng dự đoán nói riêng và

Trang 35

các KN nhận thức nói chung sẽ có điều kiện được hình thành và phát triển tốt hơn

Bảng 2.6 Trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ

Gồm 6 bước: Giới thiệu đồ dùng làm thí nghiệm,

giới thiệu đề tài thí nghiệm, cô làm mẫu, chia

nhóm cho trẻ làm, kết luận, ghi nhận kết quả

95 50.53%

3

Gồm 6 bước: Đàm thoại xác định nội dung, trẻ

đưa ra dự đoán, trẻ làm, cô hướng dẫn trẻ quan

sát và trẻ rút ra kết luận, ghi nhận kết quả, chia sẻ

xu hướng này Dưới đây là một số ý kiến:

“Trước hết, chúng tôi thường làm mẫu cho trẻ quan sát, sau đó chúng tôi chia nhóm rồi cho trẻ, thực hành” (Cô Lê M T.)

Trang 36

“Chúng tôi cho trẻ quan sát những đồ dùng chúng tôi đã chuẩn bị và hỏi trẻ xem muốn chơi gì với những đồ dùng này Sau đó chúng tôi gợi ý cho trẻ cách chơi, cho trẻ nhận xét, sau đó chúng tôi nhận xét, đưa ra cách thực hiện đúng và cho trẻ thực hiện lại” (Cô Phạm V T.)

Tuy nhiên, có một tín hiệu cũng rất đáng mừng là có 29.26% GVMN vẫn giữ được điều quan trọng nhất của thí nghiệm - đó là cho trẻ tự làm, tự trải nghiệm Dù vậy, các GVMN này vẫn còn “giữ” lại “một chút gì đó” của cách dạy học cũ - vẫn còn sợ trẻ sai nên sau cùng GV vẫn phải chốt lại vấn

đề Điều này không cần thiết khi tổ chức thí nghiệm cho trẻ 5 - 6 tuổi vì trẻ

đã có khả năng tự rút ra kết luận thông qua những lời hướng dẫn của cô Với mục đích phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua thí nghiệm, chỉ có 7.98% GVMN chú ý đến điều này Trong tiến trình tổ chức thí nghiệm, GVMN bước đầu có lưu ý đến việc cho trẻ đưa ra dự đoán

Như vậy, số liệu ở bảng 2.6 cho thấy, GVMN chưa chú trọng phát triển

KN dự đoán cho trẻ khi tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm Điều này chứng tỏ sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài

Trái ngược với kết quả nhận được từ phiếu trưng cầu ý kiến, kết quả phỏng vấn BGH cho thấy một tín hiệu khả quan hơn nhiều Phần lớn GV và cán bộ quản lý đều nhận thấy tầm quan trọng của việc sử dụng thí nghiệm trong việc phát triển KN dự đoán cho trẻ Trong tiến trình tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm, các GVMN này luôn chú trọng cho trẻ đưa ra dự đoán của mình trước khi làm thí nghiệm và đặc biệt luôn cho trẻ được tự làm, tự trải nghiệm, GVMN không bao giờ làm thay Dưới đây là một số trình tự tổ chức thí nghiệm mà GVMN đã đưa ra qua phỏng vấn:

“Cô đặt câu hỏi gợi ý cho trẻ, để trẻ dự đoán, trẻ thí nghiệm, ghi nhận kết quả và giải thích” (Cô Nguyễn T H G)

“Đặt câu hỏi, dự đoán, trẻ thực hành và kết luận” (Cô Vũ Thị K L)

“Đàm thoại, cô gợi ý, trẻ thảo luận đưa ra cách làm, trẻ dự đoán, cô kết luận, trẻ vẽ lại kết quả thí nghiệm” (Cô N.N.D L.)

“Đàm thoại với trẻ, nói rõ nội dung thí nghiệm, trẻ dự đoán kết quả, trẻ thực hiện, cô nhận xét kết quả thí nghiệm, trẻ ghi nhận kết quả và mô tả, diễn đạt cho cả lớp” (Cô Phan T M H.)

Trang 37

‘Cô giới thiệu vật liệu, cho trẻ dự đoán điều gì sẽ xảy ra, gợi ý cho trẻ làm, thực hiện thí nghiệm, so sánh kết quả với điều đã dự đoán” (Cô Nguyễn T T T.)

Để hiểu rõ hơn về thực trạng tổ chức thí nghiệm trên thực tiễn GDMN hiện nay, đề tài cũng tiến hành nghiên cứu trong sáu bước tổ chức thí nghiệm nhằm mục đích phát triển KN dự đoán cho trẻ mà đề tài đưa ra, trên thực tế hiện nay, GVMN thường bỏ qua những bước nào Kết quả nhận được như sau:

Bảng 2.7 Những bước GVMN thường không thực hiện khi tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm (N=188)

STT Những bước GVMN thường không thực hiện khi

tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm Số lượng Tỉ lệ %

1 Bước 1: Đàm thoại, xác định nội dung TN 23 12.23 %

3 Bước 3: Tiến hành cho trẻ làm thí nghiệm 0 0%

4 Bước 4: Hướng dẫn trẻ quan sát và phân tích kết

5 Bước 5: Ghi chép lại kết quả thí nghiệm 0 0%

6 Bước 6: Chia sẻ kết quả với bạn bè, gia đình 160 85.11% Bảng 2.7 cho thấy có đến 93.09% GVMN tham gia trả lời phiếu trưng cầu ý kiến đều bỏ qua bước cho trẻ đưa ra dự đoán Kết quả này thống nhất với kết quả ở bảng 2.6 - phần lớn GV khi tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm đều không cho trẻ dự đoán trước kết quả thí nghiệm Bên cạnh đó, việc hướng dẫn trẻ quan sát và đặc biệt là cho trẻ rút ra kết quả cũng chưa được quan tâm đúng mức Gần 90% GVMN tham gia vào nghiên cứu này (80.85%) đều không cho trẻ tự rút ra kết luận thí nghiệm mà GV luôn là người rút ra kết luận Điều này cho thấy, GVMN vẫn còn ảnh hưởng cách dạy học truyền thống, chưa hòa nhập với tinh thần của chương trình GDMN mới Đặc biệt, có đến 85.11% GVMN không quan tâm đến việc cho trẻ chia sẻ kết quả thí nghiệm với những người xung quanh, điều này làm hạn chế việc phát triển các KN xã hội cần thiết cũng như tính tự tin, sự tự hào về những gì trẻ đã làm được

Trang 38

Để tìm hiểu một số yếu tố đảm bảo sự thành công khi sử dụng thí nghiệm, chúng chúng tôi tiến hành phát phiếu và phỏng vấn Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.8 Một số yêu cầu cần đảm bảo khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (N=188)

STT Một số yêu cầu cần đảm bảo Số lượng Tỉ lệ %

2 Nội dung đơn giản, phù hợp với trẻ 5 - 6 tuổi 188 100%

4

Ý kiến khác:

Cần cụ thể và thực tế, gắn với sự hiểu biết và vốn

kinh nghiệm của trẻ; Phù hợp điều kiện

trường/lớp

23 12.23%

Bảng 2.8 cho thấy tất cả GVMN tham gia vào nghiên cứu này đều cho rằng khi tổ chức cho trẻ 5 - 6 tuổi làm thí nghiệm cần phải quan tâm đến hai yếu tố là sự an toàn cho trẻ và nội dung thí nghiệm đơn giản, phù hợp lứa tuổi trẻ Có đến 81.94% GVMN cho rằng không nhất thiết phải tổ chức thí nghiệm trong khoảng thời gian ngắn Có 12.23% GVMN cho rằng các nội dung thí nghiệm cần gần gũi với trẻ, gắn với hiểu biết và kinh nghiệm của trẻ, cần phù hợp với điều kiện của trường, của địa phương

Thống nhất với kết quả nhận được từ phiếu trưng cầu ý kiến, kết quả phỏng vấn BGH và GVMN cũng cho rằng an toàn là yêu cầu đầu tiên cần phải đảm bảo Nội dung thí nghiệm cũng phải đơn giản, phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi, phù hợp với điều kiện của trường, của địa phương Sau đây là một số ý kiến trích dẫn của GVMN:

“Đề tài thí nghiệm cần gần gũi với trẻ, trẻ có khả năng tự mình làm được Ngoài ra, đồ dùng cần đầy đủ, an toàn và phù hợp với trẻ” (Cô Nguyễn H.G.)

“Theo cá nhân chúng tôi, điều quan trọng khi cho trẻ làm thí nghiệm là lựa chọn đề tài Đề tài này phải thiết thực, phù hợp với trẻ Mặt khác,

đề tài phải phù hợp với cơ sở vật chất của trường vì nếu đề tài quá cao

xa, không có đủ cơ sở vật chất để tiến hành cũng không thể mang lại

Trang 39

hiệu quả tốt nhất Và đặc biệt nhớ, thí nghiệm phải rất an toàn cho trẻ mới được.” (Cô Nguyễn N.D.L)

Ngoài các ý kiến trên, GVMN còn cho rằng một yêu cầu quan trọng nhất khi tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm chính là trẻ phải được tự mình thí nghiệm như các ý kiến phỏng vấn sau:

“Tất cả mọi trẻ phải được tự làm từ đầu tới cuối” (Cô Trần T.B.H.)

“Trẻ phải tự khám phá, tự thí nghiệm” (Cô Ngô Thị H.M.),

“Trong thí nghiệm, điều quan trọng nhất và cũng là điều căn bản nhất

mà chúng tôi thấy được là trẻ phải được làm, tự trải nghiệm để tìm ra kết quả Cô giáo không được làm thay trẻ” (Cô Nguyễn T.T.T.)

Bổ sung cho các ý kiến trên, cô Khổng H.T.D chia sẻ thêm:

“Đối với các thí nghiệm ‘hơi’ nguy hiểm cho trẻ như ‘không khí cần cho

sự cháy’, ‘vòng tuần hoàn của nước’… có liên quan đến lửa thì cô giáo

có thể cùng làm với trẻ nhưng vẫn đảm bảo các bước như cho trẻ dự đoán, tự rút ra kết luận… chứ không nhất thiết thí nghiệm nào trẻ cũng phải làm từ đầu tới cuối”

Như vậy, tổng hợp kết quả phỏng vấn và phiếu trưng cầu ý kiến cho thấy, GVMN nhận thức khá đầy đủ về cách thức tổ chức thí nghiệm nhằm mục đích phát triển KN dự đoán cho trẻ Tuy nhiên, GVMN cần lưu ý đến trình tự tiến hành thí nghiệm và không nên bỏ qua bước nào trong tiến trình này, đặc biệt là bước hai - cho trẻ đưa ra dự đoán

Bảng 2.9 Biện pháp phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua thí nghiệm (N=188)

STT Biện pháp phát triển KN dự đoán cho trẻ Số lượng Tỉ lệ %

1 Chọn đề tài thí nghiệm có nội dung đơn giản để

2 Cho thi đua giữa các nhóm – nhóm nào dự đoán

3 Làm phong phú hơn vốn hiểu biết của trẻ về môi

4 Cô đàm thoại, gợi mở để trẻ đưa ra dự đoán 179 95.21%

5 Động viên, khích lệ trẻ nào cũng đưa ra dự đoán 188 100%

Trang 40

Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy, phần lớn GVMN cho rằng để phát triển

KN dự đoán cho trẻ trong khi làm thí nghiệm, GVMN có thể sử dụng các biện pháp như: động viên, khích lệ trẻ nào cũng đưa ra dự đoán (100%); cô đàm thoại, gợi mở để trẻ đưa ra dự đoán (95.21%), chọn đề tài thí nghiệm có nội dung đơn giản để trẻ dễ dàng đưa ra dự đoán (81.91%) Ngoài ra, cũng có

ý kiến cho rằng GVMN nên làm phong phú hơn vốn hiểu biết của trẻ về môi trường xung quanh (22.34%) để trẻ có thêm nhiều kinh nghiệm để đưa ra dự đoán chính xác hơn và cho thi đua giữa các nhóm - nhóm nào dự đoán đúng

sẽ có thưởng (14.36%)

Cũng như kết quả nhận được từ phiếu trưng cầu ý kiến, khi được phỏng vấn, GVMN cũng cho rằng có thể sử dụng các biện pháp trên Tuy nhiên, về biện pháp cho thi đua giữa các nhóm - nhóm nào dự đoán đúng sẽ có thưởng thì có ý kiến phản bác của một GV như sau:

“ Không nên thi đua hoặc thưởng cho nhóm đưa ra dự đoán đúng vì điều này sẽ gây cho trẻ cảm giác hơn thua, ghanh đua vì mục đích của việc đưa ra dự đoán là để tăng thêm hứng thú cho trẻ mà thôi” (Cô Lâm T.T Tr.)

Như vậy, khi sử dụng thí nghiệm, GVMN có thể sử dụng một số biện pháp như động viên, khích lệ trẻ; cô đặt câu hỏi gợi mở, hướng dẫn trẻ đưa ra

dự đoán của mình hoặc cô có thể tìm hiểu trẻ mà mình đang dạy để chọn ra những đề tài thí nghiệm phù hợp cho trẻ nhất để trẻ dễ dàng đưa ra dự đoán

2.3.4 Thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN hiện nay qua qua phân tích giáo án và dự giờ GVMN

2.3.4.1 Phân tích giáo án

 Đề tài “Khám phá tính chất của nam châm”

Đây là đề tài quen thuộc, gần gũi và thường là sự lựa chọn đầu tiên của

GV khi muốn tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm Với đề tài này, chúng tôi sẽ phân tích năm giáo án của năm GV khác nhau, dạy ở các trường khác nhau để tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6

tuổi trong HĐ khám phá khoa học (xem phụ lục 8)

Một là, ở giáo án thứ nhất, chúng ta không thấy GV xác định lứa tuổi để

tổ chức thí nghiệm Điều này vô cùng nguy hiểm vì không có lứa tuổi thì

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Mai Chi, Lê Thu Hương, Trần Thị Thanh (2007), Đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng tích hợp chủ đề”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo theo hướng tích hợp chủ đề”
Tác giả: Phạm Thị Mai Chi, Lê Thu Hương, Trần Thị Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
2. Lê Thu Hương (chủ biên) (2006), Tổ chức hoạt động phát triển nhận thức cho trẻ MN theo hướng tích hợp, Viện chiến lược và chương trình GD, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động phát triển nhận thức cho trẻ MN theo hướng tích hợp
Tác giả: Lê Thu Hương (chủ biên)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2006
3. Khanh Khanh (2006), Làm thí nghiệm thật đơn giản, 4 tập, NXB Phụ Nữ 4. Vũ Ngọc Khánh (2000), Từ điển văn hóa GD Việt Nam, NXB Văn Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thí nghiệm thật đơn giản", 4 tập, NXB Phụ Nữ 4. Vũ Ngọc Khánh (2000), "Từ điển văn hóa GD Việt Nam
Tác giả: Khanh Khanh (2006), Làm thí nghiệm thật đơn giản, 4 tập, NXB Phụ Nữ 4. Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Phụ Nữ 4. Vũ Ngọc Khánh (2000)
Năm: 2000
5. Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân (2006), Giáo trình “Phương pháp cho trẻ LQMTXQ”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Phương pháp cho trẻ LQMTXQ”
Tác giả: Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Hoàng Phê (chủ biên) (2002), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, in lần thứ tám Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học
Năm: 2002
7. Tập thể tác giả (2001), Từ điển giáo dục học, NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2001
8. Trần Thị Thanh (1994), Phương pháp cho trẻ LQMTXQ, Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ LQMTXQ
Tác giả: Trần Thị Thanh
Năm: 1994
9. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2007), Khám phá và thử nghiệm dành cho trẻ nhỏ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá và thử nghiệm dành cho trẻ nhỏ
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Thị Thanh Nga (2007), Các hoạt động, trò chơi với chủ đề Môi trường tự nhiên, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hoạt động, trò chơi với chủ đề Môi trường tự nhiên
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Thị Thanh Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
11. Vụ GDMN (2004), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN chu kỳ II (2004-2007) quyển hai, NXB Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN chu kỳ II (2004-2007) quyển hai
Tác giả: Vụ GDMN
Nhà XB: NXB Hà nội
Năm: 2004
12. Trần Nguyên Anh Vũ (2008), Khám phá thiên nhiên qua hoạt động thử nghiệm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá thiên nhiên qua hoạt động thử nghiệm
Tác giả: Trần Nguyên Anh Vũ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
13. Catherine Valentino, Developing Science Skills, URL: http://www.eduplace.com/science/profdev/articles/valentino2.html 14. Predicting skill, URL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Developing Science Skills", URL: http://www.eduplace.com/science/profdev/articles/valentino2.html 14. "Predicting skill
15. Jill Norris, Learning about Air, Evan-Moor, Educational Publisher, ISBN: 1-55799-306-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Learning about Air
16. Jo Ellen Moore & Joy Evans, Simple Science Experiments, Evan-Moor, Educational Publisher, ISBN: 1-55799-306-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simple Science Experiments
17. Karen K.Lind và Roslin Charlesworth, Math & Science for young children, Sixth Edition, Wadsworth/ Cengage Learning Sách, tạp chí
Tiêu đề: Math & Science for young children
18. Tomislav Sencanski (2007), Những thí nghiệm đơn giản bạn có thể làm ở nhà, tập 3, NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thí nghiệm đơn giản bạn có thể làm ở nhà
Tác giả: Tomislav Sencanski
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho  trẻ 5 - 6 tuổi - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Hình 1.1. Trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (Trang 23)
Bảng 2.1.  Phương pháp và đối tượng điều tra - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.1. Phương pháp và đối tượng điều tra (Trang 28)
Bảng 2.2.   Trình  độ  chuyên  môn,  thâm  niên  công  tác  và  chương  trình  GDMN đang dạy của GVMN (N=221) - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác và chương trình GDMN đang dạy của GVMN (N=221) (Trang 30)
Bảng  2.3  cho  thấy  có  đến  93.09%  GVMN  nhận  thức  được  tầm  quan  trọng của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6  tuổi, chỉ có 6.91% GVMN nhận thấy thí nghiệm là bình thường - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
ng 2.3 cho thấy có đến 93.09% GVMN nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi, chỉ có 6.91% GVMN nhận thấy thí nghiệm là bình thường (Trang 31)
Bảng 2.3.   Đánh  giá  của  GVMN  về  tầm  quan  trọng  của  việc  sử  dụng  thí  nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (N=188) - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.3. Đánh giá của GVMN về tầm quan trọng của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (N=188) (Trang 31)
Bảng 2.5.  Lứa  tuổi  có  thể  sử  dụng  thí  nghiệm  nhằm  mục  đích  phát  triển - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.5. Lứa tuổi có thể sử dụng thí nghiệm nhằm mục đích phát triển (Trang 33)
Bảng 2.6.   Trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.6. Trình tự tổ chức thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ (Trang 35)
Bảng 2.7.   Những bước GVMN thường không thực hiện khi tổ chức cho trẻ  làm thí nghiệm (N=188) - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.7. Những bước GVMN thường không thực hiện khi tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm (N=188) (Trang 37)
Bảng 2.8.   Một số yêu cầu cần đảm bảo khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát  triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi  (N=188) - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.8. Một số yêu cầu cần đảm bảo khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (N=188) (Trang 38)
Bảng 2.9.  Biện pháp phát  triển  KN dự đoán  cho  trẻ  thông qua thí nghiệm  (N=188) - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.9. Biện pháp phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua thí nghiệm (N=188) (Trang 39)
Bảng 2.10.  Những  khó  khăn  thường  gặp  khi  sử  dụng  thí  nghiệm  nhằm  phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi  (N=188) - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Bảng 2.10. Những khó khăn thường gặp khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi (N=188) (Trang 46)
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG THỬ NGHIỆM CỦA TRẺ - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG THỬ NGHIỆM CỦA TRẺ (Trang 74)
Hình thức ghi nhận kết quả quá thấp so với khả  năng  của  trẻ.  Mặc  dù  trẻ  đã  5-6  tuổi  nhưng  cô  chuẩn bị sẵn bảng kết quả, trẻ chỉ  tô màu hồng/ - xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5   6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học
Hình th ức ghi nhận kết quả quá thấp so với khả năng của trẻ. Mặc dù trẻ đã 5-6 tuổi nhưng cô chuẩn bị sẵn bảng kết quả, trẻ chỉ tô màu hồng/ (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w