1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn

177 872 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học với đề tài Kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết Mạc Ngôn, tôi đã nhận được

Trang 1

Bùi Thanh Hiền

KẾT CẤU

VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT

TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Bùi Thanh Hiền

KẾT CẤU

VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT

TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học với đề

tài Kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết Mạc Ngôn, tôi đã

nhận được sự quan tâm của Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, của quý thầy cô giảng dạy chuyên ngành Lí luận văn học (Cao học khóa 23- Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh) Đặc biệt, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, hướng dẫn tận tâm của PGS TS Phùng Quý Nhâm, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn

Xuất phát từ tình cảm chân thành của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS TS Phùng Quý Nhâm, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, quý thầy cô, các phòng ban của trường Đai học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh (Phòng Sau đại học, Thư viện trường) cũng như gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian quan

Xin chân thành cảm ơn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2014

Người thực hiện

Bùi Thanh Hiền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn PGS TS Phùng Quý Nhâm Các nội dung nghiên cứu và kết quả

trong đề tài Kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết Mạc Ngôn là trung thực và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước

đây

Nếu phát hiện có bất kì sự gian dối nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ, cũng như kết quả luận văn của mình

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2014

Người cam đoan

Bùi Thanh Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Kết cấu luận văn 12

7 Đóng góp luận văn 13

Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ KẾT CẤU, NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG VĂN HỌC VÀ VĂN NGHIỆP CỦA MẠC NGÔN 14

1.1 Kết cấu trong tác phẩm văn học 14

1.1.1 Khái niệm kết cấu 14

1.1.2 Yêu cầu trong việc xây dựng kết cấu 16

1.1.2.1 Hoàn chỉnh, thống nhất, thẩm mĩ 16

1.1.2.2 Biểu đạt tư tưởng của tác phẩm 18

1.1.2.3 Xây dựng hình tượng nhân vật 19

1.1.3 Các dạng thức của kết cấu 21

1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học 22

1.2.1 Khái niệm nhân vật 22

1.2.2 Chức năng của nhân vật 25

1.2.2.1 Miêu tả và khái quát tính cách xã hội 25

1.2.2.2 “Chìa khóa” để nhà văn khám phá và lý giải hiện thực 26

1.2.2.3 Biểu hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn về con người 28

1.2.3 Phân loại nhân vật văn học 29

Trang 6

1.2.4 Các phương tiện và biện pháp xây dựng, khắc họa tính cách nhân vật 30

1.2.4.1 Phương tiện để xây dựng nhân vật 31

1.2.4.2 Biện pháp khắc họa tính cách nhân vật 32

1.3 Cuộc đời, văn nghiệp và quan niệm nghệ thuật của Mạc Ngôn 35

1.3.1 Cuộc đời và văn nghiệp 35

1.3.2 Quan niệm nghệ thuật 36

Chương 2 KẾT CẤU TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN 42

2.1 Kết cấu lồng ghép 42

2.1.1 Lồng ghép từ đặc trưng “hiếu kỳ” của tiểu thuyết Trung Quốc 46

2.1.2 Lồng ghép từ phương thức dẫn chuyện của tiểu thuyết chương hồi 52

2.1.3 Lồng ghép từ đặc trưng liên văn bản của tiểu thuyết hậu hiện đại 58

2.2 Kết cấu lắp ghép 64

2.2.1 Lắp ghép bằng cách đảo lộn 65

2.2.1.1 Đảo lộn biến cố, sự kiện 66

2.2.1.2 Đảo lộn không gian, thời gian 69

2.2.2 Lắp ghép bằng cách đồng hiện 79

2.2.2.1 Đồng hiện tuyến truyện 79

2.2.2.2 Đồng hiện sự kiện 86

Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN 89

3.1 Thế giới nhân vật 89

3.1.1 Nhân vật người hùng - thổ phỉ, ăn mày, kép hát 91

3.1.2 Nhân vật tham quan “không vì dân, vì cá nhân” 93

3.1.3 Nhân vật “người đẹp mệnh bạc”, “người đẹp chân to” 96

3.1.4 Nhân vật “dở dở, ương ương” 99

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 104

3.2.1 Nghệ thuật tương phản - đối lập 104

3.2.2 Nghệ thuật kỳ ảo - lạ hóa 110

3.2.3 Nghệ thuật hồi tưởng - giấc mơ 117

3.2.4 Nghệ thuật dính kết - gộp lại 122

Trang 7

KẾT LUẬN 129 TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền văn học Trung Quốc sau khi thoát khỏi “địa ngục trần gian” của Cách mạng

văn hóa (1966 -1976) có nhiều tìm tòi, thử nghiệm, đột phá, cách tân và “dần dần trở lại đúng quỹ đạo của nó, phát triển hợp quy luật của văn nghệ” [68, tr.13] Nhà văn Vương Mông cho rằng: “Văn học Trung Quốc sau khi trải qua giai đoạn bộc lộ, gào thét, sẽ đi vào giai đoạn khái quát, hồi cố suy ngẫm lại” [68, tr.15] “Mười năm động

loạn” với biết bao biến động, để lại nhiều “vết thương” cho nền văn học Trung Quốc

đã khép lại Thời kì Cải cách mở cửa đang mở ra, với môi trường sáng tác thoải mái, các nhà văn, nhà thơ có điều kiện bộc lộ hết sở trường của mình Đặc biệt, họ dám

“nhìn thẳng, nói thật”, thẳng thừng phanh phui những “ung nhọt” của bộ máy xã hội đương thời Bên cạnh đó, làn gió tươi mát của văn học hiện đại phương Tây thổi vào cùng với những dưỡng chất tích tụ từ xưa của văn học truyền thống bồi đắp đã làm hồi sinh mảnh đất cằn khô, sỏi đá do Cách mạng văn hóa để lại Trên mảnh đất ấy giờ đây đang nở hoa kết quả mang lại một mùa bội thu cho khu vườn văn học Trung Quốc với hàng loạt các nhà văn có tên tuổi như: Vương Mông- người đi tiên phong trong việc cách tân thể loại tiểu thuyết của văn học Trung Quốc Thời kỳ mới; Giả Bình Ao- nhà văn viết “Liêu trai hiện đại”, Kim Dung- nhà tiểu thuyết võ hiệp; Phùng Ký Tài- tiểu thuyết gia phản tư văn hóa truyền thống; Lưu Chấn Vân- một cây bút xuất sắc của phái

tả chân; Trương Khiết- nhà văn nữ tiêu biểu cho văn học nữ tính; Tưởng Tử Long- nhà văn đi đầu trong việc phản ánh cải cách mở cửa ở Trung Quốc, Cao Hiểu Thanh- nhà tiểu thuyết đồng quê phê phán “quốc dân tính”; Mạc Ngôn- “Những nhân vật khai phá của thế kỉ XXI”, chủ nhân giải Nobel Văn học năm 2012,…

Bước vào Thời kì mới (năm 1978) bên cạnh những thuận lợi vẫn có những thách thức, khó khăn Một bộ phận không nhỏ các nhà văn Trung Quốc đương thời dường như choáng ngợp trước “nàng thơ đến từ phương xa” Họ đọc ngấu nghiến, đọc say sưa các tác phẩm của các nhà văn hiện đại phương Tây và bắt chước sáng tác theo một

cách ngô nghê Sau đó, họ mới chiêm nghiệm được rằng: “Chỉ có thể đứng trên mảnh đất của mình, trên cơ sở tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhân loại, mới viết ra

Trang 9

được các tác phẩm có giá trị, được người đọc đón nhận” [68, tr.43] Mặc dù Mạc

Ngôn cũng thừa nhận mình chịu ảnh hưởng bởi các nhà văn phương Tây nhưng nhà văn họ Quản này biết gạn đục khơi trong để tạo ra “vùng đất, tiếng nói, cách viết

riêng” của mình: “Tôi muốn viết ra những thứ thuộc về tôi, nó khác với mọi người và khác với các nhà văn phương Tây và khác với các nhà văn Trung Quốc khác” [74,

tr.108] Chính ý thức được điều đó cho nên các sáng tác của Mạc Ngôn đều mang đậm dấu ấn rất riêng, “trộn không lẫn” so với các nhà văn Trung Quốc đương thời

Mạc Ngôn là một nhà văn lớn không chỉ của Trung Quốc mà còn của cả nhân loại Ông sáng tác và thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện vừa, tạp văn, kịch bản phim truyền hình,… nhưng có lẽ tiểu thuyết mới chính là lĩnh vực thành công nhất trong sự nghiệp viết văn của ông Chính thể loại này đã đưa Mạc Ngôn bước lên đỉnh vinh quang nghệ thuật Viện Hàn lâm Thụy Điển đã hết lời ca ngợi những tác

phẩm của nhà văn: “với thứ chủ nghĩa hiện thực đầy ảo giác pha trộn giữa truyện kể dân gian, lịch sử và văn chương hiện đại làm rung động lòng người” [99] Sức hấp

dẫn của tiểu thuyết Mạc Ngôn đối với người đọc trên thế giới nói chung và tạo ra “cơn sốt” ở Việt Nam nói riêng chính là sự hòa quyện giữa yếu tố truyền thống với yếu tố

hiện đại: “Bằng lối viết mới lạ pha chút kỳ ảo, tượng trưng mang đậm sắc thái phương Đông, song ẩn tàng trong đó là những triết lý nhân sinh đầy tính nhân bản, các tác phẩm của ông đã thực sự cuốn hút độc giả, tạo nên “Cơn sốt Mạc Ngôn” tại Việt Nam” [68, tr.42] Mặt khác, Mạc Ngôn đã tạo dựng được thế giới nghệ thuật cho riêng mình Trần Minh Sơn khẳng định rằng: “Hơn 10 năm qua, các tác phẩm của Mạc Ngôn, bộ này nối tiếp bộ kia, phương thức tự thuật không hề lặp lại mình, hơn thế trong văn học Trung Quốc thập kỷ 80, 90 thế kỷ XX, anh ấy luôn là ngọn cờ sinh mạng giàu sức sống nhất, anh đã giương cao ngọn cờ và bó đuốc tự do sinh mạng, gây chấn động hàng ngàn vạn độc giả Trung Quốc” [68, tr.433]

Tiểu thuyết Mạc Ngôn có nhiều yếu tố tạo nên giá trị không thể pha lẫn so với các nhà văn Trung Quốc đương thời Mặc dù không thể khẳng định tuyệt đối nhưng nhiều nhà nghiên cứu cũng như bản thân chúng tôi nhận ra rằng kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật là một trong những yếu tố hàng đầu tạo nên sức sống và tầm vóc

cho hầu hết các tiểu thuyết của ông Nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu có nhận xét: “Tiểu

Trang 10

thuyết của ông là một kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi logic, rất “hỗn độn”, vô thủy vô chung” [87, tr.205] và nhân vật được nhà văn xây dựng: “Người nào người nấy đều có ý chí sinh tồn, có cá tính mạnh mẽ, phóng túng khí phách Họ sống rất buông thả, cuồng nhiệt và chết cũng rất anh hùng” [87, tr.205-206] Chính kết cấu

“hỗn độn” và nhân vật có cá tính và anh hùng tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.

Yêu thích tiểu thuyết Mạc ngôn, ngưỡng vọng một tài năng lớn, người mở đường, bứt phá trong văn học đương đại Trung Quốc, niềm đam mê khám phá tiếp bước các nhà nghiên cứu để có cái nhìn sâu rộng hơn vào những yếu tố cốt lõi làm nên sức cuốn hút của tiểu thuyết Mạc Ngôn, tất cả những điều này cộng hưởng lại là nguyên nhân để

chúng tôi lựa chọn đề tài “Kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số

tiểu thuyết Mạc Ngôn”

2 Lịch sử vấn đề

Mặc dù đã nhận giải Nobel năm 2012 nhưng đến nay Mạc Ngôn vẫn còn là một

“hiện tượng nóng” trên văn đàn văn học Trung Quốc và thế giới Sáng tác của ông khá

đồ sộ và phong phú trên nhiều thể loại Trong đó, tiểu thuyết là mảng chính được các nhà phê bình “ưu ái” bàn bạc nhiều nhất Qua quá trình khảo cứu tài liệu, chúng tôi đã tập hợp được một số bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung, kết cấu

và nghệ thuật xây dựng nhân vật nói riêng

* Tình hình nghiên cứu trong nước

Về kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng tôi đã tìm hiểu qua các công trình

nghiên cứu của Trần Minh Sơn trong quyển Phê bình văn học Trung Quốc đương đại với bài viết Mấy vấn đề văn học Trung Quốc Thời kỳ mới và Hồ Sĩ Vịnh với công trình nghiên cứu Một số vấn đề văn học Trung Quốc Thời kỳ mới Hai công trình trên chủ

yếu bàn về sự “hồi sinh” của nền văn học Trung Quốc sau Cách mạng văn hóa, chỉ có một vài nhận định khái quát về đóng góp của Mạc Ngôn đối với văn học Trung Quốc Thời kì cải cách

Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát qua hai công trình của Lê Huy Tiêu và Nguyễn Thị Tịnh Thy Hai nhà nghiên cứu này có khá nhiều bài viết về Mạc Ngôn

Trong quyển Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ Cải cách mở cửa, nhà nghiên cứu

Lê Huy Tiêu có ba bài viết bàn về Mạc Ngôn: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết

Trang 11

của Mạc Ngôn; Mạc Ngôn và tiểu thuyết Đàn hương hình; Xu hướng mỹ học trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Ở bài thứ nhất, nhà nghiên cứu đi tìm hiểu những phương diện

đề tài, cốt truyện, nghệ thuật tự sự, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Theo nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu, thế giới cảm giác trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết “cảm giác mới” và thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn chịu ảnh hưởng của học thuyết phân tâm học của Freud, thuyết dân tộc học, nhân loại học của Fraze Tuy có đề cập đến kết cấu

trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhưng chỉ là nhận định, đánh giá chung, khái quát: “Tiểu thuyết của ông là một loại kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi logic, rất

“hỗn độn”, vô thủy vô chung” [87, tr.205] Trong bài viết thứ hai, nhà nghiên cứu Lê

Huy Tiêu chủ yếu viết về đề tài, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, thủ pháp lạ

hóa, vấn đề miêu tả “cái xấu” trong tiểu thuyết Đàn hương hình và chỉ có một nhận định thiên về khía cạnh nhỏ của kết cấu: “Nhờ tưởng tượng phong phú, Mạc Ngôn dùng phương pháp đồng hiện để tái hiện quá khứ và hiện tại, lịch sử và tương lai của nhân vật, làm cho người sống giao lưu với người chết, nhờ đó tác phẩm trở thành một kết cấu lập thể, đa tầng” [87, tr.211] Trong bài viết thứ ba, nhà nghiên cứu không bàn

gì về kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mà đi vào tìm hiểu “xu hướng mỹ học” trong tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn

Cho đến nay, theo Lê Huy Tiêu đánh giá công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn “có

giá trị khoa học rất cao” đó là chuyên luận Tự sự kiểu Mạc Ngôn của Nguyễn Thị Tịnh Thy Trên các tạp chí, chúng tôi cũng tìm thấy những bài viết của tác giả như: Kết cấu dán ghép điện ảnh trong Cao lương đỏ- Tạp chí Nghiên cứu văn học số 3-2007; Hình thức trần thuật kiểu tác giả trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn- Tạp chí Sông Hương số 268/06-11; Lời kể đảo thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, (66); Nobel văn chương2012: Mạc Ngôn- người vinh danh làng quê Cao Mật bằng bút pháp hậu hiện đại kiểu Trung Quốc- Tạp chí Sông Hương số 285/11-12; Kết cấu lồng ghép trong bút pháp tự sự của Mạc Ngôn- Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4-

2013 Trong chuyên luận Tự sự kiểu Mạc Ngôn, tác giả nghiên cứu về người kể

chuyện, điểm nhìn, nghệ thuật tổ chức thời gian, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong

11 cuốn tiểu thuyết của Mạc Ngôn Bàn về kết cấu, tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy phân

Trang 12

tích, lý giải khá sâu sắc Đó là kết cấu tự sự từ sự gắn kết với người kể chuyện, điểm nhìn và phương thức dẫn chuyện Cụ thể, trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn có hai dạng kết cấu Thứ nhất, kết cấu lồng ghép từ các tầng bậc của người kể chuyện Thứ hai, kết cấu dán ghép điện ảnh từ dòng hồi ức của người kể chuyện Tuy nhiên, tác giả chưa minh định trong cách sử dụng thuật ngữ, chưa thống nhất trong cách dùng khái niệm

Có chỗ tác giả đồng nhất kết cấu với thủ pháp, dán ghép với lắp ghép Chẳng hạn như:

“Với thủ pháp này, nhà văn có thể xáo trộn các biến cố và lắp ghép chúng không theo trình tự thời gian…”[83, tr.182]; “Thủ pháp kết cấu này được Mạc Ngôn thể hiện ở hai hình thức dán ghép xáo trộn và dán ghép song hành” [83, tr.183]

Trên các tạp chí, ở các trang mạng, chúng tôi cũng tìm thấy nhiều bài viết nghiên

cứu về Mạc Ngôn Trong bài Nghệ thuật trần thuật gắn với thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, Hoàng Thị Bích Hồng bàn về thủ pháp lạ hóa trong việc miêu tả, kể

chuyện, xây dựng cái kỳ ảo, phóng đại cái chết chóc Cũng như Hoàng Thị Bích Hồng,

Nguyễn Khắc Phê với bài viết Thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn qua hai tiểu thuyết Báu vật của đời và Đàn hương hình, chủ yếu đi vào làm rõ “phép lạ hóa” trong việc

“bày đặt chuyện lạ” trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Còn Ngọc Bi với bài Người dịch sách Mạc Ngôn cho rằng: “Trong Ếch, Mạc Ngôn sử dụng hình thức kết cấu liên văn bản, tức lồng ghép các thể loại trong cùng một văn bản” [96] và bài viết Mạc Ngôn nợ Việt Nam một lời xin lỗi- Trần Lê Hoa Tranh bàn về Mạc Ngôn trong cái nhìn đối sánh với nhà văn Nhật Bản H.Murakami để đi đến kết luận: “Nếu muốn xứng tầm là một nhà văn Nobel, rõ ràng, Mạc Ngôn nợ Việt Nam một lời xin lỗi” [101] Nhìn chung

các bài viết trên hoàn toàn chỉ nhắc qua kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mà không bàn kĩ Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy bài nghiên cứu khá công phu về kết cấu nhưng

tác giả khảo sát trong phạm vi tạp văn của Mạc Ngôn Đó là bài viết Kết cấu tạp văn Mạc Ngôn của Phan Thị Nga Trong bài viết, tác giả chỉ ra các dạng kết cấu trong tạp

văn Mạc Ngôn như kết cấu xâu chuỗi, kết cấu liên tưởng, kết cấu theo dòng ý thức của

“tôi” Qua đó, tác giả khẳng định rằng: “Tạp văn Mạc Ngôn là những sáng tác văn học

có ý nghĩa nhân văn sâu sắc và sức truyền cảm mạnh mẽ, kết cấu đa dạng và độc đáo Bài viết này đã chỉ ra các kiểu kết cấu trong tạp văn Mạc Ngôn, khẳng định đóng góp của ông cho một thể loại văn học trên văn đàn Trung Quốc đương đại” [52, tr.66]

Trang 13

Chúng tôi cũng khảo sát qua các luận văn cao học, cụ thể như luận văn thạc sĩ

Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Ếch của Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) của Bùi Hải Hà; Nguyễn Thị Hà với luận văn thạc sĩ Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2009); luận văn của Nguyễn Thị Huệ với đề tài Sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009) và luận văn Người kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

(Đại học KHXH và NV T.p Hồ Chí Minh, 2010) của Bùi Thị Thanh Hương Nhìn chung, các luận văn trên không đề cập đến kết cấu trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn Các luận văn sau đây có đề cấp đến kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhưng

tìm hiểu, trình bày chưa cụ thể, hệ thống Ở luận văn Nghệ thuật tiểu thuyết Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV Hà Nội, 2007), Phạm Thị Nhung tập trung khai thác tiểu thuyết Sống đọa thác đày dưới ba cấp độ: tổ chức kết cấu tác

phẩm, nhân vật, không thời gian để chỉ ra nét đặc sắc trong nghệ thuật tiểu thuyết của

Mạc Ngôn Từ đó, tác giả kết luận rằng: “Mạc Ngôn là nhà văn tiêu biểu xuất sắc cho văn học Trung Quốc hiện đại” Trong luận văn thạc sĩ Văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn (Đại học Sư phạm T.p Hồ Chí Minh, 2012), Trần Văn Tuân có đề cập đến kết cấu của Đàn hương hình nhưng gắn liền với làn điệu

hý kịch Miêu Xoang, ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong việc xây dựng kết cấu tác

phẩm Cụ thể, tác giả đã chỉ ra được hai kết cấu trong Đàn hương hình: kết cấu đối lập

về âm thanh (âm thanh hý kịch Miêu Xoang- âm thanh của tàu lửa), kết cấu đứt - nối

Trang 14

Ngoài ra trong bài viết Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn, Nguyễn Thị Cẩm Anh chỉ tập trung làm rõ hai tuyến nhân vật đối lập: nhân

vật với tư cách là công cụ của triều đình phong kiến Trung Quốc và nhân vật đại diện cho tư tưởng của nhân dân Thông qua sự khắc họa hai tuyến nhân vật này, Mạc Ngôn muốn tái hiện những mâu thuẫn trong xã hội Trung Quốc Cuối cùng tác giả kết luận

rằng: “Thế giới nhân vật có vai trò to lớn trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm, đem lại cho tác phẩm sức hấp dẫn riêng” [1, tr.122] Bên cạnh đó, trong luận văn thạc sĩ Hình tượng Cao Mật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học Sư phạm T.p Hồ

Chí Minh, 2013), Cao Thị Giang Hương tập trung nghiên cứu hình tượng ở vùng Đông Bắc Cao Mật được Mạc Ngôn đưa vào trong tiểu thuyết Tác giả chỉ làm rõ hai hình tượng chủ yếu: hình tượng thiên nhiên và hình tượng con người Trong hình tượng con người, tác giả đi vào tìm hiểu con người dưới ba góc độ: con người bản năng, con người bi kịch, con người anh hùng để làm bật rõ vị trí, vai trò của Cao Mật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn Tác giả không bàn đến nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Trong luận văn thạc sĩ Cái kỳ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học Sư phạm T.p Hồ

Chí Minh, 2011), Võ Nguyễn Bích Duyên có đề cập đến nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhưng nhìn từ “cái kỳ”, tìm hiểu nhân vật dưới góc độ “kỳ nhân”: nhân vật

siêu nhiên, nhân vật kỳ tài- dị dạng, nhân vật trẻ thơ - người lớn Luận văn Đặc điểm truyền kỳ và sự cách tân trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV T.p Hồ

Chí Minh, 2011), cũng như Võ Nguyễn Mỹ Duyên, Lê Xuân Hùng có nhắc đến nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn nhưng được tìm hiểu dưới góc độ truyền

kỳ, cụ thể: người anh hùng Từ Chiếm Ngao, Tôn Bính; “Trạng nguyên đao phủ” Triệu Giáp, “Thần thịt” La Tiểu Thông, “Thần rượu” Khoan Kim Cương

* Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ở Trung Quốc, tất cả những bài phát biểu của Mạc Ngôn được báo chí phỏng vấn cũng như nhiều bài nói chuyện của nhà văn ở các trường đại học trong nước và

ngoài nước được Nguyễn Thị Thại tập hợp và dịch sang tiếng Việt ở hai quyển Mạc Ngôn và những lời tự bạch và Mạc Ngôn- chuyện văn chuyện đời Hai quyển sách trên,

tác giả không nhắc đến kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Ngoài ra, những ý kiến phản biện Mạc Ngôn ở Trung Quốc do Dương Dương

Trang 15

tập hợp và biên soạn trong quyển Mạc Ngôn - nghiên cứu và tư liệu, Nxb Nhân dân Thiên Tân ấn hành năm 2005 được nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu dịch trong cuốn Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ Cải cách mở cửa với bài viết “Xu hướng mỹ học trong tiểu thuyết Mạc Ngôn” Cụ thể hơn, nhà phê bình Vương Cán phê phán Mạc Ngôn “có tư tưởng chống lại quy phạm truyền thống” ở việc nhà văn phô bày những cảnh “xấu xa,

bỉ ổi mà từ khi con người sinh ra đã nhìn thấy” [87, tr.217] Còn Lý Kiến Quân cho rằng: “Khuynh hướng thưởng thức hành vi tàn ác của truyền thống đã ảnh hưởng tới ngòi bút Mạc Ngôn” [87, tr.220] Họ cũng chỉ ra những “hạt sạn”, “văn chương thô

hiển, sai ngữ pháp” trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn Nhà phê bình Lý Kiến Quân còn chỉ ra những khuyết điểm của Mạc Ngôn: miêu tả quá khoa trương, không mực thước,

nhân vật trong tiểu thuyết Đàn hương hình chỉ là “giả tạo”- “đã là giả tạo, không chân thực còn gì đẹp nữa” [87, tr.221] Còn nhà phê bình Vương Kim Thành đặt ra vấn đề

và giải thích nhiều “cái dở” của Mạc Ngôn Ông cho rằng: “Chúng tôi không chịu được phải hỏi, toàn bộ cuốn tiểu thuyết này (Báu vật của đời) của Mạc Ngôn về mặt khuynh hướng mỹ học, thổ lộ tình ái, bàn về mẫu tử, kết cấu văn bản, tại sao xuất hiện nhiều sai lầm và mù quáng phi lý đến thế” [87, tr.223] Sau đó, Vương Kim Thành trả

lời những “cái sai lầm”, “mù quáng phi lý” của Mạc Ngôn do những nguyên nhân sau: hoàn cảnh xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, quan niệm sáng tác “thiên mã hành không” (phóng túng tùy tiện) tác oai tác oái, giới phê bình quá “tâng bốc” nên làm tăng thêm tính tự cao tự đại của Mạc Ngôn Như vậy, ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu chỉ phê phán Mạc Ngôn Họ cũng nhắc đến kết cấu và nhân vật nhưng ở những nhận định mang tính chất sơ lược Các nhà phê bình cho rằng: nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn chỉ là “giả tạo”, “miêu tả thiếu chân thực”; kết cấu văn bản có nhiều “sai lầm và mù quáng phi lý”

Ngoài ra trên hai trang mạng nổi tiếng 辽沈晚报 (Liao Shen Evening), 新民晚报

(Xinmin Evening News) và tạp chí của Trung Quốc “环球人物” 杂志社 (“Universal dân” tạp chí), chúng tôi tìm thấy khá nhiều bài viết bình luận về Mạc Ngôn Trong bài

“军艺莫言:从部队业余作者到诺贝尔文学奖得主” (Jun Yi Mo Yan: tác giả nghiệp

Trang 16

dư từ quân đội đến giải Nobel Văn học đoạt giải) của 张晓然 có viết:

dịch “Phong cách từ truyền thuyết đến hiện thực, bi kịch và tâm trạng hài hước đen

châm biếm, bao gồm, tất cả “để nói về bóng ma huyền thoại” trên thế giới để thuyết trình về người đàn ông huyền thoại Sơn Đông nông thôn”) Và 许陈静 trong bài

viết“从“沉默少年”到“军旅作家”:家在“高密东北乡”(“cậu bé im lặng” để “Writer quân sự”: nhà ở “mật độ cao thành phố phía đông bắc” ) cho rằng:

“纽约时报》也开始注意到这个中国作家,还给《红高粱》写了书评,称“莫言那些“土匪种” 的角色和入了神话架构的高密东北乡,从此上了世界文学的版图”[111] (tạm dịch

“The New York Times và phương tiện truyền thông phương Tây khác đã bắt đầu nhận thấy các nhà văn Trung Quốc, Cao lương đỏ đã viết một cuốn sách xem xét, gọi là

“Mạc Ngôn những vai trò” kẻ cướp loài và cấu trúc của mật độ cao vào huyền thoại của các thị trấn vùng Đông Bắc, từ thế giới lãnh thổ văn học”).Nhìn chung các bài báo trên không bàn về kết cấu cũng như nghệ thuật xây dựng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Trên các trang mạng và tạp chí của nước Mỹ, Anh,… cũng có nhiều bài viết bình

luận về văn chương của Mạc Ngôn Trong bài viết Mo Yan, the Nobel prize-winner: his writing explained, giảng viên Margaret Hillenbrand ở trường Đại học Oxford nhận xét: “Either way, it is perhaps Mo Yan’s success at domesticating the magical realist mode that has allowed him, almost uniquely among contemporary Chinese writers, to command a solid readership at home whilst garnering some sort of bookshelf space

Trang 17

internationally” [107] Còn trong bài viết A Westerner’s Reflection on Mo Yan của

giám đốc điều hành tạp chí Thế giới văn học hôm nay (World Literature Today) Robert

Con Davis Undiano đánh giá Mạc Ngôn là “an influential voice in China’s post- Cultural Revolution period that started in 1976 He is frequently praised by international critics as the writer of his generation most likely to reach the first rank as

“a truly great writer” [106] và “Mo Yan” as a character within the novel who discusses novel writing with this novel’s reputed author, Li Yidou This is experimentation with character, plot, and the fourth wall of aesthetic distance that is reminiscent of postmodern writers such as Donald Barthelme and John Barth” [106]

Nhìn nhận một cách tổng quát, các bài viết trên có một vài ý kiến liên quan đến kết cấu

và nhân vật trong sáng tác của mạc Ngôn Tất cả những nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm: những câu chuyện nhân gian mà nhà văn được nghe kể khi thời thơ ấu

“which helps to explain the episodic structure of many of his narratives” và tiểu thuyết Mạc Ngôn “has a postmodern look” Từ đó, các sáng tác của nhà văn tạo được sự chú

ý rất lớn đối với độc giả trong và ngoài nước

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy rằng: Ở Việt Nam, về kết cấu, trong các bài viết trên chỉ có chuyên luận của Nguyễn Thị Tịnh Thy viết khá sâu sắc nhưng tác giả không thống nhất trong cách dùng tên gọi (dán ghép và lắp ghép), đồng nhất giữa kết cấu và thủ pháp, xem kết cấu như một thủ pháp Về nhân vật, đến thời điểm này, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống

về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Ở Trung Quốc nói riêng

và trên thế giới nói chung, chúng tôi chưa tìm thấy các bài viết về kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn một cách cụ thể Vì thế, trong luận văn này, kế thừa những gì người khác đã và chưa nghiên cứu chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu, bổ sung và đi sâu bàn kĩ, làm sáng tỏ hơn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn có nhiều vấn đề cho chúng ta tìm hiểu nhưng chúng tôi chỉ chọn kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật để nghiên cứu Cụ thể chúng tôi sẽ đi vào trình bày kết cấu trong một số tiểu thuyết Mạc Ngôn ở hai phương diện: kết cấu lồng ghép và kết cấu lắp ghép Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, chúng

Trang 18

tôi đi vào tìm hiểu thế giới nhân vật và các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Tiểu thuyết Mạc Ngôn, đến thời điểm này, nước ta đã dịch được 11 quyển tiểu thuyết Người viết không tìm hiểu hết mà chỉ khảo sát 6 tiểu thuyết, cụ thể như sau:

- Cây tỏi nổi giận (Trần Đình Hiến dịch, 2003), Nxb Văn học

- Đàn hương hình (Trần Đình Hiến dịch, 2004), Nxb Phụ Nữ

- Tửu quốc (Trần Đình Hiến dịch, 2004), Nxb Hội Nhà văn

- Báu vật của đời (Trần Đình Hiến dịch, 2007), Nxb Văn nghệ

- Thập tam bộ (Trần Trung Hỷ dịch, 2007), Nxb Văn nghệ

nhà văn trong dòng chảy của tiểu thuyết đương đại Trung Quốc: “Mạc ngôn là niềm kiêu hãnh của Cao Mật, địa vị của ông trên văn đàn Trung Quốc ngày càng một nâng cao, ảnh hưởng trên văn đàn thế giới ngày càng lớn” [83, tr.11]

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau đây:

Phương pháp hệ thống: đặt tiểu thuyết của Mạc Ngôn trong tương quan với các

sáng tác của nhà văn Trung Quốc đương thời cũng như trong dòng chảy của tiểu thuyết đương đại Trung Quốc, tiểu thuyết hậu hiện đại thế giới, từ đó, chúng tôi có cái nhìn khái quát về vị trí của nhà văn trên văn đàn trong và ngoài nước

Phương pháp thống kê: thống kê các truyền kỳ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn để

thấy được sự tiếp thu truyền thống “hiếu kỳ” trong việc tổ chức kết cấu của tác phẩm; thống kê các sáng tác cũng như các giải thưởng văn học của Mạc Ngôn trong nước và

Trang 19

thế giới để thấy được đóng góp của nhà văn cho nền văn học nước nhà nói riêng và thế giới nói chung

Phương pháp tổng hợp- phân tích: phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ kết cấu và

nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn và tổng hợp lại để có cái nhìn khái quát, những nhận định toàn diện, khoa học và xác đáng

Phương pháp liên ngành: vận dụng những hiểu biết về điện ảnh, văn hóa học,

tâm lý học, văn bản học, phân tâm học… để thấy được đặc trưng liên văn bản trong kết cấu lồng ghép và kết cấu lắp ghép trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Phương pháp thi pháp học- tự sự học: để làm sáng tỏ nghệ thuật xây dựng nhân

vật và kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

Phương pháp tiểu sử học: nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của cuộc đời Mạc

Ngôn đến các sáng tác của nhà văn, đặc biệt ngôn ngữ mà ông sử dụng sáng tác tiểu thuyết và các thể loại khác

Phương pháp so sánh: để mở rộng và làm sâu sắc vấn đề, chúng tôi so sánh

những đặc điểm về kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn với các nhà văn Trung Quốc và nước ngoài

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, cụ thể:

Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ KẾT CẤU, NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG VĂN HỌC VÀ VĂN NGHIỆP CỦA MẠC NGÔN

Chúng tôi trình bày những vấn đề lý luận chung về kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học, đồng thời giới thiệu vài nét về cuộc đời, sự nghiệp văn chương và quan niệm sáng tác của nhà văn “thẳng thừng và dấn thân”- Mạc Ngôn

Chương 2 KẾT CẤU TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN

Trong chương này, chúng tôi lần lượt triển khai kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ở hai phương diện: kết cấu lồng ghép (lồng ghép từ đặc trưng “hiếu kỳ” của tiểu thuyết Trung Quốc; lồng ghép từ phương thức dẫn chuyện của tiểu thuyết chương hồi;

Trang 20

lồng ghép từ đặc trưng liên văn bản của tiểu thuyết hậu hiện đại), kết cấu lắp ghép (lắp ghép đảo lộn, lắp ghép đồng hiện)

Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN

Chúng tôi lần lượt trình bày thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật: nghệ thuật tương phản - đối lập; nghệ thuật kỳ ảo - lạ hóa, nghệ thuật hồi tưởng - giấc

mơ, nghệ thuật dính kết - gộp lại

7 Đóng góp luận văn

Luận văn của chúng tôi kế thừa và bổ sung thêm những vấn đề mà người trước đã nghiên cứu Cho nên, chúng tôi chỉ mong luận văn sau khi được hoàn chỉnh có thể trở thành một nguồn tư liệu để những người nghiên cứu sau tìm hiểu và tham khảo về nhà văn Mạc Ngôn Đồng thời, người viết cũng hi vọng rằng luận văn này sẽ là nguồn tài liệu phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và tìm hiểu nền văn học đương đại Trung Quốc nói chung và Mạc Ngôn nói riêng ở các trường phổ thông, đại học, cao đẳng

Trang 21

Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ KẾT CẤU, NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG VĂN HỌC VÀ VĂN NGHIỆP CỦA

MẠC NGÔN

Kết cấu và nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và bật nổi giá trị nghệ thuật của tác phẩm Vì vậy, việc nghiên cứu về kết cấu và nhân vật trong tác phẩm văn học là một trong những yêu cầu cần thiết trước khi đi vào khám phá, khẳng định tính nghệ thuật của loại hình nghệ thuật tổng hợp đặc biệt này

1.1 Kết cấu trong tác phẩm văn học

1.1.1 Khái niệm kết cấu

Kết cấu (tiếng Pháp Composition) là một trong những yếu tố quan trọng cấu

thành nên tác phẩm văn học Tùy theo góc độ nhìn nhận mà các nhà lý luận văn học có nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau về kết cấu

Xem xét kết cấu như một phương diện hình thức của tác phẩm, trong quyển Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Kim Thánh Thán cho rằng; “Kết cấu là hình thức, nhưng trong tác phẩm nghệ thuật đích thực, hình thức phải mang tính nội dung

Do đó, bất cứ sự tổ chức sắp xếp nào trong tiểu thuyết cũng là góp phần làm sáng tỏ một quan niệm, hay nói hẹp hơn, một cách nhìn, một sự lý giải nào đó của tác giả” [48, tr.130] Cũng từ việc xem xét đó, Trần Đình Sử (chủ biên) trong cuốn Giáo trình

lý luận văn học (tập II)- Tác phẩm và thể loại tác phẩm, cũng cho rằng: “Kết cấu là phương diện cơ bản của hình thức tác phẩm văn học, là sự tổ chức, sắp xếp, biểu hiện của nội dung văn học” [70, tr.101]

Xét kết cấu trong mối quan hệ với cốt truyện, N.A Gulaiep, trong quyển Lý luận văn học, có viết: “Tính nhất quán trong sự phát triển cốt truyện là kết cấu, tức là sự cấu tạo của nó để phản ánh quan điểm tư tưởng của tác giả, sự vận động trong tư tưởng thơ của anh ta” [24, tr.140] Ngoài ra, ông còn khẳng định rằng: “Kết cấu không phải bao giờ cũng lắp lại tính chất tuần tự về thời gian của các sự kiện làm cơ

sở cho tác phẩm Trong nghệ thuật có thể có sự xáo trộn về thời gian” [24, tr.141]

Còn L.I Timôfêép nhìn nhận kết cấu trong mối tương quan với tính cách, trong cuốn

Trang 22

sách Nguyên lý lý luận văn học ông viết: “Kết cấu là phương tiện nghệ thuật để sáng tạo, phát hiện, mô tả tính cách bằng con đường thể hiện theo một trật tự nhất định mọi thuộc tính và dấu hiệu của tính cách đó, bằng cách vạch ra mối tương quan của nó với các tình tiết khác”[89, tr.270] và “kết cấu là điều kiện tất yếu của việc phản ánh cuộc sống trong tác phẩm nghệ thuật” [89, tr.269]

Trong cuốn Lý luận văn học- vấn đề và suy nghĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn

Hạnh và Huỳnh Như Phương xem xét kết cấu trong việc biểu đạt nội dung và hình

thức tác phẩm, cho rằng: “Kết cấu là lôgích của nội dung và lôgích mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Tìm hiểu kết cấu của tác phẩm chính là tìm hiểu bước đi của nội dung và đồng thời bước đi của chính hình thức” [31, tr.192] và “Kết cấu là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm” [31, tr.193]

Ngoài ra trong các quyển từ điển thuật ngữ văn học, các nhà lý luận cũng có

nhiều định nghĩa về kết cấu Cụ thể trong quyển Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc, Phạm Thị Hảo cho rằng: “Kết cấu chỉ hình thức sắp xếp và cấu tạo bên trong tác phẩm văn nghệ Nhà văn căn cứ vào những hiểu biết của mình về cuộc sống, rồi theo nhu cầu của sự xây dựng hình tượng và biểu hiện chủ đề, vận dụng các loại thủ pháp nghệ thuật để sắp xếp những nhân vật, sự kiện, cái chính, cái phụ, cho thật hợp lý, cho phù hợp với logic cuộc sống, thích ứng với yêu cầu của một thể tài nhất định, đạt được sự hoàn chỉnh, hài hòa nghệ thuật” [32, tr.43] Còn trong quyển

Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) định nghĩa rằng: “Kết cấu là một tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm

Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở sự tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm” [29, tr.156] Ngoài ra, Từ điển văn học (bộ mới) cho rằng: “Kết cấu là thuật ngữ chỉ sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật - tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài gọi là kết cấu Kết cấu gắn kết với các yếu tố của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng” [35,

tr.715] Các nhà biên soạn còn chỉ ra kết cấu của tác phẩm bao gồm: phân bố các nhân vật (hệ thống hình tượng), các sự kiện và hành động (kết cấu cốt truyện), các phương thức trần thuật (kết cấu trần thuật), chi tiết hóa các khung cảnh, hành vi, cảm xúc (kết

Trang 23

cấu chi tiết), các thủ pháp văn phong (kết cấu ngôn từ), các truyện kể xen kẽ hoặc các đoạn ngoại đề trữ tình (kết cấu các yếu tố ngoài cốt truyện)

Từ những quan niệm khác nhau về kết cấu, chúng tôi có thể hiểu kết cấu là toàn

bộ tổ chức nghệ thuật sinh động và phức tạp được tạo nên bằng những mối liên hệ và quan hệ giữa các yếu tố, nhiều bộ phận (các yếu tố, bộ phận thuộc về nội dung và các yếu tố, bộ phận thuộc về hình thức) tạo thành một tổ chức nhất định, một chỉnh thể thống nhất nhằm thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm Đồng thời kết cấu còn là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật và biểu đạt ý nghĩa tác phẩm Khi tìm hiểu về kết cấu, chúng ta cần lưu ý phân biệt với khái niệm bố cục Trong

cuốn sách Lý luận văn học- vấn đề và suy nghĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương đã phân biệt khá rạch ròi, rõ ràng về bố cục và kết cấu: “Bố cục là

sự tổ chức hình thức bên ngoài của tác phẩm, gồm các phần, các chương, các đoạn, các khổ thơ Bố cục chẳng qua là phần kết cấu hiện lên trên bề mặt của tác phẩm Còn kết cấu lại bao trùm và xuyên thấm vào từng mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố thuộc

về nội dung với các yếu tố thuộc về hình thức, trong đó có cả các yếu tố bố cục” [31,

tr.192-193] Như vậy, bố cục là một phương diện, một bộ phận và biểu hiện bề mặt

của kết cấu, “là cái hình thù có thể trông thấy được của một công trình nghệ thuật”

[78, tr.218]

1.1.2 Yêu cầu trong việc xây dựng kết cấu

Văn bản văn học là một chỉnh thể thống nhất bởi giữa các yếu tố, bộ phận có mối quan hệ hữu cơ với nhau làm cho tác phẩm có “hình, hồn, thần” Để tạo nên điều đó, kết cấu tác phẩm văn học phải thực hiện một số yêu cầu sau đây:

1.1.2.1 Hoàn chỉnh, thống nhất, thẩm mĩ

Hoàn chỉnh, thống nhất, thẩm mĩ là yêu cầu đầu tiên và bắt buộc của kết cấu Theo Platon, kết cấu của mỗi bài văn phải là một yếu tố có sức sống, có cái thân thể vốn có của nó, có đầu, có đuôi, có phần thân, có tứ chi, có bộ phận này, bộ phận khác,

có quan hệ bộ phận và toàn thể, tất cả đều phải có vị trí của nó Yêu cầu này chỉ có thể đạt được khi việc tổ chức các yếu tố, bộ phận của tác phẩm thống nhất với mục đích

sáng tạo của nhà văn, gây được sự chú ý đối với người đọc Bởi vì “mục tiêu kết cấu văn học là phải tác động đến cảm xúc của người đọc, phải gây được hồi hộp, chờ đợi,

Trang 24

gây được nụ cười hay cảm xúc thanh thản, siêu thoát, tùy theo yêu cầu của nội dung” [70, tr.109]

Bên cạnh mục tiêu tác động đến cảm xúc của người đọc, kết cấu văn học phải làm sao cho các biến cố, sự kiện trong tác phẩm có mối quan hệ, liên hệ chặt chẽ, thống nhất, trọn vẹn như một dòng chảy thông suốt, liên tục không bị đứt quãng, gián đoạn Vì thế, tác phẩm như một sinh thể có hồn, có thần, đúng như cuộc sống vốn có

Aristote cho rằng: “các phần của sự kiện (chi tiết) cần phải sắp xếp như thế nào để khi thay đổi hay bỏ đi một phần thì cái chỉnh thể cũng biến động theo; bởi vì cái gì mà có hoặc thiếu nó cũng được, thì cái đó không phải là bộ phận hữu cơ của thể thống nhất ấy” [5, tr.44]

Tuy nhiên, nói đến tính hoàn chỉnh, thống nhất của tác phẩm, không nên hiểu giản đơn, máy móc Lý luận mỹ học hiện đại còn chú ý đến kết cấu mở (để ngỏ)- tính chất mở của văn học Nghĩa là kết cấu không hoàn chỉnh (non- finito) Chính kết cấu

mở này như “một đề án”, “sơ đồ vẫy gọi” người đọc “đầu tư”, đồng sáng tạo với tác

giả Trong Sổ tay thơ Chế Lan Viên từng viết:

Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi, Còn một nửa cho mùa thu làm lấy…

Vì vậy, sự hài hòa, cân đối, hoàn chỉnh, thống nhất “có khởi ra kết lại, có gọi đến thưa ngay, có mở ra lại đóng vào” là đẹp nhưng những cái không hài hòa, mất cân đối, dang dở đôi khi cũng tạo thành những cái đẹp

Ngoài ra, một phương diện quan trọng của kết cấu là phải tạo ra được nhịp điệu cho tác phẩm Vũ trụ vốn dĩ vận thành theo quy luật của tự nhiên với chu kỳ ngày - đêm, nóng - lạnh, nắng - mưa,… Cuộc sống của con người là một chuỗi liên tục các biến cố thăng trầm: vui - buồn, hạnh phúc - bất hạnh, phú quý - bần hàn,… Ngay cả bản thân con người luôn sống, vận động theo nhịp điệu riêng: nhịp đập của con tim, nhịp điệu của hơi thở,… Tác phẩm văn học cũng vận hành theo một nhịp điệu nhất định Nếu tác phẩm nào có nhịp điệu sẽ làm tăng thêm sức hấp dẫn đối với độc giả Như vậy, kết cấu tác phẩm phải đáp ứng yêu cầu hoàn chỉnh, thống nhất và thẩm

mỹ: “Cái hoàn chỉnh là cái có phần đầu, phần giữa và phần cuối Phần đầu là cái không tiếp thu cái khác, trái lại, theo quy luật tự nhiên, phải có cái gì tồn tại hoặc tiếp

Trang 25

theo nó; phần cuối là cái mà theo tính tất yếu hay theo lẽ thường đều phải theo sau cái

gì đó, và sau nó không còn cái khác tiếp theo; còn phần giữa là cái phải tiếp sau cái khác và cái khác nữa lại đi theo sau nó Vậy, những cốt truyện được xây dựng một cách khéo léo phải theo những định nghĩa đó chứ không được tùy tiện bắt đầu và kết thúc chỗ nào cũng được” [5, tr.40] Nhưng một kết cấu quá trọn vẹn, đầy đủ đôi khi sẽ

làm hạn chế trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của người đọc thì kết cấu đó cũng không phải là kết cấu hay, lý tưởng

phẩm, không phải nhà văn sáng tạo ra hình tượng trước rồi sau đó mới suy nghĩ để tìm

ra kết cấu thích hợp mà kết cấu và hình tượng nghệ thuật là hai mặt không thể tách rời

trong quá trình sáng tác: “Là phương tiện khái quát, kết cấu ra đời cùng một lúc với ý

đồ nghệ thuật của tác phẩm, cụ thể hóa cùng với sự phát triển của hình tượng Không phải là sáng tạo ra hình tượng rồi, sau đó mới tạo ra kết cấu, mà kết cấu xuất hiện như một mặt của bản thân hình tượng nghệ thuật được sáng tạo” [70, tr.104] Nhà văn Nguyên Ngọc tâm sự khi viết về truyện ngắn Rừng xà nu:

…Tôi chưa hình dung câu chuyện, cốt truyện sẽ diễn biến cụ thể ra sao, nhưng tôi đã thấy rõ, cái truyện ngắn này sẽ bắt đầu bằng một khu rừng xà nu…

và truyện sẽ kết thúc bằng một cảnh rừng xà nu, như một vĩ thanh cứ xa mờ dần

và bất tận, nghĩa là bố cục cơ bản đã thấy được rồi Sau đấy, mọi sự bỗng trở nên rõ ràng, dễ dàng đến kỳ lạ Chị Dít đến… Và ông cụ Mết của tôi cũng tất yếu phải đến… Các chi tiết tự nó đến… Cách sắp xếp các lớp thời gian trong truyện, xen xẽ, đan quyện, những mạch nối… cũng đến dễ dàng và tự nhiên, như tất cả

nó phải có vậy [21, tr.102-103]

Như vậy, kết cấu của truyện ngắn Rừng xà nu ra đời cùng với quá trình hình

thành ý tưởng của nhà văn Nguyên Ngọc

Trang 26

Ngoài mục đích liên kết các sự kiện, biến cố, nhân vật lại với nhau, điều nhà văn quan tâm lớn nhất trong việc xây dựng kết cấu là để làm bật nổi những yếu tố chính yếu, những cái quan trọng gây được ấn tượng mạnh đến người đọc Tìm được một kết cấu phù hợp, nhà văn phải trải qua quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, vất vả để chọn lọc, tinh luyện chất liệu sinh động, phong phú từ hiện thực đời sống Vì vậy, khi tác phẩm ra đời, bản thân kết cấu đã phản ánh quá trình vận động, tư duy sáng tạo của

nhà văn: “Kết cấu biểu hiện tài năng sáng tạo của nhà văn thông qua sự hư cấu theo quy luật nội tại của nghệ thuật, được sự gợi ý từ quy luật vận động và phát triển của cuộc sống… Là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo, kết cấu của một tác phẩm thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa lô-gích đời sống và chủ đích nghệ thuật của nhà văn” [31, tr.193] Đồng thời, thông qua kết cấu, nhà văn bộc lộ và gửi gắm suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình về con người và cuộc sống: “bất cứ sự tổ chức sắp xếp nào trong tiểu thuyết cũng là góp phần làm sáng tỏ một quan niệm, hay nói hẹp hơn, một cách nhìn, một sự lý giải nào đó của tác giả” [48, tr.130] Kim Thán Thán có nhận xét rất sâu sắc về kết cấu của Thủy hử:

Tiều Cái khởi lên làm thủ lĩnh, mà không chép ngay từ hồi đầu như mọi chuyện khác, đến hồi mười ba mới xuất danh, bao nhiêu chuyện đã xảy ra từ mười ba hồi trước Từ đây mà biết được tác giả trong lòng đã chứa toàn bộ truyện, rồi sau mới hạ bút viết ra Nếu trong lòng đã không chứa toàn bộ truyện,

tả Tiều Cái ngay từ đầu, làm những chuyện kinh thiên động địa, quấy nước chọc trời, thì đám giặc ấy còn đâu giá trị Phải tả trước bao nhiêu chuyện rắc rối cho mọi người, rồi mới đưa Tiều Cái lên làm thủ lĩnh, đám người ấy mới khỏi tay tiếng sau này [48, tr.130]

Tóm lại, kết cấu vừa là phương tiện tổ chức hình tượng nghệ thuật của tác phẩm vừa là phương tiện khái quát tư tưởng, tình cảm của nhà văn Để nâng cao sức biểu đạt của đề tài và chủ đề, phục vụ tối ưu cho nhiệm vụ nghệ thuật và tư tưởng tác phẩm, nhà văn phải lựa chọn một kết cấu lý tưởng, phù hợp

1.1.2.3 Xây dựng hình tƣợng nhân vật

Nhân vật là một phương tiện khái quát hiện thực, là nơi để nhà văn ký thác tư tưởng, gửi gắm thông điệp của mình đến cho độc giả Vì thế, kết cấu phải đáp ứng yêu

Trang 27

cầu xây dựng nhân vật Và vấn đề nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật chúng tôi

sẽ trình bày cụ thể ở phần sau Ở đây, người viết chỉ tập trung nghiên cứu những khía cạnh liên quan đến yêu cầu trong việc xây dựng kết cấu nhằm bật nổi hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học

Hình tượng nhân vật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn bằng các phương tiện ngôn ngữ, hình thành từ nhiều yếu tố: tên gọi, xuất thân, ngoại hình, hành động, suy nghĩ, cảm xúc Và các yếu tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau được nhà văn tổ chức, sắp xếp để tạo thành một con người có sự sống nhằm thể hiện tính cách, số phận

và ý nghĩa nhân sinh Mỗi quá trình hình thành và phát triển về tính cách, số phận của nhân vật trải qua các quá trình: thời thơ ấu, thời trưởng thành và thời kỳ chín muồi về

lý tưởng sống Nhưng nhân vật văn học không phải là “bản dập” của con người ngoài đời, không phải là sự sao chép y nguyên, máy móc cuộc sống nên nhà văn phải tập trung vào một giai đoạn chính để miêu tả, tái hiện Các giai đoạn khác chỉ đóng vai trò phụ, bổ sung, hồi tưởng để làm nổi bật giai đoạn chính

Ngoài ra, bất kì nhân vật văn học nào cũng đều có cuộc sống bên ngoài và đời sống nội tâm bên trong Chúng gắn bó chặt chẽ và có mối quan hệ mật thiết với nhau

Vì vậy, trong quá trình xây dựng nhân vật, nhà văn phải chú ý đến hai mặt này Bởi vì:

“Nếu tập trung miêu tả bên ngoài, ta có những nhân vật khách thể mà ý nghĩa bộc lộ qua các hành vi, ngôn ngữ, quan hệ Nếu miêu tả theo cái nhìn bên trong nhân vật thì

sẽ có nhân vật như một dòng ý thức với những phản ứng tâm lý với các sự kiện bên ngoài”[70, tr.106-107]

Mặt khác, theo C Mác “Con người là tổng hòa các quan hệ xã hội” Cho nên

mỗi nhân vật tồn tại và phát triển trong điều kiện không tách rời với các mối quan hệ phong phú và phức tạp Nghĩa là, nhân vật không cô lập mà tồn tại trong hệ thống nhân vật Cách tổ chức hệ thống nhân vật là một vấn đề lớn của kết cấu

Trong tác phẩm, nhà văn phải xây dựng được hệ thống nhân vật Tác dụng của hệ thống nhân vật là soi chiếu, phản ánh nhau, tác động thúc đẩy lẫn nhau nhằm mục đích

cuối cùng là phản ánh đời sống: “Trong hệ thống hình tượng của tác phẩm, nhân vật vừa đóng các vai trò xã hội của nó (giai cấp, nghề nghiệp, địa vị, huyết thống, gia tộc…), vừa đóng vai trò văn học (vai trò một công cụ nghệ thuật, thực hiện một chức

Trang 28

năng nghệ thuật: vai trò tố cáo, vai trò tấm gương, vai trò kẻ chống đối, vai trò anh hùng, vai trò phần thưởng)” [70, tr.109] Đặc biệt nhân vật giữ vai trò tương phản, đối

lập hay bổ sung, có ý nghĩa quan trọng trong kết cấu trữ tình

Như vậy, tất cả những yếu tố trên nhằm góp phần xây dựng hình tượng nhân vật Đây là một yêu cầu không thể thiếu trong việc xây dựng kết cấu tác phẩm văn học:

“Nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính, nhân vật trung tâm là yếu tố hàng đầu của tác phẩm, cho nên kết cấu phải đáp ứng yêu cầu xây dựng hình tượng nhân vật” [70,

tr.106]

Nói tóm lại, kết cấu văn bản phải đảm bảo các yêu cầu như: hoàn chỉnh, thống nhất, thẩm mỹ; biểu đạt tư tưởng của tác phẩm; xây dựng hình tượng nhân vật Tất cả các yêu cầu đó nhằm mục đích lôi cuốn, thu hút người đọc Nhưng một kết cấu quá đầy đủ, làm cho người đọc không còn “khoảng trống” để tưởng tượng, suy luận cũng không phải là một kết cấu hay

1.1.3 Các dạng thức của kết cấu

Kết cấu là một tổ chức đa dạng và phức tạp được tạo nên từ những mối liên hệ, quan hệ Nếu xem xét theo chiều ngang - bình diện tổ chức thể loại (kết cấu thể loại), kết cấu bao gồm: kết cấu tự sự, kết cấu trữ tình và kết cấu kịch Nếu xét theo chiều dọc, cấp độ tác phẩm như một chỉnh thể (kết cấu tác phẩm), kết cấu có hai dạng thức

cơ bản: kết cấu bề mặt (kết cấu văn bản nghệ thuật) và kết cấu bề sâu (kết cấu hình tượng nghệ thuật) Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu kết cấu tác phẩm ở hai dạng thức: kết cấu bề mặt và kết cấu bề sâu

Kết cấu bề mặt “là sự tổ chức lời văn và hình tượng Đó là sự liên kết các từ ngữ, câu văn, sự liên kết các chương, phần để dựng nên các hình tượng văn học, mối quan

hệ của nhân vật và các sự kiện xảy ra từ mở đầu cho đến kết thúc Kết cấu bề mặt có vai trò xây dựng các bức tranh, các cảnh tượng, các câu chuyện và nhân vật” [70, tr.110] Kết cấu bề mặt là loại kết cấu xét theo cấp độ trần thuật: Cấp độ trần thuật bao gồm sự liên tục của các biện pháp trần thuật, cũng như sự tổ chức của các câu, sự vận dụng các phương thức tu từ Ở cấp độ này, người ta thường nói đến bố cục, như là một kết cấu bề mặt, bao gồm sự sắp xếp, phân bố các phần của nội dung vào các mảng trần thuật như chương, đoạn” [49, tr.299]

Trang 29

Kết cấu bề mặt bao gồm các thành tố: bố cục và thành phần của trần thuật, tổ chức điểm nhìn trần thuật và sự phân bố các biện pháp nghệ thuật trong tác phẩm Kết cấu bề mặt là sự tổ chức, sắp xếp tạo nên hình hài của văn bản nghệ thuật để mang lại cho tác phẩm vẻ đẹp hấp dẫn và gây hứng thú mạnh mẽ, chuẩn bị mời gọi người đọc đi vào khám phá, tìm hiểu thế giới nội tại của nó

Kết cấu bề sâu “là toàn bộ các cặp đối lập của hệ thống nghệ thuật nhằm tạo ra

ý nghĩa văn bản” [70, tr.113] Kết cấu bề sâu là loại kết cấu xét ở cấp độ hình tượng Cấp độ này “gắn liền với toàn bộ tổ chức của thế giới nghệ thuật, bao gồm hệ thống các nhân vật, hệ thống các sự kiện, tình tiết và trình tự xuất hiện của chúng, tương quan giữa các chi tiết tạo hình, biểu hiện, tạo nên bức tranh sinh động về cuộc sống, các tương quan về không gian và về thời gian” [49, tr.298- 299] Kết cấu bề sâu gắn liền với ý đồ nghệ thuật của nhà văn và tính cách của nhân vật được phản ánh Kết cấu

bề sâu bao gồm các thành tố: hệ thống hình tượng nhân vật và hệ thống sự kiện

Nói tóm lại, kết cấu rất đa dạng, phong phú và phức tạp Chúng tôi chỉ đi vào phân tích kết cấu trong tác phẩm văn học trên hai bình diện: kết cấu bề mặt (kết cấu văn bản nghệ thuật) và kết cầu bề sâu (kết cấu hình tượng nghệ thuật) Tuy nhiên khi

nghiên cứu văn học chúng ta phải chú ý rằng: “phải kết hợp với đặc điểm kết cấu thể loại và phong cách nhà văn, và nhất là phải xem xét theo chức năng biểu hiện nội dung Chỉ có như vậy mới phát hiện được nội dung sâu sắc và nắm bắt được những hình thức kết cấu có giá trị” [49, tr.312]

1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học

1.2.1 Khái niệm nhân vật

Con người là đối tượng chủ yếu để nhà văn khám phá và tái hiện vào trong tác phẩm xây dựng thành nhân vật văn học Ở mỗi thể loại nào, dù trực tiếp hay gián tiếp,

văn học đều miêu tả con người Bởi “con người là một tuyệt tác biết chừng nào ! Cao quý bao nhiêu với lý trí sáng suốt ! Những khả năng của nó vô tận biết bao nhiêu ! Lớn lao và tuyệt vời biết bao nhiêu trong hình dáng và cử chỉ ! Trong hành động thì giống như thiên thần, về hiểu biết thì như một bậc thánh ! Con người là sắc đẹp của thế giới, tinh hoa của muôn loài” [24, tr.358] Vậy, giữa con người trong cuộc sống-

Trang 30

đối tượng mà nhà văn phản ánh, miêu tả có vai trò và mối quan hệ như thế nào đối với nhân vật trong tác phẩm văn học?

Trước hết, chúng tôi đi vào làm sáng tỏ nội hàm khái niệm nhân vật Thuật ngữ

nhân vật (persona) lấy từ tiếng Pháp và có nguồn gốc La-tinh: cái mặt nạ mà diễn viên

đeo vào mặt và về sau để chỉ nhân vật được miêu tả một cách nghệ thuật trong tác phẩm văn học

Về khái niệm nhân vật, các nhà lý luận có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể:

Theo G.N Pôxpêlôp, nhân vật là “những con người cá nhân được thể hiện trong tác phẩm” [67, tr.209] Đồng quan điểm trên, trong Giáo trình lý luận văn học (tập II)- Tác phẩm và thể loại văn học, Trần Đình Sử nhấn mạnh: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học- cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [70, tr.73] Phương Lựu cũng cho rằng: “Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong tác phẩm văn học bằng phương tiện văn học” [49, tr.277] và

“nhân vật văn học là hiện tượng nghệ thuật ước lệ có những dấu hiện để ta nhận ra… tiểu sử, nghề nghiệp hoặc đặc điểm riêng” [49, tr.278]

Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy nhiều khái niệm về nhân vật trong các quyển từ

điển văn học Phạm Thị Hảo cho rằng: “Nhân vật chỉ hình tượng nhân vật được miêu

tả trong tác phẩm văn nghệ Nhân vật là chủ thể, là hạt nhân để tạo nên hình tượng nghệ thuật Các tác phẩm văn nghệ mang tính tự sự thường thông qua những hoạt động trong hoàn cảnh cụ thể của nhân vật và mối quan hệ giữa các nhân vật để khắc họa tính cách của họ Nhân vật được xây dựng thành công hay không, điều này luôn quyết định giá trị hay dở của tác phẩm” [32, tr.48]

Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật

về con người, một trong những dấu hiệu toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn

từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người Trong bài

thơ Nguyệt Hạ Độc Chước kỳ nhất, Lý Bạch có viết:

Cử bôi yêu minh nguyệt,

Đối ảnh thành tam nhân

Trang 31

(Nâng ly khẩn khoản mời trăng Trăng, ta và bóng rõ ràng thành ba)

( Bản dịch của Hải Đà- Vương Ngọc Long)

Ngoài ta (cái tôi trữ tình của nhà thơ), trăng và bóng (bóng đen mờ ảo của nhà thơ) cũng được xem là nhân vật trữ tình “Trăng, ta và bóng rõ ràng thành ba”

Trong quyển Từ điển thuật ngữ văn học, các nhà lý luận cũng cho rằng: “nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [29, tr.235]

Như vậy, giữa con người trong cuộc sống và nhân vật trong tác phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau Con người như một chất liệu để nhà văn nhào nặn, xây dựng nên nhân vật trong tác phẩm Theo B Brêch, các nhân vật của tác phẩm văn học

là hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả

Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi có thể hiểu nhân vật là các đối tượng

có đời sống riêng (con người; đồ vật, cỏ cây, muông thú được nhân cách hóa về tính cách và năng lực) được nhà văn sáng tạo có tính hư cấu trong văn học Đồng thời nhân vật văn học là phương tiện khái quát hiện thực nhằm giúp nhà văn khám phá, lý giải cuộc sống và thể hiện quan niệm nghệ thuật của mình về con người

Tuy nhiên, nhân vật đôi khi được dùng để chỉ các khái niệm khác như vai, tính cách Theo G.N Pôxpêlôp, các tác phẩm tự sự và kịch khi miêu tả con người cá nhân

với hành vi, bề ngoài và cách hiểu thế giới của chúng Các cá nhân này thường được

gọi là tính cách hoặc là vai hành động, hoặc là nhân vật tác phẩm Và bản thân thuật ngữ “nhân vật” (tiếng Pháp persona) mượn từ kịch dùng để chỉ “cái mặt nạ mà diễn

viên đeo vào mặt” Vì vậy, việc một số người sử dụng lẫn lộn hoặc đồng nhất khái

niệm nhân vật với vai và tính cách là có cơ sở Nhưng cũng theo nhà nghiên cứu G.N Pôxpêlôp, thuật ngữ tính cách “dùng để chỉ khách thể của nhận thức nghệ thuật: tức

là sự thể hiện trong con người cá nhân những thuộc tính chung, bản chất do xã hội quy định của một loạt người” [67, tr.209] Còn thuật ngữ vai hành động, vai thì “dùng

để chỉ các cá nhân được nhà văn hư cấu ra cũng không chính xác Chúng tỏ ra không thích hợp khi vận dụng vào các nhân vật bộc lộ bản thân chủ yếu không phải trong hành động, việc làm, mà là qua cảm xúc đối với xung quanh và qua cách suy nghĩ về

Trang 32

những điều trông thấy” [67, tr.210] Về thuật ngữ nhân vật văn học, ông cho rằng:

“nói đến con người cá nhân được thể hiện trong tác phẩm” [67, tr.209]

Từ những điều vừa trình bày ở trên, khái niệm nhân vật có nội hàm đa dạng,

phong phú nhưng chốt lại theo ý kiến của G.N Pôxpêlôp: nhân vật văn học để “nói đến con người cá nhân được thể hiện trong tác phẩm”

1.2.2 Chức năng của nhân vật

Mọi ý đồ nghệ thuật, tư tưởng, tình cảm của nhà văn muốn gửi gắm đến cho bạn đọc đều thông qua nhân vật Vì thế, nhân vật giữ một vai trò không thể thiếu trong tác phẩm văn học

1.2.2.1 Miêu tả và khái quát tính cách xã hội

Nhân vật văn học là sản phẩm được nhà văn hư cấu từ những đối tượng có một đời sống riêng và nó có những dấu hiệu riêng để nhận ra Một trong những dấu hiệu đó

là tính cách

Theo Aristote, tính cách là cái cho ta biết tính chất của nhân vật hành động, tính cách là cái biểu hiện chiều hướng ý chí Đồng thời, tính cách quyết định tính chất của nhân vật Vì thế, đó là lý do tại sao ta gọi các nhân vật hành động là những nhân vật

nào đó Và nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương nhấn mạnh: “Tính cách là nói đến những đặc điểm tâm lý ổn định chi phối mọi hành vi và bộc lộ cốt cách, phẩm chất của nhân vật” [31, tr.184] Từ ý kiến trên, chúng tôi có thể hiểu rằng

mỗi nhân vật sẽ có một tính cách tương ứng, không lặp lại “nhất nhân hữu nhất nhân

tính cách” và tính cách quyết định phẩm chất, hành động của nhân vật: “Có tính cách như thế nào thì có hành động như vậy, và ngược trở lại, hành động biểu thị tính cách của nhân vật” [75, tr.223]

Nhưng theo C Mác: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ” Con người không thể tồn tại độc lập, riêng biệt với cộng

đồng xã hội Tính cách của con người cũng không tự nhiên mà có Nó được hình thành trong các hoạt động, giao tiếp với tập thể cộng động Và tính cách của nhân vật cũng là

“sự tổng hòa của địa vị giai cấp, ảnh hưởng xã hội và tư tưởng tình cảm của nhân vật” [75, tr.223] Do đó, tính cách nhân vật là sự thống nhất giữa cái cá thể và cái khái

Trang 33

quát, giữa cái riêng và cái chung Chúng kết hợp, xuyên thấm và chuyển hóa lẫn nhau

một cách sâu sắc Chẳng hạn, ở hồi 35 của Tam quốc diễn nghĩa, Mao Tôn Cương (đời

Thanh) có lời bình khá chính xác về tính chung và tính riêng trong tính cách của ba nhân vật Triệu Vân, Trương Phi, Quan Vũ, cụ thể:

Triệu Vân đứng bên khe suối Đàn Khê ngoài thành Tương Dương, liên tục quay người tìm kiếm, nhưng chẳng thấy Huyền Đức đâu cả, tình thế có thể gọi là cấp bách lắm Giá như Dực Đức ở vào cảnh ấy thì đã giết Sái Mạo Giá mà Vân Trường ở vào cảnh ấy thì nếu không giết Sái Mạo, cũng đã cắp gọn Sái Mạo bên người và cứ thế rồi tìm về với anh, chứ đâu có nhẹ nhàng bỏ qua Sái Mạo, rồi tự mình tìm đến Tân Dã, rồi đợi ở Nam Cương (như Triệu Vân) đâu Ba người trung dũng giống nhau, nhưng Tử Long lại là người cực kì tinh tế, điềm đạm, mỗi người có một tính cách, chẳng ai giống ai, viết như vậy là cực hay [75, tr.219]

Ngoài ra, tính cách nhân vật vừa khái quát phẩm chất xã hội lịch sử của cộng đồng, phản ánh bản chất xã hội vừa gắn liền với phẩm chất sinh lý của mỗi cá nhân, gắn với cá tính độc đáo của một con người Trong một bức thư mà Ph Ăngghen nhận

xét về tác phẩm Những người cũ và những người mới của nữ văn sĩ Minna Cauxki, ông viết: “Tôi thấy những tính cách của hai môi trường ấy (Nam Á và Đông Âu) đã được phác họa với một cá nhân hóa nổi bật mà bà thường có: mỗi nhân vật là một điển hình, nhưng đồng thời lại là một cá nhân hoàn toàn cụ thể, là “con người này” như ông già Hêghen nói” [51, tr.380] Những nhân vật khái quát được những tính cách

có ý nghĩa phổ biến mang bản chất xã hội sẽ là những nhân vật điển hình

Như vậy, nhân vật có chức năng khái quát tính cách, bản chất xã hội nhưng thông qua một cá tính độc đáo, “một con người này” (Hêghen) Tính cách của nhân vật vừa

phản ánh bản chất xã hội vừa gắn liền tâm lý, cá tính của một cá nhân: “Tính cách bao gồm hàm cả hai mặt: tính chung và tính riêng Tính chung ngụ ở trong cá tính, cá tính lại biểu hiện tính chung (cộng tính)” [75, tr.221]

1.2.2.2 “Chìa khóa” để nhà văn khám phá và lý giải hiện thực

Nhân vật không những là phương tiện để khám phá bản chất xã hội, tính cách con người mà còn là “công cụ” để nhà văn khám phá và lý giải hiện thực Tính cách của nhân vật được hình thành từ một môi trường nhất định, vì thế nhân vật còn là “chìa

Trang 34

khóa” để nhà văn lý giải cuộc sống xã hội Đồng thời nhân vật còn là “người dẫn đường” giúp người đọc đi vào “tòa lâu đài ngôn từ nghệ thuật” để khám phá, phát hiện nguồn gốc sâu xa, những quy luật tất yếu chi phối ngầm quá trình phát triển của xã hội Nhà văn Nga K.A Phêđin xem nhân vật giống như “một công cụ” giúp chúng ta nhận ra được bản chất của xã hội Thật vậy, thông qua những nhân vật điển hình, nhân vật khái quát được tích cách của xã hội, chúng ta có thể hiểu được “bộ mặt” của xã hội

đó Chẳng hạn, qua nhân vật Hămlét “hạt vàng của chủ nghĩa nhân văn” trong vở bi kịch cùng tên của Uyliam Sếchxpia, chúng ta cảm nhận được tinh thần của thời Phục Hưng với sự khủng hoảng, bế tắc của chủ nghĩa nhân văn Hay đằng sau bi kịch của Hămlét, ta thấy được những mâu thuẫn, xung đột giữa cái đẹp- tinh thần nhân văn với cái xấu- “phải hàng vạn người mới nhặt ra được một kẻ lương thiện” Với tính cách

hám vàng, bủn xỉn, keo kiệt của lão Grăngđê trong tiểu thuyết Ơgiêni Grăngđê của

H.đơ Ban-zắc, người đọc nhìn ra được bản chất thật sự của xã hội tư bản chỉ vì tiền:

“đồng tiền cũng sống, cũng nhốn nháo như con người, nó cũng đi, cũng lại, cũng đổ

mồ hôi, cũng sinh sôi, nảy nở” Theo chân nhân vật Xuân tóc đỏ trong Số đỏ của Vũ

Trọng, người đọc khám phá dần dần biết bao góc khuất, bao ung nhọt của xã hội thượng lưu ở nước ta trong một thời Âu hóa- một xã hội “chó đểu” (Vũ Trọng Phụng) Bên cạch đó, ngoài việc khái quát tính cách xã hội, nhân vật văn học còn là “chìa khóa” để nhà văn mở cánh cửa hiện thực để đi vào khoảng trời rộng lớn, tiếp cận những đề tài, chủ đề mới Chẳng hạn đề tài miền núi được các nhà văn, cụ thể Tô Hoài, Nguyễn Trung Thành, tập trung khai tác để “đẻ ra” các nhân vật như Mỵ, A Phủ, Tnú Ngược lại, chính những nhân vật này tạo nên tiền đề quan trọng giúp các nhà văn đi vào khám phá cuộc sống của các dân tộc thiểu số Theo Phương Lựu những nhân vật hề, nhân vật du đãng, những kẻ đầy tớ, những người ăn mày cũng như những nhân vật a hoàn cũng có vai trò mở rộng đề tài, mở ra đời sống nội thất của các nhà quyền quý và cuộc sống của giới thượng lưu

Tóm lại, nhân vật không những là “công cụ” để phơi bày bản chất xã hội, tính cách con người mà còn là “chìa khóa” giúp nhà văn mở rộng cách cửa hiện thực, khám phá thế giới muôn màu của cuộc sống để tìm ra những đề tài, nguồn cảm thức mới cho

sáng tác B Brêch nhận xét rằng: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải

Trang 35

giản đơn là bản dập của những con người sống, mà là những hình tượng được khắc

họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” [67, tr.210]

1.2.2.3 Biểu hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn về con người

Nhà văn muốn gửi gắm suy nghĩ, trăn trở, nỗi niềm day dứt của mình về cuộc

sống đến cho bạn đọc thông qua nhân vật Sinh thời, Nguyễn Du đã mượn “đứa con

tinh thần của mình” để bày tỏ tâm sự trước nhân tình thế thái:

Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Hay:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Độc Tiểu Thanh ký – Nguyễn Du)

Giả sử Nguyễn Du không bày tỏ nỗi niềm của mình trên “những dòng chữ

gấm” này liệu người đời có ai hiểu được tâm sự của nhà thơ ? Chính những “con chữ

có thần và có hồn đó” có sức lan tỏa rộng lớn để tìm người đồng cảm với nhà thơ

Chưa tới ba trăm năm, Tố Hữu và nhiều nhà thơ khác đã thấu hiểu và viết lên những

vần thơ tri âm sâu sắc để chia sẽ nỗi “ưu thời mẫn thế” với đại thi hào Nguyễn Du:

Tiếng thơ ai động đất trời,

Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du, Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

Hỡi người xưa của ta nay, Khúc vui xin lại so dây cùng người

(Kính gửi cụ Nguyễn Du- Tố Hữu)

Vì vậy, thông qua tác phẩm, qua nhân vật các nhà văn, nhà thơ gửi gắm nỗi niềm,

tâm sự của mình trước thời thế và thể hiện tình cảm của mình với con người Theo

G.V Plêkhanốp, nhà nghệ sĩ diễn tả tư tưởng của mình bằng những hình tượng, còn

nhà chính luận thì chứng minh tư tưởng của mình bằng lý lẽ lôgic Nếu một nhà văn

lại dùng những lý luận lôgic, chứ không dùng hình ảnh, hoặc là dùng hình tượng để

Trang 36

chứng minh vấn đề này, hoặc vấn đề nọ, thì nhà văn ấy không phải là một nghệ sĩ mà

là một nhà chính luận, mặc dầu người ấy viết tiểu thuyết, truyện ngắn, hoặc viết kịch, chứ không viết tiểu luận và viết báo Chẳng hạn, thông qua nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc về thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ và nỗi đau đời của đại thi hào dân tộc trước xã hội kim tiền:

Trong tay sẵn có đồng tiền

Dẫu rằng đổi trắng thay đen khó gì

(Truyện Kiều - Nguyễn Du) Hay thông qua nhân vật chị Dậu (Tắt đèn), anh Pha (Bước đường cùng), Chí Phèo (Chí Phèo), Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đã phản ánh sâu sắc bộ

mặt bóc lột tàn bạo của xã hội thực dân nửa phong kiến Đồng thời, các nhà văn hiện thực này còn thể hiện tấm lòng thương cảm chân thành, tha thiết với những người nông dân bần cùng

Như vậy, nhân vật giữ một vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung của tác phẩm văn học và bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả với cuộc đời và con người Khi đọc tác phẩm, người đọc cần chú ý nội dung tư tưởng và bản chất xã hội thể hiện trong nhân vật

1.2.3 Phân loại nhân vật văn học

Thế giới nhân vật văn học đa dạng, phong phú Và việc phân loại nhân vật không kém phần phức tạp Nhưng dưới ánh sáng của phương pháp nghiên cứu loại hình, các nhà lý luận khá thuận lợi trong việc phân loại nhân vật Đây là hoạt động vô cùng cần thiết bởi việc phân loại này giúp cho người nghiên cứu, người đọc có cơ sở để chiếm lĩnh được thế giới nhân vật văn học một cách dễ dàng và hợp lý hơn Ở đây, chúng tôi phân chia nhân vật văn học dựa vào các tiêu chí như: kết cấu tác phẩm, ý thức hệ và cấu trúc nhân vật

Nếu phân chia nhân vật văn học theo tiêu chí kết cấu tác phẩm ta có ba loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ Nhưng việc phân biệt nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân vật phụ chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng được đặt trong thế đối sánh Một tác phẩm không có nhân vật phụ, nhân vật chính thì tất nhiên

không thể có nhân vật trung tâm G.N Pôxpêlôp khẳng định: “Các nhân vật trong một

Trang 37

tác phẩm nghệ thuật thực sự tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Chúng hình như đều liên can nhau không chỉ mốc nối nhau bằng tiến trình sự kiện được miêu tả (không phải bao giờ cũng thế), mà suy đến cùng, còn bằng tư duy nghệ thuật của nhà văn Hệ thống nhân vật bộc lộ nội dung của tác phẩm, nhưng tự nó lại là một trong các phương diện của kết cấu tác phẩm” [67, tr.212]

Xét trên phương diện tư tưởng, lý tưởng, chúng ta chia nhân vật văn học thành hai loại: nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) Sự phân chia này gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, hình

thành trên cơ sở đối lập giai cấp, quan điểm tư tưởng Trong Nghệ thuật thơ ca,

Aristote cũng phân chia nhân vật ra làm hai dạng dựa trên tính cách, lý tưởng Đó là nhân vật “vĩ nhân” và nhân vật “người thấp hèn” Cụ thể, ông cho rằng:

“Thơ ca, tùy theo các đặc điểm của tính cách, các nhà thơ mà được chia ra làm nhiều loại: cụ thể là, những nhà thơ nghiêm trang đã tái hiện những hành vi cao thượng, hơn nữa, lại là hành vi của các vĩ nhân; còn những nhà thơ nhẹ nhàng hơn thì lại miêu tả những hành vi của những người thấp hèn, và trước tiên

họ sáng tác ra những bài hát châm biếm, như những nhà thơ khác sáng tác nên những tán ca và tụng thi” [5, tr.25]

Phân loại nhân vật theo hình thức cấu trúc có nhiều loại, cụ thể: nhân vật chức năng (nhân vật mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Nói tóm lại, sự phân loại nhân vật dựa trên các tiêu chí kết cấu tác phẩm, ý thức

hệ và cấu trúc nhân vật chỉ mang tính chất tương đối, bởi trong thực tế sáng tác chúng

có sự trùng khít lẫn nhau Các loại nhân vật trên không xuất hiện đồng nhất với lịch sử văn học, nhưng chúng có thể đồng hiện song song trong một nền văn học, đôi khi trong cùng một tác phẩm

1.2.4 Các phương tiện và biện pháp xây dựng, khắc họa tính cách nhân vật

Nhân vật chỉ xuất hiện thông qua sự trần thuật, miêu tả bằng các phương tiện nghệ thuật của nhà văn Đồng thời nhân vật bộc lộ rõ tính cách của mình thông qua

ngôn ngữ, hành động, sự kiện, xung đột và trong mối quan hệ với các nhân vật khác

Trang 38

1.2.4.1 Phương tiện để xây dựng nhân vật

Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, ngôn ngữ là chất liệu vô cùng quan trọng để

nhà văn xây dựng hình tượng và khắc họa tính cách nhân vật: “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, ngôn ngữ là chất liệu quan trọng nhất mà văn học mượn để xây dựng hình tượng Một nhà văn ưu tú, tất nhiên cũng là một bậc thầy về ngôn ngữ” [75,

tr.233] Thông qua ngôn ngữ nhà văn xây dựng các chi tiết để miêu tả nhân vật Ngôn ngữ là phương tiện đầu tiên và cần phải có để xây dựng hình tượng nhân vật L.I

Timôfêép cho rằng: “ngôn ngữ là phương tiện cơ bản của sáng tác văn học nghệ thuật” [89, tr.269]

Ngoài ra, đặc trưng chủ yếu của văn học là thông qua hình tượng để chiếm lĩnh thực tại và phản ánh cuộc sống Không có hình tượng thì không có văn học Trong khi

đó, hình tượng nghệ thuật, nhất là hình tượng nhân vật, không phải là hình tượng chung chung, khát quát mà phải thông qua quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc của người nghệ sĩ Để xây dựng hình tượng nhân vật, nhà văn phải gia công trong việc sáng tạo ra các chi tiết

Nhân vật được xây dựng bằng chi tiết Chi tiết “là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng Hình tượng nghệ thuật cụ thể, gợi cảm và sống động là nhờ các chi tiết về phong cảnh, môi trường, chân dung, nội thất, về cử chỉ, phản ứng nội tâm, hành vi, lời nói” [29, tr.59] Đồng thời chi tiết còn “… là một dáng hình, một lời nói, một cử chỉ, một nét sinh hoạt, một khâu quan hệ” [49, tr.539]

Theo Hêghen chi tiết như những con mắt trổ những cửa sổ để người ta nhìn vào nhân vật Chi tiết là những biểu hiện mọi mặt của một nhân vật mà thông qua đó người đọc phân biệt được sự khác biệt của các nhân vật

Nhà văn dùng chi tiết để miêu tả chân dung, ngoại hình, hành động, tâm trạng, thể hiện quá trình vận động nội tâm của nhân vật Đồng thời để phục vụ cho việc khắc họa tính cách nhân vật nhà văn cũng dùng chi tiết để miêu tả ngoại cảnh, môi trường

và đồ vật xung quanh con người Để tô đậm tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò của Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du đã miêu tả bức tranh thiên nhiên bằng những nét chấm phá tài tình:

Trang 39

Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ dầu dầu Chân mây mặt đất một màu xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi

(Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Trong tác phẩm văn học, chi tiết càng dồi dào nhân vật càng hiện ra rõ nét và sắc

sảo hơn Đọc Thủy hử của Thị Nại Am khó ai quên được tay “sát gái” Tây Môn

Khánh, nhà nghiên cứu Kim Thánh Thán đã hết lời khen ngợi cách tả của Thị Nại Am

như sau: “Tả Tây Môn Khánh mấy phen xoay chuyển, khéo về cứu thế, khéo về đổi thay, khéo về cần gấp, khéo về lạnh lùng, khéo về thong thả, khéo về muốn ngay, khéo

về phá đi, khéo về mượn lại, khéo về đón lấy, khéo về đẩy ra… Thực ra là một thiên gấm bột màu hoa, rõ ra văn tự” [48, tr.137]

Như vậy, ngôn ngữ và chi tiết là phương tiện, chất liệu để nhà văn xây dựng nhân vật Đồng thời, thông qua ngôn ngữ, chi tiết chúng ta có thể nhận ra và phân biệt được các nhân vật trong cùng một tác phẩm, thậm chí trong cùng một giai đoạn, một nền văn học

1.2.4.2 Biện pháp khắc họa tính cách nhân vật

Tính cách là “sự khái quát về bản chất xã hội, lịch sử, tâm lý của con người dưới hình thức những con người cá thể… thường biểu hiện ở phương thức hành vi ổn định, lặp đi lặp lại trong các tình huống khác nhau của nhân vật” [29, tr.345] Và tích cách của nhân vật “là nói đến những đặc điểm tâm lý ổn định chi phối mọi hành vi, thái độ

và bộc lộ cốt cách, phẩm chất của nhân vật” [31, tr.184] Aristote cho rằng: “tính cách

là cái cho ta biết tính chất của nhân vật hành động” [5, tr.34], “tính cách quyết định tính chất của mỗi con người” [5; tr.35] và “tính cách là cái biểu hiện chiều hướng của

ý chí” [5, tr.37] Còn G.N Pôxpêlôp cho rằng: “tính cách dùng để chỉ khách thể của nhận thức nghệ thuật: tức là sự thể hiện trong con người cá nhân những thuộc tính

Trang 40

chung, bản chất, do xã hội quy định” [67, tr.209] Trong văn học, việc khắc họa tính

cách nhân vật là vô cùng quan trọng bởi nó quyết định đến tư tưởng và chủ đề của tác

phẩm: “Đối với việc khắc họa nhân vật tính cách, việc miêu tả tâm lý, cá tính đóng vai trò cực kỳ quan trọng” [70, tr.147]

Việc khắc họa tính cách của nhân vật có thể được thực hiện theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp Cách thứ nhất người đọc biết được do người trần thuật miêu tả hay do nhân vật khác thuật lại, cũng có thể do bản thân nhân vật đó tự bạch Cách thứ hai do người đọc tự rút ra kết luận từ hành động, việc làm, suy nghĩ, nhận thức của nhân vật Tính cách của nhân vật là một chỉnh thể thống nhất giữa biểu hiện bên ngoài và bản chất bên trong Do đó, tính cách của nhân vật được thể hiện bằng nhiều cách Đầu tiên là bằng tên gọi bởi tên gọi nó báo trước đặc điểm tâm lý và phẩm chất đạo đức của nhân vật Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn rất dụng công trong việc đặt

tên hoặc dùng biệt danh cho các nhân vật của mình Đó là Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, Chí Phèo và Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành … Ngoài ra tính cách nhân

vật còn được bộc lộ qua khuôn mặt “trông mặt mà bắt hình dong”, thông qua dáng diệu, qua hành động và cử chỉ,…

Tính cách nhân vật đặc biệt bộc lộ qua ngôn ngữ của nhân vật Trong cuộc sống không có chuyện hai người ăn nói giống nhau như khuôn đúc bởi không có hai tính cách hoàn toàn giống nhau Kiểu người nào sẽ có lời ăn tiếng nói của người đó “nhất dạng nhân, tiện hoàn tha nhất dạng thuyết thoại” Lỗ Tấn khi nhận xét về phương diện

ngôn ngữ của Thủy hử có viết: “Nó có thể làm cho người đọc từ lời ăn tiếng nói mà thấy được người” [75, tr.235] Ngôn ngữ đã được tính cách hóa, nghĩa là mỗi một

nhân vật mang một nét mặt, một nụ cười riêng biệt Kết hợp hai điều đó, nhà văn đã xây dựng được những hình tượng nhân vật “rờ rỡ như đang sống” Kim Thánh Thán

hết lời khen ngợi Thủy hử bởi trong 108 nhân vật, mỗi người đều có “nhân hữu kỳ tính

tình, nhân hữu kỳ khí chất, nhân hữu kỳ hình trạng, nhân hữu kỳ thanh khẩu”, cụ thể:

“Những bộ sách khác, xem qua một lần thì thôi Riêng có Thủy hử truyện thì xem mãi không chán, chính là do tác giả miêu tả đầy đủ tính cách của 108 người Thủy hử truyện miêu tả 108 tính cách thật là 108 dạng người khác nhau Còn những bộ sách

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các tầng bậc người kể chuyện trong Linh Sơn của Cao Hành Kiện - kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn
Bảng 2.1. Các tầng bậc người kể chuyện trong Linh Sơn của Cao Hành Kiện (Trang 52)
Bảng 2.2. Các truyền kỳ trong một số tiểu thuyết Mạc Ngôn - kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn
Bảng 2.2. Các truyền kỳ trong một số tiểu thuyết Mạc Ngôn (Trang 57)
Bảng 2.4. Diễn biến thời gian hiện thực và thời gian truyện kể trong  tiểu thuyết - kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn
Bảng 2.4. Diễn biến thời gian hiện thực và thời gian truyện kể trong tiểu thuyết (Trang 82)
Bảng 2.5. Diễn biến sự kiện trong tiểu thuyết Cây tỏi nổi giận - kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn
Bảng 2.5. Diễn biến sự kiện trong tiểu thuyết Cây tỏi nổi giận (Trang 87)
Bảng 2.6. Diễn biến sự kiện trong tiểu thuyết Tửu quốc - kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn
Bảng 2.6. Diễn biến sự kiện trong tiểu thuyết Tửu quốc (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w