Nhiều nhà văn Trung Quốc đã được độc giả Việt Nam biết đến như Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Phùng Kí Tài, Thiết Ngưng… Một trong những gương mặt góp phần làm rực rỡ nền văn học đương đại Trung
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Mỹ Linh
HÌNH TƯỢNG NAM NHI TRONG
SÁNG TÁC CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Mỹ Linh
HÌNH TƯỢNG NAM NHI TRONG
SÁNG TÁC CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH PHAN CẨM VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Bùi Thị Mỹ Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm Vân, người trực tiếp và tận tình hướng dẫn khoa học cho tôi Tôi xin gửi đến cô lời tri ân và biết ơn chân thành, sâu sắc nhất
Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học và thư viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Gia đình, bạn bè đã ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
TPHCM, ngày 30 tháng 09 năm 2013
Người viết luận văn
Bùi Thị Mỹ Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DẪN NHẬP 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Mục đích nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Đóng góp của luận văn 9
8 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1: TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG VÀ VĂN HỌC THỜI KÌ “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA” 11
1.1 Xu hướng đổi mới của văn học đương đại Trung Quốc 11
1.2 Nhà văn Trương Hiền Lượng và cuộc Đại cách mạng văn hóa 14
1.3 Cơ sở hình thành loại hình nhân vật 18
1.4 Chân dun g người nam nhi trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng 22
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NAM NHI VỚI VẺ ĐẸP TÂM HỒN VÀ BI KỊCH TINH THẦN 25
2.1 Người nam nhi với vẻ đẹp tâm hồn 25
2.1.1 Người nam nhi giàu cá tính 25
2.1.2 Người nam nhi giàu khát vọng 30
2.2 Những bi kịch tinh thần 39
2.2.1 Bi kịch bản năng 39
2.2.2 Bi kịch lí tưởng 46
2.3 Người nam nhi với vấn đề tính dục 49
2.3.1 Lăng kính giai cấp và vấn đề tính dục 49
2.3.2 Vấn đề tính dục và tình yêu 54
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NAM NHI62 3.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 62
3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 62
Trang 63.1.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 68
3.2 Lời thoại nhân vật 73
3.2.1 Lời đối thoại 73
3.2.2 Lời độc thoại 81
3.3 Không gian nghệ thuật 86
3.3.1 Không gian nhà tù 86
3.3.2 Không gian căn buồng 89
3.4 Tính trữ tình 93
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHẦN PHỤ LỤC 105
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Sau cuộc Đại cách mạng văn hóa cùng với chính sách cải cách, mở cửa về mặt
kinh tế, xã hội, văn học đương đại Trung Quốc vận động theo hướng dân chủ hóa, có
nhiều khởi sắc, đạt được nhiều thành tựu Nhà văn phản ánh cuộc sống với cái nhìn
đa diện, đa chiều bởi cuộc sống vốn phức tạp, bề bộn nhiều niềm vui và nước mắt
Nhiều nhà văn Trung Quốc đã được độc giả Việt Nam biết đến như Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Phùng Kí Tài, Thiết Ngưng… Một trong những gương mặt góp phần làm rực rỡ nền văn học đương đại Trung Quốc là Trương Hiền Lượng
Vấn đề nam nhi lại được đặt ra mạnh mẽ ở đất nước Trung Hoa Trong mối
quan hệ phương Đông và phương Tây, ở phương Đông vai trò của người nam nhi lại
có phần gánh nặng hơn về trách nhiệm với gia đình, xã hội Qua ngòi bút tài hoa của Trương Hiền Lượng, ông vừa kế thừa những quan niệm cũ vừa đặt ra nhiều vấn đề có tính đột phá qua hình tượng người nam nhi Ông đặc biệt đi sâu khai thác kiểu người nam nhi trí thức, số phận của họ thăng trầm cùng số phận lịch sử
Tác phẩm của nhà văn Trương Hiền Lượng được dịch ra tiếng Việt nhiều nhưng hầu như chỉ được tiếp cận ở góc độ dịch mà ít nghiên cứu
Xuất phát từ những lí do trên, người viết nghiên cứu tác giả Trương Hiền Lượng với một khía cạnh nổi bật thuộc nội dung tác phẩm, đó là hình tượng nam nhi nhằm thỏa mãn niềm say mê của bản thân và phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy Chúng tôi hi vọng mở ra một hướng tiếp cận khoa học về sáng tác của Trương Hiền Lượng, một nhà văn tài năng trong nền văn học đương đại Trung Quốc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất ít công trình nghiên cứu tiểu thuyết Trương Hiền Lượng Ở đây, chúng tôi xin tổng hợp những bài nghiên cứu và chia lịch sử nghiên cứu về tác giả Trương Hiền Lượng thành hai nhóm vấn đề lớn như sau:
* Những công trình nghiên cứu Trương Hiền Lượng ở Trung Quốc
Viết về văn học đương đại Trung Quốc, có rất nhiều bài nghiên cứu như:
nghiên cứu của Vương Khánh Sinh trong Trung Quốc đương đại văn học, nghiên
Trang 8cứu của Hồng Tử Thành trong Trung Quốc đương đại văn học sử, nghiên cứu của Trần Tư Hòa trong Trung Quốc đương đại văn học sử giáo trình,…
Nhà văn Trương Hiền Lượng có một vị trí đặc biệt trong văn đàn văn học đương đại Trung Quốc Việc nghiên cứu về nhà văn Trương Hiền Lượng cũng được giới phê bình quan tâm Thông qua việc tìm hiểu, chúng tôi đã tổng hợp tình hình nghiên cứu về nhà văn Trương Hiền Lượng ở một số phương diện sau:
◊ Thứ nhất là nghiên cứu về vấn đề giới tính trong tiểu thuyết của Trương Hiền
Lượng (张贤亮小说中的性别政治) Đây là một vấn đề khá nổi bật trong các tác phẩm của ông Trong đó, cũng có những nghiên cứu nhỏ về hình tượng nữ trong tác
phẩm Cây hợp hoan (张贤亮《绿化树》女性形象) hay nghiên cứu về sự xung đột giữa thân xác và dục vọng trong Một nửa đàn ông là đàn bà
(《男人的一半是女人: 与理想冲突的女人身体与欲望)
◊ Thứ hai là nghiên cứu về những thay đổi trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng (浅谈张贤亮小说创作的前后变化) Những thay đổi này cũng nằm trong sự thay đổi của nền văn học đương đại Trung Quốc
◊ Một vấn đề nữa cũng được các nhà nghiên cứu, phê bình Trung Quốc quan tâm, đó
là vấn đề người trí thức trong tác phẩm của nhà văn (张贤亮: 对知识分子精神世界的探索与表现)
* Những công trình nghiên cứu Trương Hiền Lượng ở Việt Nam
◊ Bài nghiên cứu “Tiểu thuyết gợi sự suy ngẫm, giàu tính triết lí của Trương
Hiền Lượng”, giáo sư Lê Huy Tiêu đã đi phân tích tiểu thuyết của Trương Hiền
Lượng là sự kết tinh của thơ ca và triết học dựa trên tinh thần do cuộc sống cay đắng tạo nên Giáo sư phân tích bất luận là nhân vật nào trong sáng tác của Trương Hiền Lượng cũng đều mang tính triết lí sâu sắc Đó là nhân vật người lái xe trong truyện
ngắn Sôrubulak, Chương Vĩnh Lân trong Cây hợp hoan, Một nửa đàn ông là đàn bà hay Trần Bảo Thiếp trong Phong cách nam nhi Tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng
còn gợi cho độc giả được thưởng thức một vẻ đẹp “không hoàn chỉnh” trong vết thương đau khổ, đó là cái đẹp của nội tâm phóng khoáng, vẻ đẹp của phong cảnh vùng quê Tây Bắc
Trang 9◊ Luận văn Thạc sĩ “Tính triết lí và trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền
Lượng” (Đại học KHXH và NV Hà Nội năm 2012), Hoàng Thị Lan làm rõ triết lí về
cái đói và sự tồn tại, triết lí giữa tự do và kìm kẹp, triết lí giữa sự sống và cái chết Tuy nhiên, luận văn này người viết chỉ tập trung đi vào nghiên cứu “Tính triết lí – trữ
tình” qua hai tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông và đàn bà Người viết
chưa đi khai thác hình tượng nam nhi được nhà văn Trương Hiền Lượng thật sự chú
ý
◊ Bài đăng trên online http://vietnamese.cri.cn ngày 16 tháng 12 năm 2010, giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Trương Hiền Lượng Ông đã bày tỏ những trăn trở: “Tôi cảm thấy rất tự hào, vì tôi cùng vận mệnh với dân tộc Trung Hoa cũng đang gặp trắc trở, hơn nữa lúc đó ngoài tôi ra nhiều công nhân, nông dân, cán
bộ và tri thức gặp phải chuyện tan cửa, nát nhà, lạc vợ, xa con, mất tự do, thậm chí mất tính mạng, tôi vẫn phải coi là người may mắn sống sót” Chính vì vậy, bằng ngòi bút tài hoa của mình, ông đã ghi lại một cách chân thật một thời kì lịch sử để lại nhiều đau thương không chỉ trên bản thân người thi sĩ mà còn cả dân tộc Trung Hoa
◊ Bài đăng trên báo văn nghệ trẻ, ông trả lời phỏng vấn: “Tôi là một người đi bán đảo hoang”, Trương Hiền Lượng đã biến đống hoang tàn đổ nát trở nên đậm nét văn hóa của dân tộc mình Trong quá trình ông làm kinh doanh, đầu tư xây dựng thành phố điện ảnh Trấn Bắc Bảo cũng là quá trình thâm canh tác phẩm của ông sau này Trương Hiền Lượng được xếp vào 100 nhà văn có ảnh hưởng ở thế kỉ XX
◊ Bài phỏng vấn trên báo Thể thao văn hóa, Trương Hiền Lượng là một trong mười người Trung Quốc được công nhận là nhân vật văn hóa kiệt xuất vào năm 2004 Trong bài trả lời phỏng vấn, ông đã đưa ra ý kiến của mình về việc sáng tác văn học Trung Quốc hiện nay: “Nữ nhi viết cũng tốt, nam nhi viết cũng hay Tôi cho rằng hiện nay đã bước vào giai đoạn tự do sáng tác, đây là biểu hiện cụ thể của sự chuyển đổi quĩ đạo văn hóa Trung Quốc”
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về nhà văn Trương Hiền Lượng và tác phẩm của ông ở Việt Nam còn khá ít Vì vậy, chúng tôi muốn đi nghiên cứu sáng tác Trương Hiền Lượng với một khía cạnh nổi bật trong tác phẩm của ông, đó là hình tượng nam nhi
Trang 103 Đối tượng nghiên cứu
Để nghiên cứu về những tác phẩm văn học của một nhà văn thì có rất nhiều phương diện để bàn luận Luận văn nghiên cứu một phương diện thuộc nội dung của tác phẩm văn học trong sáng tác của Trương Hiền Lượng Từ việc chọn hình tượng nam nhi làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi xác định đi tìm hiểu về văn học thời kì
C ách mạng văn hóa, đi sâu về tấn bi kịch tinh thần của nhân vật và vẻ đẹp tâm hồn
của họ, nghệ thuật xây dựng hình tượng nam nhi trong sáng tác của Trương Hiền Lượng
những bài trả lời phỏng vấn… đã được dịch sang tiếng Việt
1 Phong cách nam nhi (1994), Lê Văn Các và Trịnh Trung Hiếu dịch, Nxb Hà Nội
2 Một nửa đàn ông là đàn bà (1989), Phan Văn Các và Trịnh Trung Hiếu dịch, Nxb
Trẻ và Nxb Lao động
3 Cây hợp hoan (2004), Trần Đình Hiến dịch, Nxb Phụ nữ, Hà Nội
4 Thời thanh xuân, Trần Đan Yến, Thái Nguyễn Bạch Liên dịch, Nxb Thuận Hóa,
Trang 116 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp hệ thống: Phương pháp này giúp chúng tôi đặt đối tượng nghiên
cứu trong một hệ thống để thấy được tính toàn diện
Phương pháp lịch sử - xã hội học: Đặt đối tượng nghiên cứu vào một bối cảnh
xã hội để nghiên cứu, tránh xa rời thực tiễn Mặc dù sáng tác văn học phải có sự hư cấu, tuy nhiên có thể nói hơn ai hết Trương Hiền Lượng đã ghi lại một cách rất chân
thực những gì mà bản thân ông đã trải nghiệm trong thời Đại cách mạng văn hóa
Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tôi trực tiếp khảo sát văn bản, từ đó
phân tích để đưa ra những luận điểm tổng hợp khái quát
Phương pháp so sánh: Đặt hình tượng nam nhi trong mối quan hệ với các kiểu
nhân vật khác trong sáng tác của Trương Hiền Lượng
Phương pháp miêu tả: Dùng cách thức miêu tả, kể chyện để tái hiện lại những
sự kiện, tình tiết mang tính triết lí trong tác phẩm
Phương pháp phê bình tiểu sử: Phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn cụ
thể hơn về những tác động từ cuộc đời của nhà văn Trương Hiền Lượng lên hình tượng người nam nhi trong tác phẩm
7 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu “Hình tượng nam nhi trong sáng tác của Trương Hiền Lượng”,
chúng tôi hi vọng sẽ góp phần nhỏ để giới thiệu hình tượng nam nhi, một chân dung mới mẻ, đặc sắc trong sáng tác của ông Đồng thời cũng cho thấy những đóng góp của nhà văn cho sự nghiệp văn học Trung Quốc
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Nhà văn Trương Hiền Lượng và văn học thời kì Đại cách mạng văn
hóa Chúng tôi sẽ làm rõ xu hướng đổi mới của văn học đương đại Trung Quốc, mối quan hệ mật thiết giữa nhà văn Trương Hiền Lượng và cuộc Đại cách mạng văn hóa,
Trang 12cơ sở hình thành loại hình nhân vật, chân dung người nam nhi trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng
Chương 2: Người nam nhi với vẻ đẹp tâm hồn và bi kịch tinh thần; Người nam nhi với vấn đề tính dục
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng người nam nhi Chúng tôi làm rõ nghệ thuật miêu tả ngoại hình và nội tâm nhân vật, lời thoại của nhân vật, không gian nghệ thuật và tính trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng
Trang 13C HƯƠNG 1: TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG VÀ VĂN HỌC THỜI KÌ
“ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”
1.1 Xu hướng đổi mới của văn học đương đại Trung Quốc
Đại cách mạng văn hóa bắt đầu vào năm 1966, theo chỉ thị của chủ tịch Mao
Trạch Đông, hội nghị Bộ Chính trị mở rộng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chính thức phát động phong trào “Đại Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản”, người trí thức
là đối tượng bị bức hại trực tiếp và nhiều nhất trong cuộc vận động này: “Trong
những năm đầu thập kỉ 60, do sai lầm tả khuynh trong chỉ đạo, khoa học xã hội và nhân văn ở Trung Quốc gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều tổn thất Những mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo của Đàng Cộng Sản Trung Quốc đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xã hội và đời sống văn nghệ Trung Quốc Nhiều tác giả, tác phẩm bị quy chụp là cỏ độc, là chống Đảng một cách vô căn cứ Tháng 11 năm 1963, Mao Trạch Đông đã phê phán Bộ Văn Hóa là “Bộ của Đế Vương quan tướng, của các tài
tử giai nhân, của thây ma ngoại quốc”
Cuộc Đại các mạng văn hóa kết thúc vào năm 1976, văn học Trung Quốc đi
vào thời kì nở rộ, đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Đặc biệt từ sau năm 1976 đến năm 1982, những Đảng viên cộng sản được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân đã kiên quyết chống lại bọn “bè lũ bốn tên” từng làm khuynh đảo văn đàn Trung Quốc
một thời Đất nước đã thoát ra khỏi cuộc Đại cách mạng văn hóa, đưa xã hội Trung
Quốc từ thời trung cổ tối tăm, dần dần được hồi sinh, người dân dần dần quay trở về với cuộc sống bình thường, mọi suy nghĩ của con người được giải phóng Tháng 5 năm 1978, Đại hội mở rộng lần thứ III của Hội lien hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc khóa 3, khôi phục hội văn liên, Hội nhà văn Trung Quốc và các Hội nhà văn địa phương… Cùng với đường lối “bốn hiện đại hóa” theo đường lối, tư tưởng của Đặng Tiểu Bình, văn học đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ
Văn học đương đại Trung Quốc xuất hiện nhiều trào lưu tiểu thuyết mới: dòng
“văn học tiên phong”, dòng “văn học tả thực”, dòng “siêu thực”, dòng “hiện đại chủ nghĩa”… nhưng đáng chú ý là dòng “văn học vết thương” và “văn học phản tư” góp
phần mở ra một thời kì nở rộ cho văn đàn đương đại Trung Quốc
Trang 14Thế hệ nhà văn xuất hiện sau cuộc Đại cách mạng văn hóa làm nên diện mạo
nền văn học Trung Quốc Hơn ai hết, thế hệ nhà văn này là những nạn nhân, chịu nhiều đau khổ, bị bức hại tàn khốc trong những năm tháng rối ren, loạn lạc nhưng họ
là những người mẫn thế, dám nghĩ, dám làm Họ không phủ định hiện thực bằng những lí thuyết dối trá “tô hồng” hay chủ trương “hai kết hợp”, tức là kết hợp “Chủ nghĩa hiện thực cách mạng” với “Chủ nghĩa lãng mạn cách mạng” Những lớp nhà văn này thẳng thắn nhìn thẳng vào hiện thực đau khổ, không né tránh, vạch trần tội lỗi của bọn “bè lũ bốn tên”, vạch trần những tàn dư xấu xa trong xã hội Thế hệ nhà văn này rất đông đảo: Trương Hiền Lượng, Lưu Tâm Vũ, Mạc Ngôn, Lưu Hằng, Giả
Bình Ao, Phùng Kí Tài, Thẩm Dung…
Lớp nhà văn này đã tạo ra dòng “Văn học vết thương”, tố cáo một cách trực
diện tính chất vô nhân đạo của cuộc Đại cách mạng văn hóa, triệt để phê phán những
sai lầm, ấu trĩ một thời, đi sâu mổ xẻ vết thương thể xác và tinh thần, khẳng định những giá trị đạo đức tốt đẹp, đề cao vai trò của con người chân chính Ban đầu, từ
“vết thương” trong “văn học vết thương” được dùng theo nghĩa hẹp, chỉ những nỗi
đau, cảm thương, bi kịch Đặc biệt, trong thời Đại cách mạng văn hóa, con người
chịu nhiều tổn thương rất lớn về thể xác và tinh thần Sáng tác văn học cũng bị hạn
chế trong một thời gian khá dài Mở đầu là tiểu thuyết Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm
Vũ được đăng trên tờ báo Văn học nhân dân số 11 năm 1977, tố cáo bọn phản động trong Đại cách mạng văn hóa đã làm hủy hoại tâm hồn bao thế hệ trẻ Truyện ngắn
“Vết thương” của Lô Tân Hoa đăng trên Văn hối báo ngày 11 tháng 8 năm 1978, đã xoáy sâu vào nỗi đau thể xác và tinh thần, tác phẩm đã tiếng nói đầu tiên phủ định
triệt để Đại cách mạng văn hóa, càng thúc đẩy dòng văn học vết thương Tiếp theo
hàng loạt tác phẩm phê phán hành động của bọn “Hồng vệ binh” chỉ biết răm rắp làm theo một cách ngu xuẩn, đã gây ra những hành động tàn bạo, chà đạp lên cuộc sống của người dân, đặc biệt bức hại những người tri thức, đẩy họ vào chuỗi ngày bi kịch Những tác phẩm đã chỉ thẳng đường lối “cuộc đấu tranh chống phái đi theo con đường Tư Bản” là hoang đường, không có cơ sở thực tế Cả xã hội đang bị đường lối
“tả khuynh” gò bó, thống trị, coi xã hội trong mười năm Đại cách mạng văn hóa là
một nhà tù giam cầm con người Bên cạnh đó, không chỉ nhằm mục đích phủ định
Trang 15cuộc Đại cách mạng văn hóa mà còn phủ định mạnh mẽ kiểu sáng tác bưng bít, che đậy cho Cách mạng văn hóa
Tiểu thuyết dòng “văn học vết thương” không chỉ miêu tả bi kịch mà còn chú ý khắc họa tính cách , xây dựng những nhân vật điển hình Văn học “vết thương” đã khôi phục lại truyền thống chủ nghĩa hiện thực mà Lỗ Tấn là một cây bút tiêu biểu
Độc giả có dịp thưởng thức nhiều tác phẩm có giá trị: Ôi (Phùng kí Tài), Tôi là ai
(Tông Phác), Câu chuyện của lão Huỳnh và con chó (Trương Hiền Lượng), Mãi mãi
là mùa xuân (Thẩm Dung), Tỉnh lại đi, em ơi (Lưu Tâm Vũ)…
Gần gũi với tiểu thuyết “Văn học vết thương” là dòng tiểu thuyết “văn học phản tư” Dựa trên “Quyết nghị của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về các vấn đề lịch sử từ ngày dựng nước đến nay” (1981), các nhà văn có cơ sở để lí giải những vấn đề khó nói, có điều kiện chạm đến những “vùng cấm” mà xưa không được
mô tả Không dừng lại ở việc mổ xẻ vết thương, nghiêng về phơi bày những đau khổ trong những năm tháng động loạn, dòng “văn học phản tư” hướng về việc truy tìm căn nguyên của nỗi đau khổ, đi tìm những khuất mắc chưa có lời giải đáp, chỉ ra nguyên nhân đã đưa đất nước Trung Hoa đi tới bờ vực thẳm Dòng “văn học phản tư” nhìn nhận lại luồng gió “tả khuynh”, những sai lầm trong đường lối “Đại nhảy vọt”,
“Chống phái hữu”, “Cuộc đấu tranh chống phái đi theo con đường Tư Bản”… Hầu hết các tiểu thuyết thuộc dòng văn học này đều thể hiện mong muốn mọi người hãy suy nghĩ lại một cách thấu đáo, cặn kẽ lịch sử để bi kịch không bao giờ tái diễn trên
đất nước Trung Hoa Những tác phẩm tiêu biểu: Câu chuyện bị cắt xén lầm của Như
Chí Quyên, Cây hợp hoan củaTrương Hiền Lượng, Truyền kì núi Thiên Vân của Lê
Trang 16thuật của văn học phương Tây Một xã hội tồn tại như một mớ hỗn độn, con người luôn mang tâm thế hoang mang, bất ổn, luôn loay hoay tìm mặt này rồi mặt khác để
hiểu bản thân mình Đó cũng chính là sự gặp gỡ nhau ở những tác phẩm Cây hợp
hoan, Một nửa đàn ông là đàn bà, Thành phố không mưa, Thị trấn phù dung… Văn
học còn hướng tới khôi phục giá trị đích thực của con người, đề cao tính người như
Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ, Hồ Điệp của Vương Mông, Cây hợp hoan, Một nửa
đàn ông là đàn bà…
Truyện vừa Cây hợp hoan và tiểu thuyết Một nửa đàn ông là đàn bà của nhà
văn Trương Hiền Lượng vẫn không thể phân tách một cách rõ ràng là thuộc dòng
“văn học vết thương” hay dòng “văn học phản tư” Tác phẩm đã thể hiện rất rõ thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật, về vết hằn lao cải đóng dấu lên thân xác và tinh thần họ Bên cạnh đó, tác giả suy ngẫm về một thời động loạn đã qua để nhìn nhận lại
bản chất xã hội và con người
Một chủ đề nữa mà tiểu thuyết đặc biệt quan tâm, đó là miêu tả công cuộc cải cách mở cửa, đưa xã hội thoát khỏi tâm thế bị kìm kẹp Trong công cuộc cải cách ở nông thôn và thành phố, đã phát hiện ra những tàn dư của chế độ cũ, phát hiện ra mâu thuẫn của thể chế kinh tế chính trị, không phù hợp với yêu cầu của thời đại, phản ánh
sự điều chỉnh kịp thời Những tiểu thuyết của Tưởng Tử Long, Hà Sĩ Quang, Khả Vân Lộ, Trương Khiết, Lý Quý Văn, Trương Hiền Lượng… những tác phẩm phản ánh công cuộc cải cách làm thay đổi phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, thay đổi
quan điểm suy nghĩ của mọi người: Thanh âm mùa xuân (Vương Mông), Trăng núi
không hiểu chuyện thầm kín (Chu Khắc Cần), Phong cách nam nhi (Trương Hiền
Lượng)…
Xu hướng đổi mới của văn học đương đại đã tạo nên một diện mạo mới cho văn đàn Trung Quốc, xuất hiện nhiều phong cách mới lạ, độc đáo,Trương Hiền
Lượng là một tác giả tiêu biểu
1.2 Nhà văn Trương Hiền Lượng và cuộc Đại cách mạng văn hóa
Cuộc Đại cách mạng văn hóa kéo dài mười năm (1966- 1976) đã đưa lịch sử đất nước Trung Hoa trở về với thời trung cổ đầy tối tăm Cuộc Đại cách mạng văn
Trang 17hóa do Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 năm
1966, nhằm loại bỏ những phần tử “tư sản tự do” nhưng thực chất ông muốn lấy lại thanh danh và quyền lực sau cuộc “đại nhảy vọt” bị thất bại về kinh tế, một lần nữa
xã hội Trung Quốc ngày càng lấn sâu hơn vào sự khủng hoảng trầm trọng Mao Trạch Đông ngày càng muốn khẳng định quyền lực chính trị của mình trong Đảng so với đối thủ Lưu Thiếu Kỳ và loại bỏ những bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình, Bành
Đức Hoài…
Đây là một sự kiện lịch sử lớn tác động đến tất cả mọi giai tầng trong xã hội, đặc biệt trừng phạt và cô lập giới tri thức, giam cầm họ trong một thứ tù không kì
hạn, mất hẳn sự tự do Cuộc Đại cách mạng văn hóa đã làm đảo lộn mọi thang bậc,
giá trị trong xã hội
Một xã hội tràn ngập không khí khủng bố, thất điên bát đảo, một xã hội bao trùm sự ngột ngạt lên mọi người, hiện lên từng khuôn mặt của người đi tố giác, kẻ bị
tố giác, người đi tù, kẻ coi tù, tù đàn ông, tù đàn bà, đi đâu cũng đấu tố, con người bị đọa đày với những suy tư, vật vã và nhiều trăn trở
Đại cách mạng văn hóa đã tác động đến mọi giai tầng trong xã hội, từ những
người bần nông ít học đến những người tri thức, từ đàn ông, đàn bà đến người già, người trẻ, tất cả đều bị cuốn vào những phong trào đấu tố, xét lại… khi nhìn vào đó người ta thấy rất rõ những sai lầm đến mức ấu trĩ
Nhà văn Trương Hiền Lượng là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền văn học đương đại Trung Quốc Trương Hiền Lượng sinh năm 1936 tại Nam Kinh, quê ở Giang Tô Ông tốt nghiệp trường trung học năm 1954 vào 18 tuổi Khi người cha mất, ông trở thành người đàn ông trụ cột trong gia đình Ông cùng mẹ và em gái rời khỏi Nam Kinh đến Ngân Xuyên, Ninh Hạ làm giáo viên trường văn hóa cán bộ Mảnh đất Ninh Hạ đã thu hút chàng trai trẻ, là nơi ươm mầm tài năng nhà văn Trương Hiền Lượng Tại đây, ông bắt đầu sáng tác, ông nghĩ “viết văn là cách tốt nhất để bộc lộ suy nghĩ của mình” Không bao lâu, ông đã trở thành một nhà thơ tiêu biểu, nổi tiếng ở Trung Quốc
Năm 1957, bài thơ Đại phong ca in trên nguyệt san Diên Hà, đã thể hiện sự
hăng hái, nhiệt huyết của tuổi thanh niên, thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của dư luận
Trang 18nhưng cũng chính bài thơ này, Trương Hiền Lượng bị chụp mũ “hữu phái”, bị đem ra phê phán Ông bị lưu đày suốt 20 năm ở Trấn Bắc Bảo thuộc một địa phận tỉnh Ninh
Hạ, nằm ở hướng Tây - Bắc Trung Quốc Đây là một vùng đất xa xôi, hẻo lánh, chỉ
có tiếng gió là một nét rất riêng biệt của vùng sông Hoàng Hà: “Ngẩng đầu lên ngó mênh mông - chỉ nghe tiếng gió đầu đông thổi về” Ông bị cắt đứt mọi mối quan hệ với bên ngoài, sống lạc lõng ngay trong chính xã hội mà ông luôn tôn thờ Mãi đến năm 1979 ông mới được minh oan và được trả tự do Có một lần nói chuyện với Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc, ông đã bộc bạch chia sẻ: “Tôi cảm thấy rất tự hào, vì tôi cùng một vận mệnh với dân tộc Trung Hoa Lúc cá nhân tôi gặp chuyện không may, nông dân, cán bộ và trí thức gặp phải chuyện tan nát nhà cửa, lạc vợ xa con, mất
tự do, thậm chí mất tính mạng, tôi vẫn phải coi là người may mắn, là người may mắn sống sót”
Khi Trung Quốc đang có dấu hiệu chuyển mình, dần dần có những dấu hiệu thay đổi, thực hiện chính sách cải cách mở cửa Sau hơn hai mươi năm treo bút, Trương Hiền Lượng quay lại sáng tác với tất cả niềm say mê, nhiệt huyết của mình Mỗi trang văn, mỗi tác phẩm đều gắn liền với những bước thăng trầm của vận mệnh dân tộc Nhìn lại chặng đường đã xảy ra trong cuộc đời mình, sống trong một thời đại bon chen, vật lộn, tranh giành, toan tính và loạn lạc, rối ren, sống trong một bầu không khí u ám, ngưng đọng Trương Hiền Lượng đã nhìn, đã nghe và hơn hết đã trải nghiệm giúp tích lũy cho những tác phẩm của mình Những tác phẩm đó rất tiêu biểu cho dòng “văn học vết thương”
Trương Hiền Lượng có một niềm say mê đối với hai nền văn học Pháp và văn học Nga Ông luôn bồi đắp cho mình một nền tảng vững chắc về văn hóa cổ điển Trung Quốc Trong hơn hai mươi năm tù đày, ông vẫn không ngừng suy nghĩ, ông chuyên tâm nghiên cứu triết học, chính trị kinh tế học Mác - xít, điều này để lại dấu
ấn sâu đậm trong những tác phẩm của ông sau này Ông đã chăm chỉ rèn luyện để trở thành một con người chân chính và một nhà văn chân chính
Ông khai thác, thu lượm nhiều chất liệu cho tác phẩm của mình, ông không viết chuyện xa lạ, lớn lao mà hầu như đó là những câu chuyện xảy ra xung quanh mình, như cái ăn (thực), sắc (đàn bà)… Đọc truyện của Trương Hiền Lượng, ta thấy
Trang 19rõ ràng trọn vẹn một nước Trung Quốc ngày ấy, ngột ngạt không thể chịu đựng mãi được, buộc con người phải thay đổi Mỗi câu chuyện không chỉ là một cảnh đời mà còn là vận mệnh của một đất nước với ý nghĩa triết học, xã hội lớn lao: “Nếu khi tôi mới bắt đầu viết tiểu thuyết, chỉ phản ánh số phận cá nhân tôi, thì tác phẩm không có giá trị lịch sử lớn, cũng không có sự đóng góp lớn cho xã hội Nhưng, tác phẩm của tôi đã phản ánh trắc trở của dân tộc Trung Hoa chúng ta trong hơn 20 năm” Ông luôn trăn trở, suy nghĩ về một thời kì lịch sử của dân tộc Đó cũng là chủ đề xuyên suốt cuộc đời ông vì hơn ai hết ông chính là nạn nhân của những đường lối sai lầm, ấu trĩ một thời, dù bằng lòng hay không bằng lòng thì số phận của cá nhân ông đã gắn chặt với số phận của đất nước ông
Dù được tự do nhưng ông vẫn tiếp tục ở lại nông trường và sáng tác, khi ông
gửi bài viết số ba, số phận của ông cũng thay đổi từ đây, đó là tiểu thuyết Cụ Hình và
con chó nhỏ đã vinh dự được đạo diễn Tạ Tấn chuyển thể thành phim Cụ già với con chó Trương Hiền Lượng liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị, để lại những ấn tượng độc đáo trong lòng độc giả và cả sự quan tâm của giới phê bình Hai truyện
ngắn Hồn và Xác và Xéc-pu-lắc lần lượt giành được giải thưởng “Truyện ngắn ưu tú” toàn quốc năm 1980 và năm 1983 Không chỉ dừng lại ở đó, tác phẩm Cây hợp hoan
đã đem lại niềm vinh dự cho nhà văn, khi giành được giải thưởng “Truyện vừa ưu tú” toàn quốc lần thứ ba Nhà văn Trương Hiền Lượng hăng say và hoạt động sáng tạo
không ngừng, ông tiếp tục cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết Một nửa đàn ông là
đàn bà, được đánh giá là một trong một trăm cuốn tiểu thuyết có ảnh hưởng nhất
trong một trăm năm qua Cuốn tiểu thuyết này cùng với truyện ngắn Nụ hôn đầu và cuốn truyện vừa Cây hợp hoan đã hợp thành cuốn Lịch trình tình cảm, tức tập một của bộ ba Những điều gợi ý của một người duy vật đã được xuất bản 60.000 bản
thường và 12.000 bản bìa cứng, được Nhà xuất bản Tác gia xuất bản tại thành phố
Bắc Kinh vào năm 1985 Cuốn sách này được xếp vào tủ sách Kho tàng tiểu thuyết
đương đại
Không bằng lòng với cách miêu tả rập khuôn, công thức, Trương Hiền Lượng
đã bắt kịp dòng với xu hướng chung của thời đại, ông đã xây dựng nên những hình tượng văn học điển hình, tiêu biểu Ông xây dựng nên hình tượng Trần Bảo Thiếp
Trang 20trong Phong cách nam nhi, một kiểu nhân vật trầm tư và phản tỉnh, ít nhiều mang khí chất của nhà văn
Ngòi bút của Trương Hiền Lượng tỉnh táo, sắc bén.Ông vừa kế thừa những truyền thống văn học tốt đẹp vừa có những cách tân rất mới mẻ, táo bạo Ông đi ngược lại với cách miêu tả phiến diện, công thức, một chiều Ông không né tránh hiện thực, mà hiện thực càng đau khổ bao nhiêu thì càng phải nhìn thẳng vào nó mà
phản ánh, ông mạnh dạn phê phán hiện thực xã hội trong cuộc Đại cách mạng văn
hóa Ông đã phát hiện ra một vẻ đẹp “không hoàn chỉnh” trong vết thương đau khổ, ở
nơi người ta nhìn vào chỉ thấy nỗi đau khổ, chỉ thấy vết thương thì Trương Hiền Lượng lại phát hiện ra “cái đẹp của vết thương” Đó cũng là mục đích cá tính nghệ thuật của Trương Hiền Lượng
Hiện nay, nhà văn Trương Hiền Lượng giữ chức Phó chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật tỉnh Ninh Hạ, kiêm chủ tịch Hội nhà văn Ninh Hạ, đồng thời là ủy viên Đoàn chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc Có lần nhìn lại chặng đường đã qua,
ông tự nhủ với chính mình: “Bản thân tôi có cảm nghĩ rằng mình có thể nói là một
con người sôi nổi và kiên định Bất cứ lúc nào, tôi cũng có một niềm tin vững như bàn thạch đối với tổ quốc tôi, đối với dân tộc vĩ đại của chúng tôi Niềm tin ấy có được không hoàn toàn nhờ sách vở mà phần lớn nhờ thể hội trong cuộc sống gian nan khốn khổ của mình”
[24, tr.8]
Trương Hiền Lượng không chỉ biết đến với tư cách là một cây bút có sức hút
mà còn được biết đến như một thương nhân giàu có Ông mở một trường quay tại miền tây Trấn Bắc Bảo, ông đã biến một vùng đất hoang vu thành một vùng phong cảnh đạt chuẩn cấp quốc gia
Trương Hiền Lượng là một nhà văn tài năng của nền văn học đương đại Trung Quốc, ông là một trong mười người vinh dự nhận được danh hiệu “Nhân vật văn hóa kiệt xuất” vào năm 2004
1.3 Cơ sở hình thành loại hình nhân vật
Trang 21Trung Quốc là một quốc gia tồn tại rất nhiều tôn giáo khác nhau và mỗi triều đại lại chọn cho mình một tôn giáo để thống trị đất nước: Đạo gia với đường lối “vô vi”, Mặc gia với đường lối “kiêm ái, hỗ lợi” không đáp ứng được quyền lợi của giai cấp thống trị, Pháp gia với đường lối trị nước bằng luật, ban hành những điều luật hết sức nghiêm ngặt nên cũng có kết cục bi thảm Riêng đạo Nho của Khổng Tử hướng tới nguồn gốc của sự bình an hơn là dùng hình phạt để đe dọa Mục đích của đạo Nho
có tính giáo hóa: vua - tôi có nghĩa, cha - con có tình thân, chồng - vợ có phân biệt, anh - em có trật tự với nền tảng chế độ tông pháp Các triều đại phong kiến Trung Quốc trong lịch sử dù tồn tại với những hình thức khác nhau song đều tồn tại dựa trên chế độ tông pháp của nhà Nho Trung Hoa là một quốc gia có lịch sử hàng ngàn năm gắn liền với sự ra đi, phồn thịnh và độc tôn của Nho giáo Cùng với chế độ tông pháp thì không nơi nào trên thế giới vai trò của người đàn ông lại được đề cao, xem trọng như ở Trung Quốc
Ngay từ thời cổ đại Trung Quốc đã bắt đầu xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ nhưng không tồn tại dưới một hình thức bình thường như những quốc gia khác trên thế giới, mà đó là hình thức tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ gia trưởng, trong đó đặc biệt xem trọng vai trò của tông tộc Quan hệ tông tộc được áp dụng rộng rãi trong nhiều mối quan hệ khác nhau từ lĩnh vực chính trị đến việc chi phối nhiều mối quan
hệ trong xã hội Quan hệ tông tộc được duy trì qua nhiều triều đại, từ đời Nghiêu Thuấn cho đến đời Hạ, Thương Quan hệ này phát triển mạnh mẽ vào thời đại nhà Chu bằng cách xây dựng chế độ tông pháp Nhà Chu đã bắt đầu mở rộng sự ảnh hưởng của họ mình sang những họ khác, thiết lập một trật tự theo mối quan hệ: Thiên
tử - chư hầu - Khanh - Đại phu - Sĩ Chế độ tông pháp ngày càng được củng cố và mở rộng, ăn sâu vào các mối quan hệ, được xây dựng trên tinh thần xác lập vai trò, vị trí của phụ quyền gia trưởng, đứng đầu là vai trò của người đàn ông, đặc biệt là con trai trưởng Sử sách ghi chép rằng “Chu Vương truyền ngôi cho con trai trưởng kế thừa” Những mối quan hệ này dựa trên quan hệ huyết thống để phân biệt đẳng cấp trên - dưới, vừa ràng buộc mọi người trong họ lại với nhau bằng tình cảm máu mủ
Nho giáo được chính quyền Trung Quốc trọng dụng, đã đi vào tâm thức của người dân một cách rất tự nhiên Nho giáo được Khổng Tử kiên quyết duy trì chế độ
Trang 22tông pháp đến cùng nhằm mục đích hướng tới một xã hội có tôn ti, trật tự Theo Khổng Tử, tất cả mọi thứ đều có thể thay đổi, duy nhất có chế độ tông pháp là phải
duy trì, phải giữ nguyên giá trị của nó, “Thân thân dã, tôn tôn dã, trưởng trưởng dã,
nam nữ hữu biệt, thử kì bất khả đắc dã dan biến cách giả dã” (Thân cận với người thân, tôn quí bậc tôn quí, giữ lễ với bậc huynh trưởng, cùng với sự phân biệt nam nữ thì không thể đổi khác được” [31, tr.120]
Sau này, chế độ tông pháp có phần bị lung lay, hàng loạt phong trào đốt sách Nho, giết các nhà Nho xảy ra ở triều đại nhà Tần với chính sách, đường lối cai trị của Pháp gia, xây dựng một chế độ quân chủ trung ương tập quyền nhưng chế độ tông pháp không vì thế mà bị tiêu diệt, bằng chứng xác thực nhất là chế độ tông pháp được duy trì qua nhiều chế độ khác nhau, xã hội Trung Quốc chưa bao giờ đi trật đường ray của trật tự đó Muốn thống trị xã hội được yên ổn, điều quan trọng phải duy trì cho được tôn ti, vua phải ra vua, bề tôi phải ra bề tôi Đặc biệt, trong dòng họ xác định vai trò của người đàn ông, vị trí của con trai trưởng Nhà Nho có những quy định cách ứng xử cho các thế hệ, những quy định như Cửu tộc, Ngũ phục càng khẳng định mối quan hệ khắng khít, bền vững của những người cùng huyết thống với nhau,
càng khẳng định hơn tầm quan trọng của chế độ tông pháp Cho nên Đại truyện trong
Lễ kí đã có một giải thích rất logic, “Thân cận với người thân cho nên kính trọng tổ
tiên, kính trọng tổ tiên cho nên kính trọng tông pháp, kính trọng tông pháp cho nên
có thể qui tụ người cùng họ, qui tụ người cùng họ cho nên tông miếu uy nghiêm, tông miếu uy nghiêm cho nên coi trọng xã tắc, coi trọng xã tắc cho nên thứ dân được yên
ổn, thứ dân được yên ổn thì của cải đủ, của cải đủ và nam nữ hữu mọi ý chí đều được thực hiện, mọi ý chí đều được thực hiện thì lễ phục được định hình, lễ phục được định hình thì sau đó sẽ được yên vui” [31, tr.121] Giữ gìn trật tự trên dưới là một cách
tránh sự lộn xộn, tranh giành Đó là cách lấy gia đình thuận hòa làm mẫu để xây dựng xã hội thái bình, trật tự, ổn định Tất cả suy cho cùng cũng chính vì mục đích ấy
nên Nho giáo đã tìm ra một điểm tựa làm đòn bẩy một phần lớn người trong xã hội Tông pháp lập nên với mục đích cho con người biết được nguồn gốc của mình Cũng
vì vậy mà theo thời gian, qua tới triều đại nhà Hán, chế độ tông pháp càng được trọng dụng củng cố và phát triển, phù hợp với cách trị nước của thiên tử, vẫn lấy tư tưởng,
Trang 23“Thân thân, tôn tôn, trưởng trưởng và nam nữ hữu biệt” làm cơ sở tư tưởng của
mình
Trong gia đình, Nho giáo đề cao vai trò của người cha trong mối quan hệ cha - con Người cha có một vị trí quan trọng hơn người mẹ, cha là bề trên của con cái, cha sinh ra con cái, cho nên trong tư tưởng xã hội thời ấy, mất cha đem lại điều bất hạnh lớn trong gia đình hơn là mất mẹ Cha là trời của con, là giềng mối của việc giáo hóa con cái Chính vì vậy mà đòi hỏi trách nhiệm của người con đối với cha, phải phục tùng cha, theo mệnh lệnh của cha một cách tuyệt đối Người con làm được điều đó mới là người có nhân, nghĩa, lễ, tín Việc đề cao vai trò của người cha trong gia đình cũng là cách duy trì chế độ tông pháp ngày một bền vững hơn Trong mối quan hệ chồng - vợ, Nho giáo lại đề cao vai trò của người chồng Nhìn chung quyền lợi và địa
vị của người vợ lúc nào cũng thấp kém hơn người chồng, phụ nữ phải có trách nhiệm
“tề gia” theo quan niệm “gia có tề thì xã hội mới được yên trị” Ngoài ra, người vợ còn phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của người chồng, điều này càng khẳng định
uy quyền của người đàn ông trong gia đình
Nho giáo muốn xây dựng được một xã hội lí tưởng, phải có những con người thật sự lí tưởng để phụng sự Mà con người có lí tưởng theo quan niệm của đạo Nho
là người “quân tử”, người “quân tử” chỉ có thể là đàn ông nên đã có hai cặp phạm trù đối lập giữa “quân tử” với “tiểu nhân” Đạo Nho ví người phụ nữ ngang với những kẻ tiểu nhân, khó dạy, dễ bị sai khiến, an phận với cảnh nghèo, với địa vị là người bị cai
trị, “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã Cận chi tắc bất tồn, viễn chi tắc oán”
[31, tr.25] (Chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó ở cho vừa lòng Gần họ thì họ khinh
nhờn, xa họ thì họ oán trách) Tư tưởng trọng nam khinh nữ còn được thể hiện “Gặp
nàng hầu, để sinh con đẻ cái với mình, không có lỗi” [31, tr.89] Người phụ nữ không
được coi là đối tượng giáo dục của Khổng Tử vì không xem họ là chủ nhân của gia đình và xã hội
Có thể nói xã hội Trung Quốc là một xã hội nam quyền với quan điểm Nho
giáo là quốc giáo Trong đó, mối quan hệ dòng họ là mối quan hệ cơ bản, bền vững, chắc chắn nhất Đứng đầu gia đình là người đàn ông, là người được thừa nhận chủ trì trong việc thờ cúng tổ tiên, người giữ các mối quan hệ trong dòng tộc Họ phải đối
Trang 24diện với những áp lực mà không có lí do gì để thoái thác Vai trò người đàn ông tập trung vào ba phương diện về kinh tế, chính trị và cuộc sống Về kinh tế phải làm thật giỏi, kiếm thật nhiều tiền Về chính trị, họ phấn đấu để khẳng định vị trí của mình trong xã hội Về cuộc sống, họ là chỗ dựa vững chắc cho mọi thành viên trong gia đình Vai trò của người đàn ông, ngoài sự ủng hộ tuyệt đối của thiết chế xã hội, còn trở thành một nét tâm lí phổ biến kéo dài từ thời này sang thời khác
Bên cạnh đó chúng tôi nhận thấy, cuộc đời của nhà văn Trương Hiền Lượng cũng chính là “chất liệu” để ông xây dựng nên hình tượng người nam nhi ít nhiều mang khí chất và tư tưởng của nhà văn Qua tác phẩm thể hiện rất rõ quan niệm của Trương Hiền Lượng về người nam nhi
Người nam nhi dưới ngòi bút của nhà văn Trương Hiền Lượng bất luận trong hoàn cảnh nào cũng thể hiện được nghị lực, bản lĩnh, sự thông minh và tài trí của mình Đồng thời, với cây bút hướng nội càng làm cho hình tượng nam nhi luôn độc thoại để suy nghĩ, khám phá nội tâm của chính mình, thể hiện nhiều suy tư triết lí về cuộc đời Hình tượng nam nhi là một mẫu hình mà nhà văn muốn hướng tới
1.4 Chân dung người nam nhi trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng
Chất suy ngẫm và triết lí làm cho tính cách nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Trương Hiền Lượng càng trở nên phức tạp Đó là nhân vật người lái xe, người tù lao cải, công nhân nông trường, anh cán bộ giảng dạy triết học… Trong các sáng tác của mình, Trương Hiền Lượng đặc biệt thành công khi viết về người nam nhi Bằng tài năng, bản lĩnh và sự trải nghiệm của bản thân giúp ông nắm bắt được những chuyển biến tinh vi trong thế giới nội tâm nhân vật Mỗi nhân vật là một nét tính cách hoàn toàn riêng, tạo nên nguồn hứng thú lớn ở người đọc
Tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà được viết sau cuộc Đại
cách mạng văn hóa nhưng nó đã được hun đúc trong thời kì lịch sử đen tối, rối ren
Tác phẩm đã đem đến cho văn đàn Trung Quốc những hình tượng nam nhi độc đáo
Đó là hình tượng nam nhi Chương Vĩnh Lân bị quản thúc ba năm vì viết “Nhật kí
phản động”, trong phong trào “Giáo dục xã hội chủ nghĩa”, anh bị đưa đi cải tạo lao động ba năm vì tội “phái hữu lật lại án” Khi hết hạn cải tạo, về lại nông trường, anh
cảm nhận hết cái tự do từ trong tinh thần và thân phận thể xác của chính mình
Trang 25Nông trường lao động là một vùng hẻo lánh, nhà cửa vô cùng ọp ẹp với những bức tường đất bong tróc, hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài Người tri thức
“vật lộn” với cái ăn và ở Họ dùng trí tuệ làm “cần câu cơm”, dùng mọi tính toán, mánh khóe nhằm đạt được mục đích Con người trở nên sa đọa, lúc đói làm cho con người ta trở nên đê tiện nhưng lúc no cũng khiến họ bị giày vò không kém
Tác phẩm Cây hợp hoan tái hiện nạn đói năm 1959 - 1961 do đường lối “tả
khuynh” gây nên Tác phẩm thành công khi khắc họa được những giằng xé trong nội
tâm nhân vật Chương Vĩnh Lân, “cơn đói giày vò anh, lương tri khiển trách anh, lí
tưởng vẫy gọi anh, tâm trạng anh lúc nào cũng ở trạng thái mâu thuẫn giữa cái sống
và cái chết” [39, tr.246] Họ đều là những con người nghèo khổ trước sức ép của
cuộc sống, không có quyền và điều kiện để thực hiện ước mơ, họ rơi vào tình trạng bi kịch Nhân vật của nhà văn Trương Hiền Lượng luôn đau đớn, tự vấn lương tâm Hoàn cảnh sống đã làm thay đổi con người nhưng cho dù có ngột ngạt, bế tắc vẫn hé
mở một ánh sáng, một niềm tin mơ hồ về tương lai Họ nhận ra không thể sống mãi như vậy được, cần phải thay đổi Đứng trước hoàn cảnh đầy bão táp, họ tự tìm hướng giải quyết cho riêng mình
Hứa Linh Quân trong tác phẩm Linh hồn và thể xác cũng là nạn nhân của cuộc
Đại cách mạng văn hóa Anh bị tổn thương, bị chà đạp, bị giày vò ghê gớm Anh đã
tìm đươc sự “gột rửa” tinh thần và thể xác khi sống hòa mình với những người lao động, sống hòa mình vào thiên nhiên Từ đây, anh từ bỏ giai cấp xuất thân của mình, thay đổi hoàn toàn quan niệm sống
Nhà văn Trương Hiền Lượng đã mạnh dạn “bóc trần” những mặt tối của cuộc sống, những vết thương cần được che giấu, nay được nhà văn phơi bày Ông đã phản ánh rất cụ thể, chi tiết, chân thực về bi kịch thời đại của người trí thức và qua đó tỏ rõ thái độ sắc bén, dữ dội Ngòi bút của Trương Hiền Lượng là ngòi bút hiện thực sắc sảo
Trương Hiền Lượng đã bắt kịp dòng với xu hướng chung của thời đại, có những đổi mới về thi pháp viết tiểu thuyết Ông phản ánh sự đổi thay của xã hội, miêu tả trực diện những xung đột trong cải cách kinh tế, chính trị, miêu tả cuộc tranh đấu nảy lửa giữa thế lực cấp tiến và bảo thủ Ông xây dựng nên hình tượng nam nhi
Trang 26trong cải cách Đó là hình tượng Trần Bảo Thiếp có khao khát trong chính trị, có ước
mơ cải tạo xã hội Nhân vật luôn tin vào sức mạnh của lí trí
Tầm sâu sắc của nhà văn ở chỗ, qua những biểu hiện cụ thể của cuộc sống, của tâm trạng con người trong tác phẩm, ông muốn đi đến nhận thức rất rõ bản chất xã hội đang đi xuống dốc của sự suy tàn Ông phát hiện ra “cái đẹp còn khiếm khuyết” Ông có thể từ chỗ người khác chỉ thấy đau khổ mà nhìn thấy “cái hoan lạc trong đau khổ”, từ chỗ người khác chỉ thấy vết thương mà nhìn thấy “cái đẹp trong vết thương”
Tiểu kết chương 1
Hai mươi năm bão tố cuộc đời đã giúp nhà văn Trương Hiền Lượng có cái nhìn trầm tư và phản tỉnh, nhìn lại chặng đường lịch sử của đất nước mình với một thái độ
độ lượng, không oán trách
Vai trò của người đàn ông trong xã hội Trung Hoa đã trở thành cơ sở để ông
xây dựng nên những hình tượng nam nhi trong tác phẩm của mình Những thăng trầm
mà nhà văn đã trải qua được tái hiện lại một cách trọn vẹn nhất qua hình tượng người nam nhi, ít nhiều mang khí chất và tư tưởng của nhà văn
Trang 27C HƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NAM NHI VỚI VẺ ĐẸP TÂM HỒN
VÀ BI KỊCH TINH THẦN
Tác phẩm văn học là mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức Tác
phẩm văn học không thể thiếu nhân vật, “Nhân vật văn học là con người được miêu
tả trong tác phẩm Chức năng của văn học là khái quát những qui luật của cuộc sống con người,thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kì vọng về con người Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và thể hiện quan niệm về các cá nhân đó Nói cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan điểm về chúng” [30, tr.277-279] Khi xây dựng
nhân vật, nhà văn gửi gắm bao lí tưởng, ước mơ và quan trọng hơn cả là thông qua nhân vật thể hiện rất rõ quan niệm sống của nhà văn
2.1 Người nam nhi với vẻ đẹp tâm hồn
2.1.1 Người nam nhi giàu cá tính
Người trí thức đã trở thành hình tượng trung tâm trong tác phẩm của Trương Hiền Lượng Người trí thức mang những đặc điểm tâm lí, khát vọng, lí tưởng… Đặc
biệt, chất suy ngẫm mang tính triết lí làm cho tính cách nhân vật của Trương Hiền Lượng trở nên đa dạng, phức tạp
* Trần Bảo Thiếp - thông minh, bản lĩnh
Phong cách nam nhi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Trương Hiền Lượng được độc giả Việt Nam biết đến Trần Bảo Thiếp là hình tượng nhân vật trầm tư và phản tỉnh, ít nhiều mang khí chất tinh thần của bản thân nhà văn Trần Bảo Thiếp có những suy nghĩ độc đáo về công cuộc cải cách mở cửa và có những nhận xét sắc sảo về cuộc
tình duyên trắc trở của mình
Miêu tả trực diện những xung đột trong cải cách thể chế kinh tế, chính trị, miêu
tả cuộc đấu tranh giữa lực lượng cấp tiến và thế lực bảo thủ Ông đã xây dựng một hình tượng điển hình - Trần Bảo Thiếp, đã trở thành niềm tự hào cho một kiểu nam nhi thông minh, bản lĩnh
Trang 28Trần Bảo Thiếp học ở học viện chính trị, say mê tìm hiểu về chủ nghĩa Mác, tiếp xúc với nền văn hóa của Châu Âu Anh đã thật sự bị nhấn chìm bởi khát vọng của tuổi trẻ, bởi hùng tâm tiềm tàng được vun đắp bằng tri thức văn hóa ngày càng mãnh liệt Tất cả mọi vấn đề của cuộc sống hàng ngày như nhà ở, việc làm, giao thông, giáo dục… đã trở thành gánh nặng đặt hết lên vai anh Nó đã trở thành “sứ mệnh lịch sử” mà Đảng và nhân dân tin tưởng đặt vào anh Để cải tạo xã hội, chiến thắng những thế lực bảo thủ, người nam nhi cần những phẩm chất và cương lĩnh hành động khác, Trần Bảo Thiếp là mẫu người có tầm nhìn xa trông rộng trước vòng xoáy
của xã hội, luôn dám thể hiện chính kiến riêng của mình: “Tôi muốn đồng chí hoàn
toàn tín nhiệm tôi, cho tôi cái quyền lập nội các” [25, tr.21] Trần Bảo Thiếp là biểu
hiện của mẫu người nam nhi có ý thức về sự nghiệp
Sự thông minh, bản lĩnh của Trần Bảo Thiếp được đặt trong sự đối sánh với những nhân vật khác Qua cuộc trò chuyện ở nhà Hải Nam, Trần Bảo Thiếp đã thể
hiện được chính kiến rất riêng của bản thân: “Bây giờ trung ương ra sức đề xướng
giải phóng tư tưởng, mà lại bê nguyên si không sót một chữ của Mác, thì dù có thuộc làu làu đi nữa, thoạt nhìn có vẻ rất chính thống, nhưng lại chính là biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều, tư tưởng xơ cứng mà thôi - Vương Ngạn Lâm tái mặt, chốc chốc lại đưa tay sửa kính, chốc chốc lại luống cuống xoa vuốt cúc áo” [25, tr.67] Vương
Ngạn Lâm là một nghiên cứu sinh ở viện trực thuộc bộ của ba Hải Nam nhưng qua cuộc đối thoại kia, ta thấy Vương Ngạn Lâm chỉ là kẻ giáo điều, máy móc, chỉ dựa trên kiến thức sách vở mà có Ngược lại với Vương Ngạn Lâm, Trần Bảo Thiếp có cái nhìn hoàn toàn cơ trí linh hoạt và có phong độ của một nhà ngoại giao
Với cương vị là một bí thư thành ủy của thành phố T, anh luôn có bản lĩnh tự tin và quyết đoán trong mọi công việc Điều này hoàn toàn ngược lại với nhiều người
khác khi có quyền lực trong tay mà lại không dám sử dụng nó, “Anh ta với mình rõ
ràng là hai loại người sống khác hẳn nhau”
[25, tr.130] Tôn Ngọc Chương lúc nào cũng nơm nớp lo sợ Ông là người được nhân dân bầu ra, điều đó đúng với trình tự của pháp luật nhưng nó hoàn toàn
trái ngược lại với thông lệ xưa nay, “Liệu họ có phục tùng không? Những người này
đa số do Ngũ Tích Quý đưa lên, Ngũ Tích Quý đi rồi, vị phó bí thư nọ cũng đi rồi,
Trang 29nhưng tinh thần vẫn ở lại đây, và vẫn có thể điều khiển từ xa” [25,tr.138] Dù suy xét
cho kĩ, năng lực của ông cũng chẳng thua kém gì Ngũ Tích Quý nhưng ông lại luôn
lo sợ một thế lực vô hình Tôn Ngọc Chương luôn phải suy xét, cân nhắc mối quan hệ
giữa các bên, phân tích mọi người xung quanh Tôn Ngọc Chương nhận thấy, “Ông
thấy cần học tập nhân vật mới này Con người này quả có một sức hấp dẫn nào đó”
[25, tr.152]
Cả một thành phố T được thổi luồng sinh khí mới, Trần Bảo Thiếp cần sự tín nhiệm và ủng hộ của nhân dân thì niềm hi vọng sẽ nảy mầm và phát triển, còn nhân dân cần một người lãnh đạo sáng suốt như thế này Có Trần Bảo Thiếp, Tôn Ngọc Chương cảm thấy có sức mạnh khiến ông cũng trở nên kiên cường hơn trước, thế mới thấy ở con người Trần Bảo Thiếp luôn toát ra một nét tính cách thu hút và cảm hóa người khác Trần Bảo Thiếp luôn phát huy tính năng động chủ quan của bản thân chứ không chỉ dựa vào chỉ thị của cấp trên đưa xuống Điều đó chứng tỏ anh là một người
có suy nghĩ độc lập, có tính quyết đoán cao trong công việc Ta bắt gặp khí chất này
ở người nam nhi Trương Tư Viễn trong tác phẩm Hồ điệp của Vương Mông, luôn
trung thành với lí tưởng Đảng, cống hiến hết sức mình cho đất nước
* Trần Bảo Thiếp - hùng tâm, khí phách
Trần Bảo Thiếp sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh chứng kiến bao sự đổi thay của lịch sử Anh quan sát rất kĩ “bộ mặt” của thành phố T, thấy được cảnh người dân bị chèn ép, bị chà đạp, còn kẻ giàu sang quyền quý tha hồ mà lộng hành, sa đọa Anh thấy được sự âm thầm chịu đựng của người dân khi bị đè nén dưới sự quản lí đến vô lí của bộ máy chính quyền thành phố
Trần Bảo Thiếp tự tin trước những việc mình làm, đây là một tố chất của một
vị chính khách, một nhà lãnh đạo Buổi nói chuyện với người dân thành phố T, anh đứng trên bục bằng xi măng đã bỏ lâu ngày, không có sự xuất hiện của công an bảo
vệ, không câu nệ hình thức, không câu nệ việc tổ chức rình rang, ai là công dân của thành phố T từ già đến trẻ, từ những người buôn bán chân lấm tay bùn đến các cấp
lãnh đạo ai muốn tới nghe thì nghe, “Đây là điều chưa từng có trong lịch sử thành
phố này” [25, tr.167] Họ lắng nghe với rất nhiều cảm xúc lúc hồi hộp, lúc hào hứng,
lúc thích thú, “Người ta chưa bao giờ nghĩ rằng, lãnh đạo là đầy tớ của họ Họ không
Trang 30tài nào tưởng tượng việc gắn liền lãnh đạo của họ với cái từ đầy tớ” [25, tr.168] Anh
có một sức hút mãnh liệt tới mọi người bằng một giọng chân thành, một phong thái đầy tự tin, chẳng bao lâu đã gắn kết, giao hòa khán đài với mọi người Anh đã thực sự làm “chấn động” người dân thành phố T
Lúc 8h50 trên sân vận động có khoảng trăm bộ mặt rất quen thuộc nhưng anh vẫn tỏ ra tự tin với giọng điệu chắc nịch trò chuyện với quần chúng, chẳng bao lâu cả
sân vận động đông nghịt người, “Không có những lời lẽ đao to búa lớn, cũng không
phỉnh nịnh mị dân, khác hẳn các vị bí thư trước toàn danh từ chính trị “đấu tranh”cho cái nọ, vì cái kia, kiên quyết đẩy lùi, nghiêm khắc xóa bỏ” [25, tr.176]
Về mặt tổ chức, Đường Tông Từ thành lập phe cánh, những trật tự kỉ cương được thay thế bằng quyền lực vị kỉ cá nhân, xã hội tồn tại bằng những mối quan hệ quen biết Giữa một xã hội ồn ào, sôi động, con người tìm đủ mọi cách để làm giàu, tìm đủ mọi đường để tiến thân Con người ngoi lên bằng quyền lực, dùng quyền lực
để thỏa mãn lòng tham Chính vì vậy, Trần Bảo Thiếp sát hạch cán bộ, Tưởng Kì Sơn
đã bị mất chức giám đốc sở công nghiệp nhẹ Hắn ngồi nhấm nháp cái thời những năm tháng xưa tốt đẹp biết chừng nào Hắn mất chức thì đứa con gái Hương Hương
của hắn cũng mất việc, “Hương Hương tốt nghiệp trung học năm ngoái, thi trượt đại
học, lại đúng vào lúc Trung ương năm lần bảy lượt ra chỉ thị nhắc đi nhắc lại nghiêm cấm cán bộ lợi dụng chức quyền chạy cửa sau trong việc tuyển chọn công nhân viên chức” [25, tr.447] Hắn giở trò mánh khóe, hóa phép đánh đổi với Ngô Quốc Vinh,
nhận cháu gái Ngô Quốc Vinh vào nhà máy giấy, đưa Hương Hương vào nhà máy chế biến thực phẩm của bên thương nghiệp Từ một bậc thần thánh chỉ ăn hoa quả, bổng lộc của người khác phút chốc trở thành kẻ phàm tục, bị giáng xuống hạng thường dân, con cái không có tương lai tiền đồ, hắn đổ lỗi ấy là do Trần Bảo Thiếp
mà ra Sự đố kị là một sức mạnh tàn phá bản thân, tạo nên sự ngả nghiêng về mặt tinh thần, Tưởng Kì sơn tự chuốc lấy sự ghẻ lạnh, sự nhạo báng từ những người hôm qua còn vồ vập, tăng bốc hắn
Đường Tông Từ nghiên cứu rất kĩ bài nói chuyện của Trần Bảo Thiếp để mong tìm được một khe hở nhưng không phát hiện ra một kẽ hở nào, ông bắt đầu ấm ức và tức tối hẳn lên Đường Tông Từ thèm khát cái thành đạt của người khác, biết rõ tính
Trang 31phù du của danh vọng mà vẫn ao ước được mọi người trọng vọng tạo nên những
giằng xé nội tâm dữ dội Theo Đường Tông Từ, Trần Bảo Thiếp là dạng người, “Tay
này ghê gớm lắm” [25, tr.188], “Con người ấy đã về đây thì e rằng từ nay về sau chẳng khi nào dễ thở nữa đâu” [25, tr.191] Chứng tỏ Đường Tông Từ, một người
làm mưa làm gió bao đời nay ở thành phố này đã bắt đầu run sợ, phẫn uất khi có sự
xuất hiện của Trần Bảo Thiếp, “Hắn mới chính là Tào Tháo, đích thị một kẻ đầy dã
tâm chính công” [25, tr.215], Trần Bảo Thiếp đã biến thành cái gai, thành Tào Tháo trong mắt Đường Tông Từ Còn Ngũ Tích Quý, bí thư tỉnh ủy ngày trước đã chuốc lấy sự bất mãn của dân, làm cho người dân mất hi vọng vào bộ máy chính quyền, trong mắt người dân là kẻ chỉ biết bê tài liệu đọc văn bản
Trương Hiền Lượng là một cây bút độc đáo, người nam nhi trong tiểu thuyết của ông được nhìn nhận một cách toàn diện, bị chi phối bởi cuộc sống đa chiều, bởi các mối quan hệ đa dạng và bởi chính cá tính của mình
* Chương Vĩnh Lân nghị lực
Ngày 1 tháng 2 năm 1996, Chương Vĩnh Lân từ thân phận một con người bị cầm tù, giờ là công nhân nông trường hoàn toàn tự do Anh mang tâm thế của con người tự do và điều đáng chú ý là anh ý thức được sự tự do, cảm nhận được nó bằng
cả thể xác và tinh thần, “Ô, hôm nay tôi đã là người tự do Tôi hôn một ngàn lần
mảnh đất này bằng cặp môi nứt nẻ và thâm đen vì thiếu máu” [27, tr.11]
So với những người tri thức đồng hành cùng anh tới nông trường này, đặc biệt
so với tay “chủ nhiệm kinh doanh”, ý thức về sự tự do trong anh càng rõ rệt, cụ thể
hơn: “Tôi còn ưu việt hơn hắn một điểm… hôm nay ý chí của tôi sẽ chi phí tôi” [27,
tr.9] Anh nhận ra, ở đây không có gì để bàn đến một tương lai tốt đẹp Tuy nhiên, đó không phải là một thái độ tới đâu hay tới đó, mà là cả một sự chín chắn, không lấy gì
làm bất mãn: “Tôi đã học được tính nhẫn nhục” [27, tr.15], anh đã dần thích ứng với
hoàn cảnh
Những người tri thức luôn kêu than để nhận sự tiếp tế từ gia đình ChươngVĩnh Lân chỉ còn một người mẹ già yếu ở Bắc Kinh, sống nhờ vào họ hàng nên anh không
hề than vãn, “Tôi không nỡ bóc lột mẹ, vì vậy tôi bắt trí tuệ mình phải làm việc Trí
tuệ của tôi chỉ khoanh lại trong việc kiếm cái ăn thì chắc chắn sẽ kiếm được không ít
Trang 32hơn những thứ do người nhà họ gửi đến” [27, tr.17] Hàng ngày Chương Vĩnh Lân bị
cái đói, nhu cầu của bản năng rượt đuổi, lúc ấy lí trí không làm sao cưỡng lại nỗi nhưng anh chưa bao giờ hết hi vọng, anh tìm ra sợi dây liên hệ gắn kết anh với mảnh đất không lấy gì làm hứa hẹn này
Sống và tiếp xúc với những người lao động anh càng nhận ra ý nghĩa của cuộc sống Khi Chương Vĩnh Lân bị tên “Chủ nhiệm kinh doanh” tố cáo có liên quan đến việc anh xà ích Hỉ bỏ trốn, anh tiếp tục bị “đấu tố”, phải tiếp tục quãng đời lao cải Tám năm sau khi được tự do, anh trở lại nông trường kết hôn với Hoàng Hương Cửu, anh đã tìm được sự hồi sinh và không bớt khao khát, hi vọng
Trương Hiền Lượng nhìn nhận lí tưởng sống của nhân vật với đầy đủ cung bậc Ông đặt trên trang viết của mình vấn đề con người phải xác định cho mình lí tưởng sống Hành trình hai mươi năm gian khổ vẫn không đánh Chương Vĩnh Lân gục ngã khi sự kiên định về lí tưởng vẫn còn
2.1.2 Người nam nhi giàu khát vọng
2.1.2.1 Khát vọng cải tạo chính quyền thành phố T
* Khát vọng tổ chức đời sống cho dân
Trương Hiền Lượng là một cây bút có sức hút, bằng tài năng và bản lĩnh, ông xây dựng kiểu nam nhi điển hình, mang vẻ đẹp của thế hệ mình
Bằng cái nhìn xâu chuỗi, thành phố T là một xã hội Trung Quốc thu nhỏ thời
đó, tồn tại như một tấn trò đời với đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố Người nam nhi trong Phong
cách nam nhi được nhìn từ góc độ cải cách xã hội Trần Bảo Thiếp là một kiểu nhân vật điển hình, là mẫu người nam nhi của khát vọng Trần Bảo Thiếp đi khắp thành phố, đi từ các phố to đến các phố nhỏ, nơi nào anh cũng đặt chân đến Anh chú ý đến cách sống, mối quan hệ của những người nơi này, nhưng đi tới đâu anh cũng cau mày, không hài lòng Từ những câu hỏi rất đơn giản, từ những vấn đề rất nhỏ nhưng
nó đã dần phơi bày ra hết thực trạng quản lí quá lạc hậu, phơi bày những mặt trái vẫn nghiễm nhiên tồn tại ở thành phố này
Đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện thành phố ngày càng trở nên bức thiết, Trần Bảo Thiếp đã mang lại một luồng sinh khí mới cho mọi mặt của đời sống xã hội,
Trang 33củng cố lòng tin của người dân Anh trăn trở tìm ra hướng phát triển cho thành phố
Các hoạt động kinh tế diễn ra tự phát, không theo một định hướng nhất định, “Quái lạ
thật tiền Trung Quốc không bán, lại đòi tiền nước ngoài” [25, tr.151] Một ông già
nhà quê hỏi mua đôi ủng trong cửa hàng nhưng cô gái với thái độ khó chịu không thèm bán với lí do chỉ bán với tiền kiều hối mà không bán bằng tiền Trung Quốc Các
nhà máy sản xuất toàn những người không có chuyên môn, nghiệp vụ quản lí, “Trong
nhà xưởng máy chạy ầm ầm, khắp nơi loảng xoảng tiếng sắt thép, nhưng công nhân thì chẳng tích cực khẩn trương gì, chỗ nào cũng thấy người rỗi rãi dềnh dàng” [25,
tr.154]
Quang cảnh thành phố thật đổ nát, xã hội tự phơi bày những mặt trái của nó Những người thất nghiệp, người muốn đưa con đi chơi, những trai gái muốn hẹn hò,
không có nơi nào khác họ đành phải đến đây, “Tình yêu thì chỉ cần một chỗ bằng cái
chiếu thôi, chỗ bằng cái chiếu ấy ở đâu nhỉ? Khóm cây kia, thì mọc đầy ké độc, cà gai nhọn hoắt! Hay là ở một đám bồ công anh dập gẫy một cái thì đầy nhựa?” [25,
tr.156] Chính quyền thành phố T, thực sự chưa xây dựng được nền tảng vững chắc cho cuộc sống người dân, những mảng tối - sáng của thành phố dần lộ ra rất rõ qua sự quan sát rất tinh tường của Trần Bảo Thiếp Tất cả bức tranh cuộc sống và sinh hoạt luôn khiến Trần Bảo Thiếp băn khoăn, suy nghĩ, luôn đặt ra nhiều thắc mắc và đi tìm
hướng giải quyết: “Chúng ta phải làm gì cho dân? Chúng ta có thể làm được gì cho
dân?” [25, tr.156] Một câu hỏi cứ xoáy đi xoáy lại khẳng định tầm quan trọng, ngọn
nguồn của mọi cải cách bắt đầu từ dân, “Thành phố thì rách nát, nhân dân thì thật
đẹp!” [25, tr.157]
Ở đây, người ta dễ dàng nhận ra sự chênh lệch rất rõ giữa cách sống của cấp lãnh đạo và cuộc sống của thường dân Mỗi người dân phải tự lo lắng cho cuộc sống riêng tư của mình Thành phố T bộc lộ, phanh phui hết tính phi nhân đến trái tự nhiên của nó Việc một người dân ở thành phố T, có chú ruột rất giàu có ở nước ngoài gửi
về cho một chiếc xe ô tô, thế là nó nghiễm nhiên biến thành xe của Ngũ Tích Quý và của Đường Tông Từ Ngay cả khi đứa cháu của người dân đó bị viêm phổi, nhờ mượn xe, phải chờ chỉ thị của cấp trên Bí thư Đường bảo không được mở ra tiền lệ cho bọn người ấy, loại xe này không phải hạng người nào cũng leo lên ngồi được
Trang 34Một thành phố tồn tại đầy rẫy những con người lợi dụng cơ hội, chức quyền, thủ đoạn, sẵn sàng dẫm đạp lên người khác để tư lợi về mình Họ điển hình cho sự suy thoái đạo đức trong xã hội, nạn tham nhũng đang len lỏi, ăn sâu vào trong tế bào của một bộ phận không nhỏ cán bộ trong thời kì cải cách mở cửa Quan sát tận mắt hiện thực xã hội, Trần Bảo Thiếp nhận thấy sự công bằng, quyền lợi của người dân từ lâu
đã không còn được tôn trọng, bị tước đoạt, bị xâm phạm, “Anh Tôn này, thu lập tức
chiếc xe ấy lại, chuyển cho công ty xe khách làm tắc xi cho thuê,phục vụ nhân dân toàn thành phố” [25, tr.246]
Ngòi bút của Trương Hiền Lượng phanh phui, mổ xẻ tài tình để thấy cuộc sống của người dân với nhiều vấn đề nan giải, từ giao thông, kinh tế, việc làm… người dân phải đối mặt với một cuộc sống nặng nề, trì trệ và đầy biến động Nhìn ở góc độ xã hội, cuộc sống con người thật rối ren, phức tạp, ấy vậy mà con người trong xã hội ấy cùng một lúc được đặt trong nhiều mối quan hệ, tự đặt ra cho mình nhiều bài toán khó nếu không giải quyết được hậu quả sẽ rất nặng nề Nếu trước kia cách làm củaNgũ Tích Quý chỉ nắm trung tâm, nắm một điểm, thì Trần Bảo Thiếp nắm tất cả, đồng bộ mọi mặt khi quản lí thành phố Anh làm cho các nhà máy thua lỗ trước kia hoạt động trở lại, biến thua lỗ thành có lãi, cho thực hiện chế độ khoán ở xí nghiệp,
mở rộng mức tiêu dùng của người dân, không hạn chế sự tiêu dùng của họ như trước
đây nữa khi người dân có tiền mà không biết sử dụng vào đâu: “làm được nhiều tiền
như vậy cũng chẳng để làm gì, không có chỗ tiêu, tiền nhiều rồi cũng thấy chán” [25,
tr.164] Anh cho xây dựng nhà chờ xe buýt, nhà vệ sinh công cộng, xây dựng trạm cung cấp nước, cung cấp rau xanh cho người dân…
Trần Bảo Thiếp kiên quyết thực hiện các quyền tự do cho công dân, trong đó quan trọng nhất là tự do ngôn luận và tự do tư tưởng Với Trần Bảo Thiếp không có
gì đáng ghét bằng việc đè nén tinh thần, không cho con người nói lên ý nghĩ thật của
họ Một trong những lí tưởng cao nhất của xã hội là tạo ra sự bình đẳng trong xã hội Anh thực hiện điều đó bằng việc mở ra ngày tiếp dân Chế độ tiếp dân đã được thực
hiện từ thời của Ngũ Tích Quý và Đường Tông Từ nhưng chưa được mấy buổi đã chán ngán không kiên trì nữa,cuối cùng bỏ luôn không kèn không trống, “khi Ngũ
Trang 35Tích Quý tiếp quần chúng, người ta mới nói được mấy câu, đã trả lời luôn: Được rồi việc này anh đi gặp ông Vương nhá, việc này thì đi gặp ông Lý nhá” [25, tr.353]
Với Trần Bảo Thiếp chế độ tiếp dân là một cách thể hiện cao quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngày tiếp dân đã có tác dụng quan trọng trong phát triển kinh tế và thực hiện chính sách ở thành phố T Nhờ lắng nghe ý kiến của dân, được người dân tin tưởng thể hiện nguyện vọng của mình cho cấp lãnh đạo một cách thoải mái Trần Bảo Thiếp đã làm được rất nhiều điều cho dân như mở cửa hàng ăn uống phục vụ dân, giải quyết việc làm cho thanh niên thất nghiệp, tạo điều kiện cho thanh niên học nghề… Trần Bảo Thiếp vẫn tiếp tục duy trì ngày tiếp dân, dựa vào nó để thực hiện những cải cách xã hội
*Khát vọng sử dụng người tài
Trí thức là nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thành phố T Trần Bảo Thiếp muốn thực hiện công cuộc cải cách, điều tất nhiên phải biết sử dụng người tài trong một êkip lãnh đạo mới Trong thời đại mà vai trò của người tri thức
chưa có một vị trí xứng đáng, “cánh tri thức chúng ta, thua xa mấy cậu lái xe trong
viện Tri thức có quyền hành gì đâu, vô dụng!”[25, tr.52] Trần Bảo Thiếp luôn đề
cao vai trò của người tài nhưng cách nhìn của anh không hề rập khuôn, máy móc mà
rất linh hoạt
Trần Bảo Thiếp đã chứng minh được cách nhìn người qua thực tiễn, trong buổi nói chuyện nhận chức đầu tiên ở thành phố T, anh không nhắc đến nông dân đầu tiên,
mà nhắc đến cánh trí thức làm tâm điểm: “Tri thức là lực lượng chính trong việc xây
dựng thành phố… tri thức không phải là nhân tài cả, nhưng nhân tài thực sự tiềm tàng trong những người có tri thức”
[25, tr.177]
Việc sử dụng trí thức khác hẳn cách làm trước đây của Đường Tông Từ và Ngũ Tích Quý Trần Bảo Thiếp mở ra cuộc sát hạch, bất kể ai cũng phải qua cuộc sát hạch này, đã gây nên sự hoang mang, nơm nớp, lo lắng cho ba vị cục trưởng, “nếu như bí
thư Đường mà chủ trì cuộc sát hạch này thì tôi thấy hãy còn khá, chứ tay Trần Bảo Thiếp vốn là sinh viên đại học thì ai mà biết được sẽ hạch chúng mình ra sao?” [25,
tr.220] Họ giữ những trọng trách lớn nhưng chỉ bằng sự quen biết, trong mắt Đường
Trang 36Tông Từ, họ cũng chỉ là những con người chỉ nhằm nhòm ngó chức vụ chứ không có hoài bão, ước mơ gì, tầm nhìn lại không quá một gang Dù biết họ bất tài, vô dụng nhưng Đường Tông Từ vẫn sử dụng họ, còn đối với cuộc sát hạch lần này họ lại nơm nớp, lo sợ cho cái bất tài của mình Đó là những con người đại diện cho thế hệ thoái hóa, biến chất, xã hội nếu không tiêu diệt thì nó sẽ biến tướng thành nhiều kiểu người
khác
Hoàng Quốc Trinh với cuộc đời trầm luân trong bao nhiêu nỗi oan ức, bị qui chụp hữu phái, phải đi cải tạo mất hơn hai mươi năm, cứ bị chuyển tới chuyển lui từ trại lao cải này đến trại lao cải khác, mất hết hồ sơ Ông là một kĩ sư cao cấp nhưng
do không có hồ sơ mà bị người ta nghi ngờ, “chuyên khảo luận đã xuất bản ra họ
không thích, mà cứ đòi tôi xuất trình văn bằng” [25, tr.236] Cuộc đời ông với nhiều
phen chết đi sống lại trong cuộc Đại cách mạng văn hóa, vết thương theo thời gian
vẫn chẳng thể nào ngậm miệng lại được Khi ông có một bản thiết kế về thành phố T được giải nhì toàn quốc, người ta lại xóa cả tên ông mà xem đó là thành tích của cả một tập thể
Cách đối xứ của Ngũ Tích Quý và Đường Tông Từ đối với cánh trí thức: “tư
tưởng đẳng cấp xem ra còn ghê gớm hơn cả Nhật Bản vốn rất coi trọng phân biệt tôn ti” [25, tr.143], dân trí thức bị đối xử rất rẻ rúng Ngược lại, Trần Bảo Thiếp đã thấy
rõ vai trò của người trí thức, Hoàng Quốc Trinh quả là một con người có tài, cớ chi phải chăm chăm đến bằng cấp Hoàng Quốc Trinh đã khởi công làm đẹp thành phố T, một công viên bờ sông, nơi lí tưởng cho biết bao người dân thành phố này, thể hiện
rõ cái tài dùng người của Trần Bảo Thiếp
Quyền lực mà lâu nay bị ngâm vào trong những cuộc thảo luận suông, trong một đống công việc vô bổ, giờ đây mới tỏ rõ được quyền uy của nó Quyền lực ấy chẳng những biểu hiện trên các phương diện phát cho họ lương, phân cho họ nhà ở, định cho họ giờ giấc làm việc nghỉ ngơi, nâng cấp nâng lương cho họ theo quy chế đâu ra đấy chẳng những quyết định mọi vinh nhục hưng suy của họ, mà còn xác định toàn bộ lẽ sống, phán xét cả giá trị cuộc
đời họ
Trang 37Cách làm của Trần Bảo Thiếp đã khiến cho mọi người thấy được vai trò của cái tài, mọi người suy nghĩ độc lập và có quyền thể hiện chính kiến của mình Ngay cuộc sát hạch cũng làm cho con người Tôn Ngọc Chương thay đổi hẳn, mọi khi cứ
ậm a ậm ờ, ít tỏ rõ thái độ lúc nào cũng tỏ ra vẻ tươi cười ấy hôm nay cũng khác hẳn
thường ngày
Trước đây việc kiểm tra cán bộ của Ngũ Tích Quý cũng chỉ là việc nhập nhằng hình thức, phe cánh, luồn cúi, giờ đây hoàn toàn đổi khác, mọi người đều cảm thấy được, nghe thấy được, sờ thấy được cái quyền uy đó Trần Bảo Thiếp dùng người phải thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn của phe cánh này, phe cánh nọ Những nhân viên cấp dưới, bị chèn ép không đứng dậy nổi, kiểu như Mã Thành Chương Trường hợp của Dương Khai Tường làm công tác tuyên truyền nhưng vẫn cứ ì ạch, không có cá
tính sáng tạo độc đáo: “Tôi thấy anh phải vận dụng phong cách viết văn của anh vào
công tác tuyên truyền, thì anh sẽ là một trưởng ban tuyên truyền hiếm có đấy Nhưng anh lại không làm như vậy, anh lại để cái riêng của mình tan biến vào trong cái chung” [25, tr.413] Trần Bảo Thiếp phát hiện ra cái tài của Dương Khai Tường và khuyến khích phát huy cái tài ấy Cái vui niềm vui ấy Trần Bảo Thiếp mang tới tận
về nhà, “Thế là Dương Khai tường đã được anh thuyết phục, sẵn sàng hăng hái, phát
huy tài năng của mình đương đầu với hiện thực” [25, tr.415]
Những bi kịch cuộc đời đã khiến khát vọng của những người trí thức chùn xuống, nó cứ lê cuộc đời họ là một chuỗi tháng ngày nhàm chán, trong công việc nhàm chán Thạch Nhất Sĩ mang danh là nhà biên kịch nhưng suốt hơn ba năm vẫn chưa viết được một kịch bản nào Nơi ở của người tri thức chỉ vỏn vẹn trong bốn bức tường chưa tới mười mét vuông, lối đi lên căn phòng như lối mê cung của cuộc đời anh, càng đi càng thấy tối om om dù đang giữa ban ngày, có thể ví căn buồng ấy như cái “mộ huyệt” Độc giả sẽ không thể tưởng tượng nổi những tác phẩm nổi tiếng
Người dị dạng, Thiên đường ở tận cùng địa ngục, Than tự cháy lên được lại được viết
trong căn buồng như thế
Đối với người trí thức, Trần Bảo Thiếp luôn thỏa mãn những yêu cầu cần thiết
để họ phát huy khả năng sáng tạo Anh luôn kiên trì tìm giải pháp cho mọi vấn đề xã hội và con người Qua đây, nhà văn Trương Hiền Lượng khẳng định bản lĩnh của
Trang 38người nam nhi, ông tin vào vẻ đẹp của Trần Bảo Thiếp, một người ưu thời mẫn thế với nhân cách đáng trọng
2.1.2.2 Khát vọng hướng tới một cuộc sống tinh thần cao hơn
Nhà văn Trương Hiền Lượng khám phá con người nhiều chiều, nhiều hướng,
cố gắng khai thác hết sự tinh tế trong thế giới nhân vật Hình tượng nam nhi Chương Vĩnh Lân có sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân, anh sống trong một xã hội mà bao quanh là bầu không khí vô cùng nặng nề, uể oải, vô vị đang giết dần con người mình Anh mang hai tâm trạng, một bên là thái độ chấp nhận hiện thực, một bên đang đấu tranh từng giây, từng phút cho chính cuộc sống của mình Dù thời gian chín năm
đằng đẵng trôi qua nhưng ở bên ngoài người ta vẫn không quên được, “người ta vẫn
túm chặt không buông tha tôi, lại còn đem thơ tôi ra bêu giếu cảnh cáo” [24, tr.23]
Chương Vĩnh Lân đã thấy được những góc khuất của cuộc sống, nhìn thấy được mặt trái của sự tồn tại nhưng đặt nhân vật trong hoàn cảnh như vậy là một dụng
ý của nhà văn, khiến nhân vật phải dấn thân suy nghĩ hành động, tiến lên mà không được phép lùi bước để trưởng thành, sẵn sàng đối phó với những trở ngại trong cuộc
sống là một điều rất cần thiết, “trong cảnh khốn cùng và khuất nhục con người cần
được thấy mình là đúng, cần được tự cao tự đại để nâng đỡ mình đứng vững” [27,
tr.25]
Đứng trước vòng quay của xã hội, người trí thức Chương Vĩnh Lân “coi mình
là vật hi sinh trên bàn tế trong thời đại mới” [27, tr.43], việc tồn tại được trong thời
buổi ấy quả thật là một kì tích đối với những con người như anh: “Giỏi! Anh sống
được thế là giỏi Ông cho rằng việc tôi vẫn còn sống là một điều kì diệu” [27, tr.1]
Trương Hiền Lượng luôn để cho nhân vật tìm đường giải thoát
Chương Vĩnh Lân luôn mang trong mình tâm thế của lớp thanh niên thời đại, chưa phải là con người hoàn toàn lụi tắt suy nghĩ, luôn tự dày vò, tự trách bản thân mình, luôn loay hoay tìm kiếm mặt này rồi mặt khác, những đợt sóng nội tâm liên tục cuộn chảy Bữa ăn cuối cùng tại nhà tù lao cải, Chương Vĩnh Lân được dịp nói chuyện với một người trí thức, từng là cán bộ giảng dạy ở một trường của đại học Tây Bắc Cuộc nói chuyện diễn ra vô cùng ngắn ngủi trong lúc xếp hàng chờ nhận cháo nhưng có ý nghĩa rất lớn, mở ra một bước ngoặt trong cuộc đời Chương Vĩnh
Trang 39Lân, “Ở cái nơi mà thân thể mất hết tự do thì đôi cánh của tư tưởng lại tự do bay bổng” [27, tr.5] Rời nhà tù lao cải, túi hành trang của Chương Vĩnh Lân chỉ có cái ba
lô với bộ quần áo lao động đã cũ mèm Anh mang theo một cuốn sách Tư bản luận của Marx, “Phải đọc Hegel, nhất định phải đọc Hegel! Học thuyết của Marx có quan
hệ kế thừa với Hegel” [27, tr.6], đọc Marx để anh hiểu hơn về hai mặt giá trị vật chất
và tinh thần Có những người có sức chịu đựng về vật chất nhưng lại không chịu đựng được nỗi đau tinh thần, có người thì ngược lại không chịu đựng được nỗi đau vật chất nhưng cứ no cái dạ dày thì cái gì họ cũng chấp nhận được Chương Vĩnh Lân
nhận thấy, “Sức chịu đựng của tôi cả về vật chất lẫn tinh thần đều mạnh, chỉ cái chết
mới giới hạn được nó Trời đã phú cho tôi sức chịu đựng ghê gớm ấy, lẽ nào tôi tham sống sợ chết trong một trạng thái tinh thần suy sụp, lẽ nào tôi không thể chuẩn bị sau này làm một việc gì đấy cho xã hội?” [27, tr.40] Cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào,
ước mơ của Chương Vĩnh Lân không bao giờ bị thui chột, bị tiêu diệt, càng khó khăn
thì niềm lạc quan, vui sống càng trỗi dậy
Chương Vĩnh Lân say mê đọc lời tựa của cuốn Tư bản luận để anh nhận ra chu
trình phát triển của lịch sử, để bước qua giới hạn của xã hội, để khai trừ gốc rễ của sự
vô nghĩa, không chấp nhận bàn tay số mệnh giật dây Tất cả mọi chuyện oán hận, đau thương, ê chề rồi cũng có ngày kết thúc Chương Vĩnh Lân luôn tìm câu trả lời trong cuốn sách Đó cũng là cách anh luôn vận động và suy nghĩ để không chấp nhận thực
tế, “tôi nhận thấy Marx đã dùng một thể văn có hình tượng để trình bày sinh động
những vấn đề sâu xa của kinh tế học… càng đọc tôi càng thấy sách của Marx là thu gọn trí tuệ của nhân loại: chính trị, kinh tế, lịch sử, nghệ thuật, văn học, thậm chí bao gồm cả thi ca! đó là những câu đố hấp dẫn, giải được là anh có cả một gia tài!”
[27, tr.98]
Tư tưởng Marx làm cho anh trở nên mê mẩn “tôi hốn hận vì đọc sách của ông
quá muộn!” [27, tr.100] Đọc sách của Marx anh cảm thấy dễ chịu như được cho
uống một liều thuốc bổ và cảm thấy mình hơn đời Đây là điều vô cùng cần thiết
trong hoàn cảnh lúc bấy giờ
Khát vọng của Chương Vĩnh Lân thể hiện rất rõ trong mối quan hệ với Mã Anh Hoa Khi Mã Anh Hoa từ chối tình cảm, Chương Vĩnh Lân rơi vào hố sâu của sự
Trang 40tuyệt vọng, anh cảm thấy cái chết có sức quyến rũ lạ thường, “Cái cái chết sao mà có
sức cám dỗ! Vượt qua ranh giới giữa cái chết và sự sống rất dễ Tiến lên một bước là chết Tất cả mọi chuyện, hổ thẹn, ê chề, oán hận, đau thương… đều kết thúc” [27,
tr.184] Chương Vĩnh Lân đau với nỗi cô độc nhức nhối, anh đang nhấm nháp nỗi đau trong giây phút khủng hoảng nặng nề Anh không ngừng nguyền rủa bản thân mình, cái chết như đang vẫy gọi anh, tìm đến cái chết là tìm một hướng để giải thoát,
“Tôi tiếp tục lồng lộn trong cánh rừng, thưởng thức niềm vui của cái chết” [27,
tr.191] Anh chìm đắm trong không gian cõi chết, anh nghe giọng vang của nhiều người Anh nhận ra giọng nói không thuộc về một cõi nào, không phải của ma quỉ mà chính là “tiếng nói của trái tim tôi đánh rơi” [27, tr.94] Anh tha thiết đi tìm lời giải
đáp, nếu anh chết đi thì mọi người chỉ ồn ào trong giây lát rồi mọi chuyện đâu lại vào
đó Họ vẫn đi làm như thường, chết là chuyện lớn lao đối với anh, còn rất nhỏ đối với mọi người Vậy cái chết của anh sẽ có nghĩa lí gì nữa Anh đang chịu sự giằng xé ghê
gớm giữa cái sống và cái chết Cuối cùng anh đã tìm được câu trả lời: “Vượt lên bản
thân! Với mày, vượt lên bản thân tức là lên thiên đường của mày! Thiên đường, thiên đường! Vượt lên!”[27, tr.94].Lúc này, Chương Vĩnh Lân đã nhận ra phải “nâng tầm
mình lên” Trong anh trỗi dậy niềm thiết tha yêu đời, vẫn âm ỉ khát vọng thoát khỏi khung cảnh phong bế, hạn hẹp đang vây bủa, níu chặt tâm hồn mình Anh đã biết tự thức tỉnh, tự ý thức kịp thời trong cuộc đấu tranh sống còn của nhân cách
Khi kết hôn với Hoàng Hương Cửu, do bị ức chế lâu ngày khiến cả thể xác và tinh thần bị tổn thương nhưng Chương Vĩnh Lân vẫn có những khao khát nhục cảm, vẫn còn cảm xúc khi chứng kiến cảnh tượng “một người đàn bà trần truồng” Đó là
sự xung đột giữa xác thịt và xung đột tinh thần, cả những thăng hoa và xúc cảm nhầy nhụa Nhưng thực tế anh không thể thỏa mãn nhu cầu cầu chăn gối của vợ, anh biến thành “một nửa đàn ông” Theo thời gian vết thương đã lành miệng, Hoàng Hương Cửu đã biến anh trở thành một người đàn ông “thực thụ” Anh đã phải giằng xé, vật lộn để không chấp nhận cuộc sống thực tại, không thỏa mãn trong một thứ tình dục bản năng nhất Người nam nhi luôn “mổ xẻ” mặt xấu, mặt trái, phần “con” trong con người mình Chương Vĩnh Lân li hôn vợ và bắt đầu một cuộc sống tha phương vì