1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hình tượng biển trong trường ca thu bồn, thanh thảo, hữu thỉnh

101 461 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu hình tượng biển này góp phần làm rõ đặc điểm của hình tượng biển trong trường ca đồng thời hiểu rõ dụng ý nghệ thuật của các nhà thơ, bên cạnh đó góp phần lý giải một phầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

HÌNH TƯỢNG BIỂN TRONG

TRƯỜNG CA THU BỒN, THANH

Chuyên Ngành: Văn học Việt Nam

Mã S ố: 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUY ỄN VĂN KHA

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ Văn học “Hình tượng biển trong trường

ca Thu B ồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh” là công trình nghiên cứu của tôi, được

thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Kha Những kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2012

Học viên Nguyễn A Say

Trang 3

L ời cảm ơn

Con xin g ửi lời cám ơn sâu sắc đến gia đình, những người đã nuôi dưỡng con nên người và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con chuyên tâm học hành

Tôi xin c ảm ơn với lòng biết ơn và trân trọng đến TS Nguyễn Văn Kha, người Thầy không chỉ giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn,

mà còn là người đã định hướng cho tôi rất nhiều về con đường học tập nghiên

c ứu

Tôi xin c ảm ơn quý thầy cô trường Đại học Sư Phạm đã trực tiếp giảng

d ạy, cho tôi tri thức, phương pháp cần thiết để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin c ảm ơn Quý thầy cô trong Hội đồng đã dành thời gian đọc bài

lu ận và sẽ cho tôi những đóng góp quý báu, để không chỉ hoàn thiện bài viết

mà còn là nh ững kinh nghiệm cho tôi trên con đường học tập

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn, những người

đã động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghi ệp

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2012

Tác giả

Nguy ễn A Say

Trang 4

MỤC LỤC

D ẪN NHẬP 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

3.1 Đối tượng 10

3.2 Phạm vi 10

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12

6 Cấu trúc của luận văn 12

CHƯƠNG 1 BIỂN TRONG ĐỜI SỐNG TÂM HỒN 13

VÀ TRONG THƠ CA NGƯỜI VIỆT 13

1.1 Biển trong đời sống người Việt 13

1.2 Biển trong văn học dân gian 15

1.3 Biển trong thơ ca 21

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH TƯỢNG BIỂN 30

TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN, THANH THẢO, HỮU THỈNH 30

2.1 Hình tượng biển trong trường ca Thu Bồn 30

2.1.1 Biển trong kí ức, hành trang của những người con đất Việt trong cuộc chiến đấu giữ nước của dân tộc 32

2.1.2 Biển, đảo-một phần máu thịt của Tổ quốc Việt Nam 36

2.1.3 Biển đời đầy khó nhọc gian truân 38

2.2 Hình tượng biển trong trường ca Thanh Thảo 42

2.2.1 Duyên nợ với biển trong sáng tác của Thanh Thảo 42

2.2.2.Biển hiện thân cho nỗi khó nhọc của con người 45

2.2.3 Biển- triết lý về sức mạnh của nhân dân 47

2.3 Biển trong trường ca Hữu Thỉnh 53

2.3.1 Từ trường ca “Đường tới thành phố” đến “Trường ca Biển”, người lính tiếp tục cống hiến với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc 53

2.3.2 Biển- một không gian sống và chiến đấu mới 55

2.3.3 Ý chí người lính đảo 58

Trang 5

2.3.4 Đối thoại với biển- một cuộc đối thoại của nhân cách sống 60

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG BIỂN TRONG TRƯỜNG CA THU B ỒN, THANH THẢO, HỮU THỈNH 65

3.1 Nghệ thuật xây dựng hình ảnh biển mang tính biểu tượng 65

3.1.1 Biểu tượng của Tổ quốc 65

3.1.2 Biển là “đại dương nhân dân” 67

3.1.3 Bi ển - biểu tượng của lòng mẹ 69

3.1.4 Biển - biểu tượng của tình yêu đôi lứa 70

3.2 Các biện pháp tu từ 73

3.2.1 So sánh 73

3.2.2 Nhân hóa 75

3.3 Giọng điệu 76

3.3.1 Giọng điệu ngợi ca, tự hào 77

3.3.2 Giọng điệu trữ tình, triết lý 79

3.4 Sự liên tưởng 81

3.5 Không gian - thời gian nghệ thuật 83

3.5.1 Không gian nghệ thuật 83

3.5.2 Thời gian nghệ thuật 85

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PH Ụ LỤC 1 97

PHỤ LỤC 2 99

Trang 6

“Là một quốc gia có dải bờ biển trải dọc theo bờ Tây Thái Bình Dương dài hơn ba nghìn ki lô mét, tự bao đời, biển đã là môi trường sống, môi trường tiếp giao văn hóa của người Việt Cùng với các không gian núi rừng và châu thổ, biển đã góp phần hợp thành, định diện truyền thống, bản sắc văn hóa, cơ sở kinh tế, tư duy của nhiều cộng đồng cư dân Việt Nam Trong tâm thức của người Việt, biển Đông là không gian thiêng gắn với

thời lập quốc Bao thế hệ người Việt đã hoài niệm về cha Rồng - mẹ Tiên, về công lao sinh thành, mở cõi của các bậc Thủy tổ Từ biển, Lạc Long Quân đã về với đất liền, hiển linh như một Nhân thần, diệt trừ yêu quái, giáo hóa dân chúng, dạy cho dân biết cấy lúa, làm nghề thủ công” [86]

Từ lâu, biển đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm thức người Việt bởi sự ồn ào và dữ dội nhưng cũng có lúc lặng im của nó Biển không chỉ được khai thác về mặt kinh tế, quân sự

mà còn bao hàm nhiều yếu tố văn hóa - nghệ thuật Không khó để tìm những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc về biển trên các lĩnh vực như âm nhạc, điêu khắc, hội họa… Đối sánh

với rừng, biển là biểu tượng của Tổ quốc, của tình yêu quê hương đất nước con người Tìm

hiểu về hình tượng biển cũng giống như chúng ta đang tìm về với mẹ nước bao la, tìm về không gian thần thoại với cha Rồng, mẹ Tiên vậy

Ngày nay chúng ta đang kêu gọi góp đá xây Trường Sa, xây dựng biển đảo, bảo vệ chủ quyền đất nước Biển đảo càng ngày càng đi vào tâm thức, trong ý thức chủ quyền của người Việt Nghiên cứu về hình tượng biển, trong văn học, tác giả luận văn muốn góp thêm một viên đá để xây nên “tượng đài” của lòng yêu quê hương đất nước qua việc tìm

hiểu một số trường ca viết về biển, đảo

Trang 7

Trong thơ ca nói chung và trường ca nói riêng, biển được nhắc đến với nhiều tầng nghĩa Biển, đảo là hình ảnh của Tổ quốc, của dân tộc Đó là hình ảnh của người mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó, của người con gái miền biển sâu sắc, mặn mà Biển, sóng tượng trưng cho sức mạnh, tinh thần chiến đấu của nhân dân Các đặc tính của biển, sóng, gió, cát… còn tượng trưng cho những sắc thái tình cảm trong tình yêu đôi lứa Không

những vậy, trong trường ca các nhà thơ còn ví biển như nỗi khó nhọc, gian truân của biển đời Viết về biển, các tác giả đã thổi vào những trang thơ tình yêu quê hương, biển đảo của chính mình

Trường ca là một thể loại thơ dài hơi, gom vào nó tính chất lịch sử to tớn của thời đại

và mang hơi hướng sử thi Biển trong trường ca vì vậy cũng được miêu tả với những bình

diện khác nhau Đặc biệt là trong trường ca của các nhà thơ miền Trung, biển, bờ được các nhà thơ này thể hiện rất đậm nét

Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh là những nhà thơ có nhiều thành tựu nổi bật ở mảng trường ca Những sáng tác của họ đã gặt hái không ít thành công và được đông đảo bạn đọc ghi nhận Hình ảnh biển, đảo trong trường ca của các nhà thơ trên tuy chưa nhiều

nhưng cũng đủ làm nên sắc thái riêng, góp phần làm nổi bật nội dung tác phẩm

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Hình tượng biển trong trường ca Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh để nghiên cứu trên cơ sở tham khảo các đề tài đi trước,

từ đó có cái nhìn phổ quát hơn về hình tượng biển trong trường ca Nghiên cứu Hình tượng

biển trong trường ca Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, tác giả luận văn muốn góp một góc nhìn về hình tượng biển trong trường ca Thu Bồn Thanh Thảo, Hữu Thỉnh trong bối

cảnh nước ta đang sục sôi xây dựng biển đảo, bảo vệ chủ quyền đất nước

2 Lịch sử vấn đề

Trường ca là một thể loại nở rộ trong và sau hai cuộc kháng chiến thần thánh, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học nghệ thuật của dân tộc Sự phát triển rực rỡ của

trường ca trong giai đoạn này đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Nhiều bài viết

về trường ca trên Tạp chí Văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học và các tạp chí có uy tín khác đều cho chúng ta thấy rõ điều này Trước sự nở rộ của trường ca, nhiều nhà nghiên

cứu đã lật lại vấn đề, tìm hiểu tiến trình vận động của thể loại trường ca, cách đặt tên cũng như bàn về đặc trưng loại thể, thi pháp

Trang 8

Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết “Về đặc trưng của trường ca” đăng trên Tạp chí Văn

học số 3 năm 1984 cho rằng: Trường ca là một thể loại lớn với 2 nghĩa: có dung lượng lớn

và mang nội dung lớn [27,113] Trường ca là một thể loại vừa có tính chất trữ tình vừa có tính chất tự sự [27,117] Trước sự phát triển của trường ca, Mã Giang Lân có bài viết:

“Thử phân định ranh giới giữa trường ca và thơ dài” trên tạp chí Văn học số 5 năm 1988 Ông cho rằng, trường ca và thơ dài giống nhau ở chỗ: Thơ dài và trường ca thường vận

dụng tổng hợp nhiều thể thơ, thay đổi không khí cảm xúc hạn chế sự bằng phẳng đơn điệu [42,61] Tuy nhiên trường ca có kết cấu rõ rệt và hoàn chỉnh hơn, có nhân vật và nhân vật

ở đường nét, có tâm trạng, có hành động [42,62] Cũng bàn về vấn đề này, trước đó 13 năm nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã viết “Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca” trên tạp chí Văn học số 4 năm 1975 Ông cho rằng có thể gọi chung thơ dài hiện nay là trường ca

với nhiều biến thức, nhiều kiểu kết cấu khác nhau [72]

Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết khác đề cập đến vấn đề thi pháp, thể loại, phong cách thơ cũng như đánh giá vai trò, đóng góp của họ

Và như vậy, hình tượng biển trong trường ca hầu như chưa có công trình nào đề

cập đến May ra qua một vài bài viết đề cập đến nội dung tác phẩm, có một hai câu "chạm" đến vấn đề này mà thôi Thiếu Mai trong "Thanh Thảo, thơ và trường ca" in trên tạp chí văn học, số 2 năm 1980 có viết về phần vĩ thanh trong trường ca Những người đi tới biển

của nhà thơ Thanh Thảo như sau: Đã tới biển, đã đến đích, tới đích rồi nhưng đâu phải về

biển là yên nghỉ [46,78] Lại Nguyên Ân khi bàn đến khúc vĩ thanh này có viết: Không

phải ngẫu nhiên tập trường ca của Thanh Thảo có nhan đề Những người đi tới biển Trong khá nhiều hàm nghĩa có một nghĩa khá rõ: anh nói về những người đi tới nhân dân, hòa vào nhân dân trong một hành trình lịch sử [6,60] Ngoài ra có thể kể đến bài viết của Lê Thị Mây “Hữu Thỉnh với trường ca biển” Tác giả đã đề cập đến nội dung, nghệ thuật của trường ca biển và những vấn đề của người lính biển đảo hôm nay tìm kiếm phác hoạ cho được một chân dung lính đảo hoàn toàn mới [88]

Trong hội nghị khoa học toàn quốc về “Văn hoá biển miền Trung và văn hoá biển

Quảng Ngãi”, TS Mai Bá Ấn có bài viết “Tâm thức biển trong thơ miền Trung hiện đại” (Qua trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo), in lại Tạp chí Sông Trà (21)/2007, tr.71-79 Bài viết đưa ra được những tầng nghĩa phổ quát nhất của biển Đó là

nỗi ám ảnh trong tâm thức người lính; là biểu tượng của tổ quốc, của dân tộc, của người

Trang 9

mẹ Việt Nam tần tảo Tuy nhiên, bài viết còn khá sơ lược, chưa nêu lên được những tầng nghĩa sâu sắc của biển, một đại dương cuộc đời bao la của con người

Ngoài các bài viết trên các báo, tạp chí thì trường ca cũng được đề cập đến khá nhiều trong luận văn cao học, nghiên cứu sinh Các tác giả Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu

Thỉnh là những cây bút trường ca lớn, có đóng góp, do đó đề tài nghiên cứu về các tác giả trên là không ít

Các luận văn trên đều đi vào tìm hiểu quá trình vận động phát triển của trường ca, tìm hiểu đặc điểm trường ca, vấn đề thể loại cũng như thi pháp nghệ thuật của từng nhà thơ Bên

cạnh đó còn có một số đề tài khát quát cả một chặng đường phát triển trường ca gắn với sự

vận động, phát triển của lịch sử như luận án Trường ca về thời chống Mĩ trong văn học

hiện đại Việt Nam của Nguyễn Thị Liên Tâm hay Thể trường ca trong Văn học Việt Nam

từ 1945 đến cuối thế kỉ XX của Đào Thị Bình

Điểm qua các công trình trên, các nhà nghiên cứu chỉ chú ý xoáy vào đặc điểm trường ca, cấu trúc cũng như đóng góp của trường ca đối với đời sống nghệ thuật Hình tượng biển, sóng trong trường ca được ít nhà nghiên cứu quan tâm Đến hiện nay vẫn chưa

có một công trình khoa học nào đề cập đến hình tượng biển trong trường ca Tuy nhiên trong các luận văn về trường ca Thanh Thảo, hình tượng biển sóng cũng được nhắc đến, dù

ít ỏi nhưng cũng thấy được ý đồ nghệ thuật mà tác giả gửi gắm thông qua hình tượng đó

Cụ thể trong luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Thu Hương, Chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo (năm 2009, trường Đại học Sư phạm Hà Nội), phần những phương thức nghệ thuật có đề cập đến biểu tượng sóng biển và biểu tượng cát Biểu tượng sóng là hình thái

tồn tại vĩnh hằng, thể hiện sức mạnh khôn cùng của nhân dân [33,79]; Biển, sóng thể hiện khát vọng yên bình, giãi bày những suy tư, cảm nghĩ về nhân dân [33,80] Biểu tượng cát cũng mang các tầng nghĩa trên Tác giả Hoàng Thị Thu Hương cho rằng, cát có giá trị nhân

bản sâu sắc, tố cáo tội ác và nỗi đau thương của cả dân tộc Cát là nỗi mất mát đau khổ, là tương lai, cát vẫn vĩnh hằng bất diệt với thời gian [33,83]

Luận văn Thạc sĩ của Đào Thị Khánh Vân, Trường ca Thanh Thảo (năm 2009, trường Đại học Sư Phạm-Đại học Thái Nguyên) có đề cập đến hình ảnh sóng, cát- mặt đất Sóng là biểu tượng cho sức mạnh tiềm ẩn, quật cường của quần chúng nhân dân [71,89] Sóng còn là biểu tượng cho sức mạnh trào dâng, sức mạnh nhấn chìm, sức mạnh vô địch

của quần chúng nhân dân trước kẻ thù [71,90] Bên cạnh đó tác giả luận văn đề cập đến cát như là biểu tượng của quê hương, của những năm tháng thăng trầm gian khó mà người

Trang 10

dân Sơn Mĩ đã trải qua Theo Đào Thị Khánh Vân cát là nơi ghi dấu ấn sự tồn tại cũng như

những mất mát, hy sinh của con người cát vĩnh hằng bất diệt, cát là sự hóa thân của tương lai tươi sáng [71,95]

Trong luận văn thạc sĩ của Dương Lệ Thủy, Đặc điểm trường ca Thanh Thảo (năm

2011, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) cũng đề cập đến hình ảnh sóng -

mặt đất, tương tự như trong công trình của Đào Thị Khánh Vân Sóng và mặt đất là biểu tượng cho sức mạnh vô bờ, âm ỉ và đoàn kết của nhân dân ta trong suốt chiều dài giữ nước [69,106]

Nói chung, hình ảnh biển được đề cập trong các luận văn cao học trên chưa sâu và

mới chỉ tập trung vào biểu tượng biển, sóng, cát trong trường ca của nhà thơ Thanh Thảo Trên cở sở tiếp thu thành quả nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu, bài viết của

những người đi trước, tác giả luận văn chọn đề tài Hình tượng biển trong trường ca Thu

Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh và chủ yếu chỉ khảo sát trường ca của ba tác giả trên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Với mục đích khoa học đã đề ra, luận văn này chỉ tập trung xem xét và làm sáng tỏ

những vấn đề cơ bản có liên quan đến đề tài: “Hình tượng biển trong trường ca Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh” Tìm hiểu đặc điểm của hình tượng biển trong trường ca của các tác giả trên và một số phương thức nghệ thuật xây dựng hình ảnh biển trong trường ca

3.2 Phạm vi

Tác giả luận văn xác định rõ, đây là một đề tài chỉ tập trung vào hình tượng biển trong trường ca Do đó, tác giả luận văn chỉ đi sâu tìm hiểu trường ca viết về biển của 3 tác giả

có tên tuổi như Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh Chủ yếu là một số trường ca có trong

ba tuyển tập trường ca sau:

* Thu Bồn (1999), Bài ca chim Chơ Rao-tuyển tập trường ca, Nhà xuất bản Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh

Bài ca chim Chơ rao

Badan khát

Người gồng gánh phương Đông

Chim vàng ch ốt lửa

Campuchia hy v ọng

Trang 11

Vách đá Hồ Chí Minh

* Thanh Thảo (2004), Những người đi tới biển, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

Nh ững người đi tới biển

Đây là phương pháp nghiên cứu chính của luận văn Căn cứ vào đặc trưng thể loại

để tìm hiểu hình tượng biển trong trường ca của Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh

Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp không thể thiếu để chúng tôi làm rõ nét đặc sắc của các tác giả khi xây dựng hình tượng biển trong trường ca của mình so với các tác giả khác

Phương pháp thống kê

Đề tài xoay quanh hình tượng biển của ba tác giả Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu

Thỉnh nên rất cần tiến hành thống kê tần suất xuất hiện của các từ khóa liên quan Sử dụng phương pháp này người viết muốn “lượng hóa” hình tượng biển để chứng minh rằng, biển

là kết quả của tư duy nghệ thuật riêng biệt và độc đáo của từng nhà thơ

Trang 12

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Từ lâu biển đã trở thành biểu tượng của tổ quốc của dân tộc, biển còn là cái nôi cội nguồn của dân tộc Việc nghiên cứu hình tượng biển này góp phần làm rõ đặc điểm của hình tượng biển trong trường ca đồng thời hiểu rõ dụng ý nghệ thuật của các nhà thơ, bên

cạnh đó góp phần lý giải một phần văn hóa biển, tâm thức biển trong đời sống con người

Việt

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và phần phụ lục, luận văn chúng tôi gồm có ba chương: Chương 1: Biển trong đời sống tâm hồn và trong thơ ca người Việt

Chương 2: Đặc điểm của hình tượng biển trong trường ca Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu

Thỉnh

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng biển

Trang 13

CHƯƠNG 1 BIỂN TRONG ĐỜI SỐNG TÂM HỒN VÀ

1.1 Biển trong đời sống người Việt

Nước ta có 3260 km đường bờ biển kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) Ưu thế đường bờ biển dài, vùng biển rộng đã tác động trực tiếp đến người dân Việt Nam

“Là một vùng biển giàu có, biển Đông chứa đựng nhiều tài nguyên sinh vật, khoáng sản rất phong phú cả về số lượng và chủng loại Nhờ có biển Đông, nước ta mang nhiều đặc tính của khí hậu ẩm ướt và vì thế về điều kiện tự nhiên có thể gọi Việt Nam là xứ

sở của biển cả” (45,11)

Cũng theo Nguyễn Thị Hải Lê, ban đầu người Việt không có nguồn gốc biển, họ là

cư dân sống ở vùng trước núi, tràn xuống khai thác đồng bằng lầy trũng, rồi lấn biển và khai thác biển Nhưng trong quá trình “Nam tiến” chất biển của họ ngày càng tăng lên

Giải thích điều này, nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh cho rằng có hai nguyên nhân

cơ bản: thứ nhất đó là do quá trình lấn biển làm nông nghiệp và khai thác biển bắt buộc họ

phải đứng trước biển; thứ hai người Việt đã tiếp nhận truyền thống biển từ người Chăm và

một bộ phận người Chăm bị Việt hóa từ sau thế kỉ XI Như vậy, qua một thời kì lịch sử dài, chất biển trong văn hóa người Việt ngày càng được khẳng định và củng cố Tuy chưa

tạo cho mình được một nền văn hóa biển điển hình như một số dân tộc khác trên thế giới nhưng người Việt đã làm chủ được một nền văn hóa mang những nét riêng của cư dân nông nghiệp

“Dấu ấn của biển đã hiện diện trong đời sống của tổ tiên người Việt từ thời kì tiền

sử Những di tích “đống vỏ sò” hay “cồn sò điệp” trong các nền văn hóa khảo cổ như văn hóa Quỳnh Văn, văn hóa Bàu Tró, văn hóa Thạch Lạc, văn hóa Hạ Long… là những dấu tích chứng minh rằng biển cả là nơi cung cấp nguồn sống chủ yếu cho các cộng đồng người tiền sử cư trú ở ven biển Việt Nam từ hàng ngàn năm trước” [50,53]

Từ xưa người Việt đã sớm biết chinh phục biển, đảo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt

của mình Biển trở thành nơi cung cấp nhiều sản vật quí cho con người Ngọc trai, đồi mồi, san hô… hay gần gũi nhất là muối đều được khai thác từ rất sớm Nhiều hải sản như mực,

cá, tôm… với hàm lượng dinh dưỡng cao trở thành nguồn thực phẩm quen thuộc Trong

Trang 14

bữa cơm của người dân Việt không thể không có chén nước mắm - một loại gia vị làm từ

cá biển Nước mắm không chỉ đơn thuần là một gia vị mà nó trở thành một nét văn hóa ẩm

thực, văn hóa truyền thống gia đình của người Việt Thế nhưng biển không hề êm dịu mà

có lúc “sóng to gió lớn”, con người cũng đã học hỏi được nhiều điều từ “tính tình của

biển” “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” là một ví dụ tiêu biểu

Khai thác các giá trị từ biển cả, con người đã biết “khoan, thư” với cái ồn ào, dữ

dội của biển Khi gặp nạn trên biển (thường là sóng to, gió bão làm lật tàu, thuyền) các ngư dân thường khấn Ông, nhờ Ông độ Nhiều câu chuyện về việc ngư dân được Ông cứu lan truyền ở nhiều vùng miền Việc lập đền thờ cá Ông trở thành một tín ngưỡng đẹp của ngư dân ven biển Hầu như ở địa phương ven biển nào cũng đều có đền thờ cá Ông Hằng năm, tùy theo từng nơi, lễ hội Nghinh Ông diễn ra một cách tôn nghiêm, thu hút hàng ngàn người tham dự

Không những thế nước ta còn được thiên nhiên ưu đãi ban cho khá nhiều bãi biển, nhiều vũng, vịnh, đảo đẹp Với bãi cát vàng, ngọn sóng trắng xóa vỗ ì oạp, dòng nước xanh

biếc… nhiều bãi biển đã trở thành một địa điểm du lịch lý thú, thu hút khách trong nước

lẫn khách nước ngoài, góp phần đẩy mạnh kinh tế cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống

của ngư dân ven biển nhờ vào ngành công nghiệp không khói này

Biển còn là một vị trí quan trọng về mặt quân sự Trong lịch sử kháng chiến chống

giặc ngoại xâm của dân tộc, không thể không nhắc đến vai trò của biển cả Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để kịp thời chi viện người, vũ khí và lương thực cho chiến trường miền Nam, đường Hồ Chí Minh trên biển đã được hình thành, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng ngày 30 tháng 4 năm 1975 Những con tàu không số và cả những

thủy thủ vô danh đã đi vào lịch sử Trước đó hàng chục thế kỷ, nhiều trận đánh quan trọng, đẩy lùi quân xâm lược cũng bằng thủy chiến Thời bấy giờ, dưới trướng Hưng Đạo Vương

Trần Quốc Tuấn có một chàng trai giỏi bơi lặn, tên là Yết Kiêu, đã dùi thủng chiến thuyền

của giặc làm nên chiến thắng lẫy lừng ở cửa bể Vạn Ninh

Nhiều địa danh trên đất nước ta hàm chứa yếu tố biển hoặc liên quan đến biển như:

Hải Phòng, Hải Dương, Cát Hải, Tiền Hải, hay vùng cửa biển lớn như Cửa Lớn, Cửa Việt,

Cửa Lò, Cửa Tùng… Không những vậy, hình ảnh biển bờ đã đi sâu vào tâm thức người dân Việt, để rồi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, người dân Việt đều lấy các yếu tố biển làm “chuẩn” Nói về việc làm vô ích, viễn vông: “Dã tràng xe cát biển Đông, Mò kim đáy

bể”; nói về sự đoàn kết: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”; nói về sự nham

Trang 15

hiểm, khó dò của lòng người: “Đố ai lặn xuống vực sâu/ Mà đo miệng cá uốn câu cho

vừa”…

1.2 Biển trong văn học dân gian

Văn học dân gian là một kho tàng vô giá, chứa đựng nhiều giá trị tinh thần sâu sắc Văn học dân gian hình thành trong quá trình lao động, sản xuất của dân tộc Sau tấm màn hoang đường, kì ảo, chất hiện thực được tái hiện rõ nét Những hình ảnh về biển, đảo; hình ảnh ghe thuyền và sinh vật biển đã sớm đi vào sử sách, đặc biệt là trong những câu chuyện

thần thoại, truyền thuyết, cổ tích “Hình tượng biển và đảo luôn thấp thoáng trong bao nhiêu cổ tích, truyền thuyết, là dấu ấn trong tâm thức mọi người” [91]

Hệ thần thoại là phương pháp cơ bản của việc hiểu thế giới và thần thoại phản ánh cảm giác, sự hiểu biết về thế giới của thời đại sinh ra nó Thuở ban đầu, biển còn vô cùng lạ lẫm đối với con người Nhiều hiện tượng của biển được người dân lý giải lại một cách thần thánh hóa Tuy nhiên, qua đó chúng ta cũng dễ dàng nhận ra người Việt đã sớm tiếp xúc

với biển và lý giải các hiện tượng liên quan đến biển như sóng, thủy triều, bão lớn hay sóng thần Truyện Thần Biển có đoạn lý giải các hiện tượng biển như sau: “Thần chỉ có

mỗi công việc là hô hấp để sống Mỗi lần hít vào thì nước biển tuôn vào bụng, mỗi lần thở

ra thì khối lượng nước đó lại ùa ra hết Thần thở khi mạnh, khi nhẹ nhưng rất đều Cứ mỗi

lần như thế thì biển có hiện tượng thủy triều dâng lên rút xuống như ngày nay ta vẫn thường thấy Thần nằm yên lặng, nhưng cũng có khi mệt mỏi, phải cựa quậy Mỗi lần thần vùng vẫy là có gió to bão lớn, nước dâng ngập tràn mọi nơi, người trên mặt đất vẫn thường

gọi là sóng của thần hay sóng thần” [49,11] Dân gian còn truyền tụng câu hát, kể về các vị

thần gầy dựng nên trời đất như ngày nay, trong đó có thần Biển như sau: Ông đếm cát/ Ông tát bể/ Ông kể sao/ Ông đào sông/ Ông trồng cây/ Ông xây rú/ Ông trụ trời Điều này

phần nào chứng tỏ, ngay từ thuở khai thiên lập địa, biển đã hiện diện trong tâm thức người

Việt

Theo tác giả Hồ Quốc Hùng: “Truyền thuyết là ký ức cộng đồng về quá khứ Chủ

yếu nó phản ánh niềm tin, sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với nhân vật và sự kiện lịch sử

của dân tộc ít nhiều bằng hư cấu, tưởng tượng Lịch sử đọng lại trong truyền thuyết như

những tia hồi quang phủ lên cảnh vật, phong thổ của đất nước làm đắm say biết bao thế

hệ” [31,10] Như vậy, ngoài yếu tố kì ảo, hoang đường, truyền thuyết cũng có một phần

Trang 16

nào đó sự kiện có thật Những truyền thuyết dưới đây phần nào minh chứng cho việc dân

tộc ta đã lấn biển từ khá sớm và biển đã có trong tâm thức của người Việt

Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên kể về nguồn gốc của dân tộc ta được sinh ra trong bọc trăm trứng bởi cha Rồng Lạc Long Quân và mẹ Tiên Âu Cơ Một hôm lạc Long Quân mới nói với Âu Cơ rằng: “Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh con, nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở với nhau được, nay ta đưa năm mươi người con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về trên đất, chia nước mà trị Lên núi, xuống bể, hữu sự báo nhau biết, đừng quên” Từ đấy lớp lớp con cháu của cha Rồng mẹ Tiên phá rừng lấn biển dựng nên

cơ đồ con Lạc cháu Hồng ngày nay

Chúng ta cũng dễ dàng nhận ra, từ thuở hồng hoang, con người đã lên núi, xuống

biển, phá rừng lấn biển để làm ăn sinh sống Câu chuyện về bào thai trăm trứng như một

lời tuyên ngôn cho dân tộc Việt Nam, dù ở đâu, trên rừng hay dưới biển thì chúng ta cũng đều là người một nhà, cùng có chung nguồn gốc

Tiếp xúc với biển từ rất sớm nên trong tâm thức của họ, biển không chỉ bao la rộng lớn mà còn có nhiều sinh vật biển nguy hiểm và nó luôn ám ảnh trong tâm trí Truyền thuyết Ngư tinh kể về một con tinh ngư xà dài hơn mười trượng, chân nhiều như chân rết, biến hóa muôn vẻ, linh dị khôn lường, khi đi thì ầm ầm như mưa, lại ăn được thịt người, quấy nhiễu thuyền chài làm ai ai cũng sợ hãi… là một trong số đó Câu chuyện còn lý giải một số địa danh như Bạch Long Vĩ, Cẩu Đầu Sơn, Mạn Cẩu Thủy…

Câu chuyện An Dương Vương được thần Kim Quy đến từ biển ba lần giúp đỡ cũng

là một ví dụ cụ thể về hình ảnh biển đã có trong tâm thức người Việt Thần Kim Qui xuất

hiện lần thứ nhất giúp nhà vua xây thành, lần thứ hai giúp nhà vua giữ thành và lần thứ ba

rẽ sóng đưa nhà vua xuống biển khi giặc theo sát sau lưng Cả ba lần, thần Kim Qui cũng

đi ra từ biển và biến mất cũng từ biển Trong tâm thức người Việt thời bấy giờ cảm nhận,

biển mang trong mình một phần hào sảng, trù phú nhưng cũng chứa đựng sức mạnh to lớn

và ẩn chứa nhiều huyền bí Người Việt cũng đã biết ngọc trai, một sản vật quý của biển từ

sớm qua chi tiết Mỵ Châu bị chém chết, máu nàng chảy xuống biển, loài trai ăn phải mà thành

Theo các truyền thuyết để lại thì từ lâu con người đã biết lấy mực xăm mình theo hình thủy quái để tránh giao long làm hại, vẽ mắt ở mũi ghe, thuyền để thủy quái không

quấy nhiễu

Trang 17

Truyền thuyết Sơn tinh- Thủy tinh tái hiện lại cách sống với thiên nhiên của dân tộc

ta Qua câu chuyện tranh giành công chúa của Sơn tinh và Thủy tinh, chúng ta có thể nhận

thấy lý giải của người xưa về các hiện tượng thiên nhiên (tức mưa bão hằng năm), phần nào thấy được sức mạnh của thiên nhiên (cụ thể là sức mạnh của Thủy tinh- sức mạnh của sông, biển) và dần dần tìm cách sống chung với nó

Theo giáo sư Chu Xuân Diên, cổ tích biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực tại Truyện Quả Dưa Hấu kể về cuộc sống của người dân trên hoang đảo cũng như cách thức người dân trên đảo liên lạc với đất liền Mai An Tiêm là con vua nhưng vì

thẳng thắn, bộc trực mà bị đày ra hoang đảo Trên đảo hoang, Mai An Tiêm đã tìm ra được

giống dưa lạ do đàn chim bỏ lại Sau khi chăm bón, hạt giống đó cho ra thứ quả có vỏ xanh, ruột đỏ, ăn vào thì ngọt lịm Mai An Tiêm làm dấu thả dưa xuống biển để tìm đường liên lạc với đất liền Theo con sóng, những quả dưa hấu đến được các thuyền buôn, họ tìm đến đảo đổi hàng hóa lấy dưa Những quả dưa trôi dạt về đất liền quân lính đi tuần nhặt được dâng lên vua Hùng Nhà vua biết chuyện đã cho thuyền đi đón gia đình Mai An Tiêm

về Câu chuyện cũng phần nào cho chúng ta thấy được nét nông nghiệp của cư dân miền

biển Dù sống ở biển nhưng yếu tố nông nghiệp qua chi tiết Mai An Tiêm trồng quả dưa

hấu vẫn còn rất đậm đặc

Truyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung đánh dấu quá trình giao lưu buôn bán của dân

tộc ta và các nước lân bang bằng đường biển qua chi tiết hai vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung giao thiệp với các thuyền buôn nước ngoài “Họ giao thiệp với các thuyền buôn nước ngoài thường vẫn hay ghé vào để bán hàng và cất hàng Công việc buôn bán của họ ngày một khá Chỗ bến sông ấy trở thành một nơi đông đúc, sầm uất” (49,243)

Dấu ấn của biển trở nên rất rõ trong truyện cổ tích Đá Vọng Phu Người phụ nữ bồng con, hướng mắt ra biển chờ chồng từ ngày này qua ngày nọ cho đến khi hóa đá Mô-tip hai anh

em ruột lấy nhau và người hóa đá xuất hiện khá nhiều ở các tỉnh ven biển Điều này phần nào lý giải vì sao có khá nhiều đá vọng phu (đá trông chồng) ở nhiều địa phương khác nhau: Lạng Sơn (núi nàng Tô Thị), Thanh Hóa (núi đá trông chồng Sầm Sơn), Bình Định (núi đá bên cửa biển Đề Bi, Phù Cát), Ninh Thuận (núi đá ở cửa biển Cà Ná)… Biển cả bao la vừa là nơi cung cấp nhiều sản vật, nuôi sống con người nhưng biển cũng là mối

hiểm họa ám ảnh trong tâm thức người Việt Nỗi đau đớn, trông chờ đến vô vọng của người phụ nữ trong truyện Đá Vọng Phu đã thể hiện điều đó Ngoài câu chuyện nàng Tô

Trang 18

Thị hóa đá vì trông chờ người chồng ra trận chiến đấu, hầu hết các câu chuyện khác đều có

mô tip người vợ chờ chồng đi biển mà hóa đá

Như vậy, ngoài việc lý giải các hiện tượng thiên nhiên, các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết hay cổ tích cũng phác họa sơ lược cho chúng ta thấy cách người Việt sống và thích nghi với biển Theo Nguyễn Văn Kim: “Có thể nói, trong lịch sử, trên các không gian

biển Việt Nam đã từng là nơi diễn ra nhiều hoạt động giao thương trong nước - quốc tế, vùng - liên vùng hết sức sôi động Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, kinh tế thương mại, trong đó có ngoại thương, đã luôn đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên

sự hưng thịnh của kinh tế Việt Nam trong nhiều thời kỳ lịch sử Đặt Việt Nam trong không gian kinh tế biển Đông Nam Á, trong mối liên hệ với khu vực thị trường Đông Bắc Á và Tây Nam Á có thể khẳng định rằng, chủ nhân của các nền văn hóa cổ, các chính thể quân

chủ đã không chỉ chú tâm xây dựng xã hội nông nghiệp, khai thác tự nhiên mà còn quan tâm đến sự phát triển của kinh tế công thương, phát triển kinh tế biển” [87]

Biển với những đặc tính riêng của mình, phô diễn trước loài người sức mạnh oai hùng, dữ

dội, nhưng cũng có lúc duyên dáng, đằm thắm; giàu có, hào sảng, phong phú nhưng cũng huyền bí đến tận cùng… Chính những điều đó đã khiến biển trở thành đối tượng của văn hóa nghệ thuật Biển xuất hiện trong nhiều hình thức diễn xướng, hò vè, ca dao, tục ngữ, thơ, truyện…

Trong những lần chài lưới đánh bắt, người lao động cần có một nguồn cổ vũ tinh

thần thì lúc đó hò phát huy tác dụng Những bài hò như: Hò hụi, hò kéo lưới, hò chèo thuyền, hò đẩy thuyền, hò đan lưới, lý kéo chài… khá phổ biến Những bài hò hay các điệu

lý thể hiện tinh thần hào sảng, rộng lớn của biển cùng nhịp điệu, tiết tấu nhanh, mạnh, dứt khoát tái hiện không khí lao động đầy sức sống, vui tươi Ngoài ra còn có nhiều bài hò, lý

thể hiện cuộc sống tự do, tự tại, thoải mái cùng biển nước bao la như bài Lý kéo chài dưới đây:

N ắng lên rồi căng buồm cho khoái Gác chèo lên ta nướng ngô khoai

Hò ơi…

Nhậu cho tiêu hết mấy chai

B ỏ ghe nghiêng ngả không ai chống chèo

Đặc biệt hò bả trạo (hát bả trạo) là một hình thức diễn xướng dân gian mang tính nghi lễ Hò bả trạo diễn lại hành trình ra khơi đánh cá của ngư dân, tái hiện lại hành trình

Trang 19

vượt biển đầy gian khổ Ngày nay trong lễ hội Nghinh Ông của các ngư dân ven biển miền Trung thì hò bả trạo là một nghi thức không thể thiếu (trong khi đó ở các ngư dân ven biển Nam Bộ, hình thức diễn xướng thường là hát Bội)

Ngoài hò ra còn có các bài vè: vè con cá, vè cá biển, vè cào hén, vè nghề làm muối, vè đi

biển, vè nhật trình đi biển, vè đánh lưới… bổ sung nhiều thông tin bổ ích về biển, nghề

biển và người dân biển… Chẳng hạn như bài vè cá biển sau đây:

Cá nuôi thiên h ạ

Là con cá cơm Không ăn bằng mồm

Là con cá ngác Không ăn mà ú

Là con cá voi Hai m ắt thòi lòi

Là con cá tráo

Dựa vào đặc điểm của biển mà người Việt đưa ra nhiều lời khuyên, kinh nghiệm bổ ích như: Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo; Dã tràng xe cát biển Đông; Đồng vợ đồng

chồng tát biển Đông cũng cạn…

Ca dao tục ngữ viết về biển có khá nhiều Ca dao, tục ngữ là tiếng nói tâm tình, rút

kết kinh nghiệm sống về tình yêu, lao động sản xuất do đó biển cũng đi vào trong ca dao,

tục ngữ với nhiều hình ảnh quen thuộc với đời sống con người Theo thống kê của Nguyễn

Thị Hải Lê trong Biển trong văn hóa người Việt, phần phụ lục 3, có đến 273 câu tục ngữ ca dao có yếu tố biển trong kho tàng tục ngữ ca dao Việt Nam Trong đó có những câu ca vô cùng quen thuộc

Những gì to lớn, vĩ đại không thể do bằng kích thước cụ thể thì con người mượn hình ảnh biển bờ để ví von Đó là nghĩa mẹ mênh mông, dạt dào:

Công Cha như núi ngất trời Nghĩa Mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao bi ển rộng mênh mông

Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi

Biển còn được ví với ý nghĩa vĩnh hằng, trường tồn Trong ca dao dân ca, để thể

hiện tấm lòng thủy chung son sắt, lời thề khăng khít thì sự bao la, mênh mông rộng lớn của

biển thích hợp hơn cả:

Trang 20

Bi ển cạn, sông cạn lòng qua không cạn Núi l ở, núi mòn nghĩa bạn không quên

Với những đôi lứa đang yêu, biển có lẽ là một không gian hò hẹn lý tưởng:

Trèo lên trái núi Thiên Thai

Th ấy đôi chim phượng hoàng ăn ngoài biển Đông Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt

Ai dè gi ếng cạn nó hụt sợi dây Qua t ới đây không được cưới cô hai mày Qua chèo ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô

Có khi, biển là một không gian mơ ước của đôi lứa Biển là một không gian trong khao khát, trong tâm tưởng của biết bao người:

B ể Đông có lúc vơi đầy

M ối thù đế quốc có ngày nào quên Nói v ề những việc làm tốn công, vô ích:

Thôi đừng đáy bể mò kim Bóng chim tăm cá dễ tìm được nao

Không những vậy, biển còn thể hiện những bất trắc khó khăn trong cuộc sống Có

thể đó là cửa tử của người phụ nữ khi vượt cạn:

Đàn ông đi biển có đôi Đàn bà đi biển mồ côi một mình

Có khi biển được ví với lòng dạ thẳm sâu, khó dò của lòng người:

Lòng sông, lòng bể dễ dò Nào ai b ẻ thước mà đo lòng người

Ca dao, tục ngữ là kho tàng kiến thức, kinh nghiệm của dân tộc ta Chính vì vậy tất

cả ý nghĩa và sắc thái của biển đều được thể hiện đầy đủ Điểm qua một số câu ca dao, tục

Trang 21

ngữ viết về biển đủ để thấy biển là một chủ đề đã có từ rất lâu trong kho tàng văn hóa, văn

học của dân tộc

1.3 Biển trong thơ ca

Hầu như ở góc độ nào biển cũng được thơ ca ưu ái nhắc đến, từ thời gian: sáng, trưa, chiều, tối cho đến những không gian trên biển: bãi biển, bờ biển, làng biển… lẫn các

trạng thái ở biển: buồn, vui, vắng lặng Không những vậy, tất cả những gì liên quan đến

biển cũng là đối tượng của thơ ca như sóng, cát, gió, cánh buồm, hàng dương, hạt muối… Chúng ta cũng có thể liệt kê hàng trăm, hàng ngàn bài thơ viết về biển, đảo Tuy vậy, tùy vào từng giai đoạn cụ thể mà biển, đảo được tiếp cận ở mức độ khác nhau Và ở mỗi tác

giả hẳn nhiên cũng có cách cảm nhận riêng biệt về biển

Do đặc điểm về thời đại mà giai đoạn văn học trung đại nhìn chung có ít bài thơ

viết về biển Ở giai đoạn này, lãnh thổ nước ta chưa mở rộng như bây giờ Thơ văn sáng tác hầu như thuộc về giới trí thức, nhà nho giàu chữ nghĩa và phần đông sống ở kinh thành,

ít kinh qua các vùng đất ven biển Hình ảnh biển chỉ được nhắc đến trong một số tác phẩm

của các tác giả như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát Tuy nhiên tất cả sắc thái của

biển đều được các nhà thơ khắc họa một cách chi tiết, rõ ràng

Biển được Nguyễn Trãi miêu tả trong khá nhiều bài thơ, như: Quan duyệt thủy trận, Quá hải, Quan hải, Vân Đồn, Thần Phù hải khẩu, Lâm Cảng dạ bạc, Quá Thần Phù hải

khẩu… Đó là hình ảnh biển bao la, hùng vĩ được viết bằng những nét bút hoàng tráng Với

tầm nhìn cao cả và cảm xúc hào hùng, tác giả đã thổi hồn vào những bài thơ ấy, làm cho

biển bờ cũng dậy sóng:

Kình phun lãng h ống, lôi nam bắc, Sáo ủng sơn liên, ngọc hậu tiền (Cá kình phun nước sóng gầm thét như sấm ran từ nam đến bắc Giáo d ựng san sát núi trùng điệp như ngọc bày đằng trước, đằng sau [37,246])

(Th ần Phù hải khẩu)

Đó còn là hình ảnh Vịnh Hạ Long với những câu thơ gợi tả đầy sức quyến rũ Nguyễn Trãi đã ví Vịnh Hạ Long như một tấm gương lớn mà những ngọn núi, những hòn đảo xung quanh như những búi tóc của người phụ nữ:

Nh ất bàn lam bích trừng minh kính

Trang 22

V ạn hộc nha thanh đóa thúy hoàn (M ột mặt phẳng sắc lam, sắc biếc như tâm gương trong suốt Muôn vòm màu đen màu xanh như những búi tóc óng trễ xuống [37,248])

(Vân Đồn)

Là một cố vấn quân sự tài ba, Nguyễn Trãi cũng có nhiều bài thơ nói về công tác phòng ngự trên biển Theo ông, dù đất nước đã yên bình nhưng không vì vậy mà lơ là cảnh giác:

Biển Bắc năm xưa đã diệt kình

Dù yên, còn luy ện ngũ ôn binh

(Quan duy ệt thủy trận)

Từ xưa con người đã biết khai thác sản vật từ biển, thế nhưng biển cũng vô cùng nguy hiểm với bao hiểm họa chết người Khi giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, chúng

bắt ép dân ta xuống biển mò ngọc trai, không cần biết đó là nơi nước sâu, nhiều cá mập, thuồng luồng: Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng

luồng/ Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc Tội ác của giặc Minh không sao kể xiết, để rồi nhà thơ phải thốt lên:

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi

(Bình Ngô đại cáo)

Vua Lê Thánh Tông cũng viết về biển với những bài thơ ngợi ca thiên nhiên đất nước tươi đẹp, đồng thời tự hào về đường lối chính trị của nhà nước phong kiến:

H ải thượng vạn phong quần ngọc lập Tinh la k ỳ bố thúy tranh vanh

Ngư diêm như thổ, dân xu tiện Hòa đạo vô điền, phú bạc chinh (Trên b ờ biển, muôn ngọn núi quây quần như ngọc

La li ệt đá xanh biếc rải ra chon von

Cá và muối nhiều như đất, dân chúng sinh nhai thuận lợi Lúa màu thi ếu ruộng, thuế khóa đánh nhẹ [37,317])

(An Bang phong th ổ)

Trang 23

Nhà thơ Nguyễn Du đề cập đến biển ở một khía cạnh khác Biển mênh mông, ầm

ào nhưng xa xôi, diệu vợi Viết về biển, Nguyễn Du lấy điểm tương đồng trong đặc tính

của biển để toát lên tâm trạng của nàng Kiều Môi trường sống đầy xa lạ và nguy hiểm

chốn lầu xanh đã chuyển thành cái thế gió cuốn, sóng vỗ xung quanh nàng Kiều Những con sóng nối tiếp nhau vỗ vào bờ, cứ đều đặn, đều đặn không dứt làm cho người đọc dễ dàng nhận ra tâm trạng của Thúy Kiều lúc này: đau đớn, tủi nhục, xót xa, cám cảnh cho thân phận hẩm hiu, đồng thời lo lắng cho tương lai của mình sau này:

Bu ồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Bu ồn trông gió cuốn mặt ghềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

(Truy ện Kiều)

Biển với những con sóng ngày đêm xô bờ, với bão tố hung hãn làm cho con người

cảm thấy sợ hãi, bất an Nhìn những hình ảnh như sóng biển trắng xóa, gió táp, sấm ran,

chớp giật… nhà thơ Cao Bá Quát liên tưởng ngay đến con đường công danh, sự nghiệp của mình Đó là một con đường đầy sóng gió gian nan lẫn thử thách khiến cho nhà thơ không

khỏi âu lo:

B ạn chẳng thấy:

Sóng trên bi ển trắng xóa như bạc đầu Gió táp xô v ỡ thuyền vạn mộc

Sóng ran ch ớp giật hãi mắt người

Mà trong điểm điểm vài chim âu Hơi bể quyện vào núi, núi lởm chởm như ngón tay Phía b ắc núi, phía nam núi, suốt nghìn muôn dặm Trên đường công danh đã mấy ai nhàn

Mũ lộng nhộn nhịp ta cũng đi đây

(Đứng trên Hoành Sơn nhìn biển)

Thơ ca hiện đại nở rộ phong phú về thể loại, cấu trúc và cả đối tượng được miêu tả Nhà thơ Huy Cận có khá nhiều bài thơ viết về biển Bằng cảm quan vũ trụ, biển trong thơ ông hiện lên với nhiều cung bậc và sắc thái khác nhau Trong đó, nhà thơ đã tái hiện lại

cuộc sống lao động của ngư dân ven biển qua hình ảnh Đoàn thuyền đánh cá Đó là những hình ảnh lao động khỏe khoắn, mạnh mẽ cùng sự phong phú, hào sảng của biển cả:

Trang 24

M ặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi Hát r ằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu bi ển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

Biển đã có trong tâm thức của mỗi người Đó là miền duyên hải xinh đẹp với cát trắng, có

nắng vàng và cả trời biếc:

Tôi nói đến một vùng duyên hải

Ở miền Nam êm ái quê tôi

Nh ững con người suốt chín năm kháng chiến Đem máu đào giữ miếng đất thiêng liêng Nay đứng thẳng nhìn quân thù Mỹ Diệm Bùn s ẽ tan khi ngọn thuỷ triều lên!

Trang 25

“Những ý tưởng tự chủ, những cảm xúc tự hào về biển, đảo quê hương được nhà thơ lớn

Tố Hữu khái quát vào những câu thơ như một lời tuyên ngôn - tuyên bố chắc nịch về chủ quyền hiển nhiên, về nét đẹp rạng ngời của một phần lãnh thổ Việt Nam toàn vẹn và thống

nhất:

Hùng vĩ thay toàn thân đất nước

T ựa Trường Sơn vươn tới Trường Sa

T ừ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước

Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa [89]”

(Vui th ế, hôm nay)

Nhà thơ Khương Hữu Dụng bằng những câu thơ đầy triết lý đã vẽ nên hình ảnh bao lơn,

rộng lớn của biển, thu nạp vào trong mình hết thảy muôn suối nghìn sông để cuối cùng hóa xanh trong:

Ai như biển cả lượng mênh mông Muôn su ối nghìn sông rộng mở lòng Dòng đục dòng trong thu nạp cả Tan vào ch ất mặn hóa xanh trong

(Bi ển và núi)

Ngoài các tầng ý nghĩa trên, biển, sóng còn được các thi sĩ sử dụng để nói hộ các cung bậc cảm xúc khi yêu Không phải ngẫu nhiên mà các nhà thơ đều mượn hình ảnh

biển, sóng để nói đến các cung bậc cảm xúc ấy Theo từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,

biển là “một biểu tượng của động thái sự sống Tất cả từ biển mà ra và tất cả trở về biển: đây là nơi của những cuộc sinh đẻ, những biến thái và những tái sinh Là nước trong sự chuyển động, biển tượng trưng cho một trạng thái quá độ giữa các khả năng còn phi hình

và các thực tại đã hiện hình, cho một tình thế nước đôi, tình thế bấp bênh, đầy hồ nghi, chưa quyết định và có thể kết thúc tốt hay xấu Từ chỗ đó biển là biểu tượng vừa của sự

sống, vừa của sự chết” [51,80] Chỗ “không ổn định” của biển với nhiều tình thế bấp bênh,

hồ nghi phần nào giống với cung bậc cảm xúc trong tình yêu Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ lấy hình ảnh của thuyền, biển, sóng… để miêu tả tâm trạng khi yêu

Nhà thơ Xuân Diệu, ông hoàng thơ tình, đã viết:

Anh không x ứng là biển xanh Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Trang 26

Soi ánh n ắng pha lê

B ờ đẹp đẽ cát vàng Thoai tho ải hàng thông đứng Như lặng lẽ mơ màng

Su ốt ngàn năm bên sóng

(Biển)

Để rồi sóng biển ngàn năm hôn mãi bờ cát vàng:

Anh xin làm bi ển biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn th ật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh m ới thôi dào dạt

(Bi ển)

Thuyền và biển, hai sự vật hiện hữu ngoài đời thực bỗng trở nên thơ mộng, thi vị

hẳn khi hóa thân thành những đối tượng vô hình trong thơ ca Đặc biệt là hình tượng hóa thành đối tượng trữ tình anh và em Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng mượn hình ảnh Thuyền và

Biển để nói lên tình yêu đôi lứa:

Ch ỉ có thuyền mới hiểu

Bi ển mênh mông nhường nào

Ch ỉ có biển mới biết Thuy ền đi đâu về đâu

Nh ững ngày không gặp nhau

Bi ển bạc đầu thương nhớ

Nh ững ngày không gặp nhau Lòng thuy ền đau rạn vỡ Nếu từ giã thuyền rồi

Bi ển chỉ còn sóng gió

N ếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố

Trang 27

Sóng có lúc dữ dội lại có lúc êm dịu, hai đặc tính trái ngược nhau mà vẫn luôn luôn

tồn tại, giống như tâm trạng khi yêu, có lúc dạt dào, rạo rực nhưng cũng có lúc lạnh băng,

xa cách Sóng tượng trưng cho nỗi khát vọng của tình yêu đôi lứa, cho dù ở thời điểm nào

đi chăng nữa:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau v ẫn thế

N ỗi khát vọng tình yêu

B ồi hồi trong ngực trẻ

Hữu Thỉnh cũng có một bài thơ viết về tình yêu rất hay (dù theo nhà thơ không hề

có bóng hồng nào nhuộm tím ông cả!) Nhà thơ cũng mượn hình ảnh biển để truyền tải

thông điệp tình yêu:

Anh xa em Trăng cũng lẻ

Vì em

(Thơ viết ở biển)

Trang 28

Nhà thơ Trần Đăng Khoa lại hóa thân thành người lính đảo, mượn hình ảnh biển đối sánh

với nhân vật em để bày tỏ tâm tình người lính biển Đó là tấm lòng yêu tha thiết biển quê hương, cùng những suy nghĩ đầy yêu thương về Tổ quốc:

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên Gió th ổi chưa ngưng trong những vành tang trắng Anh đứng gác-trời khuya đảo vắng

Bi ển một bên và em một bên

(Thơ tình người lính biển)

“Những con người giữ biển anh hùng đó lại một lần nữa tự khẳng định mình như một lời

thề trước biển, đảo quê hương:

Ôi, đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu Dẫu chẳng có mưa chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão

Chúng tôi như hòn đá ngàn năm đập trái tim người [91]”!

(Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn - Trần Đăng Khoa)

Còn có rất nhiều bài thơ khác viết về biển Nội dung tập trung vẫn là tình yêu biển đảo, là niềm tự hào dân tộc và đề tài tình yêu Nhiều bài thơ đã được các nhạc sĩ phổ nhạc Điều này cũng góp phần đưa bài thơ, bài ca ấy đi sâu vào lòng người đọc Năm 2000, Hồ

Quốc Nhạc đã sưu tầm và giới thiệu 82 bài thơ hay về biển của nhiều tác giả như: Huy

Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Tế Hanh, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương Số liệu ấy phần nào cho thấy biển là một đề tài lớn của các thi nhân

Gần đây có khá nhiều cuộc thi sáng tác thơ, nhạc về biển và cũng đã có không ít tác

phẩm có giá trị Đó là Tổ quốc nhìn từ biển của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến Bài thơ ra đời trong không khí cả nước sôi sục hướng về biển đảo quê hương Biển, đảo trở nên gần gũi hơn bao giờ hết Bài thơ là tình cảm của những người con đất Việt trước tình hình biển đảo quê hương đang chịu nhiều sóng gió cùng với ý chí quyết tâm bảo vệ vùng biển, đảo của dân tộc:

N ếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

M ẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Trang 29

Các con n ằm thao thức phía Trường Sơn

Bi ển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Bi ển cần lao như áo mẹ bạc sờn

N ếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

M ẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng Sóng l ớp lớp đè lên thềm lục địa Trong h ồn người có ngọn sóng nào không

Như vậy, từ lâu biển đã là đối tượng của văn hóa, văn học Biển đã có trong tâm

thức người Việt và càng ngày càng được củng cố và phát triển Những câu thơ, lời ca ấy,

dù ra đời trong hoàn cảnh nào thì cũng đều thể hiện tâm thức hướng biển và tình cảm thiết tha đối với biển đảo quê hương Một quốc gia phát triển phải là một quốc gia hướng ra

biển cả Lời nói ấy của nhà thơ Hữu Thỉnh thật đúng, và nó càng đúng hơn trong hoàn cảnh

hiện nay, khi cả nước đang hướng về biển đảo với quyết tâm bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống biển đảo của dân tộc

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH TƯỢNG BIỂN

TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN, THANH THẢO, HỮU THỈNH

“Văn thơ hàm chứa tư tưởng tình cảm Nhưng văn chương không nói ý một cách

khô khan Văn chương đích thực là hoa quí nên mới có hương sắc Văn chương thấm vào lòng người, bất tử với thời gian, không có biên giới bởi lẽ văn học nhận thức và thể hiện

bằng hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật do nhiều yếu tố, chi tiết nghệ thuật hợp thành Đọc tác phẩm văn học phải phát hiện ra và cảm nhận các chi tiết nghệ thuật, có thế

mới khám phá được cái hay, cái đẹp của hình tượng nghệ thuật” [86]

Vậy hình tượng nghệ thuật là gì? Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Bằng chất liệu cụ thể nó có thể làm cho người ta ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không

phải sao chép nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt, trăn trở cho người khác” [24,147] Trong thơ văn, hình tượng nghệ thuật có thể là một bông hoa, một vầng trăng, một nàng Kiều, một Trương Phi – cũng có thể là một nét của tâm trạng, tình cảm như “Tương tư” của Nguyễn Bính, v.v… Hình tượng nghệ thuật là bức vẽ về con người, về cuộc đời, về thiên nhiên cụ

thể được nhà văn sáng tạo nên qua liên tưởng, tưởng tượng để thể hiện tư tưởng, tình cảm

và khái quát hiện thực một cách thẩm mĩ

Và như vậy, biển cũng được các nhà thơ xây dựng thành hình tượng nghệ thuật để truyền đạt thông điệp của mình Tìm hiểu hình tượng biển sẽ cho chúng ta thấy được cái hay, cái

ý vị trong trường ca của các nhà thơ Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh

2.1 Hình tượng biển trong trường ca Thu Bồn

Nhà thơ Thu Bồn tên khai sinh là Hà Đức Trọng, sinh năm 1935 ở Điện Bàn - Quảng Nam Năm 12 tuổi ông tham gia thiếu sinh quân, làm liên lạc cho bộ đội và trực tiếp chiến đấu Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ông liên tục có mặt ở các chiến trường gian khổ, ác

liệt như Tây Nguyên, Khu V, Quảng Trị, biên giới Tây Nam Có lúc làm phóng viên mặt

trận, lúc làm lính xung kích, lính pháo, từng là biên tập viên tạp chí Văn nghệ quân Giải

Trang 31

phóng Trung Trung bộ, biên tập viên và cán bộ sáng tác tạp chí Văn nghệ Quân đội Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1962)

Thu Bồn là một tác giả đa tài bởi vì hầu như ở thể loại nào ông cũng có những sáng tác đáng ghi nhận Năm 1963 với tác phẩm đầu tay, trường ca Bài ca chim Chơ rao đã khẳng định vị trí của ông trên thi đàn Ngay từ khi mới ra đời, Bài ca chim Chơ rao với nội dung

trữ tình chứa đựng tinh thần chiến đấu bất khuất của Hùng và Rin, hai người con Kinh - Thượng, đã gây một tiếng vang lớn cả trong nước lẫn quốc tế Năm 1969 tập thơ Tre Xanh

ra đời, tiếp tục khẳng định tài năng của Thu Bồn Tiếp liền những năm sau đó, Thu Bồn sáng tác nhiều tác phẩm với sự đa dạng về thể loại

Thơ: Mặt đất không quên (1970), Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (1992);

Tiểu thuyết: Chớp trắng (1970), Những đám mây màu cánh vạc (2 tập, 1975), Hòn đảo chân ren (1972), Dòng sông tuổi thơ (1973), Đỉnh núi (1980), Mắt bồ câu và rừng phi tiễn (1986), Vùng pháo sáng (1986), Cửa ngõ miền Tây (1986), Em bé vào hang cọp (2 tập, 1986);

Truyện ngắn: Em bé trong rừng thốt nốt (1979), Dưới tro (1986)

Hơn bốn mươi năm cầm bút, Thu Bồn đã mở rộng phạm vi sáng tác của mình ở nhiều thể

loại, tuy nhiên, có lẽ ông có duyên với trường ca hơn cả Trường ca Bài ca chim Chơ rao

đã đánh dấu một bước ngoặc “tươi sáng” trong chặng đường trường ca sau này của ông Sau thành công vang dội của Bài ca chim Chơ rao, tiếp tục trên nền cảm hứng sử thi Tây Nguyên, Thu Bồn đã viết Vách đá Hồ Chí Minh (1970) và tiếp sau đó, một loạt trường ca

ra đời, gắn với tên tuổi Thu Bồn: Người gồng gánh phương Đông (1972), Tiếng hú người Diôlao (1974), Chim vàng chốt lửa (1973-1975), Quê hương mặt trời vàng (1975), Badan khát (1976), Campuchia hy vọng (1978), Oran 76 ngọn (1979), Người vắt sữa bầu trời (1985), Thông điệp mùa xuân (1985)

Chặng đường sáng tạo của nhà thơ được ghi nhận qua các giải thưởng sau: Giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1965) với trường ca Bài ca chim Chơ rao Giải thưởng thơ báo Hà Nội

mới (1969) với bài thơ Gởi lòng con đến cùng cha Giải thưởng văn học quốc tế (Hội Nhà văn Á Phi, 1973) với trường ca Bài ca chim Chơ rao

Trang 32

2.1.1 Biển trong kí ức, hành trang của những người con đất Việt trong cuộc chiến đấu giữ nước của dân tộc

Thu Bồn là một nhà thơ-chiến sĩ đi nhiều, viết khỏe Trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, ông đã lăn lộn khắp các chiến trường, đặt bàn chân qua nhiều vùng đất khác nhau Thậm chí, ông đã vượt dãy Trường Sơn giữa lúc quân thù đánh phá ác liệt nhất Có

lẽ vì thế mà ông có nhiều “vốn” để sáng tác Sáng tác của ông đa dạng về thể loại và đa

dạng cả về địa danh Đó là một Tây Nguyên bạt ngàn, một Campuchia hy vọng hay một

Hà Nội ngày nào

Biển là một đối tượng thân thuộc của thơ ca, có lẽ bởi những trạng thái đối nghịch của nó:

vừa dữ dội lại dịu êm, vừa rộng mở vừa huyền bí Các nhà thơ đã viết về biển trong những hoàn cảnh khác nhau, bằng những biểu hiện khác nhau nhưng ở họ có một điểm chung: đó

là cảm xúc khi viết về biển rất tự nhiên, chân thành Và hẳn nhiên, Thu Bồn cũng không ngoại lệ Biển trong thơ ông dạt dào cảm xúc và chất đầy nỗi niềm của một người con xa quê Biển trong thơ ông hiện lên mãnh liệt trong kí ức của những người con đất Việt qua công cuộc giữ nước của dân tộc

Là một người con xứ Quảng, từ lâu hình ảnh biển bờ với tiếng sóng vỗ, mảnh buồm cong, bãi cát dài đã ăn sâu vào tâm thức nhà thơ Để rồi chỉ cần một tiếng gợi nhỏ cũng đủ làm cho tâm hồn nhà thơ dậy sóng Đối với ông, biển không hề xa lạ Bởi đơn giản đó là quê hương:

Quê hương tôi biển nhiều hơn nước

Gọt tận trời cao giọt tận đất sâu

Biển đã thổi cồn cào cơn khát

Giọt đầu nguồn trong- mắt em đâu?

(Qua quê mẹ)

Biển trong thơ ông còn là tình mẫu tử thiêng liêng, là tiếng lòng của những chàng trai cô gái tuổi đôi mươi hay là những trăn trở về cuộc đời Tất cả được nhà thơ thể hiện bằng nét bút “lừng lững” một thời của mình

Cùng mạch cảm xúc trên, trong thể loại trường ca, nhà thơ Thu Bồn cũng dành rất nhiều

“đất” cho tình yêu biển đảo Qua số liệu thống kê, trong 6 trường ca khảo sát có tới 71 từ

biển và 32 từ sóng, ngoài ra còn có các từ khác liên quan đến biển như cát, gió, muối, thuyền (xem phần phụ lục 1) Điều này phần nào chứng tỏ những hình ảnh biển đã có sẵn

Trang 33

trong tâm thức nhà thơ, và nó tự nhiên tuôn chảy mà không cần hướng theo một chủ đích nào cả

Kháng chiến nổ ra, những người con Việt Nam yêu nước từ đồng bằng, duyên hải cho đến cao nguyên đều hăng hái lên đường nhập ngũ Trong những năm chiến tranh đầy gian

khổ, địa bàn hoạt động của người lính chủ yếu là ở rừng Họ đã trải qua nhiều thử thách

với bao chuyến vượt thác, băng rừng, trèo đèo, lội suối đầy vất vả Rừng núi trở thành quê hương thứ hai của những người lính miền duyên hải Thế nhưng, trong họ, cảm xúc về một

miền quê đầy gió sóng vẫn luôn dạt dào Trong kí ức của người lính, không đâu đẹp bằng quê hương, không đâu trù phú bằng quê hương Họ đã kể cho người bạn Campuchia của mình nghe về một vùng biển quê hương giàu có, bằng một giọng điệu đầy tự hào:

Anh vẫn nói với lòng tôi anh nói

Về những hòn đảo xa nối biển liền trời

Con ngọc trai bám vào thềm lục địa

Một loài sao biển sáng lân tinh

(Campuchia hy vọng)

Sống và chiến đấu ở rừng khiến cho những người lính thèm cảm giác được tung tăng, vẫy vùng với biển Trong họ, biển có một vị trí riêng Biển ám ảnh trong tâm thức, khiến cho người lính không khỏi không nghĩ đến Ngay cả trong những sinh hoạt hằng ngày cũng làm cho họ nhớ da diết miền quê ầm ào sóng vỗ:

Ăn trái gắm nhớ trái dừa da diết

Tắm vũng suối nhớ biển biếc bao la

Những đêm mưa rừng sấm động

Nhớ làm sao tiếng sóng vỗ quanh nhà

(Bài ca chim Chơ rao)

Biển đã nằm ở một tầng sâu trong tâm thức người lính, để rồi ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào,

chỉ một cái gợi rất nhỏ cũng làm cho tình cảm ấy bùng phát mãnh liệt Hùng là một chiến

sĩ kiên cường Anh cùng Rin, một chiến sĩ vùng cao, hoạt động cách mạng ở Tây Nguyên

Để tham gia cách mạng, hòa mình cùng đồng bào dân tộc, anh đã cà hàm răng ngà ngọc,

học cách bương đèo, bới tóc, căng tai, mang vòng lấp lánh Anh dần dần trở thành một người con miền núi đúng nghĩa Nhưng anh vẫn là người con của biển, vẫn đậm đà, chất phác Là một người lính, nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được đặt lên hàng đầu Nỗi

nhớ quê hương luôn canh cánh trong lòng nhưng anh đã cố gắng gìm lại Và càng gìm chặt

Trang 34

thì nỗi nhớ về miền quê nhiều sóng biển, lắm chân trời càng mãnh liệt Trong nhà lao, trước sự tàn bạo của kẻ thù, Hùng vô cùng kiên cường, cứng rắn, nhưng khi nghe tâm sự

của Rin và Sao, nỗi niềm trong anh như được khơi dòng Đó là nỗi lòng của một người con

miền biển chất đầy nhớ thương:

Nỗi tâm sự của người con nước mặn

Cũng trào lên như sóng biển dạt dào

Kí ức như ngàn con sóng bao bọc lấy người chiến sĩ Ở phía biển anh có một mái nhà tranh nho nhỏ với hàng dương xanh quanh năm cãi lời ngọn gió, một người mẹ hiền sớm hôm

tần tảo vá may cho anh chiếc áo, đợi anh về Ở nơi đó anh còn có một người yêu vò võ đợi

chờ:

Cô gái biển quanh năm chài lưới

Trên bàn tay có nắng mặt trời

Cô gái có tâm hồn sóng biển

Hứa yêu anh, yêu mãi trọn đời

(Bài ca chim Chơ rao)

Nỗi niềm trong anh cứ thế, cứ thế dâng lên như ngọn thủy triều Hình ảnh quê hương với

biển xanh, sóng vỗ đến khôn cùng như vẫy gọi anh, để rồi tiếng gọi quê hương bật ra từ tận đáy lòng, nghe yêu thương và da diết đến lạ:

Quê hương ơi, những biển chiều lặn

Con cá chuồn lao phóng như tên

Ánh đèn xanh đêm hè soi mực

Con sứa rập rình chờ nước biển lên

(Bài ca chim Chơ rao)

Kí ức về quê hương và những con người thân thuộc đã cho anh sức mạnh chiến đấu với kẻ thù Bị tra khảo bằng những nhục hình đầy đau đớn, bị dụ dỗ với những lời nói ngọt nhạt nhưng Hùng vẫn kiên trung với con đường mình đã chọn Anh tự vùi bàn tay vào than đỏ châm thuốc hút, dùng kìm véo vào đùi rứt ra miếng thịt Đứng trước kẻ thù anh không hề run sợ mà vô cùng anh dũng, kiên trung Hùng đã chọn cho mình một cái chết hiên ngang: Tao sẽ chết bằng xe kéo trên đường

Máu thịt tao quyện vào bụi đất

Xương óc tao rải khắp quê Hương

(Bài ca chim Chơ rao)

Trang 35

Ý chí của anh đã làm cho bọn giặc phách lạc hồn bay, phải rợn mình khiếp sợ Chính sự ồn

ào, dữ dội nhưng cũng thâm trầm da diết của biển đã thấm vào anh Lý tưởng đó, thứ ánh sáng đó anh học được từ phía biển quê hương:

Ánh sáng đầu nhô từ mặt biển

Cánh buồm căng sưởi lửa mặt trời

Con của mẹ hun đúc từ nơi ấy

Lồng ngực con mang tiếng đập biển khơi

(Bài ca chim Chơ rao)

Tiếng đập biển khơi đã dựng anh đứng dậy, không đầu hàng trước sự tàn bạo của kẻ thù,

bởi với anh, con đường anh chọn là con đường chính nghĩa để rồi mạnh bước đi, chết vẫn tươi cười

Trước giây phút hy sinh, trong tâm trí người chiến sĩ, kí ức về quê hương hiện lên mãnh

liệt hơn bao giờ hết Hùng bị đem ra pháp trường thiêu chết nhưng anh vẫn điềm nhiên Anh nhớ về miền biển thân thương với ngôi tháp Chàm rêu phong cổ kính với rừng dừa xa

thấp thoáng sương mù Anh nhớ về người mẹ hiền trọn đời kim chỉ vá may, nhớ người con gái mà anh yêu thương tha thiết Anh bị thiêu chết nhưng anh không chết, lời của anh như còn vang vọng Tấm áo mẹ may năm nào anh nhường lại cho người em với lời nhắn nhủ chiến đấu tới cùng:

Tấm áo mẹ con không bao giờ mặc nữa

Để dành cho em con mặc buổi ra khơi

Tấm áo quê nhà che bao nắng gió

Vững mái chèo bão táp chớ buông lơi

Anh nhắn với cô gái- người yêu anh đừng buồn, bởi dù chết anh vẫn còn mãi với quê hương, đất nước:

Và cô gái đẹp xinh người vợ trẻ

Ngày chiến thắng về không có bóng anh

Em hãy nhìn lên sắc cờ kiêu hãnh

Có anh về ôm ấp rặng dừa xanh

Tầm vóc của người chiến sĩ bỗng chốc vụt lớn lao Hùng không chết mà sức mạnh ý chí

của anh lan tỏa đến quảng đại quần chúng nhân dân Sức mạnh ấy như một trận bão giông,

có thể cuốn phăng tất cả:

Bến thuyền xa gió kéo dài ngọn lửa

Trang 36

Chớp xé trời tung thuyền lên nghiên ngửa bão giông

Con cá kình lao mình trong đảo sóng

Lướt đá ghềnh bọt trắng nước mênh mông

(Bài ca chim Chơ rao)

Không phải ngẫu nhiên mà Thu Bồn tái hiện ý chí của Hùng bằng một trận bão giông Biển

với sức mạnh to lớn và huyền bí của mình có khả năng quét sạch mọi thứ Biển vừa là nơi

hủy diệt lại vừa là nơi tái sinh Tinh thần chiến đấu của Hùng sẽ lan tỏa ra quảng đại quần chúng nhân dân Họ là những trận bão giông, sẽ dùng sức mạnh khôn cùng của mình hủy

diệt bè lũ cướp nước, đồng thời tái sinh những cuộc đời mới

Cái chết của Hùng và Rin không hề đau thương, bi lụy mà lan tỏa sức mạnh, ý chí quật cường đến với nhân dân Hình ảnh của Hùng và Rin bỗng chốc trở nên bất tử, bất tử đúng vào khoảnh khắc họ bị thiêu chết ấy:

Lửa rực hai gương mặt gầy rạng rỡ

Hai vòng tay lửa siết vào nhau

Người anh em ơi! Đây là lời đất nước

Gắn bó đến cùng những lúc thương đau

Như vậy, hình ảnh quê hương miền biển luôn hiện hữu trong tâm trí người chiến sĩ cách

mạng, để rồi, từ những kí ức ấy hun đúc trong họ ý chí quyết tâm giữ gìn độc lập tự do cho

Tổ quốc Biển hiện lên trong trang thơ Thu Bồn tự nhiên và gần gũi nhất, có lẽ đơn giản đó

là quê hương, là cái nôi nuôi những người con đất Việt lớn khôn thì không còn gì là xa lạ

nữa Bằng tấm lòng của một người con miền biển, Thu Bồn đã thổi vào những bản trường

ca của mình lớp lớp sóng biển đầy sức gợi tả

2.1.2 Biển, đảo-một phần máu thịt của Tổ quốc Việt Nam

Dù biển có hung hăng, có tàn phá thì biển đảo vẫn là quê hương, là nơi nuôi ta khôn lớn, là một phần máu thịt của Tổ quốc ta Hướng về biển, nhà thơ tìm về với cội nguồn dân tộc:

Tìm cha con hãy đến biển Đông

Nơi ngọn sóng bạc đầu vì sương gió

Khi đau thương biến con thành đảo nhỏ

Mẹ sẽ ôm con trong lòng biển rạt rào

(Người gồng gánh phương Đông)

Trang 37

Qua hình ảnh của tình mẫu tử thiêng liêng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra thông điệp mà nhà thơ gửi gắm Biển đảo đã trở thành một phần cơ thể của Mẹ Việt Nam Để rồi từ đó bao thế hệ con Rồng cháu Tiên sẵn sàng trở thành người lính biển, người lính đảo, canh

giữ bình yên cho Tổ quốc Việt Nam

Biển đảo còn là cái nôi nguồn cội của dân tộc ta Đó còn là hình ảnh của chàng chim Lạc

và nàng Âu Cơ trong cuộc chiến chống lại lão già nghèo đói cùng gia đình lão:

(Người gồng gánh phương Đông)

Chàng chim Lạc soãi cánh mở nước về phương Nam, băng qua dải Trường Sơn hùng vĩ Trong cuộc chiến với lão già chàng bị lão cắn đứt một ngón tay, để rồi:

Từ những ngón tay chàng trai máu ứa thành những dòng kinh

Còn lại chín ngón tay xòe ra vô tận

Thành chín nhánh Cửu Long sờ vào ngực biển Đông

hình thành đất nước Việt Nam cong như chiếc đòn gánh “gồng gánh phương Đông”

Biển đảo đã trở thành máu thịt, là quê hương, là đất nước mến yêu như lời tâm sự Quê hương tôi có biển Đông/ Vừa đủ mặn bốn ngàn năm lao động Biển đảo trở nên thân thuộc,

là nơi người lính cảm thấy tự hào khi nghĩ về, tôi chỉ em xem biển rộng vô cùng/ và tên gọi

mến yêu từng hòn đảo Đứng trước biển, ngút ngàn màu xanh trù phú của biển cả, nhà thơ không khỏi tự hào Trong trường ca Người gồng gánh phương Đông, tác giả lý giải về Đảo

bằng một đôi mắt vô cùng thi vị:

Những hòn núi xưa không cần vua chúa

Xa lánh biển Đông

Nghe tiếng đàn ngoái cổ lại trông

Được chỉ tên là Đảo

(Người gồng gánh phương Đông)

Thế nhưng, trong lịch sử, biển đảo quê hương đã bao lần phải oằn mình chịu sự chà đạp

của kẻ thù Biển, đảo luôn là món mồi ngon mà kẻ thù lăm le xâm chiếm:

Nhưng chùm đảo của ta

Trang 38

Miếng mồi ngon chơi vơi trước những mồm giặc cướp

(Badan khát)

Để mất biển tức là mất đi Tổ quốc Vì vậy, giữ gìn biển đảo là một nhiệm vụ cấp thiết hơn bao giờ hết:

Chúng ta không muốn nỗi buồn thương

Niềm đau lớn vượt ra ngoài biên giới

Nỗi khổ khoanh vùng trong da thịt ta thôi

Sa để gọi hồn Tổ quốc lạc ngoài khơi:

Chào Hoàng Sa

Chào Trường Sa

Những chùm đảo chim

Những hòn đảo nổi

Những ốc đảo tù và gió thổi

Gọi hồn Tổ quốc lạc ngoài khơi

(Badan khát)

Trường ca Badan khát được tác giả sáng tác vào năm 1976, ngoài chủ đề chính là đất và con người Tây Nguyên thì tác giả còn đề cập đến vấn đề biển đảo như người viết đã đề cập

ở trên Vấn đề ấy đến hôm nay vẫn còn nhức nhối Để cho đất nước được vẹn toàn, nhiệm

vụ bảo vệ biển đảo trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết, hay đơn giản chỉ để cho bờ Tổ quốc đâu cũng đầy gió sóng

2.1.3 Biển đời đầy khó nhọc gian truân

Biển trong trường ca Thu Bồn không chỉ mang nét nghĩa quê hương, đất nước mà nó còn

ám chỉ sự khó khăn, vất vả Từ lâu, trong kho tàng ca dao tục ngữ, người Việt đã ví nỗi

Trang 39

khổ đau, vất vả của đời người với biển: biển khổ, biển đau; Đàn ông đi biển có đôi/ Đàn bà

đi biển mồ côi một mình Biển với sự bao la, rộng lớn lẫn huyền bí đến tận cùng của mình

đã ám ảnh bao thế hệ Biển là nỗi ám ảnh về sự gian truân, những khó khăn thử thách khôn lường trong đời sống con người Trong trường ca Người gồng gánh phương Đông, Thu

Bồn đã viết:

Những cái gì xanh của biển

Đều lấy ra từ máu con người

Màu xanh của biển là màu của những tháng ngày tự do, cho em thơ vui đùa trên cát; là màu của sự ấm no, người dân chài trở về với những khoang thuyền đầy cá Có khi đơn giản đó là tiếng sóng vỗ bình yên, là hàng dương vi vu theo gió Nhưng để có được màu xanh ấy, biết bao thế hệ đã phải hy sinh, biết bao máu xương của dân tộc ta đã phải đổ

xuống Thật xót xa biết bao!

Nhà thơ còn khát quát: Đất nước tôi có biển Đông/ Vừa đủ mặn bốn nghìn năm lao động

Bốn nghìn năm ấy, dân tộc ta đã chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc để cho thế hệ sau được bình yên vui sống Đó là một khoảng thời gian lịch sử, khoảng thời gian của máu và nước mắt Nhưng khoảng thời gian ấy chưa dừng lại, từ phía biển, kẻ thù luôn luôn tìm cách xâm lược nước ta:

Những trái bom

Giặc Mỹ từ biển vào giật mìn san bằng từng chiếc giếng

(Chim vàng chốt lửa)

Đến hạt muối còn quý hơn vàng: Sáng nay muối đến non ngàn/Tay cầm hạt muối hơn vàng

cầm tay Để có được hạt muối ấy từ bàn tay giặc, biết bao đồng bào ta đã ngã xuống Đó không đơn thuần là hạt muối bình thường, mà nó kết tinh thành tinh thần, sức mạnh của dân tộc Đó là những hạt muối thấm máu bao đồng đội hy sinh:

Mẹ giữ muối như giữ từng giọt máu

Đừng tan muối ơi! chất mặn Sa Huỳnh

Muối trắng giằng từ bàn tay giặc

Thấm máu bao đồng đội hy sinh

(Bài ca chim Chơ rao)

Phía đại dương mênh mông còn có một vùng đất quanh năm chua mặn, mưa rơi vào lòng

hạn hán Cuộc sống của những con người nơi đây khốn khó vô cùng, đêm ngày bán lưng cho đất, bán mặt cho trời nhưng cái ăn, cái mặc vẫn thiếu thốn, chật vật Đến lời dặn dò

Trang 40

của cô gái với chàng trai trước khi ra trận nghe cũng thật thiết tha, thấy thương đến lạ Đó

là lời dặn dò của một con người con gái bé nhỏ, quanh năm chịu nhiều nhọc nhằn, vất vả: Anh là con chim bay về xứ nóng

Đừng quên em trên ruộng lúa nhọc nhằn

Đừng quên dấu chân trâu trên mảnh đất khô cằn

Cơn rét lạnh lá hàng dương không đủ ấm

(Badan khát)

Trong trường ca Badan khát, Thu Bồn đã kể về một vùng đất chết bởi sự xâm thực nặng

nề của biển, làng Lỗ Trường Ở nơi đó:

Sóng mặn cướp hàng dương

Làng sạt lở ngôi đình chìm đáy biển

Bọt nước cuộc đời trôi

Bao người biệt xứ

(Badan khát)

Trước sự xâm thực nặng nề của biển, vùng quê ấy trở thành một vùng đất chết Vậy

mà biển còn hùa vào áp đảo để rồi cánh đồng ta mòn mỏi những bờ chua Những người con của biển phải chống chọi từng ngày từng giờ với thiên nhiên, con người phơi sức người trên đồng muối trắng, thế nhưng cuộc sống nghèo khó vẫn bám riết lấy họ:

Khó khăn, vất vả là thế nhưng những con người nơi đây vẫn không đầu hàng trước số

phận Những người lính của ta đã nhảy xuống biển, xiết chặt tay nhau làm thành bức tường, khuân đá ngăn sóng Những người lính đã đem tất cả tinh thần, sức lực của mình ra

để ngăn biển dù cho biển gầm thét, biển tràn vào lồng lộn:

Biển hung hăng nhưng biển không thể tràn

Qua lồng ngực những người chiến sĩ

(Badan khát)

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh (1988), “Nguyễn Khoa Điềm với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”, T ạp chí Văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khoa Điềm với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1988
3. Arixtot (1999), Ngh ệ thuật thơ ca (nhiều người dịch), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtot
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
4. L ại Nguyên Ân (1975), “Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca”, Tạp chí Văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca
Tác giả: L ại Nguyên Ân
Năm: 1975
5. L ại Nguyên Ân (1981), “Bàn góp về trường ca”, Tạp chí Văn nghệ quân đội (1) 6. L ại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm Mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm Mới
Năm: 1984
7. Mai Bá Ấn (2004), Đặc điểm trường ca Thanh Thảo, Luận văn Thạc sĩ, ĐH Sư phạm, ĐH Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm trường ca Thanh Thảo
Tác giả: Mai Bá Ấn
Nhà XB: ĐH Sư phạm
Năm: 2004
9. Mai Bá Ấn (2008), “Trường ca Thu Bồn- thể loại và cấu trúc, Tạp chí Nghiên cứu văn h ọc” (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca Thu Bồn- thể loại và cấu trúc, Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Mai Bá Ấn
Năm: 2008
11. Đào Thị Bình (2009), Thể trường ca trong Văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX, Lu ận văn thạc sĩ, ĐH Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể trường ca trong Văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX
Tác giả: Đào Thị Bình
Nhà XB: ĐH Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 2009
12. Ngô Vĩnh Bình (2009), 65 bài thơ-nhà thơ quân đội: Một thời đánh giặc, một thời làm thơ, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: 65 bài thơ-nhà thơ quân đội: Một thời đánh giặc, một thời làm thơ
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2009
14. Nh ị Ca (2010), Tiểu luận, phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận, phê bình văn học
Tác giả: Nh ị Ca
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2010
15. Ph ạm Quốc Ca (2002), Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975-2000, Nxb Hội nhà văn, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
17. Nguy ễn Văn Dân (2008), “Trường ca với tư cách là một thể loại mới”, Tạp chí Sông Hương (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca với tư cách là một thể loại mới
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Tạp chí Sông Hương
Năm: 2008
18. Ngô Quý Dương (2010), Trường ca Thu Bồn dưới góc nhìn thể loại, Luận văn Thạc sĩ trường ĐH Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca Thu Bồn dưới góc nhìn thể loại
Tác giả: Ngô Quý Dương
Nhà XB: trường ĐH Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
19. Nguy ễn Đăng Điệp (2006), “Thơ Việt Nam sau 1975-từ cái nhìn toàn cảnh”, Tạp chí Nghiên c ứu Văn học (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam sau 1975-từ cái nhìn toàn cảnh
Tác giả: Nguy ễn Đăng Điệp
Năm: 2006
20. Hoàng Điệp (2008), “Hữu Thỉnh với thể loại trường ca”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh với thể loại trường ca
Tác giả: Hoàng Điệp
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Văn học
Năm: 2008
23. Lê Th ị Thu Hà (2007), “Giọt nước mắt hát cho người viết trường ca”, Tạp chí Văn ngh ệ (662) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọt nước mắt hát cho người viết trường ca
Tác giả: Lê Thị Thu Hà
Nhà XB: Tạp chí Văn nghệ
Năm: 2007
24. Lê Bá Hán, Tr ần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo d ục TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Tr ần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
25. Nguy ễn Văn Hạnh (2004), Chuyện văn chuyện đời, Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện văn chuyện đời
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 2004
26. Nguy ễn Thị Hậu (2010), “Tính phức hợp của trường ca Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Nghiên c ứu Văn học (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính phức hợp của trường ca Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Hậu
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Văn học
Năm: 2010
27. Hoàng Ng ọc Hiến (1984), “Về đặc trưng của trường ca”, Tạp chí văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc trưng của trường ca
Tác giả: Hoàng Ng ọc Hiến
Năm: 1984

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH TƯỢNG BIỂN TRONG - hình tượng biển trong trường ca thu bồn, thanh thảo, hữu thỉnh
HÌNH TƯỢNG BIỂN TRONG (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w