Trong đó, lực lượng lao động là bộ phận quan trọng nhất đối với nguồn lực, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển công nghiệp cũng như phát triển kinh tế – xã hộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thúy Hằng
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thúy Hằng
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Địa lí học
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo của khoa Địa
lý trường Đại học sư phạm TP.HCM đã hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài
Đặc biệt hơn, tác giả xin chân thành cám ơn sự tận tình hướng dẫn và giúp đỡ của Tiến sĩ Đàm Nguyễn Thùy Dương đã dành cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành của TP.HCM: UBNN thành phố, Tổng cục thống kê, Sở kế hoạch đầu tư, Sở lao động thương binh – xã hội, Liên đoàn lao động, Sở công thương, Phòng công nghiệp.v.v đã nhiệt tình cung cấp tư liệu, số liệu và những thông tin, tài liệu
có liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài
Lời cảm ơn tới các thành viên lớp cao học Địa lý K23, lòng biết ơn đến với gia đình, người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn TP.HCM, tháng 9 năm 2014
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu tình hình thực tiễn và
xử lí số liệu dưới sự hướng dẫn khoa học của tiến sĩ Đàm Nguyễn Thùy Dương
Các số liệu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào trước khi trình bày, bảo vệ, công nhận bởi hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Tác giả
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ
Danh mục bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP 10
1.1 Cơ sở lý luận về lao động và sử dụng lao động trong ngành công nghiệp 10
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan 10
1.1.2 Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế 21
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp 22
1.2 Cơ sở thực tiễn sử dụng lao động ở Việt Nam 29
1.2.1 Nguồn lao động dồi dào và tăng nhanh 29
1.2.2 Chất lượng nguồn lao động đã được cải thiện 31
1.2.3 Tình hình sử dụng lao động ở nước ta 34
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh 38
Trang 62.2.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 39
2.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 40
2.2.3 Các nhân tố kinh tế – xã hội 51
2.3 Lao động trong ngành công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh 67
2.3.1 Số lượng và sự gia tăng 67
2.3.2 Phân bố lao động công nghiệp theo đơn vị hành chính 68
2.3.3 Cơ cấu lao động công nghiệp 72
2.4 Sử dụng lao động trong ngành công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh 77
2.4.1 Khái quát chung 77
2.4.2 Tình hình sử dụng lao động trong các ngành công nghiệp 78
2.4.3 Tình hình sử dụng lao động công nghiệp theo lãnh thổ 82
2.4.4 Tình hình sử dụng lao động theo các thành phần kinh tế 84
2.4.5 Theo từng ngành các ngành CN và theo thành phần KT 88
2.5 Nhận xét chung 96
2.5.1 Tình trạng có việc làm 96
2.5.2 Tình trạng thiếu việc làm 99
2.5.3 Thất nghiệp 99
2.5.4 Thu nhập của người lao động trong ngành công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh 100
Tiểu kết chương 2 102
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 104
3.1 Cơ sở đưa ra giải pháp 104
3.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 104
Trang 73.1.3 Dự báo phát triển nguồn lao động Thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2020 1163.2 Các giải pháp phát triển kinh tế và sử dụng lao động hiệu quả
trong ngành công nghiệp 1243.2.1 Giải pháp phát triển kinh tế 1243.2.2 Giải pháp về sử dụng lao động hiệu quả trong ngành công
nghiệp 128
KẾT LUẬN 133 TÀI LIỆU THAM KHẢO 135 PHỤ LỤC
Trang 8AFTA : Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ILO : Tổ chứ lao động Quốc tế
KCN, KCX : Khu công nghiệp, khu chế xuất
WTO : Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 9Bảng 1.1 Cơ cấu lực lượng lao động khu vực kinh tế ở một số khu
vực trên thế giới năm 2012 15 Bảng 1.2 Cơ cấu dân số hoạt động kinh tế theo nhóm tuổi ( % ) 30 Bảng 1.3 Số lượng lao động và phân bố lực lượng lao động năm
2012 31 Bảng 1.4 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật (%) 33 Bảng 1.5 Cơ cấu dân số hoạt động kinh tế thường xuyên phân theo
nhóm ngành theo vùng nước ta năm 2009 (%) 35 Bảng 2.1 Dự án FDI vào TP.HCM giai đoạn 2001 – 2012 61 Bảng 2.2 Một vài chỉ số phát triển công nghiệp của TP.HCM so với
cả nước giai đoạn 2000 - 2012 62 Bảng 2.3 Lực lượng lao động công nghiệp TP.HCM giai đoạn 2001 - 2012 67 Bảng 2.4 Lao động trong ngành công nghiệp phân theo đơn vị hành
chính ở TP.HCM năm 2012 70 Bảng 2.5 Quy mô và tốc độ tăng lực lượng lao động công nghiệp
theo nhóm ngành giai đoạn 2001 – 2012(người) 79 Bảng 2.6 Cơ cấu lực lượng lao động công nghiệp phân theo nhóm
ngành giai đoạn 2001 - 2012(%) 79 Bảng 2.7 Quy mô lao động trong nhóm ngành sản xuất điện, nước
và khí đốt ở TP.HCM 82 Bảng 2.8 Lao động công nghiệp ở các KCN - KCX ở TP.HCM 83 Bảng 2.9 LLLĐ công nghiệp phân theo thành phần kinh tế giai đoạn
2001 – 2012 84 Bảng 2.10 LLLĐ công nghiệp nhà nước giai đoạn 2001 -2012 86
Trang 10Bảng 2.12 Phân bố lao động trong các ngành công nghiệp ở khu vực
ngoài nhà nước năm 2012 88 Bảng 2.13 Quy mô lao động trong nhóm ngành Sản xuất điện, nước
và khí đốt ở TP.HCM 95 Bảng 2.14 Số người được giới thiệu việc làm trong độ tuổi lao động ở
TP.HCM giai đoạn 2000 – 2011 96 Bảng 3.1 Nhu cầu nhân lực 4 nhóm ngành công nghiệp trọng yếu
TP.HCM giai đoạn 2015 – 2020, xu hướng đến 2020 – 2025 117 Bảng 3.3 Nhu cầu ngành nghề khác thu hút nhiều lao động TP.HCM
giai đoạn 2015 – 2020, xu hướng đến 2020 – 2025 117 Bảng 3.4 Nhu cầu nhân lực qua đào tạo phân theo nhóm 8 nhóm
ngành TP.HCM giai đoạn 2015 – 2020, xu hướng đến
2020 – 2025 118 Bảng 3.5 Nhu cầu trình độ nghề TP.HCM giai đoạn 2015 – 2020,
xu hướng đến 2020 – 2025 118 Bảng 3.6 Dự báo nhu cầu nhân lực phân theo khu vực kinh tế giai
đoạn 2015-2025 119 Bảng 3.7 Dự báo lao động làm việc trong doanh nghiệp phân theo
loại hình doanh nghiệp 123
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế thời kì 2001 -
2012 34 Biểu đồ1.2 Cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế của nước
ta giai đoạn 2000 – 2012 36 Biểu đồ 2.1 Tỉ suất sinh thô, tỉ suất tử thô và tỉ lệ gia tăng tự nhiên
TP.HCM giai đoạn 2000 – 2012 (‰) 52 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế của TP.HCM giai
đoạn 2000 – 2012 63 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế TP.HCM giai
đoạn 2000 – 2012 (%) 64 Biểu đồ 2.4 Lao động công nghiệp và tốc độ tăng trưởng lao
độngcông nghiệp 68 Biểu đồ 2.5 Cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính trong các
nhóm ngành công nghiệp năm 2012 75 Biểu đồ 2.6 Chuyển dịch cơ cấu GDP của TP.HCM theo khu vực
kinh tế giai đoạn 2005 – 2012 77 Biểu đồ 2.7 Lực lượng lao động trong ngành công nghiệp chế biến
của TP.HCM qua các năm 81 Biểu đồ 2.8 Cơ cấu LLLĐ công nghiệp phân theo thành phần kinh tế
giai đoạn 2005 -2012 (%) 85 Biểu đồ 2.9 Cơ cấu lực lượng lao động nhà nước phân theo ngành
công nghiệp năm 2012 87 Biểu đồ 2.10 Quy mô lao động trong nhóm ngành sản xuất điện, nước
và khí đốt ở TP.HCM 95 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu nhu cầu nhân lực phân theo thành phần kinh tế
giai đoạn 2015 – 2025 122 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu nhu cầu nhân lực phân theo loại hình doanh
nghiệpgiai đoạn 2015 – 2025 123
Trang 12Bản đồ hành chính Thành phố Hồ Chí Minh 37
Bản đồ dân số và cơ cấu dân số theo số dân Thành phố Hồ Chí Minh 53
Bản đồ quy mô và cơ cấu trường học TP.HCM 58
Bản đồ lao động và mật độ lao động công nghiệp TP.HCM 69
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới biến đổi sâu sắc do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Vai trò to lớn của nền kinh tế tri thức , xu thế toàn c ầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế làm cho việc phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia chủ yếu trên nền tảng trí tuệ của con người, khác với trước đây là dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Việt Nam là một quốc gia có dân số đông , lực lượng lao động đồi dào Gần đây, tốc độ tăng lao động hàng nă m khoảng 1,1 triệu lao động/năm Lực lượng lao động đông về số lượng nhưng hạn chế về chất lượng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất
Nhận thức xu hướng phát triển nền kinh tế – xã hội thế giới và dựa vào tình hình thực tế của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ,
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đưa ra quan điểm “lấy việc phát huy nguồn
lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững ”, trong
đó “nguồn lao động ý nghĩa quan trọng và quyết định trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta” Đó cũng là ý kiến của nhiều chuyên gia
kinh tế nước ngoài tại Việt Nam: “Phát triển công nghiệp Việt Nam không nên
dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên mà nên dựa vào nhiều vào nguồn lực con người” Trong đó, lực lượng lao động là bộ phận quan trọng nhất đối với
nguồn lực, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển công nghiệp cũng như phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là thành phố năng động nhất cả nước , với nhiều chuyển biến tích cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay nền kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh phát triển đứng đầu cả nước Năm 2012, tốc độ tăng trưởng GDP là 9,2% , GDP bình quân đầu ng ười 3700 USD Công nghiệp tăng nhanh , dẫn
Trang 14đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng và giá trị sản xuất Để đạt được thành tựu
đó không thể không nói đến vai trò to lớn của lực lượng lao động công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, việc sử dụng lao động trong ngành công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh còn bộc lộ nhiều bất cập Xuất phát
từ những lý do trên , tôi chọn đề tài nghiên cứu : “Hiện trạng sử dụng lao
động trong ngành công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu
- Mục tiêu cơ bản của đề tài là nghiên cứu sử dụng lao động trong ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đưa ra các giải pháp cho việc nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả lao động trong ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan một số vấn đề lý luận về lao động và sử dụng lao động
- Khái quát tình hình phát triển công nghiệp của thành phố , chủ yếu trong giai đoạn 2000 đến 2012
- Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng và việc sử dụng lao động công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ Địa lý kinh tế – xã hội
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động trong ngành công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả lao động trong ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
- Làm rõ một số khái niệm : lao động, cơ cấu lao động , tình trạng việc làm, thị trường lao động
Trang 15- Một số vấn đề về lý luận công nghiệp và sự phân chia công nghiệp, các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp Những vấn đề này được cụ thể trong ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh
- Quy mô, cơ cấu, phân bố lao động , sử dụng lao động công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
- Dự báo về lao động và sử dụng lao động công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh Đề xuất một số ý kiến góp phần tổ chức , sử dụng lực lượng lao động, thực hiện phân công lao động công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh
Giới hạn lãnh thổ nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở mức độ khái quát chung toàn ngành công nghiệp là chủ yếu Sau đó đi sâu phân tích lao động và sử dụng lao động của các phân ngành công nghiệp
- Giới hạn lãnh thổ nghiên cứu đến cấp quận, huyện
- Do sự khác nhau về lý luận và thực tiễn phát triển , nên đề tài không đế
cập đến việc sử dụng lao động thuộc lĩnh vực “làng nghề”
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2000 đến 2012
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trước sự đổi mới của nền kinh tế – xã hội đất nước , những năm qua Việ Nam đã có nhiều công trình nhgiên cứu về lao động , việc làm của các cơ quan chức năng Nhà nước:
- Trung tâm nghiên cứu lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Ban Dân cư lao động của Viện chiến lược phát triển , Bộ Kế hoạch Đầu
tư
- Một số cơ quan thuộc Trung tâm Khoa học - Xã hội Nhân văn quốc gia
Trang 16Vấn đề lao động và sử dụng lực lượng lao động đã được đề cập đến
trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học : GS.TS Đặng Thu , GS.TS.Nguyễn Viết Thịnh , GS.TS Lê Thông , PGS.TS.Nguyễn Minh Tuệ , GS.TS.Nguyễn Thị Minh Đức …
Trong hội thảo “ Dân số và phát triển nguồn nhân lực” của Trung tâm
Nghiên cứu dân số và nguồn lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vào tháng 9 năm 1990, các tác giả đều bàn luận xoay quanh vấn đề dân số, lao động, việc làm và một vài khía cạnh quan hệ của chúng trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế
Trong thông tin chuyên đề của Trung tâm thông tin thuộc Ủy ban kế hoạch nhà nước, hai tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Đinh Văn Bình đã đề cập
đến một vài khía cạnh lao động- việc làm qua bài viết “ Thị trường lao động
và vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam”; tác giả Trần Thị Tuyết Mai có bài
xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 1991-2005”; tác giả
Thế Ba có bài “ Lao động và việc làm ở nông thôn thời kỳ 1991- 1995”; tác giả Lê Quang với bài “ Lao động và việc làm cho thanh niên”…Các bài viết
này mới chỉ đề cập đến một khía cạnh cụ thể của quan hệ dân số- lao động- việc làm
Nhiều tác giả đã phân tích khá sâu sắc lao động, việc làm và mối quan hệ
giữa dân số với lao động và việc làm , như bài viết của Lê Trung “ Lao động
và việc làm: điều băn khoăn chưa lời giải” Nhiều tác giả còn đi sâu và
nghiên cứu nguồn lao động ở nhiều khía cạnh khác nhau như: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực trong
phát triển kinh tế - xã hội, như: TS Trần Thị Tuyết Mai với bài viết “Một số
vấn đề về phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam đến năm 2010”; Sở Lao động – Thương binh và Xã
Trang 17hội Thành phố Hồ Chí Minh “Báo cáo vai trò khu vực kinh tế phi chính thức
trong tạo việc làm, thu nhập, các vấn đề xã hội”
Ngoài ra , cũng phải kể đến một số đề tài được đề cập chuyên sâu về
nguồn lao động và sử dụng lao động : “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết
việc làm ở Việt Nam ” của tác giả Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa , “Dân
cư, nguồn lao động trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng duyên hải Nam Trung Bộ ” của tác giả Hoàng Văn Chức , “Nguồn lao động và sử dụng lao động ở TPHCM” của tác giả Đàm Nguyễn Thùy Dương, …
Những đề tài nghiên cứu của các tác giả trên sẽ là tài liệu tham khảo vô cùng quý báu cho chúng tôi thực hiện đề tài này Tuy nhiên đến nay chưa có công trình nào về hiện trạng sử dụng lao động công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ địa lý kinh tế – xã hội
4 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Hệ quan điểm
Các đối tượng hiện tượng địa lý đều có sự tác động qua lại với nhau trong một hệ thống nhất định khi một thành phần của hệ thống bị tác động làm nó thay đổi, phát triển thì nó sẽ gây ra những ảnh hưởng đến các thành phần khác của hệ thống đồng thời kéo theo các thành phần khác thay đổi Lực lượng lao động là một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế - xã hội, sự phát triển về số lượng, chất lượng lao động cũng như việc sử dụng lao động trong công nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vào một cơ cấu
kinh tế và một thể chế xã hội nhất định Vì vậy khi nghiên cứu đánh giá lực lượng lao động và vấn đề sử dụng lực lượng lao động trong công nghiệp ở TP.HCM phải dựa trên quan điểm hệ thống, coi mọi sự vật hiện tượng thông suốt trong các hợp phần thì việc đánh giá phân tích mới chính xác
Thành phố Hồ Chí Minh là một hệ thống kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế Việt Nam Trong quá trình phát
Trang 18triển kinh tế - xã hội của thành phố, các hợp phần như: vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, đường lối phát triển kinh tế- xã hội … có sự tác động qua lại với nhau và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh ta cần phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với các hợp phần khác
Lực lượng lao động của một vùng có quan hệ mật thiết với các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng và các vùng lân cận, các yếu tố có thể thúc đẩy hoặc ức chế sự phát triển của lực lượng lao động của vùng đó và ngược lại
Vì vậy việc nghiên cứu các vấn đề về sử dụng lực lượng lao động trong công nghiệp ở TP.HCM không thể tách rời vấn đề sử dụng lực lượng lao động của các tỉnh, thành phố lân cận, của Đông Nam Bộ và cả nước Do nguồn lao động TP.HCM là một bộ phận của nguồn lao động của vùng và của
cả nước Từ việc xem xét với các bộ phận lãnh thổ khác, sẽ xác định được những đặc trưng riêng phải giải quyết trong điều kiện cụ thể của thành phố
4.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Sự phát triển dân số, kinh tế - xã hội trong quá khứ và hiện tại ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lao động và sử dụng lao động trong hiện tại cũng như trong tương lai Việc nghiên cứu vấn đề lao động trong mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ làm rõ được bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian
Lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động trong công nghiệp ở
TP HCM không chỉ có phân hóa theo không gian mà còn có sự thay đổi phát triển theo thời gian Vì vậy để lí giải lực lượng lao động và thực trạng sử dụng lực lượng lao động trong hiện tại và xác định kế hoạch phát triển sử dụng lao động trong tương lai của thành phố chúng ta cần phải quán triệt quan điểm lịch sử và viễn cảnh
Trang 194.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại
và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm
và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu
và nghèo, và giữa các thế hệ Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững
Phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động phải đi đôi với sử dụng hợp lý, bảo vệ và tái tạo tài nguyên, chống ô nhiễm môi trường, kết hợp hoài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Là phương pháp rất quan trọng đối với địa lí kinh tế - xã hội Trên cơ sở các số liệu thống kê người nghiên cứu có thể phân tích so sánh trong mối liên
hệ giữa các đối tượng địa lí kinh tế, so sánh với các địa phương khác, các vùng khác Các tài liệu thống kê đảm bảo giá trị pháp lý được triệt để khai thác phục vụ cho việc nghiên cứu Số liệu được thu thập, tổng hợp, xử lý trên
cơ sở dữ liệu và kết quả của các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở, thống kê kinh tế - xã hội của thành phố, các tỉnh lân cận và cả nước
Từ đó rút ra những kết luận có tính quy luật và tìm được những dấu hiệu bản chất nhất của vấn đề nghiên cứu
Trang 204.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Trên cơ sở số liệu từ nguồn của thành phố: Cục thống kê, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động, Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch
và Đầu tư, Ban quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất, Phòng công nghiệp, v.v… Chúng tôi tiến hành xử lý số liệu, sắp xếp, kiểm tra mức độ chính xác, phân tích và tổng hợp các dữ liệu, rút ra những kết luận cần thiết cho luận văn
Đây là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu Địa lý Sử dụng bản đồ trong nghiên cứu nhà địa lí dễ dàng tìm thấy mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng tự nhiên, dân cư môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội
Các loại bản đồ được sử dụng để nghiên cứu sự biến động về số lượng, kết cấu của lực lượng lao động, sử dụng lực lượng lao động trong toàn ngành công nghiệp của thành phố cũng như trong một số phân ngành chủ yếu nhất Cuối cùng công trình nghiên cứu được thể hiện kết luận bằng hệ thống bản đồ, biểu đồ
Thực địa là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lý kinh tế - xã hội Là phương pháp truyền thống của địa lí học để tích lũy tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức lãnh thổ được nghiên cứu
Đây là phương pháp dùng để thu được lượng thông tin đáng tin cậy và xây dựng ngân hàng tư liệu cho các phương pháp phân tích khác (bản đồ, toán học, cân đối, )
Vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp này để kiểm tra độ chính xác, độ tin cậy của các nguồn tài liệu thu thập được
và có cơ sở thực tiễn đánh giá tình hình sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp của thành phố
Trang 214.2.5 Ứng dụng phần mềm GIS
Hệ thống thông tin địa lí đang là một công cụ mạnh, đáng tin cậy không những chỉ của các người làm công tác kĩ thuật, mà còn của cả các người quản
lí xã hội… và được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi ứng dụng phần mềm thông tin địa lý (GIS) nhằm tính toán, thiết kế, biên tập bản đồ Nhờ đó quá trình nghiên cứu đề tài mang tính định lượng hơn
Các phương pháp trên được vận dụng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn với sự thống nhất và kết hợp giữa chúng
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận , nội dung của luận văn gồm ba chương chính:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về lao động và sử dụng lao động trong ngành công nghiệp
- Chương 2 Hiện trạng sử dụng lao động trong ngành công n ghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng và sử dụng hợp lý lao động trong ngành công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 22Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG
CÔNG NGHI ỆP 1.1 Cơ sở lý luận về lao động và sử dụng lao động trong ngành công nghiệp
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan
1.1.1.1 Lao động
1.1.1.1.1 Quan niệm về lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và xã hội Lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội Các định nghĩa lao động tập trung đề cập hai khía cạnh chủ yếu:
Thứ nhất, xem lao động là hoạt động, phương thức tồn tại sống của con
người Thứ hai, lao động quan niệm là chính bản thân con người, với tất cả
nỗ lực vật chất, tinh thần của nó thông qua hoạt động lao động của mình sử dụng các công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động để đạt được mục đích nhất định [3]
Tuổi lao động là khoảng thời gian con người có khả năng lao động để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật lao động quy định [35]
Độ tuổi lao động luôn được pháp luật quy định và có thể thay đổi trong các thời kì khác nhau và có quan niệm khác nhau về độ tuổi lao động Về giới hạn dưới của tuổi lao động: Ai Cập quy định từ 6 tuổi, Braxin từ 10 tuổi, Thụy Điển và Hoa Kì từ 16 tuổi … Về giới hạn trên của tuổi lao động: Đan Mạch, Phần Lan quy định 74 tuổi; Malaixia, Hoa Kì, CHLB Đức quy định 65 tuổi Nhiều nước khác không quy định tuổi tối đa
Trang 23Ở Việt Nam theo quy định hiện hành của Bộ luật Lao động, tuổi lao động được quy định:
- Nam: từ đủ 15 tuổi trở lên đến 60 tuổi
- Nữ: từ đủ 15 tuổi trở lên đến 55 tuổi
Thực tế có những người không nằm trong độ tuổi lao động do pháp luật quy định nhưng vẫn tham gia lao động Đó là lao động trẻ em và lao động cao tuổi:
Nam)
trên 55 tuổi) theo quy định của pháp luật nhưng vẫn còn khả năng lao động và
có nhu cầu làm việc, họ được miễn giảm các nghĩa vụ theo pháp luật lao động quy định
1.1.1.2 Lực lượng lao động
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Lực lượng lao
động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp
Ở Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về lực lượng lao động
Trong cuốn sách “Hướng dẫn nghiệp vụ chỉ tiêu xã hội ở Việt Nam” của Tổng cục Thống kê quy định: Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên
có việc làm và không có việc làm
Theo quan điểm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Lực lượng
lao động gồm những người từ độ tuổi 15 trở lên đang tham gia hoạt động kinh tế, không phân biệt là có việc làm hay thất nghiệp Khái niệm này về cơ
bản thống nhất với quan điểm của ILO và quy định hiện hành của Tổng cục
Thống kê về lực lượng lao động: Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số
hoạt động kinh tế
Trang 24Như vậy lực lượng lao động không bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không tham gia hoạt động kinh tế như đang đi học, đang làm nội trợ cho gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc
Lao động trẻ em
Trên tuổi lao động không làm việc
Dưới tuổi lao động không làm việc Dân số không hoạt động kinh tế Dân số hoạt động kinh tế
Nguồn lao động
Nguồn: Địa lí kinh tế - xã hội đại cương – Nguyễn Minh Tuệ ( chủ biên)
Sơ đồ Nguồn lao động và dân số hoạt động kinh tế
Ngoài các đặc trưng về nhân khẩu, về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kĩ thuật, lực lượng lao động còn bao hàm các đặc trưng về trình độ, cơ cấu, nghề nghiệp, cấu trúc đào tạo, tác phong kỷ luật lao động, đạo đức nghề nghiệp, sự hiểu biết về pháp luật, khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường
có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khả năng hội nhập với thị trường lao động trong nước và thế giới
Theo quan điểm triết học, “cơ cấu” hay “kết cấu” là phạm trù phản ánh
cấu trúc bên trong của một hệ thống, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên bộ phận đó trong một thời
gian nhất định Theo PGS.TS Phạm Quý Thọ, trong cuốn “ Chuyển dịch cơ
cấu lao động theo xu hướng hội nhập quốc tế” NXB Lao động – Xã hội đã
đưa ra khái niệm về cơ cấu “ Cơ cấu biểu thị cấu trúc của hệ thống, gồm
nhiều bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; cơ cấu biểu hiện mối quan hệ
Trang 25về tỉ trọng giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể hoặc là tỉ lệ giữa các bộ phận với nhau, bộ phận này tăng thì bộ phận kia giảm và ngược lại” [36,
trang 16]
Với quan niệm trên, cơ cấu lực lượng lao động là thành phần khác nhau
và mối quan hệ tỉ lệ của các thành phần đó theo các tiêu thức cấu thành nên một tổng thể lực lượng lao động Cơ cấu đó thể hiện đặc trưng của lực lượng lao động từng quốc gia hay địa phương và được hình thành do quá trình phân phối sử dụng lực lượng lao động
Ví dụ: Cơ cấu theo giới tính, cơ cấu theo độ tuổi, cơ cấu theo trình độ văn hóa, cơ cấu theo trình độ chuyên môn kĩ thuật…
Người ta thường nghiên cứu cơ cấu lực lượng lao động theo các tiêu thức sau:
Cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính
Nghiên cứu lực lượng lao động theo tiêu thức này giúp ta xem xét cấu thành lực lượng lao động nam, nữ tham gia hoạt động sản xuất; tỉ lệ lao động trẻ, khỏe trong nền kinh tế quốc dân Trong chừng mực nhất định nó chi phối năng suất lao động và các hoạt động khác của lao động
Để thể hiện cơ cấu lực lượng lao động theo giới, người ta thường dùng tỉ
số lực lượng lao động theo giới tính Tỉ lệ này được tính bằng hai công thức:
- Tỉ lệ giới tính nam (hoặc nữ) bằng số lực lượng lao động nam (hoặc
nữ) trên tổng số lực lượng lao động Đơn vị tính: %
Số lực lượng lao động nam (nữ)
Tỉ lệ giới tính nam (nữ) =
Tổng số lực lượng lao động
- Tỉ số giới tính là tổng số lực lượng lao động nam trên tổng số lực
lượng lao động nữ Đơn vị tính: %
Tổng số lực lượng lao động nam
Tỉ số giới tính =
Tổng số lực lượng lao động nữ
Trang 26Cơ cấu lực lượng lao động theo giới thay đổi theo loại hình công việc Đối với những ngành lao động nặng nhọc, lực lượng lao động chủ yếu là nam, đối với những công việc nhẹ, đòi hỏi sự khéo léo, cần cù như công nghiệp dệt, may mặc … lao động chủ yếu là nữ
Cơ cấu lực lượng lao động theo giới phản ánh tính chất, đặc điểm, loại hình công việc và mức độ bình đẳng nam – nữ Trong chừng mực nhất định
nó chi phối năng suất lao động và các sinh hoạt xã hội
Trên thế giới, khi nền kinh tế càng phát triển thì xu hướng gia tăng tỉ lệ lao động nữ càng cao, tạo cơ hội cho sự bình đẳng nam – nữ
Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành kinh tế
Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành là tình trạng phân bố sắp xếp lực lượng lao động của một vùng, một nước (hay trên toàn thế giới) vào các ngành kinh tế khác nhau, đảm bảo cho sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Việc phân chia lực lượng lao động theo ngành kinh tế chủ yếu dựa vào tính chất và nội dung của hoạt động sản xuất Nền kinh tế của mỗi quốc gia được chia thành 3 nhóm ngành: Nông – lâm – ngư (khu vực I); Công nghiệp – xây dựng (khu vực II) và Dịch vụ – thương mại (khu vực III) Mỗi ngành kinh
tế lại được phân chia thành các phân ngành nhỏ hơn
Lực lượng lao động công nghiệp là toàn bộ những người có việc làm
hoặc đang tìm kiếm việc làm trong lĩnh vực công nghiệp với các phân ngành: khai thác mỏ; công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất, phân phối điện,
ga, nước [36]
Cơ cấu lực lượng lao động theo nhóm ngành kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Sự biến đổi cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế có mối quan hệ với trình độ phát triển kinh tế - xã hội diễn ra theo quy luật là trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao thì lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng cả về số lượng và tỉ trọng Việc chuyển bớt tỉ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp có
Trang 27năng suất lao động thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đòi hỏi có trình
độ chuyên môn kĩ thuật và năng suất lao động cao hơn có tác động quyết định làm tăng nhanh năng suất lao động xã hội mà năng suất lao động là yếu tố quan trọng của sự phát triển
Bảng 1.1 Cơ cấu lực lượng lao động khu vực kinh tế ở một số khu vực trên
th ế giới năm 2012
Đơn vị tính: % Quốc gia Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Nguồn: International LabourOffice
Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành kinh tế cho phép nghiên cứu cơ cấu, quá trình phân phối và sử dụng lực lượng lao động theo từng ngành kinh
tế và toàn bộ nền kinh tế, cũng như xu hướng biến động đó qua từng thời kì
Cơ cấu lực lượng lao động theo thành phần kinh tế
Cơ cấu lực lượng lao động theo thành phần kinh tế phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội của mỗi quốc gia Nó thể hiện sự khác biệt và tính đa dạng của nền kinh tế Nền kinh tế chỉ phát triển khi mọi lực lượng sản xuất được giải phóng, phát huy tối đa nguồn lực trong và ngoài nước ( trong đó có nguồn lao động) vào quá trình phát triển Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế sẽ giúp cho việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần huy động mọi tầng lớp, mọi nguồn vốn tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và xây
Trang 28dựng đất nước
Ở nước ta, trước đây chỉ có hai thành phần kinh tế: Quốc doanh và tập thể Từ khi phát triển nền kinh tế thị trường đến nay, cơ cấu lực lượng lao động theo thành phần kinh tế đã có sự thay đổi lớn Tại Đại hội Đại lần thứ X
năm 2006, nước ta có 5 thành phần kinh tế sau: Thành phần kinh tế Nhà
nước; Thành phần kinh tập thể; Thành phần kinh tư nhân (cá thể và tiểu chủ); Thành phần kinh tư bản Nhà nước; Thành phần kinh có vốn đầu tư nước
giảm dần tỉ lệ lao động ở khu vực quốc doanh, tăng tỉ lệ lao động ở khu vực ngoài quốc doanh Sự chuyển dịch đó phù hợp với đặc điểm và khả năng phát triển nền kinh tế - xã hội nước ta, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Cơ cấu lao động theo lãnh thổ
Trong mối quan hệ với các yếu tố khác của lực lượng sản xuất để tạo nên
sự kết hợp đồng bộ thúc đẩy phát triển sản xuất có hiệu quả Sử dụng lao động theo lãnh thổ là một hình thức đặc biệt của phân công lao động xã hội, mà kết quả mỗi địa phươn căn cứ vào điều kiện đặc thù của mình sẽ chuyên môn hóa sản xuất một( hay một số ) sản phẩm, đôi khi chỉ một bộ phận nào đó của sản phẩm để cung cấp cho nhu cầu của các vùng khác trong nước và cả nước ngoài Đôi khi để đảm bảo có sự cân bằng đồng bộ các yếu tố này dẫn đến quá trình chuyển dân cư và lao động giữa các lãnh thổ Phân công lao động theo lãnh thổ sẽ giúp sử dụng và khai thác thế mạnh của từng vùng, từng địa phương
Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ
Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ phản ánh chất lượng lực lượng lao động, việc bố trí lao động phù hợp với trình độ của họ tạo cơ sở cho việc tăng năng suất lao động, cũng như khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Đây là cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo và nâng
Trang 29cao trình độ cho người lao động
Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ được tính theo tiêu thức sau:
Trình độ văn hóa: biểu hiện thông quacác quan hệ tỉ lệ của số lượng
người biết đọc, biết viết; số người có trình độ tiểu học; số người có trình độ trung học cơ sở; số người có trình độ trung học phổ thông; số người có trình
độ cao đẳng, đại học, trên đại học Trình độ văn hóa cao của lực lượng lao động tạo khả năng tiếp thu, vận dụng nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn
Trình độ chuyên môn: là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên
môn nào đó, nó thể hiện trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp có khả năng chỉ đạo, quản lí một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động được đo bằng tỉ lệ cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học
Trình độ kĩ thuật: Trong nền kinh tế nông nghiệp, nhân lực chủ yếu
quyết định sự phát triển là lao động phổ thông Trong nền kinh tế công nghiệp, nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là các chuyên gia và công nhân lành nghề Trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là các chuyên gia công nghệ cao và người lao động tri thức có nhiều khả năng sáng tạo
Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ kĩ thuật được phân ra:
đơn giản hay lao động không có nghề) là lao động không qua học nghề dưới bất kì hình thức nào
đẳng, trung cấp nghiệp vụ và công nhân kĩ thuật Công nhân kĩ thuật là những người tốt nghiệp các khóa đào tạo và hoàn thành thời gian tập sự hoặc tích lũy kiến thức qua thực tế, đạt trình độ nhất định theo tiêu chuẩn nghề quy định
Trang 30và kĩ xảo đặc biệt thông qua đào tạo hoặc tích lũy kinh nghiệm thực tế, đảm nhiệm được những công việc rất phức tạp, đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật – công nghệ; có khả năng truyền nghề và dạy nghề (gồm những người có trình
độ đại học trở lên, các nghệ nhân, những người có tài năng bẩm sinh đặc biệt) Ngoài những chỉ tiêu được định lượng hóa kể trên về chất lượng lực lượng lao động, người ta còn xem xét chỉ tiêu năng lực, phẩm chất, ý chí và năng lực tinh thần người lao động Chỉ tiêu này phản ánh mặt định tính và khó định lượng như: truyền thống dân tộc về bảo vệ tố quốc, văn hóa văn minh dân tộc, phong tục tập quán, lối sống, phong cách làm việc của người lao động
1.1.1.3.Vi ệc làm - Thất nghiệp
1.1.1.3.1.Việc làm
Một trong những khái niệm gắn liền với lao động là khái niệm việc làm Dưới góc độ triết học, kinh tế học, xã hội học … việc làm chủ yếu được xác định như là dạng hoạt động có ích của con người Đảm bảo việc làm thường xuyên cho lực lượng lao động là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Việc nghiên cứu nó được tập trung vào một số khía cạnh như lao động có việc làm thường xuyên theo khu vực nông thôn – thành thị, theo khu vực kinh tế và lao động thiếu việc làm
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, mọi hoạt động tạo ra thu nhập
không bị luật pháp ngăn cấm gọi là việc làm Các hoạt động lao động được
xác định là việc làm bao gồm:
* Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật
* Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc
đó
Trong Bộ luật Lao động đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994, Điều 13 đã định nghĩa mọi hoạt động tạo ra thu nhập,
Trang 31không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm Trong định nghĩa này đã thừa nhận việc làm phải gắn với thu nhập, tức là các hoạt động kinh tế không có thu nhập thì không phải là việc làm và việc làm nằm trong khuôn khổ quỹ đạo của chuẩn mực xã hội cho phép [10]
thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ; Hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng có nhu cầu làm thêm; Hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của Nhà nước
có số giờ làm việc dưới 40, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của Nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm (trừ những người có số giờ làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm) Theo Quyết định số 188/1999/QĐ-TT ngày 17/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ, mức giờ chuẩn được quy định là 40 giờ/1 tuần làm việc
Việc làm và thất nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau trong sự biến động không ngừng của thị trường lao động và sự phát triển kinh tế - xã hội Thất nghiệp là biểu hiện của sự không cân bằng của thị trường lao động khi nhu cầu việc làm nhiều hơn chỗ làm việc Ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam do tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động cao nên vấn
đề thất nghiệp vẫn đang là thách thức lớn Nó không chỉ gây ra những hậu quả tiêu cực cho cá nhân mà còn cho sự phát triển nền kinh tế Nói một cách đơn
giản, một người được coi là thất nghiệp nếu người đó trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động nhưng không có việc làm và đang cố gắng tìm việc
Trang 32[10]
Trong những quy định điều tra thực trạng lao động và việc làm được áp dụng từ năm 1996 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành, xác định người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế trong thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Ở đây giới hạn độ tuổi của người thất nghiệp được quy định cả những người trên độ tuổi lao động Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, khi trong xã hội còn có một tỉ lệ người trên độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và đi liền với nó là một tỉ lệ không nhỏ người đang rơi vào tình trạng không có việc làm
Sự phát triển thị trường lao động ở nhiều nước đã chỉ ra các dạng thất nghiệp khác nhau:
- Thất nghiệp tự nguyện (tự nhiên) là tình trạng thất nghiệp của người lao động do không tích cực tìm kiếm việc làm ở mức lương hiện hành Thất nghiệp tự nhiên là dạng thất nghiệp chấp nhận được của nền kinh tế, tức là với mức thất nghiệp này nền kinh tế vẫn giữ được sự phát triển bình thường
- Thất nghiệp dài hạn là tình trạng thất nghiệp có thời gian kéo dài từ 1 năm trở lên
- Thất nghiệp chu kì là tình trạng thất nghiệp xảy ra trong giai đoạn đình trệ của chu kì đầu sản xuất kinh doanh
- Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng thất nghiệp xảy ra khi mất tính đồng bộ giữa cơ cấu lao động và cơ hội làm việc do sự thay đổi cơ cấu nhu cầu tiêu dùng và công nghệ Loại thất nghiệp này mang đặc điểm của thất nghiệp dài hạn
Khái niệm thất nghiệp trên là cơ sở để xác định người thất nghiệp Tất cả các nước đều cố gắng giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống mức tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên Một số quốc gia có tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên chứng tỏ việc sử dụng lao động ở quốc gia đó hợp lí
Trang 331.1.1.4.Th ị trường lao động
Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra hành vi trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động Lao động được mua bán trên thị trường không phải
là lao động trừu tượng, mà cụ thể, thể hiện bằng việc làm được trả công, với những tiêu chuẩn đánh giá: tính chất cá nhân hay tập thể của việc làm, tính kĩ thuật, thành thạo, cơ động … của việc làm
Thị trường lao động là nơi thể hiện việc làm được trả công qua các quan hệ mua và bán giữa người cung ứng lao động và người sử dụng lao động, nghĩa là các quan hệ cung và cầu lao động[17] Chỉ những người lao động
đang làm thuê hoặc đang đi tìm việc làm thuê mới trực tiếp tham gia thị trường lao động
Cung lao động là khối lượng người lao động (số lượng, chất lượng) tham
gia vào thị trường lao động trong thời gian nhất định Cầu lao động là khả
năng sử dụng lao động trên thị trường lao động Nếu mức cầu có khả năng thu hút tất cả những người có khả năng trong xã hội thì thị trường lao động vận
hành thắng lợi Ngược lại điều đó, nạn thất nghiệp xảy ra làm tổn hại cho lợi ích nền kinh tế và người lao động
1.1.2 Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế
Công nghiệp là ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất rất lớn cho xã hội, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Công nghiệp không những cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của toàn xã hội
Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và
Trang 34củng cố an ninh quốc phòng Không một ngành kinh tế nào lại không sử dụng các sản phẩm của công nghiệp
Công nghiệp tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các vùng khác nhau, làm thay đổi sự phân công lao động và giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ
Công nghiệp ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm mới mà không ngành sản xuất vật chất nào sánh được với nó vì thế tạo khả năng mở rộng sản xuất,
mở rộng thị trường lao động, tạo ra nhiều việc làm mới và tăng thu nhập Ngày nay, một nước muốn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đảm bảo
sự phát triển ổn định về kinh tế - xã hội, cần thiết phải có một hệ thống các ngành công nghiệp hiện đại và đa dạng, trong đó các ngành công nghiệp mũi nhọn phải được đầu tư đúng mức Quá trình một xã hội chuyển dịch từ một nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở nông nghiệp sang một nền kinh tế về cơ bản dựa vào sản xuất công nghiệp được gọi là quá trình công nghiệp hoá
1.1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp
Vị trí địa lí còn có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội,
có ảnh hưởng lớn tới sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp Vì lợi thế về vị trí địa lí kinh tế sẽ thu hút lượng lớn lao động từ nơi khác đến
Ví dụ: Một vùng có vị trí thuận lợi, nằm trong khu vực phát triển kinh tế năng động của cả nước, có nhiều khu công nghiệp, xí nghiệp công nghiệp, vùng đó sẽ thu hút lao động đặc biệt là lao động trong công nghiệp từ các
Trang 35vùng khác đến để làm việc trong các công ty, nhà máy nơi đây
1.1.3.2.Các nhân t ố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
phối phương thức canh tác cũng như năng suất của đất đai Dân cư và lao động thường tập trung đông ở những vùng địa hình phẳng như các đồng bằng, bồn địa và thung lũng miền núi để thuận tiện cho sản xuất và sinh hoạt Càng lên cao dân cư càng thưa thớt
Vùng địa hình cao thường là nơi khai thác kinh tế, liên quan đến sự di cư của lao động nam nhiều hơn lao động nữ, trong cơ cấu lao động theo giới thường thì nam nhiều hơn nữ
là nông - lâm - ngư nghiệp, ảnh hưởng tới sinh hoạt của dân cư và lực lượng lao động Vùng nhiệt đới ánh sáng nhiều, nhiệt độ cao, cây trồng vật nuôi sinh trưởng nhanh, năng suất cao, nuôi sống nhiều người nên đây cũng là nơi tập trung đông dân cư và lực lượng lao động Về mặt sinh học, con người vùng nhiệt đới có khả năng sinh đẻ lớn hơn vùng ôn đới và hàn đới nên mức sinh ở các nước nhiệt đới cũng thường cao hơn, nhất là những nước nghèo, lạc hậu, làm cho mức gia tăng về dân số và lao động lớn
Diễn biến mùa khí hậu góp phần hình thành tập quán canh tác, sinh hoạt
và kinh nghiệm sản xuất của người lao động ở từng địa phương Khí hậu mùa đông ở miền Bắc nước ta với sự xen kẽ các đợt gió mùa Đông Bắc làm thời tiết luôn luôn thay đổi, chi phối lịch thời vụ gieo trồng Rét đậm kéo dài làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi
Nguồn nước cần thiết cho sự sống của mọi sinh vật, cần thiết cho hoạt
động của nông nghiệp Sự phân bố lực lượng lao động chịu ảnh hưởng gián tiếp của nguồn nước Vùng khô hạn không đủ nước cho cây trồng vật nuôi phát triển thì dân cư – lực lượng lao động cũng thưa thớt Trái lại nơi có
Trang 36nguồn nước phong phú thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, dân cư – lực lượng lao động tập trung đông đúc Bất kỳ ngành công nghiệp nào cũng cần
có nước Bởi vậy, các nhà máy công nghiệp thường được phân bố trên những sông lớn và lao động công nghiệp cũng được phân bố theo đó
đai là yếu tố sản xuất quan trọng của nông nghiệp Sự tập trung dân cư và lao động đông đúc trước tiên là những vùng đất đai màu mỡ, thuận lợi cho canh tác cây lương thực, thực phẩm Sự chuyển dịch dân cư - lao động sang các lĩnh vực phi nông nghiệp đều phải dựa vào nguồn cung cấp lương thực, thực
phẩm từ những vùng sản xuất trọng điểm - nơi có đất đai thích hợp với cây lương thực, thực phẩm Mọi sản xuất công nghiệp, dịch vụ đều cần có đất đai
Do diện tích đất đai có hạn, người ta phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng cách đầu tư thêm lao động, vốn, kỹ thuật trên một đơn vị diện tích để tăng sản phẩm
"bánh mỳ" cho sự phát triển các ngành công nghiệp Sự phân bố khoáng sản ảnh hưởng đến sự phân bố công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp khai thác) và lực lượng lao động công nghiệp Công nghiệp khai khoáng đòi hỏi sức khoẻ tốt và ở mức độ nhất định cần tới trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật nên vùng công nghiệp khai khoáng thường có cơ cấu lao động nam nhiều hơn nữ
và tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật cao.Ví dụ: vùng khai thác dầu khí ở BR-VT, than đá ở Quảng ninh
Rừng có vai trò điều hoà khí hậu, duy trì mực nước ngầm, hạn chế lũ lụt, giảm bớt hạn hán, làm trong sạch môi trường sống
Hiện tượng thiên tai, lũ lụt những năm gần đây ở miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, sự thất thường về chế độ nước ở hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình thể hiện ngày càng khắc nghiệt là hậu quả của sự tàn phá
Trang 37rừng đầu nguồn, của tập quán du canh du cư ở đồng bào dân tộc thiểu số, của
sự khai hoang bừa bãi không khoa học Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống và các hoạt động sản xuất Nhiều nơi do rừng bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, con người đã phải di cư đi tìm đất mới để canh tác
Sự phát triển công nghiệp, đô thị và các phương tiện giao thông làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Cây xanh trở thành vật “cứu cánh” cho con người, giảm bớt sự ô nhiễm Sự săn bắt triệt để các sinh vật tự nhiên trên đồng ruộng làm cho cân bằng sinh thái bị phá vỡ, sâu bệnh phát triển phá hoại cây trồng vật nuôi Rừng và các sinh vật tự nhiên thực sự là bộ máy vĩ đại điều hoà thiên nhiên Cần phải duy trì các sinh vật tự nhiên, bảo vệ rừng đầu nguồn để giữ cân bằng sinh thái
1.1.3.3.Các nhân t ố kinh tế - xã hội
Những vùng có lịch sử khai thác lâu đời thường là nơi tập trung đông dân cư và lao động Đó là những vùng được thiên nhiên ưu đãi: đất đai phì nhiêu, giàu tài nguyên hay thuận lợi giao thông, có cở sở hạ tầng phát triển, đội ngũ lao động có trình độ chiếm tỉ lệ cao Ở những vùng này công nghiệp cũng được chú trọng phát triển vì thế lao động trong công nghiệp chiếm tỉ lệ cao hơn so với các vùng khác
Sự gia tăng dân số quyết định mức độ gia tăng lực lượng lao động
Thông thường, gia tăng dân số tự nhiên cao thì mức gia tăng lực lượng lao động cũng cao và ngược lại Gia tăng dân số cơ học cao dẫn đến tình trạng tăng, giảm quy mô lực lượng lao động một cách đột biến tại nơi nhập cư và xuất cư, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội Nơi có tỉ lệ nhập cư quá cao sẽ thiếu việc làm - thừa lao động, nơi có tỉ lệ xuất cư quá lớn
sẽ thiếu lao động
Cơ cấu dân số có ảnh hưởng đến cơ cấu lực lượng lao động Cơ cấu dân
Trang 38số trẻ: Dân số dưới độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao đã dẫn đến việc chi phí
cho tiêu dùng, cho các dịch vụ giáo dục, y tế cao; khả năng đầu tư cho đào tạo
và đào tạo lại lao động, cho chuyển giao công nghệ, cho phát triển sản xuất
thấp Cơ cấu dân số già: Có ảnh hưởng nhất định đến cơ cấu lực lượng lao
động Nếu tỷ lệ người già quá đông thì dân số tham gia vào lực lượng lao động thấp, một bộ phận lớn dân số không hoạt động kinh tế sẽ tăng thêm gánh nặng cho lực lượng lao động Một bộ phận lớn lao động sẽ phải tham gia vào khu vực dịch vụ an sinh xã hội cho người cao tuổi, không thể đóng góp vào
mức tăng trưởng kinh tế Cơ cấu dân số hợp lý: Nếu cơ cấu dân số phù hợp
với sự phát triển kinh tế xã hội, thì đầu tư cho phát triển nguồn lao động tương lai và hiện tại thuận lợi hơn Cơ cấu của lực lượng lao động có những đặc trưng: tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật cao chiếm phần lớn, tỷ lệ lao động có việc làm cao, thất nghiệp thấp Do cơ cấu dân số hợp lý với việc phát triển kinh tế xã hội như vậy cho nên có điều kiện để đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, cho đào tạo và đào tạo lại lao động, tạo điều kiện cho công nghiệp, dịch vụ phát triển, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ Điều đó dẫn tới khu vực nông nghiệp cần ít lao động và lao động tập trung chủ yếu trong khu vực kinh tế công nghiệp và dịch vụ Vì vậy, tỷ trọng lao động trong khu vực kinh tế nông nghiệp sẽ thấp
Phân bố dân cư và phân bố lực lượng lao động: Nếu phân bố dân cư bất
hợp lý với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội thì sức ép lao động, việc làm cao Lao động không gắn với phân bố tài nguyên, với đối tượng lao động, với cơ
sở vật chất kỹ thuật khiến cho vấn đề tạo việc làm trở nên khó khăn, dẫn tới mức sống thấp, cuộc sống nghèo đói Đó là nguyên nhân làm cho mức sinh cao, mức di dân cao và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc phân bố lực lượng lao động Nếu phân bố dân cư hợp lý thì sẽ phát huy được các yếu tố tích cực của sản xuất và phát triển như tài nguyên, con người, vốn Cơ hội kiếm việc làm nhiều, thu nhập cao Có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất, phát triển nguồn
Trang 39nhân lực
Chất lượng dân số với chất lượng lực lượng lao động: Chất lượng dân số
là nói về chất lượng của toàn bộ dân số, từ những người dưới độ tuổi lao động, những người trong độ tuổi lao động đến những người trên độ tuổi lao động Chất lượng dân số dưới độ tuổi lao động sẽ có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng lực lượng lao động trong tương lai vì sau 10 - 15 năm nữa, họ sẽ vào tuổi lao động Chất lượng dân số trong độ tuổi lao động là chất lượng của lực lượng lao động hiện tại Nếu chất lượng của lực lượng lao động cao thì tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, chăm sóc nhóm dân số dưới độ tuổi lao động Trình độ học vấn của trẻ em là sự thể hiện chất lượng lực lượng lao động trong tương lai và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi trình độ học vấn của bố mẹ
1.1.3.3.3.Cơ cấu kinh tế quyết định cơ cấu lực lượng lao động theo ngành, theo thành phần kinh tế và sự phân công lao động theo lãnh thổ
Một nền kinh tế nông nghiệp, lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, năng suất lao động thấp Nền kinh tế công nghiệp phát triển, lao động chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, người lao động có tính năng động cao, có kỷ luật và tác phong lao động công nghiệp, năng suất lao động cũng cao hơn
không phát huy hết khả năng của mình Thành phần kinh tế đa dạng mở đường cho người lao động tự chủ, phát huy hết khả năng về vốn, sức khoẻ, thời gian và trình độ của mình để mở mang sản xuất tạo việc làm, tăng thu nhập cho bản thân gia đình và xã hội
lãnh thổ và đặc trưng cơ cấu nghề nghiệp ở từng địa phương Sự chuyên môn hoá của các vùng kinh tế tạo nên sự chuyên môn hoá lao động của vùng Đồng thời, sự phát triển tổng hợp vùng sẽ tận dụng tiềm năng lao động trong
Trang 40vùng để phát triển kinh tế - xã hội và tăng lực lượng lao động dịch vụ, tạo những mối liên hệ hữu cơ trong và ngoài vùng, ổn định và phát triển vùng kinh tế Cơ cấu lãnh thổ nền kinh tế - xã hội càng phát triển, càng tạo điều kiện sử dụng hợp lý lực lượng lao động, tạo nên sức mạnh của nền kinh tế Nước ta đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đa ngành, đa thành phần Cùng với sự chuyển dịch đó là sự chuyển dịch tỷ trọng lao động giữa các ngành, các thành phần kinh tế và các khu vực kinh tế Tỷ trọng lao động quốc doanh giảm, lao động ngoài quốc doanh tăng Sự phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp, các khu công nghiệp tập trung đang tạo điều kiện cho
sự phân bố lại lao động theo lãnh thổ
ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu ngành công nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến quy mô cơ cấu sử dụng lực lượng lao động trong công nghiệp Công nghiệp
có thị trường tiêu thụ rộng lớn bởi vì công nghiệp vừa cung cấp trang thiết bị cho các ngành sản xuất vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mọi tầng lớp nhân dân
Vì thế công nghiệp có điều kiện phát triển thu hút ngày càng nhiều lực lượng
lao động
chúng ta biết rằng, trong mọi thời đại, giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Thực tế đã chứng minh: giáo dục đào tạo là nền tảng, cơ sở trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở Anh; là nguồn gốc sự thành công trong công cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai ở Mỹ; là gốc rễ ưu thế về kĩ nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba ở Nhật Vì vậy, rất nhiều
quốc gia đưa ra “phát triển khả năng con người” và “chiến lược phát triển
con người”… như Nhật Bản, Thụy Điển, các nước Đông Âu, Trung Quốc…
Những năm gần đây, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm