1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh

204 1,6K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các em muốn người khác nhìn nhận mình như là một người lớn, muốn được bình đẳng trong quan hệ với người lớn, muốn được độc lập trong việc lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đứ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Diễm My

HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT SỐ

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Diễm My

HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT SỐ

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tâm lý học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HUỲNH VĂN SƠN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Quý Thầy Cô giảng dạy tác giả trong hai năm học cao học Những kiến thức

và phương pháp Thầy Cô truyền đạt là nền tảng quan trọng để tác giả hoàn thành luận văn này

Quý Thầy Cô Phòng Sau đại học đã hỗ trợ và tạo điều kiện để tác giả có thể tham gia học tập và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng gửi lời cảm ơn đến quý đồng nghiệp và bạn học cùng lớp cao học khóa 23 đã hợp tác và chia sẻ kiến thức Cảm ơn các thầy cô ở 4 trường trung học

cơ sở: THCS Kim Đồng, THCS Phan Chu Trinh, THCS Quang Trung, THCS Phan Bội Châu đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn thành trọn vẹn luận văn Đồng thời, tác giả cũng chân thành cám ơn quý phụ huynh học sinh, các em học sinh, các bạn sinh viên, các anh chị, các cô chú đã nhiệt tình hợp tác để trả lời phiếu hỏi

Chân thành cảm ơn PGS TS Huỳnh Văn Sơn - nhà khoa học đã tận tình hướng dẫn tác giả Thầy đã truyền lửa và rèn luyện tác phong một nhà nghiên cứu khoa học trẻ cho tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài Sự động viên của Thầy là nguồn lực để tác giả thực hiện tốt nhất luận văn trong thời gian và khả năng cho phép

Cuối cùng, tác giả gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn ủng hộ, động viên con đường phát triển tri thức của tác giả

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và

kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Diễm My

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH TRUNG H ỌC CƠ SỞ 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu về hành vi ND ở HS THCS 6

1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài về hành vi ND ở HS THCS 6

1.1.2 Một số nghiên cứu trong nước về HVND của HS THCS 10

1.2 Lý luận nghiên cứu về hành vi ND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM 14

1.2.1 Khái niệm hành vi 14

1.2.2 Các vấn đề về HVLC 17

1.2.3 Các vấn đề về HVLCXH 25

1.2.4 Các vấn đề về HVND 31

1.2.5 Một số đặc điểm tâm lý cơ bản ở HS THCS 46

1.2.6 Các biểu hiện của HVND ở HS THCS 49

1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM 55

Ti ểu kết chương 1 61

Chương 2 THỰC TRẠNG HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT S Ố TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 62

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 62

Trang 6

THCS tại Tp.HCM 62

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 62

2.1.3 Vài nét về khách thể nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 70

2.2 Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 73

2.2.1 Nhận thức của HS THCS về HVND 73

2.2.2 Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại TP.HCM xét theo CMXH và DSM – 4 77

2.2.3 Cơ chế tâm lý của HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM và các vấn đề liên quan đến HVND 88

2.2.4 Kết quả nghiên cứu thực trạng biểu hiện HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 98

2.2.5 Các mức độ biểu hiện của HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM 119

2.2.6 So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM (HS tự đánh giá, xét theo CMXH) trên các phương diện 120

2.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 125

2.2.8 Mối quan hệ giữa sự lòng tự trọng, sự cô đơn, sự căng thẳng và HVND của HS THCS tại Tp.HCM 130

2.2.9 Cách ứng xử của phụ huynh và giáo viên khi phát hiện HVND ở HS THCS 135

Ti ểu kết chương 2 137

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 139

DANH M ỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 143

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 144

PH Ụ LỤC

Trang 7

CMXH Chuẩn mực xã hội ĐTB Điểm trung bình HVLC Hành vi lệch chuẩn HVLCXH Hành vi lệch chuẩn xã hội HVND Hành vi nói dối

HK Hiếm khi

HS Học sinh KBG Không bao giờ TLH Tâm lý học TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

TT Thỉnh thoảng THCS Trung học cơ sở

TX Thường xuyên RTX Rất thường xuyên VTN Vị thành niên

XH Xã hội

Trang 8

Bảng 1.1 Phân biệt nói dối, lừa dối và làm dối 39

Bảng 2.1 Cách thức chấm điểm câu hỏi 1 trong bảng hỏi 1 64

Bảng 2.2 Cách thức quy đổi một số câu hỏi trong bảng hỏi 2 66

Bảng 2.3 Cách thức quy đổi mức độ biểu hiện HVND 66

Bảng 2.4 Cách thức quy đổi điểm thang đo sự cô đơn 68

Bảng 2.5 Cách thức quy đổi điểm thang đo sự căng thẳng 68

Bảng 2.6 Cách thức quy đổi điểm thang đo lòng tự trọng 69

Bảng 2.7 Vài nét về khách thể nghiên cứu (học sinh) 71

Bảng 2.8 Vài nét về khách thể nghiên cứu (phụ huynh HS và giáo viên) 72

Bảng 2.9 Vài nét về khách thể nghiên cứu (ở các độ tuổi khác nhau) 73

Bảng 2.10 Nhận thức của HS THCS về định nghĩa HVND 73

Bảng 2.11 Nhận thức của HS về đặc điểm của nói dối 75

Bảng 2.12 Nhận thức của HS về sự phân biệt HVND với các hành vi khác gần với nói dối 76

Bảng 2.13 CMXH và nhận thức của HS THCS về động cơ dẫn đến HVND 77

Bảng 2.14 So sánh sự khác biệt về nhận thức của HS THCS đối với động cơ dẫn đến HVND theo biến số hạnh kiểm 80

Bảng 2.15 CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ xuất hiện của HVND 80

Bảng 2.16 Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét theo tiêu chí 1 của CMXH 82

Bảng 2.17 Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 1 của CMXH 83

Bảng 2.18 Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét theo tiêu chí 2 của CMXH 84

Bảng 2.19 Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của CMXH (bảng tổng hợp 2 tiêu chí) 85

Trang 9

theo tiêu chí 2 của DSM – 4 86

Bảng 2.21 Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của DSM - 4 (bảng tổng hợp 2 tiêu chí) 87

Bảng 2.22 Giai đoạn chuẩn bị nói dối ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM 89

Bảng 2.23 Việc thực hiện các giai đoạn của HVND 90

Bảng 2.24 Cảm xúc của HS THCS trước, trong và sau khi nói dối 91

Bảng 2.25 Đối tượng HS một số trường THCS tại Tp.HCM thực hiện HVND 92

Bảng 2.26 Xu hướng chia sẻ thông tin của HS THCS với cha mẹ 93

Bảng 2.27 Các hành động HS THCS nói dối để thực hiện 95

Bảng 2.28 Địa điểm nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 96

Bảng 2.29 Hình thức nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 97

Bảng 2.30 Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS 98

Bảng 2.31 Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS 100

Bảng 2.32 Biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS 103

Bảng 2.33 Biểu hiện HVND trên bình diện thói quen của HS THCS 105

Bảng 2.34 Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường của HS THCS 107

Bảng 2.35 Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè của HS THCS 109

Bảng 2.36 Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình của HS THCS 111

Bảng 2.37 Kết quả so sánh theo cặp các biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường, các mối quan hệ với bạn bè và các mối quan hệ với gia đình 113

Bảng 2.38 Biểu hiện HVND về mặt cơ thể của HS một số trường THCS tại Tp.HCM 113

Bảng 2.39 Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 1 115

Bảng 2.40 Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 2 116

Bảng 2.41 Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 3 117

Bảng 2.42 Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 4 117

Bảng 2.43 Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 5 118

Trang 10

Tp.HCM 119

Bảng 2.45 Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại

Tp.HCM trên phương diện giới tính 120

Bảng 2.46 Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại

Tp.HCM trên phương diện trường 121

Bảng 2.47 Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại

Tp.HCM trên phương diện khối lớp 122

Bảng 2.48 Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại

Tp.HCM trên phương diện tôn giáo 123

Bảng 2.49 Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại

Tp.HCM trên phương diện hạnh kiểm 123

Bảng 2.50 Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS một số trường THCS tại

Tp.HCM 125

Bảng 2.51 Đánh giá chung về mối quan hệ của cha mẹ với con cái ở HS một số

trường THCS tại Tp.HCM có HVND lệch chuẩn 126

Bảng 2.52 CMXH và nhận thức của HS THCS có HVND lệch chuẩn về CMXH

đối với HVND 127

Bảng 2.53 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS THCS 129

Bảng 2.54 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa lòng tự trọng và HVND của HS

Trang 11

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ phân tích cấu trúc HVND 35

Sơ đồ 1.2 Cách tiếp cận HVND theo DSM - IV 38

Sơ đồ 1.3 Cách tiếp cận HVND dựa trên việc nghiên cứu CMXH 38

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Một trong những tư tưởng đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh (HS) Tư tưởng này đã thể hiện rất rõ trong hàng loạt nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Luật giáo dục năm 2010 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho

HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ

bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…” [4] Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển như

vũ bão của khoa học công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và

nhịp sống sôi động của thời kỳ mở cửa đang ảnh hưởng tới mỗi người trong xã hội

Sự chuyển biến và phát triển của thời đại đã đặt ra nhiều thách thức cho xã hội, đặc

biệt là công tác giáo dục thế hệ trẻ, đó là: “Làm thế nào để hình thành nhân cách ở

thế hệ trẻ đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội” Đó là vấn đề tưởng chừng như đơn giản, nhưng thực tế không dễ thực hiện một cách hoàn chỉnh

Dưới góc nhìn về khoa học tâm lý, quan tâm đến giáo dục đạo đức cho HS bao

gồm nhiều vấn đề khác nhau, trong đó nổi bật là hai vấn đề lớn Thứ nhất là việc tìm ra các quy luật về mặt tâm lý trong sự phát triển của HS để lựa chọn các nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức phù hợp nhất với các em, từ đó giúp các em hình thành những nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực và hành vi đúng chuẩn Thứ hai là việc phát hiện và nghiên cứu những hành vi lệch chuẩn (HVLC) để từ đó có

thể can thiệp kịp thời và đưa ra các biện pháp giáo dục cho HS một cách phù hợp

Tuổi thiếu niên được xác định vào khoảng từ 12 đến 15 tuổi, tương ứng với

những năm học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS Đây là giai đoạn đặc biệt trong

cuộc sống của các em vì xảy ra đồng thời một loạt những biến đổi về sinh lý, tâm

lý Ở giai đoạn này, nguyện vọng độc lập của các em phát triển mạnh Các em muốn người khác nhìn nhận mình như là một người lớn, muốn được bình đẳng trong quan

hệ với người lớn, muốn được độc lập trong việc lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đức xã hội và phương thức hành vi Tuy nhiên nguyện vọng của các

em thường mâu thuẫn với chính khả năng thực tế, mâu thuẫn với quan điểm chưa

Trang 13

thay đổi của người lớn về các em Chính vì những mâu thuẫn đó dẫn đến quan hệ

giữa các em với người lớn dễ xảy ra căng thẳng Nếu người lớn cư xử không phù

hợp thì mối quan hệ giữa các em và người lớn sẽ trở nên căng thẳng, các em thể

hiện sự chống đối với những yêu cầu của người lớn Những yêu cầu của cha mẹ, nhà trường, xã hội và thậm chí những yêu cầu của chính bản thân có thể gây ra

những áp lực đối với các em Đây là những nguyên nhân gây ra trạng thái căng

thẳng, bất an và là điều kiện cho sự xuất hiện hành vi lệch chuẩn (HVLC) ở thiếu niên[16]

Theo tác giả Magda Stouthamer - Loeber, Khoa Tâm thần Đại học học Y khoa Pittsburgh (Mỹ): “Trong tất cả các HVLC, nói dối có thể được xem là một trong

những hành vi đầu tiên HVLC này có mối quan hệ với những vấn đề về hành vi khác, đặc biệt là phạm pháp Nghiên cứu theo chiều dọc về nói dối chỉ ra cách dự đoán hành vi phạm pháp và các hình thức khác ở tuổi trưởng thành” [66] Như vậy, nghiên cứu hành vi nói dối (HVND) chính là một trong những cách thức nghiên cứu mang tính chất đón đầu và là một trong những số liệu quan trọng có khả năng dự đoán xu hướng của các HVLC khác trong tương lai

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài như: hành vi, HVLC, HVLCXH, HVND

3.2 Khảo sát thực trạng HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện nay Trên cơ sở đó, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này

Trang 14

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu chính là HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện nay Khách thể nghiên cứu bổ trợ là các phụ huynh và giáo viên - người có mối quan hệ gần gũi nhất với HS Ngoài ra, đề tài còn khảo sát thêm quan điểm của khách thể ở các độ tuổi khác nhau tại Tp.HCM nhằm làm dữ liệu trong nghiên cứu

5 Gi ả thuyết nghiên cứu

Có khoảng 1/6 HS ở một số trường THCS tại Tp.HCM có HVND (dạng lệch chuẩn) Số HS có HVND (dạng lệch chuẩn) có các biểu hiện ở mức tương đối cao

6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu

Ở cách tiếp cận thứ hai, CMXH về HVND chỉ được đánh giá dựa trên hai tiêu chí là động cơ dẫn đến HVND và cường độ xuất hiện của HVND

6.2 Khách thể

Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu thực trạng trên HS tại 4 trường THCS tại TP.HCM bao gồm: THCS Kim Đồng (quận 5), THCS Phan Chu Trinh (quận Tân Bình), THCS Phan Bội Châu (quận Bình Tân) và THCS Quang Trung (quận Gò

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp luận khác nhau, trong đó quan điểm

hệ thống cấu trúc và quan điểm thực tiễn đóng vai trò chủ yếu

Trang 15

7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như hành vi, HVLC, HVLC xã hội, hành vi ND Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận

thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập

7.1.2 Quan điểm thực tiễn

Nói dối hiện nay đang là mối quan tâm của gia đình và nhà trường nói riêng và toàn xã hội nói chung Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác không

ngừng đưa tin về những hậu quả nghiêm trọng xảy ra từ việc nói dối cũng như

những cảnh báo ban đầu về hành vi này Do đó, việc tìm hiểu thực trạng HVND, phân tích các yếu tố dẫn đến hành vi này, đề xuất các biện pháp nhằm điều chỉnh HVND đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đang đề ra

7.2 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

a M ục đích

Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Người nghiên cứu xây dựng

ba bảng hỏi dành cho HS, giáo viên và phụ huynh để tìm hiểu thực trạng HVND dưới góc độ HVLC trong TLH ở HS THCS

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng thang đo để đo lường sự cô đơn, lòng tự trọng và

trạng thái căng thẳng ở HS một số trường THCS tại TP.HCM nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa HVND với ba yếu tố này

Trang 16

b Cách th ực hiện

Ba bảng hỏi tự thiết kế được căn cứ trên cơ sở lý luận của đề tài và các phương pháp luận để bảo đảm phù hợp với mục đích Bảng hỏi được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức trên khách thể

Đối với 3 thang đo, tiến hành chuyển ngữ để khảo sát Thang đo cũng được

thử nghiệm trước khi điều tra chính thức trên khách thể

Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu tiến hành

phỏng vấn 18 học sinh THCS, 6 giáo viên, 6 phụ huynh dựa theo bảng phỏng vấn

đã soạn sẵn Phỏng vấn được thu âm, ghi nhận bằng hình ảnh và có chữ ký xác nhận

của khách thể

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý thống kê như: tính tần số, tỷ

lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm nghiệm T - Test, kiểm nghiệm ANOVA, tương quan PEARSON làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH

TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Lịch sử nghiên cứu về hành vi ND ở HS THCS

1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài về hành vi ND ở HS THCS

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về nói dối của TLH còn rất hạn chế

Một số ít các nghiên cứu được thực hiện trong các tiểu ngành khác nhau của TLH TLH lâm sàng xem xét nói dối như một vấn đề về hành vi (Stouthamer-Loeber, 1986) Các nhà TLH xã hội tập trung vào mối quan hệ giữa con người và tình huống nói dối cụ thể (DePauloet al, 1996; Kashy và DePaulo năm 1996; Lindskold và Waters, 1983; Millar và Tesser, 1987) Các nhà TLH phát triển thường nghiên cứu nói dối ở trẻ em dựa trên lý thuyết đạo đức và lý thuyết nhận thức của Piaget (1932

- 1965) (Bussey, 1992; Peterson, 1995; Peterson và cộng sự, 1983; Strichartz và Burton, 1990) Trong các chuyên ngành nghiên cứu khác nhau về HVND, hướng nghiên cứu của TLH lâm sàng là phổ biến hơn cả Theo hướng này, HVND thường

được quan tâm nghiên cứu dưới góc độ HVLC

Mặc dù, HVLC ở con người xuất hiện từ thời xa xưa nhưng những HVLC đó không được nhìn nhận đúng đắn với bản chất của nó mà được cho là do “ma ám,

quỷ ám” Giữa thế kỷ XV, ở Đức, thuật ngữ “MAD” (người điên) xuất hiện và

những người bị mắc chứng bệnh này được hiểu là những người bị quỷ thần lấy mất

lý trí Mãi đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhận thức vấn đề rối loạn tâm lý như một chứng bệnh tâm thần mới xuất hiện ở Châu Âu [3] Trên thực tế, vấn đề hành vi, HVLC, HVND cũng như vấn đề về trị liệu thực sự được quan tâm nghiên

cứu từ cuối thế kỷ XIX, gắn liền với tên tuổi các nhà Tâm thần học, TLH, Giáo dục

học nổi tiếng như S Freud, V N Miaxishev, M J Eysench, D W Winnicott, G E Xukhareva…

Nghiên cứu về đặc điểm lứa tuổi với sự xuất hiện của những HVLC được T P Xim xom, M M Model và L I Galperin (1935) chỉ ra sự gia tăng theo độ tuổi

những xung đột nội tâm do phát triển khả năng tự đánh giá yêu cầu đối với bản thân

và khả năng xử lý nội tâm Trước đó, năm 1934, T P Ximxom cũng như E A Blei (1940) nghiên cứu và rút ra nhận xét: chấn thương tâm lý cấp tính dưới dạng sợ hãi,

Trang 18

hoảng loạn được coi là quan trọng trong việc xuất hiện HVLC Cũng theo hướng nghiên cứu này, các tác giả G E Xukhareva và L X Iuxevitr thấy rằng trẻ em dưới

3 tuổi thường có phản ứng mạnh đối với sự thay đổi hoàn cảnh và những kích thích

mới lạ, còn trẻ em trên 3 tuổi thì phản ứng mạnh với những hoàn cảnh sống khó khăn [6]

Trong lĩnh vực nghiên cứu HVLC ở trẻ em phải kể đến tên tuổi của V N Miaxishev Ông và các cộng sự đã có rất nhiều đóng góp cho lĩnh vực này Ông chỉ

ra rằng những mâu thuẫn tâm lý, mâu thuẫn nội tâm là nguyên nhân gây ra những HVLC ở trẻ em V N Miaxishev và B D Karvaxarki nghiên cứu và khẳng định ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là các mối quan hệ xã hội trong gia đình là rất lớn đối với việc gây ra những HVLC ở trẻ em Cụ thể hơn, theo kết quả nghiên cứu của V K Miager (1973) thì có tới 80% hoàn cảnh gây chấn thương tâm

lý dẫn đến những HVLC ở trẻ em là những mối quan hệ mâu thuẫn không giải quyết được và kéo dài giữa các thành viên trong gia đình[6]

X V Lebeđer nghiên cứu và đưa ra các yếu tố gây ra những HVLC ở trẻ em bao gồm: hoàn cảnh gia đình gây chấn thương tâm lý kéo dài, thiếu sót trong giáo

dục, xung đột ở trường học, chấn thương tâm lý cấp, bố mẹ nghiện rượu nặng [6]

Một số công trình nghiên cứu của các tác giả đã quan tâm đến vấn đề phát sinh, phát triển HVLC ở trẻ em là con một trong gia đình E A Blei (1934) và L G Golubeva (1974) đã đưa ra nhận xét chung là những đứa trẻ là con một thường có

những rối loạn quá trình thích nghi và hay có những HVLC khi đi học [6]

Từ năm 1960 đến nay, tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cố gắng xây dựng và hoàn thiện bảng phân loại các rối loạn tâm lý và thống nhất các thuật ngữ Trước tình hình các rối loạn tâm lý, HVLC ngày càng có chiều hướng gia tăng, tổ chức Y

tế thế giới đã liên tục đưa ra vấn đề này thành chương trình nghị sự của nhiều cuộc

hội thảo [68]

Đóng góp to lớn mang tính toàn cầu về HVLC, cần phải đề cập đến đó là hai công trình nghiên cứu lớn:

Thứ nhất là bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD 10) ra đời năm 1992 Đây là kết

quả sau hơn 30 năm làm việc không ngừng của hơn 915 nhà TLH có uy tín trên 52

Trang 19

quốc gia Bảng phân loại này mang tính quốc tế vì phản ánh hầu hết các trường phái

và truyền thống chủ yếu về Tâm bệnh học trên thế giới Trong công trình này đã tập trung nghiên cứu rất kỹ về HVLC của trẻ em HVLC của trẻ em thuộc mục F91, phân thành 3 mục sau:

 F91 - 0: HVLC khu trú trong môi trường gia đình

 F91 - 1: HVLC ở những người kém thích ứng xã hội

 F91 - 2: HVLC ở những người còn thích ứng xã hội [68]

Thứ hai là bảng phân loại bệnh học Hoa Kỳ DSM - IV, ra đời năm 1994 được xây dựng trên cơ sở kế thừa phát triển DSM - I (1952), DSM - II (1968), DSM - III (1980) Trong bảng phân loại bệnh DSM - IV, HVLC của trẻ thuộc mục 321 - 8, đã đưa ra 15 tiêu chuẩn chẩn đoán và được chia thành bốn nhóm: hung hãn với người

và súc vật; phá hoại tài sản; gian lận hoặc ăn cắp; vi phạm nặng nề các quy định, trong đó HVND thuộc nhóm thứ ba [34]

Nói dối được xem là một vấn đề vô cùng phức tạp, phức tạp ngay từ định nghĩa của nó Kang Lee và Hollie J Ross (1997) được xem là hai tác giả tiên phong trong việc tiếp cận HVND một cách trực tiếp Nghiên cứu nổi bật của hai ông chính

là việc đưa ra định nghĩa về nói dối dựa trên các yếu tố xã hội Định nghĩa này được nhiều nhà TLH, tâm thần học và giáo dục học chấp nhận và sử dụng rộng rãi đến ngày nay [56]

Một số nghiên cứu cho thấy rằng có một sự khác biệt về giới tính trong HVND Chẳng hạn, Keltikangas - Jarvinen và Lindeman (1997) cho thấy nam dễ dàng chấp nhận hành vi ND hơn nữ [58] Stouthamer - Loeber (1986) khi xem xét HVND ở trẻ em và VTN cho rằng nam thường nói dối với cha mẹ nhiều hơn nữ [67] Bên cạnh đó, nghiên cứu với VTN và người trưởng thành trẻ tuổi đã chỉ ra

rằng nam giới dễ dàng chấp nhận sự tồn tại của một loạt các HVLC khác như gian

lận, trộm cắp (Cauffmanet al, 2000 [46]; Feldmanet al, 2000 [50], Jensenet al, 2002 [54], Jessor và Jessor, 1977 [55]; Keltikangas Jarvinen và Lindeman, 1997 [58]) Nam giới cũng có nhiều khả năng tham gia vào nhiều loại HVLC hơn nữ (ví dụ Arnett, năm 1992 [43]; Cochranet al, 1998 [47], Daviset al, 1992 [48])

Trang 20

Tác giả Charles Ford được biết đến với việc nghiên cứu và phân chia các giai đoạn bắt chước HVND ở trẻ em Theo ông, nói dối do “học” mà biết Điều này có nghĩa là con người ta không phải sinh ra đã mang “gen nói dối” Chỉ sau 4 tuổi trẻ con mới học được cách ND Charles Ford đã chia quá trình “học” HVND ở trẻ em thành 3 giai đoạn: Đầu tiên trẻ bỗng dần dần phát hiện ra rằng mình có thể đánh lừa được người khác; tiếp theo chúng lại phát hiện thêm là cách nghĩ này của mình cũng

có ở người khác; cuối cùng trẻ phát giác ra đối phương đang quan sát mình Từ đây,

trẻ học thêm được cách khống chế sự biểu cảm trên nét mặt và ngôn ngữ cơ thể Cùng với sự lớn lên của đứa trẻ, sự hiểu biết của nó càng được nâng cao và kỹ xảo nói dối cũng càng được hoàn thiện hơn[15]

Nghiên cứu theo độ tuổi, tác giả Gervais và cộng sự (2000) cho rằng tần suất

của HVND tích lũy cho đến khi 7 tuổi theo chiều dọc Kết quả nghiên cứu của Gervais và cộng sự cũng cho thấy trẻ em ở độ tuổi 7 và 8 đã nói dối thường xuyên hơn so với trẻ em ở tuổi lên 6 [53] Tương tự, trong nghiên cứu của mình, Lee và Ross (1997) cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể liên quan đến độ tuổi về nội dung

của một lời nói dối Tuổi càng tăng thì lời nói dối càng trở nên tinh vi hơn [61] Cùng nghiên cứu về HVND với cha mẹ, nhóm tác giả Lene Arnett Jensen, Jeffrey Jensen Arnett, S Shirley Feldman, và Elizabeth Cauffma đã tiến hành nghiên cứu trên 229 học sinh trung học và 261 sinh viên đại học Nghiên cứu nhằm đánh giá về sự chấp nhận HVND với cha mẹ của VTN và người trưởng thành trẻ

tuổi ở 19 hoàn cảnh khác nhau và với những động cơ khác nhau VTN và người trưởng thành trẻ tuổi cũng chỉ ra tần số mà họ đã nói dối với cha mẹ về các vấn đề

đa dạng như bạn bè, ngày tháng, và tiền bạc Kết quả cho thấy VTN và người trưởng thành trẻ tuổi khá thường nói dối cha mẹ của họ Người trưởng thành trẻ tuổi

đa phần ít chấp nhận lời nói dối và báo cáo là ít thường xuyên nói dối hơn so với VTN [62]

Một cách tiếp cận khác về HVND, Backbier et al (1997) đã tập trung vào việc phân tích mối liên hệ giữa nói dối và các quan hệ xã hội của con người Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người có xu hướng chấp nhận việc nói dối với người khác và không có xu hướng chấp nhận việc nói dối với người thân của họ [44]

Trang 21

Năm 2004 nhà TLH Robert S.Feldman ở Đại học Massachusetts tiến hành một thí nghiệm để đo lường sự nói dối Feldman đã ghi âm lén các sinh viên khi nói chuyện với người lạ, sau đó phân tích băng ghi âm và tính toán số lần họ nói dối Hơn 60% đối tượng có biểu hiện nói dối trong khoảng thời gian mỗi 10 phút Mức

độ dối trá được sắp xếp từ thổi phồng cho đến bịa đặt Feldman nhận xét nam giới

và nữ giới có tần suất nói dối như nhau, nhưng trong khi phụ nữ có khuynh hướng

giả dối để đối tượng yên tâm thì sự giả dối của phái mạnh cốt để tự an ủi mình [66]

Các nhà khoa học Mỹ quan tâm đến tâm lý của người nói dối và đối tượng giao tiếp của họ trong các trường hợp cụ thể để rút ra bài học Cụ thể, Brooks Jackson và Kathleen Hall Jamieson (2008) đã tiến hành liệt kê, phân tích các trường

hợp nói dối theo chủ đề để đưa đến kết luận về các cách thức được sử dụng để lừa

dối được hình thành dựa trên các định kiến, kinh nghiệm cá nhân, các mong muốn

có sẵn trong tiềm thức Từ đây, tác giả cũng chỉ ra các phương thức để nhận diện

những điều dối trá nhằm tìm kiếm sự thật trong một thế giới thông tin hỗn loạn [45] Tóm lại, có thể khẳng định rằng vấn đề HVLC nói chung và HVND nói riêng

ở trẻ em và thanh thiếu niên đang là vấn đề được nhiều nhà tâm thần học, TLH, Giáo dục học ngoài nước quan tâm nghiên cứu HVND đa phần được nghiên cứu

một cách gián tiếp thông qua HVLC Các nghiên cứu trực tiếp về HVND chủ yếu quan tâm đến thực trạng, mối quan hệ giữa hành vi và môi trường bên ngoài, từ đó xem xét nguyên nhân dẫn đến HVND Xét theo lứa tuổi thì HVND ở VTN được tập trung nghiên cứu nhiều hơn cả trong thực tiễn

1.1.2 Một số nghiên cứu trong nước về HVND của HS THCS

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu HVND, biện pháp phát hiện cũng như điều

chỉnh HVND thực sự còn khá mới mẻ Đa phần các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào HVLC nói chung, chưa có sự nghiên cứu riêng về HVND

Người có công lao lớn trong việc nghiên cứu, phổ biến thực trạng, nguyên nhân và tác hại của các loại HVLC ở Việt Nam là cố bác sỹ Nguyễn Khắc Viện Năm 1996, trung tâm NT (nghiên cứu tâm lý trẻ em) đã sử dụng bảng phân loại

bệnh của Pháp nghiên cứu và phân loại các rối loạn tâm lý ở Việt Nam Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện đã làm chủ nhiệm đề tài cấp Quốc gia: “Bước đầu nhận dạng và

Trang 22

phân loại những biểu hiện tâm bệnh lý thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên trong giai đoạn hiện nay” được Hội đồng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đánh giá, xếp loại Xuất sắc và nghiệm thu ngày 12/1/1997 [6]

Dưới góc độ nghiên cứu, chẩn đoán và trị liệu, bác sỹ Phạm Văn Đoàn thuộc trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em đã thống kê phân loại các rối loạn tâm lý của trẻ

em và thanh thiếu niên qua 352 hồ sơ tính từ tháng 1/1989 đến tháng 10/1995 đã đưa ra những nhóm cơ bản: loạn tâm, nhiễu tâm, bệnh lý về nhân cách và các rối

loạn tiến triển ngoài loạn tâm và nhiễu tâm, các rối loạn phản ứng, các suy giảm tâm trí, các rối loạn chức năng công cụ và luyện tập, các rối loạn có biểu hiện thực thể

và rối loạn ứng xử Trong đề tài này, HVND được xem xét như một rối loạn ứng xử [6]

Nghiên cứu của ngành Tâm thần học Việt Nam trong phạm vi cả nước năm

1992 được tiến hành với trẻ em từ 10 - 17 tuổi, đã sử dụng theo chẩn đoán ở mục F91 của bảng phân loại bệnh ICD - 10, kết quả cho thấy có 3,7% trẻ có HVLC (21.960/124.194 em), trong đó nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ [6]

Công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Phương Kiệt từ 1997 - 1999 trên 1266

HS tuổi từ 15 - 18 thuộc bốn trường Trung học phổ thông ở Hà Nội cũng thấy có

117 trẻ em có HVLC chiếm 9,24%, trong đó HVLC chiếm tỷ lệ cao là nói dối, trốn

học, bỏ tiết [20]

Một nghiên cứu thử nghiệm của Hội Tâm lý - Giáo dục Hà Nội về HVLC ở

lứa tuổi Trung học phổ thông thuộc bốn trường khu vực Hà Nội phát hiện có khoảng gần 10% HS có ít nhất một biểu hiện HVLC (theo hệ thống phân loại của

Hội tâm thần học Mỹ DSM - IV) [18]

Theo kết quả nghiên cứu đề tài “Thực trạng HVLCXH ở HS THCS Thành phố

Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu” của tác giả Phạm Tiến Công thì có đến hơn 10% HS THCS Thành phố Bạc Liêu có tồn tại HVLCXH, trong đó hành vi cãi cọ, trêu chọc

bạn là xảy ra nhiều nhất ở HS, tiếp theo là hành vi không học bài, làm bài tập, hành

vi không vâng lời thầy cô, cha mẹ, hành vi trốn nhà để đi chơi, HVND cha mẹ, thầy

cô, bạn bè [6]

Trang 23

Kết quả điều tra về HVLC ở 532 HS của một số trường THCS trên địa bàn Hà

Nội cũng cho thấy, các lỗi về HVLC mà HS mắc phải rất đa dạng, nhưng nói dối

vẫn đứng ở vị trí đầu tiên và đã trở thành thông lệ đáng lo ngại Lý do nói dối của

HS theo khảo sát có 53% do sợ cha mẹ, trên 50% học sinh biện minh cho HVND

của mình là hoàn cảnh bắt buộc, không còn cách nào khác Chỉ có 4,8% nhận mình

có lỗi khi nói dối Khi được hỏi, đa số các em cho rằng nói dối là để đối phó với các hình phạt của bố mẹ [126]

Ngoài ra, có thể đề cập đến một số bài viết, bài phỏng vấn về HVND trên các trang báo, tạp chí khác nhau Điển hình là trên báo Dân trí, số ra ngày 7/10/2013, tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Giống như nhiều hành vi khác, con người ta thường có tư tưởng: đã làm một lần, thì làm thêm lần nữa cũng chả sao Dần dần, đối với một bộ phận giới trẻ, nói dối trở thành một hành vi mất kiểm soát Gặp chuyện nan giải, cần thiết phải nói dối cũng nói Không gặp chuyện nan giải gì, cũng nói dối Giáo dục hiện nay cũng gặp phải nhiều “bệnh” cần chữa như: bệnh thành tích, ngồi nhầm lớp Chính những đều này làm cho trẻ cảm thấy áp lực và nói dối, quay cóp trong thi cử là một trong những biện pháp giúp trẻ vượt qua

những áp lực nặng nề và xuất phát từ nhiều phía đó” [71] Hay tác giả Trần Ngọc Thêm, trong bài phỏng vấn trên trang soha.vn cho biết về nguyên nhân của HVND như sau: “Ông cha ta đã có câu: “Đ hỏi già, về nhà hỏi trẻ” để thấy rằng không ai

thật thà bằng con trẻ Nhưng dần dần, trong gia đình, trẻ em thường xuyên chứng

kiến cảnh “nghĩ một đằng, nói một nẻo” và được người lớn giải thích đó là sự tế

nhị, khéo léo trong giao tiếp Một sự thật là khi ở trường, nhiều khi các em còn được thầy, cô dạy là khi đi thi phải biết cách làm sao để giành giải thưởng cho trường; khi có đoàn thanh tra các em sẽ giơ tay thế nào, phát biểu ra sao… Dẫn đến

phản ứng đối phó của trẻ với những đòi hỏi, những kiểm soát của cha mẹ; quy định, yêu cầu của các thầy cô… Lớn lên chút nữa, các em sẽ không khó khăn để nhận ra

sự dối trá lan tràn khắp nơi”[74] Mặc dù đây chỉ là những bài phỏng vấn mang tính

chất hàn lâm, song nó lại là cơ sở góp phần định hướng cho việc nghiên cứu khoa

học về HVND

Trang 24

Cuốn sách “Tại sao đàn ông nói dối, đàn bà nói nhiều” do Thúy Nga biên soạn (2005) là một tài liệu phong phú đề cập đến sự khác biệt giữa nam và nữ trong HVND Tác giả đã thực hiện việc so sánh cách ứng xử khác nhau của hai giới từ xưa đến nay và đưa đến kết luận rằng đàn ông và phụ nữ thực ra đều nói dối nhiều như nhau, chỉ có các chủ đề nói dối là khác nhau Sở dĩ người ta có cảm giác rằng đàn ông nói dối nhiều hơn là vì đàn ông ít biết cách che đậy cảm xúc của mình bằng ngôn từ hay những biện pháp khác như phụ nữ và đàn ông bị phát hiện nói dối nhiều hơn do người phụ nữ thường nhạy cảm hơn [5]

Cùng thể loại sách, “Giải mã bí mật nói dối” của tác giả Nguyễn Thơ Sinh (2010) cũng là một thành tựu cần nhắc đến Trong tác phẩm của mình, tác giả đề

cập đến HVND xét từ nhiều khía cạnh khác nhau như tôn giáo, tâm lý, bệnh lý… Bên cạnh đó, tác giả cũng mô tả chân dung thật của HVND, nguyên nhân, cách

nhận dạng HVND cùng các khía cạnh có liên quan Hạn chế lớn của quyển sách này

là các vấn đề được nêu lên chưa mang tính hệ thống và khoa học cao, đặc biệt là dưới góc độ Tâm lý học [33]

Có thể nói, Luận văn Thạc sĩ “ Hiện tượng nói dối dưới góc nhìn văn hóa học”

của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân (2008), trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn là đề tài nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam mang tính chuyên sâu về nói dối Tuy đề tài tiếp cận nói dối dưới góc độ văn hóa học, trong đó chỉ ra hai mặt văn hóa

và phi văn hóa của hiện tượng nói dối trong một số ngành nghề cụ thể nhưng đề tài cũng đã đóng góp cơ sở lý luận rất lớn cho nghiên cứu về HVND dưới góc độ TLH [25] Như vậy, mặc dù vấn đề nghiên cứu, chẩn đoán và điều chỉnh HVLC ở trẻ em

và thanh thiếu niên ở Việt Nam thực sự còn rất mới nhưng nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà TLH, Giáo dục học và bác sỹ có tâm huyết với vấn đề này Tuy nhiên, nếu xét riêng các nghiên cứu về HVND một cách chuyên sâu thì khá hiếm HVND thường được nghiên cứu gián tiếp thông qua HVLC Có thể thấy, HVND gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội Vì vậy cần thiết phải có những công trình nghiên cứu một cách cụ thể về hành vi này Việc nghiên cứu HVND của HS một số trường THCS tại TP HCM cũng là một đóng góp nhất định theo hướng nghiên cứu này

Trang 25

1.2 Lý luận nghiên cứu về hành vi ND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM 1.2.1 Khái niệm hành vi

1.2.1.1 Định nghĩa hành vi

Hiện nay trong lý luận cũng như thực tiễn, thuật ngữ hành vi chưa được xác định một cách rõ ràng, dứt khoát Nói chung con người vẫn dùng thuật ngữ hành vi cho cả động vật và người Ở người, thuật ngữ hành vi, hành động, hoạt động, việc làm, cách cư xử thường được dùng thay thế lẫn nhau tùy trường hợp, tùy văn cảnh Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên thì “hành vi là toàn bộ nói chung nh ững phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài, có thể quan sát được của

m ột người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” [28] Ở đây đề cập đến hoàn cảnh

của sự xuất hiện hành vi và hành vi phải là những hành xử biểu hiện ra bên ngoài

mà người khác có thể quan sát được

X.L Rubinstêin định nghĩa: “Hành vi là kết quả của hành động tích cực của

ch ủ thể đối với các đối tượng chủ thể gặp trong một hoàn cảnh nào đó” [11] Tuy

nhiên, có thể thấy, không chỉ những hành động tích cực của chủ thể mới hình thành hành vi mà hành vi còn là kết quả của những dạng hành động khác

Đối với A.N Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của

một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động [13] Còn theo tác giả

Phạm Minh Hạc, hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích [12]

Tác giả Vũ Dũng định nghĩa hành vi trong từ điển Tâm lý học như sau: Hành

vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh, do tính tích

cực bên ngoài (kích thích) và bên trong (nhu cầu) thúc đẩy Thuật ngữ hành vi dùng

để chỉ hành động của các cá thể riêng biệt hay của nhóm, loài (hành vi một chủng

loại sự vật hay một nhóm xã hội) [9]

Theo tác giả Lê Công Minh, hành vi là cách ứng xử của con người đối với một

sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, nó được biểu

hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định [23]

Tác giả Dương Thiệu Tống cho rằng: “Hành vi là những biểu hiện bên ngoài

của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể” [6] Định

Trang 26

nghĩa này càng thấy được tính gián tiếp, tính chủ động và tính chủ thể trong hành vi

của con người Bên cạnh đó, cũng hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung tâm

lý bên trong và biểu hiện bên ngoài của hành vi Nội dung tâm lý bên trong của hành vi không phải là “trạng thái thần kinh” như C.Hulơ quan niệm mà nội dung tâm lý đó là hệ thống những ý định, nhu cầu, động cơ, lý tưởng… nhưng điều quan

trọng là tất cả những cái đó đã được xã hội hóa

Phân tích theo cấu trúc, tác giả Hersey và Hard cho rằng đơn vị cơ sở của hành

vi là hành động Toàn bộ hành vi là một chuỗi các hành động [14]

Còn với tác giả Vũ Gia Hiền, hành vi bao gồm một chuỗi hành động nối tiếp nhau một cách tương đối nhằm đạt được mục đích để thỏa mãn nhu cầu của con người [17] Có thể thấy, với cách định nghĩa này, tác giả tiếp cận hành vi như mặt bên ngoài của hoạt động và cho rằng hành động là một đơn vị nhỏ cấu thành nên hành vi

Tương tự Vũ Gia Hiền, với cách xem xét hành vi như mặt bên ngoài của hoạt động, khi phân tích sơ đồ cấu trúc hoạt động của A N Leontiev, tác giả Huỳnh Văn Sơn cũng chỉ rõ hành động là thành phần cấu tạo nên hoạt động của con người hay

hoạt động được tồn tại và thực thi bởi một chuỗi những hành động Mỗi phương

tiện quy định cách thức hành động khác nhau ứng với những thao tác cụ thể khác nhau [39] Có hai dạng phương tiện chính quy định hành động của con người ứng

với những thao tác cụ thể là vật chất và ngôn từ Như vậy, hành động cấu thành hành vi được tồn tại ở hai dạng là hành động với vật chất (gọi tắt là hành động vật

chất) và hành động với ngôn từ (gọi tắt là hành động ngôn từ) [17]

Tiếp thu những quan niệm khác nhau về hành vi của TLH hành vi và TLH

hoạt động, cũng như các khái niệm khác nhau về hành vi đã được trình bày, chúng

tôi định nghĩa hành vi là mặt bên ngoài của hoạt động, bao gồm một chuỗi các

hành động được biểu hiện ra bên ngoài nhưng lại thống nhất với cấu trúc tâm

lý bên trong c ủa nhân cách, là sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài và nội dung tâm lý bên trong Các hành động cấu thành nên hành vi tồn tại ở hai hình

th ức là hành động vật chất và hành động ngôn từ Hành vi là biểu hiện của một đời sống tâm lý bên trong và được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của

Trang 27

nhân cách Định nghĩa này được xem là cơ sở quan trọng để xác lập các nội dung khác như HVLC, HVLCXH, hành vi ND tiếp theo

1.2.1.2 Phân lo ại hành vi

Trong TLH có nhiều cách phân loại hành vi khác nhau:

a Căn cứ theo khía cạnh giá trị [1]

- Hành vi tiêu cực: hành vi tiêu cực của chủ thể xuất hiện trong các hành động đối lập với những nhu cầu của cá nhân hoặc các nhóm xã hội khác Hành vi tiêu cực

có thể là phản ứng theo tình huống, hoặc là đặc điểm cá nhân xuất hiện do nhu cầu

của chủ thể nhằm tự khẳng định bản thân, nhằm bảo vệ “cái tôi” của mình Hành vi tiêu cực còn là kết quả của tính ích kỷ, thờ ơ với lợi ích và nhu cầu của người khác

Cơ sở tâm lý của hành vi tiêu cực là tâm thế xuất hiện do chủ thể không đồng tình,

phủ nhận những đòi hỏi, những mong đợi của các thành viên trong các nhóm xã hội Hành vi tiêu cực xuất hiện cũng do sự chối bỏ hoặc chống lại các quan hệ vốn đã hình thành trong tập thể

- Hành vi tích cực: Hành vi tích cực là hành vi chủ thể có thể làm được và mong muốn làm điều đó, tuy nhiên nó phải đáp ứng được sự mong đợi của người khác Để tiến hành hành vi tích cực thì chủ thể phải có nhận thức đúng đắn, có tâm

thế sẵn sàng, thái độ tích cực và có ý chí để thực hiện

b Căn cứ vào tính chất của hành vi [1]

- Hành vi công khai: Hành vi công khai là hành vi được chủ thể tiến hành trong một môi trường cụ thể và trước sự quan sát và chứng kiến của người khác

- Hành vi che giấu: Hành vi che giấu là hành vi được chủ thể thực hiện nhằm không cho người khác chứng kiến

c Căn cứ vào phạm vi tác động của hành vi [17]

- Hành vi hướng vào chính mình: Hành vi hướng vào chính mình là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp lên chính chủ thể

- Hành vi hướng đến người khác: Hành vi hướng đến người khác là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ xung quanh, thông qua đó tác động trở lại với chính chủ thể

Trang 28

- Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng: Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng

là những hành vi tác động và ảnh hưởng trực tiếp lên các sự vật và hiện tượng và

những hành vi tác động này sẽ ảnh hưởng đến chính chủ thể gây ra hành vi

d Căn cứ theo chuẩn mực hành vi [17]

- Hành vi hợp chuẩn: Hành vi hợp chuẩn là hành vi phù hợp với chuẩn mực

của một nhóm, một cộng đồng xã hội; những hành vi mà mọi người mong đợi từ

một thành viên nào đó

- Hành vi lệch chuẩn: HVLC là những hành vi không đáp ứng được sự mong đợi của một nhóm người nào đó, nó lệch với chuẩn mực của một nhóm, một cộng đồng

Tóm lại, cách phân loại hành vi tùy thuộc vào quan điểm, hoàn cảnh cụ thể Trong đề tài này, chúng tôi phân loại hành vi căn cứ theo chuẩn mực hành vi Nghĩa

là, hành vi của con người sẽ được phân loại thành hai hướng chính: hành vi hợp chuẩn và HVLC

1.2.2 Các v ấn đề về HVLC

1.2.2.1 Chu ẩn mực hành vi

Khái niệm chuẩn mực có nguồn gốc từ tiếng Latinh, có nghĩa là quy tắc, sợi chỉ xuyên suốt Nói đến chuẩn mực là nói đến một sự đánh giá, phán xử: cái gì phù hợp chuẩn mực tức là bình thường, cái gì ngược với chuẩn mực là lệch chuẩn, bất hình thường [26]

Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện định nghĩa chuẩn mực là quy tắc hành vi có giá trị phổ biến, mà việc tuân thủ nó được những thành viên khác của xã hội trông đợi và thừa nhận [42]

Chuẩn mực hành vi là phép tắc, quy phạm phải theo trong ứng xử của con người, hay nói cách khác chuẩn mực là hệ thống những quy định cụ thể, những quy

tắc của đạo đức được chờ đợi đối với hành vi của mỗi cá nhân Những quy tắc này định rõ những hành vi mà mọi người nên làm hoặc không nên làm việc hoặc cần

phải xử sự như thế nào trong các tình huống khác nhau Chúng vừa mang tính chất

ra lệnh (quy định mọi người phải có hành vi gì) vừa mang tính chất cấm đoán (quy định mọi người không được phép có hành vi gì)

Trang 29

Trên thực tế, những tiêu chuẩn được các nhà tâm lý và các bác sỹ tâm thần vận

dụng để đưa ra những quyết định chẩn đoán cũng ảnh hưởng đến những xét đoán

của ngành pháp lý, ngành bảo hiểm và ngành kinh doanh chăm sóc sức khoẻ Vì

vậy việc xét đoán hành vi của người nào đó là bất bình thường hay không là vấn đề

hết sức quan trọng Chuẩn mực hành vi có vai trò và phạm vi điều chỉnh rất rộng Chuẩn mực hành vi quy định những mục tiêu cơ bản, những giới hạn cũng như

những điều kiện và hình thức ứng xử chủ yếu một lĩnh vực nhất định Chuẩn mực hành vi có thể xét ở một trong ba khía cạnh sau:

Chu ẩn mực xét về mặt thống kê: những hành vi bất bình thường là những hành

vi lệch lạc nghiêm trọng (về chiều kích này hay chiều kích khác) so với mức trung bình Trên cơ sở tiếp thu những quy định chung thành văn hoặc không thành văn

của cộng đồng, đại đa số các thành viên trong cộng đồng có hành vi tương tự như nhau trong một hoàn cảnh xác định nào đó thì hành vi đó được coi là hợp chuẩn

Những hành vi nào đối lập lại được coi là HVLC Nói cách khác, hành vi bất thường là hành vi khác thường [17]

Chu ẩn mực hướng dẫn hoặc quy ước do cộng đồng hay xã hội đề ra: loại

chuẩn mực này được đưa ra trên cơ sở những yêu cầu chung của cộng đồng với

từng thành viên Hành vi của cá nhân được so với những luật lệ về đạo đức hoặc xã

hội của một nhóm Những hành vi nào khác với hướng dẫn, quy định thì những hành vi đó được coi là không bình thường [17]

Chu ẩn mực chức năng: loại chuẩn mực này được xác định ở mỗi cá nhân Một

hành vi được xem là hợp chuẩn khi hành vi đó phù hợp với mục đích do cá nhân đặt

ra còn những hành vi không phù hợp với mục đích của cá nhân đề ra gọi là HVLC (với cá nhân) [17]

Có bảy thuộc tính có thể áp dụng để quyết định liệu một hành vi có phải là bất thường hay không theo Rosenhan và Seligman (1984) là:

- Sự đau khổ: cá nhân có đau khổ hay khó chịu khi hành vi đó đang diễn ra trong đời sống hay không

- Tính thích nghi kém: cá nhân có thể thay đổi được hành vi khi chuyển sang

một môi trường mới với những điều kiện mới không

Trang 30

- Tính tiếp nhận: cá nhân có thể lĩnh hội những góp ý để sửa chữa hành vi không

- Sự khác lạ: đối với một vấn đề, cá nhân có cảm giác khác với người khác

hoặc cá nhân trải nghiệm vấn đề có theo cách khác hẳn với hầu hết người khác hay không

- Sự khó chịu khi quan sát: người khác có thấy khó chịu khi quan sát hành vi

của cá nhân không

- Vi phạm tiêu chuẩn đạo đức và lý tưởng: cá nhân với hành vi của mình có vi

phạm quy định đạo đức, luân lý được xã hội chấp nhận hay không [70]

Bốn thuộc tính đầu tiên là những tiêu chuẩn liên quan đến việc con người có

cuộc sống riêng của mình ra sao Thuộc tính thứ năm xét cho cùng là một đánh giá

xã hội vì nó tuỳ thuộc vào những gì mang tính quy ước Thứ sáu và thứ bảy là

những thuộc tính dứt khoát hành vi nào được xã hội chấp nhận và không chấp nhận [70] Quan niệm về việc chẩn đoán hành vi bình thường hay HVLC, không bình thường này gần giống với quan niệm của các nhà TLH về các chỉ báo để nhận dạng

rối nhiễu tâm lý

Rõ ràng, nếu dựa vào chuẩn mực hướng dẫn hoặc quy ước do cộng đồng hay

xã hội đề ra hoặc chuẩn mực cá nhân thì không có một chuẩn mực chung nào cho

tất cả các hành vi Mỗi hành vi cụ thể sẽ được từng dân tộc quy định một chuẩn

mực riêng Việc quyết định một hành vi nào đó có phải là hợp chuẩn hoặc lệch chuẩn phải xét đến không gian sống, mà cụ thể ở đây là môi trường xã hội, môi trường văn hoá do sự đánh giá khách quan của xã hội, của những người xung quanh

chứ không phải là sự phán xét chủ quan của cá nhân Một hành vi này của cá nhân

có thể là bình thường trong nền văn hoá này nhưng lại là bất thường, không thể

chấp nhận được ở một nền văn hoá khác

1.2.2.2 Khái ni ệm HVLC

a Định nghĩa HVLC

Tác giả V.A.Giliarovxki cho rằng: thực chất HVLC ở trẻ em là ở chỗ khả năng

của nhân cách không tương xứng với những yêu cầu xuất phát từ những mối quan

hệ xã hội nhất định [2]

Trang 31

Tương tự, Carl Rogers và các cộng sự (thuộc trường phái TLH nhân văn) định nghĩa hành vi “bình thường” dưới dạng phát triển tâm lý tích cực là sự phấn đấu thể

hiện đầy đủ tiềm năng của mình Do đó, các nhà TLH nhân văn xem hành vi bất thường như sự thất bại không đạt được sự thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình [65] Trong cuốn DSM - IV “Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần”,

Bảng phân loại bệnh của Hoa Kỳ do bác sĩ Nguyễn Văn Xiêm dịch đã đưa ra định nghĩa về HVLC như sau: HVLC là kiểu hành vi lặp đi lặp lại và kéo dài trong đó các quyền cơ bản của người khác hay các CMXH hoặc luật lệ lớn phù hợp với lứa

tuổi bị vi phạm [34]

Cùng quan điểm với định nghĩa trên, theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO): HVLC là toàn bộ hành vi có tính chất chống đối xã hội, xâm phạm hay khiêu khích được lặp lại và kéo dài Một hành vi như vậy trong hình thái cực độ sẽ đưa đối tượng đến chỗ vi phạm các quy tắc xã hội chủ yếu tương ứng với lứa tuổi của trẻ, điều này vượt quá hành vi ranh mãnh thông thường và các thái độ nổi loạn của thanh thiếu niên [68]

Tác giả Debray-Rizen thuộc trường Đại học Y khoa Paris đã định nghĩa: HVLC là những hành vi không phù hợp với chuẩn mực, mà biểu hiện của hành vi

đó nếu thường xuyên xảy ra sẽ thực sự ảnh hưởng xấu đến sự thích nghi của mỗi cá nhân [27]

Qua việc phân tích các định nghĩa khác nhau về HVLC ở trên, chúng tôi nhận

thấy rằng yếu tố cơ bản nhất, khái quát nhất để đánh giá một hành vi có lệch chuẩn hay không là xem xét mức độ phù hợp của nó với những tiêu chuẩn hay những chuẩn mực nhất định, từ đó quyết định ảnh hưởng của nó đến sự thích nghi của mỗi

cá nhân Như vậy, định nghĩa về HVLC của giáo sư Debray-Rizen được xem xét là tương đối chính xác và hợp lý Hơn nữa, đây cũng là định nghĩa được nhiều nhà TLH lâm sàng, các bác sĩ chuyên ngành tâm thần thừa nhận và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu, chẩn đoán và điều chỉnh hành vi Vì vậy, chúng tôi sử dụng khái niệm HVLC này của Debray - Rizen làm khái niệm công cụ trong công trình nghiên cứu của mình

Trang 32

b Các c ấp độ của HVLC

Xuất phát từ định nghĩa được sử dụng ở trên, nghiên cứu sâu về sự ảnh hưởng

của HVLC đến sự thích nghi của cá nhân, có thể thấy HVLC có hai mức độ về mặt tâm lý:

Một là, ở mức độ thấp và chỉ có ở một số hành vi Cá nhân có những hành vi không bình thường nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động chung của cộng đồng, đến đời sống cá nhân và gia đình họ Mọi người xung quanh vẫn có thể chấp nhận, tuy nhiên không thoải mái

Hai là, ở mức độ cao và ở hầu hết các hành vi của cá nhân, từ hành vi trong sinh hoạt đến hành vi lao động sản xuất, học tập, vui chơi Những hành vi lệch chuẩn này ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống cá nhân vì vậy cần được chẩn đoán và

chữa trị [17]

c Nguyên nhân d ẫn đến HVLC

Thuật ngữ có liên quan đến HVLC là rối loạn hành vi Rối loạn hành vi là một khái niệm có liên quan nhiều đến lĩnh vực y học, bệnh lý hay TLH lâm sàng Sự rối

loạn hành vi được hiểu là hội chứng hành vi hay trải nghiệm đi kèm theo những khó

chịu, đau đớn, những trở ngại hay hạn chế ở một hay nhiều phạm vi chức năng (như tri giác, tư duy, tình cảm, ghi nhớ, vận động…) gắn liền với nguy cơ phải đối mặt

với nhiều hậu quả khác nhau Sự rối loạn này là rối loạn tâm lý được thể hiện ra trong hành vi Nó thường diễn ra khi cá nhân không thể đáp ứng được các chuẩn

mực về mặt cơ thể, ví dụ như đái dầm, mất ngủ, mút tay, rối loạn chú ý… [10] Trong thời cổ đại, người Ai Cập, Hy Lạp và Do Thái cho rằng những gì trái

với bình thường đều là hành động của các vị thần Vì vậy hành vi rối loạn hay bất thường được hiểu là dấu hiệu có sự can thiệp huyền bí hay của quỷ thần [6]

Hippocrater là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về rối loạn hành vi bắt nguồn từ

cơ thể Theo ông, rối loạn hành vi là dấu hiệu của bệnh chứ không phải của quỷ ám Ông cho rằng nguyên nhân rối loạn có thể thuộc về bệnh lý của não, được tạo ra do

sự xáo trộn bốn chất dịch chính trong cơ thể đó là mật đen, mật vàng, máu và đờm dãi Được hiểu như, nếu con người cáu kỉnh, hiếu động thì được cho là do có lượng

mật vàng quá mức; nếu con người u sầu, trầm cảm thì được xem là do có lượng mật

Trang 33

đen quá mức; những người tỏ vẻ vui buồn thất thường, thái quá được nghĩ là có lượng máu quá mức và những ai tính tình ù lì, lạnh lùng được cho rằng có lượng đờm dãi quá nhiều Như vậy, ông giải thích rối nhiều hành vi là do sự mất cân bằng sinh lý Mô hình lý thuyết chất dịch này cho rằng có thể điều chỉnh hành vi rối loạn

bất thường bằng cách sử dụng những cách điều trị trên cơ thể [72]

Philippe Pinel (1745 - 1862) - bác sĩ tâm thần Pháp đã giải thích rằng sự căng

thẳng môi trường là nguyên nhân gây ra những rối loạn hành vi Vì vậy, phải đưa họ vào cơ sở (môi trường) làm giảm sự căng thẳng này, giúp họ phục hồi sự cân bằng

của mình Trị liệu của Pinel được đánh giá rất cao ở thời điểm đó [64]

Đầu thế kỷ XX, mô hình y tế cho rằng nguồn gốc HVLC là do một số loại

hoạt động sai chức năng trong cơ thể hoặc não bộ Những loại hoạt động sai chức năng khác nhau sẽ tạo ra những “rối loạn” khác nhau Có thể nói đây là hệ thống phân loại bệnh tâm thần đầu tiên được mọi người chấp nhận Đại biểu của mô hình này là Kraepelin Ông đã chia rối loạn tâm thần thành bệnh thần kinh, rối loạn nhân cách, tâm thần hữu cơ, tâm thần chức năng và giảm thiểu trí nhớ [60]

Theo quan điểm I.Pavlov, các kích thích có hại của môi trường lặp đi lặp lại sẽ

dẫn đến HVLC [12] Với trường phái Phân tâm học, HVLC là do sự dồn nén cảm xúc của những biểu tượng quan hệ vào vô thức thời ấu thơ Sự dồn nén này thường liên quan đến lĩnh vực phát triển tính dục, đó là bản năng tính dục (hay năng lượng libido) với những trẻ em không vượt qua được mặc cảm Ơđip dẫn đến sự hụt hẫng năng lượng libido là nguyên nhân dẫn đến sự sợ hãi của trẻ Nếu kéo dài sự sợ hãi này sẽ làm mất đi sự cân bằng tinh thần, cái “siêu tôi” không thể kìm nén nổi cái

“bản năng” từ đó bộc lộ những mặc cảm bị dồn nén Khi các mặc cảm bị phóng chiếu ra bên ngoài sẽ gây nên các HVLC và các rối loạn này sẽ bùng nổ theo cơ chế tái lặp lại Vì khi cá nhân trở nên yếu kém trong hoàn cảnh mới thì sự giải toả biểu

hiện ra một dạng HVLC lại xảy ra, nhằm tìm lại các tác động điều chỉnh mà lần trước đây đã từng phát huy hiệu lực [17]

Theo quan điểm của thuyết hành vi, HVLC là do điều kiện nguyên nhân hiện

tại đang duy trì hành vi không thích nghi (xuất phát từ môi trường bên ngoài) hơn là

những nguyên nhân, điều kiện quá khứ Các nhà trị liệu hành vi đã sử dụng mô hình

Trang 34

ABC (Anticedents - Kích thích , Behaviors - Hành vi, Consequences - Hậu quả) để

mô tả quá trình hình thành hành vi Theo đó, một số kích thích là điều kiện cần và

đủ để hình thành HVLC HVLC gây ra những hậu quả có thể ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng đến cá nhân hoặc xã hội, cá nhân hoặc xã hội có thể nhận biết được hay không nhận biết được HVLC gây ra những hậu quả không ảnh hưởng đến

cá nhân hoặc xã hội hay cá nhân và xã hội không nhận biết được chính là điều kiện

cần thiết để khi các kích thích được lập lại và duy trì thì sẽ xuất hiện hành vi tương

tự Vì vậy, mục tiêu của trị liệu hành vi là can thiệp tích cực để làm giảm hoặc loại

bỏ những sai lệch bằng cách thay đổi những điều kiện duy trì hành vi sai lệch

Có thể khẳng định rằng, ở mỗi cách tiếp cận, các nguyên nhân dẫn đến HVLC được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy, nếu như rối loạn hành vi liên quan đến khía cạnh bệnh lý thì HVLC thông thường liên quan đến các quan hệ xã hội HVLC là hành vi không đúng những chuẩn mực mà xã hội đã quy định Tuy có ranh giới không hoàn toàn trùng nhau nhưng rối loạn hành vi và HVLC lại có những nguyên nhân rất tương đồng Đây là những nguyên nhân xuất phát từ bên trong cơ thể (sự rối loạn chức năng của các bộ phận trong cơ thể, tâm lý) và cả những nguyên nhân xuất phát từ môi trường bên ngoài (kích thích có hại)

d Các tiêu chí chu ẩn đoán HVLC

Dựa vào chuẩn mực xét về mặt thống kê [17], trên cơ sở nghiên cứu một cách chuyên sâu, Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM - IV) đã cho ra đời bảng phân loại

bệnh với các tiêu chí dùng để chẩn đoán HVLC được quy định bao gồm:

1 Thường bắt nạt, đe doạ hay uy hiếp người khác

2 Thường khởi xướng đánh nhau

3 Đã dùng vũ khí có thể gây hại nghiêm trọng về thể chất cho người khác

4 Có hành vi độc ác về thể chất với người khác

5 Có hành vi độc ác với súc vật

6 Có hành vi lừa gạt trong khi đối mặt với người khác

7 Cưỡng bức hoặc có hành vi lạm dụng tình dục với người khác

8 Có hành vi cố ý gây cháy với ý định gây thiệt hại nghiêm trọng

9 Có hành vi cố ý phá hoại tài sản của người khác

Trang 35

10 Có hành vi xông vào nhà, ô tô của người khác

11 Thường nói dối để được đồ vật hay ân huệ, hay để tránh các nghĩa vụ

12 Có hành vi ăn cắp các đồ vật có giá trị lớn mà không dám đối mặt với nạn nhân

13 Thường sống qua đêm ở ngoài gia đình mặc dù bố mẹ cấm đoán, bắt đầu trước 13 tuổi

14 Bỏ nhà đi qua đêm ít nhất hai lần trong khi đang sống với bố mẹ hay nhà

bố mẹ nuôi (hoặc một lần không trở về trong thời gian dài)

15 Thường bỏ học, trốn tiết bắt đầu trước 13 tuổi

Cũng theo bảng phân loại của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ thì ở trẻ có ít nhất ba trong số mười lăm biểu hiện trên đây hoặc có ít nhất một biểu hiện hành vi xuất

hiện trong sáu tháng thì có thể chẩn đoán trẻ có biểu hiện HVLC Nếu trẻ trên 18

tuổi thì không xếp vào diện chẩn đoán này [19]

Đây là tiêu chí chuẩn đoán về HVLC được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất

hiện nay Từ việc nghiên cứu các tiêu chí này và các quan niệm về HVLC, có thể rút ra một số bốn đặc trưng về HVLC như sau:

1 HVLC không thể quy vào một hành động mà là một hệ thống hành động, hoạt động, đường lối ứng xử, lối sống của con người (ít nhất 3 biểu hiện) hoặc là một hành động không phù hợp với tiêu chuẩn quy định được lặp đi lặp lại nhiều lần (xuất hiện trong 6 tháng)

2 Đó là những hành vi không thích hợp với tình huống diễn ra hành động

3 Hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hoá của nhóm, tập thể,

xã hội, môi trường cá thể sống và không phù hợp với lứa tuổi

4 Những hành vi đó ảnh hưởng đến học tập, lao động, sinh hoạt của cá nhân cũng như ảnh hưởng đến người khác và xã hội

Trên thực tế cuộc sống, có lẽ không một cá nhân nào không dưới một vài lần

có những hành động vi phạm chuẩn mực Tuy nhiên, đó chỉ là những hành động mang tính chất tình huống, phụ thuộc vào hoàn cảnh mà có thể không do những động cơ, mục đích có trước Những hành vi này gây ra những ảnh hưởng tiêu cực

nhất định đến người khác và xã hội nói chung nhưng có thể không làm thay đổi hệ

Trang 36

thống giá trị, đặc điểm nhân cách, đạo đức của chủ thể Đó không phải là những HVLC

Tóm lại, khi nghiên cứu, chẩn đoán trẻ có biểu hiện HVLC cần phải nghiên

cứu, xem xét trên cả ba mặt: quan hệ xã hội, thể chất và tâm lý Vì cả ba mặt này cũng có thể là căn nguyên gây ra HVLC ở trẻ em

e Phân loại HVLC

Sự ra đời của hệ thống phân loại bệnh học của Hội tâm thần học Hoa kỳ DSM

- IV có giá trị và đóng góp to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu và trị liệu tâm lý Thực

tế, đã có rất nhiều nhà tâm lý, bác sỹ ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng hệ thống phân loại này để nhận dạng, phân loại và chẩn đoán bệnh HVLC ở trẻ em thuộc

mục 312 - 8, trong đó có đưa ra mười lăm tiêu chí chẩn đoán, được chia làm bốn nhóm khác nhau HVLC gồm các dạng sau: HVLCXH (hung tính, giận dữ, nói dối,

trộm cắp, trốn nhà, tự sát, sự co mình lại, không nói, bỏ học, lười biếng), HVLC bản năng (bao gồm về giấc ngủ, ăn uống và tình dục), HVLC tự động (đái dầm, ỉa đùn, nhai lại), HVLC vận động (các thói quen xấu, các động tác lặp đi lặp lại và thất thường về tâm vận động) [22] Như vậy, có nhiều dạng HVLC, ND được xem xét như dạng thứ ba của HVLCXH

1.2.3 Các vấn đề về HVLCXH

1.2.3.1 Chu ẩn mực xã hội

a Định nghĩa CMXH

CMXH về hành vi hay gọi tắt là CMXH cũng là một định nghĩa hẹp hơn so

với chuẩn mực hành vi nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ các đặc trưng của chuẩn mực hành vi Chuẩn mực hành vi được xem xét ở hai khía cạnh cơ bản đó là chuẩn mực

cá nhân (chuẩn mực của cá nhân về hành vi) và CMXH (chuẩn mực của XH về hành vi) Có thể thấy, chuẩn mực cá nhân xét cho cùng đó cũng là CMXH, vì thông qua quá trình hoạt động, mỗi cá nhân tiếp thu, chọn lọc và biến những CMXH thành chuẩn mực riêng của bản thân Do đó chuẩn mực hành vi thường được nhắc đến với

tư cách CMXH Và định nghĩa về chuẩn mực hành vi như đã trình bày ở trên cũng

là định nghĩa mang tính tổng quát nhất về CMXH

Trang 37

CMXH là hệ thống các phép tắc, quy phạm phải theo trong ứng xử của con người trong XH, hay nói cách khác CMXH là hệ thống những quy định

cụ thể, những quy tắc của đạo đức chờ đợi của XH đối với hành vi mà mọi người phải tuân theo Do đó, để xác định một hành vi có phải là lệch chuẩn hay không, trước hết phải xác định đựơc các quy tắc văn hoá của XH (nhóm) mà chủ thể hành vi đang sống Trên cơ sở đó xác định mức độ phù hợp giữa hành vi của cá nhân (nhóm) với quy tắc đó Một hành vi cá nhân (nhóm) bao giờ cũng là một hành

vi XH Nó có thể là bình thường hay lệch chuẩn tuỳ thuộc vào giá trị của nó đối với

XH [10]

CMXH là yếu tố không thể thiếu trong quản lý xã hội, là một trong những phương tiện định hướng hành vi, kiểm tra hành vi xã hội của mỗi cá nhân hay một nhóm người Chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người nhưng nó chỉ điều chỉnh

những hành vi có liên quan tới mối quan hệ giữa các cá nhân, các tập thể… có liên quan tới XH nói chung [17]

Ngoài ra, CMXH còn qui định những giá trị chính, những mục tiêu cơ bản,

những điều kiện, những giới hạn cho phép, các hình thức, cung cách ứng xử mẫu

mực trong những lĩnh vực quan trọng nhất của cuộc sống con người [6]

Tóm lại, CMXH là những mẫu mực, những mô hình về hành vi thực tế của con người khi gặp một tình huống cụ thể nào đó do xã hội quy định Có thể hiểu CMXH với tư cách là những quy tắc, yêu cầu của XH với cá nhân Các quy tắc, yêu

cầu này có thể được ghi thành văn bản, đạo luật, điều lệ… hoặc là những yêu cầu có tính chất ước lệ trong một cộng đồng nào đó mà mọi người đều thừa nhận

b Các thuộc tính của CMXH

Bất kỳ một CMXH nào cũng được xem xét ở ba thuộc tính là tính lợi ích, tính

bắt buộc và tính khả thi [17]:

Tính l ợi ích (tính tất yếu xã hội): thuộc tính này có tính chất tương đối bởi vì

chuẩn mực có ích đối với lợi ích của giai cấp này (nhóm XH này) có thể là trung tính hoặc thậm chí có hại đối với giai cấp khác hoặc nhóm xã hội khác Tính ích lợi

của chuẩn mực có tính chất thay đổi theo không gian và thời gian

Trang 38

Tính b ắt buộc: khi một chuẩn mực vì nguyên nhân này hay nguyên nhân khác

không có tính lợi ích nữa, mặc dù chuẩn mực đó vẫn còn là bắt buộc do những quy định đạo đức hoặc pháp luật hiện hành và thậm chí nó được con người thực hiện

thật sự thì kết quả của nó sẽ mang tính chất tiêu cực hoặc là trung hòa Tuy nhiên,

nếu chuẩn mực mất tính bắt buộc, thì một quy tắc xử sự thậm chí có ích về mặt kết

quả cũng sẽ không được tất cả mọi người thực hiện

Tính kh ả thi: chuẩn mực sẽ mất hẳn tác dụng của nó nếu thiếu một đặc tính

thứ ba, đó là tính khả thi của chuẩn mực trên thực tế Điều quan trọng của các chuẩn

mực là không phải thể hiện ở nhận thức, tình cảm mà quan trọng là thể hiện qua hành vi, cách ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội Nếu tính lợi ích và tính bắt buộc là điều kiện cần thì tính khả thi chính là điều kiện đủ của một CMXH

Một HVLCXH sẽ dễ dàng xuất hiện nếu một CMXH thiếu đi ít nhất một trong

ba thuộc tính nêu trên hoặc có đầy đủ ba thuộc tính nhưng chỉ ở mức độ hiện diện

thấp Trong ba thuộc tính kể trên của chuẩn mực thì điểm gốc là tính lợi ích XH do

những quá trình xã hội khách quan trong đời sống xã hội quy định

c Các loại CMXH

Có thể phân chia CMXH thành các loại sau [17]:

Chu ẩn mực pháp luật là một loại chuẩn mực tổng hợp mang tính phổ cập Đây

là một hệ thống các quy tắc chỉ đạo hành vi cá nhân có tính khách quan được ghi thành văn bản Luật pháp mô tả rõ ràng, khúc chiết và có những hướng dẫn cụ thể

về cách ứng xử hoặc giới hạn của hành vi, là khuôn phép không có tính mềm mỏng trong việc thi hành Sự sai lệch chuẩn mực này sẽ bị các cơ quan chức năng trừng

phạt theo quy định của pháp luật

Chu ẩn mực đạo đức là chuẩn mực qui định về các giá trị đạo đức, những

nguyên tắc ràng buộc đạo đức Chuẩn mực này được mọi người thừa nhận như một truyền thống nhưng phần lớn không được ghi nhận thành văn bản Loại chuẩn mực này linh động hơn luật pháp Sự ảnh hưởng của chuẩn mực đạo đức thường thông qua cơ chế tâm lý bên trong con người, được vận dụng, xử lý rất linh hoạt và mềm

dẻo Hành vi sai lệch chuẩn mực này sẽ bị XH, cộng đồng lên án nhưng không bị cơ quan pháp luật trừng phạt như vi phạm pháp luật

Trang 39

Phong t ục, truyền thống là chuẩn mực nói lên tính chất văn hoá của cộng

đồng, là những nguyên tắc, qui ước sinh hoạt trong cộng đồng đã hình thành trong

lịch sử Phong tục, tập quán có thể được lưu giữ trong gia đình và có thể được ghi

nhận công khai hoặc có tính chất truyền thống

Chu ẩn mực thẩm mỹ là chuẩn mực qui ước về các giá trị trong hoạt động sáng

tạo nghệ thuật, trong việc thưởng thức cái đẹp, trong các hành vi đạo đức, trong việc

cảm thụ thẩm mỹ nói chung Trừ những chuẩn mực có liên quan đến đạo đức, luật pháp, những chuẩn mực thẩm mỹ ít nhiều mang tính chủ quan

Chu ẩn mực chính trị là loại chuẩn mực điều tiết hành vi của chủ thể trong đời

sống chính trị, điều tiết các quan hệ giữa các giai cấp, đảng phái, giữa các cộng đồng XH lớn Các chuẩn mực chính trị thường được thể hiện trong các loại chuẩn

mực khác như chuẩn mực luật pháp, chuẩn mực về tổ chức, một phần trong chuẩn

- Chuẩn mực được hướng dẫn, được qui định, được thống nhất trên cơ sở

những giá trị của XH, của cộng đồng Loại chuẩn mực này đuợc hình thành trên nền

tảng những yêu cầu chung của cộng đồng đối với từng thành viên Vì vậy những hành vi nào trái với những nguyên tắc đã có, trái với những yêu cầu chung thì được xem là HVLC

- Chuẩn mực được xác định trên cơ sở những qui ước của cá nhân, những quy ước này không mâu thuẫn với giá trị XH nói chung nhưng qui định mục tiêu riêng

của cá nhân Những hành vi phù hợp với mục đích của cá nhân được xem là hành vi

hợp chuẩn và ngược lại những hành vi không phù hợp với mục đích cá nhân được xem là hành vi lệch chuẩn

Trang 40

Nhìn chung CMXH đặt ra để duy trì trật tự xã hội nên nó trực tiếp phục vụ lợi ích của giai cấp nhất định Tuỳ theo những đặc điểm văn hoá, kinh tế, xã hội, chính

trị, tôn giáo… của một XH mà những chuẩn mực tương ứng cho XH đó được đặt ra Chuẩn mực xã hội mang tính lịch sử XH nên nó có thể thay đổi theo những giai đoạn lịch sử nhất định phù hợp với những biến đổi XH

1.2.3.2 Khái ni ệm HVLCXH

a Định nghĩa HVLCXH

HVLCXH được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu như Tội phạm

học, TLH, Giáo dục học, Đạo đức học… Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng đã có

sự thống nhất tương đối khi đưa ra định nghĩa về HVLCXH Tương tự định nghĩa HVLC, HVLCXH là một định nghĩa hẹp hơn nhưng nó vẫn bảo đảm đầy đủ các đặc trưng của HVLC Thậm chí, HVLC thường được gọi với ngụ ý là HVLCXH

Theo tác giả Lưu Song Hà, HVLCXH chính là những HVLC không đựơc xã

hội chấp nhận Như vậy, có thể hiểu HVLCXH là bất kỳ hành vi nào không phù hợp

với sự mong đợi của một nhóm hoặc của xã hội Nói cách khác, HVLCXH là hành

vi chệch khỏi các quy tắc, chuẩn mực của nhóm hay của xã hội [10]

Xuất phát từ nhiều cách định nghĩa khác nhau về HVLCXH, theo tác giả

HVLCXH là nh ững hành vi không hợp với chuẩn nhất định, những chuẩn

m ực này do xã hội thừa nhận và ấn định Đây cũng là định nghĩa được người

nghiên cứu lựa chọn làm cơ sở xuyên suốt đề tài

b Các c ấp độ của HVLCXH

Có hai cấp độ xem xét HVLC: cá nhân và cộng đồng Sự sai lệch hành vi XH

của cá nhân được các nhà TLH quan tâm nhiều hơn Sự sai lệch hành vi của nhiều

người trong cộng đồng thuộc lĩnh vực xã hội học nghiên cứu Tuy nhiên, dù ở cấp

độ nào thì các loại HVLCXH đều gây nên những hậu quả xấu cho cá nhân và xã

hội Hậu quả đó có thể là thiệt hại về kinh tế, mất trật tự xã hội, tổn thương tâm lý, tinh thần và thể xác, suy thoái về nhân cách Vì thế cần giáo dục, uốn nắn, phòng

ngừa các HVLCXH [17]

c Các y ếu tố ảnh hưởng đến HVLCXH

Sự sai lệch chuẩn mực hành vi XH có thể chịu sự tác động của nhiều yếu tố và

có nhiều mức độ biểu hiện khác nhau [17]:

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguy ễn Võ Huệ Anh (2010), M ột số biểu hiện ở hành vi mua sắm của nữ doanh nhân t ại thành phố Hồ Chí Minh , Lu ận văn Thạc sĩ Tâm lý học, trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện ở hành vi mua sắm của nữ doanh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguy ễn Võ Huệ Anh
Năm: 2010
2. Đào Thị Vân Anh (2006), Tìm hi ểu nhận thức về lối sống và hành vi đạo đức c ủa học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hi ện nay , Lu ận văn Thạc sĩ Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nhận thức về lối sống và hành vi đạo đức của học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Đào Thị Vân Anh
Năm: 2006
3. Abrégés (1991), Tâm b ệnh học trẻ em , Nxb Y h ọc - Trung tâm nghiên cứu trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm bệnh học trẻ em
Tác giả: Abrégés
Nhà XB: Nxb Y học - Trung tâm nghiên cứu trẻ em
Năm: 1991
4. B ộ Giáo dục và đào tạo (2010), Điều 23 - Luật giáo dục , Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều 23 - Luật giáo dục
Tác giả: B ộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2010
5. Nguy ễn Trường Chinh (2005), T ại sao đàn ông nói dối, đàn bà nói nhiều , Nxb Tr ẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao đàn ông nói dối, đàn bà nói nhiều
Tác giả: Nguy ễn Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
6. Ph ạm Tiến Công (2012), Th ực trạng hành vi lệch chuẩn xã hội ở học sinh trung h ọc cơ sở Tp. Bạc Liêu - Tỉnh Bạc Liêu , Lu ận văn Thạc sĩ Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hành vi lệch chuẩn xã hội ở học sinh trung học cơ sở Tp. Bạc Liêu - Tỉnh Bạc Liêu
Tác giả: Ph ạm Tiến Công
Năm: 2012
9. Vũ Dũng (2000), T ừ điển Tâm lý học , Trung tâm Khoa h ọc xã hội và nhân văn, Vi ện Tâm lý học, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2000
10. Lưu Song Hà (2004), Hành vi sai l ệch chuẩn mực xã hội , T ạp chí Tâm lý học, s ố 7-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội
Tác giả: Lưu Song Hà
Năm: 2004
11. Ph ạm Minh Hạc (1988), Tâm lý h ọc tập một , Nxb Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tập một
Tác giả: Ph ạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1988
12. Ph ạm Minh Hạc (1997), Tâm lý h ọc Vư-Gốt-Xki , Nxb Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Vư-Gốt-Xki
Tác giả: Ph ạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1997
13. Ph ạm Minh Hạc (Biên dịch và giới thiệu) (1988), M ột số công trình Tâm lý học A.N.Lêônchép, Nxb Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số công trình Tâm lý học A.N.Lêônchép
Tác giả: Ph ạm Minh Hạc (Biên dịch và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1988
14. Ph ạm Minh Hạc (1999), Hành vi và ho ạt động , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi và hoạt động
Tác giả: Ph ạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
15. Hacker Mole (2003), L ời nói dối của đàn ông , Ph ạm Văn Trung dịch, Nxb Phụ n ữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời nói dối của đàn ông
Tác giả: Hacker Mole
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2003
16. Mai M ỹ Hạnh (2011), Hành vi nghi ện game online của học sinh một số trường trung h ọc cơ sở tại Tp.HCM , Khóa lu ận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại h ọc Sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi nghiện game online của học sinh một số trường trung học cơ sở tại Tp.HCM
Tác giả: Mai M ỹ Hạnh
Năm: 2011
17. Vũ Gia Hiền (2005), Tâm lý h ọc và chuẩn hành vi, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và chuẩn hành vi
Tác giả: Vũ Gia Hiền
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005
18. H ội Tâm lý - Giáo dục Hà Nội (2000), Hành vi l ệch chuẩn của học sinh một số trường THPT tại Hà Nội , Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi lệch chuẩn của học sinh một số trường THPT tại Hà Nội
Tác giả: H ội Tâm lý - Giáo dục Hà Nội
Năm: 2000
19. H ội tâm thần Hoa kỳ (1994), S ổ tay thống kê chẩn đoán IV- Những tiêu chuẩn ch ẩn đoán , Washington DC - BS Ph ạm Văn Nuôi và cộng sự dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thống kê chẩn đoán IV- Những tiêu chuẩn chẩn đoán
Tác giả: H ội tâm thần Hoa kỳ
Năm: 1994
20. Đặng Phương Kiệt (1999), Hành vi l ệch chuẩn của học sinh một số trường THPT t ại Hà Nội , Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi lệch chuẩn của học sinh một số trường THPT tại Hà Nội
Tác giả: Đặng Phương Kiệt
Năm: 1999
21. Kinh Thánh C ựu Ước (2010), Ngũ thư (bản dịch để học hỏi) , Nhóm Phiên D ịch Các Gi ờ Kinh Phụng Vụ, Nxb Tôn Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngũ thư (bản dịch để học hỏi)
Tác giả: Kinh Thánh C ựu Ước
Nhà XB: Nxb Tôn Giáo
Năm: 2010
22. Lescarret, Odette (2001), Tr ẻ em, văn hoá, giáo dục , K ỷ yếu hội thảo Việt- Pháp v ề tâm lý học, Lê Khanh, Ricaud, Văn Thị Kim Cúc dịch, Nxb Thế gi ới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em, văn hoá, giáo dục
Tác giả: Lescarret, Odette
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ phân tích cấu trúc HVND - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ phân tích cấu trúc HVND (Trang 46)
Sơ đồ 1.2. Cách tiếp cận HVND theo DSM - IV - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 1.2. Cách tiếp cận HVND theo DSM - IV (Trang 49)
Bảng 2.5. Cách thức quy đổi điểm thang đo sự căng thẳng - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.5. Cách thức quy đổi điểm thang đo sự căng thẳng (Trang 79)
Hình th ức văn học nghệ thuật) - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Hình th ức văn học nghệ thuật) (Trang 85)
Bảng 2.15. CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ xuất hiện của  HVND - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.15. CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ xuất hiện của HVND (Trang 91)
Bảng 2.24. Cảm xúc của HS THCS trước, trong và sau khi nói dối - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.24. Cảm xúc của HS THCS trước, trong và sau khi nói dối (Trang 102)
Bảng 2.29. Hình thức nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.29. Hình thức nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM (Trang 108)
Bảng 2.30. Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.30. Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS (Trang 109)
Bảng 2.31. Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.31. Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS (Trang 111)
Bảng 2.32. Biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.32. Biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS (Trang 114)
Bảng 2.33. Biểu hiện HVND trên bình diện thói quen của HS THCS - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.33. Biểu hiện HVND trên bình diện thói quen của HS THCS (Trang 116)
Bảng 2.34. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường của HS THCS - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.34. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường của HS THCS (Trang 118)
Bảng 2.35. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè của HS THCS - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.35. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè của HS THCS (Trang 120)
Bảng 2.36. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình của HS  THCS - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.36. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình của HS THCS (Trang 122)
Bảng 2.55. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cô đơn và HVND của - hành vi nói dối của học sinh một số trường trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.55. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cô đơn và HVND của (Trang 142)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w