1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đông nam bộ trong tiến trình mở đất phương nam (thế kỉ xvii – xviii)

178 583 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là bộ sách trình bày về vị trí địa lý, lịch sử, hành chính, kinh tế, núi sông, thành trì, văn hóa…của nhiều tỉnh thành trong cả nước trong đó có 2 tỉnh Biên Hòa, Gia Định xưa nay thu

Trang 1

Nguyễn Ngọc Chúc

ĐÔNG NAM BỘ TRONG TIẾN TRÌNH

MỞ ĐẤT PHƯƠNG NAM (THẾ KỈ XVII – XVIII)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

Nguyễn Ngọc Chúc

ĐÔNG NAM BỘ TRONG TIẾN TRÌNH

MỞ ĐẤT PHƯƠNG NAM (THẾ KỈ XVII – XVIII)

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam

Mã số : 60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ HUỲNH HOA

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là của riêng tôi do TS Lê Huỳnh Hoa hướng dẫn Những tư liệu, trích dẫn trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 9 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Ngọc Chúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Lịch Sử, phòng Sau Đại Học và quý Thầy, Cô trong khoa Lịch

Sử của trường Đại Học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ

và dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập ở trường

Để hoàn thành luận văn này em xin bày tỏ sự tri ân và lòng biết

ơn sâu sắc tới TS Lê Huỳnh Hoa, người đã tận tình hướng dẫn cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới thư viện trường ĐHSP TP HCM, Thư viện Khoa Học Xã Hội, thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu để phục

vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân quen, bạn hữu, đồng nghiệp đã dành tình cảm, động viên và giúp

đỡ tôi trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Với khả năng hiểu biết còn có hạn, chắc chắn nội dung của luận văn khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết, kính mong nhận được sự hướng dẫn, góp ý từ quý Thầy, Cô

Xin trân trọng cảm ơn !

Nguyễn Ngọc Chúc

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ “ĐẤT VÀ NGƯỜI” ĐÔNG NAM BỘ CHO ĐẾN THẾ KỈ XVII 13

1.1 Về địa danh và điều kiện địa lý – tự nhiên 13

1.1.1 Về địa danh “Đông Nam Bộ” 13

1.1.2 Về điều kiện địa lý, tự nhiên 17

1.2 Về lịch sử - dân cư 21

1.2.1 Đông Nam Bộ trước công nguyên 21

1.2.2 Đông Nam Bộ từ công nguyên đến trước thế kỉ XVII 29

Tiểu kết chương 1 42

Chương 2 QUÁ TRÌNH MỞ ĐẤT ĐÔNG NAM BỘ TRONG THẾ KỈ XVII - XVIII 44

2.1 Bối cảnh lịch sử 44

2.1.1.Tình hình trong nước 44

2.1.2 Tình hình khu vực 56

2.2 Quá trình khai mở vùng đất Đông Nam Bộ 65

2.2.1 Sự có mặt của người Việt trên vùng đất Nam Bộ 65

2.2.2 Công cuộc mở đất Đông Nam Bộ 78

Tiểu kết chương 2 96

Chương 3 VAI TRÒ CỦA ĐÔNG NAM BỘ TRONG TIẾN TRÌNH MỞ ĐẤT PHƯƠNG NAM 99

3.1 Đông Nam Bộ là nơi dừng chân đầu tiên của lưu dân, di dân người Việt 99

Trang 6

3.2 Đông Nam Bộ là nơi trung chuyển di dân trên con đường khai phá

vùng đất Nam Bộ 106

3.3 Đông Nam Bộ, là điểm xuất phát của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Đại Việt trên vùng đất phương Nam 108

3.4 Đông Nam Bộ là cửa ngõ thông thương của Đàng Trong với nước ngoài 125

3.5 Đông Nam Bộ là nơi hội nhập của cộng đồng các dân tộc trên vùng đất phương Nam 136

Tiểu kết chương 3 141

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đông Nam Bộ hiện nay là một trong những vùng kinh tế phát triển nhất của nước ta, khu vực này nằm như gần trọn trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, trên hành lang kinh tế Đông – Tây, nối với Campuchia và các nước Đông Nam

Á, khá thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và giao lưu quốc tế Khu

vực này có 5 tỉnh và 1 thành phố gồm: “Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh,

Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu” [144] Đây là vùng có

tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong nhiều năm “GDP đạt hơn 10% mỗi

năm, đóng góp khoảng 40% sản lượng công nghiệp, hơn 30 % GDP và hơn 30

% ngân sách cả nước” [14, tr.8], đời sống vật chất và tinh thần của người dân

không ngừng được nâng cao

Nói cách khác, Đông Nam Bộ hiện nay có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Còn trong quá khứ, đặc biệt trong buổi đầu khai phá, mở cõi vùng đất phương Nam, khu vực Đông Nam Bộ đã giữ vai trò gì, biểu hiện cụ thể ra sao?

Là một người được sinh ra và lớn lên ở Bình Dương, một trong sáu tỉnh thành của Đông Nam Bộ, hiện tại là một giáo viên dạy Lịch Sử ở tỉnh nhà và là một học viên cao học ngành Lịch Sử Việt Nam; tôi luôn muốn tìm lời giải cho câu hỏi nêu trên của mình Vì khi có câu trả lời, tôi có thể giảng những bài lịch

sử địa phương cũng như những bài có liên quan đến lịch sử Đông Nam Bộ cho học sinh của mình một cách mạch lạc hơn, sinh động hơn, hấp dẫn hơn, giúp học sinh hứng thú hơn khi học Lịch Sử, từ đó góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Lịch Sử ở nhà trường THPT

Nghiên cứu Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam vào các thế kỷ XVII – XVIII, không chỉ nhằm phục dựng bức tranh của quá khứ mà còn

mở rộng hiểu biết, tạo cơ sở lịch sử để hiểu và lý giải những vấn đề của hiện tại

ở Đông Nam Bộ

Trang 8

Ngoài ra, nghiên cứu lịch sử từng miền, từng khu vực, từng địa phương còn có vai trò hết sức quan trọng, góp phần bổ sung sử liệu cho việc xây dựng lịch sử của từng địa phương, từng khu vực và của cả miền Nam

Chính vì những lí do trên nên tôi đã chọn đề tài “Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam (thế kỉ XVII – XVIII)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài đã có các công trình sau đã

được công bố:

-Tác phẩm “Phủ Biên tạp lục” của Lê Quý Đôn là nguồn thư tịch viết vào

năm 1776 Thời điểm này rất gần cuộc khai khẩn, mở rộng vùng đất phía Nam nên đã cung cấp những sử liệu quý về cảnh quan, môi trường thiên nhiên, về diện tích canh tác, về thuế khóa…của xứ Đàng Trong, trong đó có vùng Đông Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung

- Tác phẩm “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức (1765 –

1825), được viết vào đầu thế kỉ XIX dưới triều Gia Long với những ghi chép tỉ

mỉ về quá trình khai phá, mở mang vùng đất cực nam của đất nước Đây là nguồn tư liệu quý đề cập nhiều đến quá trình mở đất phương Nam trong đó có Đông Nam Bộ

- Tác phẩm “Đại Nam thực lục” của quốc sử quán triều Nguyễn được

biên soạn vào năm 1821 dưới triều Minh Mạng Sách ghi chép các sự kiện từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa (1558) đến đời vua Khải Định (1925) Phần đầu của Đại Nam thực lục gọi là Tiền biên (Đại Nam thực lục Tiền biên), ghi chép các sự kiện lịch sử của 9 chúa Nguyễn ở Đàng Trong từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Thuần Đại Nam thực lục chính biên là phần thứ hai viết về triều đại của các vua Nguyễn, từ khi Nguyễn Ánh làm chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887) và sau này được viết thêm đến đời vua Khải

Trang 9

Định Nội dung của sách, đặc biệt là phần tiền biên đã cung cấp nhiều tư liệu về lịch sử khai phá vùng Đông Nam Bộ ngày nay

- “Đại Nam nhất thống chí” là bộ sách địa lý - lịch sử được biên soạn vào

năm 1875, thời Tự Đức Đây là bộ sách trình bày về vị trí địa lý, lịch sử, hành chính, kinh tế, núi sông, thành trì, văn hóa…của nhiều tỉnh thành trong cả nước

trong đó có 2 tỉnh Biên Hòa, Gia Định xưa (nay thuộc Đông Nam Bộ)

- Tác giả Phan Khoang với công trình “Việt sử xứ Đàng Trong”, là một

công trình nghiên cứu lịch sử được xuất bản năm 1967, có tính chất là một bản

“lược đồ” vẽ lại đường đi của tiền nhân trong khoảng hơn 400 năm trước trong công cuộc khẩn hoang lập ấp ở miền đất mới Đàng Trong Tác giả đã dành khá nhiều nội dung cho quá trình “Nam tiến của dân tộc”; đặc biệt đã đề cập đến công cuộc mở đất ở vùng Biên Hòa, việc lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và dinh Phiên Trấn, thuộc phủ Gia Định nay là khu vực Đông Nam Bộ

- Tác phẩm “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” của tác giả Sơn Nam đã

nghiên cứu tiến trình lịch sử của miền Nam trong việc mở mang đất đai canh tác, củng cố chính quyền, xác định biên giới, xây dựng các cơ sở vật chất Tác giả đã cung cấp cho người đọc một cách khái quát quá trình thiên di, sinh cơ lập nghiệp của lưu dân Việt trên vùng đất mới phía Nam gần ba thế kỷ qua trong đó

có vùng Đông Nam Bộ ngày nay, tác giả cũng đã khẳng định vùng Cù Lao Phố

là “nòng cốt” của Biên Hòa và Bến Nghé là “nòng cốt” của Gia Định

- Tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ” do phó giáo sư Huỳnh

Lứa chủ biên, Nhà xuất bản (Nxb) Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, đã trình bày một cách công phu quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX Năm 2000, Phó giáo sư tiếp tục công bố tập hợp các bài viết của mình trong quyển: “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ trong thế kỉ XVII, XVIII, XIX” Tác phẩm đã bổ sung một số tư liệu như: chính sách thúc đẩy khẩn hoang của Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn ở vùng Đồng Nai – Gia Định từ cuối thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX; sự ra đời của các đô thị ở Nam

Trang 10

Bộ; sự hình thành làng xã và vai trò của thôn ấp trong cuộc khẩn hoang, công cuộc khai phá ở một số địa phương cụ thể như Bình Dương, Hà Tiên…Ngoài ra, tác phẩm đã đưa ra nhận thức về vai trò của nhà nước và nhân dân trong công cuộc khai phá Nam Bộ trong đó có vùng Đông Nam Bộ

- Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền có công trình “Lễ Thành Hầu Nguyễn

Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền nam nước Việt cuối thế kỉ XVII” đã

trình bày việc kinh lược và thiết lập tổ chức hành chính ở xứ Đồng Nai, lập ra dinh Phiên Trấn và dinh Trấn Biên tương đương khu vực Đông Nam Bộ ngày nay

- Tác phẩm “Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam” do GS TSKH Vũ

Minh Giang chủ biên, Nxb Thế Giới ấn hành vào năm 2008 đã trình bày khái quát lịch sử phát triển của vùng đất Nam Bộ Tác phẩm không chỉ trình bày các mốc quan trọng trong việc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ (trong đó có vùng Đông Nam Bộ) mà còn dành một phần thích đáng trình bày về cuộc sống cộng đồng dân cư Nam Bộ, về mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hóa mật thiết giữa các dân tộc Việt, Khơme, Hoa, Chăm, Mạ…

- Năm 2013, Tiến sĩ Đỗ Quỳnh Nga công bố luận văn tiến sĩ “Công cuộc

mở đất Tây Nam Bộ thời Chúa Nguyễn” do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia

phát hành Luận án đã dành 8 trang nói về công cuộc mở đất Đông Nam Bộ Trước đó, tác giả cũng có bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử tháng 5

năm 2012 với tựa đề “Chúa Nguyễn với công cuộc mở đất Đông Nam Bộ thế kỉ

XVII” đề cập việc mở đất Đông Nam Bộ trong thế kỉ XVII

- Trong kỷ yếu hội thảo khoa học “Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam

Bộ đến cuối thế kỉ XIX”, tại thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết về lịch

sử, về kinh tế, về văn hóa… của Nam Bộ (trong đó có vùng Đông Nam Bộ), điển hình như:

+ Bài “Kinh tế hàng hóa và đô thị ở Nam Bộ (từ thế kỉ XVII đến thế kỉ

XIX)” của PGS Lê Xuân Diệm Tác giả trình bày những biểu hiện được coi là

Trang 11

đặc thù của nền kinh tế hàng hóa ở Nam Bộ, hoạt động thương mại ở vùng này chủ yếu gắn với sản phẩm nông nghiệp do nông dân làm ra Tác giả đã khẳng định Nam Bộ có 4 đô thị nổi tiếng, trong đó Đông Nam Bộ có 2 đó là Nông Nại Đại Phố và Bến Nghé – Sài Gòn

+ PGS.TS Đỗ Bang có bài “Chính quyền Đàng Trong với công cuộc mở

mang lãnh thổ và phát triển kinh tế ở Nam Bộ thế kỉ XVII – XVIII”, tác giả đã

trình bày một số sự kiện chính của quá trình mở rộng lãnh thổ ở Nam Bộ và có

kết luận về vai trò của Đông Nam Bộ như sau: “…Đông Nam Bộ trở thành một

trung tâm kinh tế nông nghiệp và thương nghiệp của xứ Đàng Trong Một miền đất hấp dẫn không những đối với nông dân vùng Thuận Quảng mà cả đối với người Hoa và nhiều thương khách nước ngoài khác” [42, tr.251]

Hoặc như bài “Các bước phát triển của công cuộc khai phá vùng đất

Nam Bộ từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX” của PGS.TS Trần Đức Cường đã

khẳng định với việc hoạch định vùng đất Sài Gòn – Gia Định thành các đơn vị hành chính của Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào năm 1698 thì chính quyền chúa Nguyễn đã xác định vai trò quản lý mang tính nhà nước đối với vùng đất này

- Trong hội thảo “Từ xứ Mô Xoài xưa tới Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay”, tác giả Đỗ Bang với bài “Mô Xoài trong tiến trình mở đất Đông Nam Bộ thời

chúa Nguyễn, những khoảng trống lịch sử cần được khám phá và những vấn đề cần được xác minh” đã cung cấp những tư liệu làm rõ vị trí quan trọng của Mô

Xoài trong tiến trình lịch sử di dân, khẩn hoang của nhiều thế hệ lao động Việt Nam, đây là điểm đầu mở đất Nam Bộ của chúa Nguyễn, có tác dụng to lớn trong việc hình thành vùng đất (Đàng Trong) trù phú, giàu mạnh

+ Tác giả Nguyễn Đình Thống với bài “Xứ Mô Xoài và hành trình khai

phá vùng đất Nam Bộ” đã trình bày về vị trí địa lý của Mô Xoài, về một số tên

gọi xưa ở vùng đất Mô Xoài cũng như việc bảo tồn các tên gọi này trong giai đoạn hiện nay, tham luận cũng đưa ra nhận định về vai trò của Mô Xoài trong

Trang 12

quá trình mở đất phương Nam

+ Tác giả Nguyễn Bạch Long với tham luận “Lý do người Việt chọn xứ

Mô Xoài làm nơi dừng chân đầu tiên trong tiến trình mở cõi phương Nam” đã

cho biết nguyên nhân lưu dân Việt chọn Mô Xoài làm điểm định cư đầu tiên là

vì nơi đây xưa kia vốn là vùng tranh chấp giữa Chân Lạp và Champa và cả hai đều không kiểm soát được nên trở thành vùng đệm Chính vì thế, vùng này trở thành nơi lý tưởng cho những người dân đang muốn thoát khỏi sự kiểm soát, ràng buộc của các chúa Nguyễn Ngoài ra, do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở đây có những nét tương đồng với miền Trung nên họ quyết định chọn Mô Xoài làm điểm dừng chân đầu tiên của mình

Tác giả Nguyễn Hữu Hiếu với bài “Từ cuộc hôn nhân Ngọc Vạn – Chey

Chetta II đến sự kiện Mô Xoài” đã trình bày và phân tích cuộc hôn nhân mang

màu sắc chính trị giữa Ngọc Vạn – Chey Chetta II, từ đó tác giả khẳng định công lao to lớn của chúa Nguyễn Phúc Nguyên và công chúa Ngọc Vạn trong tiến trình khai phá vùng đất mới Nam Bộ

Nhìn chung, 83 tham luận trong hội thảo đã thể hiện trên 4 nội dung: Mô Xoài là vùng đất địa đầu của Nam Bộ; Mô Xoài những vấn đề hình thành, phát triển dân cư, quân sự, kinh tế, văn hóa; Mô Xoài nguồn gốc địa danh, nhân vật lịch sử; Mô Xoài những dấu tích khảo cổ, kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa Như vậy, có thể nói, các tham luận trong kỷ yếu hội thảo đã thể hiện được một bức tranh khá trọn vẹn về toàn cảnh vùng đất Mô Xoài gần 400 năm, giúp người đọc biết được nguồn gốc điạ danh, nhân vật lịch sử của Mô Xoài, cũng như thấy được vị trí, vai trò của vùng đất này trong tiến trình mở đất phương Nam

- Ngoài ra, với 9 tập Nam Bộ Đất và Người, do PGS.TS Võ Văn Sen chủ

biên đã cung cấp những tư liệu quý giá về điều kiện tự nhiên, về lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ chung cũng như Đông Nam Bộ nói riêng Các bài viết của nhiều tác giả đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết

về lịch sử - dân cư của vùng; về thời gian, về nguyên nhân người Việt có mặt

Trang 13

trên vùng đất này theo cách nhìn mới; về tiểu sử, vai trò của một số cá nhân có công lớn trong công cuộc mở đất Đông Nam Bộ như công chúa Ngọc Vạn, Trần Thượng Xuyên, Nguyễn Hữu Cảnh…; về sự có mặt của người Hoa và vai trò của họ trong việc mở mang và phát triển kinh tế của vùng…

- Hiện nay hầu hết các tỉnh Đông Nam Bộ đều đã tiến hành biên soạn điạ chí cho tỉnh mình như:

+ Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh do cố giáo sư Trần Văn Giàu

chủ biên, xuất bản năm 1987 tại Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh

+ Địa chí tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, Sở văn hóa

thông tin Tây Ninh và viện Khoa Học Xã Hội Nhân văn TP Hồ Chí Minh thực hiện, xuất bản vào năm 2006 tại Nxb Tây Ninh

+ Địa chí tỉnh Bình Dương xuất bản năm 2010, do Ủy ban nhân dân tỉnh

Bình Dương chịu trách nhiệm và xuất bản tại Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội

+ Địa chí tỉnh Đồng Nai gồm 5 tập, do Ban Thường Vụ tỉnh Ủy tỉnh Đồng

Nai chịu trách nhiệm chính, với sự chủ biên của các tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng (tập 1), Nguyễn Yên Tri (tập 2), Đỗ Bá Nghiệp (tập 3), Thái Doãn Mười (tập 4), Huỳnh Văn Tới (tập 5), nhà xuất bản Tổng Hợp Đồng Nai xuất bản

+ Địa chí tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội xuất

bản vào năm 2005, Thạch Phương - Nguyễn Trọng Ninh làm chủ biên

Khu vực này chỉ còn tỉnh Bình Phước là chưa biên soạn địa chí, tuy nhiên

trước đây vào năm 1991, Địa chí tỉnh Sông Bé đã được biên soạn với sự chủ

biên của Trần Bạch Đằng, Nxb Tổng Hợp Sông Bé xuất bản Nội dung bao gồm

cả tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước Nhìn chung, trên đây là những công trình khảo cứu công phu cung cấp những hiểu biết rất quý về lịch sử, tự nhiên, văn hóa và con người ở mỗi tỉnh thành cụ thể trong khu vực Đông Nam Bộ

Ngoài ra còn nhiều bài viết về Đông Nam Bộ trong các kỷ yếu hội thảo về Nam Bộ, trong các tạp chí như Tạp chí Xưa Và Nay, Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử… Ví dụ như:

Trang 14

+ Tạp chí Xưa và Nay số 52 năm 1998 có bài “Cù Lao Phố cảng biển đầu

tiên của Nam Bộ” của tác giả Sơn Nam Bài viết đã trình bày khái quát về sự ra

đời, hoạt động cũng như nguyên nhân suy sụp của Cù Lao Phố; tác giả cũng khẳng định: Cù Lao Phố là một cảng quan trọng và đầu tiên của Nam Bộ

+ Tạp chí Xưa và Nay, số 473 năm 1998 có bài “Nguyễn Hữu Cảnh với

sự sắp đặt nền hành chính tại Đồng Nai - Gia Định” của Nguyễn Đình Tư Thông qua việc trình bày việc sắp đặt nền hành chính đầu tiên tại vùng đất Đồng Nai – Gia Định của Nguyễn Hữu Cảnh, tác giả không những giúp người đọc biết được vùng đất Đông Nam Bộ đã được chúa Nguyễn xác lập chủ quyền vào năm

1698, mà còn giúp cho hậu thế thấy được tài năng, đức độ, công lao của bậc khai quốc công thần này

+ Tác giả Trần Thị Bích Ngọc với bài “Vị trí chính trị - kinh tế của Sài Gòn – Gia Định đối với Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới ở thế kỉ XVII – XIX”, đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 6 năm 1985 Bài viết đã nêu lên

vị trí và vai trò về chính trị và kinh tế của Sài Gòn – Gia Định trong các thế kỉ kỉ XVII – XIX

Có thể nói, hầu hết các tác phẩm, các bài viết đều nói về quá trình khai phá vùng đất Đông Nam Bộ, hoặc về lịch sử khai phá, hoặc về những nhân vật

có công trong quá trình khai phá, hoặc về vị trí, vai trò của một địa điểm nào đó trong khu vực Đông Nam Bộ … nhưng chưa có tác phẩm nào đề cập một cách tập trung, toàn diện và hệ thống về Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam Vì vậy, việc chọn đề tài “Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam (thế kỉ XVII – XVIII)” để nghiên cứu, sẽ góp phần làm phong phú thêm những đóng góp về quá trình mở đất, về vai trò của vùng đất đầu tiên khi người Việt đến và định cư

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 15

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vùng đất Đông Nam Bộ trong quá trình mở đất về phương Nam vào các thế kỉ XVII – XVIII

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu của đề tài là Đông Nam Bộ gồm các tỉnh thành: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh

và Bình Phước, ngoài ra còn có một phần của tỉnh Long An hiện nay

Thời gian nghiên cứu của đề tài là: từ thế kỉ XVII cho đến nửa đầu thế kỉ XVIII Thế kỉ XVII là mốc người Việt có mặt ở Đông Nam Bộ tương đối nhiều

do cuộc hôn nhân ngoại giao của công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chettha II (năm 1620) Thế kỉ XVIII, là mốc công cuộc mở đất phương Nam hoàn tất với sự kiện Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long (An Giang) cho chúa Nguyễn (năm 1757)

Với phạm vi và thời gian đã xác định như trên, đề tài tập trung giải quyết các vấn đề sau: tổng quan về “Đất và Người” Đông Nam Bộ, quá trình khai phá Đông Nam Bộ trong thế kỉ XVII - XVIII và vai trò của Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu

- Nguồn tài liệu gốc bằng chữ Hán đã được dịch sang chữ quốc ngữ như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức

- Các công trình khoa học nghiên cứu về Đông Nam Bộ nói riêng và Nam

Bộ nói chung từ cổ trung đại đến hiện đại đã được các nhà xuất bản: như Nxb Chính trị Quốc gia, Nxb Thời Đại, Nxb Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh…xuất bản trên cả nước

Trang 16

- Các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, luận văn thạc sĩ của học viên của trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh

- Các tham luận trong kỷ yếu của các hội thảo khoa học về Nam Bộ và Nam Trung Bộ

- Bài giảng chuyên đề “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” và đề tài khoa học cấp bộ: Chuyên đề “Những vấn đề lịch sử cần bổ sung, cập nhật cho chuyên

đề “ Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ từ thế kỉ XVII đến trước Cách mạng tháng Tám 1945” của TS Lê Huỳnh Hoa

- Các bài viết trên các tạp chí: Nghiên Cứu Lịch Sử, Lịch Sử Đảng, Khoa Học Xã Hội, Nghiên cứu Đông Nam Á, Xưa và Nay…

- Ngoài ra còn có các bài viết để tham khảo từ các website: Lịch Sử Đảng,

Sử Gia, Sử học Bình Dương, Khoa Sử ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Trường ĐH Xã hội và Nhân văn…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Từ đó vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử, là phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:

- Thu thập, sưu tầm, nghiên cứu, xử lí các nguồn tài liệu thành văn để rút

ra các sự kiện, những tư liệu cần thiết cho đề tài

- Trên cơ sở đó, khôi phục, miêu tả lại bức tranh tương đối đầy đủ, có hệ thống về Đông Nam Bộ vào các thế kỷ XVII – XVIII, làm cơ sở nghiên cứu vai trò của khu vực này trong tiến trình mở đất phương Nam

Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và đặc biệt là phương pháp liên ngành, kế thừa thành tựu nghiên cứu khảo cổ học để từ đó có cái nhìn toàn diện về vùng đất Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất về phương

Trang 17

Nam

5 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn bước đầu có những đóng góp sau:

- Phục dựng bức tranh tương đối đầy đủ và hệ thống về công cuộc khai

mở Đông Nam Bộ vào các thế kỷ XVII – XVIII; qua đó thấy được vị trí và vai trò của khu vực này trong tiến trình mở đất về phương Nam

- Tập hợp, hệ thống hoá các nguồn tư liệu viết về Đông Nam Bộ vào các thế kỉ XVII – XVIII

- Đề tài nghiên cứu theo hướng chuyên đề, nên có thể sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập phần lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương trong trường phổ thông trung học (nhất là lịch sử địa phương các tỉnh Đông Nam Bộ) cũng như ở đại học

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn cơ

cấu làm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về “Đất và Người” Đông Nam Bộ

1.1 Về địa danh và điều kiện địa lý – tự nhiên

1.1.1 Về địa danh Đông Nam Bộ

1.1.2 Về điều kiện địa lý - tự nhiên

1.2 Về lịch sử - dân cư

1.2.1 Đông Nam Bộ trước công nguyên

1.2.2 Đông Nam Bộ từ công nguyên đến trước thế kỉ XVII

Chương 2 Quá trình mở đất Đông Nam Bộ trong thế kỉ XVII - XVIII

2.1 Bối cảnh lịch sử

2.1.1 Tình hình trong nước

2.1.1.1 Công cuộc mở đất về phía Nam trước thời chúa Nguyễn

2.1.1.2 Trịnh - Nguyễn phân tranh

2.1.1.3 Công cuộc mở đất Nam Trung Bộ thời chúa Nguyễn

Trang 18

2.1.2 Tình hình khu vực

2.1.2.1 Sự suy yếu của Chân Lạp và mối quan hệ giữa Xiêm La – Chân

Lạp – Đàng Trong của Đại Việt/

2.1.2.2 Ảnh hưởng từ luồng thương mại quốc tế biển Đông và chính

sách mở cửa của chúa Nguyễn ở Đàng Trong 2.2 Quá trình khai mở vùng đất Đông Nam Bộ

2.2.1 Sự có mặt của người Việt trên vùng đất Nam Bộ

2.2.2 Công cuộc mở đất Đông Nam Bộ

2.2.2.1 Những cột mốc quan trọng từ 1620 đến năm 1698

2.2.2.2 Những cột mốc quan trọng từ 1698 đến năm 1757

Chương 3 Vai trò của Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam

3.1 Đông Nam Bộ là nơi dừng chân đầu tiên của lưu dân, di dân người Việt 3.2 Đông Nam Bộ là nơi trung chuyển di dân trên con đường khai phá vùng đất Nam Bộ

3.3 Đông Nam Bộ là điểm xuất phát của việc xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất phương Nam

3.4 Đông Nam Bộ là cửa ngõ thông thương của Nam Bộ, của Đàng Trong với nước ngoài

3.5 Đông Nam Bộ là nơi nơi hội nhập của cộng đồng các dân tộc trên vùng đất phương Nam

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ “ĐẤT VÀ NGƯỜI” ĐÔNG NAM BỘ

CHO ĐẾN THẾ KỈ XVII

Thông thường khi tìm hiểu về vùng miền nào đó, nhà nghiên cứu thường bắt đầu tìm hiểu về “đất và người” của vùng đất đó Đối với vùng Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất về phương Nam cũng vậy Luận văn trước hết xin trình

bày về “đất và người” Đông Nam Bộ bao gồm các nội dung cơ bản như: địa

danh Đông Nam Bộ, điều kiện địa lý – tự nhiên và lịch sử - dân cư của vùng Đông Nam Bộ

1.1 Về địa danh và điều kiện địa lý – tự nhiên

1.1.1 Về địa danh “Đông Nam Bộ”

Tên gọi Đông Nam Bộ không xuất hiện cùng lúc với sự xuất lộ của vùng đất này, tên gọi này xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta đã mấy thế kỉ và cũng đã

có biết bao thay đổi về đơn vị hành chính và phạm vi lãnh thổ Theo thư tịch cổ, vào đầu thế kỉ XIX, ở Việt Nam xuất hiện tên đất Nam Kỳ với nghĩa là đất kỳ phụ (gần kinh kỳ) ở phía Nam Nó xuất hiện bằng văn tự khi nhà Nguyễn định lệ treo cờ và bắn súng ở đài Trấn Hải, nằm ở phía bắc cửa biển Thuận An, xây năm

Gia Long thứ 12 “Các hạng thuyền ghe công sai vận tải tầm thường như Nam

Kỳ tự Quảng Nam đến Bình Thuận, Bắc Kỳ tự Quảng Trị đến Ninh Bình, bang thuyền đi lại đều không phải treo cờ bắn súng” [80, tr.21] Lúc đầu nhà Nguyễn

chia Nam Kỳ từ Quảng Nam đến Gia Định thành 12 tỉnh hạ Đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Nam Kỳ gồm 6 tỉnh (Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên) nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục Tỉnh [80, tr.393-394, 418-419] Về sau thời Pháp thuộc, địa danh Nam Kỳ được người Pháp quan niệm khác Nam Kỳ bắt nguồn từ tiếng Pháp là Cochinchine, tên này được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau Tuy nhiên, giả thuyết phổ biến nhất là tên gọi Cochin hay Cocin gốc từ Coci là phiên âm của chữ Giao

Trang 20

Chỉ Để tránh nhầm lẫn với thành phố cảng Cochi của Ấn Độ, người phương Tây thêm hậu tố chine/china (Trung Hoa), ý nói Cochin gần Trung Hoa Từ Cochinchine (hoặc các biến thể Cocinchina, Cauchinchina, Cochinchina) ban đầu dùng để gọi toàn bộ Việt Nam Đến đầu thế kỉ XVII, khi Trịnh - Nguyễn phân tranh, nước Việt Nam phân đôi thành Đàng Trong, Đàng Ngoài, thì Cochinchine được dùng để chỉ Đàng Trong, còn Tokin chỉ Đàng Ngoài Về sau Cochinchine được dùng để chỉ Nam Kỳ, khi đó An Nam dùng để chỉ Trung Kỳ Tên Nam Kỳ được Pháp dùng lại khi thực hiện chính sách cai trị, chia cắt Việt Nam thành ba miền và áp đặt bộ máy hành chính thuộc địa Theo đó tên Đông Nam Kỳ cũng xuất hiện dùng để chỉ vùng đất thuộc Nam Kỳ của Việt Nam, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tên gọi Nam Kỳ được thay thế bằng Nam Bộ [14, tr.156]

Tên gọi Đông Nam Bộ lần lượt dùng để chỉ các vùng đất khác nhau, theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765 -1825) thì Gia Định thuộc khu vực sao Khiên Ngưu, sao này có 6 ngôi, có lẽ vì thế mà triều Nguyễn chia Nam Bộ làm 6 tỉnh và thường gọi là Nam Kỳ lục tỉnh Trong quá trình Pháp thực hiện cuộc xâm chiếm Việt Nam, Nam Bộ có 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (Miền Đông), Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (Miền Tây) Sau khi chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp đã xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chính cũ của triều Nguyễn, đặc biệt là sau khi xác lập sự thống trị hoàn toàn trên phạm vi toàn cõi Việt Nam Việc gọi Nam Kỳ (và Trung Kỳ, Bắc Kỳ) theo một nghĩa hoàn toàn khác, gắn với việc Pháp thực thi chính sách thuộc địa đối với Nam Kỳ và chế độ bảo hộ đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ Việc phân chia Nam Kỳ thành Miền Đông, Miền Tây lúc này mới trở thành chính thức Trong thời kỳ Pháp thuộc, Biên Hòa được chia thành ba tỉnh là: Biên Hòa, Bà Rịa và Thủ Dầu Một; Gia Định chia làm bốn tỉnh là: Gia Định, Chợ Lớn, Long An và Tây Ninh [14, tr.158]

Trang 21

Thoạt đầu là miền Đông dùng để chỉ bốn tỉnh: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa và Bà Rịa, khi Pháp đổi từ “hạt” hay “tiểu khu” thành “tỉnh” vào năm

1900 Năm 1951, Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam Bộ (thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) chia Liên khu Nam Bộ thành 2 phân liên khu Trong đó phân liên khu Miền Đông gồm 5 tỉnh: Gia Định Ninh (Gia Định

và Tây Ninh), Thủ Biên (Thủ Dầu Một và Biên Hòa), Bà - Chợ (Bà Rịa – Chợ

Lớn), Mỹ Tho và Châu Long Sa [14, tr.157] “Năm 1954, liên tỉnh ủy Miền

Đông đã tiến hành tách lập các tỉnh trực thuộc gồm 7 tỉnh: Tân An, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Tây Ninh và Gia Định” [61, tr.65] Tháng 7

năm 1960, Xứ ủy Nam Bộ quyết định thành lập Khu ủy Miền Đông Nam Bộ và

bộ chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng Đông Nam Bộ (quân khu Miền Đông Nam Bộ), căn cứ khu ủy và sở chỉ huy quân khu đóng tại Suối Linh chiến khu Đ [14, tr.157]

Năm 1957, khu vực này mang tên Miền Đông Nam phần, đại diện bởi Tòa Đại biểu Chính phủ cho 13 tỉnh thành: Đô thành Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Phước Thành, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Long An Khu vực này là một đơn

vị hành chánh của Việt Nam Cộng hòa [141]

Năm 1963, đơn vị Miền Đông Nam phần bị xóa bỏ tuy danh từ này vẫn thông dụng, chỉ định khu vực địa lý

Từ năm 1966 - 1975, Miền Đông Nam phần bao gồm 12 tỉnh thành: Đô thành Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Long An

Năm 1975, miền Đông gồm 4 tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh (tỉnh Gia Định, Đô thành Sài Gòn và 1 phần tỉnh Hậu Nghĩa), Sông Bé (gồm tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long), Tây Ninh, Đồng Nai (gồm Biên Hòa, Long Khánh và Phước Tuy) Tỉnh Bình Tuy cũ nhập vào tỉnh Thuận Hải thuộc miền Trung, tỉnh Long An nhập vào Miền Tây Nam Bộ [141]

Trang 22

Năm 1991, miền Đông Nam Bộ gồm 5 tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu Đến năm 1997, miền Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu [141]

Ngày nay, Đông Nam Bộ là một trong 8 vùng địa lý của Việt Nam, là một trong hai phần của Nam Bộ Vùng Đông Nam Bộ có 5 tỉnh và một thành phố:

“Bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây

Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu” [103, tr.176] Đông Nam Bộ cận kề với

3 vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; đây là vùng đầu mối giao thông thuận tiện về đường bộ, đường thủy, đường sắt

và đường hàng không với nội địa và nước ngoài Cũng vì vị trí này, mà ông cha

ta xưa đã rất có lý khi chọn Đông Nam Bộ làm vùng đất đứng chân đầu tiên trong quá trình Nam tiến

Như vậy, việc xác định vùng Đông Nam Bộ kể trên có căn cứ lịch sử dựa trên sự phân chia theo địa lý, hành chính Vào cuối năm 1990, khi quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ từ năm 1997 đến năm

2010, “có 3 tỉnh bổ sung vào vùng này là Lâm Đồng, Bình Thuận và Ninh

Thuận” [145] Tuy nhiên đây chỉ là sự sắp xếp phục vụ cho việc quy hoạch phát

triển vùng kinh tế - xã hội, chính vì vậy, đôi lúc tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận được xếp vào vùng Nam Trung Bộ, tỉnh Lâm Đồng được xếp vào vùng Tây Nguyên [14, tr.159]

Theo tài liệu của tổng cục thống kê trước đây (và một số ít khác dựa theo tài liệu của Tổng cục thống kê) xếp hai tỉnh thuộc Nam Trung Bộ này vào miền Đông Nam Bộ Nhiều người cho rằng sự sắp xếp này là thiếu thuyết phục cả về mặt địa lý cũng như lịch sử Xét về mặt địa lý, ranh giới giữa Nam Bộ và Trung

Bộ đi theo vệt hướng Bắc Nam là hợp lý, nếu ghép Bình Thuận, Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ thì sẽ có một vùng ăn sâu về phía Đông là không hợp lý Xét về mặt lịch sử, thì tỉnh Bình Thuận (bao gồm cả phủ Ninh Thuận) chỉ được xếp vào

Trang 23

Nam Bộ trong khoảng một năm (1883 -1884) sau đó trả về cho Trung Bộ cho tới nay Hiện tổng cục thống kê, trong mục đơn vị hành chính đã xếp Ninh Thuận, Bình Thuận vào nhóm Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, tách biệt với Đông Nam Bộ Hiện nay đa số sách báo, trong đó có cả sách giáo khoa, từ điển bách khoa Việt Nam, từ điển bách khoa quân sự Việt Nam đều xếp Bình Thuận

và Ninh Thuận vào vùng duyên hải Nam (hoặc cực nam) Trung Bộ [14, tr 160]

1.1.2 Về điều kiện địa lý, tự nhiên

Về điều kiện địa lý, Đông Nam Bộ nằm phía Đông Bắc của Nam Bộ, phía Bắc và phía Tây giáp Campuchia, phía Nam và Tây Nam giáp đồng bằng sông Cửu Long Phía Đông Bắc giáp với Tây Nguyên; phía Đông và Đông Nam giáp với Nam Trung Bộ và biển Đông

Về địa hình, vùng Đông Nam Bộ nằm ở tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông Địa hình Đông Nam Bộ là một dải đất cao hơi lượn sóng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long, đây là vùng đồng bằng đồi lượn sóng thoải và đồi thấp bóc mòn (Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai) chuyển dần lên cao nguyên badan dạng vòm (Lộc Ninh, Phước Long - Bình Phước) Địa hình cao dần từ Tây Nam lên Đông Bắc, độ cao phổ biến giao động từ 5m đến 200m, bề mặt địa hình bị chia cắt yếu và nghiêng dần từ Đông Bắc đến Tây Nam, ở miền này rải rác có một số ngọn núi đơn độc vươn cao trên đồng bằng, các ngọn núi này cao dưới 1000m như: núi Chứa Chan cao 387 m, Gia Kiệm cao 831m (Đồng Nai), núi Bà Rá cao 736 m (Bình Phước), núi Bà Đen cao 986 m (Tây Ninh), núi Ông cao 284,6 m, núi Cậu cao 155m (Bình Dương), núi Dinh cao 504 m, núi Mây Táo cao 704 m (Bà Rịa – Vũng Tàu)…

Vùng Đông Nam Bộ trải dài từ 105049’ đến 107035’ kinh độ đông và từ

10020’ đến 12017’ vĩ độ bắc, diện tích toàn vùng là 23.563,5 km2, Đông Nam Bộ chiếm khoảng 20.3% tổng diện tích đất Việt Nam Đây là vùng tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt và nhận bức xạ mặt trời ở mức cao nhất Việt Nam (hơn 130Kcal/cm3/ năm) nên đây là vùng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Vì thế,

Trang 24

cư dân Việt khi đến đây vào cuối thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVII đã có thể chọn đây làm địa điểm dừng chân, khai phá và tồn tại ở vùng đất mới này

Vùng này có một hệ thống sông chính chảy qua là hệ thống sông Đồng Nai Ngoài ra, nơi đây còn có một mạng lưới kênh mương chằng chịt Sông Đồng Nai là con sông lớn thứ hai của miền Nam Việt Nam, diện tích lưu vực tới

40 nghìn km2,lưulượng bình quân 982 m3/s, tổng lượng dòng chảy đạt tới 31 tỉ

m3 [102, tr.326] Sông Đồng Nai dài 850 km, bắt nguồn từ cao nguyên Langbiang (Đà Lạt – Lâm Đồng) do hai nhánh Đa Dung và Đa Nhim hợp thành Sông Đồng Nai còn được tiếp nước từ một phụ lưu khác là sông La Ngà từ cao nguyên đổ xuống nên có nhiều ghềnh thác Ở đoạn uốn khúc giữa đồng bằng, sông Đồng Nai tiếp nhận thêm nước của Sông Bé rồi hội lưu với sông Sài Gòn tại Nhà Bè Từ đây sông thông ra biển bằng nhiều nhánh (lớn nhất là sông Lòng Tàu), chảy qua vùng rừng Sác rồi đổ ra biển ở vịnh Đồng Tranh và vịnh Rành Gái

Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Các phụ lưu chính của sông này gồm sông Đa Nhim, Sông Bé, Sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ Sông Đồng Nai hợp lưu với sông Sài Gòn thành sông Nhà Bè, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 5km về phía Đông Nam Sông Nhà Bè chảy ra biển Đông qua 2 ngả chính: sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu Sông Soài Rạp dài 59 km, rộng trung bình 2 km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm, đổ vào vịnh Soài Rạp tại cửa Soài Rạp (rộng 2000 – 3000m, sâu 6-8m) ở huyện Cần Giờ Sông Lòng Tàu đổ ra vịnh Rành Gái, dài 56 km, bề rộng trung bình 0,5 km, lòng sông sâu, trung bình 12m, có nơi tới 29m, sông có độ sâu và chiều rộng lý tưởng cho những tàu bè có trọng tải hàng chục ngàn tấn lưu thông từ biển vào cảng Sài Gòn Các phân lưu của sông Đồng Nai không chỉ có sông Lòng Tàu, Sông Ngã Bảy, sông Soài Rạp (sông Soi), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải…mà còn hệ thống sông Vàm Cỏ bao gồm Vàm Cỏ Đông và Vàm

Trang 25

Cỏ Tây “Vàm Cỏ Đông chảy qua Phước Vinh, Gò Dầu Hạ (Tây Ninh) qua Trà

Cú, Bến Lức (Hậu Nghĩa – Long An), còn Vàm Cỏ Tây chảy qua giữa hai tỉnh Đồng Tháp và Long An, qua Mộc Hóa, Tân An để sau đó hai dòng gặp nhau tại Xóm Giềng (nằm giữa Tân Trụ và Cần Giuộc) thành Vàm Cỏ Lớn, đổ ra biển cùng sông Đồng Nai (sông Nhà Bè) ở cửa Soài Rạp” [107, tr.58]

Một phần mạng lưới sông, suối trong vùng chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều, mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều xâm nhập sâu vào các kênh rạch nhỏ, tác động không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp cũng như giao thông Khi triều lên dòng nước chảy ngược Nhờ thủy triều mà dòng sông sâu, thuyền lớn có thể ngược hai sông Vàm Cỏ đến biên giới Việt – Campuchia, ngược sông Đồng Nai đến Biên Hòa, ngược sông Sài Gòn đến Bình Dương Nói chung, các con sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai tạo thành mạng lưới giao thông đường thủy của các tỉnh miền Đông Nam Bộ cũng như góp phần tạo nên những vùng đất đai màu mỡ, trù phú có thể trồng cây ăn quả như Tân Triều, Lái Thiêu…

Hệ thống sông Đồng Nai phù sa không nhiều lắm, do đó không đủ để bồi đắp cho những cánh đồng hai bên sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Vàm

Cỏ Tây Tuy nhiên, cả 4 con sông lớn này đều đổ dồn về một hướng với tốc độ chậm dần, tạo nên sự hội tụ phù sa ở các cửa sông, chúng được thủy triều bồi, đắp cát thành những gờ cao ở ven biển, chặn phù sa các sông ngòi, luồng lạch tạo thành vùng ngưng đọng sình lầy ở bên trong, tạo nên quá trình hình thành vùng rừng Sác Quá trình vận động của những con nước biển Đông diễn ra trong điều kiện nóng ẩm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đó là điều kiện để thảm thực vật đặc biệt nảy sinh ở vùng các cửa sông, với các loài cây nước mặn,

có bộ rễ phát triển như xú vẹt, mắm, đước…Đó là vương quốc của các loài cá tôm và loài nhuyễn thể như trai ốc, sò, điệp…[107, tr.58] Từ xa xưa chúng đã phong phú, đa dạng trong vẻ hoang sơ thiên phú và lực lượng di dân người Việt

Trang 26

đã sớm nhận ra những điểm ưu việt của vùng đất này, nên đã chọn nơi đây làm điểm dừng chân đầu tiên của mình trong quá trình mở đất phương Nam

Vùng Đông Nam Bộ cũng có biển, bờ biển vùng Đông Nam Bộ thuộc các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Biển Vũng Tàu giáp Bà Rịa và huyện Long Điền, nằm trên bán đảo cùng tên và có cả đảo Long Sơn Nhìn theo hướng Bắc Nam, Vũng Tàu nằm ở khúc quanh đang đổi hướng

từ Nam sang Tây của phần dưới chữ S (bản đồ Việt Nam) và nhô hẳn ra khỏi đất liền như một dải đất có chiều dài khoảng 14 km và chiều rộng khoảng 6 km Lại thêm biển Cần Giờ, giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Nam, giáp tỉnh Tiền Giang và Long An ở phía Tây, và giáp với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ở phía Đông Như vậy, vùng biển Đông Nam Bộ không chỉ là ngư trường rộng, hải sản phong phú mà còn là đường giao thông kết nối với các tỉnh lân cận

và thế giới bên ngoài

Về thời tiết khí hậu, thời tiết của vùng Đông Nam Bộ có đặc điểm chung của khí hậu Nam Bộ là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa là mùa mưa và mùa khô rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng

12 tới tháng 4 năm sau nhưng do cận biển, nên khí hậu của vùng này mang tính hải dương, điều hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm từ khoảng 26 - 270

C, nóng nhất là vào tháng 4 (khoảng 280

C), mát nhất là vào đầu tháng 5 và cuối năm (khoảng 250C)

Khác với trung du và miền núi phía bắc có một mùa đông lạnh, phân hóa theo độ cao, khí hậu Đông Nam Bộ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu mang tính chất cận xích đạo và ít bị thiên tai Vì vậy, nơi đây trở thành nơi trú chân lý tưởng cho lớp cư dân mới vào cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII

Đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc Đông Bắc Gió Tây – Tây Nam là từ Ấn Độ Dương thổi vào tốc độ trung bình 3,6m/s vào mùa mưa, gió Bắc – Đông Bắc từ Biển Đông thổi vào tốc độ trung bình 2,4m/s vào mùa khô Ngoài ra còn có gió tín phong theo

Trang 27

hướng Nam - Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, tốc độ trung bình 3,7m/s, có thể nói Đông Nam Bộ thuộc vùng không có gió bão Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở đây lên cao vào mùa mưa – 80%, và xuống thấp vào mùa khô – 74,5%, trung bình độ ẩm không khí là 79,5%

Với đặc điểm thời tiết khí hậu nêu trên nên miền đất Đông Nam Bộ có vô

số rừng với nhiều loại gỗ qúy như cẩm lai, mua, sao, sến… phân bố khắp các tỉnh thành

Tóm lại, Đông Nam Bộ có địa hình đa dạng, nổi bật với những núi thấp, đồi cao, rừng thường xanh, bờ biển dài, dòng sông lớn …cùng với điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa là vùng đất làm ăn lý tưởng đối với cư dân nông nghiệp Nhất là trong giai đoạn cuối thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVII, những điều kiện này có sức hút mạnh mẽ đối với những lưu dân người Việt đang khao khát tìm cho mình một vùng đất mới, một vùng đất đem lại cho họ một cuộc sống no đủ hơn, khấm khá hơn

1.2 Về lịch sử - dân cư

1.2.1 Đông Nam Bộ trước công nguyên

Các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước từ trước và sau 1975 đến nay đã phát hiện trên vùng đất Đông Nam Bộ nhiều di tích khảo cổ học và lưu vực sông Đồng Nai là nơi tập trung nhiều di chỉ nhất Một số phát hiện khảo cổ học còn cho thấy sự tồn tại của văn hóa Sa Huỳnh với những nét riêng ở vùng Đông Nam Bộ, đó là thời kỳ phát triển rực rỡ của nền văn minh thời đại kim khí ở phía Nam Từ đó, các nhà khoa học đã nhận định: trên địa bàn Đông Nam Bộ từ thời tiền sử đã có con người sinh sống

Theo tác phẩm Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long thì những

cư dân cổ đã mở rộng địa bàn hoạt động trên khắp vùng đất cao Đông Nam Bộ

và xâm nhập vào vùng châu thổ sông Cửu Long “Đó là vùng đất đỏ bazan

Đồng Nai, vùng đất đỏ bazan Sông Bé, vùng đất phù sa ven hạ lưu sông Đồng Nai và vùng đất xám ven triền sông Vàm Cỏ Đông” [8, tr.58]

Trang 28

Trên vùng đất đỏ bazan Đồng Nai có một số di chỉ tiêu biểu như sau: Vào những năm 1968 – 1971, nhà địa chất học người pháp E Saurin đã công bố những phát hiện đá cũ của ông tại hai địa điểm Hàng Gòn 6 và Dầu Giây 2 Tiếp đó cho đến nay, nhất là từ năm 1975 đến nay, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện thêm đến 14 điểm có công cụ thuộc thời đại đá cũ, phần lớn nằm trên 3 huyện Xuân Lộc, Thống Nhất, Tân Phú của tỉnh Đồng Nai, nhưng nhiều nhất là huyện Xuân Lộc nên Xuân Lộc còn được coi là tên gọi chung cho thời đại đá cũ ở Nam Bộ Việt Nam

Vùng Phú Hòa, Dầu Giây – Xuân Lộc cũng là nơi có nhiều di tích mộ chum, di chỉ đồ đá cũ do các nhà địa chất Pháp E Saurin, H Fontaine phát hiện cho thấy sự lan tỏa của văn hóa Sa Huỳnh vào rất sâu vùng Đông Nam Bộ, các

di tích mộ chum Sa Huỳnh thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt

Cuối năm 1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra di chỉ Cầu Sắt (Xuân Lộc) Di chỉ Suối Chồn gần di chỉ Cầu Sắt được phát hiện vào năm

1978, thuộc thời đại đồng thau Năm 1984, nhân lúc đi làm rẫy người dân đã phát hiện một “kho” vũ khí đồng (qua đồng), rìu đồng ở Long Giao (Xuân Lộc)

có mối liên hệ với văn hóa Đông Sơn, đây là điểm cao của văn hóa Đồng Nai [14, tr.171]

Di chỉ Phước Tân, nằm ở phía Đông trên đường Biên Hòa – Vũng Tàu, tại cây số 42, có nhiều công cụ đá (2596) Các di vật của di chỉ này có niên đại C14

Trang 29

táng đặc trưng của nền văn hóa Sa Huỳnh, chứng tỏ văn hóa Sa Huỳnh đã phát triển ở vùng Đông Nam Bộ trên địa bàn lưu vực sông Đồng Nai [14, tr.172]

Cũng tại vùng này, năm 1927 một di tích cự thạch độc đáo tình cờ được phát hiện bởi Jean Bouchot- kỹ sư người Pháp- khi ông đang chủ trì công trình

mở đường từ Long Khánh, Xuân Lộc đi Bà Rịa trong địa phận của một đồn điền cao su (hiện nay di tích này được gọi là di tích mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn, thuộc xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai) Mộ cổ cự thạch cho thấy con người lúc ấy đã nắm được kỹ thuật luyện sắt, các cộng đồng người ấy

đã liên minh lại, các quốc gia sơ khai hình thành trên cơ sở nền nông nghiệp phát triển và các công trường thủ công đã có quy mô nhất định [14, tr.166], [54, tr.13]

Tại vùng đất đỏ bazan Sông Bé, vào những năm 50 của thế kỉ XX, trên khu vực tỉnh Bình Phước và phía Đông Campuchia, L Malleret phát hiện 18 công trình đất đắp hình tròn (6 vòng trên đất Campuchia, 12 vòng trên tỉnh Bình Phước) Những công trình này có tính chất phòng ngự dạng tròn gồm 2 vòng tường đất đắp đồng tâm cao khoảng 2m và đường kính trung bình 100 – 200m, với hào sâu bao quanh L Malleret đã liên hệ với những di tích đồng dạng (với 1 hoặc nhiều vòng thành tròn) ở Madagasca, đông bắc Thái Lan, ở cánh đồng Chum (Bắc Lào) và những loại thành đắp đất ở Trảng Bàng (Tây Ninh) L

Malleret giả thiết rằng: chủ nhân của những di tích đồ sộ này có quan hệ huyết

tộc với người bản địa hoặc người Chàm cổ mà sự tồn tại của họ muộn nhất cũng vào thời kỳ trước khi Angkor hình thành [54, tr.14]

Công cuộc khảo cứu di tích đất đắp hình tròn còn được J Carbonnel tiếp tục và năm 1962, B.P.Groslier khai quật trên vòng đất đáp hình tròn ở Mimot (thuộc tỉnh Công Pông Chàm của Campuchia), ông đã cho rằng đây là di chỉ đá mới quan trọng nhất Đông Nam Á có tuổi khoảng 4000 năm, tiêu biểu cho một truyền thống văn hóa riêng biệt của khu vực “văn hóa Mimot” [127, tr.66]

Trang 30

Trong đợt khảo sát gần đây nhất, tháng 12 năm 1999, Nguyễn Trung Đỗ

đã phát hiện thêm 6 vòng đất hình tròn trên tỉnh Bình Phước, thuộc các huyện Bình Long, Phước Long và Lộc Ninh [119, tr.426]

Trên vùng đất phù sa ven hạ lưu sông Đồng Nai có những di chỉ tiêu biểu:

Di chỉ Cầu Sắt – Suối Linh, đây được xem là biểu tượng về giai đoạn phát

triển sớm nhất của thời đại kim khí của vùng đất này Di chỉ này có “niên đại

đoán là 2500 - 3000 năm trước công nguyên, được coi là biểu thị cho giai đoạn sớm nhất trong truyền thống văn hóa Đồng Nai” [41, tr.129]

Di chỉ Bình Đa đã được Hamy E.T., J.Chesneaux, L.Malleret nói tới song

đến năm 1979 mới được khai quật “Ở đây thu được 155 rìu tứ giác, 284 rìu vai,

2 đàn đá và hơn 200 mảnh đàn đá khác, có niên đại khoảng 1230 trước công nguyên” [41, tr.129]

Di chỉ Cù Lao Rùa (khoảng thiên niên kỷ II trước công nguyên), thuộc xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, nằm giữa dòng sông Đồng Nai Đây là một trong số các di tích khảo cổ tiền sử ở lưu vực sông Đồng Nai được nhắc tới nhiều nhất Thậm chí một số nhà nghiên cứu đề nghị gọi văn hóa

Cù Lao Rùa làm tên chung cho các di tích văn hóa khảo cổ thời tiền sử vùng Đông Nam Bộ [14, tr.169 -170]

Di chỉ Dốc Chùa thuộc xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Di tích này được phát hiện năm 1976, đã được khai quật khảo cổ học 3 đợt trong các năm 1976 – 1979, đến năm 2009, di chỉ này được tiến hành khai quật lần thứ

4, các hiện vật tìm thấy ở di chỉ này rất đa dạng Di chỉ này được xem: là một di

tích rất phong phú, tiêu biểu của văn hóa sông Đồng Nai, một trong những di tích đồng thau phong phú nhất của nước ta với niên đại vào khoảng 3.000 –

2700 năm và có thể kéo dài muộn hơn đến khoảng 2.500 năm, thuộc giai đoạn kim khí phát triển vào khoảng cuối thời đại đồng – đầu thời đại sắt [128, tr

218] Điều này chứng tỏ Đông Nam Bộ thực sự là một trung tâm văn hóa lớn thời đại kim khí bên cạnh các trung tâm Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam, Sa

Trang 31

Huỳnh ở miền Trung Trung tâm kim khí này có đặc trưng văn hóa riêng, có sức mạnh phát triển nội tại mạnh mẽ theo một truyền thống riêng của cộng đồng cư dân tiền sử Đông Nam Bộ

Di chỉ khảo cổ học Mỹ Lộc (còn có tên khác là Gò Đá, Gò Chùa), ngày nay thuộc địa phận xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Mỹ Lộc là di tích thời đại đá mới được biết đến vào loại sớm nhất ở miền Đông Nam Bộ Năm 1889, T V Holbé đã phát hiện ra di tích, thu được 60 hiện vật đá [128, tr.139] Năm 2004, di tích Mỹ Lộc được khai quật, kết quả đã thu được hơn 60 nghìn mảnh gốm, nhiều công cụ đá như cuốc, rìu, đục, dao; công cụ chế biến; đồ trang sức… đặc biệt là đã tìm thấy đàn đá [128, tr.160]

Như vậy, hiện vật bộ đàn đá ở Bình Đa (Đồng Nai) và Mỹ Lộc (Bình Dương) chứng tỏ đàn đá không những có ở Tây Nguyên, mà còn có ở các làng của các cư dân sống dọc sông Đồng Nai ở Đông Nam Bộ

Gần đây trong vùng này, ở di tích Suối Cái (xã Phú Chánh, huyện Tân

Uyên, tỉnh Bình Dương) còn phát hiện được cả di chỉ cư trú và mộ táng: trong

đó có 4 trống đồng, có thể coi là trống đồng Đông Sơn, 1 gương đồng Tây Hán

và 7 ngôi mộ chum mà áo quan chum giống kiểu Sa Huỳnh được làm bằng gỗ sao, bằng kỹ thuật khoét rỗng thân cây cổ thụ, nắp đậy bằng trống đồng, thực sự

là một phát hiện khoa học có giá trị quý hiếm [41, tr.129] Giới khảo cổ học cho rằng: Phú Chánh đóng góp tư liệu mới về táng thức của cộng đồng cư dân tiền

cổ và sơ sử [14, tr.172]

Ở thành phố Hồ Chí Minh, có di chỉ Bến Đò (Thủ Đức) có niên đại 3.040

±140 [14, tr.164]; ở Sài Gòn khi đào móng xây dựng nhà thờ lớn (Đức Bà) đã phát hiện di cốt người trong các chum, vò gốm Đây là phát hiện sớm nhất các

mộ chum, trước cả sự phát hiện mộ chum ở Sa Huỳnh ở miền Trung mà sau này được gọi là văn hóa Sa Huỳnh [14, tr.172]

Vùng đất xám ven triền sông Vàm Cỏ Đông cũng là địa bàn cư trú của người tiền sử Các di chỉ - nơi cư trú ở vùng này thường nằm trên thế đất cao

Trang 32

ven sông, hình thành lối cư trú dọc theo tuyến sông, dài hàng chục cây số “Trên

đất Tây Ninh có di chỉ Gò Ông Dinh, Gò Chùa Cao Sơn…Trên đất Long An có

di chỉ Lộc Chánh (cũng gọi là Lộc Giang), di chỉ An Sơn (cũng gọi là Núi Đất),

di chỉ Động Canh Nông…” [8, tr.68] Đây là một kiểu xây dựng nơi cư trú độc

đáo của cư dân Đồng Nai vùng này

Ngoài 4 vùng kinh tế - dân cư nói trên, thì cư dân cổ Đông Nam Bộ cũng

đã đến ngụ cư, sinh sống ở cùng ven biển và vùng ngập nước, sình lầy

Tại vùng ven biển, theo phát hiện của khảo cổ học thì có 2 di chỉ là “Cái Vạn (Long Thành – Đồng Nai ) và một ở Gò Cát (Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh)” [8, tr.70]

Tại vùng đầm lầy có các di chỉ tiêu biểu như Bưng Bạc (Châu Thành – Đồng Nai), ND11 (nông trường Lê Minh Xuân – Thành phố Hồ Chí Minh) và Rạch Núi (Cần Giuộc – Long An)

Thông qua các di chỉ khảo cổ học, các nhà khoa học cho rằng: con người xuất hiện trên vùng đất Đông Nam Bộ từ khá sớm, ước chừng 3000 – 4000 năm trước Vào thời điểm ấy, vùng này có nhiều nhóm dân cư cổ từng sinh sống và hoạt động trong một môi trường văn hóa trải dài suốt từ thời kỳ đồ đá cho đến thời kỳ kim loại (các nhà khoa học gọi họ là cư dân Đồng Nai), họ đã biết sản xuất nông nghiệp và bắt đầu chuyển từ vùng đất cao tiến tới chinh phục vùng đất thấp của vùng Lúc bấy giờ con người ở đây có cuộc sống hết sức tự do, khoáng đạt, không có lãnh thổ quốc gia, không có địa giới hành chính và cũng chưa có khái niệm về vùng đất Đông Nam Bộ

Hiện nay, các nhà khảo cổ cho rằng chủ nhân của các di tích trên là cư dân thuộc dòng Austronesian Nam Đảo, tổ tiên của người Stiêng, Mạ, Chơro…ngày nay [14, tr.173]

Người Stiêng có nhiều tên gọi như: Xêđiêng, Xa – tiêng, Satiêng Ray Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme, có nhiều nét rất gần với tiếng nói của người H’nông, người Cơ ho, người Chơ ro, người Mạ và người

Trang 33

Khơme láng giềng Họ có nhân thể khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thích săn bắn và sinh hoạt vũ trang Loại hình kinh tế truyền thống của người Stiêng ở miền Đông Nam Bộ, là loại hình canh tác rẫy trên vùng cao nguyên và trong những cánh rừng già nhiệt đới Đây là một nền nông nghiệp quảng canh trên rẫy với trình độ kĩ thuật canh tác thô sơ (phát rừng, đốt rẫy và chọc lỗ tỉa hạt giống) [120, tr.420] Trang phục của người Stiêng khá đơn giản, đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố…người Stiêng để tóc dài, búi đằng sau gáy, có xâu lỗ tai, đeo hoa tai bằng gỗ hoặc ngà, xăm mặt, xăm mình với những nét hoa văn hình học đơn giản, tục cà răng đã không còn nữa Người Stiêng hiện nay sinh sống chủ yếu ở các tỉnh như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bình Dương

Người Mạ hay còn gọi là người Châu Mạ, Chê Mạ Hiện nay họ sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai , Lâm Đồng, Đắk Lắk, trong đó ở huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) là tập trung đông nhất Tiếng nói của họ thuộc nhóm Môn – Khơme nhưng cũng có một số nhà nghiên cứu lại cho là thuộc nhóm Austronesia Họ làm lúa rẫy, song cũng biết làm lúa nước, thạo nghề dệt vải có hoa văn đẹp, biết làm nghề rèn sắt, làm thuyền độc mộc khéo, ở nhà sàn dài, xưa cũng có tục cà răng và xâu lỗ tai lớn [17, tr.150]

Theo địa chí tỉnh Bà Rịa ấn hành năm 1902, nhà đương cục nhận xét dân tộc Mạ là dân tộc văn minh hơn các dân tộc thiểu số khác trong tỉnh Biên Hòa

và tỉnh Thủ Dầu Một Họ ở rừng núi nhưng không quen săn bắn, thì có lẽ trước kia họ sinh sống ở bình nguyên chứ không phải người bản địa ở núi rừng từ lâu đời

Theo một số tác giả dân tộc học như Bình Nguyên Lộc, Beurette…phỏng đoán dân tộc Mạ ở đồng bằng Nam Bộ và đã có lúc thành lập vương quốc Hình như sau khi bị Phù Nam đô hộ và chịu ảnh hưởng khá đậm nét của Phù Nam, người Mạ rút dần về vùng đồi núi, rừng rậm, đầm lầy nằm suốt từ bờ biển Bình Thuận tới trung và thượng lưu sông Đồng Nai [17, tr.151]

Trang 34

Người Chơro hay còn gọi là Châu Ro, tên tự gọi là Chau Jro Chau có nghĩa là người và Jro là danh xưng cộng đồng của họ, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer Có nhiều tư liệu cho rằng, người Châu ro là một bộ phận của cộng đồng người Mạ chịu ảnh hưởng của văn hóa Chăm và Raglai Người Châu Ro

có tầm vóc nhỏ hơn người Stiêng, họ sinh sống và lao động chủ yếu ở vùng đồi núi, thạo nghề đan lát mây tre, lá buông, lá cọ Hiện nay, người Chơro cư trú chủ yếu ở Đồng Nai, một số ít ở Bình Thuận, Bình Dương và Bình Phước [8, tr.196]

Theo địa chí tỉnh Sông Bé, khi lưu dân người Việt tới khai khẩn miền Đông Nam Bộ, chưa phân biệt được các tộc người nên gọi chung các tộc người

này là Man (hay gọi nôm na là Mọi) Địa chí cũng cho biết thêm: có nhiều lý do

để nghĩ rằng các dân tộc nhỏ - mà người Việt Nam gọi chung là Mọi – đều là những dân tộc bản địa bị đẩy lên rừng và đồi núi, trước bước tiến văn minh Việt Nam…Nhận định đó hàm chứa ý kiến cho rằng các dân tộc nhỏ nói tiếng Môn Khơme, đặc biệt là các dân tộc lai hoặc theo ít nhiều văn minh Khơme, xưa kia

đã sinh sống cả ở đồng bằng Nam Bộ lẫn Tây Nguyên, rồi lần hồi thiên cư hết

về hướng Tây Nguyên, kể từ khi người Việt đến khẩn hoang, lập ấp ở các vùng đất thấp trước [17, tr.149]

Như vậy, từ năm 1886 đến nay, trên khắp miền Đông Nam Bộ rất nhiều di chỉ được phát hiện Các di chỉ này gắn liền với tên tuổi các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước Qua những di vật khảo cổ đã tìm thấy tại các di chỉ, các nhà nghiên cứu khẳng định: từ khoảng thiên niên kỉ thứ hai trước công nguyên, con người đã có mặt tại vùng đất thuộc Đông Nam Bộ ngày nay Các hiện vật khảo cổ tuy chưa nhiều lắm, nhưng qua đó có thể hình dung vùng Đông Nam Bộ xưa kia đã từng có dấu vết người sinh sống, biết săn bắt, đánh cá, làm nông nghiệp, với công cụ sản xuất kim khí, biết làm đồ gốm…; tạo nên bộ mặt tinh thần, nghệ thuật phong phú; xác lập quan niệm về sự sống và cái chết, về thế giới bên kia, sự tích hợp của đời sống vật chất và tinh thần của người cổ Đông Nam Bộ đã phản ánh một tổ chức xã hội mang tính nhân bản và văn hóa cao

Trang 35

Hiện nay, các nhà khảo cổ học cho rằng chủ nhân của nhiều di chỉ đồ đá ở lưu vực sông Đồng Nai là cư dân thuộc dòng Austronesian Nam Đảo, tổ tiên trực tiếp của người Mạ, Chơro, Stiêng ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ngày nay Những cư dân này đã làm nên một nền “Văn hóa tiền sử Đông Nam Bộ”, nền văn hóa này đủ sức tiếp nhận và bản địa hóa các yếu tố văn hóa ngoại nhập ở giai đoạn tiếp theo trong quá trình hình thành nền văn hóa Óc Eo [128, tr.218]

1.2.2 Đông Nam Bộ từ công nguyên đến trước thế kỉ XVII

Từ công nguyên cho tới trước khi chúa Nguyễn thiết lập quyền lực của mình ở vùng Đông Nam Bộ, vùng đất này thuộc lãnh thổ của vương quốc Phù Nam và sau đó thuộc về Chân Lạp

Vương quốc Phù Nam ra đời từ đầu công nguyên, chủ nhân của vương quốc Phù Nam là người Malayo – Polynesian (Mã Lai- Đa Đảo)

Cư dân Phù Nam được đánh giá là một cộng đồng cư dân đa chủng tộc, đa ngôn ngữ và đa văn hóa, là kết quả của một quá trình hỗn chủng, hòa hợp về văn hóa và ngôn ngữ và điều đó đã tạo nên tính bản địa của cư dân Phù Nam trong lịch sử tồn tại (của mình) Loại hình Indonesian mà con cháu họ ngày nay vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở Đông Dương thuộc các khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên Những cư dân thuộc chủng Indonesian hẳn đã là chủ nhân ưu thế của vương quốc Phù Nam và có liên hệ huyết thống khá chặt chẽ với tộc người sinh sống ở khu vực hải đảo nam Thái Bình Dương, trong đó có các nhóm Malayo – Polynesian [42, tr.63] Đây là nhóm nổi trội và chiếm ưu thế Đặc

điểm của cư dân này được xác định là tóc quăn, da đen và có những nét văn hóa

cơ bản như: ở trần, xăm mình, sử dụng gạch trong các kiến thức đền tháp và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nhưng phát triển với sắc thái riêng của mình

Họ là chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng

Từ thế kỉ III đến thế kỉ VI, Phù Nam phát triển thành một đế chế lớn mạnh, chinh phạt và thu phục được nhiều thuộc quốc, “chiếm hơn 10 nước, mở rộng đất đai hơn 5, 6 ngàn hải lý”, lãnh thổ rộng lớn, bao gồm cả vùng Trung,

Trang 36

Nam Lào, Nam Bộ và một phần Trung Bộ của nước ta ngày nay “Phía nam

(Phù Nam) giáp vịnh Thái Lan, phía bắc giới hạn bởi sông Mun (chảy qua vùng Ubon – Thái Lan), phía đông giáp biển Đông, phía tây bao gồm hạ lưu sông Mê Nam và một phần bán đảo Mã Lai” [72, tr.21], nhưng lãnh thổ cơ bản, địa bàn

ban đầu của vương quốc Phù Nam là miền tây sông Hậu và miền Nam Việt

Nam, “kinh đô đóng ở Angkor Borei” [68, tr.44], thuộc huyện Kirivông, tỉnh

Takeo, nay đổi thành tỉnh Kirivong của Campuchia, cách châu Đốc 30km

Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy văn hóa Óc Eo - nền văn hóa vật chất của Phù Nam - có nguồn gốc bản địa, có quan hệ với văn hóa Sa Huỳnh và chủ nhân là người Malayo – Polynesian (Mã Lai- Đa Đảo) Sự xây dựng nên Phù Nam cũng do từ nhiều nguồn, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của

người cổ Nam Bộ Vào những thế kỉ đầu công nguyên, người Đồng Nai trên cơ

sở kinh tế nông nghiệp, đã có một bộ phận tiến về phía nam để chinh phục vùng châu thổ sình lầy sông Cửu Long Đây cũng là thời kỳ một bộ phận cư dân Nam Đảo tiến vào đất liền, chiếm cứ những dải đồng bằng ven biển, những cảng biển, cảng sông hình thành những khu vực quần cư mới Hai bộ phận dân cư này đã tạo nên những khu cư dân trù phú trên nền tảng kinh tế nông nghiệp truyền thống kết hợp mở mang nhiều ngành nghề thủ công, mở rộng hoạt động thương mại, đặc biệt là nền thương nghiệp viễn dương [42, tr.65]

Cư dân Phù Nam thuộc văn minh nông nghiệp trồng lúa, các tư liệu của

cổ sử Trung Hoa đã nhiều lần nhắc đến nghề nông như một hoạt động kinh tế chủ đạo của Phù Nam Di chỉ khảo cổ học Óc Eo được L Malleret khảo sát năm

1944 đã cho thấy có nhiều loại hình nông cụ, một hệ thống thủy lợi khá quy mô

“Những cuộc khai quật khảo cổ học về sau này cũng góp phần làm sáng tỏ nông nghiệp là hoạt động kinh tế hàng đầu của cư dân Phù Nam” [41, tr.314] Kỹ

thuật canh tác lúa nước đã đạt trình độ khá cao, với hệ thống nông cụ, hệ thống thủy lợi và các giống lúa, có giống lúa một lần gieo sau đó ba lần thu hoạch

đúng như cổ sử Trung Hoa đã ghi nhận: Tấn thư cho biết “ người đều đen đúa,

Trang 37

xấu xí, búi tóc, thân trần đi chân đất, tính chất phác, thẳng thắng, không trộm cướp, theo nghề cày cấy trồng trọt, một năm trồng thu hoạch 3 năm” [68, tr.19]

Những thư tịch và khảo cổ học còn cho thấy hoạt động thủ công nghiệp của vương quốc Phù Nam khá phát triển Đó là các nghề chế tác gốm, kim hoàn, mộc, chế tác đá, làm gạch, đóng thuyền…Những hiện vật tìm thấy trong di chỉ

Óc Eo và các cuộc khai quật khảo cổ học ở nhiều địa phương Nam Bộ đã thu được một khối lượng lớn hiện vật là các sản phẩm thủ công hết sức phong phú,

từ các hiện vật gốm, gỗ, đá, cho đến kim loại như đồng, bạc vàng đã cho thấy nghề thủ công của cư dân Phù Nam đã đạt đến một trình độ khá cao, họ đã làm chủ được nhiều ngành kỹ thuật chế tác phức tạp

Một bộ phận cư dân Phù Nam sống ở các đô thị, các khu vực ven biển lại thiên về các hoạt động thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương Óc Eo, theo các nhà nghiên cứu là một trong những đô thị hải cảng lớn của Phù Nam, Óc Eo từng là điểm dừng chân của các thuyền buôn ngoại quốc trên chặng đường Bắc -Nam, Đông – Tây, nơi hội tụ các hoạt động thương mại trong và ngoài nước Những hàng hóa từ các nước châu Âu, Địa Trung Hải, từ Trung Hoa và các nước Đông Nam Á như đồ thủy tinh, kim loại mỹ nghệ…được trao đổi với các hàng thổ sản, các loại hương liệu, gia vị… của Phù Nam, thương mại đã góp phần làm cho Phù Nam trở thành một cường quốc trong khu vực [41, tr.314]

Theo L Malleret nhà khảo cổ học người Pháp, người đầu tiên khám phá

ra nền văn hóa này thì “Văn hóa Óc Eo có niên đại từ thế kỉ II đến thế kỉ VI; nó

đích thực là sản phẩm vật chất của nền văn minh của vương quốc Phù Nam và hầu như là chỉ thuộc vương quốc đó” [8, tr.110]

Cho đến nay đã phát hiện nhiều di tích thuộc văn hóa Óc Eo Nhìn vào bản đồ di tích khảo cổ học có thể nhận ra địa bàn phân bố của văn hóa Óc Eo khá rộng trên vùng đất Tây và Đông Nam Bộ nhưng tập trung chủ yếu ở miền Tây sông Hậu, phân bố rất trù mật trên địa bàn các tỉnh Long An, Đồng Tháp,

An Giang, Kiên Giang và nhiều địa điểm khác thuộc đồng bằng Nam Bộ Ở

Trang 38

miền Đông Nam Bộ, các di tích phân bố dọc sông Đồng Nai và các chi lưu của

nó So với các tỉnh miền Tây Nam Bộ thì ở miền Đông Nam Bộ mật độ di tích văn hóa Óc Eo có phần thưa hơn [5, tr.316]

Tại thành phố Hồ Chí Minh, khu di tích Cần Giờ được thiết lập ngay trong vùng sình lầy nước lợ thuộc hai xã Cần Thạnh và Lý Nhân (thành phố Hồ

Chí Minh), nó gồm di chỉ của những quả gò đắp nổi bằng đất đỏ bazan, cao hơn

mặt nước biển từ 1 – 3 mét, rộng trung bình 200 – 600m 2

, phân bố trên địa bàn bao quát các cửa sông Ngã Bảy, Đồng Tranh, Soài Rạp và vịnh Gành Rái Khu

di tích này dường như án ngữ lối đi vào nội địa theo các dòng sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ…[8, tr.117] Trên một số di chỉ như Giồng Am, Giồng Thị,

Giồng Cháy, Giồng Lá Buông Ông Hần, Giồng Bà Lưới… có những vật liệu xây dựng (đất nung hình trụ tròn, trụ bốn cạnh, hình tháp); vật dụng sinh hoạt gồm những mảnh gốm Óc Eo như ấm, hủ, ang, nồi, chai gốm, cà ràng…Những hiện vật tìm được ở Giồng Am rất gần gũi với hiện vật tìm được ở Gò Đất (An Giang), Cạnh Đền, Nền Chùa (Kiên Giang)…niên đại C14 của di tích Giồng

Am được xác định là 1665  40 năm cách ngày nay “Có thể xem các di tích

loại hình Giồng Am ở Cần Giờ là một loại hình địa phương của văn hóa Óc Eo, bản thân địa bàn cư trú, những loại hình gốm độc đáo được sản xuất tại chỗ đã làm phong phú, đa dạng thêm cho nền văn hóa Óc Eo”[41, tr.169] Ngoài ra, ở

những “Gò Nổi” này còn tìm thấy một số mảnh gốm thuộc truyền thống văn hóa Đồng Nai, Sa Huỳnh…Đáng chú ý, ở đây chưa phát hiện những loại kiến trúc kiểu nhà sàn, những kiến trúc bằng gạch đá hỗn hợp, những vật dụng đặc trưng

Óc Eo như đồ kim hoàn, đồ thiếc, đồ trang sức bằng đá quí, tượng tròn “Khu

di tích Cần Giờ có thể là một cảng khẩu thời Óc Eo, nối liền với các điểm cư dân khác ở vùng nội địa theo những đường sông rạch” [8, tr.117]

Trong nội thành thành phố Hồ Chí Minh, tại di tích chùa Phụng Sơn (quận 11), các nhà nghiên cứu đã tìm thấy được những hiện vật của văn hóa Óc

Trang 39

Eo Niên đại của di tích chùa Phụng Sơn được đoán định vào thế kỉ V sau công nguyên [41, tr.169]

Trong khu vực hạ lưu sông Đồng Nai, các di tích, di vật văn hóa Óc Eo phân bố rải rác trên địa bàn khá rộng Tại ấp Đất Mới, xã Long Phước, huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai, có di tích Gò Chiêu Liêu, di tích Gò Ông Tùng Đây

là những di tích thuộc loại hình kiến trúc gạch, dạng đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ giáo Niên đại phóng xạ C14 của di tích là 1900 70 năm cách ngày nay (tức vào khoảng thế kỉ I - II sau công nguyên)

Tại vùng hồ Trị An thuộc xã Cây Gáo, huyện Vĩnh Cửu có hai di tích kiến trúc Cây Gáo I và II nằm cách nhau khoảng 60m theo hướng Bắc – Nam, bên tả ngạn sông Đồng Nai Hai di tích đều có bình đồ kiến trúc hình chữ nhật Niên đại phóng xạ cho kết quả 1700  45 năm cách ngày nay, tức vào khoảng thế kỉ III sau công nguyên

Những di tích kiến trúc ở Đồng Nai là những di tích dạng đền thờ của đạo Hindu - Ấn Độ giáo, nó có niên đại khá sớm so với các di tích cùng thời ở Nam

Bộ Kết cấu vật liệu xây dựng bằng gạch – gỗ (trong khi những ngôi đền đạo Hindu ở Ấn Độ được xây dựng bằng đá hoặc xây bằng gạch mộc), có khả năng

là vết tích văn hóa Óc Eo mở đầu ở Nam Bộ trước khi hình thành cảng thị Óc

Eo Theo cổ thư Ấn Độ, Trung Hoa thì hoạt động giao thương, trao đổi văn hóa giữa cư dân thiên trúc Ấn Độ và cư dân vùng Đông Nam Á diễn ra khá sớm Khảo cổ học cũng phát hiện nhiều địa điểm nằm dọc theo duyên hải và cả trong nội địa Đông Nam Á những sản phẩm giao thương có niên đại sớm nhất vào khoảng thế kỉ IV – III trước công nguyên Cảng thị Cần Giờ lúc ấy, là đầu cầu giao lưu kinh tế - văn hóa quan trọng trong vùng Đồng Nai Có lẽ kiến trúc dạng đền thờ Hindu - Ấn Độ giáo được đầu tiên du nhập vào đây, sau đó chuyển về miền tây Nam Bộ khi cảng thị Óc Eo hình thành Vật liệu xây dựng kiến trúc bằng gạch – gỗ là sản phẩm sáng tạo tại chỗ, kết hợp hai truyền thống bản địa và ngoại nhập [65, tr.82]

Trang 40

Các di tích kiến trúc trong vùng Đồng Nai không phải là những công trình sao chép nguyên bản của Ấn Độ mà nó được xây dựng bằng sự kết hợp hai truyền thống văn hoá bản địa và văn hóa Hin-du Trên thực tế chúng là những ngôi đền Hindu giáo đã được bản địa hóa thích nghi với môi trường tự nhiên và nhân văn trên đất Đồng Nai [65, tr.83]

Vùng đất phía Đông – Bắc đồng bằng Nam Bộ thuộc hạ lưu sông Đồng Nai được xem là “Phù Nam nội địa” Vào những năm 80 của thế kỉ XX, L Malleret phát hiện một địa điểm có tên là Bàu Thành hoặc Bàu Tượng thuộc tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu, thu thập 2 con lăn bằng đá và nhiều mảnh gốm gần gũi với gốm Óc Eo Trên một quả đồi ở phía tây Bãi Dứa (Vũng Tàu), đã phát hiện một kho đồ trang sức bằng vàng, bạc là những sản phẩm của văn hóa Óc Eo [65, tr.81]

Di tích Bình Tả thuộc ấp Bình Tả, xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An được xem là một trong những di tích điển hình của nền văn hóa Óc Eo

ở Nam Bộ [41, tr.160]

Trong lúc Phù Nam phát triển thành một cường quốc về hàng hải của Đông Nam Á và suy yếu dần vì các thay đổi về khí hậu và sự chuyển biến trong các quan hệ bạn hàng trên con đường thương mại trên biển (trung tâm thương mại trong vùng được chuyển từ Óc Eo qua vùng biển Malacca, ở phía nam bán đảo Mã Lai từ thế kỉ thứ V), một tiểu quốc khác chịu ảnh hưởng của Ấn Độ đã củng cố quyền lực của mình ở vùng thung lũng trung du sông Mê Kông và đã mạnh lên, phát triển thành một vương quốc độc lập, chinh phục các bộ lạc cổ khác trên sông Sê Mun và tiến tới thôn tính luôn Phù Nam, đó là tiểu quốc Chân Lạp – một thuộc quốc của Phù Nam Năm 550, Bhavavarman I, vua Chân Lạp, được em là Chitrasena giúp đỡ đã tiến chiếm kinh đô Đặc Mục (kinh đô Angkor Borei), vua Phù Nam chạy xuống phía nam Từ đó Bhavavarman I bắt đầu hợp nhất từng phần lãnh thổ của Phù Nam với Chân Lạp Năm 600, Chitrasena nối ngôi anh tiếp tục mở rộng lãnh thổ Năm 615, Isanavarman (con của Chitrasena)

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w