1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò xa mát, tỉnh tây ninh

108 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 6,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về sau, mới đi sâu tìm hiểu về cây cỏ để chữa các bệnh nan y về gan, thận, tim mạch… Cho đến nay, mặc dù khoa học hiện đại phát triển theo hướng sử dụng hóa chất làm thuốc để chữa trị th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

_

Nguyễn Văn Luận

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CÂY THUỐC

Ở VƯỜN QUỐC GIA LÒ GÒ - XA MÁT,

TỈNH TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

_

Nguyễn Văn Luận

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CÂY THUỐC

Ở VƯỜN QUỐC GIA LÒ GÒ - XA MÁT,

TỈNH TÂY NINH

Chuyên ngành : Sinh thái học

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS TRẦN HỢP

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

Em xin gửi tới các Thầy Cô giảng dạy tại Khoa Sinh học, các Thầy Cô là cán

bộ phòng thí nghiệm Di truyền – Tiến hóa – Thực vật Khoa Sinh học trường đại học

sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Bảo tàng thực vật Viện Sinh học nhiệt đới đã tận tình giúp đỡ, động viên và hỗ trợ em rất nhiều trong suốt thời gian làm nghiên cứu này

Em xin gửi lời cảm ơn tới ban Giám đốc, ban Quản lý vườn quốc gia Lò Gò –

Xa Mát, Tây Ninh đã tạo nhiều điều kiện cho em thực hiện đề tài thuận lợi

Xin gửi lời cám ơn đến tất cả các bạn học viên lớp Cao học Sinh thái học, khóa K21 trường đại học sư phạm Tp HCM đã động viên tinh thần để tôi hoàn thành tốt bài nghiên cứu này

Với tất cả tấm lòng thành của mình, một lần nữa xin cảm ơn tất cả!

Nguyễn Văn Luận

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt trong bài iii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các hình vẽ, đồ thị v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội vùng nghiên cứu 3

1.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới và Việt Nam 6

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Địa điểm nghiên cứu 13

2.2 Thời gian nghiên cứu 13

2.3 Phương pháp nghiên cứu 13

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 Đa dạng về thành phần loài cây thuốc 17

3.2 Dạng sống của cây thuốc 21

3.3 Thực vật có giá trị bảo tồn 24

3.4 Đa dạng về giá trị cây thuốc của VQG Lò Gò – Xa Mát 26

3.5 Bộ sưu tập mẫu thực vật cây thuốc VQG Lò Gò – Xa Mát 31

3.6 Một số cây thuốc được sử dụng phổ biến ở VQG Lò Gò – Xa Mát 33

3.7 Thảo luận 63

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

4.1 Kết luận 65

4.2 Kiến nghị 66

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC vi

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI

- IUCN: International Union for Conservation of Nature and Natural Resource – Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế

- KBTTN: Khu bảo tồn thiên nhiên

- KBTTN và DT: Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố số loài cây thuốc trong các taxon 17

Bảng 3.2 Thành phần các Họ, Chi và Loài trong các Bộ có các loài cây thuốc của VQG 17

Bảng 3.3 Các họ có nhiều loài cây thuốc của VQG 20

Bảng 3.4 Các chi cây thuốc nhiều loài của VQG 21

Bảng 3.5 Dạng sống của cây thuốc VQG Lò Gò – Xa Mát 21

Bảng 3.6 Các loài cây thuốc cần được bảo tồn của VQG Lò Gò – Xa Mát 24

Bảng 3.7 Cây thuốc có trong Danh mục vị thuốc Y học cổ truyền 26

Bảng 3.8 Phương thức sử dụng cây thuốc 28

Bảng 3.9 Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc 29

Bảng 3.10 Tương quan giữa số công dụng làm thuốc với số cây thuốc 30

Bảng 3.11 Sự đa dạng các nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc 31

Bảng 3.12 Danh sách các loài trong bộ sưu tập mẫu tiêu bản 32

Bảng 3.13 Bảng so sánh mức độ đa dạng cây thuốc của VQG Lò Gò – Xa Mát so với các VQG khác trong khu vực 63

Trang 7

DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu 3

Hình 2.2 Nhãn tên mẫu thực vật trong bộ sưu tập 16

Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện các dạng sống của cây thuốc vùng nghiên cứu 22

Hình 3.4 Nhân trần (Tuyến hương lá to) – Adenosma bracteosum Bonati 33

Hình 3.5 Lá và quả Mù u – Calophyllum inophyllum L 35

Hình 3.6 Thành ngạnh đẹp – Cratoxylum formosum (Jack) Dyer 37

Hình 3.7 Dầu con rái – Dipterocarpus alatus Roxb ex G Don 38

Hình 3.8 Dầu trà ben – Dipterocarpus obtusifolius Teysm 40

Hình 3.9 Cốt toái bổ (Tắc kè đá) – Drynaria bonii C Christ 42

Hình 3.10 Hoa Cà na – Elaeocarpus hygrophilus Kurz 43

Hình 3.11 Mức hoa trắng – Holarrhena pubescens (Buch.- Ham.) Wall ex G.Don 44

Hình 3.12 Sao đen – Hopea odorata Roxb 46

Hình 3.13 Cầy (Kơ nia) – Irvingia malayana Oliv ex Benn 48

Hình 3.14 Máu chó cầu – Knema globularia (Lamk.) Warb 49

Hình 3.15 Sơn rừng (Sơn huyết) – Melanorrhoea laccifera Pierre 50

Hình 3.16 Nắp ấm – Nepenthes mirabilis (Lour.) Bruce 51

Hình 3.17 Nắp ấm lá men – Nepenthes thorelii Lecomte 53

Hình 3.18 Hoa Sâm cau – Peliosanthes teta Andrews 54

Hình 3.19 Giáng hương trái to – Pterocarpus macrocarpus Kurz 55

Hình 3.20 Sến đỏ (Sến mủ) – Shorea roxburghii G Don 56

Hình 3.21 Gõ mật Sindora siamensis Teijsm ex Miq var siamensis 57

Hình 3.22 Luân thùy Cambốt – Spirolobium cambodianum H.Baill 58

Hình 3.23 Lá, quả Bá bịnh – Eurycoma longifolia Jack subsp longifolia 60

Hình 3.24 Cổ rùa (Huyết đằng lông) – Butea superba Roxb 61

Hình 3.25 Chè lông – Aganosma acuminata (Roxb) G.Don 62

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng các loài cây hoang dại để làm thức ăn, vật liệu xây dựng, chất đốt, thức ăn gia súc hay làm đồ gia dụng và đặc biệt dùng làm thuốc chữa bệnh Khi đó, người ta chỉ biết sử dụng cây cỏ hoang dại để làm thuốc trị một số bệnh thông thường như cảm, sốt, đau đầu, bệnh ngoài da Về sau,

mới đi sâu tìm hiểu về cây cỏ để chữa các bệnh nan y về gan, thận, tim mạch… Cho đến nay, mặc dù khoa học hiện đại phát triển theo hướng sử dụng hóa chất làm thuốc để chữa trị thì cây cỏ làm thuốc vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền Y

học cổ truyền và là nguồn nguyên liệu quý cho nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn

gốc từ các hợp chất tự nhiên

Nước ta nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, có địa hình thay đổi từ Bắc vào Nam, nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm phân bố không đồng đều đã tạo nên nhiều kiểu thảm thực vật quan trọng, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng về chủng loại, trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc Theo

thống kê của Viện Dược liệu (Bộ Y tế), tính đến cuối năm 2007 đã ghi nhận và

thống kê được ở Việt Nam có 3.948 loài thực vật có giá trị làm thuốc, trong đó có khoảng 3.000 loài cây mọc tự nhiên (hơn 90%), đóng một vai trò đặc biệt quan

trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu ban đầu để sản xuất thuốc dùng trong nước và xuất khẩu

Tuy nhiên, do tình trạng khai thác tài nguyên rừng quá mức, nạn cháy rừng, cũng như áp lực gia tăng về dân số và nhu cầu sử dụng thuốc chữa bệnh ngày càng nhiều, đặc biệt là các dược liệu có nguồn gốc tự nhiên, dẫn đến nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng bị cạn kiệt, nhiều loài cây thuốc đang phải đối mặt với nguy cơ

bị tuyệt diệt Tính đến năm 2007, danh sách những cây thuốc bị đe dọa ở Việt Nam lên tới 144 loài, trong đó phải kể đến như Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis), Sâm

vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Hoàng liên (Coptis chinensis), Lan m ột lá (Nervilia sp.), Đẳng sâm (Codonopsis javanica) Đặc biệt, những loài như Ba kích (Morinda officinalis), Đẳng sâm (Codonopsis

Trang 9

javanica), Hà th ủ ô đỏ (Fallopia multiflora)… vốn phân bố khá rộng rãi nhưng do

khai thác liên tục nhiều năm đã làm cho chúng trở nên hiếm dần, thậm chí còn được đưa vào Sách đỏ và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam nhằm khuyến cáo bảo vệ (Nguyễn Tập, 2007) Do đó, việc điều tra, đánh giá, xây dựng cơ sở dữ liệu và sưu

tập mẫu tiêu bản về tài nguyên cây thuốc ở một vườn quốc gia của khu vực Đông Nam bộ như Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát là điều cần thiết và thiết thực, góp

phần vào công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên này

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài:

“ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA

LÒ GÒ – XA MÁT, TỈNH TÂY NINH”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Điều tra, định danh, lập danh lục thành phần loài cây thuốc trên cơ sở đó đánh giá tiềm năng

- Xây dựng bộ mẫu tiêu bản cây thuốc phổ biến của vườn quốc gia (VQG) Lò

Gò – Xa Mát, tỉnh Tây Ninh

3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần loài cây làm thuốc, xây dựng danh lục cây thuốc ở VQG

Lò Gò – Xa Mát, tỉnh Tây Ninh

- Phỏng vấn bằng phương pháp phỏng vấn nhanh, ghi chép các bài thuốc nhằm đánh giá tiềm năng khai thác và sử dụng cây thuốc của vườn quốc gia để giáo dục bảo tồn và phát triển cây thuốc

- Xác định nhóm cây thuốc quý hiếm cần được bảo tồn

- Thu thập và xây dựng bộ mẫu tiêu bản một số cây thuốc phổ biến ở VQG Lò

Gò – Xa Mát

Trang 10

- Phía Bắc và Tây giáp Cam-pu-chia, phía Tây giới hạn bằng sông Vàm Cỏ Đông

- Phía Đông giáp vùng nông nghiệp thuộc Tân Lập - Tân Bình

- Phía Nam giáp vùng nông nghiệp Hòa Hiệp

Tổng diện tích của VQG là 18.806 ha [18],[19]

Hình 1.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát có địa hình gần như bằng phẳng, thay đổi trong khoảng 5 – 20m rải rác có những gò cao với độ cao không vượt quá 25m so với mực nước biển Cả vùng có độ dốc trung bình 1o

-5o do vậy VQG có địa hình

Trang 11

gần như bằng phẳng như là kiểu của bậc thềm sông Vàm Cỏ Đông Có thể phân chia địa hình cho khu vực LGXM thành các kiểu phụ tiểu địa hình là bằng phẳng, trũng và gò hình thành các trảng và bàu ngập nước trong mùa mưa [18]

1.1.3 Thổ nhưỡng

Trên cơ sở nền địa chất trầm tích dày, phong hóa mạnh tạo thành các khối laterit vững chắc, với các loại đất phù sa cổ phát triển cùng với các quá trình địa mạo san bằng và bào mòn tạo nên các lớp đất cát trên bề mặt thấy xuất hiện rải rác trong VQG và đặc biệt là phần phía Bắc có địa hình thấp trũng lôi kéo cát trong thềm cổ Việc xuất hiện các khối laterit lớn, mà nhiều nơi lộ ra trên bề mặt do kết quả tích tụ oxyt sắt-nhôm Phân bố của các khối laterit này thấy xuất hiện tại các trảng, bàu có địa hình bằng phẳng tạo điều kiện nước không thấm xuống dưới được gây ngập một khoảng thời gian trong mùa mưa [18]

1.1.4 Khí hậu

Tây Ninh hay cả Nam bộ nói chung có kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt Lượng mưa dao động từ khoảng 1.300mm/năm đến khoảng 1.900mm/năm, có những năm lượng mưa đạt trên 2.000mm (có thể tới 2.300mm), phân bố không đều giữa các tháng, thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 10 Mùa mưa có thể kéo dài trung bình 6 tháng, có thể kéo dài đến 8 tháng (các tháng có lượng mưa trên 100mm) [18]

1.1.5 Thủy văn

1.1.5.1 Nước mặt – Sông suối

Hệ thống thủy văn không phong phú lắm tại khu vực VQG nên mức độ chia cắt địa hình không cao Hệ thống sông suối có sông Vàm Cỏ Đông, suối Đa Ha và các suối khác chỉ có nước vào mùa mưa

1.1.5.2 Nước ngầm Nước ngầm khá phong phú và gần mặt đất, ở độ sâu 4 - 5 m khu vực gần sông suối cung cấp nước sinh hoạt và ở độ sâu hơn 20m cho nước phục vụ sản xuất (140-

240 m3/ngày) Tầng nước nông thuộc trầm tích phù sa mới có chất lượng không ổn định và bị chua do tích tụ sắt trong tầng đất trầm tích [18]

Trang 12

1.1.6 Hệ sinh vật

1.1.6.1 Hệ thực vật Theo kết quả điều tra của Viện sinh học nhiệt đới (2006), hệ thực vật bậc cao của rừng Lò Gò – Xa Mát có khoảng 694 loài thuộc 395 chi của 115 họ trong 60 bộ của 5 ngành thực vật

VQG Lò Gò – Xa Mát có các kiểu thảm thực vật chính như sau:

- Kiểu rừng nguyên sinh và thứ sinh thường xanh cây lá rộng theo mùa

- Kiểu rừng Sao Dầu thứ sinh trên đất ngập nước theo mùa: (1) trên nền đất ferralite nông và (2) trên nền đất ferralit sâu

- Kiểu rừng khô thưa thứ sinh ngập nước theo mùa trên đất ngập nước ưu thế

họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae) và Tràm (Melaleuca)

- Kiểu rừng khô ngập nước theo mùa ưu thế tràm và cây bụi gai

- Trảng cỏ ngập nước theo mùa

- Rừng thứ sinh cây bụi trảng cỏ ngập nước ven sông, lòng suối [18],[19]

1.1.6.2 Hệ động vật

- Hệ côn trùng VQG Lò Gò - Xa Mát gồm 128 taxa côn trùng thuộc về 9 bộ, là

một phần rất quan trọng của hệ côn trùng vùng rừng mưa nhiệt đới khu vực phía Nam, Việt Nam

- Khu hệ cá ở VQG Lò Gò – Xa Mát mang tính đặc trưng của vùng trung lưu

và hạ lưu sông Mê Kông với 88 loài cá thuộc 26 họ và 10 bộ, bằng 70,4% khu hệ cá

Đồng Tháp Mười, trong đó bộ Cá chép (Cypriniformes) chiếm số lượng nhiều nhất

- Lớp Ếch nhái ở VQG Lò Gò - Xa Mát gồm 23 loài thuộc 15 chi, của 6 họ trong 2 bộ

- Lớp Bò sát ở VQG Lò Gò - Xa Mát có 56 loài, thuộc về 2 bộ, trong đó bộ

Có vẩy (Squamata) có số loài chiếm đến 92,9 %

- Tổng số loài chim ghi nhận được tại VQG Lò Gò - Xa Mát có 149 loài chim thuộc 40 họ và 15 bộ, ước lượng ở VQG Lò Gò - Xa Mát có thể có từ 162 - 173 loài chim

Trang 13

- Lớp thú có 29 loài thú của 7 bộ: gồm bộ Ăn sâu bọ (Insectivora), bộ Dơi (Chiroptera ), bộ Linh trưởng (Primates), bộ Móng guốc chẵn (Arctiodactyla), bộ

Ăn thịt (Carnivora), bộ Gặm nhấm (Rodentia), bộ Thỏ (Lagomorpha) [18]

1.1.7 Điều kiện kinh tế xã hội

Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát nằm trên địa bàn hành chính của 4 xã: Tân Bình, Tân Lập, Hoà Hiệp và Thạnh Tây thuộc huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh Tổng dân số của 4 xã là 31.331 người với 8.131 hộ; trong đó 21% là hộ nghèo, 44% hộ trung bình và 35% là hộ giàu

Dân tộc chủ yếu ở khu vực là người Kinh với 7.806 hộ chiếm 97,0%; Khmer

202 hộ chiếm 2,6%; các dân tộc khác (Tày, Mường, Hoa) là 25 hộ chiếm 0,4% [18],[19]

1.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Thế giới

Từ xa xưa đến nay, cây làm thuốc luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn tài nguyên thực vật Tổ chức Y tế thế giới cho biết, trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp và bậc cao đã ghi nhận trên toàn cầu, có tới 30.000 loài có giá trị làm thuốc trực tiếp trong Y học cổ truyền hoặc cung cấp các hợp chất

tự nhiên để làm thuốc (WHO, 1990) Con số này còn dự đoán lên tới gần 70.000 loài (Naplalert, 1995)

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật trong tổng số 250.000 loài đã biết được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc [37] Trong đó ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài; Trung Quốc 5.000 loài; vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1.900 loài thực vật có hoa

Giữa năm 1985, quyển sách “Cây thuốc Trung Quốc” ra đời, đã liệt kê một loạt các loài thực vật chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa

nhọt độc, viêm tuyến hạch, vết thương tụ máu; Cải Soong (Nasturtium officinale) có

tác dụng giải nhiệt, chữa lở miệng, chảy máu chân răng, bướu cổ Tác giả Perry, với

Trang 14

quyển “Medicinal Plants of East and Southeast Asia” (1985) nằm trong chương

trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á đã nghiên cứu hơn 1.000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu, trong đó có 146 loài thực vật có tính kháng khuẩn [39]

Trên thực tế có rất nhiều loài thực vật được sử dụng làm thuốc nhưng do con người khai thác quá mức dẫn đến nhiều loài trên thế giới vĩnh viễn mất đi hoặc đang

bị đe dọa nghiêm trọng (theo Công ước đa dạng Sinh học, 1992) Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài có nguy cơ bị đe dọa Trong

số những loài thực vật đã bị mất đi hoặc đang bị đe dọa nghiêm trọng, trong đó có

nhiều loài cây thuốc như: ở Bangladet có loài Tylophora indica dùng để chữa bệnh

hen suyễn, loài Zanonia indica dùng để tẩy xổ - trước kia có khá nhiều nay có nguy

cơ bị tuyệt chủng [Islam A.S, 1991]

Trong công trình “Medicinal and poisonous plants”, ( 3 tập) thuộc chương

trình phối hợp điều tra tài nguyên thực vật Đông Nam Á (xuất bản năm 1999, 2001

và 2003) đã thống kê được khoảng 2.200 loài thực vật có giá trị làm thuốc, đây là công trình có giá trị khoa học cao Tất cả các loài được mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, cách gieo trồng và giá trị sử dụng; đặc biệt trong công trình này cũng được phân tích khá đầy đủ các hàm lượng hoạt chất có trong các bộ phận của thực vật

Năm 2006, Christophe Wiart đã xuất bản quyển “Medicinal Plants of the

Asia-Pacific: Drugs for the Future?” mô tả chi tiết dược lý dân tộc học của hơn 400 loài thực

vật, cung cấp hơn 300 hình ảnh với 400 cấu trúc hóa học của các vị thuốc từ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương [35]

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, để chống lại các bệnh nan y, thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông và Tây y, giữa y học hiện đại với kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc Chính từ những kinh nghiệm truyền thống đó của họ là chìa khóa để nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các

Trang 15

nước trên thế giới đang hướng đến thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc [24]

Thời vua Hùng Vương (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử kí ngoại kí,…) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh Theo Long Úy chép lại, vào đầu

thế kỷ thứ II có hàng trăm vị thuốc từ đất Giao Chỉ như: Ý dĩ (Coix lachrymal-jobi L.), Hoắc hương (Pogostemon cablin Benth.) [12]

Vào đời Trần (1225-1399), Phạm Ngũ Lão thu thập trông coi một vườn thuốc

lớn để chữa bệnh cho quân sĩ trên núi gọi là “Sơn Dược”, hiện vẫn còn di tích để lại

tại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng Năm 1429 là

Bản thảo cương toàn yến” là quyển sách về cây thuốc đầu tiên, do Chu Tiên biên

soạn Vào thế kỷ XIV có người thầy thuốc nổi tiếng Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn

Bá Tĩnh), ông biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 tập với 406 vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật Ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa

giác tư y thư” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc [12],[30]

Thời nhà Nguyễn (1788-1883), Nguyễn Quang Lượng với “Nam dược”, “Nam

dược chỉ danh truyền” ghi chép 500 vị thuốc nam Năm 1858, Trần Nguyên Phương

với “Nam bang thảo mộc” đã kể tên và mô tả công dụng của trên 100 loài cây thuốc

[11],[12]

Ở Đông Dương, bộ sách “Catalogue des produits de l’Indochine” do hai nhà

thực vật người Pháp Ch Crévost và A Pételot biên soạn, trong đó, đáng chú ý nhất

là tập V “Produits médicinaux” (1928 – 1935) đã mô tả 368 loài cây thuốc và vị

thuốc là các loài thực vật có hoa [34] Đến năm 1952, Pételot bổ sung và xây dựng

Trang 16

thành “Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập, với 1.482 loài cây thuốc ở cả ba nước Đông Dương [40]

Năm 1957, Đỗ Tất Lợi cho ra đời công trình “Dược liệu học và các vị thuốc

Việt Nam” gồm 3 tập Đến năm 1961 tác giả đã tái bản in thành 2 tập, trong đó mô

tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962-1965, “Những cây

thuốc và vị thuốc Việt Nam” được xuất bản gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành

2 tập, trong đó giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Trong lần tái bản thứ 12 vào năm 2006 tác giả đã nâng số loài động thực vật có giá trị làm thuốc lên đến 800 loài, các loài này được mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học và chia tất cả các cây thuốc đó thành các nhóm bệnh khác nhau

Năm 1966, Vũ Văn Chuyên “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”, trong đó

ngoài việc tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, ông còn đưa ra danh sách các cây thông thường thuộc các họ, giúp dễ học và dễ phân loại thực vật, thuận lợi cho việc tra cứu

Năm 1976, trong công trình luận văn phó tiến sĩ khoa học, Võ Văn Chi đã thống kê được ở Miền Bắc có 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành thực vật hạt kín Đến năm 1991, trong báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc Việt Nam có 2.280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành

Năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương trong cuốn “Sổ tay cây thuốc

Việt Nam” đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện vào

nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam

Năm 1997, Võ Văn Chi trong bộ “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, tác giả đã

thống kê và mô tả chi tiết 3.200 loài cây thuốc ở Việt Nam Đây là một công trình

có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và chuyên ngành

thực vật học Năm 2003-2004, “Từ điển thực vật thông dụng” (2 tập) tác giả đề cập

đến phần công dụng mà chủ yếu là làm thuốc của 5.034 loài, 2.382 chi của 333 họ

Trang 17

thực vật Gần đây, Võ Văn Chi cho ra đời “Từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới)”

(2012, 2 tập) lập danh lục mới về cây thuốc Việt Nam và tiến hành biên soạn lại, bổ sung thêm những thông tin, làm rõ hơn về sinh thái và phân bố cũng như bổ sung rất nhiều cây thuốc mới, với số mục từ 4.470 đề cập tới gần 4.700 cây thuốc với 1.500 ảnh chụp màu Có thể nói công bố này đã giới thiệu số lượng cây thuốc lớn nhất ở Việt Nam

Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự trong công trình “Thực vật học dân

tộc - Cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông Nghệ An” đã thống kê được 551

loài, 364 chi, 120 họ thực vật có giá trị làm thuốc, đặc biệt là trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã đưa ra công dụng cụ thể của từng loài theo cách sử dụng của người dân địa phương

Năm 2006, trong cuốn “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” Phạm Hoàng Hộ đã

thống kê được 2.000 loài có giá trị làm thuốc, ở đây tác giả chỉ mô tả sơ lược đặc điểm nhận dạng và giá trị sử dụng của chúng

Đến cuối năm 2006, nhóm các tác giả thuộc Viện Dược liệu trong công trình 2

tập “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” đã thống kê được 920 loài cây

thuốc, đây là công trình khá đầy đủ và công phu, nhóm các tác giả đã mô tả, phân tích khá chi tiết các đặc điểm nhận dạng, phân bố, công dụng và thành phần hóa học của từng loài [5]

Năm 2007 trong công trình “Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt

Nam” Nguyễn Tập đã giới thiệu 144 loài cây thuốc nguy cấp ở Việt Nam

Tác giả Tào Duy Cần, Trần Sĩ Viên đưa ra “Cây thuốc vị thuốc và bài thuốc

Việt Nam” (2007) gồm trên 500 vị thuốc Nam – thuốc Bắc thường dùng (vốn là

những thảo mộc dễ kiếm, sống ở nước ta) được mô tả, xác định vùng phân bố, bộ phận dùng và tác dụng của thuốc ngoài ra còn kèm theo các phương thuốc trị bệnh theo y học cổ truyền

Giữa năm 2007 trong Dự án hỗ trợ chuyên ngành “Lâm sản ngoài gỗ Việt

Nam” đã giới thiệu 82 loài thực vật có giá trị làm thuốc, với đầy đủ các thông tin về

Trang 18

đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật nhân trồng, khái thác, chế biến, bảo quản, giá trị kinh tế và đề xuất các biện pháp bảo tồn

Huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh, thông tin về cây thuốc mới được đề

cập trong những năm gần đây Trong công trình “Khảo sát thành phần loài và xây

dựng bộ sưu tập mẫu các loài cây thân gỗ trên hệ sinh thái gò đồi thuộc huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh”, Đặng Văn Sơn đã ghi nhận được 29 loài thực vật có giá trị

làm thuốc, đến năm 2009 tác giả cập nhật và nâng số lượng loài cây thuốc lên 38 loài và gần đây nhất (2011) trong công trình đăng ở Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 4 về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, nhóm tác giả đã ghi nhận bổ sung vào nguồn tài nguyên cây thuốc ở Củ Chi lên 162 loài, 135 chi, 63 họ, 38 bộ thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch

Năm 2011, Nguyễn Xuân Minh Ái với luận văn thạc sĩ Sinh học “The study of

ethnomedicine of Chu Ru and Raglai ethnic groups in Phước Bình national park, Ninh Thuận province” khảo sát 93 loài cây thuốc thuộc 79 chi, 49 họ, 4 lớp và 3

ngành thực vật Trong đó họ Zingiberaceae là họ thông dụng nhất với 14 loài được

sử dụng làm thuốc

Đặc biệt ở Tây Ninh đã có một số công trình về cây thuốc có giá trị Riêng ở huyện Tân Biên, tháng 4 năm 1980, Viện Dược liệu và Trạm Nghiên cứu Dược liệu tỉnh Tây Ninh đã tiến hành điều tra ở 6 xã: Tân Bình, Thạnh Bình, Tân Châu, Tân Đông, Tân Hội và Thạnh Đông Kết quả đã ghi nhận được 309 loài cây thuốc, trong

đó 235 loài đã được giới thiệu cho khai thác thu mua như: Bách bộ, Ba kích lông, Chiêu liêu, Đại phong tử, Sữa, Tràm Ở khu vực VQG Lò Gò - Xa Mát hiện nay hoặc ở một vùng rừng nào đó ở Tây Ninh trước kia đã từng khai thác Vàng đắng

(Coscinium fenestratum) để chiết berberin

Cuối năm 1991, Nguyễn Công Tỷ, Huỳnh Công Thanh đã xuất bản quyển

Dược liệu miền Nam và các bài thuốc ứng dụng” với 810 vị thuốc (hơn 95% là

thực vật) chủ yếu là các vị thuốc từ hệ thực vật của tỉnh Tây Ninh

Trong Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật tại Hội nghị khoa

học toàn quốc lần thứ hai (năm 2007) với đề tài “Hiện trạng tài nguyên cây thuốc

Trang 19

vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, tỉnh Tây Ninh”, Lý Ngọc Sâm, Nguyễn Vinh Hiển

đã thống kê tài nguyên cây thuốc của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, gồm 178 loài, thuộc 67 họ, trong đó có 3 loài thuộc Khuyết thực vật, 147 loài thuộc lớp Hai lá mầm, 28 loài thuộc lớp Một lá mầm

Năm 2009, trong đợt hướng dẫn học viên thực tập, Phan Kế Lộc đã tiến hành

khảo sát “Điều tra cây thuốc ở vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, tỉnh Tây Ninh” bước

đầu đã ghi nhận được 152 loài Thực vật và Nấm lớn thuộc 130 chi, 74 họ có công dụng làm thuốc

Tóm lại, thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật tự nhiên để làm thuốc chữa bệnh của nhân dân ta là phong phú và đa dạng Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu lâu dài từ đời này sang đời khác Vì vậy, ngày nay chúng

ta cần tiếp tục kiểm kê, bổ sung và hệ thống hóa các loài cây thuốc để giúp cho việc bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu và sử dụng bền vững

Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một báo cáo hay nghiên cứu nào về đa dạng thành phần loài cây thuốc của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, tỉnh Tây Ninh một cách đầy đủ, đây là cơ sở để chúng tôi tiến hành đề tài này

Trang 20

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được khảo sát tại vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh

2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trong vòng 8 tháng (từ 1/2012 đến 8/2012) Thời gian khảo sát thực địa được tiến hành 5 đợt:

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp tổng quan tài liệu

Tập hợp, phân tích, kế thừa các công trình khoa học, các kết quả khảo sát đánh giá nhanh, các tư liệu khoa học đã có để tổng hợp thông tin, định hướng cho nội dung khảo sát và nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

2.3.2.1 Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu

Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một khu nghiên cứu, không thể đi hết các điểm trong khu nghiên cứu nên việc chọn tuyến và địa điểm thu mẫu là cần thiết Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu nghiên cứu Có thể chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau nghĩa là các tuyến đó cắt ngang qua các vùng đại diện cho khu vực nghiên cứu Trên các tuyến mỗi sinh cảnh chọn những điểm đặc trưng nhất để thu mẫu hay đặt các ô tiêu chuẩn vừa phục vụ cho nghiên cứu về đa dạng loài vừa nghiên cứu về đa dạng sinh thái [26]

Trang 21

Các tuyến thực địa đi theo các sinh cảnh ven đường đi, lối đi có sẵn trong rừng, các sinh cảnh ven suối, đất trống; các kiểu rừng của vườn quốc gia Lò Gò –

Xa Mát để thu đầy đủ mẫu

2.3.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn nhanh Phỏng vấn nhanh tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc của người dân địa phương ở vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát

2.3.2.3 Phương pháp thu mẫu Mẫu cho vào các cặp gỗ dán để đựng mẫu, sổ và bút chì mềm 2-3B để ghi chép, nhãn hay băng dính bằng giấy có thể viết được và kéo cắt cây

Nguyên tắc thu mẫu:

Mỗi mẫu có đầy đủ các bộ phận nhất định là cành, lá cùng với hoa và cả quả càng tốt (đối với cây lớn) hay cả cây đối với cây thảo hay dương xỉ

Mỗi loài thu 4-6 tiêu bản, các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh dấu cùng số hiệu Khi thu ghi chép ngay những đặc điểm để nhận biết ngoài thiên nhiên nhất là các đặc điểm dễ mất khi khô ví dụ như màu sắc hoa, quả [26]

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.3.3.1 Xử lý và bảo quản mẫu Các mẫu thu được đeo nhãn ngay

Khi ghi chép dùng bút chì mềm tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực để tránh

bị mất khi trời mưa hay ngâm tẩm về sau Các mẫu vật có thể chỉ cần ghi số hiệu mẫu, ngày thu mẫu, nơi thu mẫu còn các thông tin khác ghi riêng vào sổ ghi chép thực địa

Mẫu thu được đặt gọn trong 1 tờ báo gập 4, vuốt ngay ngắn (chú ý trên mẫu phải có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát dễ dàng cả 2 mặt của lá mà không phải lật mẫu, đối với hoa nên dùng các mảnh báo nhỏ để ngăn cách nó với các hoa hay lá bên cạnh phòng khi sấy dễ bị dính vào các bộ phận bên cạnh) Sau đó xếp nhiều mẫu thành chồng và dùng đôi cặp mắt cáo để bó chặt và ép mẫu xuống [26]

Sau mỗi ngày thu thập, các mẫu vật mang về cần được xử lý sơ bộ ngoài thực địa bằng cồn pha loãng ở nồng độ 70%

Trang 22

2.3.3.2 Sấy khô và giám định tên mẫu vật Mẫu sau khi mang về cần được sấy ngay Trước khi sấy nên thay giấy báo mới

và bó chặt giữa đôi cặp mắt cáo trước khi cho vào tủ sấy [26]

Tất cả các mẫu vật thu thập được xử lý, phân tích xác định tên khoa học và sắp xếp thứ tự Alphabet theo Họ cho tiện tra cứu sau này Để định loại các mẫu thu được, chúng tôi sử dụng một số tài liệu sau: Cây cỏ Việt Nam, quyển I, II, III (Phạm Hoàng Hộ, 1999), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997), Phân loại học thực vật (Hoàng Thị Sản, 1999), Cây

cỏ có ích ở Việt Nam, tập I, II (Võ Văn Chi, Trần Hợp) Đặc biệt là đối chiếu, so mẫu với bộ tiêu bản chuẩn Việt Nam được lưu trữ ở Bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh học nhiệt đới, Tp Hồ Chí Minh

Mẫu sau khi phân tích, được ngâm tẩm hóa chất bảo quản và lưu giữ tại Bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh học nhiệt đới và phòng Thí nghiệm – Di truyền – Thực vật, Khoa Sinh, trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh

2.3.3.3 Xây dựng bộ sưu tập Xây dựng bộ tiêu bản thực vật của một số loài cây có giá trị làm thuốc trong hệ thực vật của vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát Mẫu thực vật được thu tại địa phương, chụp ảnh ngoài thực địa và xử lý trong phòng thí nghiệm, ngâm tẩm hóa chất bảo quản, khâu kết lên bìa cứng (bìa sơmi giấy 27cm x 40cm) theo tiêu chuẩn bộ tiêu bản thực vật quốc gia Việt Nam nhằm bảo quản lâu dài Nhãn được ghi như hình 2.2

Trang 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nơi thu mẫu:

Ngày thu mẫu:

Người định tên:

Số hiệu mẫu:

Hình 2.2 Nhãn tên mẫu thực vật trong bộ sưu tập

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Excel để lưu trữ, thống kê và so sánh các thông tin thu

thập được, lập danh lục cây thuốc ở Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát

Thống kê và ghi nhận những loài cây thuốc có tên trong Sách Đỏ Việt Nam

(2007), Danh l ục Đỏ cây thuốc Việt Nam, Nguyễn Tập (2007), IUCN (2011), Danh

m ục cây thuốc Bộ Y tế (2010), Nghị định 32 của Chính phủ

Việc xác định thông tin của các loài có giá trị làm thuốc, dạng sống và tình

trạng bảo tồn sử dụng các sách Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi

(1997), Từ điển thực vật thông dụng của Võ Văn Chi (2003 - 2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc của Viện dược liệu (2006), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2009), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới) của Võ Văn Chi

(2012)…

Trang 24

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đa dạng về thành phần loài cây thuốc

Qua kết quả điều tra (có kế thừa nghiên cứu trước đây, có bổ sung), khảo sát vùng nghiên cứu, đã xác định được 433 loài cây thuốc thuộc 299 chi, 99 họ, 54 bộ

của 4 ngành là Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), Ngành Thông đất (Lycopodiophyta), N gành Hạt trần (Pinophyta) và Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) Trong đó, Ngành Thông đất có 1 loài thuộc chi Lycopodiella của họ Lycopodiaceae;

ngành Dương xỉ có 11 loài thuộc 8 chi của 7 họ: Azoliaceae, Blechnaceae, Marsileaceae, Ophioglossaceae, Polypodiaceae, Salviniaceae, Schizeaceae; Ngành

Hạt trần có 1 loài thuộc chi Gnetum của họ Gnetaceae; Ngành Mộc lan có 420 loài

thuộc 289 chi của 90 họ, trong đó, có 360 loài thuộc lớp Hai lá mầm và 60 loài thuộc lớp Một lá mầm

Bảng 3.1 Phân bố số loài cây thuốc trong các taxon STT NGÀNH S Ố LOÀI T Ỷ LỆ %

% (4)

SL (5)

% (6)

SL (7)

% (8)

Trang 26

Từ kết quả khảo sát trên, nhìn chung, thành phần cây thuốc của VQG Lò Gò –

Xa Mát khá đa dạng và phong phú với 433 loài của 299 chi trong 99 họ, của 54 bộ

và thuộc 4 ngành trong Hệ thực vật của Việt Nam

Một số họ giàu loài nhất trong hệ thực vật cây thuốc vùng nghiên cứu phải kể

đến là họ Cà phê (Rubiaceae) có 36 loài (chiếm 8,31% tổng số loài cây có vị thuốc của VQG), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 24 loài (chiếm 5,54%), họ Đậu

Trang 27

(Fabaceae) có 20 loài (chi ếm 4,62%), họ Na (Annonaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae) và h ọ Hòa thảo (Poaceae) có 15 loài (chiếm 3,46%), họ Vang (Caesalpiniaceae) có 13 loài (chi ếm 3,00%), họ Dâu tằm (Moraceae) có 12 loài

(chiếm 2,77%), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) có 10 loài (chiếm 2,31%) và

họ Mua (Melastomataceae) có 9 loài (chiếm 2,08%), thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.3 Các họ có nhiều loài cây thuốc của VQG STT H Ọ THỰC VẬT LOÀI T Ỷ LỆ %

Các chi có nhiều cây thuốc nhất của VQG Lò Gò – Xa Mát phải kể đến đó là

Ficus (họ Dâu tằm – Moraceae) với 6 loài (chiếm tỷ lệ cao nhất 2,01% trong tổng số

299 chi), chi Uncaria (họ Cà phê – Rubiaceae) có 5 loài (chiếm 1,67%) và các chi

Desmodium (họ Đậu – Fabaceae), Diospyros (họ Thị – Ebenaceae), Hedyotis, Ixora,

Psychotria (h ọ Cà phê – Rubiaceae), Melastoma (họ Mua – Melastomataceae),

Uvaria (họ Na – Annonaceae) có 4 loài (chiếm 1,34%)

Trang 28

Bảng 3.4 Các chi cây thuốc nhiều loài của VQG

3.2 Dạng sống của cây thuốc

Có nhiều cách phân loại dạng sống thực vật, theo C Raunkiaer (1904) (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [26] và Võ Văn Chi, 2012 [10], dạng sống của các cây thuốc VQG Lò Gò – Xa Mát được phân chia thành cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ, cây bụi, thân thảo, dây leo, cây thủy sinh và phụ sinh (bảng 3.5)

Bảng 3.5 Dạng sống của cây thuốc VQG Lò Gò – Xa Mát

Trang 29

22,40 19,63

17,09

Cây gỗ nhỏ (GN) Thân thảo (C) Cây bụi (B) Dây leo (DL) Cây gỗ lớn (GL) Thủy sinh (TS) Phụ sinh (PS)

Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện các dạng sống của cây thuốc vùng nghiên cứu Qua bảng 3.5 và biểu đồ hình 3.3, dạng sống chiếm tỷ lệ cao nhất vùng nghiên cứu là cây gỗ nhỏ với 116 loài (chiếm 26,79%) Cây gỗ nhỏ có giá trị làm thuốc chiếm số lượng nhiều nằm trong các họ: Thầu dầu (Euphorbiaceae), Cà phê (Rubiaceae), Xoài (Anacardiaceae), Bứa (Clusiaceae), Cam (Rutaceae)

Cây thân thảo làm thuốc có 97 loài (chiếm 22,40%), thường phân bố dọc theo sông, suối trên các trảng cỏ như Trảng Đất đen, Trảng Tà Nốt, Trảng Đầu bò – Trảng Miên… Với số lượng cá thể của một loài rất lớn cùng tập trung trên một khu

vực như trảng Đưng (Scleria levis Retz.), trảng Nhân trần (Adenosma bracteosum Bonati), trảng Năng ngọt (Eleocharis dulcis (Burm.f.) Hensch.)… Họ có nhiều loài

cây thân thảo làm thuốc phải kể đến đó là: họ Hòa thảo (Poaceae), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Cói (Cyperaceae)

Cây bụi có giá trị có làm thuốc với 85 loài (chiếm 19,63%), tập trung chủ yếu

ở các họ Cà phê (Rubiaceae), họ Mua (Melastomataceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cau (Arecaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae) thường phân bố trong các sinh cảnh rừng Tràm (Melaleuca cajuputi Power) hoặc ở nơi chuyển tiếp

giữa các trảng với các khu rừng kín thường xanh chủ yếu là những loài như Bồ an

(Colona auriculata (H Baill.) Craib), Hồng sim (Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk.), Mao quả đài to (Dasymaschalon macrocalyx Fin & Gagnep.), Luân thùy

Trang 30

Cambôt (Spirolobium cambodianum H.Baill.) và hầu hết những loài thuộc chi Mua

(Melastoma)

Cây thuốc là dây leo với 74 loài (chiếm 17,09%) Dây leo nhỏ thường xuất hiện ở bìa rừng, dọc lối đi, bám vào cây bụi, cây gỗ nhỏ như loài Bòng bong leo

(Lygodium scandens (L.) Sw.), Cóc kèn (Derris trifolia Lour.), Dây mỏ quạ

(Dischidia major (Wall.) Merr.), Chè lông (Aganosma acuminata (Roxb) G.Don)…

Leo bám theo các cây gỗ lớn của rừng kín thường xanh, vươn lên cao vút trên ngọn cây chiếm tầng vượt tán đó là những loài dây leo có kích thước lớn như Sóng rắn

(Albizia lebbeckoides (A.P.DC.) Benth.), Chuối con chông (Uvaria grandiflora Roxb.), Dây chiều (Tetracera scandens (L.) Merr.), Cổ rùa (Butea superba Roxb.), Vác (Ampelocissus martini Pl in D.C.)… Dây leo có giá trị làm thuốc chiếm số lượng lớn trong các họ như họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Nho (Vitaceae), họ Na (Annonaceae) và họ Đậu (Fabaceae)

Cây gỗ lớn làm thuốc có 38 loài (chiếm 8,78%), tập trung chủ yếu trong các họ như họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Bàng (Combretaceae), họ Đậu (Fabaceae) Những cây thuốc

có thân gỗ phân bố ở các kiểu sinh cảnh rừng kín thường xanh hoặc rừng rụng lá theo mùa thuộc cây lá rộng nhiệt đới vùng thấp với những Quần hợp Dầu, Quần hợp Dầu – Cây họ Đậu, Quần hợp Bằng lăng – Cầy – Cám, Quần hợp Dầu – Vên vên – Cầy – Cám hay nằm rải rác trong sinh cảnh rừng thưa nửa rụng lá (Rừng Khộp) với Quần hợp Dầu lông – Dầu trà beng – Vên vên – Tràm [2]

Với 12 loài (chiếm 2,77%) là những loài cây thủy sinh, thường được sử dụng

làm thuốc phổ biến như Súng trắng (Nymphaea pubescens L.) họ Súng (Nymphaeaceae), Bèo cám (Lemna minor L.) họ Bèo tấm (Lemnaceae), Bèo tai

chuột (Salvinia cucullata Roxb.) thuộc họ Bèo ong (Salviniaceae)

Thấp nhất là dạng sống phụ sinh với 11 loài (chiếm 2,54%), chúng thường sống trên cao, nơi khó thu hái nhưng vẫn được sử dụng, điển hình như những loài

thuộc họ Ráng đa túc (Polypodiaceae) như Cốt toái bổ (Drynaria bonii C Christ) và

Trang 31

họ Tầm gửi (Loranthaceae) như Tầm gửi cây hồi (Macrosolen cochinchinensis Lour.), Mộc vệ sét (Taxillus ferrugineus (Jack) Ban)

3.3 Thực vật có giá trị bảo tồn

Công việc quan trọng trong điều tra thành phần, mức độ đa dạng loài là cần phải có sự đánh giá về tính đặc hữu, quý hiếm và các mức độ đe dọa của các loài trong hệ thực vật đó để có chính sách ưu tiên và biện pháp bảo vệ có hiệu quả

Bảng 3.6 Các loài cây thuốc cần được bảo tồn của VQG Lò Gò – Xa Mát

STT TÊN KHOA HỌC TÊN TIẾNG VIỆT

2 Cratoxylum formosum (Jack) Dyer Thành ngạnh đẹp

3 Dipterocarpus alatus Roxb ex G Don Dầu con rái

4 Dipterocarpus obtusifolius Teysm Dầu trà ben

5 Drynaria bonii C Christ Cốt toái bổ

6 Elaeocarpus hygrophylus Kurz Cà na

7 Holarrhena pubescens (Buch.- Ham.) Wall ex G.Don Hồ liên lớn

9 Irvingia malayana Oliv ex Benn Cầy

10 Knema globularia (Lamk.) Warb Máu chó cầu

11 Melanorrhoea laccifera Pierre Sơn rừng

12 Nepenthes mirabilis (Lour.) Bruce Nắp bình

13 Nepenthes thorelii Lecomte Nắp ấm

14 Peliosanthes teta Andrews Sơn mộc, Sâm cau

15 Pterocarpus macrocarpus Kurz Giáng hương trái to

16 Shorea roxburghii G.Don Sến đỏ

17 Sindora siamensis Teijsm ex Miq var siamensis Gõ mật

18 Spirolobium cambodianum H.Baill Luân thuỳ Cambốt

19 Tetrameles nudiflora R.Br Tung, Búng

Trang 32

Theo “Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế” – International Union for Conservation of Nature and Natural Resource” (IUCN), Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (2007) (Nguyễn Tập) và Nghị định 32 của Chính phủ (30/03/2006) trong tổng số 433 loài thực vật có vị thuốc của vùng nghiên cứu thì có 19 loài (chiếm 4,40%) được xếp vào danh mục các loài thực vật cần được bảo

tồn (bảng 3.6) Trong đó, theo Sách đỏ Việt Nam (2007) có Gõ mật (Sindora

siamensis Teijsm ex Miq var siamensis), Giáng hương trái to (Pterocarpus

macrocarpus Kurz) được xếp vào tình trạng Nguy cấp EN (Endangered); Cốt toái

bổ (Drynaria bonii C Christ), Cà na (Elaeocarpus hygrophylus Kurz), Sơn rừng (Melanorrhoea laccifera Pierre), Sâm cau (Peliosanthes teta Andrews), Luân thuỳ Cambốt (Spirolobium cambodianum H.Baill.) được xếp vào tình trạng Sẽ nguy cấp

VU (Vulnerable)

Theo IUCN (2011), tình trạng EN có 2 loài là Dầu con rái (Dipterocarpus

alatus Roxb ex G Don), Sến đỏ (Shorea roxburghii G Don); tình trạng VU có 1 loài Sao đen (Hopea odorata Roxb.); các loài Mù u (Calophyllum inophyllum L.), Thành ngạnh đẹp (Cratoxylum formosum (Jack) Dyer), Dầu trà ben (Dipterocarpus

obtusifolius Teysm.), Hồ liên lớn (Holarrhena pubescens (Buch.- Ham.) Wall ex G.Don), Cầy (Irvingia malayana Oliv ex Benn.), Máu chó cầu (Knema globularia (Lamk.) Warb.), Nắp bình (Nepenthes mirabilis (Lour.) Bruce), Gõ mật (Sindora

siamensis Teijsm ex Miq var siamensis), Tung (Tetrameles nudiflora R.Br) được xếp vào tình trạng Hiểm họa thấp/ Ít quan tâm LR/Lc (Lower risk/Least concern);

Nấp ấm thorel (Nepenthes thorelii Lecomte) được xếp vào tình trạng Thiếu dẫn liệu

DD (Data deficient)

Theo Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (2007), Cốt toái bổ (Drynaria bonii C

Christ) với tình trạng Sẽ nguy cấp VU

Căn cứ vào Nghị định 32 của Chính phủ (2006), 2 loài Giáng hương trái to

(Pterocarpus macrocarpus Kurz) và Gõ mật (Sindora siamensis Teijsm ex Miq var siamensis) nằm trong nhóm IIA – Thực vật rừng hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại

Trang 33

Kết quả khảo sát cho thấy, có 10 loài trong tổng số 433 loài cây thuốc (chiếm 2,31%) ở vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát nằm trong Danh mục vị thuốc Y học cổ truyền (Bộ Y tế) (bảng 3.7) Những vị thuốc này được sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, là căn cứ để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, bảo đảm nhu cầu điều trị và thanh toán tiền thuốc cho các đối tượng người bệnh, người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế

Bảng 3.7 Cây thuốc có trong Danh mục vị thuốc Y học cổ truyền

1 Brucea javanica (Bl.) Merr Nha đạm tử Fructus Bruceae

2 Cassytha filiformis L Cù mạch Herbe Cassythae filiformis

3 Eclipta prostrata L Cỏ nhọ nồi Herbe Ecliptae

4 Eleusine indica (L.) Gaertn Mần trầu Eleusine Indice

5 Kaempferia galanga L Địa liền Rhizome Kaempferiae galangae

6 Mimosa pudica L Trinh nữ (xấu hổ) Herbe Mimosa pudice

7 Morinda officinalis How Ba kích Radix Morindae officinalis

8 Rubus alceaefolius Poiret Phúc bồn tử Fructus Rubi alceaefolii

9 Stemona tuberosa Lour Bách bộ Radix Stemonae tuberosae

10 Strychnos nux-vomica L Mã tiền (chế) Semen Strychni

3.4 Đa dạng về giá trị cây thuốc của VQG Lò Gò – Xa Mát

3.4.1 Phân chia theo số lượng bộ phận sử dụng

Theo kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong dân gian, có thể sử dụng toàn cây hoặc một bộ phận của cây, mỗi bộ phận có một tác dụng chữa bệnh khác nhau như

cây Chè lông (Aganosma acuminata (Roxb) G Don.) lá sắc uống bổ, chữa thiếu máu, lợi tiểu, tiêu thũng; rễ cây dùng sắc uống trong trường hợp rối loạn đường tiết niệu, làm tăng lực, trị sốt và điều kinh; thân và rễ hãm lấy nước uống lợi sữa; thân cây được dùng phối hợp với cây khác dùng chế thuốc súc miệng [10] Vỏ dây Đỗ

trọng nam (Parameria laevigata (Juss.) Moldenke) dùng chữa phong thấp đau lưng,

mỏi gối, thận hư liệt dương, sưng, tê phù, huyết áp cao [10] Bên cạnh đó người ta

Trang 34

có thể kết hợp hai hay nhiều bộ phận của cùng một cây hoặc kết hợp giữa các cây

thuốc khác nhau để có tác dụng chữa bệnh tốt nhất, ví dụ như Cỏ tranh (Imperata

cylindrica (L.) P Beauv var major (Nees) Hubb) chữa chứng đái gắt, người nóng nhiệt khi kết hợp với các vị thuốc khác: Rễ tranh 25g, Mã đề 12g, Cát căn 12g, Cối xay 12g, Đậu đen (sao vàng) 20g Đổ 600ml nước nấu sôi 15 phút uống dần [32] Kết quả điều tra trong số 433 loài cây thuốc ở VQG Lò Gò – Xa Mát thì:

- Có 150 loài sử dụng 1 bộ phận của cây (chiếm 34,64% tổng số 433 loài)

- Có 108 loài sử dụng 2 bộ phận của cây (chiếm 24,94%)

- Có 175 loài sử dụng 3 bộ phận trở lên (hay toàn cây) (chiếm 40,42%)

Như vậy sự kết hợp nhiều bộ phận của cây (từ 3 bộ phận trở lên hay toàn cây) được sử dụng nhiều nhất, sau đó, đến sử dụng một bộ phận chính và ít nhất là sử dụng hai bộ phận của cây thuốc ở VQG Lò Gò – Xa Mát

3.4.2 Phân chia theo phương thức sử dụng cây thuốc

Qua kết quả điều tra, thống kê cây thuốc ở VQG Lò Gò – Xa Mát, có 204 loài dùng ngoài, 378 loài dùng uống và có 127 loài vừa được dùng ngoài vừa sắc uống (bảng 3.8) Trong đó, có 89 loài được sử dụng với hình thức giã đắp, dùng lá hay thân non, rễ cây (bộ phận mềm) giã nát ra đắp lên vết thương Để trị ghẻ lở, mụn

nhọt dùng lá non Mạc tâm (Hymenocardia punctata Wall ex Lindl.) nhai phun lên

vết loét sẽ mau lành; dùng để nấu nước tắm, gội hay rửa vết thương cũng được sử dụng nhiều với 37 loài; biện pháp xông hơi được dùng phổ biến, có 52 loài cây thuốc được sử dụng lá, cành, hay thân rễ để nấu nước xông nhằm chữa trị cảm mạo nhanh chóng như Bí bái (Acronychia pedunculata (L) Miq.); dân gian thường sử

dụng cây thuốc để ngâm rượu xoa bóp chữa trị bệnh nhức mỏi chẳng hạn như rượu

Mã tiền (Strychnos nux-vomica L.), có 19 loài được dùng để ngâm rượu xoa bóp và

7 loài dùng nấu cao bôi trị bệnh ngoài da

Sử dụng cây thuốc để uống cũng rất phổ biến với 378 loài Sắc uống là phương thức được sử dụng phổ biến nhất trong “thuốc Nam”, có 327 loài được người dân cũng như “thầy thuốc” kê toa, bốc thuốc cho người bệnh về sắc uống; ngâm rượu uống cũng được dùng nhiều có 22 loài; giã lá hay cành non rồi lấy nước uống được

Trang 35

sử dụng 11 loài điển hình như Tơ xanh (Cassytha filiformis L.) thu hái về rửa sạch,

cắt dây thành từng đoạn nhỏ ngâm nước uống mát, giải khát; thông thường, người dân địa phương không đợi đến bệnh mới chữa trị mà còn dựa vào kinh nghiệm dân gian, hái cây thuốc về nấu nước uống thay trà và phương thức này có 18 loài, ví dụ như để ngăn ngừa bệnh về gan, uống lợi tiểu người dân thu hái Nhân trần

(Adenosma bracteosum Bonati), Cỏ bồng (Ráy leo – Pothos scandens L.) về nấu

nước uống hằng ngày thay trà

Bảng 3.8 Phương thức sử dụng cây thuốc Phương thức sử dụng Phương thức chế biến Số loài Tổng số loài

Dùng ngoài

204

Ngâm rượu xoa bóp 19

Nấu nước tắm, gội, rửa 37

ăn như Sộp (Ficus superba var japonica Miq.), Rau muống (Ipomoea aquatica Forsk.), Rau bợ (Marsilea quadrifolia L.), Súng trắng (Nymphaea pubescens L.), Bứa núi (Garcinia oliveri Pierre), Bí bái (Acronychia pedunculata (L.) Miq.)… Với

nhóm cây dùng khô, thuốc lấy về có thể chặt nhỏ phơi khô hoặc sao ở các mức độ khác nhau dùng sắc uống, ngâm rượu hoặc tán nhỏ thành bột, điển hình như Mù u

(Calophyllum inophyllum L.), Dầu con rái (Dipterocarpus alatus Roxb ex G Don.), Tu hú (Gmelina asiatica L.)… Một số cây có thể vừa dùng tươi và khô như

Trang 36

Ké hoa đào (Urena lobata L.), Bồ ngót (Sauropus androgynus (L.) Merr.), Cỏ mực (Eclipta prostrata L.)…

3.4.3 Phân chia theo tần số sử dụng các bộ phận của cây thuốc

Bảng 3.9 Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc

Các bộ phận khác (hoa, quả, hạt, tinh dầu, nhựa, bào tử…) được sử dụng với hiệu quả khá tốt, chữa lỵ hay một số bệnh về đường tiết niệu Tuy nhiên không phải loài nào cũng sử dụng được tinh dầu, hay hạt hoặc bào tử được mà còn tùy vào từng loài cây có thành phần dược chất và có tác dụng chữa trị hiệu quả, do đó, những bộ phận này được sử dụng với tần suất thấp (từ 5,08% đến 11,09%) Trong quá trình sử dụng cây thuốc thường “Thầy thuốc” căn cứ vào tác dụng của các bộ phận và hàm lượng dược chất để bốc thuốc cho phù hợp

Như vậy, có sự đa dạng trong việc sử dụng các bộ phận của cây thuốc và sự phối giữa các bộ phận của cây để có phương thuốc tốt nhất Do đó, khi khai thác

Trang 37

nguồn dược liệu này cần đảm bảo không ảnh hưởng đến sự sống của cây, phải vừa khai thác vừa bảo tồn để tránh hiện tượng một số loài thuốc bị tuyệt chủng

3.4.4 Phân chia theo công dụng làm thuốc của một loài

Có sự tương quan nghịch giữa số lượng công dụng của một loài và số loài Cụ thể có 149 loài có 1 công dụng, 100 loài có 2 công dụng, 80 loài có 3 công dụng, 63 loài có 4 công dụng, 25 loài có 5 công dụng và 16 loài có đến 6 công dụng (bảng 3.11), vì trên thực tế, tùy vào thành phần dược chất mà vị thuốc (cây thuốc) đó có thể chữa được một bệnh hay một số bệnh, rất ít loài chữa được nhiều bệnh Chẳng

hạn như Ké hoa đào (Urena lobata L.) trị các bệnh thấp khớp, viêm ruột, lỵ, sốt, gãy xương, rắn cắn, hen suyễn; Bồ đào (Syzygium jambos (L.) Alston) trị những bệnh đường hô hấp, tiêu chảy, lỵ, sốt, thanh nhiệt; Hà thủ ô nam (Streptocaulon

juventas (Lour.) Merr.) uống bổ máu, sốt, đau khớp, điều kinh, trị rắn cắn, ghẻ, chữa đau dạ dày… Trong khi đó có những cây người ta mới phát hiện ra được một

công dụng như Dây choại (Stenochlaena palustris (Burm.f.) Bedd.) trị cảm sốt, Quần đầu hoa nhỏ (Polyalthia parviflora Ridl.) trị ho, Bướm bạc Sài gòn (Mussaenda saigonensis Pierre ex Pit.) chữa viêm họng…

Bảng 3.10 Tương quan giữa số công dụng làm thuốc với số cây thuốc

3.4.5 Phân chia theo các nhóm bệnh được chữa trị

Theo y học cổ truyền một cây thuốc có thể chữa được nhiều bệnh và để chữa một bệnh có thể cần kết hợp nhiều cây vị thuốc với nhau Trong quá trình điều tra, thu thập thông tin từ người dân địa phương, thầy thuốc và dựa vào tài liệu của Nguyễn Công Tỷ (1999) [32] và Đỗ Tất Lợi (2009) [17], công dụng của cây thuốc

Trang 38

VQG Lò Gò – Xa Mát được phân chia theo 20 nhóm, trong đó, số cây thuốc chữa cảm sốt chiếm tỷ lệ nhiều nhất (129 loài), số cây thuốc cầm máu được sử dụng ít nhất (5 loài) (bảng 3.10)

Bảng 3.11 Sự đa dạng các nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc

2 Cây thuốc chữa tê thấp, đau nhức 121

3 Cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa 110

5 Cây thuốc đắp vết thương, rắn rết cắn 86

6 Cây thuốc chữa đi lỏng, đau bụng 74

10 Cây thuốc chữa bệnh mắt, tai, mũi, răng, họng 47

11 Cây thuốc thông tiểu và thông mật 44

13 Cây thuốc bồi dưỡng nguồn gốc thảo mộc 31

14 Cây thuốc chữa bệnh ở bộ máy tiêu hóa 25

16 Cây thuốc ngủ, an thần, trấn kinh 19

3.5 Bộ sưu tập mẫu thực vật cây thuốc VQG Lò Gò – Xa Mát

Trong thời gian nghiên cứu, đã thu được 70 mẫu tiêu bản khô của 35 loài cây thuốc (bảng 3.12 và phụ lục 3) trong khu hệ thực vật ở vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát Bộ sưu tập thực vật được xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích học tập,

Trang 39

nghiên cứu, bảo tồn, trưng bày triểnlãm và là minh chứng cho những loài cây thuốc

đã từng xuất hiện tại VQG Lò Gò – Xa Mát

Bảng 3.12 Danh sách các loài trong bộ sưu tập mẫu tiêu bản STT TÊN TI ẾNG

VI ỆT TÊN KHOA HỌC S Ố HIỆU M ẪU

7 Răng cưa Campylospermum serratum (Geartn.) Bittr & Amar L004

9 Găng tu hú Catunaregam spinosa (Thunb.) Tirveng L002

10 U dước, Re lá tù Cinnamomum bejolghota (Buch.-Ham ex Nees) Sweet L017

12 Thành ngạnh Nam Cratoxylum cochinchinensis (Lour.) Bl L020

13 Lôi Crypteronia paniculata Bl.var affinis (Pl.) Beus L034

14 Nhãn chày Dasymaschalon lomentaceum Fin & Gagnep L009

18 Ngái khỉ Ficus hirta var roxburghii (Miq.) King L003

21 Cầy, Kơnia Irvingia malayana Oliv ex Benn L022

23 Mớp gai, Ráy mớp Lasia spinosa (L.) Thw L026

24 Cà giâm Mitragyna diversifolia (G.Don) Havil L027

25 Bướm bạc Cambốt Mussaenda cambodiana Pierre L028

26 Gáo trắng Neolamarckia cadamba (Roxb) Bosser L035

27 Nắp ấm Thoreli Nepenthes thorelii Lecomte L001

30 Hồng sim Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk L014

31 Dây mã tiền Strychnos angustiflora Benth L023

33 Chiêu liêu nghệ Terminalia triptera Stapf L021

Trang 40

3.6 Một số cây thuốc được sử dụng phổ biến ở VQG Lò Gò – Xa Mát 3.6.1 Nhân trần – Adenosma bracteosum Bonati

Họ thực vật: Scrophulariaceae – Họ Hoa mõm chó

Mô tả: Cây thảo không lông, rất thơm, cao 20-30cm; thân có 4 cạnh; cành màu

tím đỏ Lá không cuống, phiến thon, dài 2-2,5cm, rộng 6-8cm, mép có răng nhọn, mặt dưới có ít lông, có tuyến

Cụm hoa có nhiều lá bắc xoan nhọn, có ít lông, có tuyến ở mặt ngoài, kết lợp thành hoa đầu hình trụ cao; lá đài 5, không bằng nhau; tràng lam, có ống cao 6mm, môi dưới có 3 thùy bằng nhau, có lông, chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu nâu

Sinh thái: Mọc ở nơi sáng và ẩm, ở các bãi hoang, ruộng hoang, ở độ cao 800m

300-Ra hoa tháng 10-12, tàn lụi vào tháng 1-2

Hình 3.4 Nhân trần (Tuyến hương lá to) – Adenosma bracteosum Bonati

Phân bố: Ở Tây Ninh, ngoài ra còn có ở Kon Tum, Tp Hồ Chí Minh Thế giới

có ở Lào, Campuchia

Bộ phận dùng: Toàn cây – Herbe Adenosmatis Bracteosi

Thành phần hóa học: Có 0,25% tinh dầu màu vàng, trong đó có cineol 18% và

các flavonoid, hợp chất polyphenol và coumarin

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  Bản đồ khu vực nghiên cứu - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 1.1. Bản đồ khu vực nghiên cứu (Trang 10)
Hình 3.5 . Lá và quả Mù u –  Calophyllum inophyllum L. - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.5 Lá và quả Mù u – Calophyllum inophyllum L (Trang 42)
Hình 3.6 . Thành ngạnh đẹp –  Cratoxylum formosum (Jack) Dyer - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.6 Thành ngạnh đẹp – Cratoxylum formosum (Jack) Dyer (Trang 44)
Hình 3.7.  Dầu con rái –  Dipterocarpus alatus Roxb. ex G. Don - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.7. Dầu con rái – Dipterocarpus alatus Roxb. ex G. Don (Trang 45)
Hình 3.9.  Cốt toái bổ (Tắc kè đá) –  Drynaria bonii C. Christ. - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.9. Cốt toái bổ (Tắc kè đá) – Drynaria bonii C. Christ (Trang 49)
Hình 3.11.  Mức hoa trắng –  Holarrhena pubescens (Buch.- Ham.) Wall. ex - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.11. Mức hoa trắng – Holarrhena pubescens (Buch.- Ham.) Wall. ex (Trang 51)
Hình 3.12.  Sao đen –  Hopea odorata Roxb. - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.12. Sao đen – Hopea odorata Roxb (Trang 53)
Hình 3.13.  Cầy (Kơ nia) –  Irvingia malayana Oliv. ex Benn. - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.13. Cầy (Kơ nia) – Irvingia malayana Oliv. ex Benn (Trang 55)
Hình 3.14.  Máu chó cầu –  Knema globularia (Lamk.) Warb - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.14. Máu chó cầu – Knema globularia (Lamk.) Warb (Trang 56)
Hình 3.15.  Sơn rừng (Sơn huyết) –  Melanorrhoea laccifera Pierre - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.15. Sơn rừng (Sơn huyết) – Melanorrhoea laccifera Pierre (Trang 57)
Hình 3.17 . Nắp ấm lá men –  Nepenthes thorelii Lecomte. - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.17 Nắp ấm lá men – Nepenthes thorelii Lecomte (Trang 60)
Hình 3.18. Hoa Sâm cau – Peliosanthes teta Andrews - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.18. Hoa Sâm cau – Peliosanthes teta Andrews (Trang 61)
Hình 3.22 . Luân thùy Cambốt –  Spirolobium cambodianum H.Baill - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.22 Luân thùy Cambốt – Spirolobium cambodianum H.Baill (Trang 65)
Hình 3.23.  Lá, quả Bá bịnh –  Eurycoma longifolia Jack subsp. longifolia - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.23. Lá, quả Bá bịnh – Eurycoma longifolia Jack subsp. longifolia (Trang 67)
Hình 3.24. Cổ rùa (Huyết đằng lông) –   Butea superba Roxb - điều tra thành phần loài cây thuốc ở vườn quốc gia lò gò   xa mát, tỉnh tây ninh
Hình 3.24. Cổ rùa (Huyết đằng lông) – Butea superba Roxb (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm