Hoạt động du lịch thì sự ảnh hưởng của yếu tố khí hậu cũng là rất lớn, nhất là đối với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch chữa bệnh,… Và một mối quan hệ không thể tách r
Trang 1TÔ HOÀNG KIA
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU
Trang 2TÔ HOÀNG KIA
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU
Trang 3Tôi xin cam đoan với Khoa Địa lý, Hội đồng khoa học Trường Đại học sư
cứu của tôi, không có sự sao chép bất kì luận văn, luận án hay đề án khác Nếu có sai phạm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người cam đoan
TÔ HOÀNG KIA
Trang 41 Tính c ấp thiết của đề tài 1
2 L ịch sử các vấn đề nghiên cứu 4
3 M ục đích và nhiệm vụ của đề tài 6
4 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu 6
5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
6 Nh ững đóng góp của luận văn 9
7 C ấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KHÍ HẬU, DU LỊCH NGH Ỉ DƯỠNG, DU LỊCH CHỮA BỆNH 11
1.1 TÀI NGUYÊN KHÍ H ẬU DU LỊCH 11
1.2 SINH KHÍ HẬU VÀ SINH KHÍ HẬU SỨC KHỎE CON NGƯỜI 13
1.2.1 Khái ni ệm về SKH 13
1.2.2 Sinh khí h ậu sức khỏe con người 14
1.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết đối với cơ thể người 15
1.2.4 Các ch ỉ tiêu đánh giá điều kiện SKH 37
1.3 DU LỊCH 40
1.3.1 Khái ni ệm 40
1.3.2 Các lo ại hình du lịch 41
1.3.3 Du l ịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh 42
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN SKH ĐỐI VỚI DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG VÀ DU LỊCH CHỮA BỆNH Ở Á VÙNG NAM BỘ 44
2.1 tổng quan về á vùng nam bộ 44
2.1.1Tổng quan về á vùng du lịch Nam Bộ 46
2.1.2 Các yếu tố khí hậu của Á vùng du lịch Nam Bộ 54
Trang 52.1.3 Cơ sở dữ liệu để tính toán các chỉ số SKH 70
2.2.2 Đánh giá DI và RSI đối với DLND và DLCB vùng Nam Bộ 70
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ KHAI THÁC HIỆU QUẢ DU L ỊCH Ở Á VÙNG NAM BỘ DỰA VÀO ĐIỀU KIỆN SKH 91
3.1 Định hướng 91
3.1.1 Theo định hướng chung của cả nước 91
3.1.2 Theo định hướng của á vùng 92
3.1.3 D ựa trên kết quả tính toán SKH 98
3.1 Giải pháp sử dụng điều kiện SKH để phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở á vùng Nam Bộ 110
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 117
Trang 61 SKH: sinh khí hậu
2 DLND: du lịch nghỉ dưỡng
3 DLCB: du lịch chữa bệnh
6 DI (discomfort index): chỉ số bất tiện nghi
7 RSI (Relative Strain Index): chỉ số căng thẳng tương đối
Trang 7Trang
1 Bảng 1.1: Một số giới hạn sinh lí liên quan đến nhiệt độ 18
2 Bảng 1.2: Nhiệt trở chung của bộ quần áo 22
3 Bảng 1.3: Tổng hợp phân loại ảnh hưởng của độ ẩm 24
4 Bảng 1.4: Phản ứng của cơ thể với tốc độ gió 24
5 Bảng 1.5: Bảng phân loại khí hậu tốt xấu đối với sức khỏe 25
6 Bảng 1.6: Chỉ tiêu sinh học đối với con người 35
7 Bảng 1.7: Mức cảm giác nhiệt của con người 36
8 Bảng 1.8: Giá trị về giới hạn của các tác động khác nhau của chỉ số RSI 38
9 Bảng 2.1: Danh sách các trạm khí tượng, khí hậu 43
10 Bảng 2.2: Tổng hợp đánh giá tài nguyên khí hậu tiểu vùng ĐNB du lịch tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng và chữa bệnh 43
11 Bảng 2.3: Tổng hợp đánh giá tài nguyên khí hậu vùng ĐNB du lịch tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng và chữa bệnh 44
12 Bảng 2.4: Thời gian hoạt động của một số loại thời tiết gây trở ngại đến phát triển du lịch ở một số khu vực của Việt Nam 44
13 Bảng 2.5: So sánh các điều kiện SKH của các địa phương ở 2 tiểu vùng 44
14 Bảng 2.6: Lượng mây trung bình tháng và năm 53
15 Bảng 2.7: Số giờ nắng trung bình tháng và năm 54
16 Bảng 2.8: Nhiệt độ trung bình tháng và năm 56
17 Bảng 2.9: Biên độ nhiệt ngày đêm của trung bình tháng và năm 57
18 Bảng 2.10: Độ ẩm trung bình tháng và năm 59
19 Bảng 2.11: Lượng mưa trung bình tháng và năm 60
20 Bảng 2.12: Số ngày có mưa trung bình tháng và năm 61
21 Bảng 2.13: Tốc độ gió trung bình tháng và năm 63
Trang 824 Bảng 2.16: Thời gian hoạt động của một số loại thời tiết gây trở ngại đến
phát triển du lịch ở một số khu vực của Việt Nam 66
25 Bảng 2.17: Đánh giá tài nguyên khí hậu đối với hoạt động
DLND và CB ở vùng Nam Bộ 67 25.Bảng 2.18: Kết quả tính toán DI trung bình 5 năm (2007-2011) 69
26 Bảng 2.19: Tổng hợp đánh giá điều kiện DI á vùng Nam Bộ
phục vụ cho DLND và DLCB 74
27 Bảng 2.20: Kết quả tính toán RSI trung bình 5 năm (2007-2011) 75
phục vụ cho DLND và DLCB 82
29 Bảng 2.22: Kết quả đánh giá điều kiện SKH cho DL và ND bằng
phương pháp thang điểm có trọng số 85
Trang 9Trang
1 Hình 1.1: Sơ đồ về SKH 13
2 Hình 1.2: Bức xạ Mặt trời đến Trái Đất .14
3 Hình 2.1: Lược đồ á vùng Nam Bộ 42
4 Hình 2.2: Lược đồ các trạm khí tượng khảo sát trong luận văn 44
5 Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện mức DI trung bình 5 năm (2007-2011) của tiểu vùng ĐNB 70
6 Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện mức DI trung bình 5 năm (2007-2011) của các địa phương vùng ĐBSCL 72
7 Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện mức RSI trung bình 5 năm (2007-2011) của các địa phương vùng ĐNB 76
8 Hình 2.6: Biểu đồ thể hiện mức RSI trung bình 5 năm (2007-2011) của các địa phương vùng ĐBSCL 79
9 Hình 2.7: Lược đồ SKH á vùng du lịch Nam Bộ 88
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Khí hậu là yếu tố gắn liền với lịch sử phát triển của Trái Đất và nó tác động đến tất cả các lĩnh vực sản xuất cũng như đời sống con người
Thật vậy, ở những vùng địa lý khác nhau thì hình thành các dạng địa hình, các loại đất, chế độ thủy văn hay các thảm thực vật khác nhau và điển hình cho từng vùng Tại sao lại như vậy? Tất cả đều do một yếu tố gây ra: đó là khí hậu
Và trong quá trình phát triển của xã hội loài người, thì những nơi có điều
kiện tự nhiên thuận lợi nhất là những nơi có điều kiện khí hậu ôn hòa, không quá
khắc nghiệt chính là những nơi con người tập trung đông nhất
Xã hội loài người đã và đang trải qua các nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và bây giờ là nền văn minh hậu công nghiệp với sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ Tuy nhiên, dù là nền văn minh nào đi nữa, con người và xã hội loài người cũng không thể tách rời và không chịu tác động của các yếu tố khí tượng khí hậu (mây, mưa, nắng,…) Vì con người của chúng ta cần phải thở,… nông
môi,…ngay cả trong kiến trúc xây dựng thì ở mỗi vùng miền địa lý khác nhau cũng
có các kiểu kiến trúc khác nhau do tác động của yếu tố khí hậu
Chính vì sự tác động và tầm ảnh hưởng quan trọng của khí hậu như vậy, mà
từ lâu nay khí hậu vẫn luôn là yếu tố được quan tâm nghiên cứu, từ nông dân cho đến các nhà khoa học Nếu trước đây việc nghiên cứu khí hậu chưa có sự gắn kết
với việc nghiên cứu mối liên hệ giữa khí hậu với các cơ thể sống, thì ngày nay, việc xem xét tác động khí hậu đến đời sống con người và các hoạt động sản xuất, các nhà khoa học thường kết hợp với quan điểm sinh thái Chính sự kết hợp này, đã làm cho việc nghiên cứu khí hậu được toàn diện và đầy đủ hơn, thiết thực và cụ thể hơn, mang đậm tính sinh thái hơn và phục vụ trực tiếp cho những mục đích chuyên sâu
Trang 11Nói một cách ngắn gọn nghiên cứu khí hậu ứng dụng trên quan điểm sinh thái học chính là nghiên cứu sinh khí hậu (bioclimate).
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người đã từng bước làm nên những ngôi nhà từ thô sơ đến phức tạp để chống lại những điều kiện bất lợi của
thời tiết và thoả mãn nhu cầu sống ngày càng cao Từ đó, dẫn đến việc xuất hiện các
loại hình nhà khác nhau trên những khu vực có điều kiện khí hậu khác nhau Đặc
biệt, các loại hình nhà này đã không ngừng được cải tiến, biến đổi và hoàn thiện để (thích nghi) tận dụng tối đa những thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất những bất
lợi của điều kiện khí hậu, thời tiết khu vực mà con người sinh sống.
Ngày nay, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kiến trúc, khí hậu và con người
vẫn đang được các kiến trúc sư tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi nhằm thiết kế và xây
dựng nên những công trình kiến trúc hiện đại và giàu bản sắc dân tộc Các công trình này phải vừa thoả mãn được nhu cầu của con người vừa tiết kiệm năng lượng
và bảo vệ môi trường,… thể hiện qua các xu hướng kiến trúc tiêu biểu hiện nay như
Kiến trúc có hiệu quả năng lượng (Energy efficient building), Kiến trúc bền vững (Sustainable Architecture), Kiến trúc xanh (Green Architecture),… Hạt nhân của các xu hướng này chính là Kiến trúc Sinh Khí hậu (Bioclimatic Architecture)
Còn trong nông nghiệp, thì thể hiện rõ nhất trong bài thơ “Đi Cấy”: ….Trông trời, trông đất, trông mây; Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm….Như vậy, trong nông nghiệp thì yếu tố khí hậu càng đóng quan trò quan trọng, mang tính quyết định thời vụ, năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp
Hoạt động du lịch thì sự ảnh hưởng của yếu tố khí hậu cũng là rất lớn, nhất là đối với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch chữa bệnh,…
Và một mối quan hệ không thể tách rời, đó chính là diễn biến thời tiết với sức khỏe cũng như tâm trạng tâm lý con người.Những điều kiện thời tiết diễn biến khác nhau, có thể gây nên những biến đổi sinh lý trong cơ thể người ta khác nhau
Trang 12Điều này ngay từ thời xa xưa con người đã nhận ra và ngày nay đã được khoa học chứng minh.
Ngày nay y học đã chứng minh sự thay đổi thời tiết có thể kích thích hàng loạt người gây ra những ảnh hưởng đến tuần hoàn máu ở não, nhức đầu, đau lưng, nhức xương, mệt mỏi, đau nhói vùng tim Ở những người đứng tuổi có bệnh mạn tính thì thời tiết thay đổi làm cho tình trạng bệnh tăng lên Các công trình nghiên cứu trên thế giới 100 năm gần đây cho thấy có sự liên quan giữa thời tiết nóng bức với sự gia tăng các loại tội phạm hình sự Con người ta trở nên hung hăng hơn khi thời tiết quá nóng Còn ở Mỹ, một số nhà khoa học nước này nhận xét: sự chuyển mùa, thay đổi thời tiết có thể ảnh hưởng đến tâm lý, đến hành vi cư xử của hơn 27% dân Mỹ Ngoài những ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe, tâm trạng và tâm lý con người như trên, khí hậu còn có một số tác dụng có thể chữa một số bệnh như: diệt khuẩn trên da,….Và chính điều này đã thôi thúc các nhà y học nghiên cứu ứng dụng của khí hậu vào việc chữa một số bệnh
Như vậy, khí hậu ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động sản xuất từ nông nghiệp, công nghiệp cho đến hoạt động du lịch, y tế,….Việc nghiên cứu sinh khí hậu trong các lĩnh vực sản xuất cũng như sinh khí hậu người hiện nay rất được quan tâm Đã có nhiều bài báo, nhiều quyển sách viết về sinh khí hậu phục vụ trong nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, mối quan hệ giữa khí hậu với vấn đề lao động,….hay những đề tài về sinh khí hậu của một quốc gia, sinh khí hậu Việt Nam, sinh khí hậu vùng biển,….Tuy nhiên, sinh khí hậu từng vùng của Việt Nam thì chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, đặc biệt là sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và
du lịch chữa bệnh (sinh khí hậu người) Nhận thấy, đây là một hướng đề tài khá mới
mẻ ở Việt Nam và khá hay, có tính ứng dụng thực tiễn cao, nhưng với khả năng
HẬU ĐỐI VỚI DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG VÀ DU LỊCH CHỮA BỆNH Ở Á VÙNG NAM BỘ
Trang 132 L ịch sử các vấn đề nghiên cứu
Sinh khí hậu đã được các nhà khoa học các nước trên thế giới nghiên cứu từ
rất lâu Còn ở Việt Nam thì đây là lĩnh vực khá mới mẻ, còn non trẻ; tuy vậy, việc
nhiều lĩnh vực
a Trên th ế giới
- Cơ sở sinh khí hậu phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng – điển hình ở Ba Lan của Giáo sư Krzysztof Blazejczyk, Khoa Địa lý và nghiên cứu vùng thuộc đại học Warsaw, Ba Lan Bài báo nói về sự đánh giá của tác giả đối với tài nguyên sinh khí
hậu đối với việc nghỉ dưỡng ở Ba Lan Tác giả đưa ra các tiêu chuẩn về các thành
phần trong khí quyển đối với việc chăm sóc sức khỏe của người Ba Lan, cũng như
bảng phân loại thời tiết nhiệt sinh học
- Sự so sánh đơn giản về điều kiện sinh khí hậu người trong thời kì nóng/lạnh
ở một số thành phố của Mexico của A.Têjêda-Martinez (Đại học Veracruzana) và
thành phố, 2 tác giả đưa ra 4 chỉ số: DI (Discomfort Index - chỉ số bất tiện nghi), ET (Effective temperature – Nhiệt độ phù hợp), I (Enthalpy Index – chỉ số bức xạ nhiệt), và HIS (Heat Strain index – chỉ số nhiệt căng thẳng) Trên cơ sở tính toán các chỉ số trên, so sánh các chỉ số này giữa 2 thành phố, trong 2 thời kì nóng/ lạnh, các tác giả đã đưa ra kết luận về sự thuận lợi và khó khăn của sinh khí hậu giữa các thành phố của Mexico
b Ở Việt Nam
chưa đưa ra kết quả nghiên cứu sinh khí hậu người đối với hoạt động du lịch của
từng vùng cụ thể
- Một nghiên cứu khá đầy đủ và là tài liệu tham khảo rất quan trọng về SKH,
đó là Giáo trình cơ sở SKH của PGS.TS.Nguyễn Khanh Vân Tác giả đã trình bày
Trang 14một cách khái quát nhất về SKH thảm thực vật tự nhiên, SKH vật nuôi và SKH người, cũng như mối quan hệ giữa SKH với các khoa học khác
- Nguyễn Khanh Vân ngoài Luận án Tiến sĩ “ Phân loại SKH thảm thực vật tự
Địa lý); Điều kiện SKH hậu dải ven biển Việt Nam (1998); Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của việc xây dựng bản đồ SKH ở Việt Nam (1991); Xây dựng bản
đồ SKH Việt Nam tỉ lệ 1:1.000.000 (1992); Sử dụng hợp lý tài nguyên SKH cho phát triển sản xuất và cho dân sinh, du lịch vùng hồ Hòa Bình (1993); Nghiên cứu
Classification and assessment of bioclimatic conditions for tourism, health resort
giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch các khu vực biển - đảo bờ đông
và bờ tây vùng Nam Bộ Việt Nam; bài báo này các tác giả một mặt đánh giá các tác động riêng rẽ của các yếu tố khí hậu đến sức khỏe con người, mặt khác sử dụng các
chỉ số SKH tổng hợp Qua bài báo, các tác giả đã chỉ ra sự khác biệt về một số điều
sự khác biệt đó đã ảnh hưởng tới tính mùa vụ có khác nhau của hoạt động du lịch
của bờ đông – tây của Nam Bộ
- Bài báo khoa học: Đánh giá tài nguyên SKH phục vụ phát triển du lịch tỉnh
vụ du lịch ở Thừa Thiên – Huế và trong bài báo này 2 tác giả sử dụng Chỉ số bất
tiện nghi – DI, để đánh giá SKH
- Nghiên cứu ứng dụng thông tin khí hậu phục vụ y tế và du lịch – Tạp chí khí tượng thủy văn tháng 5/2011, cũng đưa ra các chỉ số: TCI (Tourism Climate Index –
Chỉ số khí hậu du lịch); RSI (Relative Strain Index)
Trang 15Như vậy, qua lịch sử nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, học viên
th ấy rằng: việc nghiên cứu SKH phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở
á vùng Nam B ộ (Việt Nam) là chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách cụ thể
3 M ục đích và nhiệm vụ của đề tài
a M ục đích của đề tài:
- Tìm hiểu sâu hơn về điều kiện sinh khí hậu con người, mối quan hệ giữa khí
hậu với sức khỏe con người, giữa khí hậu với du lịch
lợi nhất, tương đối thuận lợi và ít thuận lợi ở á vùng Nam Bộ đối với hoạt động du
lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh
- Kiến nghị một số giải pháp để quy hoạch và phát triển du lịch bền vững ở á vùng Nam bộ trên cơ sở SKH
b Nhi ệm vụ của đề tài:
du lịch trên các cơ sở lý luận và thực tiễn
bệnh ở vùng Nam Bộ, đề tài đưa ra những điểm du lịch có SKH tốt và thời gian du
lịch tốt nhất đối với loại hình du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở vùng Nam Bộ
- Sử dụng các chỉ số tính toán SKH tại một số điểm du lịch ở vùng Nam Bộ
4 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu
a Không gian: nghiên cứu SKH phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch
vùng, tác giả chỉ đánh giá SKH ở một vài địa điểm chứ không đánh giá tất cả các địa điểm du lịch trong mỗi tiểu vùng (Cụ thể, trong luận văn này học viên sẽ tính toán số liệu của 10 trạm khí tượng; riêng tỉnh Bình Phước học viên lấy số liệu tại
trạm Phước Long – mỗi tiểu vùng là 5 trạm đại diện)
Trang 16b N ội dung: 2 chỉ số khí hậu tổng hợp thống kê, phân tích, đánh giá điều
kiện SKH phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh Bên cạnh đó, học viên cũng sử dụng các kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan trước đó để so sánh và làm hoàn thiện nội dung của bài luận văn tốt nghiệp
c Th ời gian: Đề tài sử dụng các số liệu quan trắc khí tượng trong 5 năm
gần đây nhất và sẽ được thực hiện kể từ khi đề cương được hội đồng khoa học thông qua
5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
a H ệ thống các quan điểm
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống và được xem là đặc trưng của địa lý học Đó là khi xem xét các sự vật hiện tượng địa
đồng thuận cao bởi trong thực tế các sự vật và hiện tượng địa lý luôn có sự phân hóa về mặt không gian, làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luôn đặt các tỉnh thành phố trong vùng và các vùng trong quan hệ không gian với các vùng khác trong cả nước
- Quan điểm hệ thống: Khí hậu, con người và hoạt động du lịch, cũng như các quá trình vận động của tự nhiên, kinh tế - xã hội không phải là một quá trình đơn lẻ, độc lập mà còn gắn kết với các quá trình vận động tự nhiên, xã hội khác Chúng là
bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, do đó, phải xem xét trên quan điểm hệ thống
động và phát triển của mình không chỉ biến đổi về mặt không gian mà còn có sự thay đổi theo thời gian Đặc biệt là vấn đề khí hậu, con người và nhu cầu của con người luôn có sự đa dạng và biến đổi phức tạp Sự phát triển con người từ quan
niệm, nhận thức, bản chất, thái độ đối xử,…với vấn đề này trong quá khứ luôn có sự ảnh hưởng nhất định đến quá trình đánh giá trong hiện tại và tương lai Nhất là, trong bối cảnh hiện nay, tình trạng biến đồi khí hậu đang diễn ra rất căng thẳng Do
Trang 17đó, việc nghiên cứu đề tài luôn được xem xét trong mối liên hệ quá khứ-hiện tương lai để làm rõ hơn bản chất vấn đề theo thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác
tại Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Quá trình phát triển con người
tác động làm biến đổi môi trường xung quanh Trong tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra và tác động xấu đến cuộc sống loài người Do đó, để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu, con người trong quá trình phát triển của mình cần phải quán triệt quan điểm sinh thái và phát triển bền vững khi nghiên cứu
vấn đề này Phát triển con người phải đi đôi với phát triển kinh tế, công bằng xã hội
và phát triển môi trường bền vững, mục đích cuối cùng là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
b Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, Trên cơ sở sưu tầm nhiều nguồn tài liệu
có liên quan, chúng ta tiến hành lựa chọn và xử lý nguồn thông tin, số liệu đáng tin
cậy nhất phục vụ hiệu quả cho đề tài
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dựa trên việc phân tích nguồn tài liệu đã
có cũng như nhận định từ quan sát thực tế, chúng ta mới có cái nhìn toàn diện về
vấn đề nghiên cứu Từ đó, rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy đủ nhất đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đặt ra
làm tăng tính định lượng trong khi lập luận nghiên cứu các sự vật hiện tượng địa lý,
sẽ là giảm đi sự suy đoán định tính
toán từ các số liệu đã thu thập được và sự phát triển có tính quy luật của các sự vật
hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Trang 18- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo tính
của các chuyên gia, những nhà nghiên cứu có liên quan với nội dung của đề tài
6 Nh ững đóng góp của luận văn
người nói chung cũng như mối quan hệ giữa khí hậu – sức khỏe – du lịch
- Xác định rõ điều kiện khí hậu và tài nguyên SKH đối với sức khỏe con người, đối với du lịch và nghỉ dưỡng ở á vùng Nam Bộ
kinh tế vùng, nhất là chính sách phát triển kinh tế du lịch
- Góp phần vào định hướng phát triển du lịch bền vững của á vùng
7 C ấu trúc của luận văn
+ Tính cấp thiết của đề tài + Lịch sử nghiên cứu + Mục đích, nhiệm vụ của đề tài + Giới hạn và phạm vi nghiên cứu + Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu + Những đóng góp của luận văn
+ Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KHÍ
+ Chương 2: ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN SKH ĐỐI VỚI DU LỊCH
Trang 19+ Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DU
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KHÍ HẬU,
DU L ỊCH NGHỈ DƯỠNG, DU LỊCH CHỮA BỆNH
1.1 TÀI NGUYÊN KHÍ H ẬU DU LỊCH
Khí hậu là một loại tài nguyên sớm được khai thác để quy hoạch phát triển
du lịch Từ cuối thế kỷ XVIII đến những năm đầu thế kỷ XX đã có nhiều dự án quy
hoạch phát triển du lịch ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ở những nơi có khí
điều kiện của tài nguyên khí hậu khai thác phục vụ cho các mục đích phát triển du
lịch khá đa dạng như: tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe của con người; tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng; tài nguyên khí hậu phục vụ cho các hoạt động thể thao mùa đông; tài nguyên khí hậu thích hợp cho các hoạt động du lịch tắm, lặn biển và thể thao biển,…
- Tài nguyên khí h ậu thích hợp với sức khỏe con người: Tài nguyên khí hậu
là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, tốc độ gió, hướng gió,
bức xạ nhiệt
Các yếu tố khí hậu thay đổi theo không gian từ xích đạo đến 2 cực, theo độ cao, theo thời gian (tính theo mùa), có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình, vị trí địa
lý, thủy văn và sinh vật, hoạt động sản xuất và đời sống của con người
Vì vậy, các yếu tố của khí hậu ở nhiều nơi trong từng thời gian nhất định có
thể tạo ra những điều kiện sống thoải mái, dễ chịu, tốt cho sức khỏe của con người,
hấp dẫn du khách, tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai nhiều loại hình du lịch Ngược lại, có nhiều địa phương, quốc gia, các yếu tố khí hậu có những ảnh hưởng
việc triển khai các hoạt động du lịch
Trang 21Nhiều nhà khí hậu trên thế giới đã xây dựng các chỉ tiêu khí hậu sinh học để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người (sinh khí hậu người) Các
dụng các chỉ tiêu khí hậu, sinh học để đánh giá những thuận lợi, khó khăn, mức độ phù hợp với sức khỏe con người của khí hậu hoạt động du lịch Trong thực tế,
hoặc quá thấp, tốc độ gió mạnh, ít ánh nắng Những người ở xứ nóng trong những ngày hè oi bức thường thích đi nghỉ mát ở các vùng biển hoặc ở các vùng núi, cao
lạnh thường đi nghỉ đông ở những vùng ấm áp và khả năng chịu lạnh tốt hơn
- Tài nguyên khí h ậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng
Khí hậu là một trong những loại tài nguyên quan trọng để phát triển loại hình
du lịch chữa bệnh, an dưỡng Một số loại bệnh như huyết áp, tim mạch, thần kinh,
hô hấp rất cần được điều trị, có sự kết hợp giữa các liệu pháp y học với tài nguyên
du lịch tự nhiên thuận lợi, đặc biệt là điều kiện khí hậu trong lành, mát mẻ Các điều
kiện thuận lợi về áp suất không khí, nhiệt độ, độ ẩm, ánh nắng, độ trong lành của không khí có tác dụng tốt cho việc chữa lành bệnh và phục hồi sức khỏe của con người
khoáng, bãi biển đẹp, có nhiều ánh nắng, nơi có phong cảnh đẹp, các điểm du lịch
phát triển ở những nơi có khí hậu tốt, thích hợp với sức khỏe của con người như ở ven các hồ, ven biển và các vùng núi, cao nguyên
Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải trí
Trang 22Các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải trí như bơi thuyền, lướt ván, bơi
lội, lặn, tắm biển, hồ, thường được triển khai ở những vùng ven biển, hồ có các điều
kiện về tốc độ gió và nhiệt độ của nước phù hợp và nhiều ánh nắng
- Tài nguyên khí h ậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch
Những điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động du lịch
và hấp dẫn du khách được coi là tài nguyên du lịch như: có nhiều ngày thời tiết tốt,
số ngày mưa ít, nhiều ánh nắng, tốc độ gió không quá lớn, độ ẩm không khí không quá cao cũng không quá thấp, không có hoặc ít thiên tai và những diễn biến thời tiết đặc biệt Bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch của khí hậu, ở các địa phương, các quốc gia trong nhiều thời kỳ trong năm còn có những yếu tố khí hậu không thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động du lịch như: những thời
kỳ mưa nhiều, nhiệt độ, độ ẩm quá cao hoặc quá thấp, tốc độ gió lớn, có nhiều thiên tai Để khắc phục được tính mùa vụ, những hạn chế của khí hậu đối với các hoạt động du lịch cần phải nghiên cứu, đánh giá cả những điều kiện thuận lợi và không thuận lợi để có những định hướng, giải pháp khai thác có hiệu quả các điều kiện thuận lợi, hạn chế những tác động tiêu cực của khí hậu với các hoạt động du lịch
1.2 SINH KHÍ H ẬU VÀ SINH KHÍ HẬU SỨC KHỎE CON NGƯỜI 1.2.1 Khái ni ệm về SKH
điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1991, tr.365: “SKH là bộ môn khoa học liên
đối với cơ thể sống SKH chú trọng nghiên cứu tác động của các yếu tố khí hậu
(bức xạ, nhiệt độ, độ ẩm,…) trong thời gian dài và theo dõi tác động của thời tiết trong phạm vi từng vùng và trong từng khu vực nhỏ (vi khí hậu), trong cảnh quan
và thiết bị chuồng trại do con người tạo nên cho cây trồng vật nuôi Nghiên cứu
Trang 23SKH là cơ sở cho việc nghiên cứu tính thích nghi của sinh vật để nâng cao sức sản
xuất của một môi trường nhất định”
trong các lĩnh vực: lâm nghiệp, nông nghiệp, y học, du lịch, xây dựng trên quan điểm sinh thái”
Hình 1.1: Sơ đồ về SKH
Như vậy, SKH ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực đời sống và việc
nghiệp, du lịch,…
1.2.2 Sinh khí h ậu sức khỏe con người
Sinh thái h ọc Khí h ậu học
SKH nông nghiệp
Sinh khí h ậu
Kiến trúc SKH
Trang 24SKH sức khỏe con người nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu-thời
tiết lên cơ thể người (các cơ quan cảm thụ, sức khỏe con người nói chung) phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế du lịch, điều dưỡng cũng như các hoạt động sản xuất khác của con người
1.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết đối với cơ thể người
1.2.3.1 B ức xạ Mặt Trời
Hình 1.2: B ức xạ Mặt Trời đến Trái Đất
Trang 25Bức xạ Mặt Trời gồm một dãy phổ từ khoảng 108đến 1010cm Tuy nhiên, chỉ
có một ít tia có thể lọt qua được một số “cửa ngăn” nhất định trong khí quyển
phạm vi từ 302μm đến 780μm nhưng nhạy cảm nhất với các tia có bước sóng 550μm
phản xạ hắt lại, nhưng có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta qua da và mắt Những tia phản xạ được trên bề mặt của lớp da người bao gồm các tia nhìn thấy được (đỏ,
da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím) và các tia gần sát với tia hồng ngoại Da trắng
phản xạ được trên 40% bức xạ Mặt Trời, khả năng phản xạ của da màu thấp hơn da
trắng Mức độ phản xạ đó đối với tia tử ngoại cũng tương tự như tia hồng ngoại
nhỏ Các tia nhìn thấy được và các tia gần sát với tia hồng ngoại có thể lọt qua lớp thượng bì, nên sức nóng của bức xạ Mặt Trời có thể lưu lại một phần trong lớp bì và các lớp mô ở sâu hơn Tia tử ngoại và tia hồng ngoại được hấp thụ chủ yếu ở lớp
sừng của da
Trong điều kiện môi trường nóng quá hoặc ẩm quá, nhiệt lượng sẽ cộng thêm vào tải trọng nhiệt toàn phần làm cho chúng ta bị râm nắng hoặc say nắng Ở các
vùng như sa mạc nhiệt đới hoặc ở các khu rộng lớn phủ đầy tuyết, gặp lúc quang
Trang 26của hiện tượng da sạm Các tia tử ngoại có bước sóng khoảng 0,36μ gây hiện tượng
sắc tố hóa tức thời
Người da trắng chưa thích nghi với với nắng vào giữa trưa tháng VI phơi
n ắng ở vùng vĩ độ 50 sẽ bị nổi những vết đỏ đầu tiên sau 3-20 phút phơi nắng, da bị rám đổ bão hòa sau 30-70 phút phơi nắng Các tia chiếu mạnh hơn sẽ dẫn đến hiện
tượng da bị rám đỏ đau rát, phù nề và cuối cùng phồng rộp, ta thường gọi là cháy
nắng cáp Người da đen hầu như miễn dịch, không mẫn cảm với da mẫn đỏ
Tia tử ngoại gây đỏ da có tác động thay đổi tùy theo độ cao của Mặt Trời và
độ che phủ của mây Khi Mặt Trời lên cao tới 600 trên đường chân trời, và độ cao 350m so với mực nước biển, tác động gây đỏ da của tia tử ngoại lớn hơn 45% Khi
Mặt Trời ở vào khoảng 40-600 trên đường chân trời tác động này sẽ tăng gấp đôi
Tuyết là vật phản xạ tự nhiên quan trọng duy nhất đối với tia tử ngoại, tia này thường gây nên rám nắng phần da dưới mũi, cằm và giác mạc mắt Kính thủy tinh không màu, quần áo ở trạng thái rất khô và thực vật có tác dụng làm giảm tác động của tia tử ngoại Các loại chất dẻo làm kính thường vẫn để cho tia tử ngoại lọt qua do đó không có tác dụng bảo vệ đôi mắt chúng ta
Da thường xuyên bị tác động của tia tử ngoại sẽ sớm bị già, xuất hiện nhiều
nếp nhăn, kém tính đàn hồi, không phục hồi lại được Các phần thường xuyên bị lộ
ra ngoài (mặt, cổ) dễ bị ảnh hưởng của tia tử ngoại, sinh ra ung thư
Trong khi chịu tác động của các tia bức xạ, ở cơ thể chúng ta, một số thuộc tính của da có thể thay đổi, ví dụ như tăng cường lớp sừng ở da, lớp sừng này có tác
dụng hấp thụ các tia hồng ngoại Các tuyến nhờn ở da hoạt động tiết ra các chất làm
mềm da, hoặc ở da xuất hiện các sắc tố đen có tác dụng cản và hấp thụ bớt các tia
bức xạ
Bức xạ Mặt Trời còn có tác dụng tiêu diệt mầm của một số loài kí sinh trùng gây bệnh, tiêu diệt trứng giun
Trang 27Hàng năm tùy theo từng nơi lãnh thổ Việt Nam có thể nhận được một lượng
bức xạ Mặt Trời trung bình từ 100 đến 160kcal/cm2/năm, lượng bức xạ này được
cân bức xạ ở nước ta quanh năm dương kể cả trong tháng I là tháng lạnh nhất Chúng ta cần tận dụng triệt để hơn nữa nguồn bức xạ Mặt Trời tự nhiên phong phú này trong cuộc sống, trong thiết kế xây dựng công trình nhà ở, các công trình công
cộng như nhà trẻ, bệnh viện, trường học, các khu điều dưỡng
1.2.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Y ếu tố nhiệt độ và trạng thái chịu đựng:
Trạng thái dễ chịu là trạng thái mà cảm giác khi chúng ta thấy không cần tăng hoặc giảm sự tiếp xúc cơ thể với nhiệt độ bên ngoài Chúng ta thường thấy thoải mái và dễ chịu khi ở trong phòng hoặc trong chăn có nhiệt độ không khí khoảng 30-310C, hoặc khi lớp không khí giữa bề mặt da và quần áo mặc có thể giữ cho da có nhiệt độ 31-320
C Chúng ta vẫn cảm thấy dễ chịu khi một phần cơ thể lộ
ra ngoài có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ trung bình một chút, như trường hợp nhiệt độ
ở bàn chân (250C), bàn tay, mũi và tai (280
C) có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ ở da (31-320C)
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng người sống ở vùng nhiệt đới có vùng dễ chịu
ở mức cao hơn về nhiệt độ và độ ẩm không khí so với vùng ôn đới Những người quen làm vi ệc ngoài trời chịu được nhiệt độ cao hơn so với những người làm việc thường xuyên trong nhà, trong văn phòng
S ự mất cân bằng nhiệt: Những thay đổi tốc độ chuyển hóa trong cơ thể hoặc
những thay đổi về nhiệt độ môi trường thường dẫn đến sự mất cân bằng nhiệt Khi
những thay đổi này vượt quá giới hạn người ta sẽ mất đi sự thoải mái và con người lúc này cần có sự điều chỉnh sinh lí
Trang 28Những biểu hiện sinh lí dễ thấy nhất trong nhiệt độ cao hoặc nhiệt độ thấp là
hoạt động của tim mạch, hệ thần kinh
S ự rèn luyện thích nghi và quen khí hậu: Khi gặp điều kiện môi trường bên
ngoài thay đổi hoặc khi thay đổi địa điểm sống có sự chênh lệch nhiệt độ rõ rệt, cơ
thể con người sẽ tự động tạo ra một loạt các điều chỉnh nội tại Giai đoạn đầu – điều
chỉnh quá trình điều hòa thân nhiệt và kiểm soát hệ mạch máu: thông thường mất
4-5 ngày Các điều chỉnh nội tiết cũng bắt đầu trong thời gian này và đạt tới mức mới trong vòng 2-3 tuần Tuy vậy, muốn thích ứng tới mức “dễ chịu thoải mái mới” thì
cần phải tới nhiều năm
Tác động của nóng và sự thích nghi với nóng:
C ảm giác trong vùng nóng: Khi tiếp xúc với nóng lứa tuổi trẻ chịu đựng tốt
hơn người đứng tuổi, người đồng bằng chịu đựng nóng tốt hơn so với người vùng núi, ngoài ra, tác động này có mức độ khác nhau tùy theo giới, tuổi, tình trạng sức
khỏe và khả năng thích nghi riêng ở từng người
những kết quả ban đầu có tính gợi ý như bảng 1.1 sau:
B ảng 1.1: Một số giới hạn sinh lí liên quan đến nhiệt độ
Nhi ệt độ không khí Gi ới hạn sinh lí
(Ngu ồn: Giáo trình Cơ sở sinh khí hậu, Nguyễn Khanh Vân, tr.95, NXB ĐHSP, 2006)
thấy, ở điều kiện nghỉ ngơi, nhiệt độ dưới lưỡi phải ≤ 37,50C, khi nhiệt độ dưới lưỡi thay đổi từ 37 đến 37,50C thì lượng mồ hôi được bài tiết tăng lên rất nhanh, đó là do
Trang 29cơ thể đào thải mồ hôi để chống nóng Nhưng khi nhiệt độ dưới lưỡi tăng vọt lên từ 38,2 đến 38,40C thì lượng mồ hôi tăng lên không nhiều Điều đó chứng tỏ cơ thể không những không đào thải được nhiệt qua đường bài tiết mồ hôi, mà trái lại còn tích trữ nhiệt trong cơ thể gây nên nguy cơ say nóng Như vậy, giới hạn sinh lý mà chúng ta có thể chịu đựng được là khi nhiệt độ dưới lưỡi là ≤ 37,50
C Giới hạn sinh
lý nguy hiểm là 38,20
C
Trong điều kiện nhiệt độ cao, con đường thải nhiệt ra ngoài cơ thể chủ yếu là
sự bài tiết và thoát mồ hôi Khả năng bốc hơi của mồ hôi lại do độ ẩm của không khí quyết định Khí hậu nóng ẩm gây ra các điều kiện căng thẳng đối với sinh lý con người, nhất là tác động lên cơ chế cân bằng nhiệt và hàng loạt các chức năng khác
của cơ thể
Đánh giá khả năng thích nghi với nóng: Khi vào nơi có nhiệt độ cao, nóng,
chúng ta thấy hồng cầu tăng lên đáng kể, điều đó chứng tỏ tình trạng mất nước qua
mồ hôi và hô hấp Bạch cầu cũng tăng rất rõ và mức tăng này không những chỉ do tình trạng máu khô của cơ thể mà cũng thể còn do phản ứng tự vệ tăng bạch cầu của
cơ thể
Thực nghiệm đối với các thanh niên ở các cấp nhiệt độ khác nhau từ 4 giờ đến nhiều ngày liền trong chế độ nóng ẩm, gió, ăn uống và vận động có kiểm soát,
đã tiến hành nâng nhiệt độ lên cao đến 35-400
C trong 4 giờ liền, và liên tiếp trong 5 ngày cho các kết quả như sau:
- Điểm trung hòa nhiệt độ là 180C đối với những người mặc quần áo mỏng
và chổ lặng gió
- Nhiệt độ môi trường tăng cao hoặc giảm thấp so với điểm trung hòa đều lập
tức trong vòng từ 5 đến 30 phút làm tăng chuyển hóa năng lượng
Tác động của lạnh
Trang 30Khi gặp lạnh mạch của chúng ta tăng (tăng nhanh hơn trong mùa hè), huyết
áp tối thiểu tăng, nhiệt độ da giảm đi rõ rệt Lạnh cũng làm tăng chuyển hóa, tuy nhiên khi tiếp xúc với lạnh càng lâu thì cơ thể người càng thích nghi dần với lạnh – lượng chuyển hóa thấp dần
Đánh giá khả năng thích ứng chịu lạnh:
Sau khi kích thích lạnh cục bộ, nhiệt độ da trán của các đối tượng tham gia thí nghiệm giảm đi rõ rệt, tuy nhiên sau khi được rèn luyện trong 4 tháng chịu lạnh thì nhiệt độ da trán cũng giảm đi ít hơn so với trước khi được rèn luyện Cụ thể nhiệt độ da trán từ 32,10C (trước khi áp lạnh) xuống 21,50
C (sau khi áp lạnh)
Khi thôi áp lạnh nhiệt độ da trán dần dần trở lại bình thường Sau khi được rèn luyện, thời gian phục hồi nhanh hơn và rõ rệt hơn so với lúc chưa được rèn luyện
۞Sự thích nghi của đặc điểm cơ thể với nhiệt độ
- Tu ổi tác và giới tính:
Tuổi tác và giới tính có ảnh hưởng tới sự ưa thích nhiệt: Người già nhiệt sinh lý chậm hơn nên thường ưa thích nhiệt độ cao hơn Phụ nữ cũng có quá trình trao đổi chất chậm hơn ít nhiều nên họ cũng thích nhiệt độ cao hơn nam giới khoảng
Trang 31Béo hay gầy, nghĩa là có nhiều hay ít lớp mỡ dưới da – một lớp cách nhiệt
tốt Người béo cần một nhiệt độ mát hơn để cùng thoát một lượng nhiệt như người
gầy
- Tr ạng thái sức khỏe:
Trạng thái sức khỏe có ảnh hưởng đến nhu cầu nhiệt Một người bệnh nặng, quá trình trao đổi chất có thể tăng lên, tính chuẩn xác của hoạt động của cơ chế điều hòa nhiệt bị suy kém Phạm vi nhiệt độ có thể chịu đựng được sẽ bị thu hẹp
- Th ức ăn, đồ uống:
Một số loại thức ăn, đồ uống có thể ảnh hưởng đến nhiệt sinh lý Điều này là
lý do giải thích sự khác nhau về thức ăn hàng ngày của người vùng nhiệt đới và vùng Bắc cực
- Màu da:
màu sáng ph ản xạ bức xạ gấp 3 lần màu da đậm nhất Nhưng da màu sáng lại bị
tổn thương rõ rệt về sạm da, lở da, ung thư da và các tác hại khác của tia mặt trời
Da đen có chứa sắc tố màu nhiều hơn đáng kể, ngăn cản được sự xâm nhập của các tia tử ngoại Da đen tăng bức xạ nhiệt của cơ thể cũng như hiệu quả thu nhận nhiệt Như vậy, màu da không có ảnh hưởng đến sự ưa thích nhiệt nhưng có khả năng
chống lại tác dụng xấu của tia mặt trời
۞ Áo quần và nhiệt độ
Một trong những yếu tố quyết định điều kiện tiện nghi nhiệt là áo quần Áo
quần có khả năng cách nhiệt nhất định, có thể làm thay đổi cơ bản sự mất nhiệt cơ
thể và do đó có ảnh hưởng đến điều kiện tiện nghi
Trang 32Khả năng cách nhiệt của áo quần có thể đánh giá theo đơn vị clo (từ chữ
Anh: clothing = áo qu ần) Đó là đơn vị nhiệt trở của áo quần
1clo = 0,155m 2 0 C/W = 0,88ft 2 hr 0 F/Btu
B ảng 1.2:Nhiệt trở chung của bộ áo quần
Quần sooc, áo sơ mi ngắn tay
Quần dài, áo sơ mi ngắn tay
Quần dài, áo sơ mi dài tay
Quần dài, áo sơ mi dài tay, áo jacket
Quần dài, áo sơ mi dài tay, áo gilê và áo phông
Quần dài, áo sơ mi dài tay, áo len dài tay
Quần dài, áo sơ mi dài tay, áo jacket và quần áo lót dài
Bộ pyjama, váy lửng, áo lót
Áo choàng đến gối, quần ngắn, dép sandal
Áo choàng đến gối, áo lót dài, quần ngắn
Áo choàng đến gối, áo lót dài, quần ngắn, áo len dài tay
Áo choàng đến gối, áo lót dài, quần ngắn, áo gilê
Áo choàng đến mắt cá, áo gilê, quần dài
Trang 331.2.3.3 Ảnh hưởng của độ ẩm
Độ ẩm không khí đóng vai trò quan trọng trong cân bằng nhiệt cũng như trong việc xác định phản ứng của cơ thể đối với sự thay đổi của môi trường Cơ thể người có những thay đổi dễ nhận thấy về không khí ẩm và không khí khô ở nhiệt độ vào khoảng 18-250
C Không khí lạnh và khô làm cho người không mặc quần áo rét run nhiều hơn và cảm thấy rét lạnh hơn là ở nơi có không khí lạnh ẩm
Cũng cần phân biệt độ ẩm thời tiết và độ ẩm có nguồn gốc từ đất (độ ẩm đặc trưng cho lớp thấp của khí quyển và của nước không được lớp đất hấp thu rút xuống dưới mặt đất)
- Độ ẩm đất rất nguy hiểm đối với những người bị bệnh lao, bệnh hen
- Độ ẩm thời tiết liên quan tới tần suất mưa và sương mù, gây tác hại với
những người viêm phế quản, viêm phổi và bệnh thấp khớp
Ủy ban Kiến thiểt cơ bản và Trường Đại học Y khoa nghiên cứu về cảm giác nóng – lạnh trong mối quan hệ với các yếu tố khí tượng như độ ẩm cao tới 90% và
tốc độ gió là 0,5-0,6m/s đã cho các kết quả khá khác biệt, đó là:
Trường Đại học Xây dựng cũng đã tiến hành thí nghiệm về cảm giác
nóng-lạnh trong điều kiện độ ẩm cao tới 80% và tốc độ gió 0,3-0,5m/s đã cho kết quả gần tương tự:
Mùa hè Mùa đông
Trang 34- Giới hạn dưới 21,50C
đựng được độ ẩm cao hơn so với người nước ngoài Trong điều kiện nhiệt độ và sự
chuyển động không khí bình thường thì độ ẩm không khí mà người Việt Nam có thể thích nghi được là 79,5 ± 5,2%
Nhìn chung, có thể sơ bộ tổng kết một số phân loại ảnh hưởng của độ ẩm đối
với con người theo bảng 1.3
B ảng 1 3: Tổng hợp phân loại ảnh hưởng của độ ẩm
(Ngu ồn: Giáo trình Cơ sở sinh khí hậu, Nguyễn Khanh Vân, tr.98, NXB ĐHSP, 2006)
1.2.3.4 Ảnh hưởng của gió
Gió có tác động lưu thông không khí, điều chỉnh tự nhiên nhiệt độ môi trường Gió thiên nhiên còn góp phần làm sạch môi trường, xua tan khói bụi công nghiệp và những khí thải ô nhiễm Tuy nhiên, gió cũng có thể gây nên những bất lợi đối với sức khỏe con người, gió thổi mạnh làm không khí đối lưu mạnh và đột ngột gây nên sự mất nhiệt trong cơ thể
Gió ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể con người bằng cách làm tỏa nhiệt ở ngoài mặt thân thể Về phương diện sinh lý học, có thể chia gió thành các cấp:
Trang 35- Gió mát, tốc độ tới 3,5m/s; Gió lạnh, tốc độ tới 3,6-6m/s; Gió kích thích,
tốc độ trên 6m/s
B ảng1 4: Phản ứng của cơ thể với tốc độ gió
cảm thấy như nhiệt độ thấp hơn 2,2-2,80
C
cảm giác như nhiệt độ thấp hơn 2,8-3,90
C
Yêu cầu giảm bớt để dễ dàng làm việc và có lợi cho sức khỏe,
cảm thấy như nhiệt độ thấp hơn 2,8-3,90C
(Ngu ồn: Kiến trúc sinh khí hậu, Phạm Đức Nguyên, tr.80, NXB Xây dựng, 2011 )
Sự điều tiết nhiệt và các cảm giác bắt đầu ảnh hưởng khi tốc độ gió quá 0,5m/s Ở các nước Âu, Mỹ người ta coi vận tốc gió tiện nghi là 1,5m/s Ở Việt Nam do nhu cầu cần gió, và có lẽ đã trở thành thói quen được quạt gió, các nhà khoa học về kiến trúc đã đề nghị nên lấy vận tốc gió tiện nghi là 2m/s
B ảng 1.5: Bảng phân loại khí hậu tốt – xấu đối với sức khỏe
Mức độ đánh
giá
Số tháng có nhiệt độ
Số ngày
trời đầy mây
Tốc độ gió trung bình m/s
Trang 36(Ngu ồn: “Nghiên cứu đánh giá điều kiện SKH phục vụ phát triển du lịch các khu vực biển
Th ị Kiều Oanh, Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học Biển toàn quốc lần thứ 5,
20-22/10/2011, Vi ện KHCN Việt Nam, tr.4)
Trong SKH gió là một đối tượng rất được chú ý vì nó ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển của một số bệnh
۞۞Các số liệu kết quả nghiên cứu bước đầu ở Việt Nam cho thấy người Việt
- Vùng dễ chịu về mùa hè người Việt Nam: 27-29P
۞ Như vậy, ta thấy rằng tất cả các yếu tố khí hậu-thời tiết (bức xạ Mặt Trời, nhiệt
độ, độ ẩm và gió) đều tác động trực tiếp lên cơ thể con người, và con người ở mỗi khu v ực khí hậu, ở mỗi giai đoạn phát triển sẽ thích ứng với các điều kiện khí hậu –
th ời tiết khác nhau Một lần nữa, chúng ta thấy rằng, con người có thể phòng tránh được một số bệnh do thời tiết khí hậu khi chúng ta biết được các quy luật hoạt động
c ủa chúng
1.2.3.5 Các y ếu tố khí tượng, khí hậu đối với một số loại bệnh
Qua kinh nghiệm sống, từ lâu đời, loài người đã phát hiện ra những ảnh hưởng của thời tiết đối với đời sống Những thầy thuốc cổ xưa của Trung Quốc đã
chứng minh rằng khí hậu, thời tiết có một tầm quan trọng đặc biệt trong việc gây
trước Công nguyên) đã biết việc thay đổi thời tiết nóng lạnh có ảnh hưởng tới cơ
hậu (là chế độ thời tiết trong nhiều năm) và tác động của nó tới sức khỏe con người Ngành y học cổ Tây Tạng cũng đã từng đề cập mối liên quan khí hậu, bệnh tật và
Trang 37cách chữa trị Hippocrate (thế kỷ 5 trước Công nguyên) – ông tổ của nền y học phương Tây đã nghiên cứu tác động của khí hậu tới các bệnh dịch và sức khỏe con người
Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, người Việt Nam xưa cũng đã phát hiện ra
những ảnh hưởng của thời tiết tác động tới đời sống Hải Thượng Lãn Ông (danh y nước ta thế kỷ 18) cũng đã đúc kết thành cơ sở lý luận các nhận xét và kinh nghiệm
về mối quan hệ giữa khí hậu và đời sống, sức khỏe trong cuốn “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”
Ngày nay y học đã chứng minh sự thay đổi thời tiết có thể kích thích hàng
loạt người gây ra những ảnh hưởng đến tuần hoàn máu ở não, nhức đầu, đau lưng,
tính thì thời tiết thay đổi làm cho tình trạng bệnh tăng lên
Với hàng ngàn năm tiến hóa, chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài, con người đã tự biến đổi (quá trình biến đổi trong các tổ chức, trong hệ thần kinh, hệ
như sự phản ứng lại rất ít và hầu như không nhận thấy có phản ứng với những thay đổi của hoàn cảnh khí tượng bên ngoài Nhưng với những người yếu, đặc biệt với
những người mắc bệnh thì sự thích nghi với thời tiết gặp nhiều khó khăn
Trong bài thơ hay (trước 1945) của một nhà thơ được nhiều người ưa thích
có câu: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn ” Buồn không bởi chuyện gì gây ra, buồn vô nguyên cớ, rất có thể đó là do hiệu ứng tâm lý
thời tiết Mối quan hệ giữa thời tiết và tâm trạng con người đã được chú ý từ lâu Khi ở Anh trời sương mù, hoặc ở dãy núi Anpơ có gió nóng thì người ta cho đó là
“thời kỳ tự tử”
Các công trình nghiên cứu trên thế giới 100 năm gần đây cho thấy có sự liên quan giữa thời tiết nóng bức với sự gia tăng các loại tội phạm hình sự Con người ta
Trang 38trở nên hung hăng hơn khi thời tiết quá nóng Còn ở Mỹ, một số nhà khoa học nước này nhận xét: sự chuyển mùa, thay đổi thời tiết có thể ảnh hưởng đến tâm lý, đến hành vi cư xử của hơn 27% dân Mỹ Những năm trước đây, một nhóm nhà khoa học thuộc Viện Tâm thần quốc gia Washington đã nghiên cứu về vấn đề này: Có một phụ nữ Mỹ, rất hay buồn bã vào những ngày hè nóng nực và đã bị như vậy trong suốt 15 năm Các nhà nghiên cứu đã để bà ta sống một mình trong một căn phòng mát mẻ suốt 5 ngày và tắm nước lạnh 1-2 lần/ngày Đến ngày cuối cùng thì tâm trạng buồn bã của người phụ nữ đó biến mất, bà ta trở nên hào hứng, vui vẻ Sau cuộc thử nghiệm họ kết luận: sự nóng lên của thời tiết mùa hè làm cho con người dễ buồn bực; mặt khác, sự nóng bức còn hạn chế cả khả năng tư duy sáng tạo của con người
Người ở thành phố phụ thuộc vào thời tiết nhiều hơn người ở nông thôn Có thể là ở thành phố con người ít liên hệ với thiên nhiên, phần lớn thời gian họ ở trong nhà (với đầy đủ các tiện nghi) và trong các phương tiện giao thông Ngay cả người khỏe mạnh cũng dễ phản ứng với những thay đổi thời tiết Những người đa cảm bỗng thấy mình có nỗi buồn vô cớ, dễ bị kích động, dễ gây gổ
Khí hậu tác động đến sự hình thành và phát triển một số dạng bệnh, thông thường người ta lưu ý đến hai loại khí hậu nóng-khô và khí hậu nóng-ẩm Những loại khí này thường gây nên rối loạn quá mức về điều hòa nhiệt độ dẫn đến ngất do quá nóng, co rút, say nóng, suy kiệt do mất nhiều nước trong cơ thể Khí hậu nóng-
ẩm gây tổn thương tới da, gây hậu quả lâu dài lên hệ tim mạch, thận
hậu lạnh gây cước tím các đầu ngón tay, ngón chân, da tím tái, chân cứng đờ, thân
thể cóng lạnh,…Hàng năm khi xuất hiện những đợt rét kéo dài, nhiệt độ không khí thay đổi quá lớn (5-60
cho sức khỏe của người già, tỉ lệ tử vong của người già tăng lên rõ rệt
Trang 39Khí hậu vùng núi cao với sự có mặt của điều kiện thiếu ôxy trong không khí thường gây cho người ta mắc bệnh nhức đầu, mất ngủ, rối loạn nhịp tim, rối loạn thông khí phổi, tăng hồng cầu, tăng tần số tim Tuy nhiên, bệnh tăng cao huyết áp
và bệnh thiếu máu ít gặp ở vùng cao và bệnh phù phổi cấp thường xuất hiện đối với
những người từ núi cao xuống vùng thấp đột ngột và quy trở lại ngay vùng núi ban đầu
Ngoài ra, còn một số loại bệnh dễ cảm ứng với thời tiết như viêm khớp mãn tính, bệnh gan, mật, những bệnh liên quan đến hệ thống mạch, bệnh phổi (lao, ho ra máu), bệnh thận (nước tiểu có anbumin), bệnh về nội tiết (tắt kinh), bệnh về tiêu hóa (loét dạ dày)
gan,…thường có thể cảm nhận trước sự thay đổi của thời tiết tối đa 6-12giờ Cơn động kinh thường xảy ra và có thể biết trước được 48 giờ, trong những đợt khô nóng
Ngoài một số loại bệnh sản sinh theo mùa của thời tiết người ta còn thấy
những bệnh xảy ra khi liên quan đến thay đổi thời tiết Hội chứng này sinh ra do tác động của những khối không khí nóng, nguồn gốc từ xích đạo và những khối không khí lạnh, nguồn gốc cực đới Có một số bệnh tật sinh ra trong thời điểm này như viêm thanh quản rít, những cơn co giật khí quản, chứng giật ở trẻ nhỏ,…các bệnh co huyết quản, loét hành tá tràng, viêm ruột thừa, viêm đường mật, hội chứng hô hấp sau khi mổ, những cơn đau sau khi mổ thường được biểu hiện rõ nét khi thời tiết thay đổi
1.2.3.6 Các y ếu tố khí tượng, khí hậu đối với chữa bệnh
Từ rất xa xưa người ta cũng đã biết lợi dụng các yếu tố thời tiết khí hậu để
cải thiện điều kiện sống hàng ngày và nhất là trong việc chữa một số bệnh dựa trên
Trang 40nguyên tắc sử dụng các loại khí hậu khác nhau Phương pháp dùng khí hậu để chữa
bệnh được gọi là khí hậu liệu pháp (climatotherapy)
Trong khí hậu liệu pháp người ta phân biệt ba loại khí hậu độ cao khác nhau:
- Khí hậu độ cao thấp tới 600m
- Khí hậu độ cao trung bình, từ 600 đến 1200m
- Khí hậu độ cao lớn, trên 1200m
Tuy nhiên cũng cần hiểu rằng chiều cao trên mặt nước biển không đủ để tượng trưng cho một khí hậu miền núi, còn nhiều yếu tố khác tác động vào Tuy nhiên, khí hậu miền núi cũng có những ưu điểm chính sau:
+ Ở vùng núi và cao nguyên, khí quyển, không khí trong sạch, nhẹ, rất ít bụi, chan hòa ánh nắng mặt trời nhưng không rát bỏng, độ chiếu sáng rất lớn, ngay cả trong các tháng mùa đông
+ Nhiệt độ giảm cùng với áp suất không khí giảm làm tăng hồng cầu và tỉ lệ huyết sắc tố trong máu
+ Sự giảm độ ẩm không khí và sự khô ráo của không khí (đặc biệt trong mùa đông), ở vùng núi nhịp thở tăng lên làm hưng phấn hệ thần kinh giao cảm và tuyến
nội tiết
Tuy nhiên gió ở miền núi thường rất nặng nề và “độc” như trong dân gian người dân thường nói
Có thể thấy trong tự nhiên, từ độ cao 1200-1500m trở lên khí hậu có những
chuy ển biến nhất định, khá rõ nét Nhiệt độ không khí ở độ cao này thường thấp
hơn ở vùng đồng bằng đến 8-90C, mưa nhiều hơn cả về số lượng cũng như số ngày mưa, tuy nhiên không thiếu những khi trời tạnh ráo, se lạnh