Ảnh hưởng của cỏ dại đến đa dạng thực vật Tác động của các loài xâm lấn vào sự đa dạng loài trong một môi trường sống đã được làm nổi bật ở nhiều nghiên cứu.. Ở Zambia, người ta đã ch
Trang 1Từ Hoàng Thương
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LOÀI
MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.) ĐẾN ĐA DẠNG
THỰC VẬT Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2Từ Hoàng Thương
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LOÀI
MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.) ĐẾN ĐA DẠNG
THỰC VẬT Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ LAN THI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công
bố trong bất kì công trình này
Các trích dẫn về hình ảnh, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác, tài liệu tham khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 09 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Từ Hoàng Thương
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Lan Thi - người đã tận tình giúp
đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Đặng Lê Anh Tuấn đã giúp đỡ tôi trong việc định danh các loài thực vật
Quý thầy cô thuộc bộ môn Thực vật và Sinh thái – Sinh học tiến hóa, khoa Sinh, trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM, quý thầy cô khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm TP HCM đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Ban quản lý vườn quốc gia Cát Tiên, các nhân viên phòng Khoa học – Kỹ thuật đã giúp đỡ rất nhiều cho tôi trong chuyến thực địa
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 09 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Từ Hoàng Thương
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về sinh vật ngoại lai 3
1.1.1 Sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai ở vùng nhiệt đới 3
1.1.2 Các yếu tố thành công của loài xâm lấn 3
1.1.3 Ảnh hưởng của sự xâm lấn đến sinh thái và kinh tế xã hội 5
1.1.4 Cỏ dại và cỏ dại môi trường 7
1.2 Đặc điểm sinh học của cây Mai dương (Mimosa pigra L.) 11
1.2.1 Hình thái 11
1.2.2 Phân bố địa lý 11
1.2.3 Nơi cư trú 12
1.2.4 Sinh trưởng và phát triển 12
1.2.5 Sinh sản 13
1.2.6 Sự biến động quần thể 13
1.2.7 Tác dụng 14
1.2.8 Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa pigra L.) đến đa dạng thực vật 15
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 17
1.4 Tổng quan về vườn quốc gia Cát Tiên 22
1.4.1 Vị trí địa lý 22
1.4.2 Địa hình 23
1.4.3 Địa chất - Thổ nhưỡng 23
1.4.4 Khí hậu - Thủy văn 24
1.4.5 Hệ thực vật 25
Trang 62.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của cỏ dại đến đa dạng thực vật 26
2.3 Tiến hành thí nghiệm 29
2.3.1 Thiết kế ô mẫu thí nghiệm 30
2.3.2 Xác định thành phần loài và mật độ 31
2.3.3 Thu sinh khối 31
2.3.4 Thiết lập ngân hàng hạt 31
2.4 Quan sát thực trạng của cây Mai dương 33
2.5 Phân tích số liệu 33
2.6 Thời gian thực hiện 34
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Một số đặc điểm sinh học của cây Mai dương ở vườn quốc gia Cát Tiên 35
3.1.1 Đặc điểm sinh học của cây Mai dương ở vườn quốc gia Cát Tiên 35
3.1.2 Ảnh hưởng của cây Mai dương đến sinh thái và kinh tế xã hội của vườn quốc gia Cát Tiên 35
3.1.3 Các chỉ số sinh học của cây Mai dương ở vườn quốc gia Cát Tiên 37
3.2 Cây Mai dương (Mimosa pigra L.) và các loài thực vật trên mặt đất 41
3.2.1 Thành phần loài thực vật trong các ô mẫu 41
3.2.2 Phân tích kết quả khảo sát 47
3.3 Ngân hàng hạt trong đất 51
3.3.1 Thành phần loài thực vật trong các ô mẫu 51
3.3.2 Phân tích kết quả khảo sát 56
3.4 Thảo luận 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 1.1 Thiệt hại về kinh tế do thực vật ngoại lai xâm hại 7Bảng 2.1 Một vài phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của cỏ dại đến đa
dạng thực vật, những thuận lợi và khó khăn 27Bảng 2.2 Một số kỹ thuật đa dạng để đánh giá ảnh hưởng của một loại cỏ
dại đến đa dạng thực vật và những thuận lợi, khó khăn 28Bảng 3.1 Giá trị trung bình của một số chỉ số sinh học trên mặt đất của cây
Mai dương 37Bảng 3.2 Giá trị trung bình số lượng hạt Mai dương (hạt/m2) của ngân hàng
hạt 41Bảng 3.3 Sinh khối khô trung bình (g/m 2) và thành phần loài trên mặt đất
trong các ô mẫu mùa khô và mùa mưa 44Bảng 3.4 Chỉ số tương đồng thành phần loài trên mặt đất giữa ba mật độ
Mai dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa khô và mùa mưa 50Bảng 3.5 Số lượng hạt trung bình (hạt/m2) và thành phần loài ngân hàng hạt
trong các ô mẫu mùa khô và mùa mưa 52Bảng 3.6 Chỉ số tương đồng thành phần loài ngân hàng hạt giữa ba mật độ
Mai dương dày, thưa và không có Mai dương trên mặt đất vào mùa khô 59Bảng 3.7 Chỉ số quan trọng IVI (Importance Value Index) của các loài thực
vật ngân hàng hạt trên ba mật độ Mai dương dày, thưa và không
có Mai dương vào mùa khô và mùa mưa 61
Trang 8Hình 2.1 Vị trí vườn quốc gia Cát Tiên và khu vực thu mẫu 30Hình 3.1 Cây Mai dương ở mật độ dày 36Hình 3.2 Cây Mai dương ở mật độ thưa 36Hình 3.3 Biểu đồ mật độ trung bình (cây/m2) của cây Mai dương trên
mật độ dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa 37Hình 3.4 Biểu đồ độ che phủ trung bình (%) của cây Mai dương trên mật
độ dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa 38Hình 3.5 Biểu đồ số cây con trung bình (cây/m2) của cây Mai dương trên
mật độ dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa 39Hình 3.6 Biểu đồ sinh khối trung bình (g/m2) của cây Mai dương trên
mật độ dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa 40Hình 3.7 Số lượng hạt Mai dương trung bình (hạt/m2) trong ngân hàng
hạt ở mật độ Mai dương dày và thưa vào mùa khô và mùa mưa 41Hình 3.8 Biểu đồ số loài trung bình/m2 trên mặt đất ở ba mật độ Mai
dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa khô và mùa mưa 47Hình 3.9 Biểu đồ giá trị trung bình chỉ số H’ các loài trên mặt đất ở ba
mật độ Mai dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa khô và mùa mưa 48Hình 3.10 Biểu đồ giá trị trung bình chỉ số cân bằng trên mặt đất ở ba mật
độ Mai dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa khô 49Hình 3.11 Biểu đồ số loài trung bình/m2 ngân hàng hạt ở ba mật độ Mai
dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa khô và mùa mưa 56Hình 3.12 Biểu đồ giá trị trung bình chỉ số đa dạng sinh học các loài ngân
hàng hạt ở ba mật độ Mai dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa khô và mùa mưa 57Hình 3.13 Biểu đồ giá trị trung bình chỉ số cân bằng ngân hàng hạt ở ba
mật độ Mai dương dày, thưa và không có Mai dương vào mùa khô và mùa mưa 58
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự suy giảm đa dạng sinh học đã và đang là mối lo chung của toàn nhân loại Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học thì các loài sinh vật ngoại lai xâm hại được coi là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất Chúng đang ngày càng mở rộng khu phân bố, cạnh tranh gay gắt đến mức hủy diệt các loài bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại có mặt trong hầu hết các nhóm sinh vật, từ vi sinh vật, nấm, thực vật bậc cao đến các loài động vật Trong các loài ngoại lai xâm hại thì thực vật ngoại lai là một trong những nhóm có mức nguy hại lớn do chúng có khả năng phát tán nhanh chóng và gây xâm lấn, hủy diệt các loài bản địa
Hiện nay, Việt Nam đang bị một số loài thực vật ngoại lai như Lục bình
(Eichhornia crassipes Mart Solms), Bèo cái (Pistia stratiotes L.)…gây tác hại nghiêm trọng Trong số đó, cây Mai dương (Mimosa pigra L.) là loại thực vật ngoại
lai xâm lấn mạnh, đe dọa đến đa dạng sinh học của các vùng đất ngập nước của các khu bảo tồn như vườn quốc gia Tràm Chim, vườn quốc gia Cát Tiên, nhiều khu vực
ở miền Đông Nam Bộ mà chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Vì vậy, cần phải điều tra, đánh giá mức độ ảnh hưởng của loài thực vật xâm lấn này và hạn chế tác
hại của loài này đến các loài thực vật bản địa
Với những lí do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của
loài Mai dương (Mimosa pigra L.) đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến việc xác định thành phần các loài đồng thời đánh giá hiện trạng xâm lấn, tiềm năng xâm lấn của cây Mai dương tại vườn quốc gia Cát Tiên
3 Nội dung nghiên cứu
- Tiến hành khảo sát thành phần loài và mật độ tất cả các loài cây hiện diện trong ô mẫu ở ba sinh cảnh có mật độ cây Mai dương cao, thấp và không có ở hai mùa khô và mùa mưa
Trang 10- Tiến hành thu sinh khối khô trên mặt đất của tất cả các loài cây hiện diện trong ô mẫu ở ba sinh cảnh có mật độ cây Mai dương cao, thấp và không có ở hai mùa khô và mùa mưa
- Trong đất: Tiến hành khảo sát thành phần loài và mật độ tất cả hạt của các loài cây hiện diện trong mẫu đất ở tất cả các ô mẫu ở ba sinh cảnh có mật độ cây Mai dương cao, thấp và không có ở hai mùa khô và mùa mưa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cây Mai dương (Mimosa pigra L.) và các loài thực
vật khác mọc chung với cây Mai dương ở một số khu vực thuộc vườn quốc gia Cát Tiên
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn trong phạm vi mô tả hiện trạng cây
Mai dương (Mimosa pigra L.) và các loài thực vật khác mọc chung với cây Mai
dương ở một số khu vực thuộc vườn quốc gia Cát Tiên
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài đánh giá sơ bộ ảnh hưởng của loài Mai dương (Mimosa pigra L.) đến
đa dạng thực vật ở vùng đồng bằng ngập lũ theo mùa
Trang 11
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về sinh vật ngoại lai
1.1.1 Sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai ở vùng nhiệt đới
Loài ngoại lai là loài được mang đến một vùng nằm ngoài vùng phân bố địa lý
tự nhiên của chúng do vô tình hoặc có mục đích của con người Sau khi xâm nhập vào môi trường mới, một số loài có khả năng mở rộng phạm vi phân bố và trở thành loài xâm lấn Loài xâm lấn có mặt ở tất cả các nhóm của sinh giới từ virus, nấm, vi sinh vật, thực vật bậc thấp và bậc cao, đến động vật không xương và có xương Phần lớn các loài xâm lấn được con người du nhập một cách có chủ đích để làm vật nuôi, cây trồng, thực phẩm, sinh vật cảnh và nguyên vật liệu trong sản xuất Một số loài khác được nhập nội một cách vô tình cùng với sự vận chuyển của con người và hàng hóa Khoảng 75% tổng số loài du nhập là những loài có phạm vi phân bố hẹp, 25% còn lại là loài phân bố rộng và có tiềm năng trở thành loài xâm lấn Các vùng địa lý cách ly như trên đảo, vùng hồ, vùng núi cao thường dễ bị xâm lấn bởi các loài ngoại lai Trong vùng nhiệt đới, các khu bảo tồn trên đảo thường có nhiều loài nhập nội hơn các khu bảo tồn trong đất liền [8, tr.7]
Loài bản địa là loài xuất phát từ quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên trong vùng Ngược lại, loài xâm lấn hay loài xâm hại là những loài có khả năng bành trướng, lất át và trong nhiều trường hợp loại trừ các loài sinh vật bản địa trên khu vực chiếm cứ của chúng [8, tr.3]
Loài bản địa được coi là xâm lấn khi chúng lây lan vào môi trường sống nhân tạo như các trang trại hoặc vườn hoặc khi chúng làm tăng sự phong phú trong phạm
vi hoặc những thay đổi mới, đặc biệt là những thay đổi do con người gây ra trong môi trường sống tự nhiên của chúng Ví dụ, cỏ bản địa được cho là xâm lấn vùng đất hoang bản địa trong vùng miền bắc châu Âu do con người gây ra sự lắng đọng nitơ [10, tr.52]
1.1.2 Các yếu tố thành công của loài xâm lấn
Theo Saxena (1991), sự xâm lấn gồm có ba giai đoạn là pha nhập nội, pha phát tán mở rộng phạm vi phân bố và cuối cùng là pha trưởng thành khi phạm vi phân bố không mở rộng thêm Nếu một trong các giai đoạn này không hoàn tất thì
Trang 12sự xâm lấn sẽ thất bại Từ pha nhập nội cho đến pha phát tán có một khoảng thời gian chờ Thời gian chờ khác nhau tùy theo loài và điều kiện môi trường và có thể kéo dài khá lâu Khả năng xâm lấn tùy thuộc vào nhiều yếu tố tương tác với nhau, các yếu tố này ảnh hưởng khác nhau đối với từng loài Theo các yếu tố giúp cho loài xâm lấn thành công được xếp vào hai nhóm: điều kiện môi trường và khả năng của chính loài xâm lấn Sự kết hợp của các yếu tố môi trường và sinh học cá thể tạo
ra các điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và tăng trưởng ban đầu của các loài xâm lấn trong môi trường mới [8, tr.7]
Một số yếu tố tương tác đóng góp vào thành công trong cuộc xâm lấn của các loài ngoại lai:
Những nét tương đồng về khí hậu và thổ nhưỡng giữa các môi trường sống ban đầu của giống nhập ngoại và môi trường sống là yếu tố quan trọng Vùng nhiệt đới ẩm châu Á và châu Phi với đất rửa trôi tương tự như ở Mỹ La tinh cho phép các
loài Lantana camara L., Mikania micrantha Kunth và Eupatorium spp xâm nhập
và xâm chiếm các vị trí thích hợp trên hai châu lục này Loài Eichhornia crassipes (Maret) Solm., một loài bản địa có nguồn gốc từ Mỹ Latinh đã lây lan rộng rãi vào
các khu vực cận nhiệt đới của Mỹ, Bồ Đào Nha, khu vực nhiệt đới của châu Úc, châu Phi, châu Á, bất cứ nơi nào điều kiện khí hậu tương tự với nơi bản xứ [20, tr.1] Một yêu cầu quan trọng đối với thành công của loài xâm lấn là môi trường mở giảm sự cạnh tranh khác loài được tạo ra bởi mức độ xáo trộn cao Với mật độ dân
số cao ở vùng nhiệt đới, nạn phá rừng và xử lý nước thải là hai nguyên nhân chính gây ra hiện tượng phú dưỡng từ nguồn nước thải công nghiệp địa phương và phân bón bị rửa trôi của các hệ sinh thái nông nghiệp Mitsch (1976) cho biết dòng dinh
dưỡng giảm sẽ làm giảm sự phát triển của Lục bình (Eichhornia crassipes) trong
nước ở hồ Alice, Florida, Mỹ Mực nước giảm trong hồ do bùn đất rửa ra từ các khu vực lưu vực sẽ tăng cường tải chất dinh dưỡng và sẽ giúp nhanh chóng ép thành
khối dày cho cỏ dại ngoại lai sinh sôi nảy nở nhanh chóng như Salvinia molesta D
S Mitchell và tăng cường sự ổn định thảm [20, tr.2 – 4]
Ngoài các điều kiện môi trường nêu trên, một số đặc điểm sinh học của bản thân loài ngoại lai có thể giúp chúng trở thành loài xâm lấn:
Trang 13- Có khả năng tăng trưởng và sinh sản nhanh chóng nhờ sử dụng hiệu quả chất dinh dưỡng ở trú quán mới
- Có khả năng lan rộng rất nhanh để ổn định quần thể
- Có thể sinh sản sinh dưỡng từ gốc hoặc thân bị chặt
- Sự vắng mặt các loài thiên địch
- Có biên độ sinh thái rộng đối với nhiều yếu tố môi trường
- Có khả năng tạo ra độc tố giúp lấn át loài bản địa [8, tr.7 – 8]
1.1.3 Ảnh hưởng của sự xâm lấn đến sinh thái và kinh tế xã hội
Ảnh hưởng của sự xâm lấn đến hệ sinh thái
Về mặt sinh thái, sự xâm lấn của loài ngoại lai có nguy cơ làm tuyệt chủng loài bản địa do đó làm giảm đa dạng sinh học Sự bành trướng của các loài ngoại lai trên phạm vi rộng có thể dẫn đến nhiều thay đổi các quá trình địa mạo, chế độ thủy văn, chế độ lửa, thành phần dinh dưỡng trong đất, thành phần và độ phong phú của
hệ động thực vật bản địa
Thực vật ngoại lai xâm lấn thay thế thảm thực vật bản địa, lấn át không cho thảm thực vật bản địa phục hồi, do đó làm giảm hoặc tuyệt chủng loài bản địa, làm giảm đa dạng sinh học Theo sau sự thay đổi của quần xã thực vật bản địa, quần xã
động vật cũng sẽ bị tác động Ví dụ sự xâm lấn của cây Lục bình (Eichhornia
crassipes) ở lưu vực sông Nile, các hồ chứa nước ở Nam Phi và Ấn Độ không chỉ
làm thay đổi thành phần loài thực vật mà còn kéo theo sự biến mất của nhiều loài phiêu sinh động vật, thực vật cùng với sự du nhập nhiều loài mới [8, tr.8 – 9]
Sự xâm lấn của thực vật ngoại lai có thể làm thay đổi chế độ lửa rừng Ví dụ
loài cỏ Lào (Chromolaena odora (L.) King ex Robinson) xâm nhập thảo nguyên
nhiệt đới, cung cấp một lượng lớn nhiên liệu, và làm cháy thảo nguyên để có một tác động lớn hơn trên rừng hoặc vùng hoang mạc khó trồng trọt Ngân hàng hạt
giống của C odorata đã được nghiên cứu trong rừng Tây Phi bởi Epp (1987) đã cho
thấy mật độ hạt giống khả thi nhất là trong đất của rừng thứ sinh Loài này là mối
đe dọa đáng kể cho khu bảo tồn nhiệt đới vì nó có liên quan tới chu kỳ cháy và ngân hàng hạt giống có thể tồn tại trong đất [20, tr.2]
Trang 14Thực vật thủy sinh tạo bè nổi dày trên mặt nước, tập trung nhiều mùn bã làm suy kiệt oxy hòa tan trong nước và hàng loạt các thay đổi về vật lý, hóa học khác
Bè nổi dày của Lục bình và Bèo tai chuột là nơi cư trú thích hợp cho các loài cây ưa
nước nông và đầm lầy như Polygonum, Rumex, Ludwigia, Typha và Phragmites và
cuối cùng là các loài cây gỗ Ở Ấn Độ, cỏ dại thủy sinh làm giảm tốc độ dòng nước trong các kinh đào khoảng 40 – 50%, có khi đến 80% [8, tr.267]
Ảnh hưởng của sự xâm lấn đến kinh tế xã hội
Sự xâm lấn của loài ngoại lai có thể gây nhiều thiệt hại to lớn về kinh tế và các
ảnh hưởng bất lợi đến đời sống dân cư trong vùng bị xâm nhiễm Ví dụ loài Salvinia
moslesta trên sông Sepik, Papua New Guinea được nhập nội vào năm 1971, bao phủ
32 km2 diện tích đầm phá vào năm 1977 Khoảng 80.000 người dân bản địa phụ thuộc vào giao thông đường thủy cho tất cả các thông tin liên lạc, và canô đã được
sử dụng cho việc thu hoạch cao lương (nguồn chính cung cấp carbohydrate) và đánh bắt cá (nguồn chính cung cấp protein) Năm 1981, chỉ một thập kỷ sau khi nhập nội loài bèo này, Thomas và Room (1986) đã báo cáo rằng người địa phương đang đói
Sự xuất hiện của một tác nhân sinh học là sâu đục thân Cyrtobagous salviniae đã kiểm soát thành công loài Salvinia moslesta này Mặc dù Salvinia molesta là một ví
dụ về một loài xâm lấn, theo sau sự kiểm soát sinh học thành công của loài động vật
ăn cỏ, nó đã làm nổi bật những tiềm năng cho một cuộc xâm lấn sinh học hoàn toàn
để phá vỡ một nền kinh tế nông thôn
Chi phí kinh tế của việc kiểm soát các loài xâm lấn được dẫn chứng tài liệu tốt hơn Macdonald và Wissel (1989) chỉ ra rằng chi phí thanh toán bù trừ cây bụi keo
ở Nam Phi đã lên đến khoảng 1.800 USD/ ha Cây Mai dương (Mimosa pigra L.) là
một loài thực vật ngoại lai xâm lấn đất nông nghiệp, lấp đầy các kênh mương, hồ
ao, hồ chứa nước ở các nước thuộc châu Úc, châu Phi, châu Á Kinh phí đầu tư để diệt trừ loài này rất tồn kém do nó có khả năng lấn át cây bản địa rất mạnh, chịu ngập nước lâu, lại có nguồn hạt rất phong phú, phát tán bằng nhiều hình thức như gió, nước hoặc hạt có lông bám vào người và súc vật để phát tán đi xa Ở phía Bắc nước Úc, trong hai năm 1996 – 1997 đã tiêu tốn 11,4 triệu USD để kiểm soát sự
Trang 15xâm lấn của Mai dương, riêng vườn quốc gia Kakadu (Úc), trong khoảng 10 năm đã tiêu tốn 5 triệu USD để kiểm soát 80.000 ha đất bị Mai dương xâm lấn [21]
Ở Tây Phi, việc giải quyết cây Lục bình (Eichhornia crassipes) là một vấn đề
quan trọng ở các nước như Cộng hòa Niger, Mali, Bờ Biển Ngà, Nigeria, Ghana và Senegal Hơn 550 km sông Niger đã bị loài cây này xâm lấn Thiệt hại về kinh tế do Lục bình gây ra ở những quốc gia châu Phi này ước tính khoảng 20 – 50 triệu USD mỗi năm, còn thiệt hại ở toàn châu Phi có thể vượt quá 100 triệu USD mỗi năm [11, tr.15 -16]
Bảng 1.1 Thiệt hại về kinh tế do thực vật ngoại lai xâm hại [11, tr.23]
Loài Ảnh hưởng về hoạt động
kinh tế và xã hội
Ước tính chi phí hàng năm
Euphorbiaesula, Centaurea
spp
- Sản xuất trên đồng cỏ trong bốn tiểu bang Hoa Kỳ (Bắc Dakota, Nam Dakota, Wyoming, Montana)
134 triệu USD
Eichhornia crassipes
- Thủy sản và các hoạt động khác (bao gồm cả thủy điện) trong một số quốc gia châu Phi
20 – 50 triệu USD
Pinus, Hakea,Acacia spp
- Kiềm soát chi phí (phục hồi
hệ sinh thái tự nhiên) ở vùng Cape Flora, Nam Phi
5 – 17 triệu USD
Lythrum salicaria - Kiểm soát chi phí trong khu
vực hoang dã của Hoa Kỳ
45 triệu USD
1.1.4 Cỏ dại và cỏ dại môi trường
Cỏ dại là những loài thực vật mọc ở nơi mà con người không mong muốn Cỏ dại có thể bao gồm các loài thực vật ngoại lai và thực vật bản địa Một loài thực vật được xem là cỏ dại đối với người này nhưng lại là loài có ích đối với người khác
Trang 16Chúng có thể là cỏ dại ở nơi này nhưng không là cỏ dại ở nơi khác, hoặc là cỏ dại ở thời điểm này nhưng lại là một loài cây có giá trị ở thời điểm khác Vì một loài cây
có thể được mong muốn bởi một số người và không được mong muốn bởi một số người khác nên trong thực tế có thể nói cỏ dại là loại cây mà cái hại do nó gây ra
lớn hơn lợi ích mà nó mang lại Ví dụ cỏ Năng (Eleocharis dulcis Burm.f.) được
xem là cỏ dại trong ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại là một loài thực vật quan trọng trong vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp Lục bình
(Eichhornia crassipes) có lúc được xem là một loài cây thủy cảnh quý nhưng nay
đang là loài xâm lấn nguy hiểm ở nhiều khu vực trên thế giới [8, tr.9]
Theo Rapoport (1991), toàn thế giới có khoảng 26.000 loài cỏ dại xâm lấn tiềm ẩn, hiện đã biết được khoảng 10.000 loài, trong đó có khoảng 4.000 loài đang
là mối đe dọa
Các loài cỏ dại có thể có một hoặc nhiều các đặc điểm sau:
Là loài phát triển mạnh ở những nơi bị xáo trộn
Là loài cạnh tranh mạnh về ánh sáng, nước, không gian và chất dinh dưỡng
Là loài kháng lửa hoặc thúc đẩy lửa, chịu đựng được thay đổi của môi trường như lũ lụt, hạn hán
Là loài có nhu cầu dinh dưỡng thấp, có khả năng tự thụ phấn
Tạo ra độc chất ở rễ ức chế sự sinh trưởng của các cây khác
Có khả năng sinh sản bằng hạt, nảy tược khi bị chặt
Có các đặc điểm thích nghi giúp phát tán dễ dàng như hạt có thể trôi nổi trong nước, có cánh, có gai, móc, hấp dẫn chim và động vật, tạo ra nhiều hạt và hạt
có đời sống lâu
Cỏ dại gây ảnh hưởng đến con người do:
- Cạnh tranh với mùa màng
- Làm thương tổn hoặc độc hại cho người và động vật
- Chứa côn trùng gây hại và mầm bệnh
- Gây tác hại cho sản xuất nông nghiệp, làm ô nhiễm nguồn nước
- Tăng chi phí duy trì cơ sở hạ tầng như đường sá, đường dẫn nước, đường dẫn điện và các công trình thủy điện
Trang 17Cỏ dại trong các khu bảo tồn được gọi là “cỏ dại môi trường” (environmental weeds) để phân biệt cỏ dại trong nông nghiệp Trong các khu bảo tồn, tất cả các loài cây có nguồn gốc ngoại lai đều là cỏ dại Khi mục đích sử dụng đất thay đổi thì nhận thức về các loài thực vật cũng thay đổi Nếu một khu bảo tồn được thành lập thì các loài cây nông nghiệp có nguồn gốc ngoại lai trước đây là hữu dụng nay sẽ bị xem là cỏ dại Cỏ dại môi trường là mối đe dọa đến đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn thiên nhiên Các tác động chủ yếu của cỏ dại môi trường lên chức năng của
hệ sinh thái bao gồm:
- Cạnh tranh ánh sáng, nước, không gian và chất dinh dưỡng với loài bản địa,
có độc chất ngăn cản loài bản địa sinh sản
- Thay đổi quá trình địa mạo (xói mòn hoặc tích tụ) thành phần dinh dưỡng trong đất
- Thay đổi chế độ thủy văn, chế độ lửa
- Thay đổi độ phong phú của hệ động vật bản địa do làm thay đổi nơi cư trú [8, tr.9-10]
Ngày nay, người ta đã sử dụng khá nhiều các biện pháp kiểm soát cỏ dại với mục đích ngăn chặn, phòng ngừa tình trạng lây lan, xâm lấn và gây hại của cỏ dại đến môi trường sinh thái Các biện pháp được biết đến như biện pháp cơ học, sinh thái, hóa học, ngăn ngừa, tận dụng sinh khối, tổng hợp Trong đó, biện pháp tổng hợp (sử dụng phối hợp các biện pháp kiểm soát nhằm phát huy ưu điểm và hạn chế khuyết điểm của từng biện pháp riêng lẻ) được khuyến khích sử dụng vì có hiệu quả cao
Ảnh hưởng của cỏ dại đến đa dạng thực vật
Tác động của các loài xâm lấn vào sự đa dạng loài trong một môi trường sống
đã được làm nổi bật ở nhiều nghiên cứu Trong gần như tất cả các trường hợp này, tác động của cỏ dại được hiển thị để gây ra sự suy giảm về độ phong phú và đa dạng các loài bản địa [9, tr.7]
Ở phía Đông Ethiopia, tác động của cây Cúc liên chi dại (Parthenium
hysterophorus L.) trên đồng ruộng chủ yếu là trên lúa miến và kê ngón tay là rất
nghiêm trọng Nhờ sự lây lan nhanh chóng, Cúc liên chi dại cũng đã xâm lấn Kenya
Trang 18và các nước Đông Phi khác, độc chiếm phần lớn Nam Phi ỞẤn Độ, sự phá hoại của loài cỏ dại này đã gây giảm sút 40% năng suất đồng ruộng và một số đất canh tác và đồng cỏ ở Ấn Độ bịảnh hưởng nặng nề nhất đã bị bỏ hoang Hàng trăm loài
cỏ bản địa và các loài cây khác đã bị thay thế khỏi khu vực sống [11, tr.15]
Ngoài sự tàn phá của Cúc liên chi dại thì ở Ethiopia, người ta còn nghiên cứu
tác động của cây bụi họ Đậu (Prosopis juliflora (Swartz) DC.) có nguồn gốc từ
Trung và Nam Mỹ Ban đầu loài cây bụi này được sử dụng để cho bóng mát, gỗ, vật liệu xây dựng và nguồn thức ăn gia súc phong phú nhưng sau đó đã hình thành bụi dày, xâm lấn nguồn nước, làm giảm nguồn nước ngọt và gián tiếp gây nên sự thiếu hụt độ ẩm và dinh dưỡng cho những loài khác, tạo ra “sa mạc xanh” phần lớn là thiếu sự sống [11, tr.15]
Ở Zambia, người ta đã chú ý đến tác động nguy hại của cây Thơm ổi (Lantana
camara L.), được coi là loài thực vật xâm lấn nguy hiểm nhất trên mặt đất, có mặt ở
hơn 60 quốc gia (bao gồm tất cả các quốc gia châu Phi cận Sahara), có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ đã được biết đến như là một loài cây bụi trang trí và phòng hộ trong những năm đầu thế kỷ 20 Kể từ đó, loài cây này đã xâm lấn trên diện rộng đất nông nghiệp và đồng cỏ bản địa, nó cũng xâm chiếm vườn quốc gia và khu vực hoang dã, thay thế thực vật bản địa [11, tr.16]
Ở Ghana, người ta đã nghiên cứu tác động của cây Dâu tằm giấy
(Broussonetia papyrifera (L.) L’Her.ex), một loài cây rụng lá được nhập nội từ
Viễn Đông vào năm 1969 trong một dự án của chính phủ để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy trong nước Mặc dù dự án đó đã bị hủy bỏ nhưng loài cây này đã lây lan nhanh chóng vào các khu bảo tồn và đất nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi gia súc, gây nên những hậu quả to lớn đối với đa dạng sinh học và nông nghiệp [11, tr.16]
Tại Uganda, trong khu bảo tồn Budongo, một điểm nóng quan trọng về đa
dạng sinh học trên thế giới đã bị một loài Muồng (Senna spectabilis (DC.) Irwin
Berneby) xâm lấn nhanh chóng Loài cây này có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu
Mỹ đã được đưa đến châu Phi làm cây cảnh do có hoa màu vàng sặc sỡ nhưng sau
đó đã xâm lấn khu bảo tồn Ở những nơi khác của Uganda, người ta đã ghi nhận
Trang 19những tác động tàn phá nền kinh tế nông nghiệp và hệ sinh thái thảo nguyên của
loài cỏ Sả (Cymbopogon nardus L.) [11, tr.16]
1.2 Đặc điểm sinh học của cây Mai dương (Mimosa pigra L.)
1.2.1 Hình thái
Cây Mai dương còn được gọi là Trinh nữ nhọn (Phạm Hoàng Hộ, 1999) có tên
khoa học Mimosa pigra L., thuộc họ Fabaceae Chi Mimosa có 400 – 500 loài, hầu
hết có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ Cây Mai dương được Linnaeus mô tả là
một loài riêng lần đầu tiên vào năm 1759 Ở Việt Nam, tất cả các loài Mimosa đều
được gọi là cây Xấu hổ ở miền Bắc và cây Mắc cỡ ở miền Nam
Mimosa pigra là một loài cây bụi mọc ở nơi đất trống, ẩm ướt ở vùng nhiệt
đới có thể cao đến 6m Thân, cành có gai dày 7mm Lá có hai lần kép lông chim, xếp lại khi đụng vào Cuống dài 0,3 – 1,5cm Sóng lá chét dài 3,5 – 12 (-18) cm có gai thẳng đứng, mảnh, mũi nhọn hướng lên trên, ở giữa gốc của 6 – 14 (-16) cặp lá chét và thỉnh thoảng có gai mọc chệch hoặc mọc giữa các cặp lá Mỗi lá chét có 20 – 42 cặp lá chét con, thuôn, dài 3 – 8 (-12,5) mm, rộng 0,5 – 1,25 (-2) mm, gân lá gần song song với gân giữa, mép lá có lông tơ Hoa màu vàng hoặc hồng, cụm hoa hình đầu đường kính khoảng 1cm Mỗi cụm hoa có khoảng 100 hoa Mỗi nách lá có
1 – 2 (-3) cụm hoa Đài nhỏ, xẻ không đều, dài 0,75 – 1mm Tràng dài 2,25 – 3mm,
8 tiểu nhị Cụm quả trung bình khoảng 7 trái (1 – 27) quả Quả màu nâu, có lông, dày, dài 3 – 8 cm, rộng 0,9 – 1,4cm, chia thành 21 (14 – 26) đốt, mỗi đốt chứa một hạt, khi chín rụng từng đốt chừa hai bìa lại Hạt chín có màu nâu hay xanh oliu, thuôn, dài 4 – 6mm, rộng 2,2 -2,6mm, cân nặng 0,011g (0,006 – 0,017g) Từ khi cây ra hoa cho đến khi quả chín khoảng 5 tuần Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 26 [8, tr.345]
1.2.2 Phân bố địa lý
Cây Mai dương có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ từ Mexico qua Trung
Mỹ đến Bắc Argentina và nay lan rộng khắp vùng nhiệt đới Cây Mai dương được phát hiện ở các nước khác là Ấn Độ khoảng năm 1867, Sinapore năm 1965, Tanzania năm 1929, Kenya năm 1945, Nigeria năm 1822, Mỹ năm 1953 Cây Mai dương cũng có ở Namibia, Nam Phi, Botswana và Zimbabwe Cây Mai dương là cỏ
Trang 20dại ở Malaysia, Myanmar, Lào, Campuchia, và Việt Nam Người ta không biết cây Mai dương xâm nhập vào Việt Nam khi nào nhưng đã phát hiện những vùng bị cây Mai dương xâm lấn như ở Vĩnh Phú, Hà Nội, Hải Hưng, Bảo Lộc, phía bắc sông La Ngà, thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long [8, tr.345]
1.2.3 Nơi cư trú
Khí hậu nhiệt đới với hai mùa khô vàẩm rất thích hợp cho cây Mai dương tăng trưởng Ngoại trừ các đập nước hoặc sông suối, cây Mai dương không phải là vấn đềở những vùng có lượng mưa thấp hơn 750mm hoặc cao hơn 2250mm Nó bành trướng rất nhanh ở nơi đất trống Điều kiện khí hậu là yếu tố giới hạn duy nhất sự xâm lấn của cây Mai dương Nó có rất ít hoặc không có loài thiên địch và ít bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh khác loài Cây Mai dương không kén loại đất nhưng thường mọc ở nơi ẩm ướt như đồng bằng ven sông, ven biển từ đất sét đen nặng, đất sét cát pha đến đất cát sông nhiều silic Cây Mai dương tạo nên tầng cây bụi cao dày đặc mà tầng thực vật sát đất thưa thớt hoặc không có Nó tạo thành tầng cây rậm rạp che bóng không cho hạt của các loài cây bản địa nảy mầm Ngoài ra nó còn chiếm
cả những hồ nước nông chỉ chừa một khoảnh nhỏ nước sâu xa bờ [8, tr.346]
1.2.4 Sinh trưởng và phát triển
Ở đất ngập nước theo mùa, cây Mai dương trưởng thành có nhiều nhánh mọc
từ gốc với hệ thống rễ phụ Rễ cọc lớn cắm sâu trong đất dài 1 – 2m với hệ thống rễ bên mở rộng đến 3,5 m ở độ sâu 5cm Cùng một mật độ, cây ở xứ bản địa nhỏ hơn,
ít quả và ít hạt hơn cây mọc ở Úc Cây rụng bớt lá trong màu khô, đến cuối mùa khô thì rụng lá đến 40 – 50% Ở đất ngập nước vĩnh viễn, cây sinh trưởng và ra hoa liên tục hoặc nhiều hoặc ít quanh năm Tỉ lệ nụ nở thành hoa rất thấp trong mùa khô Tỉ
lệ nụ hoa nở đến thành hạt là 2,1 – 4,5% Phần lớn quần thể cây Mai dương nằm tiềm ẩn trong đất dưới dạng hạt
Tỉ lệ thoát hơi nước qua lá thay đổi theo mùa từ 240g/cây/ngày vào đầu mùa khô, đến 480g/cây/ngày vào cuối mùa khô, do thay đổi độ ẩm tương đối của môi trường trong mùa khô Chiều cao cây tăng trưởng cực đại 1,33cm/ngày ở cây mầm
và 1,1cm/ngày ở cây hơn một năm tuổi Lá kép của nhiều loài cây thuộc chi
Trang 21Mimosa nhạy với các loại kích thích khác nhau như điện, cơ học, hóa chất, nhiệt độ,
vết cắt và ánh sáng Loài này cũng có đặc tính khép lá ban đêm [8, tr.346]
1.2.5 Sinh sản
Cây bắt đầu ra hoa khoảng 6 – 8 tháng sau khi nảy mầm Ở xứ bản địa, cây Mai dương là loài thụ phấn nhờ ong Cây tự thụ phấn khi không có vật truyền hạt phấn, đôi khi thụ phấn nhờ gió Trong môi trường ẩm ướt, cây cũng có hiện tượng thai sinh Mỗi năm cây tạo trung bình 9000 hạt/cây Ở nơi khô hơn cây tạo ít trái hơn Cây mọc gần hồ có nhiều trái hơn cây mọc ở đồng lũ Mỗi đốt quả có lông nên trôi nổi trong nước, do đó hạt phát tán nhanh chóng theo hệ thống sông ngòi
Hạt của Mimosa pigra cứng nên nước thoát dần ra khỏi hạt tươi có lẽ qua rốn
hạt Hạt sống hơn 5 năm trong phòng thí nghiệm Hạt có thể tồn tại ít nhất 23 năm trong đất cát Vì luôn có một số lượng lớn nằm sâu trong đất ít bị thất thoát nên phải kiểm soát cây mầm nhiều năm sau khi đã loại trừ được cây trưởng thành Nhiệt độ cao không ảnh hưởng đến sức sống của hạt Hơn nữa dao động nhiệt độ còn làm vỡ
vỏ hạt và hạt dễ hút nước để nảy mầm Trong phòng thí nghiệm, nhiệt độ dao động trong khoảng 200C thúc đẩy hạt nảy mầm Tỉ lệ nảy mầm cao nhất khi hạt nằm ở khoảng 1cm trong đất và thấp đến bằng 0 ở 10cm trong đất Phần lớn hạt nằm trong khoảng 10cm cách mặt đất Sức sống của hạt thấp trong suốt mùa khô, phụ thuộc vàođộẩm của đất Số lượng lớn hạt (khoảng 1500 hạt/m2) nằm trên đất ẩm sẽ nảy mầm dưới tán cây mẹ khi nước lũ vừa rút Hạt cũng nảy mầm vào đầu mùa mưa,
hoặc sau khi cháy Mimosa pigra không có hình thức sinh sản sinh dưỡng tự nhiên
Cây này tuợc rất mạnh từ gốc đã bị chặt thân [8, tr 346]
1.2.6 Sự biến động quần thể
Quần thể cây mọc dọc theo hệ thống sông ngòi tăng rất nhanh Diện tích của vùng bị xâm lấn tăng gấp đôi sau 1,2 năm Cây sinh sản bằng hạt Mật độ cây mầm dao động nhiều trong năm, nhiều hạt bị chìm trong mùa mưa lũ Lượng hạt nảy mầm cao nhất vào cuối mùa mưa, khi hạt mới rơi vào đất ẩm dưới tán cây mẹ Tuổi thọ của cây tùy thuộc vào từng loại đất Cây thường chết trong khoảng 5 năm tuổi Cây trưởng thành còn bị chết với một tỷ lệ nhất định, được bổ sung bằng cây mầm,
và chúng tồn tại ít nhất là 15 năm Khi còn là cây mầm, cây phải cạnh tranh khốc
Trang 22liệt với cỏ Một khi nó đã mọc dày đặc rồi thì nó làm cho mật độ dòng photon của quang hợp ở mặt đất thấp khoảng 5% giá trị của mùa sinh trưởng, có nơi chỉ còn 1% Hậu quả là thực vật thân thảo và cây mầm của những loài khác không tồn tại được [8, tr.347]
1.2.7 Tác dụng
Có hại
Cây Mai dương hiện đang xâm lấn rất mạnh các khu bảo tồn đất ngập nước ở
Úc, Thái Lan, Mỹ và châu Phi Ở Úc, 450 km2 đồng bằng ngập lũ và đầm lầy đã bị cây Mai dương bao phủ Ở nơi cây Mai dương mọc dày đặc, các loài chim, bò sát, thực vật thân thảo và cây mầm của các loài khác ít hơn ở thảm thực vật bản địa
Nguồn thức ăn và nơi làm tổ của loài Ngỗng (Anseranas semipalmata) là các rừng
sậy bản địa đang bị cây Mai dương đe dọa bành trướng Đời sống của nhân dân Úc bản xứ đang bị đe dọa bởi cây Mai dương do chúng làm thay đổi hệ thống động thực vật của các vùng đất ngập nước Cây Mai dương cạnh tranh với đồng cỏ, nó là mối đe dọa ngành chăn nuôi nhất là chăn nuôi bò Nó cũng giới hạn dòng chảy sông ngòi làm ảnh hưởng đến ngư dân, du lịch và giao thông đường thủy [7, tr.24]
Ở Thái Lan, Mimosa pigra là loài cỏ dại gây nhiều tác hại, nhất là đối với hệ
thống tưới tiêu Nó cũng hạn chế việc đến gần các con đường, đường dây điện Chi phí lớn nhất là chi phí kiểm soát cây Mai dương bằng thuốc diệt cỏ vì nó làm tích tụ trầm tích trong lòng hồ chứa nước và hệ thống tiêu nước Ngoài ra nó còn xâm lấn các ruộng lúa làm cho chi phí phục hồi rất cao, khoảng 75% chi phí làm đất chỉ để kiểm soát cây Mai dương [7, tr.25]
Ở Việt Nam, từ thập kỷ 90, cây Mai dương bùng phát và gây hại ở nhiều nơi Hiện nay, chúng xuất hiện khắp nơi và nhất là ở vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp Cây Mai dương cũng đang xâm lấn mạnh ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai Ở vườn quốc gia Cát Tiên, Mai dương bao phủ toàn bộ diện tích 100 ha của Bàu Chim và mỗi năm vườn phải trả 50 – 100 triệu để phòng trừ loài cây này nhưng không có kết quả vì hàng năm trong mùa lũ, dòng sông Đồng Nai lại mang hàng triệu hạt từ các cánh đồng Mai dương mênh mông của huyện Cát Tiên, trên thượng lưu lại theo dòng sông Đồng Nai tràn vào các bàu nước của vườn quốc gia Cát Tiên
Trang 23như Bàu Chim, Bàu Cá Hiện nay, nhiều hồ chứa nước như hồ Trị An, hồ Đồng Mô – Ngải Sơn…cũng đang bị cây Mai dương xâm lấn và gây ảnh hưởng đến chức năng cung cấp nước và phục vụ du lịch của các hồ Hiện nay, ở Việt Nam, cây Mai dương đang trở thành một hiểm họa đối với các khu bảo tồn vì đất rộng mênh mông, khó kiểm soát, nó cũng là hiểm họa đối với các vùng đất ngập nước và các
hồ chứa nước vì Mai dương rất thích hợp với vùng đất ngập nước, cây bị ngập lâu ngày chỉ chết phần ngọn và rụng hết lá, khi nước rút phần gốc của cây vẫn có khả năng nảy mầm Đối với các cánh đồng lúa nước Mai dương cũng gây ảnh hưởng nhưng vì ruộng lúa được người dân thường xuyên chăm sóc nên khi Mai dương vừa xuất hiện đã bị dọn sạch ngay như các loại cỏ dại khác nên tác hại của nó đối với ruộng lúa và vườn cây ăn quả chưa lớn lắm Việc tiêu diệt Mai dương đã được tiến hành ở một số nơi nhưng chưa thu được kết quả vì việc làm còn mang tính địa phương, cục bộ, không kiểm soát được nguồn cung cấp hạt thường xuyên ở nơi khác đến [21]
Có lợi
Lúc đầu, Mimosa pigra được nhập nội vào Thái Lan để làm phân xanh và là
cây phủ đất, chống xói mòn Cây dùng làm củi, làm giàn leo cho đậu Lá làm thức
ăn cho động vật Người Sudan dùng muối khoáng từ cây Mai dương, quả dùng làm thuốc chữa mắt Rễ cây có chất kích thích, thuốc ngâm rễ trị cảm lạnh ở các nước Tây Phi Người ta còn dùng lá làm hạ sốt, trị đau răng hay bệnh do giãn mạch máu Nhưng hiệu quả của những cách điều trị trên đều không được biết rõ Ở khu bảo tồn Yankari Game (Nigeria), cây Mai dương lại là thức ăn mùa khô cho voi và động vật
móng guốc nhỏ Loài Bồ câu (Phaps chlcoptera) ăn hạt rụng [7, tr.25]
Một nghiên cứu gần đây cho thấy vỏ Mai dương có thể sử dụng làm nguyên liệu thô sản xuất carboxymethyl cellulose (CMCm) trong ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và các ngành công nghiệp khác [20, tr.3218]
1.2.8 Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa pigra L.) đến đa dạng thực vật
Mai dương là một trong 20 loài cỏ dại quan trọng và được liệt kê vào cơ sở dữ liệu các loài xâm lấn toàn cầu Sự lây lan phá hoại dày đặc đã ảnh hưởng đến những khu bảo tồn thiên nhiên và đồng cỏ Sự giảm đa dạng sinh học thực vật và động vật
Trang 24và những tác động chủ động lên nông nghiệp bằng cách cạnh tranh những loài trên đồng cỏ, gây cản trở sự tụ họp của vật nuôi và hạn chế thủy triều Nó làm thành thể độc canh trên đồng cỏ và xung quanh các vùng đất ngập nước những nơi mà lũ lụt xuất hiện Sự lây lan phá hoại chưa được xử lý có thể nhân lên trong vùng mỗi năm
và phát tán bởi hạt trôi trên mặt nước [16, tr.567 – 568]
Ở vùng ven biển phía Bắc Úc, cây Mai dương đã lây lan nhanh chóng trong hệ sinh thái bản địa trong nhiều thập kỷ qua Ban đầu, nó thay thế cây sậy, sau đó là thực vật vùng ven sông, dưới nước và quần xã rừng gió mùa Mối quan hệ tiêu cực của mật độ của cây Mai dương và sự phong phú của thảm thực vật bản địa có thể là dấu hiệu của sự cạnh tranh vềánh sáng, độ ẩm, chất dinh dưỡng Trong đó, sự hiện diện của Mai dương có tác dụng rõ rệt về chế độ ánh sáng trên mặt đất, gây nên việc giảm số lượng cây, sinh khối và độ phong phú, đa dạng của thực vật thân thảo [12, tr.189]
Ở Mozambique, Mai dương đã trở thành loài ưu thế trong đầm Chunga của vườn quốc gia Lochinvar trong vòng 15 năm Trước năm 1980, chỉ có khoảng 2 ha nơi thượng nguồn của suối Nampongwe chảy qua đầm Chunga bị Mai dương xâm lấn nhưng vào giữa những năm 1980, nóđã lan rộng và bao phủ khoảng 100 ha Một cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2003 đã cho thấy khu vực này đã tăng lên khoảng 2.500 ha, Mai dương đã nhanh chóng thay thế thảm thực vật đồng cỏ chiếm
ưu thế trước đó như Echinochloa stagina và Oryza longistaminata A Chev [12,
Ở Việt Nam, sự xâm lấn của cây Mai dương đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học của nhiều hệ sinh thái Tại vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh
Trang 25Đồng Tháp, cây Mai dương mọc thành những đám thuần loại, che phủ các vùng ven kênh và các đồng cỏ, làm biến mất thảm thực vật bản địa Nhiều vùng đồng Cỏ
năng ở khu A4 và A5 trước đây là bãi ăn của Sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii)
nay đã hoàn toàn bị cây Mai dương chiếm cứ Việc giảm diện tích các bãi thức ăn
đã góp phần vào việc suy giảm đàn sếu đến vườn quốc gia Tràm Chim hàng năm Với tốc độ xâm nhiễm hiện tại, và nếu không có bất cứ cố gắng kiểm soát nào loài cây này, thì chỉ trong khoảng 5 năm nữa tất cả diện tích đồng cỏ của Tràm Chim sẽ
bị xâm lấn hết, đe dọa nghiêm trọng đến đời sống của các loài động thực vật bản địa sinh sống trên các cánh đồng cỏ này Khu vực hồ Trị An là vùng đất ngập nước theo mùa, thời gian kéo dài của mùa mưa hàng năm là khoảng 8 tháng với lượng mưa trung bình năm trên 2.000 mm rất thuận lợi cho sự phát triển của cây Mai dương
Do đó, tại đây cây Mai dương chiếm cứ hầu như gần hết các khu vực đất hồ bị trống khi nước rút vào mùa khô Ven sông Đồng Nai, nhiều cây Mai dương mọc thành đám dày, gốc to (đường kính khoảng 10cm) Sự phân bố dày đặc của cây Mai dương ở nơi này cho thấy cây Mai dương hiện diện ở đây từ lâu và cây Mai dương
ở phần hạ lưu sông Đồng Nai là do hạt lây lan từ thượng nguồn Ngoài ra, cây Mai dương cũng đang xâm lấn mạnh, cạnh tranh với các loài sinh vật bản địa tại các nơi khác như khu vực sông La Ngà, sông Bé, đồng bằng sông Cửu Long…[8, tr.359, tr.361 – 362]
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Sự xâm lấn gây hại của các loài ngoại lai nói chung và Mimosa pigra L nói
riêng đang là mối lo ngại không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề này và nhận được nhiều mối quan tâm chú ý
“A guide to the management of Mimosa pigra” của Harley (1992) đề cập đến
khoảng 800 km2 diện tích vùng đồng bằng và đầm lầy ở miền Bắc Úc đã bị bao phủ
bởi sự độc chiếm dày đặc của Mimosa pigra, động thực vật những nơi này trở nên hiếm hơn, đang bị đe dọa bởi sự lây lan của loài cỏ dại này Tại Thái Lan, Mimosa
pigra được coi là một loài cỏ dại nghiêm trọng, là mối nguy hại cho thủy lợi, giao
thông và gây trở ngại cho đường truyền dây tải điện [15, tr.8 – 9]
Trang 26Braithwaite và Lonsdale (1988) có nghiên cứu“Alien vegetation and native
biota in tropical Ausatralia: the impact of Mimosa pigra” cho thấy sự hiện diện của Mimosa pigra có tác dụng rõ rệt đối với chế độ ánh sáng trên mặt đất, góp phần làm
giảm số lượng cây, sinh khối và độ phong phú của các loài thân thảo khác từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến hầu hết các loài chim trên cạn, các loài chim nước và các loài bò sát, lưỡng cư và các loài động vật khác [12, tr.189]
Trong nghiên cứu “Sự xâm lấn của cây Mai dương (Mimosa pigra L.) ở vườn
quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp” (2000) của Nguyễn Thị Lan Thi cho thấy Mimosa pigra là một loài ngoại lai xâm lấn mạnh, đe dọa làm mất dần thảm thực
vật bản địa của Tràm Chim, dẫn đến thay đổi hệ động vật bản địa Nó lấn át đồng cỏ
Năng, là bãi ăn, bãi nghỉ của Sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii), loài chim quý
hiếm của Việt Nam và thế giới Loài cỏ dại này làm giảm giá trị bảo tồn của vùng đồng cỏ đất ngập nước đặc trưng còn lại duy nhất của vùng Đồng Tháp Mười, làm giảm giá trị du lịch sinh thái của vườn quốc gia Tràm Chim [7, tr.45 – 46]
Theo “Biological Control of Weeds in Australia” của Heard (2012) thì có
hơn 100 loài thiên địch được tìm thấy trên loài Mai dương ở Trung và Nam Mỹ Có
một số loài gây ra sự phá hoại rõ rệt như Platymopsis humeralis white gây phá hủy
rõ rệt bởi việc bóc vỏ thân cây, Mictis profana sinh sản trên Mai dương, gây chết khô đỉnh ngọn, đóng góp vào việc kiểm soát sinh học, Risbecorna pigrae Raspius là
một loài ong vò vẽ ăn hạt phổ biến trên Mai dương ở châu Phi [16, tr.571 – 572]
Nghiên cứu “Modelling intergrated weed management of an invasive shrub in
tropical Ausatralia” của Buckley và cộng sự (2004) cho thấy các mô hình kiểm soát
bằng các biện pháp tổng hợp (thuốc diệt cỏ, cơ khí, lửa) Trong nghiên cứu này cũng đã giới thiệu một số phương pháp kiểm soát tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những hạn chế nhất định Phương pháp cắt, đốt và sử dụng thuốc diệt cỏ một khu vực nhỏ Mai dương xâm lấn ở vườn quốc gia Kakadu, Úc đã bị hủy diệt trong một năm Tuy nhiên cần phải tiếp tục duy trì kiểm soát Khi các bộ phận trên mặt đất của cây bị phá hủy bằng phương pháp kiểm soát cơ học thì cũng có thể mọc lại trừ khi phương pháp này được sử dụng kết hợp với thuốc diệt cỏ Hơn nữa có nguy cơ
Trang 27máy móc mang theo hạt giống sẽ chuyển Mimosa pigra đến khu vực mới, làm phát
tán loài này đến nơi khác [13, tr.548]
Phương pháp kiểm soát cây Mai dương đãđược sử dụng là phương pháp cơ học dùng cách chặt, phương pháp sinh thái dùng cách đốt, phương pháp tổng hợp dùng cách chặt kết hợp với đốt và cách chặt kết hợp với ngập lũ Về mặt sinh học, các phương pháp xử lý chặt, đốt, chặt và đốt đều cho kết quả như nhau, chỉ làm giảm mật độ cây, sinh khối, độ che phủ của cây Mai dương sau một lần xử lý Cách
xử lý chặt và ngập lũ đạt hiệu quả cao, sau khi xử lý 4 tháng, cây Mai dương bị chặt không nảy tược ở các ô mẫu trong đồng Về mặt kỹ thuật, các phương pháp chặt, đốt, chặt và đốt, chặt và ngập lũ đều cần dụng cụ như nhau và không đòi hỏi kỹ năng cao Về kinh tế, chi phí cho phương pháp chặt là ít nhất, rồi đến chặt và ngập
lũ, đốt Chi phí cho cách xử lý chặt kết hợp với đốt là nhiều nhất Kết quả này được
trình bày trong nghiên cứu “Sự xâm lấn của cây Mai dương (Mimosa pigra L.) ở
vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp” (2000) của Nguyễn Thị Lan Thi [7,
tr.84]
Trong nghiên cứu “Weed management through short-term improved fallows in
tropical agroecosystems” của Gallegher (1999) cho thấy mục tiêu của hợp tác quản
lý cỏ dại (IWM) là sử dụng nhiều chiến thuật để giảm tác động của cỏ dại trong cả ngắn hạn và dài hạn Các thành phần của chương trình phòng chống IWM chủ yếu tập trung vào việc giảm số lượng ngân hàng hạt giống cỏ dại và giảm thiểu việc thành lập của cỏ dại Số lượng ngân hàng hạt giống thấp hơn thường có nghĩa là cỏ dại ít tiềm năng, trong khi giảm thiểu sự thêm vào cỏ dại có nghĩa là cỏ dại thành lập ít nhưng vẫn phải được quản lý Trong hệ thống mà ngân hàng hạt giống cỏ dại
đã được giảm thiểu thì số lượng hạt giống sẽ giảm theo thời gian Thiệt hại ngân hàng hạt giống cỏ dại là do sự nảy mầm, tỷ lệ tử vong hạt giống vàhạt giống bị ăn
Tỷ lệ tổn thất ngân hàng hạt giống phụ thuộc vào loài cỏ dại hiện tại và yếu tố trồng trọt, chẳng hạn như loại đất, nhiệt độ và hàm lượng nước.Quản lý đất hoang hóa chuyên sâu, thông qua tác động của nó trên các đặc tính sinh học và vật lý của các ngân hàng hạt giống đất có thể làm tăng hoặc làm chậm tốc độ suy giảm ngân hàng hạt giống Trong thời gian dài, mục tiêu của quản lý ngân hàng hạt giống cỏ dại
Trang 28phát triển sẽ thúc đẩy sự suy giảm nhanh chóng trong các ngân hàng hạt giống [17, tr.216]
Theo “Fluctuating temperatures break seed dormancy of Catclaw Mimosa
(Mimosa pigra)” của Dillon (1985) thì hạt Mai dương có thể không nảy mầm hoặc
nảy mầm kém khi duy trì ở nhiệt độ không đổi Tỷ lệ nảy mầm cao nhất là 40% ở
440C trước ngày thứ 10 của thí nghiệm Hạt ngâm trong axit sunfuric nảy mầm 100% ở nhiệt độ trên 180C vào ngày thứ hai và trên 12,50C vào ngày thứ tư Trước ngày 14 ít nhất 80% nảy mầm xảy ra ở tất cả các nhiệt độ trên 70C Không có hạt nào nảy mầm ở nhiệt độ dưới 70C [14, tr.197]
Nghiên cứu “Tìm hiểu ảnh hưởng của ánh sáng mạnh, nhiệt độ cao và sự thiếu
khí carbon dioxin trên hiện tượng quang ức chế ở lá Mai dương Mimosa pigra L.”
của Đỗ Thường Kiệt, Trần Triết, Bùi Trang Việt và Thomas J.Givnish (2013) cho thấy các điều kiệnánh sáng mạnh (2000µmol/m2/giây), nhiệt độ cao (400C) và sự thiếu CO2 (CO2 0%) được dùng để khảo sát hiện tượng quang ức chế ở lá Mai Dương Các kết quả cho thấy ánh sáng cao kích thích sự mở khẩu, tăng sự thu CO2 ,
sự phóng thích O2, sự làm dịu năng lượng theo hướng không quang hóa (qN) và vận tốc chuyển điện từ (ETR) của lá Mai dương Tỷ lệ hiệu suất hoạt động của quang hệ
II (Fv/Fm) giảm nhẹ dưới tác động của ánh sáng mạnh và được phục hồi sau sự che tối Nhiệt độ cao không ảnh hưởng đến sự đóng mở khẩu, sự thu CO2, qN, ETR và
Fv/Fm nhưng hạ thấp sự phóng thích O2 Sự thiếu CO2 kích thích sự mở khẩu, tăng
qN, cản sự thu CO2 và chuỗi truyền điện tử quang hợp, đồng thời hạ thấp tỷ lệ
Fv/Fm Ánh sáng mạnh (từ 1600µmol/m2/giây) và nhiệt độ cao (từ 390C) trong tự nhiên gây ra sự thu mạnh khí O2 ở lá Mai dương [2, tr.60]
Đỗ Thường Kiệt và cs (2012) có nghiên cứu “Ảnh hưởng của Sodium
Chloride trên các biến đổi hình thái và sự trao đổi khí ở lá Mai dương Mimosa pigra L.” đã mở ra một phương pháp sử dụng hóa chất được áp dụng trên cây Mai
dương nhằm kiểm soát loài này một cách an toàn và ít gây ô nhiễm môi trường NaCl ở các nồng độ khác nhau được xử lý trên lá nguyên và lá chét cấp 2 của Mai dương Kết quả cho thấy NaCl gây ra sự hóa nâu trên lá Mai dương, bắt đầu từ chóp
lá chét cấp 2, lan rộng về phía gốc, với diện tích tăng dần theo thời gian sau thời
Trang 29gian xử lý và theo nồng độ xử lý Sự hóa nâu lá chét Mai dương xảy ra sau 24 giờ
và hư hỏng hoàn toàn sau 2 ngày xử lý với NaCl 30g/l NaCl 30g/l gậy ra mất diệp lục, sự co nguyên sinh của các tế bào nhu mô, đóng khí khổng, ức chế quang hợp 24 giờ sau khi xử lý Sự mất màu diệp lục tố của lục lạp xuất hiện đầu tiên ở lớp lục
mô giậu và lan dần đến các tế bào lục mô bên dưới, là nguyên nhân của hiện tượng hóa nâu do NaCl gây ra trên lá Mai dương [4, tr.865]
Nghiên cứu “Sử dụng vật liệu tử diệp để nghiên cứu ảnh hưởng của muối ăn
đối với quang hợp ở cây Mai dương (Mimosa pigra L.)” của Đỗ Thường Kiệt,
Thomas J.Givnish, Trần Triết, Bùi Trang Việt (2012) cho thấy NaCl đã được sử dụng thay thế như một thuốc diệt cỏ để kiểm soát một số cỏ dại dạng bụi thấp Lá cây Mai dương bị hóa nâu khi bị xử lý NaCl Tử diệp Mai dương 2 ngày tuổi cókhả năng quang hợp tương tự như một lá chét trưởng thành và được dùng để nghiên cứu các biến đổi về hình thái cũng như quang hợp sau xử lý NaCl Kết quả cho thấy NaCl nồng độ từ 10 đến 60 g/l gây ra sự mất diệp lục tố, carotenoid dẫn đến sự mất màu lục và hóa nâu của lục mô ở tử diệp Mai dương Hiện tượng quang ức chế ở tử diệp Mai dương gây ra bởi NaCl chỉ xảy ra khi cóánh sáng mạnh và được thể hiện qua sự giảm các giá trị Fv/Fm, qP,qN cùng tốc độ chuyển điện tử của tử diệp Sự phóng thích oxygen cũng như sự thu khí carbonic của tử diệp giảm mạnh khi nồng
độ NaCl gia tăng trong xử lý [3, tr.956]
Kết quả nghiên cứu “Tìm hiểu khả năng quang hợp ở cây Mai dương (Mimosa
pigra L.) nhằm mục đích kiểm soát sự phát triển của loài cỏ dại này” của Đỗ
Thường Kiệt (2013) cho thấy rằng Mai dương có khả năng quang hợp mạnh nhờ PSII của lá Mai dương có hiệu suất hoạt động tối đa (Fv/Fm) bền dưới ánh sáng cao Đồng thời, bộ máy quang hợp luôn được bảo vệ thông qua sự làm dịu không hoang hóa (qN) và tỏa nhiệt mạnh, do khí khẩu luôn mở rộng ở cường độ ánh sáng cao NaCl gây ra sự hóa nâu tăng dần theo nồng độ từ 10 g/l tới 100 g/l Dưới ánh sáng mạnh (100 klux hay 1600 µmol/m2/giây, như trong tự nhiên vào lúc nắng gắt), hiệu năng quang hợp của lá Mai dương giảm từ 0,71 xuống 0,66 (khoảng 7%) nhưng có thể phục hồi khi được che tối trong thời gian dài Với tổn thương nặng hơn do NaCl cùng lúc với tác động của cường độ chiếu sáng cao, giá trị này giảm đến 85% và lá
Trang 30không thể phục hồi FeSO4 0,1mM bảo vệ lá khỏi hóa nâu gây ra bởi NaCl 30 g/l, nhưng ở nồng độ 10nM lại tăng cường hiệu ứng độc này Sự hóa nâu của lá và tử diệp Mai dương do NaCl và FeSO4 xảy ra do diệp lục tố trong các tế bào lục mô gần biểu bì trên bị mất đi NaCl 30 g/l gây rụng lá hoàn toàn và chết 90% cây con Mai dương 4 tuần tuổi Xử lý NaCl 60 g/l bằng cách phun trên lá Mai dương tại các thời điểm có cường độ chiếu sáng cao trong ngày tại Thành phố Hồ Chí Minh và vườn quốc gia Tràm Chim, Bến En, làm cho các cây Mai dương hư ngọn và rụng toàn bộ
lá sau 1 tuần xử lý, tạo nhánh bên sau 2 tuần và ra hoa trên các nhánh mới bắt đầu ở tuần thứ 8 Có thể kiểm soát sự tăng trưởng của cây Mai dương ở vườn quốc gia Tràm Chim và Bến En trong cả mùa khô và mùa mưa bằng sự phun lặp lại NaCl trên toàn cây mỗi 8 tuần Sự phun NaCl 60 g/l lặp lại 3 lần, mỗi lần cách nhau 8 tuần, trong mùa mưa tại vườn quốc gia Bến En làm chậm sự ra hoa của Mai dương thêm 12 tháng kế từ lần phun đầu tiên [5, tr.157]
1.4 Tổng quan về vườn quốc gia Cát Tiên
Vườn quốc gia Cát Tiên (thuộc tỉnh Đồng Nai) được thành lập vào năm 1992
và được Ủy ban UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới
và là khu dự trữ sinh quyển thứ hai của Việt Nam vào năm 2001
- Phía Đông có ranh giới tự nhiên là sông Đồng Nai, kéo dài từ suối Daklua đến ấp Tà Lài (thuộc xã Tà Lài - huyện Tân Phú), dài 36km
- Phía Tây giáp với Lâm Trường Vĩnh An (huyện Vĩnh Cửu - tỉnh Đồng Nai)
- Phía Nam giáp với công ty Lâm nghiệp La Ngà (huyện Định Quán - tỉnh Đồng Nai) được phân chia bằng đường 323, dài 30km
- Phía Bắc giáp huyện Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) với đường ranh giới dài 25km[6, tr.7]
Trang 311.4.2 Địa hình
Vườn quốc gia nằm trong khu vực chuyển tiếp từ địa hình cao nguyên xuống đồng bằng, với các kiểu địa hình đặc trưng của khu vực Đông Nam Bộ như: Bậc thềm sông suối, bán bình nguyên cổ, các đồi trung bình khá bằng phẳng và nhiều
hồ, đầm xen kẽ (Bộ Lâm Nghiệp, 1993) Các kiểu địa hình chính bao gồm:
- Đồi trung bình ít sườn dốc: phân bố ở phía Tây và Tây Bắc vườn quốc gia,
độ cao trung bình 200 – 300m và độ dốc trung bình 150
- Đất Feralit phát triển trên đá bazan
Chiếm diện tích lớn, chủ yếu phân bố ở phía Đông Đất có màu nâu đỏ, giàu dinh dưỡng Rừng phát triển tốt trên loại đất này, có nhiều cây gỗ quý, khả năng phục hồi rừng nhanh
- Đất Feralit phát triển trên đá sét
Chiếm khoảng 8% diện tích toàn vườn, phân bố ở phía Nam và xen giữa 2 vạt đất bazan Độ phì khá nhưng thành phần cơ giới nặng, nên khi mất rừng đất bị thoái hóa một cách nhanh chóng
Trang 32- Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ
Đất chiếm diện tích nhỏ và không tập trung Có 3 vạt, một vạt ở phía Bắc và 2 vạt ở phía Nam Đất này còn gọi là đất xám bạc màu trên phù sa cổ Đất xấu, nghèo dinh dưỡng nhưng thường có mực nước ngầm cạn nên thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây cối vào mùa khô
- Đất phù sa
Chiếm phần lớn diện tích ở phía Đông do ở đây có mạng sông suối khá nhiều
và có địa hình thấp Nhóm đất này cũng hiện diện trong những khu vực bị ngập nước của các khu vực nông nghiệp thuộc xã Daklua, Tà Lài và các bàu ở trung tâm
Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm ở Sở Sao là 26,70C, ở Bảo Lộc là 21,90C Biên độ nhiệt dao động không cao khoảng 3 – 4,10C Tổng lượng mưa trung bình ghi nhận tại trạm Bảo Lộc rất cao 2683,6mm với số ngày mưa là 187 ngày Tổng lượng mưa trung bình tại trạm Sở Sao là 1752,9mm với 137 ngày mưa Vườn quốc gia Cát Tiên chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10 và gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [8, tr.267]
Thủy văn
Vườn quốc gia Cát Tiên có ranh giới tự nhiên là sông Đồng Nai ở phía Đông với chiều dài 56km, bao bọc từ Đông Bắc đến Đông Nam Sông rộng trung bình 100m, lưu lượng trung bình 405m3/s Một số nơi có thác ghềnh như Thác Khỉ, Bến
Cự, Thác Trời, Tà Lài Ngoài ra, vườn có hệ thống gồm nhiều suối, các suối này bắt nguồn từ địa hình cao ở phía Tây và Tây Bắc đổ ra sông Đồng Nai như Daklua, Da Tapoh, Da Semath, Da Bao Một số con suối cạn nước vào mùa khô, nhưng một số khác vẫn có nước quanh năm chẳng hạn như suối Daklua [6, tr.12]
Trang 331.4.5 Hệ thực vật
Hệ thực vật của vườn quốc gia Cát Tiên mang nhiều nét đặc trưng của hệ thực vật Đông Nam Bộ với các loài cây gỗ thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) và họ Đậu (Fabaceae) Thực vật bậc cao có 653 loài thuộc 442 giống, 125 họ trong đó có nhiều
loài cây gỗ quý như Cẩm lai (Dalbergia bariensis), Cẩm lai vú (Dalbergia
mamosa), Trắc (Dalbergia cochichinensis), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa),…Ngoài ra,
vườn còn có 84 loài thực vật chưa được ghi nhận và 212 loài rong nước ngọt, 35 loài nấm (Bộ Lâm Nghiệp, 1993)
Vườn quốc gia Cát Tiên có các kiểu rừng chính sau:
Rừng lá rộng thường xanh: nằm phía Đông và Tây Nam của vườn
Rừng bán thay lá: nằm ở phía Đông Bắc (gần sông Đồng Nai)
Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa: phân bố ở phía Đông và Nam của vườn
Rừng tre - nứa
Thảm thực vật vùng ngập nước
Vùng đất ngập nước của vườn là vùng trũng thấp nên chịu ảnh hưởng của chế
độ nước của sông Đồng Nai Vào mùa mưa nước tư khu vực có địa hình cao theo các con suối đổ về vùng này, nếu sự thoát nước ra sông Đồng Nai không kịp sẽ dẫn đến ngập lụt Diện tích ngập của toàn vùng khoảng 3.370 ha tạo thành hệ thống các bàu nối liền nhau Độ ngập sâu trung bình 3m, một số nơi như Bàu Sấu, Bàu Cá có thể ngập hơn 4m vào thời gian cao điểm của mùa mưa Diện tích ngập bắt đầu từ tháng 5 và tăng dần vào khoảng tháng 8 và đạt cực đại vào tháng 9, vào tháng 3 và tháng 4, nước rút gần hết nên diện tích ngập thấp nhất Các bàu nằm liền kề nhau sẽ nối liền thành một hệ thống vào mùa mưa, liên thông với sông Đồng Nai qua suối Daklua, nên lúc này chúng chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ nước của sông Đồng Nai Vùng đất ngập nước của vườn trũng hơn xung quanh nên nó nhận vật liệu rửa trôi và phù sa từ sông Đồng Nai đưa vào[6, tr.12 – 13]
Trang 34Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng hợp tài liệu
Tất cả các tài liệu liên quan đến sự xâm lấn của các loài ngoại lai đến các khu
hệ sinh thái trong và ngoài nước được tổng hợp, tham khảo và đặc biệt quan tâm đến loài Mai dương để đánh giá ảnh hưởng của loài này đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên
2.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của cỏ dại đến đa dạng thực vật
Để xác định những ảnh hưởng của cỏ dại môi trường đến đa dạng thực vật cần xem xét 5 yếu tố chính:
Phạm vi của môi trường sống dễ bị xâm lấn
Tỷ lệ lây lan giữa các môi trường sống dễ bị ảnh hưởng
Triển vọng cho việc ngăn ngừa và kiểm soát cỏ dại
Quan hệ giữa cỏ dại và sự xáo trộn môi trường sống
Tác động của cỏ dại đến đa dạng loài
Một số phương pháp chính đã được sử dụng để xác định ảnh hưởng của cỏ dại đến đa dạng sinh học quần xã thực vật Tất cả các phương pháp đều có giá trị trong việc đánh giá ảnh hưởng của các loài thực vật xâm lấn và không có duy nhất phương pháp nào là cần thiết hơn phương pháp nào, thay vào đó mỗi phương pháp lại cung cấp một cái nhìn khác nhau về vấn đề đang được nghiên cứu và do đó chúng bổ sung cho nhau Quyết định sẵn thời gian để thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của cỏ dại và các giả thuyết ban đầu được thử nghiệm sẽ xác định được các phương pháp nên được sử dụng
Trang 35Bảng 2.1 Một vài phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của cỏ dại đến đa dạng thực vật, những thuận lợi và khó khăn (sửa chữa từ Adair và Groves 1998) [18, tr.49]
Phương pháp Thuận lợi Khó khăn
So sánh đa vị trí: Phương
pháp này được kết hợp vào
trong chương trình nghiên
cứu Những đơn vị mẫu
- Đánh giá nhanh ảnh hưởng của cỏ dại
- Không thể xác định được những trường hợp tái xâm lấn
- Khó khăn để tìm thấy những loài phổ rộng ở những vị trí không bị xâm lấn
Sự loại trừ cỏ dại: Loại trừ
cỏ dại ở những vùng rời rạc,
theo dõi sự thay đổi thảm
thực vật sau đó, kết hợp với
việc so sánh những vùng có
sự hiện diện của cỏ dại
- Hầu như có thể đánh giá
sự ảnh hưởng của những loài xâm lấn mới
- Đánh giá đượcảnh hưởng của cỏ dại trên các loài quý hiếm hoặc đang
bị đe dọa
- Phụ thuộc vào sự phục hồi trong thòi gian đáng kể (tính bằng năm hay thập kỉ)
- Không phù hợp với những loài xâm lấn
cũ, nơi mà những loài xâm lấn gây những nguy hại không thể phục hồi chức năng và
đa dạng hệ sinh thái
Nghiên cứu trình tự thời
gian: Phương pháp sử dụng
để xác định ảnh hưởng của
cỏ dại ở những nơi có sự di
dời và ảnh hưởng của những
quẩn thể cỏ dại cụ thể được
theo dõi trong suốt thời
gian
- Thời kỳ tái xâm lấn có thể đuợc đánh giá của những quần thể ở mức độ cao hơn
- Nghiên cứu trong thời gian dài
- Những quần thể trải rộng hoạt động
Trang 36Đề tài sử dụng phương pháp so sánh đa vị trí để đánh giá ảnh hưởng của cây Mai dương đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên vì đây là phương pháp
cụ thể, khả thi và thích hợp nên chúng tôi sử dụng phương pháp này làm cơ sở để tiến hành thu thập dữ liệu, phân tích và đánh giá kết quả đạt được
Các biện pháp đa dạng đã được sử dụng rộng rãi để theo dõi ảnh hưởng của cỏ dại xâm lấn Để có một ước lượng tốt về sự phong phú các loài, một số quarat được đặt dọc theo một đường cắt ngang hoặc được đặt một cách ngẫu nhiên, tùy thuộc vào loại nghiên cứu được thực hiện Trong mỗi quarat, một số kỹ thuật để thu thập
dữ liệu đa dạng loài được đề xuất Tuy nhiên, mỗi kỹ thuật đo lường có ưu điểm và khuyết điểm của nó [18, tr.50]
Bảng 2.2 Một số kỹ thuật đa dạng để đánh giá ảnh hưởng của một loại cỏ dại đến đa dạng thực vật và những thuận lợi, khó khăn (sữa chữa từ Sutherland 2006) [18, tr.50]
Kỹ thuật Thuận lợi Bất lợi
- Tốn thời gian
- Chỉ phù hợp với mật
độ cây thấp và quarat nhỏ
Độche phủ: Được tính bằng
cách ước lượng trực quan tỷ
lệ của mỗi loài cư ngụ tại
quarat Nó rất hữu ích để
phân chia thành các thảm
thực vật và ước lượng độ che
phủ riêng cho mỗi lớp
- Khảo sát nhanh
- Thích hợp cho các loài thân bò
- Không tính trực tiếp
- Khó có thể sử dụng cho thảm thực vật cao
- Ước lượng bằng mắt phụ thuộc quá nhiều vào người quan sát
Tần số: Các quarat được
dùng như là đơn vị lấy mẫu
Tỷ lệ của những quarat chứa
các loài được đếm
- Khảo sát nhanh
- Cung cấp thông tin chi tiết hơn về sựđa dạng
- Sự phong phú của các loài trong quarat được
bỏ qua
Sinh khối: Sinh khối của các
loài thực vật có thể được tính
bằng cách cắt tất cả những
phần của cây trên bề mặt đất
trong quarat thường là gần
hoặc ngay sát mặt đất
- Cóích cho các loài thực vật thủy sinh
- Cung cấp thông tin chi tiết hơn về sự đa dạng
- Chỉ sử dụng cho thảm thực vật nhỏ như cây bụi, đồng cỏ
- Tốn thời gian
Trang 37Đề tài sử dụng các kỹ thuật để thu thập dữ liệu đa dạng loài về mật độ, độ che phủ, sinh khối, từ đó có thể dùng để phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của cây Mai dương đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên
2.3 Tiến hành thí nghiệm
Để đánh giá ảnh hưởng của cây Mai dương đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên, trước tiên cần tiến hành khảo sát thành phần loài, độ che phủ và thu sinh khối khô trên mặt đất của tất cả các loài thực vật hiện diện trong ô mẫu Sau
đó, tiến hành khảo sát thành phần loài và mật độ tất cả hạt của các loài cây hiện diện trong mẫu đất ở tất cả cácô mẫu Cuối cùng, chúng tôi đánh giá ảnh hưởng của cây Mai dương đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên dựa trên phương pháp luận về đánh giá tác động của cỏ dại môi trường đối với đa dạng thực vật
Đề tài tiến hành thí nghiệm trên thực địa nhằm đánh giá ảnh hưởng của cây Mai dương đến đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên Vị trí thu mẫu được tiến hành tại Bàu Chim có tọa độ 102022’36’’ kinh độ Đông, 11028’49’’ vĩ độ Bắc và Trạm cơ động 2 có tọa độ 107024’27’’ kinh độ Đông, 11024’24’’vĩ độ Bắc thuộc vườn quốc gia Cát Tiên Khu vực Bàu Chim tương ứng với khu vực có mật độ Mai dương mọc dày (độ bao phủ của cây Mai dương trong ô mẫu 1m2 lớn hơn 70%) và khu vực có mật độ Mai dương mọc thưa (độ bao phủ của cây Mai dương trong ô mẫu 1m2 từ 10% – 30%) vì nơi này là vùng đất ngập nước khá tách biệt với những bàu nước khác như Bàu Cá, Bàu Sấu và Mai dương xuất hiện ở đây đã lâu Khu vực Trạm cơ động 2 là nơi mật độ không có Mai dương vì nơi này có thành phần loài, thổ nhưỡng, chế độ ngập nước, địa hình khá tương đồng với Bàu Chim Bên cạnh
đó, khu vực này không có sự xuất hiện của cây Mai dương Việc tiến hành thí nghiệm trên thực địa được thực hiện ở hai mùa khô và mùa mưa
Trang 38Hình 2.1 Vị trí vườn quốc gia Cát Tiên và khu vực thu mẫu
Nguồn : [27]
Sau khi thiết lập các ô mẫu, tiến hành thu thập số liệu trên mặt đất và ngân hàng hạt trong đất Đối với trên mặt đất sẽ xác định thành phần loài và mật độ của tất cả các loài thực vật có trong các ô mẫu, tiến hành thu sinh khối khô của tất cả các loài thực vật có trong các ô mẫu Đối với ngân hàng hạt trong đất, tiến hành khảo sát thành phần loài và mật độ tất cả hạt của các loài cây hiện diện trong mẫu đấtở tất cả các ô mẫu ở ba sinh cảnh có mật độ cây Mai dương cao, thấp và không
có ở hai mùa khô và mùa mưa
2.3.1 Thiết kế ô mẫu thí nghiệm
Các ô mẫu thí nghiệm được thiết kế cho hai mùa khô và mùa mưa Ở mỗi mật
độ Mai dương mọc dày, thưa và không có sự hiện diện của cây Mai dương, thí nghiệm được tiến hành 3 lần với 3 ô mẫu lớn (cách nhau khoảng 3 – 5m), mỗi ô mẫu lớn có kích thước 100m2 (10m x 10m) Trong mỗi ô mẫu 100m2 sẽ thiết lập 5 ô
Trang 39mẫu 1m2 (1m x 1m) ở 4 góc và giao điểm hai đường chéo của ô mẫu lớn Vị trí mật
độ Mai dương mọc dày cách vị trí Mai dương mọc thưa khoảng 150m và cách vị trí mật độ không có Mai dương khoảng 3km
2.3.2 Xác định thành phần loài và mật độ
Tiến hành khảo sát thành phần và độ che phủ (%) của tất cả các loài thực vật
có trong các ô mẫu ở ba nơi có mật độ Mai dương cao, mật độ thấp và nơi không có cây Mai dương ở hai mùa khô và mùa mưa
2.3.3 Thu sinh khối
Tiến hành thu sinh khối tươi trên mặt đất của tất cả các loài cây trong 15 ô mẫu 1m2 nói trên ở ba nơi có mật độ của cây Mai dương bằng cách dùng dao, kéo cắt tất cả những phần của cây ngay sát gốc Sau đó phần sinh khối tươi này được thu thập cho vào từng túi nylon mang về phòng thí nghiệm, sấy khô ở nhiệt độ 90 ±
50C trong 72 giờ Sau đó, mẫu này được cân cho đến khi trọng lượng không thay đổi thì được coi là sinh khối khô của từng loài
2.3.4 Thiết lập ngân hàng hạt
Nội dung: Ngân hàng hạt trong đất của một loài cây là tất cả các hạt còn sống
của loài cây đó hiện diện trong đất hoặc trong lớp lá rụng ở bên trên đất đó Ngân hàng hạt trong đất của một loài cây đóng góp đáng kể vào tiềm năng tái sinh của loài đó tại nơi mà nó sinh sống, và kích thước của ngân hàng hạt này do sự sinh sản của loài cây đang sinh sống tại nơi đó quyết định Do đó, ngân hàng hạt trong đất là một trong những yếu tố cơ bản về mặt sinh thái để khảo sát sự tồn tại dai dẳng của các loài thực vật xâm lấn, nhất là các loài thực vật hoàn toàn sinh sản bằng hạt và không có hình thức sinh sản sinh dưỡng [8, tr.352]
Phương pháp: 5 mẫu khoan đất thu từ khoan đất (có kích thước 10cm đường
kính x 10cm độ sâu) thu ở bốn góc và giao điểm hai đường chéo của ô mẫu 1m2trong 15 ô mẫu 1m2 nói trên ở ba sinh cảnh có mật độ cây Mai dương cao, thấp và không có, được trộn chung lại thành 1 mẫu đất cho ngân hàng hạt Các mẫu đất này được mang về và bố trí phân tích mẫu ở cơ sở Linh Trung của trường Đại học Khoa học tự nhiên TP HCM Việc phân tích mẫu đất ngân hàng hạt được tiến hành như sau:
Trang 40- Mẫu đất được dàn trải trong khay nhựa (20cm x 25cm x 6cm) với một lớp đất phân Tribat khoảng 2cm ở bên dưới Thành phần của đất phân Tribat bao gồm 24,91% chất hữu cơ, hàm lượng mùn 4,45%, nitơ tổng số 0,9%, K2O tổng số 0,7%, các trung vi lượng bao gồm Mg, Mn, B, Cu, Mo, Fe…, còn lại là các cấp hạt khác nhau Sử dụng đất phân nhằm trợ giúp việc cung cấp chất dinh dưỡng cho hạt trong mẫu đất nảy mầm Các khay này được đặt trong nhà lưới và tưới nước hàng ngày Đất phân cung cấp cho thí nghiệm này phải được hấp hơi nước để diệt trừ mầm bệnh, nấm mốc và hạt trước khi sử dụng Một số khay chỉ chứa toàn đất phân cũng được đặt xen vào các khay chứa mẫu đất ngân hàng hạt để làm khay đối chứng
- Các khay chứa mẫu đất ngân hàng hạt được quan sát hằng ngày để thu thập
số liệu về thành phần loài cây, mật độ hạt của từng loài, thời điểm nảy mầm của từng loài Một khi cây con đủ lớn để định danh thì được đếm và nhổ ra khỏi khay Trong trường hợp không định danh được cây con thì cây con này sẽ được đếm và di chuyển sang trồng trong chậu, chờ cây lớn cho hoa, quả để định danh
- Sau 4 tháng, khi việc nảy mầm của hạt trong các khay mẫu đất này gần như ngừng hẳn, các mẫu đất này sẽ được để khô không tưới nước trong 2 tuần
- Sau đó, các mẫu đất này sẽ được trộn đều lên, tưới nước, đếm và định danh
số cây con nảy mầm hàng ngày trở lại Việc này được thực hiện trong 3 tháng nữa nhằm tạo sự thay đổi nhiệt độ và độẩm của đất để kích thích hạt thoát khỏi miên trạng và nảy mầm
- Vì hạt Mai dương có miên trạng nên sẽ còn nhiều hạt trong đất chưa nảy mầm Do đó, cần phải lựa hạt Mai dương trong đất bằng cách giã đất cho mịn rồi ghi nhận lại số hạt đã lựa Sau đó, để đánh giá sự sống của hạt Mai dương, chúng tôi dùng dụng cụ bấm một phần trên đầu của hạt cho lộ rễ mầm rồi nuôi đặt trên đĩa pêtri đã tưới sẵn nước Hạt sẽ trương nước trong khoảng 4 giờ, sau 24 giờ hạt sẽ nảy mầm Đếm số lượng hạt nảy mầm và tính tỷ lệ hạt nảy mầm
- Tài liệu cần sử dụng cho việc định danh: Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng
Hộ (1999) và trang web về định danh thực vật như Plantnet – National Herbarium
of New South Wales