Nghiên cứu được thực hiện trên khách thể chính: 292 sinh viên học kỳ 3 trường ĐHSPTP.HCM thu thập số liệu bằng các thang đo: Bảng hỏi lo âu bốn hệ thống: đo lường tự tường trình về các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: CS.2012.19.48
KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Ch ủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đoàn Văn Điều
THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: CS.2012.19.48
KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3SUMMARY
- Project Title: Difficulties of students at Ho Chi Minh City University of Education
in the process of studying under credit system
- Code number: CS.2012.19.48
Coordinator: Third semester students studying under credit system
Implementing Institution: Department of Psychology Education
Cooperating
Institution(s)………
Duration: from April 2012 to April 20123
Objectives: On the base of theory and surveying the status of difficulties of students at Ho Chi Minh City University of Education in the process of studying under credit system, some solutions for this problem are proposed
Main contents:
1 Analyzing theoretically difficulties in the process of training under credit system
2 Surveying difficulties of students in the process of training under credit system
3 Proposing some solutions for difficulties of students in the process of training under credit system
Results obtained:
The research is conducted on the subject:
292 third semester students at Ho Chi Minh City University of Education The data are collected with the following scales: “Four Systems Anxiety
Questionnaire (FSAQ): A Self-Report Measure of Somatic, Cognitive, Behavioral, and Feeling Components.” by F Koksal, and D G Power (1990);
Third semester students’ cognition on studying under credit system; Third semester students’ evaluation on difficulties in the process of studying under credit system; Third semester students’ solutions for difficulties in the process of studying under credit system (these scales are developed through content analysis of the answers in the pilot survey conducted on
120 students); and Evaluation on the tasks of academic advisors; as well
as calculating the parameters of the scales mentioned above
3.2 Results:
The parameters of the scales mentioned above are appropriate with the criteria of the scales and having reliability;
The findings of the scales:
Four Systems Anxiety Questionnaire (FSAQ): A Self-Report Measure of
‘Somatic, Cognitive, Behavioral, and Feeling Components Of students’ anxiety, cognitive one is ranked the highest; the next are somatic and feeling ones; and the least is behavioral one
Third semester students’ cognition on study under credit system Independence and voluntary action are ranked the highest; the next is the freedom to choose
Trang 4 Third semester students’ evaluation on difficulties in study under the credit system Students evaluate learning environment the highest; the next are planning and working as planned; individual efforts and working in group; and the least is psychological responses
Third semester students’ solutions toward difficulties in study under the credit system Students pay much attention to the school that raise the conditions for them to study more effectively such as changing some terms on the fees and study after failing the subjects; the next is responses on planning, learning methods and individual efforts, and academic and communicative relationships with teachers and peers; then the training necessary psychological quality; and the least is looking for learning materials
On the tasks of academic advisors, students evaluate individual quality of the advisors more highly than their implementations of the tasks; whereas, instructors evaluate their implementations of the tasks more highly than individual quality
In short, the findings reflect third semester students’ psychological characteristics and experiences In the author’s opinion, the findings show that third semester students’ psychological characteristics present the academic mature in specific; and personality one in general that help students study successfully under credit system
Ho Chi Minh City, April 10th, 2013 Certified by Implementing Institution Project head,
Trang 5
B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐHSP TP HỒ CHÍ MINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 4 năm 2013
THÔNG TIN V Ề KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Khó khăn của sinh viên Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong quá
- Mã số: CS.2012.19.48
- Chủ nhiệm: PGS.TS Đoàn Văn Điều
- Cơ quan chủ trì: Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh
- Thời gian thực hiện: từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013
2 Mục tiêu:
Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng khó khăn của sinh viên Trường ĐHSP TP
Hồ Chí Minh khi tham gia học tập theo hệ thống tín chỉ, đề tài đề xuất một số giải pháp cho việc giải quyết những khó khăn này
3 Kết quả nghiên cứu:
3.1 Nghiên cứu được thực hiện trên khách thể chính:
292 sinh viên học kỳ 3 trường ĐHSPTP.HCM thu thập số liệu bằng các thang đo: Bảng hỏi lo âu bốn hệ thống: đo lường tự tường trình về các yếu tố thể chất,
nhận thức, hành vi và tình cảm (thang đo được biên dịch và cải biên ở Tài liệu tham khảo [9]); Nhận thức của sinh viên học kỳ 3 về việc học theo tín chỉ; Đánh giá của sinh viên học kỳ 3 về khó khăn trong việc học theo tín chỉ; Cách
giải quyết của sinh viên học kỳ 3 đối với khó khăn trong việc học theo tín chỉ (các thang đo được soạn thảo từ bảng thăm dò thử trên 120 sinh viện) và Đánh
giá v ề một số công việc của cố vấn học tập (tham khảo nội dung Dự thảo ở Tài
Trang 6liệu tham khảo [17]); đồng thời để tính toán các tham số của dụng cụ nghiên cứu của các thang đo vừa nêu
3.2 Một số kết quả nghiên cứu:
các tham số của các thang đo nêu trên đều có những trị số phù hợp với tiêu chí của các dụng cụ đo lường mang tính tin cậy;
kết quả nghiên cứu của các thang đo như sau:
Bảng hỏi lo âu bốn hệ thống: đo lường tự tường trình về các yếu tố thể chất,
nhận thức, hành vi và tình cảm
Lo âu của sinh viên, lo âu liên quan đến nhận thức được đánh giá ở thứ bậc cao
nhất, kế đến lo âu liên quan đến thể chất và tình cảm, cuối cùng là lo âu liên quan đến hành vi Nữ sinh viên đánh giá cao hơn nam sinh viên về lo âu mang tính hành vi
Nhận thức của sinh viên học kỳ 3 về việc học theo tín chỉ;
Sinh viên đánh giá tinh thần độc lập, tự giác trong học tập là cao nhất; kế đến
là sự tự do trong lựa chọn nội dung học tập và cuối cùng là áp lực của việc học
Đánh giá của sinh viên học kỳ 3 về khó khăn trong việc học theo tín chỉ;
Sinh viên đánh giá cao nhất là điều kiện bên ngoài của học tập; tiếp theo là
việc lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, nỗ lực bản thân và làm việc theo nhóm; cuối cùng là những thích ứng mang tính tâm lý
Cách giải quyết của sinh viên học kỳ 3 đối với khó khăn trong việc học theo tín
chỉ Sinh viên quan tâm nhiều nhất đến việc nhà trường tạo điều kiện để việc
học tập thuận lợi hơn như: thay đổi một số quy định về học phí và việc học lại khi thi rớt; thứ đến là những đáp ứng mang tính kế hoạch, phương pháp học tập
và những nổ lực bản thân và các mối quan hệ trong học thuật và giao tiếp với
thầy cô và bạn bè; sau đó là rèn luyện những phẩm chất tâm lý cần thiết cho
việc học và cuối cùng là việc tìm tài liệu học tập
Về công việc của cố vấn học tập, sinh viên đánh giá cao những phẩm chất mang tính cá nhân và đánh giá ở thứ bậc thấp hơn việc thực hiện công việc của
Trang 7cố vấn học tập; trong khi đó, giảng viên đánh giá các phẩm chất mang tính công việc cao hơn những phẩm chất mang tính cá nhân.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu phản ánh được những đặc điểm tâm lý và những kinh nghiệm có cơ sở từ các đặc điểm tâm lý của sinh viên học kỷ 3 được nghiên cứu Theo tác giả, kết quả cho thấy một số đặc điểm tâm lý của sinh viên học kỳ 3 thể hiện sự trưởng thành về học thuật nói riêng, và về các đặc điểm nhân cách nói chung để giúp các sinh viên học tập theo hệ thống tín chỉ thành công
4 Sản phẩm:
- một báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ theo quy định;
- một tóm tắt báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ;
- một bài báo liên quan đến đề tài “Thực trạng khó khăn của sinh viên học kỳ ba Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh trong quá trình học tập theo hệ
thống tín chỉ” được đăng trên Tạp chí Khoa học Trường ĐHSPTP.HCM
5 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng
- xác lập những khó khăn của sinh viên học kỳ ba Trường Đại Học Sư Phạm Thành
Phố Hồ Chí Minh trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ;
- chuyển giao qua các bài viết đến các giảng viên, cố vấn học tập và nhà giáo dục quan
tâm đến việc hình thành những đặc điểm học tập tích cực cho sinh viên
Trang 8M ỤC LỤC
SUMMARY 1
THÔNG TIN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3
MỤC LỤC 6
MỞ ĐẦU 8
1 Tính c ấp thiết của đề tài 8
2 M ục đích nghiên cứu 8
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu: 9
4 Gi ả thuyết nghiên cứu 9
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Ph ạm vi nghiên cứu 10
CH ƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN HỌC TẬP 11
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề: 11
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 11
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 16
1.2 Khái ni ệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 18
1.2.1 Khó khăn (theo từ điển tiếng Việt) có nghĩa là sự trở ngại làm mất nhiều công sức hoặc thiếu thốn [16] 18
1.2.2 Khó khăn (theo từ điển tiếng Anh) [từ tiếng Latin difficultās, từ difficilis: difficult, từ dis- not + facilis easy, FACILE] Nó gồm các nghĩa sau đây: 18
1.2.3 Khó khăn học tập 19
1.3 Lý lu ận về khó khăn học tập 19
1.3.1 Những khó khăn tâm lý 20
1.3.2 Khó khăn học tập ở trẻ em 26
1.3.3 Khó khăn học tập (trẻ nhỏ) 31
1.3.4 Khó khăn tâm lý và khó khăn liên quan của trẻ em khó khăn học tập 35
1.3.5 Khó khăn học tập của sinh viên 37
1.4 H ệ đào tạo tín chỉ 38
1.4.1 Định nghĩa tín chỉ 38
1.4.2 Những ưu điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ: 41
1.4.3 Vai trò người dạy 42
Trang 91.4.4 Vai trò của người học 43
1.5 M ột số đặc điểm của sinh viên 43
1.5.1 Lý thuyết và mô hình tư duy của sinh viên 43
1.5.2 Đặc điểm cuối tuổi vị thành niên / sinh viên truyền thống 47
CHƯƠNG 2: KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP THEO H Ệ THỐNG TÍN CHỈ 49
2.1 Khó khăn tâm lý do lo âu của sinh viên 50
2.1.1 Thể thức và phương pháp nghiên cứu 50
2.1.2 Kết quả nghiên cứu bảng hỏi lo âu 52
2.2 Nh ận thức của sinh viên học kỳ 3 về việc học theo tín chỉ 61
2.2.1 Thể thức và phương pháp nghiên cứu 61
2.2.2 Kết quả nhận thức của sinh viên học kỳ 3 về việc học theo tín chỉ 62
2.3 Đánh giá của sinh viên học kỳ 3 về khó khăn trong việc học theo tín chỉ 65
2.3.1 Phương pháp và thể thức nghiên cứu 65
2.3.2 Kết quả thang đánh giá khó khăn trong việc học theo tín chỉ 66
2.4 Cách gi ải quyết của sinh viên học kỳ 3 đối với khó khăn trong việc học theo tín ch ỉ 70
2.4.1 Phương pháp và thể thức nghiên cứu 70
2.4.2 Kết quả thang đáp ứng khó khăn trong việc học theo tín chỉ 71
2.5 Đánh giá một số công việc của cố vấn học tập 74
2.5.1 Đánh giá của sinh viên 74
2.5.2 Đánh giá của cố vấn học tập 82
2.6 So sánh đánh giá của sinh viên và cố vấn học tập về một số công việc của cố v ấn học tập và của sinh viên 87
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
M ỘT SỐ HƯỚNG DẪN CHO SINH VIÊN NĂM NHẤT 97
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 99
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Việc nghiên cứu khó khăn học tập đã được thực hiện nhiều ở trong nước cũng như nước ngoài Các công trình nghiên cứu trước đây thường đi sâu vào các lĩnh vực tâm lý, thể lý của người học cũng như sự thay đổi môi trường học tập từ cấp học này sang cấp học khác
Khó khăn học tập được các nhà nghiên cứu phương tây qui về những khó khăn tâm lý Khó khăn học tập tâm lý có hai mức độ chính do khó khăn tâm lý gây ra: 1) khó khăn học tập hoặc vấn đề học tập và 2) khuyết tật học tập
Khó khăn học tập hoặc vấn đề học tập thường là kết quả của những học sinh gặp một hoặc một số chứng khó khăn liên quan đến học tập như chứng khó đọc, khó viết, khó tính toán, … hoặc những rối loạn tâm lý ở mức độ trung bình như lo
âu/hoảng loạn; trầm cảm; nghiện rượu và ma túy; căng thẳng; chấn thương và rối loạn
ăn uống
Khuyết tật học tập là hệ quả của sự thương tổn não bộ nghiêm trọng
Ngoài ra, một loại khó khăn học tập khác là do thiếu khả năng học thuật, các yếu tố nhận thức gồm: phong thái học tập, động cơ, quá trình học chuyên môn đòi hỏi
có đa dạng kỹ năng, đa dạng quá trình, các kỹ năng ngôn ngữ, tính mới trong giáo dục, hứng thú, danh tiếng và hình ảnh của cơ sở đào tạo, nhịp độ học tập Nói cách khác, khả năng của bản thân người học và môi trường học tập
Trong nghiên cứu này, các tác giả nghiên cứu khó khăn của sinh viên trong học tập do sự thay đổi hệ thống đào tạo từ niên chế sang tín chỉ ở Việt Nam Đây là sự thay đổi có thể là to lớn đối với sinh viên Việt Nam, nói chung; sinh viên Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, nói riêng Có nhiều tài liệu việt về thực trạng này, nhưng còn
ít những nghiện cứu liên quan đến vấn đề này
Từ những lý do trên, đề tài : «Khó khăn của sinh viên ĐHSP Tp HCM trong quá trình học
2 M ục đích nghiên cứu
Trang 11Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng khó khăn của sinh viên Trường ĐHSP
TP Hồ Chí Minh khi tham gia học tập theo hệ thống tín chỉ, đề tài đề xuất một số giải pháp cho việc giải quyết những khó khăn này
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Khó khăn của sinh viên ĐHSP Tp HCM trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ
- Khách thể nghiên cứu: sinh viên học kỳ 3 đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
4 Gi ả thuyết nghiên cứu
Khi chuyển từ đào tạo theo niên chế qua đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, ngoài những khó khăn tâm lý, sinh viên học kỳ 3 còn gặp những khó khăn do quá trình nhận thức và những khó khăn về mặt thủ tục cũng như việc sử dụng các nguồn lực hỗ trợ và cách thức thích ứng với phương pháp giảng dạy mới Nếu sinh viên nhận thức được những khó khăn nêu trên và được hướng dẫn đầy đủ, thì việc học tập của sinh viên sẽ thuận lợi hơn
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
4 Phân tích về mặt lý luận những khó khăn trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
5 Khảo sát những mặt khó khăn trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
6 Đề xuất một giải pháp để giải quyết khó khăn trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
6 Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
+ Cách tiếp cận: theo quan điểm hê thống và quan điểm thực tiễn Việc nghiên cứu các khó khăn của sinh viên ĐHSP Tp HCM trong quá trình học tập theo
hệ thống tín chỉ được thực hiện một cách hệ thống gồm các mặt trọn vẹn của các yếu tố của việc học của sinh viên như những yếu tố bên trong: nhận thức, đặc điểm tâm lý, v.v và những yếu tố bên ngoài như môi trường học tập, các phương tiện, các thủ tục, v.v…
Trang 12+ Phương pháp nghiên cứu trong đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến vấn
đề nghiên cứu làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp trắc nghiệm tâm lý: Tác giả sử dụng một thang đo “Lo âu” của F Koksal và D.G Power (1990) và thực hiện các bước cải biên, thử nghiệm và áp dụng vào môi trường Việt Nam
- Phương pháp khảo sát mẫu: đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng khó khăn của sinh viên ĐHSP
Tp HCM trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ Từ đó, xây dựng một một số hướng dẫn qui trình giải quyết một số khó khăn trong học tập đến các phòng ban chức năng để sinh viên được hướng dẫn học tập một cách hiệu quả
- Phương pháp Toán thống kê ứng dụng trong nghiên cứu: dùng để xử lý số liệu Phương pháp này được thực hiện bằng phần mềm SPSS for Win, phiên bản 13.0
7 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu một số khó khăn tâm lý có liên quan đến học tập và khó khăn học tập trên sinh viên học kỳ 3 hệ đào tạo tín chỉ tại Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Trang 13CH ƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN HỌC TẬP
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo hiểu biết của tác giả, thường những khó khăn học tập được các nhà nghiên cứu nước ngoài quy về hai mặt chính: khó khăn về mặt tâm lý và khó khăn do sự thay đổi môi trường hoạt động của chủ thể Dưới đây là một số quan điểm của các nhà nghiên
cứu nước ngoài:
• Khó khăn học tập do khó khăn tâm lý:
+ Những khó khăn tâm lý là rất phổ biến Hiện nay ước tính có 15-18% người Mỹ, trong đó có 14 triệu trẻ em, gặp phải một vấn đề tâm lý có thể chẩn đoán và điều trị được Trong bất kỳ khoảng thời gian một tháng, gần 8 triệu người Mỹ bị trầm cảm 20% người Mỹ bị ảnh hưởng ít nhất một lần trầm cảm năng trong suốt cuộc đời của mình Lo âu và trầm cảm là các loại khó khăn tâm lý trong sáu thứ thường thấy trong các chữa trị của các bác sĩ gồm: trầm cảm; lo lắng / hoảng loạn; nghiện rượu và ma túy; căng thẳng; chấn thương và rối loạn ăn uống [29]
+ Khó khăn học tập do thiếu một số kỹ năng học tập
Theo Viện Quốc gia về rối loạn thần kinh và đột quỵ, từ 8 đến 10% trẻ em dưới 18 tuổi đang đối phó với một số hình thức khó khăn học tập và rối loạn tâm lý Những đứa trẻ này có thể nhận được các dịch vụ giáo dục đặc biệt để hỗ trợ trong học tập, do yêu cầu của trẻ không được chú ý và cháu bị thụt lùi trong học tập Là cha mẹ, bạn cần làm quen với các vấn đề học tập và giáo dục con em với thầy cô giáo Những khó khăn của các cháu có thể là:
Khó khăn phối hợp kỹ năng vận động
Kỹ năng vận động là một thành phần cần thiết để học tập Kỹ năng vận động tốt là điều quan trọng cho con của bạn nắm bắt các đồ vật, viết, cắt hoặc chọn các thứ
Những kỹ năng vận động thô, như chạy và nhảy là cần thiết cho sự phát triển thể chất
và di chuyển Phối hợp tay và mắt gặp khó khăn khi một đứa trẻ trải nghiệm khó khăn phối hợp kỹ năng vận động Cầm một bút chì hoặc cài nút áo sơ mi là một nhiệm vụ
Trang 14đầy thách thức cho trẻ có khó khăn phối hợp kỹ năng vận động Những thiếu sót trong
kỹ năng vận động có thể tạo ra sự thua sút trong kiểu học tập của trẻ, đẩy cháu vào nguy cơ tụt hậu so với bạn bè của mình
Khó khăn đọc và sử dụng ngôn ngữ
Đọc và sử dụng ngôn ngữ nói là một thành phần đáng kể của việc học Con của bạn có thể gặp khó khăn hiểu biết âm thanh và các mẫu cơ bản, hoặc cháu có thể khó khăn với đọc hiểu và từ vựng Một số trẻ khó khăn với sự nhận biết những từ đơn lẻ hoặc làm thế nào để phối hợp các từ với nhau để tạo thành một câu mạch lạc Những trẻ khác có thể gặp vấn đề tìm ra ý tưởng có liên quan trong một câu chuyện Sự chậm trễ ngôn ngữ hoặc các vấn đề giao tiếp có thể ảnh hưởng đến sự thành công học tập của con em Không thể diễn tả bằng lời khái niệm sẽ bất lợi cho con của bạn trong trường học, cũng như không có khả năng để xử lý ngôn ngữ Trẻ không thể làm theo hướng dẫn hoặc giải thích vấn đề có nguy cơ thất bại trong việc học tập ở trường
Khó khăn viết
Khó khăn viết có thể được mô tả như là không có khả năng về thể chất để vẽ các chữ cái hoặc từ, hoặc khó khăn trong thể hiện suy nghĩ dưới dạng vật lý Khó khăn với chính tả, độ chính xác hoặc sự gọn gàng cũng có thể được phân loại như khó khăn viết Con của bạn sẽ trải nghiệm khó khăn học tập nếu cháu không thể viết bài ra tập hoặc sao chép các bài tập về nhà chính xác Khó khăn viết có thể dưới dạng không thể
xử lý thông tin Bất kỳ khó khăn nào trong số này sẽ có tác động tiêu cực đến học tập của con em quý vị
Rối loạn học tập thông thường
Một số rối loạn thông thường có thể tác động tiêu cực đến việc học tập của con em quý vị Chứng khó đọc có thể làm mất khả năng xử lý ngôn ngữ của con quý vị do sự pha trộn mang tính hình ảnh của những từ và chữ cái Chứng khó phối hợp động tác, rối loạn hợp nhất cảm giác, ảnh hưởng đến phối hợp tay và mắt của trẻ và phối hợp kỹ năng vận động Rối loạn xử lý thính giác hoặc hình ảnh can thiệp vào khả năng hiểu thông tin nói hoặc viết tương ứng Trẻ em với chẩn đoán của bất kỳ về những điều
Trang 15kiện này được giới thiệu vào một chuyên gia trường học để được giúp đỡ trong việc khắc phục vấn đề [25]
+ Khó khăn học tập do rối loạn tâm lý
Khái niệm bao trùm khó khăn học tập cụ thể (SPLD) được sử dụng để mô tả một loạt các khó khăn Nhiều người sử dụng nó đồng nghĩa với chứng khó đọc (một khó khăn với các từ), nhưng hiện nay người ta chấp nhận chung rằng chứng khó đọc chỉ là một trong một nhóm các khó khăn đó có thể bao gồm:
cá nhân có cùng một kết hợp của khó khăn học tập cụ thể và không thể ngoại suy một
mô tả từ người này sang người khác
Cũng cần lưu ý rằng nhiều học sinh có khó khăn học tập cụ thể (SPLD), cũng như những học sinh khác không có SPLD, bị sự rối loạn thị giác nhận thức và khó chịu đôi khi được gọi là là hội chứng Meares Irlen Điều này ảnh hưởng đến việc đọc sách của các em in trên giấy trắng, phim trong và slide cũng như cách sử dụng của máy tính Điều cũng quan trọng là lưu ý những khó khăn được mô tả ảnh hưởng đến chiến lược
do cá nhân phát triển để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của họ, sự căng thẳng và lo
âu cũng tác động Chỉ những ai đã trải qua những thách thức khó khăn học tập cụ thể thực sự hiểu biết sự phức tạp và khó khăn phát sinh trong một tình huống học tập - và
sự phấn khởi khi ai đó trình bày thông tin một cách phù hợp với phong cách suy nghĩ hay sở thích của họ [30]
Trang 16+ Khó khăn học tập do chứng khó đọc
Nhiều học sinh trải nghiệm thất bại hay bối rối trong hệ thống giáo dục có thể cố gắng che giấu những khó khăn của chúng vì sợ bị hiểu lầm hoặc bị kỳ thị Các học sinh khác đã phát triển các chiến lược đối phó trước khi vào học đại học nhưng nhận thấy các yêu cầu đặt ra cho các em tại trường đại học đòi hỏi chúng phải tìm kiếm sự hỗ trợ
bổ sung Sàng lọc và đánh giá với một nhà tâm lý học có trình độ có thể xác định sinh viên gặp khó khăn trong một loại học tập cụ thể, cần xem xét như chứng khó đọc Đặc tính thứ cấp có thể của chứng khó đọc:
+ Khó khăn học tập do rối loạn lo âu
Chúng ta nhiều khi trải nghiệm lo âu lúc này hay lúc khác trong cuộc sống, mặc dù có
lẽ chúng không nghiêm trọng để cần một chuyên gia chẩn đoán Lo âu là một mối nguy hiểm hoặc là một tín hiệu cảnh báo cho chúng ta Các kích thích sinh lý chúng ta
trải nghiệm trực tiếp liên quan đến tác hại của lo âu Khi phải đối mặt với mối đe dọa đến sự thoải mái về thể chất có thể gây ra hoặc tổn hại thể chất một cách nghiêm trọng
hoặc gây tử vong, chúng ta có những phản ứng mang tính tâm lý và thể chất Phản ứng này đã được gọi là phản ứng "chiến đấu hay chạy trốn" bởi vì nó kích hoạt chúng ta
hoặc bảo vệ bản thân, hoặc chạy trốn và thoát khỏi chấn thương Trong một cuộc
khủng hoảng đe dọa cuộc sống, phản ứng chiến đấu hay chạy trốn này có thể cứu cuộc
sống của chúng ta [28]
+ Khó khăn học tập do vấn đề cá nhân và tâm lý của sinh viên đại học
Ngày càng có nhiều sự chú ý được hướng đến việc chuyển đổi giáo dục đại học theo kinh nghiệm của sinh viên theo tuổi truyền thống và người lớn Đó là một phong trào
kết hợp rất nhiều căng thẳng và thách thức Mặc dù một số sinh viên có thể trải
ệm quá trình chuyển đổi này như là một thách thức đối với sự phát triển cá nhân,
Trang 17các sinh viên khác bị tràn ngập bởi những thay đổi và trải nghiệm sự điều chỉnh kém
về cảm xúc và bị trầm cảm
Các vấn đề điều chỉnh và phát triển chung đòi hỏi sự chú ý liên tục bởi các chuyên gia nhà trường liên quan trực tiếp đến thành công đại học Lịch sử tâm lý thường củng cố
những vấn đề này, làm phức tạp thêm việc điều trị Những khó khăn này thường hiện
diện như là sự không hiệu quả trong đối phó với việc bị tách khỏi gia đình, quản lý
thời gian và căng thẳng, kỹ thuật nghiên cứu cơ bản, thiết lập mục tiêu, hình thành
mối quan hệ, điều khiển cảm xúc, và tạo ra lòng tự trọng Sự thành công mang tính cá nhân, học tập, xã hội, và chuyên nghiệp phụ thuộc vào khả năng của sinh viên quản lý các khía cạnh trong cuộc sống của họ [19]
• Khó khăn học tập do nội dung môn học và môi trường học tập
+ Môn học:
Lập trình máy tính
Theo Tony Jenkins, khó khăn trong việc học của sinh viên gồm:
- Vấn đề khả năng,
- Các yếu tố nhận thức gồm: phong thái học tập, động cơ,
- Khó khăn trong quá trình học chuyên môn do sự đòi hỏi có đa dạng kỹ năng, đa
dạng quá trình, các kỹ năng ngôn ngữ, tính mới trong giáo dục, hứng thú, danh
tiếng và hình ảnh của cơ sở đào tạo, nhịp độ học tập [23]
Môn khoa học
Trong khi một số sinh viên xuất sắc trong môn khoa học, nhiều sinh viên học tập môn
học phức tạp này nhận thấy khó khăn rõ ràng Khoa học là một môn học gồm rất nhiều các quy tắc và nguyên tắc Nếu không nắm chắc các quy tắc này và hiểu chúng
có nghĩa gì, người học sẽ gặp khó khăn để hiểu thông tin khoa học Có một số lý do
tại sao sinh viên có thể gặp khó khăn để tìm hiểu nguyên tắc khoa học và, vì thế, gặp khó khăn nắm bắt môn học như:
- Quan niệm sai lầm
Nhiều sinh viên vào lớp học khoa học cảm giác như họ biết thông tin khoa học chỉ để
Trang 18Missouri báo cáo rằng học sinh trước đó hình thành quan niệm sai lầm khoa học thường gặp khó khăn để thay thế thông tin sai lệch với thực tế khoa học thực sự Nếu
bị thấm sâu những quan niệm sai lầm này, học sinh có thể gặp khó khăn trong việc
hiểu nội dung khoa học
- Việc học phức tạp
Để hiểu các chủ đề khoa học phức tạp, học sinh phải có một cơ sở phát triển tốt trước khi học tập khoa học Khoa học, như toán học, xây dựng trên chính nó Nếu học sinh không đạt được nội dung khoa học cơ bản trong việc học ban đầu, các em có khả năng
gặp khó khăn với các khái niệm khoa học phức tạp hơn sau đó Trong giảng dạy, học sinh thiếu cơ sở khoa học này, thông tin các em chưa học là một thách thức đối với giáo viên do không có thời gian để theo dõi và dạy lại thông tin lẽ ra đã phải được tiếp thu
- Khái niệm trừu tượng và không thể quan sát
Trong khi một số khái niệm khoa học giải quyết các chủ đề cụ thể, những khái niệm khác giải quyết những thứ không thể quan sát Học sinh thường suy nghĩ xung quanh khái niệm trừu tượng Do các em không thể nhìn thấy về mặt vật lý các nguyên tắc thứ các em đang học, chúng không thể xử lý thông tin đang nhận được qua bài học Tương
tự như vậy, một số con số môn khoa học là quá rộng hoặc nhỏ vô hạn để hiểu Những
vấn đề này có thể là trở ngại giữa một học sinh và hiểu biết khoa học thực sự
Như vậy, các tác giả đã nêu những khó khăn học tập là do những khó khăn tâm lý như
rối loạn tâm lý, thiếu khả năng hoặc kỹ năng cần thiết cho việc học tập và do những khó khăn do thay đổi môi trường học tập mà người học không có khả năng thích ứng
với các thay đổi đó [26]
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Các bài viết và công trình nghiên cứu về khó khăn học tập có khá nhiều tác giả nghiên
cứu
+ Khó khăn học tập do phẩm chất tâm lý chưa được rèn luyện
Một khám phá thú vị, nhiều sinh viên biện hộ rằng có rất nhiều khó khăn khiến họ gặp
Trang 19thất bại trong việc học Họ nghĩ những sinh viên giỏi không bao giờ gặp phải những vấn đề như thế Một kết quả nghiên cứu cho thấy sự thật, hầu hết tất cả học sinh, sinh viên ở các nước trên thế giới đều có chung 16 vấn đề khó khăn phổ biến sau đây
- Trí nhớ kém
- Thích trì hoãn công việc
- Lười biếng
- Nghiện trò chơi điện tử, xem tivi, internet
- Gặp khó khăn trong việc hiểu bài giảng
- Thầy cô dạy không lôi cuốn
- Không có hứng thú đối với môn học [27]
Như vậy, khó khăn học tập của sinh viên là do những yếu tố liên quan đến việc các phẩm chất tâm lý chưa được rèn luyện để có thể học tập hiệu quả Ngoài ra, những tác động tiêu cực của môi trường cũng đóng góp phần lớn
+ Khó khăn học tập do chưa làm quen với cuộc sống tự lập
Một trong số những khó khăn của sinh viên hiện nay là việc làm quen với cuộc sống
tự lập liên quan đến nhà ở, sinh hoạt cá nhân và vấn đề tài chính, chi tiêu [31]
+ Khó khăn học tập do đòi hỏi cao của nhiệm vụ học tập và giao tiếp
Trang 20Sinh viên ngoài những khó khăn như phải sống xa nhà, thuê trọ vất vả thì còn có rất nhiều những khó khăn về: nội dung học tập, kiểm tra thi cử, chuyên cần và giao tiếp bạn bè [22]
+ Khó khăn học tập do việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập, trong giao tiếp, trong thích ứng với môi trường học tập ở cấp tiểu học, trung học và đại học
- Trần Thị Lệ Thu (2010), nghiên cứu về “Thực trạng khó khăn tâm lý của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội và nhu cầu có sự trợ giúp của chuyên gia tâm lý học đường”, Luận văn cao học [15]
- Lê Mỹ Dung (2010), “Thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của
học sinh lớp 3 hiện nay”, Luận văn cao học Tâm lý học [6]
- Đặng Thanh Nga (2010), “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh
viên trường Đại học Luật Hà Nội”, Luận văn cao học Tâm lý học.[12]
Qua các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy: các tác giả nhấn mạnh đến những khó khăn tâm lý trong việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập, trong giao tiếp, trong thích ứng với môi trường học tập ở cấp tiểu học, trung học và đại học
1.2 Khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khó khăn (theo từ điển tiếng Việt) có nghĩa là sự trở ngại làm mất nhiều công sức hoặc thiếu thốn [16]
1.2.2 Khó khăn (theo từ điển tiếng Anh) [từ tiếng Latin
difficultās, từ difficilis: difficult, từ dis- not + facilis easy, FACILE ] Nó gồm các nghĩa sau đây:
- Trạng thái hay chất lượng khó khăn
- một nhiệm vụ, vấn đề, vv, khó khăn để giải quyết
- (thường số nhiều) tình huống khó khăn hay lúng túng, đặc biệt tình huống tài chính
- một tranh chấp hay bất đồng
- (thường số nhiều) phản đối hoặc trở ngại
Trang 21- một sự cố hoặc nguồn gốc của rắc rối, sự lo lắng
- thiếu thoải mái; lúng túng [2]
1.2.3 Khó khăn học tập
- Khó khăn học tập là điều kiện thần kinh can thiệp vào khả năng của đứa trẻ để lưu trữ, xử lý và / hoặc tạo ra thông tin Khó khăn học tập có thể ảnh hưởng đến khả năng đọc, viết, nói chuyện, đánh vần, làm toán học và lập luận của đứa trẻ Chúng cũng có thể ảnh hưởng đến sự chú ý, ghi nhớ, phối hợp, kỹ năng xã hội
và sự trưởng thành tình cảm của đứa trẻ Một đứa trẻ khó khăn học tập làm việc dưới mức tiềm năng của mình, tụt hậu so với bạn bè và không thể đối phó với những yêu cầu của trường mặc dù có những nỗ lực thích hợp [7]
- Khó khăn học tập hoặc vấn đề học tập thường là thuật ngữ mô tả đầu tiên được
sử dụng khi một trẻ bắt đầu gặp khó khăn ở trường Ở một số quốc gia nó được
sử dụng như từ đồng nghĩa với khó khăn học tập Tuy nhiên, khó khăn học tập
và khuyết tật học tập thường được phân biệt với khó khăn học tập là thuật ngữ
rộng hơn Bất cứ ai trải qua khó khăn học tập giữa nhẹ nhàng và nghiêm trọng
có thể do những yếu tố bên trong và bên ngoài gây ra và có thể hoặc không thể
là kết quả mong đợi về tiềm năng con người
Khó khăn học tập, cho dù chúng được thể hiện là khuyết tật học tập hay không, luôn luôn cần được giải quyết Các cháu cần nhận được sự quan tâm khi chỉ đơn giản khó khăn học tập, trước khi các cháu có cơ hội để bắt đầu phản ứng dây chuyền tiêu cực
gồm các vấn đề giáo dục, xã hội, cá nhân, cảm xúc và gia đình rộng lớn hơn [21]
Từ những định nghĩa trên, tác giả chọn dịnh nghĩa dưới đây làm cơ sở cho nghiên cứu
của mình:
Khó khăn của sinh viên học kỳ 3 ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình học
t ập theo hệ thống tín chỉ là những điều mới nảy sinh do việc chuyển từ hệ thống đào
t ạo theo niên chế sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ làm cho sinh viên này gặp trở
ng ại về tâm lý và thực tiễn, đòi hỏi sinh viên nhiều cố gắng về nhận thức, thái độ và hành vi để khắc phục
1.3 Lý lu ận về khó khăn học tập
Trang 22Trong thực tiễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người điều gặp phải
những khó khăn, làm cho hoạt động bị chệch hướng, dẫn đến giảm đi hiệu quả mà con người mong muốn, thậm chí không đạt được mục đích hoạt động Những khó khăn này, được gọi chung là những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người, được tạo nên bởi các yếu tố mang tính tiêu cực gồm yếu khách quan (bên ngoài) và
yếu tố chủ quan (bên trong)
Đây là những yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của con người Yếu tố khách quan, được hiểu là những điều kiện, phương tiện, môi trường hoạt động,…
Những yếu tố chủ quan, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động như: nhận thức, thái độ, tình cảm, năng lực, kinh nghiệm, các thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động Các yếu tố bên trong có thể chia làm hai
loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý Những khó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi là
những khó khăn tâm lý Chính yếu tố bên trong này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình
và kết quả hoạt động của con người
1.3.1 Những khó khăn tâm lý
Lo âu
Lo âu là một phản ứng cảm xúc và sinh lý bình thường đối với cảm giác bị đe dọa con người khác nhau khi họ cảm thấy dễ bị tổn thương như thế nào trong các tình huống khác nhau: điều này có thể bị ảnh hưởng do kinh nghiệm trong quá khứ cũng như bởi các niềm tin và thái độ mà họ có về những tình huống này Một số tình huống chung thường gây ra lo lắng bao gồm:
- xa nhà và / hoặc thích nghi với cuộc sống ở trường đại học
- di chuyển đến một khu vực mới hoặc công việc mới
- thuyết trình, hoặc thực hiện trong các tình huống xã hội
- đối phó với công việc và các kỳ thi
- giải quyết các mối quan hệ hoặc thiếu các mối quan hệ
- các vấn đề tình dục
- chuẩn bị rời khỏi trường đại học
Trang 23Nhưng đôi khi nó là tình huống cụ thể mà lo lắng kích động:
- e ngại về gia nhập vào một không gian hoặc tình huống mới
- phải đối phó với người có thẩm quyền
- lo ngại về việc liệu bạn đã chọn khoá học hoặc công việc thích hợp
-hoảng sợ về việc phải đối mặt với kỳ thi hoặc làm một bài thuyết trình
- lo lắng về chấp nhận và phê duyệt xã hội, hoặc về thất bại, những lời chỉ trích hay từ
Lo âu thường liên quan đến một thành phần cảm xúc (ví dụ như sợ hãi, căng thẳng),
một thành phần sinh lý (ví dụ như thở nhanh, run rẩy, khô miệng, tim đập mạnh, bụng đánh lô tô) và một thành phần nhận thức (đáng sợ hoặc suy nghĩ tiêu cực, ví dụ như tôi sẽ thất bại / lừa dối bản thân mình / buông xuôi) Những điều này sau đó có thể ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta, ví dụ bằng cách lãng tránh hoặc nghỉ việc, né tránh con người hoặc các tình huống, mất ngủ, uống rượu quá nhiều hoặc dùng các chất
cấm
+ Làm thế nào bạn có thể tự giúp mình
Trước hết, bạn cần phải biết rằng lo âu là hoàn toàn bình thường Mọi người đều cảm
thấy lo lắng khi họ đang có trong một tình huống căng thẳng họ cảm thấy dễ bị tổn thương, do đó, là lo âu không có nghĩa rằng bạn là 'yếu' hay 'bất thường' Trong thực
tế, một mức độ căng thẳng nào đó có thể rất hữu ích - nó có thể thúc đẩy chúng ta thú
vị hoặc tiếp thêm sinh lực và cho phép chúng ta đạt tới đỉnh cao hơn và đáp ứng
những thách thức mới Suy cho cùng, nếu không bao giờ giải quyết những điều mà chúng ta cảm thấy thách thức, thì chúng ta đã không chắc chắn rằng có thể thành công, chúng ta sẽ ngừng học tập hoặc đi vào cuộc sống
Trang 24Tuy nhiên, cũng có trường hợp quá căng thẳng có thể can thiệp nghiêm trọng đến
cuộc sống bình thường Tuy nhiên, trạng thái lo âu cấp tính là thời gian hạn chế và sẽ
bắt đầu mờ dần trong một thời gian tương đối ngắn Ngay cả khi sự lo âu với cường
độ cao, bạn có thể vẫn có thể hoạt động tốt hơn hơn bạn mong đợi, và những người khác thường không biết rằng bạn đang cảm thấy như thế nào
Dưới đây là một số chiến lược bạn có thể thử cho chính mình:
+ Xem xét các trường hợp căng thẳng trong cuộc sống của bạn
Hãy suy nghĩ về tất cả những điều đang xảy ra trong cuộc sống của bạn có thể gây bạn căng thẳng Khi có thể, hãy cố gắng tìm ra các giải pháp thiết thực để giảm các nguồn căng thẳng này Điều này có thể bao gồm:
- nói "không" với những thứ bạn không muốn làm
- từ bỏ các hoạt động và trách nhiệm không cần thiết, tốn thời gian
- đối mặt với vấn đề công việc bằng cách nói chuyện với hướng dẫn của bạn, giám đốc nghiên cứu hoặc giám sát/quản lý
- sử dụng một kế hoạch hành động có tổ chức và thực tế để giải quyết các dự án
- yêu cầu thông tin hoặc sự phản hồi hữu ích
- thảo luận về vấn đề mối quan hệ
Hãy sẵn sàng thừa nhận những gì cảm thấy đúng cho bạn và đối xử tử tế với chính mình để đáp ứng nhu cầu của bạn Tăng khả năng đối phó với căng thẳng của bạn
bằng cách chăm sóc sức khỏe gồm việc cố gắng ăn uống đầy đủ, tập thể dục thường xuyên và nghỉ ngơi đúng cách Hỗ trợ từ những người khác là rất quan trọng; do đó, dành nhiều thời gian với bạn bè và / hoặc các thành viên hỗ trợ trong gia đình Thực
hiện các hoạt động thú vị, hoặc của riêng bạn hoặc với người khác, cũng rất quan
trọng, vì vậy hãy tiếp tục với thú vui hoặc sở thích của bạn và xem xét lựa chọn điều
gì đó bạn muốn làm trong một thời gian
Nếu bạn không chắc chắn về những gì đang làm cho bạn lo âu, hãy nói chuyện này thông qua với một tham vấn viên để khám phá và hiểu được sự lo âu và làm thế nào
để giải quyết nó
Trang 25+ Một cách tiếp cận hợp lý đối với những suy nghĩ tiêu cực thách thức
Khi rất lo âu, con người có xu hướng phóng đại một tình huống đe dọa và đánh giá
thấp bản thân về cách họ có thể đối phó hiệu quả với tình hình đó Suy nghĩ của chúng
ta đang bị bóp méo bởi trạng thái cảm xúc và nó có thể giúp chúng ta "chựng lại" và đánh giá tình hình thực tế hơn khi bạn cảm thấy bình tĩnh Dưới đây là một cách tiếp
cận hợp lý để đưa nỗi sợ hãi vào suy nghĩ để thách thức tính hợp lý của chúng, hoặc
để tìm ra một cách nhìn khác về tình hình của bạn Hãy tự hỏi bạn những câu hỏi như:
Bạn có đang đánh giá bản thân một cách khắc nghiệt?
- Bạn có đang tập trung vào thất bại và quên đi thành công của bạn không? Bạn
có quản lý để tồn tại những tình huống tương tự trong quá khứ (hoặc thậm chí
để thành công mặc dù chúng hiện diện!) không? Bạn có đang đánh giá sự tồn
tại toàn diện của bạn trên cơ sở của một sự kiện hoặc một phần của cuộc sống,
hoặc bạn có đang mong đợi hoàn hảo không?
Bạn có "bi kịch hóa" tình huống không?
- Bạn có nhìn thấy những điều rất quan trọng hoặc không có gì đáng kể, hoặc giả định rằng không thành công sẽ là một thảm kịch hoàn toàn không?
Bạn có lo lắng về tương lai?
- Bạn có giả định rằng bạn biết những gì sẽ xảy ra trong tương lai không?
- Bạn có chứng cứ nào cho rằng nỗi sợ hãi của bạn là hợp lý không?
- Bạn có phóng đại cơ hội về một thứ gì đó diễn ra không như mong đợi hoặc giảm thiểu khả năng làm cho nó tốt hơn của bạn không?
- Bạn có đang tự làm cho mình sợ về những tình huống bạn không thực sự phải đối
mặt hiện nay, và có thể không bao giờ xảy ra không?
Bạn có tự so sánh với người khác không?
- Bạn có giả định rằng mọi người khác đang làm giỏi, ngoại trừ bạn khi bạn không
thực sự biết những người khác đang cảm nhận hoặc quản lý công việc như thế nào không?
Trang 26- Bạn có đổ lỗi cho bản thân về những điều mà bạn không thể kiểm soát, hoặc không
phải là trách nhiệm của bạn không?
Không chú tâm vào suy nghĩ về bản thân
Một số người nhận thấy hiệu quả hơn để tự mình thoát khỏi những suy nghĩ đáng sợ
của họ bằng cách lặp đi lặp lại cụm từ "Hãy bình tĩnh và thoải mái Mình sẽ cảm thấy
tốt hơn thôi!", hoặc bằng cách làm toán số học nhẩm hoặc đọc ngược bảng chữ cái
Bạn cũng có thể không chú tâm bằng cách tập trung sự chú ý vào kích thích bên ngoài như nghe một cuộc hội thoại, xem truyền hình, hoặc cảm nhận về những gì đang xảy
ra xung quanh bạn Nếu bạn có thể dừng những suy nghĩ đáng sợ, những thứ này sẽ không còn làm chất liệu cho sự lo âu của bạn
Điều này không giống như né tránh! Nó nhằm giúp bạn trong tình hình căng thẳng,
chứ không để lựa chọn thoát ra khỏi nó
Hãy đối mặt với tình huống
Đối mặt với hơn là tránh những tình huống gây lo âu cũng giúp bạn Khi lo âu xảy ra trong những tình huống nhất định, nó trở thành một đáp ứng của học tập đối với
những tình huống và đó là vấn đề của việc học đáp ứng mới (thư giãn) Nếu bạn giữ
bản thân trong tình trạng lo âu một khoảng thời gian dài, lo âu sẽ giảm theo thời gian cho đến khi nó được dập tắt hoàn toàn Bạn có thể xây dựng một hệ thống phân cấp về các tình huống đáng sợ, đương đầu với tình huống ít đe dọa nhất ban đầu và trải nghiệm việc giảm sự lo âu của bạn trong tình huống đó trước khi tiến tới một tình
huống khá đáng sợ hơn trong hệ thống phân cấp của bạn
Học cách thư giãn
Các triệu chứng thể lý của sự lo âu xảy ra bởi vì hooc môn (tuyến thượng thận) được
tiết dưới sự điều khiển của hệ thần kinh vào trong dòng máu và ảnh hưởng đến các cơ quan như tim, dạ dày, và cơ bắp Thư giãn và tập thở có thể giúp bạn kiểm soát các triệu chứng này Bạn có thể tìm hiểu cơ thể của bạn cảm thấy như thế nào trong lúc nó thoải mái nếu bạn làm căng thẳng các bộ phận khác của cơ thể (ví dụ như cánh tay, bàn tay, chân, cổ, vai, trán) trong vài giây, và sau đó cho chúng thư giãn Cố gắng giữ hơi thở chậm và thường xuyên để bạn không thở gấp, làm cho các triệu chứng thể chất
Trang 27tồi tệ hơn Nó có thể giúp bạn học một lớp thư giãn Bài tập thư giãn cần được thực
hiện ban đầu khi bình tĩnh - bạn sẽ tốt hơn khi có thể thư giãn trong những tình huống căng thẳng với thực hành ngày càng tăng
Hốt hoảng tấn công
Một cuộc hốt hoảng tấn công là một trải nghiệm nghiêm trọng của lo âu Mọi người
có thể cảm thấy sợ hãi cao độ, trải nghiệm các triệu chứng thể lý khác nhau và có
những suy nghĩ cực đoan về việc mất kiểm soát, một cơn đau tim hoặc chết Chúng ta cũng có thể sợ chính các cuộc hốt hoảng tấn công vì trải nghiệm không thoải mái Nghịch lý, xu hướng này làm cho một người thậm chí có khuynh dễ bị một cuộc tấn công! Mặc dù cơn hoảng loạn có thể rất đáng sợ, chúng không thực sự có hại - mọi người không thực sự bị đau tim, phát triển bệnh tâm thần hoặc bị tử vong vì chúng Đây là một số chiến lược giúp trong trường hợp một tấn công hoảng loạn:
- Hãy tự nhắc nhở rằng một tấn công hoảng loạn sẽ kết thúc!
- Hãy tự nhắc nhở rằng một tấn công hoảng loạn không thực sự nguy hiểm!
- Hãy tự nhắc nhở bất kỳ trường hợp nào trước đây khi bạn xử lý tốt một tình huống tương tự
- Hình dung một người bạn tin tưởng hoặc những người quan tâm đến bạn và tưởng tượng người đó đang ở bên bạn đưa ra sự khuyến khích Tập trung vào giây phút hiện
tại và vào những điều xung quanh (bên ngoài) bạn - hãy quan sát hình dạng, màu sắc,
âm thanh của chúng
- Hãy dừng những gì bạn đang làm và làm chậm lại một lúc! Hít thở chậm hơn và nhẹ nhàng (mặc dù không thực sự kiềm hãm hơi thở của bạn) Sau đó, tiếp tục những gì
bạn đang làm chậm
- Hãy thở dài, căng người ra, và sau đó ngồi phịch xuống và thư giãn
- Nếu có thể, hãy tập một số bài thể dục nhẹ, ví dụ như đi cho một dạo
- Đừng để lo âu (hoặc tình huống) lấy mất đi điều tốt hơn của bạn! [24]
Trang 281.3.2 Khó khăn học tập ở trẻ em
Có thể có nhiều lý do giải thích tại sao tiến bộ của một đứa trẻ ở trường khiến không đáp ứng sự mong đợi của cha mẹ, và giáo viên Với một lý do, người ta chứng minh rằng là môi trường của đứa trẻ ảnh hưởng đến hiệu suất của nó ở trường Những yếu
tố khác bao gồm các rối loạn cảm xúc, giảng dạy kém, hoặc tiềm năng trí tuệ hạn chế Một lý do khác có thể là đứa trẻ gặp khó khăn học tập
+ Khó khăn học tập
Khó khăn học tập là điều kiện thần kinh can thiệp vào khả năng của đứa trẻ để lưu trữ,
xử lý và / hoặc tạo ra thông tin Khó khăn học tập có thể ảnh hưởng đến khả năng đọc, viết, nói chuyện, đánh vần, làm toán học và lập luận của đứa trẻ Chúng cũng có thể ảnh hưởng đến sự chú ý, ghi nhớ, phối hợp, kỹ năng xã hội và sự trưởng thành tình cảm của đứa trẻ Một đứa trẻ khó khăn học tập làm việc dưới mức tiềm năng của mình, tụt hậu so với bạn bè và không thể đối phó với những yêu cầu của trường mặc
dù có những nỗ lực thích hợp
+ Nguyên nhân gây khó khăn học tập
Không ai biết chắc chắn điều gì gây ra khó khăn học tập, hầu hết các nhà nghiên cứu hiện nay nghĩ rằng chúng được gây ra bởi sự khác biệt về cách làm việc trong não của đứa trẻ và cách nó xử lý thông tin Hệ thống thần kinh trung ương chịu trách nhiệm cho việc học tập Nó được tạo thành của não bộ và tủy sống Dây thần kinh khắp cơ thể và nhận kích thích cảm giác và gửi thông tin qua tủy sống đến não để nó có thể giải thích những gì đã được nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy, ngửi và nếm Não tích hợp kiến thức thông tin cảm giác mới này với thông tin được lưu trữ trước đây, dựa trên quá trình đó, quyết định phải làm gì với những thông tin mới Hình như các từ nhà nghiên cứu cho rằng nhiều trẻ em có khó khăn học tập gặp sự trì trệ trưởng thành trong sự phát triển hệ thống thần kinh trung ương của các em
+ Các dấu hiệu khó khăn học tập
Trẻ em trưởng thành ở nhiều mức độ khác nhau, với những con gái thường trưởng thành nhanh hơn so với con trai Không thể làm được điều gì đó để tăng nhanh sự trưởng thành thần kinh - não cần thời gian của riêng nó để phát triển Tuy nhiên, một
Trang 29chuỗi các sự kiện phát triển có thể đoán trước một cách tương đối, như lời nói ở trẻ 2 tuổi Khi những sự kiện có thể dự đoán không xảy ra theo tiến độ, và khi sự chậm trễ
là đáng kể, điều này có thể chỉ ra vấn đề tiềm năng
Sự chậm trễ này có thể bao gồm các vấn đề với ngôn ngữ, sự chậm trễ thao tác, hoặc các vấn đề với quá trình xã hội hóa Nghiên cứu cho thấy khoảng 80% trẻ em bị chậm phát triển ngôn ngữ tiếp tục gặp khiếm khuyết về đọc, viết và chính tả
Thường thì vấn đề của một đứa trẻ chỉ được công nhận khi nó bắt đầu lớp đầu cấp hoặc lớp 1 Ở đây giáo viên sẽ lưu ý rằng đứa trẻ "không phù hợp" khi nhận thấy trẻ dựa vào nền tảng của trẻ em khác cùng lứa tuổi Điều quan trong là nhận ra những vấn
đề này sớm để chúng có thể được giải quyết và trẻ em được nuôi dạy theo trình độ lớp trong một thời gian ngắn
Chứng khó đọc được biểu thị bởi các vấn đề trong ngôn ngữ biểu cảm, dễ tiếp thu, bằng lời hoặc bằng văn bản, và bằng chứng trong các kỹ năng thực hiện đọc, chính tả, viết, nghe hoặc nói Các triệu chứng bao gồm khó khăn với sự nhận ra từ chính xác và / hoặc thông thạo, khả năng chính tả và giải mã kém, dẫn đến hiểu kém và kiến thức nền tảng từ vựng bị cản trở Theo Hiệp hội Chứng khó đọc quốc tế, 15-20% dân số gặp khó khăn đọc và 85% dân số gặp chứng khó đọc
Trang 30- Rối loạn nhận thức
Những khó khăn học tập này chỉ ra vấn đề với khả năng của trẻ sử dụng thông tin được nhận thông qua các giác quan - nhìn, nghe, nếm, ngửi, và sờ mó Các điều này ảnh hưởng đến cách não ghi nhận, phản ứng, nhận lại và lưu trữ thông tin cảm giác
Kỹ năng nhận thức đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập và những thiếu sót làm cho học tập rất khó khăn, cho dù đứa trẻ thông minh như thế nào
- Chứng khó đếm
Những người gặp chứng khó đếm gặp khó khăn hiểu khái niệm toán học và giải các bài toán dù đơn giản Trẻ có khó khăn đọc và kỹ năng nhận thức kém phát triển hoặc khó khăn thường phát triển các vấn đề với toán học
- Ngôn ngữ nói: sự chậm trễ, rối loạn, và lệch lạc trong nghe và nói
- Ngôn ngữ viết: khó khăn với đọc, viết và đánh vần
- Toán học: khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động toán học hoặc hiểu các khái niệm cơ bản
- Lập luận: Khó khăn trong việc tổ chức và suy nghĩ tích hợp
- Trí nhớ: khó khăn trong việc ghi nhớ thông tin và hướng dẫn
Vấn đề phù hợp với một nhóm các hành vi trong những lĩnh vực được mô tả là một chỉ số đúng là con quý vị có thể có một khó khăn học tập
+ Khi cần lo lắng
Can thiệp sớm với một đứa trẻ chậm phát triển về xã hội, nhận thức, thao tác hoàn chỉnh, vận động thô, hoặc ngôn ngữ có thể tạo ra một thế giới khác biệt Nếu những
Trang 31chậm trễ này không được phát hiện hoặc bị bỏ qua ở lứa tuổi mầm non và tiếp tục vào học chính thức, các vấn đề như dưới đây phát triển như là kết quả của sự thất bại kéo dài học tập
về giáo dục và xác định mức cơ bản từ đó chương trình chữa trị có thể bắt đầu Bất kỳ hoặc tất cả những điều sau đây có thể được yêu cầu:
- Đánh giá của nhà tâm lý học giáo dục để xác định tiềm năng năm học tập, xem trẻ có khó khăn học tập và trong đó lĩnh vực nào yếu Một đánh giá học thuật cung cấp mức độ năng lực thực tế của trẻ và các thông tin về đặc điểm về các vấn đề đọc, đánh vần viết và toán học
Trang 32- Đánh giá trị liệu nghề nghiệp sẽ chỉ ra sự thiếu sót trong phối hợp thao tác hoàn chỉnh, vận động thô, tổ chức hình ảnh - không gian, sự khiếm khuyết vận động hoặc khiếm khuyết nhận thức thị giác
- Đánh giá lời nói và ngôn ngữ sẽ làm nổi bật những vấn đề ngôn ngữ khó khăn
cụ thể với và khiếm khuyết nhận thức thính giác
Một khi đánh giá xác định được những khó khăn cụ thể, phụ huynh và giáo viên có thể đưa ra quyết định cách tốt nhất để hỗ trợ trẻ - hỗ trợ việc học thêm ở trường, sau giờ học hoặc bố trí vào một trường phục vụ cho trẻ có khó khăn học tập Cha mẹ có thể giúp đỡ con em bằng cách khuyến khích những điểm mạnh của trẻ, biết điểm yếu của các em, hiểu biết về hệ thống giáo dục, làm việc với các chuyên gia và học tập về các chiến lược để giải quyết các khó khăn cụ thể
Một nghiên cứu được xuất bản vào năm 2006 bởi Trung tâm phổ biến cho trẻ khuyết tật quốc gia chỉ ra rằng khi cha mẹ tham gia các hoạt động phong phú về học tập với trẻ ngoài trường học, các cháu tạo ra sự cải thiện đáng kể trong hiệu suất đọc hoặc toán học
+ Tin vui
Gặp khó khăn học tập là khó hiểu và đáng sợ đối với trẻ Cháu có thể bắt đầu cố gắng hết sức để theo kịp bạn bè của mình, nhưng sẽ thường kết thúc bằng việc bị bỏ rơi lại đằng sau Em có khả năng bị bạn bè trêu chọc và bị giáo viên gán nhãn tiêu cực Tuy nhiên điều quan trọng là nhớ rằng là một trẻ gặp khó khăn học tập có khả năng học hầu như bất cứ điều gì - nếu vấn đề của cháu được xác định và sự can thiệp phù hợp được đưa ra
Trẻ học khăn khó khăn thông minh như các bạn bè của em - bộ não của em đơn giản chỉ được nối kết khác nhau cho việc học tập Các em cần phải được giảng dạy theo các phương pháp thích nghi tốt nhất đối với cách các em xử lý thông tin Nhiều trẻ khó khăn học tập lớn lên thành đạt, thành công trong quyền riêng của họ Nhiều em có thể không bao giờ xuất sắc trong việc đọc, và có thể được đánh vần kém, nhưng các em vẫn có thể trở thành thành công trong kinh doanh, các lĩnh vực cơ khí, kiến trúc, nghệ thuật và v.v… Nhưng không có sự giúp đỡ, gần 40% thanh thiếu niên khó khăn học
Trang 33tập bỏ học Phụ huynh được trang bị bằng bản năng, và phụ huynh thực sự biết khi điều gì đó là sai trái với con của họ Tin tưởng vào bản năng của bạn và nếu bạn quan tâm, hãy tìm cố vấn chuyên nghiệp mà không có sự chậm trễ Dù tuổi của cháu bao nhiêu, con bạn có thể học cách học tập [7]
1.3.3 Khó khăn học tập (trẻ nhỏ)
Theo Viện Quốc gia về rối loạn thần kinh và đột quỵ, từ 8 đến 10% trẻ em dưới 18
tuổi đang đối phó với một số hình thức học tập khó khăn, rối loạn Những đứa trẻ này
có thể nhận được các dịch vụ giáo dục đặc biệt để hỗ trợ trong học tập, có thể yêu cầu của trẻ không được chú ý và học tập của em thụt hậu Là cha mẹ, bạn cần làm quen với các vấn đề học tập và giáo dục con em với thầy cô giáo
+ Khó khăn kỹ năng vận động
Kỹ năng vận động là một thành phần cần thiết để học tập Kỹ năng vận động tốt là quan trọng cho con của bạn nắm bắt các đồ vật, viết, cắt hoặc chọn các thứ Những kỹ năng vận động thô, như chạy và nhảy, là cần thiết cho sự phát triển thể chất và di chuyển Phối hợp tay và mắt gặp khó khăn khi một đứa trẻ trải nghiệm khó khăn kỹ năng vận động Cầm một bút chì hoặc cài nút áo sơ mi là một nhiệm vụ đầy thách thức cho trẻ gặp khó khăn kỹ năng vận động Những thiếu sót trong kỹ năng vận động
có thể tạo ra tụt hậu trong kiểu học tập của trẻ, đẩy cháu vào nguy cơ tụt hậu so với bạn bè của mình
+ Khó khăn đọc và sử dụng ngôn ngữ
Đọc và sử dụng ngôn ngữ nói là một thành phần đáng kể của việc học Con của bạn có thể gặp khó khăn hiểu biết âm thanh và các mẫu cơ bản, hoặc cháu có thể phấn đấu với đọc hiểu và từ vựng Một số trẻ phấn đấu với sự nhận biết những từ đơn lẻ hoặc làm thế nào để đưa các từ với nhau để tạo thành một câu mạch lạc Những trẻ khác có thể gặp vấn đề tìm ra ý tưởng có liên quan trong một câu chuyện Sự chậm trễ ngôn ngữ hoặc các vấn đề giao tiếp có thể ảnh hưởng đến sự thành công học tập của con
em Không thể tả bằng lời khái niệm sẽ bất lợi cho con của bạn trong trường học, cũng
như không có khả năng để xử lý ngôn ngữ Trẻ không thể làm theo hướng dẫn hoặc giải thích vấn đề có nguy cơ thất bại của trường
Trang 34+ Khó khăn viết
Khó khăn viết có thể được mô tả như là không có khả năng về thể chất để vẽ các chữ cái hoặc từ hoặc khó khăn trong thể hiện suy nghĩ dưới dạng vật lý Khó khăn với, chính tả, độ chính xác hoặc sự gọn gang cũng có thể được phân loại như khó khăn viết Con của bạn sẽ trải nghiệm khó khăn học tập nếu cháu không thể viết bài ra tập hoặc sao chép các bài tập về nhà chính xác Viết Khó khăn có thể dưới dạng không thể
xử lý thông tin Bất kỳ khó khăn nào trong số này sẽ có tác động tiêu cực đến học tập của con em quý vị
+ Rối loạn học tập thông thường
Một số rối loạn thông thường có thể tác động tiêu cực đến việc học tập của con em quý vị Chứng khó đọc có thể làm mất khả năng xử lý ngôn ngữ của con quý vị do sự pha trộn mang tính hình ảnh của những từ và chữ cái Chứng khó phối hợp động tác, rối loạn hợp nhất cảm giác, ảnh hưởng đến phối hợp tay và mắt của trẻ và hoàn chỉnh
kỹ năng vận động Rối loạn xử lý thính giác hoặc hình ảnh can thiệp vào khả năng hiểu thông tin nói hoặc viết tương ứng Trẻ em với chẩn đoán của bất kỳ về những điều kiện này được giới thiệu vào một chuyên gia trường học để được giúp đỡ trong việc khắc phục vấn đề [25]
+ Những biểu hiện của trẻ em gặp khó khăn với việc học
Những trẻ em gặp khó khăn với việc học có thể trở nên buồn bã, thất vọng hay xấu hổ khi ứng phó với những khó khăn của chúng Thông thường, các em gặp vấn đề tâm lý như lo lắng, trầm cảm, hay giận dữ quá mức Hướng dẫn này bao gồm các bài báo và các cuộc phỏng vấn, các nhà nghiên cứu và các bác sĩ chuyên gia về vấn đề tâm lý ảnh hưởng đến trẻ em có những thách thức học tập Họ mô tả triệu chứng phụ huynh có
thể xem và cách thức hỗ trợ cuộc sống lành mạnh về tâm lý và tình cảm của một đứa
trẻ Bạn cũng sẽ tìm thấy một danh sách các tài nguyên đề xuất về chủ đề này
Trẻ em khó khăn học tập thường có vấn đề sâu xa hơn những trẻ có kinh nghiệm về đọc, viết, toán, ghi nhớ, hoặc cấu trúc Đối với nhiều em, cảm giác mạnh mẻ về sự thất
vọng, giận dữ, buồn bã, hay xấu hổ có thể dẫn đến những khó khăn tâm lý như lo lắng,
trầm cảm, hoặc lòng tự trọng thấp, cũng như các vấn đề về hành vi như lạm dụng chất
Trang 35hoặc phạm pháp vị thành niên Tiến sĩ Marshall Raskind, một chuyên gia trong lĩnh
vực khuyết tật học tập nói, "Thật không may, những vấn đề này có thể tàn phá nhiều hơn so với bản thân thách thức học tập Mặc dù mức độ nghiêm trọng và thời gian khó khăn tâm lý của một đứa trẻ có thể thay đổi khi em lớn lên, những vấn đề như thế có
thể tiếp tục trong suốt tuổi trưởng thành."
Nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực khó khăn học tập đã nghiên cứu những khó khăn tâm lý thường được trẻ khó khăn học tập trải nghiệm và đề xuất với các bậc cha
mẹ về cách để giúp bảo vệ con cái của họ không phát triển những vấn đề này Trong bài viết này tổng quan này, chúng tôi sẽ mô tả một cách chung chung các loại vấn đề tâm lý có thể ảnh hưởng đến trẻ khó khăn học tập và các nguyên nhân có thể của chúng Chúng tôi cũng sẽ cung cấp một số dấu hiệu cảnh báo mà các bậc cha mẹ nên tìm kiếm và hướng dẫn bạn một số phương pháp tiếp cận có thể hỗ trợ cho con em
cuộc sống lành mạnh về tâm lý
Các bài viết trong loạt bài này, đang được phát triển trong vài tháng tiếp theo, sẽ khám phá những vấn đề cụ thể tâm lý mà nhiều trẻ em khó khăn học tập phải đối diện, như
lo lắng, trầm cảm và cô đơn
+ Một số giải thích cho các khó khăn tâm lý ở trẻ khó khăn học tập
Để có hiệu quả nhất trong việc hỗ trợ con bạn, nó có thể giúp hiểu một số cơ bản lý do được giả định cho những thách thức tâm lý và cảm xúc trẻ có thể phải đối mặt Mặc
dù có một số lý thuyết về lý do tại sao trẻ khó khăn học tập có thể phát triển những
vấn đề này, có hai cách giải thích thường được trích dẫn
Đầu tiên, nó không khó khăn để xem lý do tại sao trẻ khó khăn học tập có nguy cơ lớn hơn đối với việc phát triển khó khăn tâm lý nếu một người xem xét sự thất bại lặp đi
lặp lại các em trải nghiệm khi chúng chiến đấu theo cách của mình trong hệ thống giáo dục, có thể hiểu lầm hoặc bỏ qua các nhu cầu của các em
Mặc dù nỗ lực của đứa trẻ và thúc đẩy người lớn để "cố gắng hơn nữa", trẻ em khó khăn học tập có thể nhận được ít phản hồi tích cực Cuộc đấu tranh và thất bại mang tính học thuật của các em thường gặp sự không chấp nhận bởi các giáo viên, bạn bè,
và phụ huynh Sự không chấp thuận như thế có thể mang hình thức gắn nhãn tiêu cực
Trang 36của một đứa trẻ như "chậm chạp", "lười biếng," hoặc "câm lặng" Thay vì phát triển
một niềm tự hào về thành tích của chúng, trẻ khó khăn học tập có thể kết thúc trong
một vũng lầy của sự thất vọng và xấu hổ
Cảm giác như thế chỉ để làm xói mòn sự phát triển của sự tự nhận thức tích cực Trong thực tế, do kết quả của liên tục đấu tranh và thất bại, một hình ảnh về bản thân tiêu cực có thể phát triển ngay cả khi những người khác cung cấp hỗ trợ và khuyến khích Lòng tự trọng thấp và thiếu tự tin chỉ phục vụ cho việc tiếp tục can thiệp vào
việc học, học tập thành công và củng cố một chu kỳ thất bại và tiêu cực Nghiên cứu được tiến hành bởi Tiến sĩ Kenneth Kavale của Đại học Iowa và Forness Tiến sĩ Steven R của Đại học California tại Los Angeles chỉ ra rằng có tới 70% trẻ em khó khăn học tập có lòng tự trọng kém
+ Khó khăn học tập và các vấn đề tâm lý
Để có hiệu quả nhất trong việc hỗ trợ con bạn, nó có thể giúp hiểu một số lý do cơ bản được giả định cho những thách thức tâm lý và cảm xúc trẻ có thể phải đối mặt Tiến sĩ Raskind nói, "Theo thời gian, trẻ em khó khăn học tập chỉ có thể ngừng cố gắng tiến vào một trạng thái của sự bất lực được học tập.” Ở đó các em nhận thấy không có kết
nối giữa các nỗ lực của và kết quả cuối cùng các em "Tại sao bận tâm?” chúng có thể
hỏi, "Cho dù tôi cố gắng như thế nào, tôi luôn luôn kết thúc trong thất bại."
Lý do thứ hai thường xuyên được đưa ra để giải thích tại sao trẻ khó khăn học tập có
thể phát triển các vấn đề tâm lý là khó khăn xã hội chúng thường trải nghiệm Nghiên
cứu của tiến sĩ Kavale và Forness chỉ ra rằng 75% trẻ khó khăn học tập gặp khó khăn
xã hội như kết bạn và duy trì tính bạn "Trong thực tế, vấn đề xã hội và tâm lý kết nối
với nhau chặt chẽ” Tiến sĩ Raskind nhận xét, "Nhiều khi hoàn toàn không thể xác định khó khăn nào gây ra khó khăn nào Một cách chắc chắn, vấn đề tâm lý có thể có ảnh hưởng tiêu cực trên sự tương tác xã hội Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ khó khăn
học tập ít được chấp nhận và thường bị bạn bè từ chối Giáo viên và những người lớn khác cũng có xu hướng về quan điểm tiêu cực về trẻ khó khăn học tập.” Sự từ chối xã
hội như thế có thể dẫn đến các em mất lòng tự trọng và quan điểm tiêu cực về bản thân Ngoài ra, từ chối xã hội có thể dẫn đến cảm giác cô đơn, đến lượt nó, cảm giác
cô đơn có thể dẫn đến những khó khăn tâm lý như lo âu và trầm cảm [4]
Trang 371.3.4 Khó khăn tâm lý và khó khăn liên quan của trẻ em khó khăn học tập
Có nhiều khó khăn tâm lý, cảm xúc, hành vi trẻ khó khăn học tập trải nghiệm theo các
kết quả của một số nghiên cứu Trong danh sách dưới đây về các vấn đề trẻ em khó khăn học tập trải nghiệm mô tả các kết quả nghiên cứu được diễn tả một cách cẩn thận
để chỉ ra bằng chứng cho mỗi vấn đề nghiên cứu mạnh mẽ như thế nào Ví dụ, nghiên
cứu chỉ có thể "đưa ra" một số kết quả bởi vì thiếu bằng chứng thuyết phục Đối với các vấn đề khác, từ "chỉ ra" được sử dụng để mô tả những kết quả bởi vì có một nhóm nghiên cứu đều đi đến cùng một kết luận
+ Nghiên cứu chỉ ra rằng các cá nhân khó khăn học tập có thể:
- trải nghiệm các mức độ lo âu ngày càng tăng
- nguy cơ bị trầm cảm nhiều hơn
- trải nghiệm mức độ cô đơn cao hơn
- có lòng tự trọng thấp hơn
- có nguy cơ lạm dụng chất gây nghiện nhiều hơn
- có nguy cơ phạm pháp ở tuổi vị thành niên lớn hơn (có một số cuộc tranh luận
+ Cách để hình dung ý nghĩa của nghiên cứu
Cha mẹ cần phải đặc biệt cảnh báo khi họ đọc hay nghe tin tức, những câu chuyện tường trình kết quả nghiên cứu Thông thường, trong một nỗ lực để làm cho những câu chuyện thú vị và hấp dẫn, một số thông tin có thể được quá chú trọng hoặc trình bày một cách giật gân, trong khi đó, thông tin quan trọng hơn thậm chí có thể được bỏ qua
Ngoài ra, mặc dù có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh tâm lý và hành vi của trẻ khó khăn học tập, không phải tất cả các nghiên cứu cùng đồng tình Ví dụ, trong khi một
Trang 38số nghiên cứu tìm thấy một liên kết giữa khó khăn học tập và phạm pháp vị thành niên, nhưng những nghiên cứu khác thì không Sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu
có thể là do nhiều điều kiện Trong một số trường hợp, các nghiên cứu không thể xác định khó khăn học tập theo cùng một cách hoặc có thể sử dụng phương pháp nghiên
cứu khác nhau (ví dụ, cuộc phỏng vấn chứ không phải là kiểm nghiệm thống kê)
Hoặc, các nghiên cứu có thể được xem xét cá nhân trong độ tuổi, các tầng lớp kinh tế -
xã hội, hoặc nền tảng văn hóa khác nhau Ngay cả những vấn đề tâm lý được xác định
có thể khác nhau giữa các nghiên cứu (ví dụ, quan sát của bác sĩ lâm sàng chứ không
phải là một trắc nghiệm tâm lý tiêu chuẩn hóa), vì thế, chúng có thể tạo ra kết quả khác nhau Do đó, điều quan trọng là không xem xét các kết quả của một nghiên cứu duy nhất, nhưng xem xét "nhóm kết quả" của nhiều nghiên cứu tập trung vào một lĩnh
vực cụ thể
+ Một số dấu hiệu cảnh báo những khó khăn tâm lý
Lòng tự trọng thấp là một vấn đề phổ biến cho trẻ em khó khăn học tập Tiến sĩ Robert Brooks, một nhà tâm lý học, giáo sư tại Đại học Y Harvard và chuyên gia về lòng tự
trọng, phân loại các dấu hiệu của lòng tự trọng thấp ở trẻ em hoặc là "trực tiếp" hoặc
“gián tiếp" của khó khăn học tập Các chỉ số trực tiếp bao gồm lời nói hoặc hành động cho thấy rằng một đứa trẻ thiếu tự tin, bị tràn ngập bởi những thách thức phải đối mặt,
hoặc có rất ít hy vọng thành công trong tương lai Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Brooks, dấu
hiệu của lòng tự trọng thấp có thể được che đậy bởi một loạt các các chiến lược đối phó tự đánh bại, chẳng hạn như:
- Từ bỏ, khi nhiệm vụ trở nên khó khăn hay bực bội;
- Tránh một nhiệm vụ hoặc hoạt động vì sợ thất bại;
- Làm hề, để che giấu sự thiếu tự tin hoặc để giảm bớt áp lực;
- Kiểm soát, để chống lại một cảm giác bất lực;
- Hung hăng và bắt nạt, để chống lại cảm giác dễ bị tổn thương;
- Từ chối, để quản lý nỗi đau chúng cảm nhận khi thiếu an toàn được nhận ra;
- Bốc đồng, hoàn thành nhiệm vụ càng nhanh càng tốt "chỉ để đạt được điều đó."
Trang 39Sử dụng thỉnh thoảng và ngắn hạn của các chiến lược đối phó không hiệu quả có lẽ không phải là một nguyên nhân đáng quan tâm Nhưng khi chúng trở thành thói quen
của cách một đứa trẻ tiếp cận nhiệm vụ hàng ngày, can thiệp học tập, phát triển, và tận hưởng cuộc sống, đó là thời gian để nhìn vào những cảm xúc đằng sau hành vi
Một số trẻ khó khăn học tập có thể lo âu hay trầm cảm do kết quả của học tập liên tục
và cuộc đấu tranh không mang tính học thuật liên quan đến khó khăn học tập của các
em Theo chẩn đoán và thống kê Hướng dẫn sử dụng của các rối loạn tâm thần, phiên bàn IV (DSM-IV) được sử dụng bởi các bác sĩ chẩn đoán vấn đề tâm lý, một đứa trẻ
lo âu có thể lo lắng hầu hết thời gian, có thể lo lắng trong một hoàn cảnh nào đó như trong đám đông người, tại trường học, hoặc khi được dự kiến để thực hiện một công
việc, hoặc có thể sợ bị tách ra khỏi nhà hoặc cha mẹ hoặc những người lớn khác mà
trẻ đó gần gũi
Một đứa trẻ trầm cảm, theo tiêu chuẩn của DSM-IV, có vẻ buồn hoặc cáu kỉnh hầu hết
thời gian; mất hứng thú và niềm vui trong nhiều hoạt động nó thích thú trước đó, ăn quá nhiều hoặc mất cảm giác ngon miệng, cảm thấy tội lỗi không phù hợp, có vấn đề
về suy nghĩ, tập trung, và đưa ra quyết định; cảm thấy vô giá trị hoặc vô vọng (Lưu ý: Đây không phải là danh sách đầy đủ các triệu chứng, chỉ có một chuyên viên kinh nghiệm có thể chẩn đoán lo âu hay trầm cảm ở con bạn.)
Là một chuyên gia về nhân cách và hành vi của con em quý vị điển hình, bạn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sớm dấu hiệu của các vấn đề có thể xảy ra [5]
1.3.5 Khó khăn học tập của sinh viên
Hầu hết chúng ta gặp khó khăn có tính chất cá nhân hay tâm lý tại một số thời điểm trong cuộc sống của chúng ta Đây thường là một khía cạnh khó chịu nhưng tương đối bình thường của sự tồn tại của con người, nhưng đôi khi chúng có thể trở nên rất lớn,
cản trở hoạt động của chúng ta Đối với các sinh viên, thời hạn đáp ứng và chuẩn bị cho các kỳ thi rất quan trọng, khó khăn trong kiểm tra, đánh giá có thể có là tác động
rất nghiêm trọng đến khả năng của họ để duy trì tiến độ học tập
Những khó khăn tâm lý này được biểu hiện ở các mặt nhận nhận thức, thái độ, tình
cảm và hành vi Cụ thể như sau:
Trang 40• Nhận thức
Nhận thức xuất hiện nhằm giúp người gặp khó khăn tâm lý hiểu biết về các sự vật
hiện tượng để tìm ra những giải pháp cho vấn đề thông qua việc giải quyết vấn đề Khi
vấn đề vượt quá khả năng giải quyết, sinh viên bỏ qua và làm cho tình huống khó khăn hơn
• Thái độ
Có thể nói khó khăn tâm lý biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những xúc cảm âm tính đối với hoạt động của sinh viên như coi thường chính công việc của mình, chán ghét, thờ ơ, lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, chán nản khi gặp những vấn đề nảy sinh trong hoạt động học tập Tuy nhiên, khó khăn tâm lý biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những xúc cảm dương tính đối với hoạt động của sinh viên như hứng thú, quan tâm trong hoạt động học tập
Tín ch ỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghi ệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa bi ểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết