1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh bình phước, thực trạng và định hướng

148 555 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, cơ cấu cây công nghiệp của tỉnh đã và đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ qua từng giai đoạn phát triển với diện tích của một số loại cây công nghiệp không ngừng tăng và đã cơ bản h

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn "Chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước: Thực trạng và định hướng" được hoàn thành trong sự nỗ lực của bản thân, dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Bích Hà và sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của gia đình và bạn bè

Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của bản thân, là văn bản duy nhất và không trùng với bất kỳ luận văn nào của các tác giả khác Các thông tin, số liệu trong luận văn có tính trung thực và chính xác, được cung cấp bởi các Sở và ban ngành của tỉnh Bình Phước

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Huỳnh Thị Kiều Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Bích Hà

và TS Phạm Thị Xuân Thọ đã quan tâm, giúp đỡ và hướng dẫn rất tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tiếp đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các giảng viên thuộc khoa Địa lý và các cán bộ, nhân viên các phòng ban của Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, đặc biệt là các cán bộ thuộc Phòng Sau Đại học và Thư viện trường đã giúp đỡ, cũng như tạo nhiều điều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại trường Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, chia sẻ khó khăn và giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Sở và các ban ngành: Cục Thống

kê tỉnh Bình Phước, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước, UBND tỉnh Bình Phước và Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bình Phước đã cung cấp cho tôi những nguồn tài liệu quý báu và hữu ích

Tác giả luận văn Huỳnh Thị Kiều Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

L ỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

M Ở ĐẦU 6

1 Lý do ch ọn đề tài 6

2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Gi ới hạn của đề tài 7

4 L ịch sử nghiên cứu 8

5 Qu an điểm và phương pháp nghiên cứu 8

6 C ấu trúc của đề tài 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY CÔNG NGHIỆP 12

1.1 Cơ sở lí luận về cơ cấu cây trồng và cây công nghiệp 12

1.1.1 Cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng 12

1.1.2 Cây công nghiệp 18

1.2 Các nhân t ố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu cây trồng và cây công nghiệp 29

1.2.1 Nhóm nhân tố tự nhiên 29

1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội 35

1.3 Th ực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp của vùng Đông Nam Bộ 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY CÔNG NGHIỆP T ỈNH BÌNH PHƯỚC 43

2.1 Khái quát t ỉnh Bình Phước 43

2.2 Các nhân t ố ảnh hưởng đến sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp t ỉnh Bình Phước 46

2.2.1 Vị trí địa lý 46

2.2.2 Nhân tố điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 47

2.2.3 Nhân tố kinh tế - xã hội 57

2.3 Th ực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước 64

2.3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước 64

2.3.2 Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước 90

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY CÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH PHƯỚC 99

Trang 6

3.1 Cơ sở xây dựng định hướng 99

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ 99

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước 109

3.1.3 Định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Bình Phước 115

3.1.4 Quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Phước đến năm 2020 122 3.2 Định hướng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước 124

3.3 M ột số giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước 131

3.3.1 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp 131

3.3.2 Giải pháp về huy động vốn 131

3.3.3 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 133

3.3.4 Giải pháp về khoa học – công nghệ 134

3.3.5 Giải pháp về đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách 135

3.3.6 Giải pháp về thị trường và xúc tiến thương mại 137

3.3.7 Giải pháp về nguồn nhân lực 138

3.4 M ột số kiến nghị 139

K ẾT LUẬN 141

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 142

PHỤ LỤC 144

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

cư và lao động giữa các vùng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng núi, trung du

và cao nguyên, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước Phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp gắn với ngành công nghiệp chế biến được xác định là một hướng quan trọng trong chiến lược phát triển ngành nông nghiệp của nước ta

Cùng với TN, ĐNB là một trong hai vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm và hàng năm lớn nhất của nước ta Bình Phước là một trong sáu tỉnh thành của vùng ĐNB, được thiên nhiên ưu đãi nhiều lợi thế như: khí hậu nhiệt đới ôn hòa, địa hình đồi núi thấp, tài nguyên đất có chất lượng cao với 3 loại đất chính: đất đỏ bazan, đất xám feralit, đất phù

sa sông Đồng Nai Đây là những điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp Bình Phước trở thành một trong những tỉnh thành phát triển cây công nghiệp quan trọng của cả nước Hiện nay, cơ cấu cây công nghiệp của tỉnh đã và đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ qua từng giai đoạn phát

triển với diện tích của một số loại cây công nghiệp không ngừng tăng và đã cơ bản hình thành được các vùng chuyên canh cây công nghiệp chủ lực Thực tiễn trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu thực tế để tìm ra hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng đúng đắn, phù hợp với lợi thế về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình phát triển của tỉnh, mặt khác phù hợp với các yêu cầu và nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Từ yêu cầu đó, tôi đã

chọn đề tài luận văn: "Chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước: thực trạng

và định hướng" để nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 M ục đích

Trang 9

Mục đích của luận văn là vận dụng cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng và cây công

nghiệp để nghiên cứu về thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước trong thời gian qua

Đưa ra những định hướng nhằm đảm bảo sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp phù hợp, đưa ngành nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh theo hướng bền vững

2.2 Nhi ệm vụ

- Hệ thống hóa các vấn đề cơ sở lý luận có liên quan đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp,

chuyển dịch cơ cấu cây trồng

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp Đồng thời, phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp của vùng ĐNB

- Dựa trên cơ sở lý luận, đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên và các nhân tố kinh

tế - xã hội của tỉnh Bình Phước đến sự phát triển cây công nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp Tập trung làm rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian từ năm 1998 đến năm 2011 Qua đó, đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục

- Từ thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp và những cơ sở như: chiến lược phát triển cây công nghiệp của tỉnh Bình Phước, tình hình sản xuất, các tiềm năng và nhu cầu sản phẩm cây công nghiệp của thị trường để đưa ra những định hướng phát triển trong thời gian tới, kèm theo đó là những giải pháp cho vấn đề này

3 Giới hạn của đề tài

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

+ Cơ sở chung về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu cây công nghiệp

+ Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước đến sự phát triển của cây công nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh (chủ yếu tập trung vào sự chuyển dịch cơ cấu CCNLN)

+ Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp của tỉnh trong thời gian qua, bao gồm sự thay đổi về diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng của một số CCNLN chủ yếu của tỉnh qua các giai đoạn

Trang 10

+ Đưa ra định hướng phát triển và đề xuất một số giải pháp phát triển cây công nghiệp của tỉnh theo hướng bền vững

- Về không gian nghiên cứu:

Cây công nghiệp là cây chủ lực của tỉnh Bình Phước nên được trồng ở hầu hết các huyện, thị trong toàn tỉnh Vì vậy, không gian nghiên cứu của luận văn này được trải rộng trên 10 huyện, thị xã của tỉnh, bao gồm: thị xã Đồng Xoài, thị xã Bình Long, thị xã Phước Long và các huyện: Đồng Phú, Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, Chơn Thành, Bù Đăng, Bù Gia Mập

4 Lịch sử nghiên cứu

Tính đến thời điểm hiện tại, đã có một số luận văn nghiên cứu về các ngành kinh tế của

tỉnh Bình Phước như: "Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bình Phước trong thời

kì hội nhập" của tác giả Dương Thị Hà, hay: "Nghiên cứu sự phát triển công nghiệp và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Phước" của tác giả Nguyễn Xuân

Sáng Tuy nhiên, đi sâu nghiên cứu về cây công nghiệp, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh thì vẫn chưa có tác giả nào tiến hành nghiên cứu, vì vậy đây vẫn còn là một đề tài mới mẻ

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Tình hình chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp của tỉnh Bình Phước là một bộ phận của chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chung của tỉnh

Ngoài ra, sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp còn chịu tác động đồng thời của nhiều yếu

tố như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, các chính sách phát triển cây công nghiệp của Nhà nước và của lãnh đạo tỉnh, các nhu cầu của thị trường nội địa và quốc tế

Trang 11

Vì vậy, việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp cần được xem xét trong một

hệ thống hoàn chỉnh, có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau của các đối tượng, các yếu tố

5.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Mỗi đối tượng địa lý đều có sự phân bố trong một không gian lãnh thổ xác định và có sự khác biệt rõ rệt giữa từng khu vực Chính vì vậy, khi nghiên cứu bất kỳ đối tượng nào, chúng ta đều phải lưu ý đến các nhân tố tự nhiên và nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến

sự phân bố của các đối tượng đó trên một lãnh thổ nhất định Từ đó, có thể so sánh được sự khác biệt giữa các đối tượng địa lý theo không gian và rút ra được nét đặc trưng của các đối tượng trên những không gian lãnh thổ xác định

Khi nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu của cây công nghiệp cũng vậy, chúng ta cần phải xem xét sự phân bố của chúng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố đó Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội như: điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn nước, dân cư, lao động, nên sự thay đổi về quy mô diện tích và phân bố của các loại cây công nghiệp có sự khác biệt rõ rệt Vì vậy, quan điểm lãnh thổ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng phương hướng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành nông nghiệp

5.1.3 Quan điểm tổng hợp

Trong cùng một hệ thống, mọi đối tượng địa lý đều có những mối quan hệ phức tạp và nhiều chiều với các đối tượng địa lý khác Ngoài ra, chúng còn có mối quan hệ mật thiết với các đối tượng thuộc những hệ thống khác Các mối quan hệ này có thể thúc đẩy hoặc làm chậm sự phát triển của các đối tượng địa lý

Các cây công nghiệp cũng vậy, sự phát triển, phân bố và chuyển dịch cơ cấu cũng chịu tác động của rất nhiều nhân tố, từ các yếu tố tự nhiên đến các nhân tố kinh tế - xã hội Do

đó, khi nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước, để có được cách nhìn khách quan và khoa học, rất cần thiết phải sử dụng quan điểm tổng hợp

5.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Tất cả các sự vật và hiện tượng địa lý luôn vận động và biến đổi không ngừng theo thời gian Vì vậy, để thấy được sự thay đổi trong cơ cấu của các loại cây trồng trong quá khứ và

Trang 12

dự báo được sự thay đổi này trong tương lai, chúng ta cần phải nắm rõ nguồn gốc phát sinh

và quá trình phát triển của cây trồng theo thời gian

Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp của tỉnh Bình Phước là một quá trình lâu dài, kéo dài hàng chục năm Dưới sự tác động của nhiều yếu tố cả về mặt tự nhiên, kinh tế -

xã hội và về mặt lịch sử, cơ cấu các loại cây công nghiệp của tỉnh có sự thay đổi khá rõ rệt theo thời gian Do đó, để nhận định và đánh giá được thực trạng chuyển dịch cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian qua, hiện nay và trong tương lai, việc vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh là vô cùng cần thiết Ngoài ra, nhờ quan điểm này, chúng ta có thể đưa ra các định hướng và giải pháp cho việc chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp của tỉnh trong tương lai

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học

Do phạm vi phân bố của cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh khá rộng, và việc đánh giá hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp của tỉnh cũng khá phức tạp nên việc gặp gỡ, tiếp xúc và trao đổi ý kiến với người nông dân, cũng như việc thu thập các thông tin từ thực tế là vô cùng quan trọng, giúp cho việc đánh giá sẽ khách quan và chính xác hơn Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi cũng đã tham khảo ý kiến của một số cán bộ nông nghiệp của tỉnh trong việc nhận định xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện tại và trong thời gian tới

5.2.2 Phương pháp thu thập, thống kê

- Tiến hành thu thập tài liệu từ các nguồn tài liệu khác nhau: sách, báo, tạp chí, các đề tài nghiên cứu khoa học, một số trang web, số liệu thống kê và chiến lược phát triển nông nghiệp của các sở, cơ quan, ban ngành tỉnh Bình Phước (như số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, Quy hoạch phát triển nông nghiệp của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước )

- Từ các nguồn tài liệu đã thu thập được, tiến hành thống kê, chọn lọc những tài liệu có liên quan và phù hợp với nội dung của đề tài

5.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được, tiến hành phân tích và tổng hợp các thông tin, dữ liệu, số liệu để thấy được các mối quan hệ giữa các cây công nghiệp của tỉnh với các

Trang 13

điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, cũng như nhận định được sự chuyển dịch cơ cấu của chúng theo thời gian

5.2.4 Phương pháp thực địa

Do cây công nghiệp của tỉnh Bình Phước phân bố trên phạm vi lãnh thổ khá rộng, phân

bố khắp các đơn vị hành chính của tỉnh và có sự khác biệt về diện tích và cơ cấu giữa từng địa phương Do đó, cần phải thực hiện những chuyến đi thực tế, thực địa để có được sự nhìn nhận đúng đắn và khách quan về thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh, cũng như đưa ra những định hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp phù hợp với tiềm năng, lợi thế và khả năng phát triển của từng địa phương

5.2.5 Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Trong địa lý học, bản đồ và biểu đồ được xem là ngôn ngữ thứ hai, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thể hiện các đối tượng địa lý Những bản đồ liên quan đến nội dung nghiên cứu được xây dựng sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn tổng thể đối với các đối tượng nghiên cứu, ngoài ra còn giúp cho nội dung nghiên cứu được rõ ràng, mạch lạc hơn Phương pháp này càng có ý nghĩa quyết định trong việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước nói riêng Qua các biểu đồ được xây dựng, sự chuyển dịch cơ cấu giữa các cây công nghiệp của tỉnh được thể hiện một cách trực quan, từ đó có thể nhận thấy dễ dàng sự chuyển dịch này

6 Cấu trúc của đề tài

Cấu trúc của luận văn bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp

- Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước

- Chương 3 Định hướng và giải pháp thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh Bình Phước

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN

1.1 Cơ sở lí luận về cơ cấu cây trồng và cây công nghiệp

1.1.1 Cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng

1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu cây trồng

Có nhiều quan niệm khác nhau về cơ cấu cây trồng Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam

1 (1995), cơ cấu cây trồng là tập hợp những loại cây trồng khác nhau trên một địa bàn, trong

một thời gian nhất định Cơ cấu cây trồng, vật nuôi cùng với cơ cấu ngành nghề, cơ cấu

giống và cơ cấu mùa vụ là các loại cơ cấu cụ thể của cơ cấu nông nghiệp

Theo Phạm Chí Thành (1996), cơ cấu cây trồng là tỷ lệ các loại cây trồng có trong một vùng ở một thời điểm nhất định, nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp, nó phản ánh

sự phân công lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người

Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1984) thì cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có

Còn các tác giả Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh (1987) thì cho rằng cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại giống cây trồng bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp

Như vậy, cơ cấu cây trồng là thành phần các loại và giống cây trồng bố trí theo không gian và th ời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp nhằm sử dụng hợp lý

nh ất các điều kiện và các nguồn lợi tự nhiên và kinh tế - xã hội sẵn có

Cơ cấu cây trồng là một phạm trù khoa học biểu hiện trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp, đồng thời cơ cấu cây trồng cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng của chiến lược nông sản phẩm hàng hóa Cũng có thể quan niệm cơ cấu cây trồng trên cơ sở của khái niệm cơ cấu kinh tế: là tổng thể các mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định, tạo thành một hệ

thống kinh tế trong nông thôn, một bộ phận hợp thành không thể thiếu của nền kinh tế Cơ

Trang 15

cấu cây trồng còn là một bộ phận chủ yếu của cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn ở nước ta

Cơ cấu cây trồng được hình thành từ những loại cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗi vùng Cơ cấu cây trồng có thể được hình thành từ nhiều nhóm cây, nhóm cây lương thực gồm: lúa, ngô, khoai, sắn; nhóm cây công nghiệp gồm những loại cây ngắn ngày: lạc, mía, đậu tương, bông, và cây dài ngày: chè, cà phê, cao su, ca cao, Việc xác định quy mô diện tích và địa bàn phân bố của mỗi loại cây trồng phải dựa trên sự tính toán tương quan, hợp lý giữa các loại cây trồng trong vùng sản xuất Do vậy, có thể nói cơ cấu cây trồng chính là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trong vùng, bao gồm: cây trồng, vị trí, quy mô diện tích của từng loại cây trồng cùng với mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây

trồng với nhau, có tính chất xác định lẫn nhau trong cơ cấu để tạo thành hệ thống cây trồng

Hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, của nền kinh tế hàng hóa, việc lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã

hội, cũng như phát huy được các lợi thế so sánh của mỗi vùng là rất cần thiết nhằm hình thành các vùng chuyên canh tập trung và thay đổi cơ cấu nông nghiệp của vùng Đây cũng làm một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển

1.1.1.2 Đặc trưng của cơ cấu cây trồng

Cơ cấu cây trồng mang một số đặc trưng cơ bản sau:

- Cơ cấu cây trồng mang tính hợp lý khách quan, được hình thành do trình độ phát triển

của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Cơ cấu cây trồng và xu hướng biến đổi của nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và quá trình nhận thức của con người, con người có thể tác động vào cơ cấu cây trồng làm cho nó chuyển dịch phù hợp với những điều

kiện khách quan và nhu cầu phát triển của chính bản thân con người

- Cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử và xã hội nhất định Hoạt động sản xuất nông nghiệp có sự khác nhau giữa các vùng, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử và xã hội Do đó, rất khó để xây dựng một cơ cấu cây trồng chung cho mọi vùng sản xuất Cơ cấu cây trồng ở mỗi địa phương là sự kế thừa có chọn lọc các cơ cấu cây

trồng trước đó, phù hợp với các điều kiện tự nhất định trong các giai đoạn nhất định

Trang 16

Cơ cấu cây trồng luôn biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện Nó luôn vận động

và phát triển không ngừng thông qua sự chuyển hóa từ cũ sang mới, từ đơn điệu đến đa

dạng, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao do yêu cầu của sự tăng trưởng và phát triển xã hội

- Tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ phát triển

của lực lượng sản xuất, khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, tầm nhìn

của người lãnh đạo và quản lý sản xuất

- Cơ cấu cây trồng sẽ đạt được hiệu quả kinh tế cao khi nó gắn liền với một ngành công nghiệp hay thương nghiệp phát triển Thương nghiệp phát triển sẽ giúp cho cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng luôn thông suốt, quá trình tiêu thụ sản phẩm diễn ra nhanh và thuận lợi Công nghiệp, chủ yếu là ngành công nghiệp chế biến sẽ góp phần làm tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng, đòi hỏi chất lượng cao của xã hội Điều đó đặt ra yêu cầu Nhà nước cần

có chính sách hỗ trợ hợp lý đối với mỗi cơ cấu cây trồng hay mỗi vùng sản xuất nông nghiệp nhất định

1.1.1.3 C huyển dịch cơ cấu cây trồng

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là quá trình phát triển hay quá trình thay đổi về thành phần và các loại cây trồng trong một cơ sở hay một vùng nhất định

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là quá trình thực hiện một bước chuyển từ hiện trạng của

cơ cấu cây trồng sang trạng thái cơ cấu cây trồng mà mình mong muốn nhằm đáp ứng những yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp Việc điều chỉnh cơ cấu này có thể là ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại, hoặc đưa ra những

hệ thống cây trồng mới phù hợp nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao hơn Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng là sự vận động, phát triển thường xuyên, liên tục

và gắn với sự phát triển của nông nghiệp Những cơ cấu cây trồng cũ không còn phù hợp với điều kiện sinh thái và hiệu quả kinh tế thấp sẽ được thay thế bằng những cơ cấu cây trồng mới phù hợp hơn với điều kiện hiện có của địa bàn sản xuất nông nghiệp, nhằm đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp

Sự phát triển của cơ cấu cây trồng tùy thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập những tỷ lệ theo mối quan hệ nhất định Điều đó làm cho sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng mang tính khách quan thông qua nhận thức chủ quan

Trang 17

của con người Đó là sự chuyển dịch phù hợp với sự thay đổi nhu cầu của thị trường trên cơ

sở khai thác những tiềm năng, thế mạnh của vùng

Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc

tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa và các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm Một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến quá trình chuyển đổi này chính là thị trường tiêu thụ nông sản

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cần điều chỉnh quy mô diện tích các loại cây trồng sao cho phù hợp với tổng thể các điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng Đồng thời, cần phải dựa trên việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng cơ cấu cây trồng hiện tại của vùng cũng như các yếu tố tác động đến nó để xác định quy mô diện tích cây trồng cho hợp lý

1.1.1.4 Tính tất yếu khách quan của quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng hơn, đặc biệt là sản phẩm cây công nghiệp Điều này đòi hỏi phải có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý Nghĩa là chuyển đổi từ cơ cấu cây trồng lạc hậu, lỗi thời sang cơ cấu cây trồng mới phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng sản xuất; hơn nữa phải đáp ứng đúng nhu cầu về lương thực, thực phẩm của thị trường; phù hợp với quan điểm tiên tiến về phát triển một nền nông nghiệp toàn diện trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của cả nước

Nền nông nghiệp của Việt Nam đã phát triển đến giai đoạn mà nó không chỉ đảm nhận vai trò đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn sản xuất phục vụ xuất khẩu Chuyển dịch cơ cấu cây trồng hướng tới một hệ thống sản xuất đa dạng Tuy nhiên, sự đa dạng đó không chỉ dừng lại ở việc tăng chủng loại sản phẩm nông nghiệp ở cấp nông trại mà nó còn hướng tới nhu cầu của thị trường, góp phần tăng thu nhập cho nông dân

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý có ý nghĩa cơ bản và quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền nông nghiệp từ độc canh cây lương thực sang nền nông nghiệp đa dạng với nhiều nông sản hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu, làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Cơ cấu cây trồng còn là căn cứ để xây dựng các kế hoạch đầu tư vốn, sử dụng lao động và

Trang 18

các loại tư liệu sản xuất trong nông nghiệp cũng như áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách có hiệu quả và chủ động

Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ góp phần giải quyết vấn đề dư thừa lao động, cũng như nguồn lao động dồi dào ở nông thôn và không thể thu hút hết vào những hoạt động sản xuất trong một thời gian ngắn Do đó, đây là một quá trình rất khó khăn đối với dân cư nông thôn và có thể dẫn đến những xáo trộn về xã hội nếu như không tạo được nhiều công ăn, việc làm hoặc những loại hình công việc khác ngoài sản xuất lúa Tạo ra khả năng luân canh, luân canh, tăng vụ, phá thế độc canh cây trồng và sử dụng nhiều lao động (đối với sản xuất cây công nghiệp dài ngày), hướng tới thị trường tiêu thụ nên chuyển dịch cơ cấu cây trồng có khả năng tạo ra nhiều việc làm hơn cho dân cư nông thôn, giảm thời gian nhàn rỗi trong quá trình sản xuất nông nghiệp Từ đó, góp phần giảm sức ép về dân số và lao động đối với thành thị Chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý theo hướng đa dạng hóa cây trồng sẽ tạo điều kiện cho người sản xuất giảm được rủi ro trong bối cảnh kinh tế mở với cơn sốc về giá cả và sự thay đổi quá nhanh về nhu cầu của thị trường Thêm vào đó, chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý với việc luân canh cây trồng, trồng xen hay gối vụ sẽ tạo khả năng giảm lượng phân đạm cần thiết; vì vậy nông có thể sử dụng những nguồn phân hữu cơ, phân xanh từ những phụ phẩm từ nông nghiệp để cải thiện độ phì và chất hữu cơ trong đất

Hiện nay, nước ta đang phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở nhiều vùng

để đáp ứng yêu cầu của phương thức sản xuất mới, cũng như của cơ chế thị trường là vô cùng cần thiết Việc nghiên cứu cơ cấu cây trồng đã đặt ra cho các nhà lý luận và các nhà

quản lý những nhiệm vụ mới có ý nghĩa chiến lược trong bố trí sản xuất trồng trọt, đó là xác định cơ cấu cây trồng trước mắt và trong tương lai phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp

1.1.1.5 Các tiêu chí phản ánh hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng

 Các khái ni ệm:

 Khái ni ệm hiệu quả kinh tế:

Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo thực hiện có kết

quả cao nhất những nhiệm vụ kinh tế xã hội nhất định với chi phí nhỏ nhất

Trang 19

Về mặt lượng, hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh Kết quả thu được càng cao, chi phí

bỏ ra càng nhỏ thì hiệu quả càng lớn

Về mặt chất, việc đạt hiệu quả kinh tế cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý, đồng

thời cũng đòi hỏi sự gắn bó với việc đạt được mục tiêu xã hội

 Khái ni ệm hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng:

Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng là kết quả so sánh giữa các chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu hao phí, hoặc là thước đo trình độ tổ chức sản xuất và mức độ thực hiện các nhiệm vụ cụ

thể của hoạt động sản xuất trồng trọt

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một số tiêu chí như: năng suất, tổng sản lượng, tổng giá trị, giá thành sản phẩm, thu nhập và mức lãi của các sản

phẩm sản xuất ra Tuy nhiên, việc đánh giá này rất phức tạp và cần nhiều thời gian Ngoài ra, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng cũng cần chú ý đến các điều kiện ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành sản phẩm như khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý và các điều

kiện xã hội khác như giá nhân công lao động, giá các loại dịch vụ, nhu cầu của thị trường và

thị hiếu của người tiêu dùng

Đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, hiệu quả kinh tế phải được tính toán một cách hợp lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra Mỗi loại cây trồng đều thích ứng với những điều kiện tự nhiên và một diện tích gieo trồng nhất định Do đó, quy

mô và cơ cấu diện tích gieo trồng nhiều khi có ảnh hưởng quyết định đến quy mô, số lượng

và cơ cấu sản phẩm của ngành trồng trọt Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải đảm

bảo được mục tiêu quan trọng là thu nhập và lợi nhuận của cơ cấu cây trồng mới phải lớn hơn thu nhập và lợi nhuận của cơ cấu cây trồng cũ

 Các tiêu chí ph ản ánh hiệu quả kinh tế của chuyển đổi cơ cấu cây trồng:

Trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, hiệu quả kinh tế là mục tiêu quan trọng hàng đầu và

có ảnh hưởng quyết định đến kết quả của sự chuyển dịch đó Vì vậy, cơ cấu cây trồng mới

phải đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Tuy nhiên, giá trị sản xuất có thể tăng lên nhờ tăng vụ, vấn đề tăng vụ lại chỉ có thể giải quyết được trong một phạm vi nhất định và chịu sự chi phối khá lớn của điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu

Để đạt được hiệu quả kinh tế cao, cơ cấu cây trồng cần thỏa mãn những yêu cầu sau:

- Đảm bảo yêu cầu chuyên canh, thâm canh và tỷ trọng hàng hóa cao

Trang 20

- Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng tốt các nguồn lợi tự nhiên và xã hội

- Đảm bảo giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ

Hiệu quả kinh tế của chuyển đổi cơ cấu cây trồng được phản ánh qua các chỉ tiêu sau đây:

- Hi ệu quả đầu tư vốn, hiệu quả đầu tư chi phí vật chất: biểu hiện kết quả thu được của

hoạt động sản xuất, kinh doanh tương ứng với mức chi phí đã bỏ ra

- Năng suất đất đai: là số lần gieo trồng được trên một đơn vị diện tích đất trong một

năm Nếu hệ số gieo trồng càng lớn thì năng suất đất sẽ càng cao và ngược lại, nếu hệ số gieo

trồng nhỏ thì năng suất đất thấp và hiệu quả sử dụng chưa cao

- Năng suất cây trồng: là sản lượng mà cây trồng đem lại tính trên một đơn vị diện tích

gieo trồng

- Năng suất lao động: được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong việc

thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh Năng suất lao động phản ánh lượng sản phẩm mà

mỗi lao động tạo ra được trong một đơn vị thời gian, được tính bằng số tiền thu được/ngày lao động (đơn vị: nghìn đồng)

- Giá tr ị sản phẩm nông nghiệp/ha: là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do

lao động nông nghiệp tạo ra trong một thời gian nhất định (thường là một năm) trên1 ha đất nông nghiệp

Nếu cơ cấu cây trồng mới đem lại lợi nhuận cao hơn so với chi phí đã đầu tư vào sản

xuất, tạo được nhiều công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, giá trị sản xuất cao, tăng năng suất cây trồng và tăng hiệu quả sử dụng đất thì xem như sự chuyển dịch đó đã đạt hiệu quả và đúng hướng Ngược lại, Nếu cơ cấu cây trồng mới chưa mang lại nhiều lợi nhuận cho người nông dân, số tiền thu được không cao hơn so với chi phí đã bỏ ra, giá trị kinh tế và hiệu quả sử dụng đất thấp thì cần phải nghiên cứu và điều chỉnh lại cơ cấu cây

trồng sao cho hợp lý, đảm bảo phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất, cũng như phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu của thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao

1.1.2 Cây công nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm cây công nghiệp và vai trò của cây công nghiệp

 Khái ni ệm cây công nghiệp:

Trang 21

Theo mục đích kinh tế, cây công nghiệp là những loại cây cho sản phẩm chủ yếu dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, đặc biệt là ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm

 Quá trình phát tri ển và vai trò của cây công nghiệp:

Cây công nghiệp được hình thành và phát triển cùng với lịch sử phát triển của nhân loại,

có nguồn gốc từ những loài cây hoang dại, được con người chọn lọc và gieo trồng Tuy nhiên, cây công nghiệp được chú trọng đẩy mạnh phát triển hơn từ khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra từ đầu thế kỷ XVIII cho đến nay, các ngành công nghiệp chế biến phát triển nhanh, nhu cầu trên thế giới về sản phẩm chế biến từ cây công nghiệp tăng mạnh, tạo điều

kiện cho ngành trồng cây công nghiệp ngày càng phát triển

Phát triển cây công nghiệp giúp khắc phục được tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp,

tận dụng tài nguyên đất, phá thế độc canh cây trồng và góp phần bảo vệ môi trường Giá trị

sản phẩm của cây công nghiệp sẽ được tăng lên nhiều lần sau khi được chế biến Do đó, các

xí nghiệp chế biến thường được bố trí gần vùng trồng cây công nghiệp Tại nhiều nước đang phát triển thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt, sản phẩm cây công nghiệp đã và đang trở thành

mặt hàng xuất khẩu quan trọng, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn

Phần lớn các cây công nghiệp là cây ưa nhiệt, ưa ẩm, đòi hỏi đất thích hợp với biên độ sinh thái hẹp Thêm vào đó, các loại cây này đòi hỏi nhiều lao động (số ngày công lao động trên một đơn vị diện tích trồng cây công nghiệp thường gấp 2 đến 3 lần so với một diện tích

trồng cây lương thực), cần lao động có kĩ thuật và kinh nghiệm sản xuất Đặc biệt, cây công nghiệp lâu năm còn đòi hỏi đầu tư vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu Vì vậy, cây công nghiệp thường được trồng ở những nơi có điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi nhất, tạo nên các vùng chuyên canh quy mô lớn

1.1.2.2 Cơ cấu cây công nghiệp

Có nhiều cách phân loại cây công nghiệp khác nhau Nếu xét theo mục đích kinh tế và giá trị sử dụng thì có các nhóm cây công nghiệp sau:

- Các cây lấy đường: mía, củ cải đường, thốt nốt

- Các cây lấy sợi: bông, đay, gai, dứa sợi

- Các cây lấy dầu: dừa, lạc, đậu tương, cọ dầu, hướng dương, ô liu

- Cây lấy nhựa: cao su, thông, sơn

- Cây cho chất kích thích: chè, cà phê, ca cao

Trang 22

Nếu xét theo thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng thì có nhóm cây công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu năm:

Nhóm cây công nghi ệp hàng năm: bao gồm những loại cây có chu kì từ lúc gieo trồng

đến khi thu hoạch dưới một năm như: đay, cói, dâu tằm, thuốc lá, đậu tương, bông, mía Cây công nghiệp hàng năm thường được trồng ở vùng đồng bằng, một số cây trồng xen trên đất lúa Ở nước ta, đay được trồng nhiều ở đồng bằng sông Hồng (các tỉnh Hưng Yên, Thái

Bình, Hà Nam cũ) và ở đồng bằng sông Cửu Long (trồng nhiều nhất ở tỉnh Long An) Cói được trồng trên các vùng đất nhiễm mặn, tập trung nhiều nhất ở dải đất ven biển của đồng

bằng sông Hồng (suốt từ Hải Phòng xuống phía bắc Thanh Hóa) và đồng bằng sông Cửu Long (những năm gần đây diện tích cói tăng rất mạnh ở vùng này, chiếm ½ diện tích cói cả nước)

Dâu tằm là cây công nghiệp truyền thống, nay được phát triển cùng với việc khôi phục nghề tằm tơ ở nước ta, dâu tằm được trồng nhiều nhất ở tỉnh Lâm Đồng Cây bông mới được chú trọng phát triển, trồng phổ biến ở Đắc Lắc, Đồng Nai và một số tỉnh cực Nam Trung Bộ Mía được trồng ở hầu khắp các tỉnh, nhưng tập trung tới 75% diện tích và 80% sản lượng ở các tỉnh phía Nam (đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và duyên hải miền Trung) Đậu tương, lạc, thuốc lá được trồng nhiều trên các đất bạc màu Đậu tương được trồng nhiều nhất ở miền núi, vùng trung du phía Bắc (ở Cao Bằng, Sơn La, Bắc Giang), chiếm hơn 40% diện tích đậu tương cả nước, ngoài ra còn được trồng nhiều ở các tỉnh Hà Tây, Đồng Nai, Đắc Lắc và Đồng Tháp

Lạc được trồng nhiều nhất trên đất phù sa cổ của các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, trên đất cát pha của các đồng bằng duyên hải miền Trung (nhất là ở Bắc Trung Bộ) và ở trung du Bắc Bộ Thuốc lá được trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung và miền núi, vùng trung du phía Bắc Trên địa bàn tỉnh Bình Phước, các cây công nghiệp hàng năm chủ yếu là: mía, đậu phộng, mè, đậu nành, khoai mỳ

Nhóm cây công nghi ệp lâu năm hay cây công nghiệp dài ngày: bao gồm những loại

cây có thời gian sinh trưởng và phát triển dài, chu kì kinh doanh dài, trồng một lần thu hoạch (nhựa, lá, hoa, quả, hạt) nhiều năm như: chè, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, dừa ; là kết quả của của sự phân loại cây trồng theo hai dấu hiệu: chu kì phát triển và mục đích kinh tế Cây công nghiệp lâu năm thường được trồng trên đất feralit và đất phù sa cổ

Trang 23

Cà phê: là cây công nghiệp lâu năm có giá trị xuất khẩu lớn nhất hiện nay Cà phê được

trồng thành các vùng chuyên canh lớn trên đât đỏ bazan ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và rải rác ở Bắc Trung Bộ

Cao su: được trồng chủ yếu trên đất xám phù sa cổ (ở Đông Nam Bộ) và đất đỏ bazan (ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị)

H ồ tiêu: là loại cây gia vị có giá trị xuất khẩu cao, được trồng nhiều ở Tây Nguyên

D ừa: được trồng nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long (nhất là ở Bến Tre và Cà Mau) và ở

duyên hải Nam Trung Bộ

Cây điều: mới được trồng phổ biến trong vài năm gần đây nhưng có triển vọng rất lớn để

xuất khẩu, điều được trồng nhiều ở khu vực Đông Nam Bộ, nhiều nhất là tỉnh Bình Phước Ở

tỉnh Bình Phước, các cây công nghiệp lâu năm chủ yếu là cao su, cà phê, tiêu và điều Thời gian gần đây đang mở rộng diện tích trồng cây ca cao Đây là những cây trồng chủ lực của

tỉnh

Trong cơ cấu cây công nghiệp, nhóm cây công nghiệp lâu năm giữ vai trò quan trọng

nhất, đem lại hiệu quả kinh tế cao và là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị Phát triển cây công nghiệp lâu năm được xem là sự thay đổi về chất hoặc về lượng những loại cây công nghiệp lâu năm trong cơ cấu cây công nghiệp lâu năm về giống, quy mô diện tích, biện pháp canh tác, năng suất cây trồng ở một vùng sản xuất nhất định trong một khoảng thời gian xác định, phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện kinh tế - xã hội ở đó, nhằm đem lại hiệu

quả cao hơn về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Trong quá trình phát triển cây công nghiệp lâu năm, việc thay đổi và chuyển đổi diện tích là hai mặt rất quan trọng Các yếu tố tác động đến quá trình sản xuất nông nghiệp, từ trồng trọt đến chế biến và tiêu thụ nông sản đều có thể làm tăng hoặc giảm diện tích gieo trồng cây công nghiệp lâu năm Tại mỗi vùng

sản xuất nông nghiệp, diện tích của từng loại cây công nghiệp lâu năm sẽ chiếm một tỉ trọng nào đó trong tổng diện tích gieo trồng nhóm cây này Điều đó sẽ dẫn đến sự thay đổi về cơ

cấu diện tích và sự phân bố các cây công nghiệp lâu năm của vùng

Ngay trong từng loại cây công nghiệp lâu năm cũng có sự thay đổi về quy mô diện tích

giữa các giống cây trồng cũ và mới Những giống cây cũ có năng suất và chất lượng sản

phẩm thấp sẽ dần dần được thay thế bởi các giống cây trồng mới có năng suất và chất lượng cao hơn, góp phần tạo nên sự thay đổi về chất trong quá trình phát triển cây công nghiệp Ngược lại, sự thay đổi cơ cấu giống các cây công nghiệp lại tác động trực tiếp đến việc điều chỉnh quy mô sản xuất của từng loại cây công nghiệp lâu năm và tạo nên sự phân bố

Trang 24

mới trong vùng sản xuất Sự thay đổi về diện tích các cây công nghiệp lâu năm ảnh hưởng

trực tiếp đến sản lượng nông sản, đến ngành công nghiệp chế biến và nguồn hàng xuất khẩu

của địa phương

Quy mô phát triển của từng loại cây trồng nói chung và của các cây công nghiệp nói riêng có thể thay đổi một cách tự phát hoặc theo những quy hoạch phát triển cụ thể được lập

ra từ cấp quốc gia đến cấp vùng và địa phương Tuy nhiên, sự thay đổi thất thường về quy

mô diện tích luôn ẩn chứa nhiều rủi ro và tổn thất lớn cho người sản xuất

Một khía cạnh khác trong phát triển cây công nghiệp lâu năm là việc chuyển đổi diện tích Chuyển đổi diện tích cây công nghiệp lâu năm được hiểu là sự thay thế các loại cây công nghiệp lâu năm này bằng các loại cây công nghiệp lâu năm khác trên những diện tích

nhất định trong vùng sản xuất, nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh tế - xã hội Việc thay thế các

loại cây công nghiệp lâu năm thực chất chính là quá trình điều chỉnh quy mô diện tích và vùng phân bố của các loại cây trồng và giống của từng loại nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng sinh thái và các điều kiện kinh tế - xã hội của vùng, từ đó đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu và đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nông sản của thị trường Kết quả của việc chuyển đổi diện tích cây công nghiệp lâu năm cũng chính là mục đích của sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp Điều này đòi hỏi phải có sự tính toán cẩn thận, thận trọng, tránh lãng phí trong việc điều chỉnh quy mô diện tích và chuyển đổi các cây công nghiệp trên từng địa bàn sản xuất nông nghiệp

1.1.2.3 Một số cây công nghiệp chủ yếu

 Cây cao su:

Cây cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ thuộc toàn bộ lưu vực sông Amazon và vùng kế

cận, giữa hai vĩ tuyến 130B – 130N Tuy cây cao su được phát hiện bởi thổ dân vùng Amazon

từ lâu nhưng mãi đến cuối thế kỷ XV, những người châu Âu đầu tiên đến đây mới biết đến

loại cây này Đến thế kỷ XVII, cây cao su được tiến hành nghiên cứu bởi La Condamine và Fresneau Sau đó, nhờ phát hiện thêm của Goodyer vào năm 1999 về việc lưu hóa mủ cao su nên cao su nhanh chóng trở thành hàng hóa

Cây cao su là loại thân gỗ lớn, có thể mọc cao 10 – 40m, ưa nhiệt, phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ từ 22 – 270C Cao su cũng là cây ưa ẩm, đòi hỏi lượng mưa từ 1.500 – 2.500 mm, không chịu được gió bão Cây này phát triển tốt nhất trên đất đỏ bazan núi lửa

Trang 25

Từ khi trở thành hàng hóa thì công dụng của cây cao su ngày càng được mở rộng Hiện nay mủ cao su đã trở thành 1 trong 4 nguyên liệu chính của ngành công nghiệp thế giới, nó

chỉ đứng sau gang thép, than đá và dầu mỏ Vỏ ruột xe bằng cao su chiếm 70% sản lượng cao su thế giới, kế đó là cao su dùng để làm các ống, băng chuyền, đệm giảm xóc, vật liệu

chống mài mòn, các trang thiết bị hàng không, dụng cụ gia đình và dụng cụ thể thao

Ngoài giá trị của mủ cao su, cây cao su còn có thể cung cấp một lượng gỗ lớn Trong điều kiện canh tác nông nghiệp với mật độ cây trồng 400 cây/ha, sau 14 năm trồng cây cao

Cuối cùng, việc trồng cây cao su còn giúp đem lại những lợi ích về môi trường, phủ xanh đất

trống đồi trọc, chống xói mòn đất, ổn định xã hội thông qua việc tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân và là môi trường tốt để chăn nuôi ong mật

Hiện nay, cao su được trồng ở 27 nước thuộc châu Mĩ, châu Âu và châu Á (Đông Nam Á

và Nam Á) Các nước có sản lượng cao su dẫn đầu thế giới là Thái Lan (chiếm 38% sản lượng cao su thế giới), Indonesia (21,3%), Ấn Độ (8,7%), Malaixia (8%), Trung Quốc (7,3%), Việt Nam (5,2%) (số liệu năm 2003) Một số quốc gia khác cũng có sản lượng cao su đáng kể như: Nigieria, Brazil, Xri Lanca, Liberia Tại Việt Nam, cây cao su được trồng từ năm 1897 và đến đầu thế kỷ XX người Pháp bắt đầu thành lập các đồn điền ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Về sau, cây cao su còn được trồng cả ở vùng Bắc Trung Bộ Với khuynh hướng mở rộng diện tích trồng cây cao su trên hầu khắp các tỉnh miền Trung của nước ta, nhiều công ty cao su mới tại các tỉnh từ Tuy Hòa đến Nghệ An đã được thành lập Bên cạnh đó, cao su tiểu điền với công nghệ sơ chế mủ đơn giản và hoàn thiện đã và đang được khuyến khích phát triển tại nước ta Lợi ích của sự đẩy mạnh phát triển này nhằm tận

dụng nguồn tiềm năng đất đai sẵn có, nguồn nhân lực dồi dào và sự ổn định dân cư trong các vùng đồi, núi Chủ trương của chính phủ là diện tích cao su của nước ta có thể nâng lên đến 700.000 ha, trong đó những vùng chủ yếu để mở rộng diện tích là Tây Nguyên, Đông Nam

Bộ và duyên hải miền Trung

 Cây cà phê:

Trang 26

Khi nghiên cứu hệ thực vật hoang dại, các nhà khoa học đã khẳng định cây cà phê được phát hiện cách đây hàng nghìn năm, chúng thường mọc dưới tán nhiều khu rừng thưa thuộc châu Phi Đến năm 575 sau Công nguyên, cây cà phê mới được đưa về trồng thuần hóa và

trồng rộng rãi

Cà phê là cây rất ưa nhiệt (nhiệt độ > 150C) và ưa ẩm (lượng mưa trên 1.250 mm/năm) Cây này phát triển thuận lợi nhát ở những vùng có lượng mưa từ 1.900 – 3.000 mm và phân

bố đều trong năm Cà phê ưa đất tơi xốp, giàu chất dinh dưỡng, nhất là vùng đất đỏ bazan;

chỉ phát triển được trong các vùng nằm giữa hai chí tuyến Bắc và Nam, không vượt quá giới

hạn 350 và độ cao 1.300m Cây cà phê có thể trồng bằng hạt hay giâm cành Sau 2 – 3 năm

bắt đầu cho trái và chu kì kinh tế không quá 25 năm

Hiện nay có 3 loại cà phê thương mại được sử dụng nhiều trên thế giới là:

- Cà phê chè (hay cà phê Arabica): có nguồn gốc ở cao nguyên Êtiôpia Cà phê chè có hương thơm, vị đậm nên được thị trường thế giới ưa chuộng và là loại cà phê có giá trị trao đổi cao nhât, chiếm đến 90% sản lượng cà phê của thế giới Tuy nhiên, cà phê chè khó trồng

vì thường bị sâu bọ phá hoại Khu vực trồng nhiều loại cà phê này tập trung ở Trung và Nam

- Cà phê v ối (hay cà phê Robusta): có nguồn gốc ở lưu vực sông Cônggô thuộc vùng

khí hậu xích đạo Cà phê vối dễ trồng, năng suất cao nhưng khả năng chịu rét kém và chất lượng thấp hơn cà phê chè Cây này được trồng nhiều ở Indonesia

- Cà phê mít (hay cà phê Sary hay dâu da): có nguồn gốc ở Liberia thuộc Tây Bắc châu Phi nhiệt đới Cà phê mít dễ trồng, có khả năng chịu được hạn và sương muối nhưng năng

suất thấp, có vị chua, ít thơm, phẩm chất kém hơn cà phê chè và cà phê vối nên nhu cầu tiêu

Quảng Trị, Rosi Delfante ở tỉnh Đắk Lắk Những năm sau đó cà phê được trồng ở Trung du

Bắc Bộ như: Cố Nghĩa, Đồng Lăng, Cốc Thôn tỉnh Hà Nam; Ba Vì, Phú Mãn, Hòa Mục tỉnh

Hà Tây; Phú Hộ tỉnh Phú Thọ Đến thời kỳ 1920 – 1925, sau khi phát hiện ra vùng đất bazan

Trang 27

ở Tây Nguyên, người Pháp đã bắt đầu trồng cà phê trên vùng đất này Sau nhiều năm cây cà phê đã phát triển nhanh ở hầu hết các vùng trước đây đã trồng và mở rộng ra nhiều tỉnh khác

với quy mô diện tích ngày càng tăng Hiện nay cây cà phê là cây trồng đem lại kim ngạch

xuất khẩu lớn thứ hai sau cây lúa

Cây cà phê có giá trị kinh tế về nhiều mặt, sản phẩm chính là hạt Hạt cà phê có chứa các

hợp chất như protein, lipit, đường, tinh bột, xenlulô đặc biệt là cafein Cafein là một hợp

chất mang độc tính ở nồng độ cao, ở nồng độ thấp có tác dụng kích thích sự hoạt động của hệ

thần kinh nên uống cà phê sẽ giúp tinh thần tỉnh táo, giảm mệt mỏi và căng thẳng Cafein còn kích thích sự hoạt động của hệ tiêu hóa Mỗi loài cà phê khác nhau có hàm lượng cafein khác nhau, cà phê chè có hàm lượng cafein từ 1,8 – 2,0%, cà phê vối từ 2,5 – 3,0% và cà phê mít

là từ 1,05 – 1,15% Ngoài ra còn có một số loại cà phê không có cafein như loài Coffea Luxifolia, Coffea Mongenetii các loài này có thể làm thức uống có hương vị cà phê dùng cho người bệnh hoặc làm vật liệu lai tạo khi cần thiết Ngoài hạt là sản phẩm chính thì gỗ cà phê cũng đem lại nguồn lợi đáng kể cho người sản xuất Thêm vào đó, trồng cà phê còn giúp

cải tạo hệ sinh thái và thu hút được nhiều lao động nông nghiệp, tạo cơ sở cho một số ngành công nghiệp phát triển

Cà phê là loại thức uống có chất lượng cao, thơm ngon nên người uống cà phê ngày càng tăng Hầu hết các nước châu Âu và một số nước ở các châu lục khác dùng cà phê làm thức

uống hằng ngày Mức tiêu thụ của các nước Bắc Âu rất lớn, bình quân 12,5 kg/người/năm, trong đó: Thụy Điển là 13,5 kg, Đan Mạch 11,8 kg, Đức 7,4 kg, Hunggari 3,5 kg, Pháp 5,2

kg, Tây Ban Nha là 4,2 kg Hoa Kì có mức thu nhập và tiêu thụ cà phê lớn, bình quân là 6,2 kg/người/năm Nhật Bản có mức tiêu thụ là 3 kg/người/năm, Colombia là 4,9 kg/người/năm, Brazin là 3,2 kg/người/năm, Indonexia và Thái Lan là 0,5 kg/người/năm Nhìn chung số người uống cà phê trên toàn thế giới tăng nhanh Chính vì vậy giá trị xuất khẩu của cà phê luôn có vị trí quan trọng trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu Giá trị xuất khẩu cà phê của

Việt Nam lớn hơn nhiều so với ca cao và chè Trung bình 5 năm 1985 – 1989, giá trị xuất

khẩu cà phê mỗi năm là 10,5 tỷ USD (trong khi của ca cao là 3,3 tỷ USD và chè 2,6 tỷ USD) Ngoài việc sử dụng làm thức uống hàng ngày thì trong công nghệ thực phẩm cà phê được chế biến thành rượu, bánh kẹo và làm nước giải khát có hương vị cà phê Trong công nghệ dược phẩm, chất cafein trong hạt cà phê được sử dụng làm thuốc điều trị bệnh

Sản phẩm phụ của cà phê là lớp thịt quả, lớp quả nhớt chiếm 62 – 67% khối lượng quả, trong đó có hàm lượng đường và khá nhiều hợp chất dinh dưỡng khác nên được dùng làm

Trang 28

thức ăn gia súc, làm nguyên liệu chế biến cồn, rượu và làm phân bón Phần vỏ trấu được sử

dụng là ván ép, làm nhiên liệu và làm giá thể trong sản xuất nấm

 Cây h ồ tiêu:

Cây hồ tiêu còn gọi là cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt hay bạch cổ nguyệt (danh pháp khoa học

là Piper nigrum) là một loài cây leo có hoa, thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) Hồ tiêu được

trồng chủ yếu để lấy quả và hạt, thường dùng làm gia vị dưới dạng khô hoặc tươi

Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng

rễ Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách Lá như lá trầu không, nhưng dài và thuôn hơn Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc Khi chín, rụng cả chùm Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu vàng,

khi chín có màu đỏ Từ quả này có thể thu hoạch được hồ tiêu trắng, hồ tiêu đỏ, hồ tiêu xanh

và hồ tiêu đen Đốt cây rất dòn, khi vận chuyển nếu không cận thận thì cây có thể chết

Hồ tiêu cần đất dễ thoát nước, không bị úng, ngập, tầng đất sâu, tốt nhất là 1m trở lên,

mạch nước ngầm sâu, ít nhất là 70 cm và đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tơi

xốp, giàu mùn, không chua Nhiệt độ thích hợp là 22 – 280C, lượng mưa từ 1.250 – 2500 mm\năm trở lên, không chịu nổi khô hạn kéo dài, gió mạnh, ưa ánh sáng tán xạ

Hồ tiêu được thu hoạch mỗi năm hai lần Muốn có hồ tiêu đen, người ta hái quả vào lúc xuất hiện một số quả đỏ hay vàng trên chùm, nghĩa là lúc quả còn xanh; những quả còn non quá chưa có sọ rất giòn, khi phơi dễ vỡ vụn, các quả khác khi phơi vỏ quả sẽ săn lại, ngả màu đen Muốn có hồ tiêu trắng (hay hồ tiêu sọ), người ta hái quả lúc chúng đã thật chín, sau đó

bỏ vỏ Loại này có màu trắng ngà hay xám, ít nhăn nheo và ít thơm hơn (vì lớp vỏ chứa tinh dầu đã mất) nhưng cay hơn (vì quả đã chín) Bên cạnh hai sản phẩm nói trên, tuy hiếm hơn, còn có hồ tiêu đỏ, là loại hồ tiêu chín cây hoặc được thu hái khi rất già, ủ chín sau đó được chế biến theo cách thức đặc biệt để giữ màu đỏ của vỏ Hồ tiêu đỏ có màu đỏ thẫm hơi ngả đen, được sản xuất tại Ấn Độ và tại huyện Chư Sê và Bà Rịa - Vũng Tàu Việt Nam Giá trị xuất khẩu của tiêu đỏ sau khi chế biến cao hơn gấp 3 đến 4 lần so với hạt tiêu đen

Hạt tiêu thường được dùng làm gia vị, tiêu thơm, cay nồng và kích thích tiêu hoá, có tác dụng chữa một số bệnh Hạt tiêu cũng rất giàu chất chống oxy hóa, chẳng hạn như beta carotene, giúp tăng cường hệ miễn dịch và ngăn ngừa sự hủy hoại các tế bào, gây ra các căn bệnh ung thư và tim mạch Hồ tiêu cũng rất giàu vitamin C, thậm chí còn nhiều hơn cả cà chua Một nửa cốc hồ tiêu xanh, vàng hay đỏ sẽ cung cấp tới hơn 230% nhu cầu canxi 1

Trang 29

ngày/1 người Trong tiêu có 1,2-2% tinh dầu, 5-9% piperin và 2,2-6% chanvixin Piperin và chanvixin là 2 loại ankaloit có vị cay hắc làm cho tiêu có vị cay Trong tiêu còn có 8% chất béo, 36% tinh bột và 4% tro

Cây hồ tiêu được du nhập vào nước ta từ cuối thế kỷ XIX, được trồng nhiều ở các vùng đất bazan từ Quảng Trị trở vào đến các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số tỉnh Tây Nam Bộ như Kiên Giang Hồ tiêu cũng là một trong những nông sản có giá trị xuất khẩu cao Tại tỉnh Bình Phước, tuy diện tích và sản lượng cây hồ tiêu thấp hơn so với cà phê và cao su, nhưng hồ tiêu đã mang lại nguồn thu nhập lớn cho các hộ nông dân trong tỉnh

Cây điều:

Điều (hay còn gọi là đào lộn hột) là một loại cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc từ đông bắc Brazil, nơi nó được gọi là Caju hay Cajueiro Ngày nay, điều được trồng khắp các khu vực có khí hậu nhiệt đới để lấy nhân hạt chế biến làm thực phẩm

Điều là cây ưa ánh sáng trực xạ, nhiệt độ bình quân tháng là 270C, lượng mưa thích hợp

từ 1000 – 1.500 mm\năm, ẩm độ không khí từ 68 – 77% Cây điều có tính thích ứng rộng,

sống trên nhiều loại đất khác nhau, đặc biệt cây điều được trồng nhiều trên đất có khó khăn

về nguồn nước tưới trong mùa khô Độ pH thích hợp từ 4,5 – 6,5

Sản phẩm chính của cây điều là nhân Nhân điều có giá trị kinh tế cao, sử dụng đa dạng Sau khi loại hết vỏ nhân điều được rang, dùng tươi hoặc dùng để chế biến bánh kẹo Dầu nhân được dùng để chế thuốc Ngoài ra, quả giả (cuống quả) của điều rất giàu vitamin C, có

thể ăn tươi, ép lấy dịch cho lên men làm rượu nhẹ hoặc nước giải khát lên men Rượu chế

biến từ quả giả này có thể dùng xoa bóp khi đau nhức, súc miệng chữa viêm họng và chống nôn mửa

Việt Nam là quốc gia có sản lượng hạt điều xuất khẩu lớn nhất thế giới Cây điều được

trồng rất nhiều ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, nhiều nhất là ở các tỉnh Bình Phước, Đắk Lắk, Đắk Nông , trong đó Bình Phước là tỉnh có diện tích trồng điều lớn nhất cả nước

 Cây ca cao:

Cây ca cao là cây thường xanh tầng trung, có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico, được người Maya và Aztec bản xứ khám phá Ngày nay cây ca cao được trồng ở hầu hết các nước thuộc vùng nhiệt đới

Cây ca cao thường cao khoảng 4 – 8m, ưa bóng rợp, có khả năng chịu bóng tốt nên thường được trồng xen dưới tán các cây khác như trong các vườn dừa, cao su nhằm tăng

hiệu quả sử dụng đất Cây thích hợp với những vùng có nhiệt độ trung bình 25 – 280C, độ ẩm

Trang 30

trung bình 85%, lượng mưa hàng năm khoảng 1.500 – 2.000 mm Nhu cầu nước của cây ca cao không lớn nên ít phải tưới, không kén đất nhưng cũng không chịu được các vùng đất quá khô hạn như đất cát hoàn toàn

Hạt ca cao được sử dụng làm nguyên liệu để chế biến các sản phẩm cao cấp như sô cô la

Ca cao còn là đồ uống thông dụng vì có chất kích thích nhưng lượng cafein thấp hơn cà phê

rất nhiều Vỏ trái ca cao sau khi lấy hạt có thể phơi khô và xay làm thức ăn cho gia xúc Do được sử dụng để sản xuất các sản phẩm cao cấp nên giá trị kinh tế của loại cây này rất cao Giá ca cao thế giới trong những năm gần đây tương đối ổn định, dao động từ 1.300 – 1.500 USD/tấn

Ở Việt Nam, cây ca cao được du nhập vào rất sớm, theo chân các nhà truyền giáo phương Tây Hiện tại, cây cao cao được trồng rộng rãi ở nhiều nơi, trong đó vùng Tây Nguyên được đánh giá là vùng có điều kiện lý tưởng nhất để phát triển loại cây này Ở đây, theo nghiên cứu Thống kê thì cây ra hoa và cho quả quanh năm, sản lượng bình quân đạt

3 kg hạt khô/1 cây 5 năm tuổi Tuy nhiên, hiện tại ở nước ta, cây ca cao chưa phát triển rộng rãi do thu hoạch không tập trung, kỹ thuật xử lý sau thu hoạch cũng phức tạp, phải ủ lên men nên người dân ngại trồng Cây ca cao cũng chỉ mới được trồng ở tỉnh Bình Phước trong vài năm trở lại đây nên giá trị kinh tế của nó chưa được thể hiện rõ nét

Cây sắn:

Cây sắn còn gọi là cây khoai mì, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh Cây cao 2 – 3m, lá khía thành nhiều thùy, rễ ngang phát triển thành củ và tích lũy tinh bột, thời gian sinh trưởng từ 6 đến 12 tháng, có nơi tới 18 tháng tùy giống, vụ trồng, địa bàn trồng

và mục đích sử dụng Sắn không kén đất, song đất thích hợp là loại đất nhẹ tơi xốp và thoát nước tốt, độ pH 4,5 – 7,5

Sắn được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc và lương thực thực phẩm Củ sắn dùng để ăn tươi, làm thức ăn gia súc, chế biến sắn lát khô, bột sắn nghiền, tinh bột sắn, tinh bột sắn biến tính, các sản phẩm từ tinh bột sắn như bột ngọt, cồn, maltodextrin, lysine, acid citric, xiro glucose và đường glucose tinh thể, mạch nha giàu maltose, hồ vải, hồ giấy, colender, phủ giấy, bìa các tông, bánh kẹo, mì ăn liền, bún, miến,

mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia

dược phẩm, sản xuất màng phủ sinh học, chất giữ ẩm Thân sắn dùng để làm giống, làm nấm, làm củi đun, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô Lá sắn ngọt là loại rau xanh giàu đạm rất

bổ dưỡng và để nuôi cá, nuôi tằm Lá sắn đắng ủ chua hoặc phơi khô để làm bột lá sắn dùng

Trang 31

chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò, dê v.v Tinh bột của củ sắn sau quá trình chế biến sẽ thành bột năng Dưa muối làm từ ngọn và lá non của sắn rất phổ biến tại một số vùng miền trung du Bắc Bộ Việt Nam (như Phú Thọ, Hà Tây), thường được sử dụng để xào, nấu canh với tôm, tép

Hiện tại, sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và là nguồn thực phẩm của hơn 500 triệu người Năm 2006 và 2007, sản lượng sắn thế giới đạt 226,34 triệu tấn củ tươi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệu tấn Nước có sản lượng sắn nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn) Nước có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,16 tấn/ha (FAO, 2008) Việt Nam đứng thứ mười về sản lượng sắn (7,71 triệu tấn) trên thế giới Tại Việt Nam, sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của tám vùng sinh thái Diện tích sắn trồng nhiều nhất là

ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu cây trồng và cây công nghiệp

1.2.1 Nhóm nhân tố tự nhiên

Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng nói chung và cây công nghiệp nói riêng chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố: vị trí địa lý của các vùng lãnh thổ, điều kiện đất đai, điều kiện khí hậu và các nguồn tài nguyên khác của vùng như nước, rừng, biển, khoáng sản

Các nhân tố tự nhiên tác động trực tiếp tới sự hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu cây trồng, tuy nhiên sự tác động và ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên đối với mỗi loại cây trồng không giống nhau Chính sự không giống nhau đó đã làm cho số lượng và quy mô của các loại cây trồng khác nhau Điều này thể hiện rõ nét trong sự khác biệt về cơ cấu cây

trồng giữa các vùng trong cả nước, đặc biệt là giữa đồng bằng và miền núi, thậm chí là ngay trong cùng một vùng lãnh thổ Vì thế, phải dựa vào cơ sở của các phương án phân vùng quy hoạch nông nghiệp, nhất là việc hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, hình thành các vùng trọng điểm sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao Cần phải nhận thức rằng không thể dựa vào niệm sản xuất hàng hóa nhỏ, phân tán và manh mún để bố trí cây trồng một cách dàn trải, bất hợp lý mà phải dựa vào việc khai thác lợi thế của từng vùng, từng địa phương để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo

Trang 32

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Mỗi vùng lãnh thổ thích hợp với một số loại cây trồng nhất định và vị trí của mỗi vùng lãnh thổ cùng với một số yếu tố thuộc về kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng qua quá trình xác định và chuyển dịch cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với mối quan hệ giữa vùng lãnh thổ đó với các vùng lãnh thổ khác, đặc biệt là giữa các vùng lãnh thổ lân cận Việc xác định cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng

của một vùng lãnh thổ phải dựa trên những thế mạnh của vùng, đồng thời phải phù hợp với quan điểm về chuyên môn hóa và đa dạng hóa nông nghiệp của cả nước Vị trí địa lý là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thế mạnh của vùng thông qua mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ về cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ

Đối với các loại cây công nghiệp, vị trí địa lý quy định sự có mặt của chúng trên mỗi vùng lãnh thổ Các nước nằm ở khu vực nhiệt dới rất thích hợp để trồng các cây công nghiệp

có nguồn gốc nhiệt đới như cao su, cà phê, mía, bông Ngược lại, các nước thuộc vùng ôn đới, cận nhiệt lại thích hợp để phát triển các cây công nghiệp ưa khí hậu lạnh như của cải đường, chè

1.2.1.2 Khí hậu

Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, gió là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả, cũng như hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại mỗi vùng sản

xuất

Đối với việc bố trí cơ cấu cây trồng hàng năm thì điều quan trọng là phải xem xét có thể

trồng mấy vụ trong một năm Điều này phụ thuộc vào nhu cầu nhiệt lượng của cây trồng và

tổng lượng nhiệt hàng năm của vùng đó Các cây trồng hàng năm ở xứ nóng có thời gian sinh trưởng khoảng 90 đến 150 ngày, tùy theo nhiệt độ trung bình ngày để cây có thể tích lũy được một tổng nhiệt lượng cần thiết – được gọi là tổng tích ôn, khoảng từ 2.500 – 2.6000C

Nếu một vùng nào đó có tổng nhiệt độ khoảng 9.0000C/năm thì có thể gieo trồng được 3

vụ/năm

Trong bố trí cây trồng cần phải đảm bảo nguyên tắc là tất cả các cây trồng đều phát huy được khả năng sinh trưởng và ra hoa, kết hạt trong điều kiện an toàn nhất về khí hậu Những thông tin khí hậu cần được quan tâm đánh giá gồm:

Trang 33

- Khả năng đảm bảo nhiệt độ (đặc biệt quan trọng đối với cây hàng năm): để xác định cơ

cấu cây trồng phù hợp cho từng địa phương và loại cây thích hợp với từng mùa của năm Đặc

biệt chú ý đến các giới hạn về nhiệt độ tối thấp sinh vật học ở các vùng núi, bao gồm cả số ngày có nhiệt độ thấp dưới giới hạn tối thấp đối với cây ưa nhiệt và cây xứ lạnh, tần suất xảy

ra và những tác hại của chúng gây ra, và ngược lại kể cả số ngày có nhiệt độ quá cao và tần

suất xảy ra Căn cứ vào những dữ liệu về điều kiện nhiệt độ đó để đánh giá khả năng đảm

bảo nhiệt lượng đối với các nhóm cây ngắn ngày và cây dài ngày

Về mặt nhiệt lượng, tùy thuộc vào lượng nhiệt hàng năm cao hay thấp mà sẽ có các nhóm cây trồng tương ứng Ở nước ta, có thể phân thành một số nhóm cây trồng chính là: nhóm cây nhiệt đới điển hình (cao su, hồ tiêu, cọ dầu, dừa ), nhóm cây nhiệt đới và nửa nhiệt đới (dứa, chuối, bưởi, cà phê, chè, cam, quýt ), nhóm cây nửa nhiệt đới (đào, lê,

mận ) và nhóm cây ưa lạnh (su hào, bắp cải, khoai tây )

- Khả năng đảm bảo ẩm độ: chủ yếu dựa vào đánh giá độ ẩm của khí quyển Dựa vào

thực tế, chỉ số ẩm có thể phân chia thành 3 cấp độ: ẩm, thừa ẩm và quá ẩm 5 lần Chỉ số hạn trong mùa khô cũng được chia thành 5 cấp: ẩm, thiếu ẩm, hạn, khô và không có nước Đối

với nước ta, các vùng, miền đều thuộc dạng ẩm không thường xuyên và ẩm có khô hạn (trừ Sapa là ẩm thường xuyên) Căn cứ vào khả năng đảm bảo ẩm độ để bố trí các cây trồng và tăng vụ Đối với mùa khô (tháng 10 đến tháng 1 ở miền Bắc và tháng 1 đến tháng 4 ở miền Nam), cần chú ý đến khả năng đảm bảo sinh trưởng và năng suất cây trồng

Mỗi loại cây công nghiệp chỉ thích hợp với những điều kiện khí hậu nhất định Nghĩa là

chỉ trong điều kiện khí hậu đó, cây công nghiệp mới phát triển bình thường được và nếu nằm ngoài ngưỡng khí hậu đó thì cây sẽ chậm phát triển và có thể chết

Ví dụ:

Cây cao su phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ 22 – 270

C Nếu nhiệt độ tăng lên trên

300C hoặc giảm xuống dưới 200C thì khả năng quang hợp của cây cao su sẽ giảm Nếu nhiệt

độ giảm xuống chỉ còn 100C cây sẽ ngừng sinh trưởng và đến 50C cây sẽ ngừng chảy nhựa, cành lá non chết Nếu nhiệt độ xuống tới 2 – 30

C thì cây sẽ chết hoàn toàn

Vùng nhiệt đới có nhiều điều kiện khí hậu thuận lợi cho cây công nghiệp sinh trưởng và phát triển tốt Sự phân bố cây công nghiệp trên thế giới phụ thuộc rõ rệt vào sự phân đới khí

hậu và tập trung chủ yếu ở đới nhiệt đới, đới cận nhiệt và đới ôn hòa

Ví dụ:

Trang 34

Đới nhiệt đới có ranh giới gần trùng với các đường chí tuyến Bắc và Nam tạo thành một dải rộng với điều kiện khí hậu nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ trung bình năm trên 200C Ở đây thuận lợi phát triển các cây công nghiệp ưa nóng và ẩm như dừa, cọ dầu, ca cao, cà phê, cao su…

Tuy vậy, các điều kiện thời tiết cũng gây ra không ít khó khăn trong việc xác định cơ cấu

và phát triển cây công nghiệp Lũ lụt, hạn hán, bão là những tai biến tự nhiên gây thiệt hại không nhỏ cho cây công nghiệp Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu kỹ càng các điều kiện thời tiết của từng vùng địa phương trước khi tiến hành gieo trồng, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao

số đặc điểm lý, hóa tính khác của đất mà bố trí các loại cây trồng phù hợp Hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất chủ yếu quyết định đến năng suất cây trồng hơn là quyết định tính thích ứng của cây trồng Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất có thể khắc phục bằng cách bón phân Thông thường các loại đất tốt sẽ trồng các loại cây có độ phản ứng mạnh với độ phì

của đất và có giá trị kinh tế cao Do nắm được đặc điểm lý, hóa tính của đất nên con người có

thể tác động cải tạo đất, làm cho đất dần dần phù hợp với cây trồng hơn

Trên quan điểm tích cực, sử dụng để cải tạo và bồi dưỡng độ phì của đất nhằm sử dụng

hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp cần phải chú ý đánh giá về:

- Địa hình: yếu tố địa hình có ảnh hưởng đến chế độ nhiệt và chế độ ẩm, xói mòn trên đất

dốc Do dó cần phải được xem xét cụ thể để đề xuất cách bố trí các loại cây trồng phù hợp

với từng độ dốc, sườn dốc

- Chế độ nước của đất: mực nước ngầm, nước mặt và khả năng giữ nước của đất là

những thông số cần được đánh giá trong bố trí cây trồng

- Thành phần cơ giới: ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ nước, chế độ không khí, chất dinh dưỡng Do vậy, tùy thuộc vào phản ứng của bộ rễ các cây trồng mà lựa chọn loại cây trồng phù hợp với thành phần cơ giới của từng loại đất

Trang 35

- Độ chua, phèn, mặn của đất: các loại cây trồng có khả năng phản ứng khác nhau với các điều kiện về độ chua, mặn và phèn của đất nên khi đánh giá đất cần phải lưu ý đặc điểm này

Cũng như các loại cây trồng khác, tài nguyên đất với đặc điểm về số lượng và chất lượng

là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến quy mô diện tích, cơ cấu và sự phân bố các nhóm cây công nghiệp Đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nơi cung cấp chất dinh dưỡng cho cây công nghiệp sinh trưởng và phát triển tốt Năng suất cây công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào độ mùn trong đất, thành phần cơ giới, cơ cấu và tầng dày của đất Các loại cây công nghiệp thường cho năng suất cao và chất lượng nông phẩm tốt khi được trồng trên đất tơi xốp, thoát nước, thoáng khí, đủ ẩm, tầng canh tác dày và có những đặc tính vật lý, hóa

học phù hợp Ngược lại, nếu được trồng trên đất chặt, chai cứng và có độ tơi xốp kém thì năng suất của cây công nghiệp không cao Đặc biệt, một số cây công nghiệp chỉ được trồng trên một số loại đất có thành phần khoáng chất, hữu cơ và nguyên tố nhất định

Trên thế giới có nhiều loại đất khác nhau với những đặc tính lý hóa không giống nhau, điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố cây công nghiệp Những loại đất có độ pH tự nhiên khác nhau sẽ tạo hiệu quả khác nhau khi trồng những loại cây không giống nhau

1.2.1.4 Nguồn nước

Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong phát triển cây công nghiệp nói riêng, nước là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng và hiệu quả sản xuất Khi được cung cấp đầy đủ nước, cây trồng sẽ cho năng suất cao và chất lượng tốt Nếu thiếu nước, cây sẽ sinh trưởng kém, thấp bé, còi cọc, năng suất và chất lượng giảm Do đó, những nơi có nguồn nước dồi dào thường tạo nên những vùng chuyên canh cây công nghiệp trù phú

và phát triển tốt Ngược lại, cây công nghiệp không thể phát triển được ở những nơi khan

chọn và di chuyển chúng từ nơi này đến nơi khác Với trình độ phát triển của nền sinh học

Trang 36

hiện đại, con người còn có thể thay đổi bản chất bên trong của cây trồng theo hướng mà mình mong muốn bằng các biện pháp như: lai tạo, chọn lọc, gây đột biến gen

Ngoài các thành phần chính là các cây trồng, hệ sinh thái này còn có các thành phần

sống khác như cỏ dại, động vật, vi sinh vật , các thành phần này cùng với cây trồng tạo nên

quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau và tạo nên các mối tác động qua lại rất phức tạp

Vấn đề là phải tạo dựng và duy trì mối cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn

chế mặt có hại, phát huy các mặt có lợi đối với lợi ích của con người Khi bố trí cơ cấu cây

trồng cần chú ý đến các mối quan hệ giữa các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái nông nghiệp dựa trên các nguyên tắc sau: lợi dụng tốt nhất mối quan hệ giữa các sinh vật khác với cây trồng theo hướng có lợi cho con người nhưng không nên lợi dụng thái quá

Ngoài ra, cần nắm vững yêu cầu của các loài và giống cây trồng đối với các điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai và khả năng sử dụng các điều kiện ấy của chúng Trên quan điểm

sử dụng cây trồng để khai thác tốt các điều kiện tự nhiên thì các cây đó cần phải:

- Sử dụng tốt nhất các điều kiện về ánh sáng, nước, nhiệt độ và có khả năng chống chịu được với hoàn cảnh bất lợi thông qua việc bố trí chủng loại cây trồng thích hợp với tùng mùa

vụ trong năm với các biện pháp tăng vụ, luân canh, xen canh, gối vụ hợp lý

- Điều kiện sinh thái của nước ta có nhiều tiểu vùng với những lợi thế về sự đa dạng

chủng loại cây trồng và sự thích ứng cho giới thiệu các cây trồng cả ở vùng ôn đới

- Nguồn cây trồng bản địa là một tài sản vô cùng quan trọng trong bố trí cơ cấu cây

trồng, trong đó có rất nhiều giống cây trồng địa phương với những đặc tính quí về chất lượng Vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu cải tiến và hợp lí hóa quy trình kỹ thuật để phát huy lợi thế

Phần lớn các cây công nghiệp ngày nay đều có nguồn gốc từ những loài thực vật hoang

dại, được con người thuần dưỡng và lai tạo Sự đa dạng về các loài cây là tiền đề cho việc hình thành và phát triển các giống cây công nghiệp, tạo khả năng chuyển đổi cơ cấu cây công nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái của từng địa phương

Tóm lại, các nhân tố điều kiện tự nhiên tác động một cách mạnh mẽ và đồng thời đến tất

cả các loại cây trồng nói chung và các loại cây công nghiệp nói riêng Điều này đặt ra yêu

cầu khách quan cho việc lựa chọn các loại cây trồng và việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý theo mùa vụ, chế độ luân canh, xen canh và gối vụ Trong nhóm các điều kiện tự nhiên thì nhân tố đất đai giữ vai trò quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cơ

cấu cây công nghiệp, cũng như trong việc đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp Địa hình đất

Trang 37

đai (thể hiện ở độ cao thấp của từng vùng, từng chân ruộng) gắn liền với những điều kiện tưới tiêu luôn là điều kiện quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng Độ phì của đất là chỉ tiêu quan trọng trong việc bố trí cây trồng cũng như công thức luân canh cụ thể sử

dụng đầy đủ và hợp lí hàm lượng dinh dưỡng của từng loại đất, tránh tình trạng hủy hoại đất

và môi trường nhằm tăng hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống Các nhân tố khác như khí

hậu, thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, hạn hán, lũ lụt, thường chi phối đến năng suất cây

trồng và hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác

1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội

Nhóm này bao gồm các nhân tố như: thị trường (trong nước và nước ngoài), vốn, hệ

thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cơ sở hạ tầng, kinh nghiệm, tập quán, truyền

thống sản xuất của dân cư, dân số và lao động Nhóm nhân tố này luôn tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cũng như đến cơ cấu cây trồng và cây công nghiệp

1.2.2.1 Dân cư và lao động

Dân số, lao động và truyền thống sản xuất của dân cư giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cũng như ảnh hưởng tới sự phân bố cây trồng ở mỗi địa phương Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp, nguồn lao động ảnh hưởng đến quy mô

diện tích (mở rộng diện tích trồng trọt, quy mô các loại cây trồng), phương thức sản xuất (thâm canh, tăng vụ) và cơ cấu cây trồng Các loại cây trồng đòi hỏi nhiều công chăm sóc thường được phân bố ở các vùng đông dân cư và nhiều lao động Ngược lại, các cây trồng

tốn ít công chăm sóc hơn có thể phân bố ở các vùng thưa dân Tập quán sản xuất của người dân ở mỗi vùng ảnh hưởng đến việc tăng năng suất, sản lượng và chất lượng cây trồng Tuy nhiên, tập quán canh tác cũng có những thói quen tốt và cũng có những thói quen không có

lợi cho cây trồng Để loại bỏ những thói quen và những tập quán không có lợi cho hoạt động

sản xuất của người dân, cần phải trải qua một thời gian tiếp cận với các kỹ thuật canh tác tiến

bộ mới có thể giúp họ thay đổi được nhận thức, cũng như nếp nghĩ của mình Mặt khác, ở

mỗi vùng, mỗi địa phương cũng có những kiến thức bản địa tốt cần phải được khai thác và phát huy hiệu quả, hoặc kết hợp với những kiến thức mới để trở thành các cải tiến kỹ thuật

hợp lý trong sản xuất Thêm vào đó, chất lượng nguồn lao động cũng có ảnh hưởng lớn đến

hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Trang 38

T rình độ học vấn: tỉ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp, tình trạng thể lực và tay

nghề của người lao động tại nơi sản xuất cao sẽ giúp nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng cây trồng, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng

diễn ra nhanh hơn và đúng hướng Khi xác định cơ cấu cây trồng cho từng vùng sản xuất,

vấn đề quan trọng là cần nắm được trình độ học vấn và kỹ năng của người lao động (đặc biệt

là ở miền núi), vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhận thức và tiếp thu khoa học kỹ thuật của người dân Đối với các cây trồng yêu cầu kỹ thuật quản lý và chăm sóc tốt cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng để giảm thiểu rủi ro

Truy ền thống, tập quán ăn uống và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản của dân cư:

ảnh hưởng đến sự có mặt và quy mô của các loại cây trồng Đồng thời, cũng tác động mạnh

mẽ đến sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng của mỗi vùng sản xuất Nhu cầu tiêu thụ các sản

phẩm nông sản càng nhiều thì quy mô diện tích của chúng càng lớn, chất lượng càng được nâng cao

Cũng giống như trong sản xuất ngành trồng trọt, dân cư và lao động ảnh hưởng tới sản

xuất cây công nghiệp dưới hai góc độ: là lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn tiêu thụ các

sản phẩm cây công nghiệp

Dưới góc độ là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra các sản phẩm cây công nghiệp, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng trong việc mở rộng quy mô diện tích và phân bố các cây công nghiệp Hầu hết các cây công nghiệp, đặc biệt là cây công nghiệp lâu năm thường

cần nhiều lao động có kĩ thuật, kinh nghiệm sản xuất và cần nhiều công chăm sóc

Ví dụ:

Bình quân 1 ha cà phê cần từ 1 đến 1,5 lao động Sản xuất cà phê dã góp phần giải quyết

việc làm cho khoảng 20 triệu lao động ở các nước trồng cà phê Tại Việt Nam, ngành cà phê

mỗi năm thu hút khoảng 300.000 gia đình với trên 600.000 lao động Đặc biệt vào mùa thu

hoạch, con số này có thể lên tới 700.000 – 800.000 lao động Số lao động trong ngành trồng

cà phê của nước ta chiếm 1,83% tổng số lao động cả nước nói chung và 2,93% tổng số lao động trong ngành nông nghiệp nói riêng

Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, nhu cầu của dân cư có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ phát triển và xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp Đồng thời cũng ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm cây công nghiệp Hiện nay, sản phẩm cây công nghiệp là mặt hàng xuất

khẩu quan trọng mang lại nguồn ngoại tệ lớn ở nhiều nước đang phát triển tại vùng nhiệt đới

và cận nhiệt, trong đó cây cà phê là mặt hàng thương mại quan trọng trên thị trường quốc tế

Trang 39

Nếu so sánh với những mặt hàng được buôn bán nhiều nhất thì cà phê chỉ đứng sau dầu hỏa

Nó thực sự là ngành mang lại nguồn thu nhập lớn cho nhiều nước đang phát triển, trong đó

có Việt Nam

1.2.2.2 Vốn đầu tư

Vốn sản xuất giữ vai trò quyết định trong sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nhất là đối

với những hệ thống sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu qua kinh tế cao và mang tính thay đổi về chất như nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâu năm,

Trong sản xuất cây công nghiệp, nguồn vốn có giá trị to lớn đối với quá trình phát triển

và phân bố cây công nghiệp, cũng như việc xác định cơ cấu cây công nghiệp thích hợp cho

từng địa phương Nguồn vốn tăng mạnh, được phân bố và sử dụng một cách có hiệu quả sẽ tác động đến tốc độ tăng trưởng và mở rộng diện tích các cây công nghiệp, đáp ứng được các tiêu chí của sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp và đưa tiến bộ khoa học – công nghệ vào trong sản xuất

1.2.2.3 Thị trường tiêu thụ

Nhân tố thị trường có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế nói chung và sự hình thành biến đổi cơ cấu kinh tế, bởi vì nó chỉ tồn tại và vận động thông qua hoạt động của con người Những người sản xuất hàng hóa chỉ sản xuất và đem bán sản phẩm ra thị trường, trao đổi thông qua quan hệ cung cầu mà tín hiệu là giá cả, hàng hóa, thúc đẩy hay cản trở người sản xuất tham gia vào thị trường Thị trường giúp người sản xuất xác định khả năng, quy mô tham gia vào thị trường, cũng như các loại sản phẩm hay hàng hóa sẽ đưa vào buôn bán trên thị trường Thông qua đó phản ánh cơ cấu kinh tế của từng vùng, từng địa phương Tuy nhiên, do mức độ tiếp cận thông tin khác nhau và khả năng xử lý cũng khác nhau, điều

kiện sản xuất lại chi phối nên lượng người tham gia vào việc tạo ra và tiêu thụ sản phẩm cũng không giống nhau

Cơ cấu cây trồng về cơ bản phản ánh yêu cầu của sản xuất hàng hóa và thị trường, tuân theo sự phân công lao động xã hội, tính chất chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất Nhu

cầu sản xuất hàng hóa và thị trường là điều kiện quyết định sự biến đổi về chất của cơ cấu cây trồng Như vậy, nhu cầu về nông sản và môi sinh của xã hội càng cao thì càng thúc đẩy

cở cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng hiện đại Các đặc điểm này đòi hỏi khi xác định cơ

cấu cây trồng thì cần phải dựa vào nhu cầu thị trường nông sản, điều kiện tự nhiên và điều

kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi địa phương, cũng như dựa vào sự phân công, quy

Trang 40

hoạch trong nông nghiệp và phương hướng, chính sách phát triển nông nghiệp trong từng giai đoạn nhất định

Tương tự, thị trường tiêu thụ cũng là yếu tố cơ bản tác động đến giá cả và chất lượng của

sản phẩm cây công nghiệp, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp theo hướng hiện đại, mang lại hiệu quả cao về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường và ngược lại Đồng thời, sự phát triển của thị trường trong và ngoài nước còn có tác dụng điều tiết đối với

sự hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp nói riêng và các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa nói chung

1.2.2.4 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp

Khoa học – công nghệ là đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển nông nghiệp nói chung và đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng nói riêng Nhờ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, con người đã hạn chế được những ảnh hưởng của tự nhiên và

chủ động hơn trong hoạt động nông nghiệp, tạo ra nhiều giống cây trồng mới cho năng suất

và hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng hiện đại

Dưới tác động của cuộc các mạng khoa học kỹ thuật, nền nông nghiệp thế giới trải qua

một bước ngoặt lịch sử, đã và đang trở thành ngành sản xuất tiên tiến, một dạng sản xuất

kiểu công nghiệp Nhờ đó, năng suất, sản lượng và chất lượng các cây công nghiệp nói riêng

và của cây trồng nói chung được nâng lên rõ rệt Cơ cấu cây công nghiệp cũ, lỗi thời, năng

suất và chất lượng sản phẩm thấp được thay thế bằng cơ cấu cây công nghiệp mới, hiện đại

với năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tận dụng được những lợi thế về tự nhiên và kinh tế - xã

hội của vùng sản xuất Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật có liên quan mật thiết với các quá trình cơ khí hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa

Nhờ áp dụng rộng rãi các biện pháp kĩ thuật như điện khí hóa (sử dụng điện trong nông nghiệp và nông thôn), cơ giới hóa (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất, chăm sóc cây

trồng và thu hoạch), thủy lợi hóa (xây dựng hệ thống kênh tưới tiêu hoặc áp dụng tưới tiêu theo khoa học), hóa học hóa (sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ và các chất kích thích cây trồng sinh trưởng và phát triển), sinh học hóa (áp dụng công nghệ sinh học như lai

giống, biến đổi ghen, cấy mô ) mà năng suất cây trồng trên một đơn vị diện tích và của người lao động được nâng cao rõ rệt

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4. Dân số và mật độ dân số tỉnh Bình Phước năm 2010 - chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp tỉnh bình phước, thực trạng và định hướng
Bảng 2.4. Dân số và mật độ dân số tỉnh Bình Phước năm 2010 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w