Vai trò c ủa Đông Dương đối với phát xít Nhật Nhật Bản là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên và trong bối cảnh, hầu hết các nước Châu Á ở những mức độ khác nhau đều phụ thuộc
Trang 1Lê Ng ọc Hằng
LU ẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2Lê Ng ọc Hằng
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện
Lê Ngọc Hằng
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học sư phạm
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng và biết ơn Tiến sĩ Lê Phụng Hoàng,
thân, tôi đã có điều kiện tiếp thu được kiến thức và phương pháp nghiên cứu vô cùng quý báu
Lê Ngọc Hằng
Trang 5Trang phụ bìa
D ẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Mục tiêu của đề tài 7
7 Cấu trúc của đề tài 7
Chương 1 LẬP TRƯỜNG CỦA HOA KỲ VÀ ANH ĐỐI VỚI ĐÔNG DƯƠNG TRƯỚC CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG 8
1.1 Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương 8
1.1.1 Vai trò của Đông Dương đối với phát xít Nhật 8
1.1.2 Sự thỏa thuận Nhật - Pháp 13
1.2 Phản ứng của Hoa Kỳ trước những họat động xâm chiếm Đông Dương của Nhật 16
1.2.1 Chủ nghĩa biệt lập 16
1.2.2 Hoa Kỳ đề nghị “trung lập hóa” Đông Dương 23
1.3 Anh hợp tác với Pháp nhằm duy trì quyền lực ở các thuộc địa Đông Nam Á 27
TI ỂU KẾT 29
Trang 6DƯƠNG (ĐẾN NGÀY 9.3.1945) 31
2.1 Tổng thống Roosevelt chủ trương đặt Đông Dương dưới sự ủy trị quốc tế (International Trusteeship) 31
2.2 Phản ứng của Anh đối với chủ trương của Hoa Kỳ 42
TI ỂU KẾT 54
Chương 3 CHÍNH SÁCH C ỦA CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH HOA KỲ VÀ ANH ĐỐI VỚI ĐÔNG DƯƠNG TỪ KHI NHẬT ĐẢO CHÍNH PHÁP (ĐẾN 3.1946) 55
3.1 Từ khi Nhật đảo chính Pháp đến Hội nghị Potsdam 55
3.1.1 Nhật đảo chính Pháp 55
3.1.2 Chính phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối với Đông Dương 61
3.1.3 Anh xúc tiến kế hoạch hỗ trợ Pháp quay lại Đông Dương 66
3.2 Từ sau Hội nghị Potsdam đến 3.1946 69
3.2.1 Hoa Kỳ công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương và khước từ công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 69
3.2.2 Anh hỗ trợ Pháp tái lập quyền lực ở Đông Dương 83
TI ỂU KẾT 86
K ẾT LUẬN 88
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 97
Trang 7DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Trước hết, Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) đã để lại những hậu
các nước đồng minh chống phát xít Đức – Italia - Nhật Lúc này, Đông Dương
tranh xâm lược ở Đông Nam Á Đông Dương đồng thời được Hoa Kỳ lựa chọn
như là một điểm trong kế hoạch phản công Nhật
do thái độ của Hoa Kỳ và Anh đã tạo điều kiện cho Pháp quay trở lại Việt Nam
Trang 8Thứ ba là xuất phát từ nhu cầu của bản thân, mong muốn được mở rộng
trường phổ thông
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về chính sách, mối quan hệ
đoạn khác nhau
(1940-1956), Luận án Tiến sĩ lịch sử, Mã số 50315, Thư viện trường Đại học Sư phạm, TP.HCM Đây là một công trình nghiên cứu về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong 16 năm với những sách lược khác nhau, làm rõ vị trí của Việt Nam
Trang 9thời khắc vừa nguy hiểm lại vừa đầy hứa hẹn đối với tương lai của cả hai nước
như những gì đã diễn ra và được tác giả ghi lại theo dòng thời gian, cung cấp
người cộng sản Việt Nam trên một trận tuyến chung chống chủ nghĩa phát xít”
- Gary R Hess, Franklin Roosevelt and Indochina, The Journal of
- Stein Tonnesson (2002), Franklin D.Roosevelt and French loss of Indochina 9, March 1945, International Peace Research Institute, Oslo (PRIO)
Trang 10đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tác giả cũng cho thấy những toan tính và thay đổi trong chính của Tổng thống Roosevelt đối với Đông Dương
- Sanford B Hunt, IV, B.A (2004), Dropping the baton: decisions in
Dương cụ thể là Việt Nam từ thời Tổng thống Roosevelt đến Tổng thống Harry
- T O Smith, Britain and the Origins of the Vietnam War: UK Policy in
- T O Smith (2011), Churchill, America and Vietnam, 1941–1945,
điểm của Mỹ về chính sách đối với Đông Dương thuộc Pháp Và những chính
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những chính sách của các nước Đồng minh cụ
Nam trong giai đoạn 1941 – 1946
đối với Đông Dương Hoa Kỳ muốn loại bỏ vai trò của thực dân Pháp, còn Anh
hơn 44,5% diện tích và hơn 83,5% dân số là yếu tố quan trọng nhất
Dương Đến năm 1946 việc Đồng Minh chiếm đóng Đông Dương được coi như
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khách quan trong cách trình bày và nhận định các vấn
đề, người viết đã sử dụng những phương pháp chuyên ngành như:
Trang 125 Đóng góp của đề tài
Đông Dương qua trường hợp Việt Nam trong giai đoạn 1941 – 1946 nhằm thu
đối với Đông Dương Tổng thống Roosevelt từng lên án chế độ cai trị của thực
và sau đó đồng ý chỉ đặt Đông Dương dưới chế độ ủy trị quốc tế nếu Pháp tự
nghĩa
lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã tận dụng thời cơ
“ngàn năm có một” để tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám thành
Trang 13tranh giành độc lập, sau kháng chiến chống Pháp là đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược
6 Mục tiêu của đề tài
các nước đồng minh đã điều chỉnh và thay đổi chính sách của họ đối với Việt Nam để đảm bảo lợi ích một cách toàn diện nhất Trong bối cảnh, Hoa Kỳ và Anh theo đuổi những kế hoạch khác nhau đối Đông Dương, Việt Nam dưới sự
7 Cấu trúc của đề tài
trước cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương
đối với Đông Dương trong Chiến tranh Thái Bình Dương (đến ngày 9.3.1945)
Trang 14Chương 1
LẬP TRƯỜNG CỦA HOA KỲ VÀ ANH ĐỐI VỚI ĐÔNG DƯƠNG
TRƯỚC CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG
1.1 Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương
1.1.1 Vai trò c ủa Đông Dương đối với phát xít Nhật
Nhật Bản là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên và trong bối cảnh, hầu hết các nước Châu Á ở những mức độ khác nhau đều phụ thuộc hoặc trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây thì với cuộc cải cách Minh Trị Duy tân 1868, Nhật Bản là nước duy nhất ở Châu Á thoát khỏi số phận một nước thuộc địa hay phụ thuộc, tiến theo con đường tư bản chủ nghĩa Là đế quốc “sinh sau đẻ muộn”, chủ nghĩa tư bản Nhật ra đời và lớn mạnh vào thời kỳ nhiều nước tư bản đang chuyển sang giai đoạn đế quốc Ở phương Đông, hầu như thị trường thuộc địa đã phân chia xong Vì vậy, để tranh giành khu vực ảnh hưởng, giới tư bản Nhật, một mặt ra sức tăng cường bóc lột nhân dân trong nước, mặt khác tiến hành các cuộc chiến tranh thôn tính Sau hai cuộc chiến tranh với Trung Hoa (1894 – 1895) và Nga (1904 – 1905), Nhật Bản đã trở thành một đế quốc ở Á Đông Với thắng lợi này, vị thế của Nhật Bản trên trường quốc tế được nâng lên Và cũng chính từ chiến thắng oanh liệt này, người Nhật
đủ tự tin bắt đầu toan tính đến việc bành trướng, tham gia vào cuộc giành giật thị trường, cạnh tranh lợi ích với các cường quốc phương Tây ở Châu Á Nước Nhật với cuộc cải cách Minh Trị Duy tân đã trở thành “anh cả da vàng”, một tấm gương cho nhiều nước lân bang noi theo, hướng tới con đường cải cách, tự cường dân tộc… Hơn thế nữa, nhiều sĩ phu yêu nước từ Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia… đã đến Nhật với mong muốn tìm kiếm sự hậu thuẫn của người “anh cả” này cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của họ Đây chính là bối cảnh
Trang 15lịch sử đã dẫn Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh và nhiều chí sĩ Việt Nam đến Nhật vào những năm 1905-1908 Trong bối cảnh đó, lần đầu tiên, chính giới Nhật Bản “để mắt” tới Việt Nam, lúc đó đang là thuộc địa của Pháp nằm trong Liên bang Đông Dương
Tuy vậy cho đến giữa những năm 1930, sự lưu tâm của Nhật Bản đối với
xứ Đông Dương vẫn chưa đậm nét Chỉ từ khi chính phủ quân phiệt Nhật bắt tay vào việc chuẩn bị kế hoạch bành trướng, phát động chiến tranh xâm lược ở Châu
Á thì xứ Đông Dương thuộc Pháp mới được họ thực sự quan tâm đặc biệt Tháng 7 năm 1937, Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh xâm lược toàn Trung Quốc Chỉ sau một thời gian ngắn, quân Nhật nhanh chóng tiến xuống phía Nam Tháng 10 năm 1938, quân Nhật chiếm được Quảng Châu, áp sát biên giới Việt – Trung Cũng chính từ thời điểm này quân Nhật chính thức đặt vấn đề xâm lược Đông Dương
Đối với phát xít Nhật, việc chiếm Đông Dương vào thời điểm lúc bấy giờ đóng vai trò then chốt - “chìa khoá” thành công cho mọi nỗ lực tiến hành chiến tranh ở Châu Á Cụ thể là, Bắc Việt Nam với tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội – Vân Nam là một trong hai huyết mạch giao thông chính cung cấp viện trợ quân sự từ các nước đồng minh cho chính phủ Trùng Khánh của Tưởng Giới Thạch Bởi theo cách nhìn của giới cầm quyền Tôkyô thì “dây rốn của chính quyền Trùng Khánh chạy dài tới Anh và Hoa Kỳ” Chính giới Nhật Bản cho rằng để đánh gục sự kháng cự của Trùng Khánh thì phải bằng mọi giá cắt đứt tuyến đường viện trợ này Bên cạnh đó, mục đích không kém phần quan trọng của quân đội Nhật khi chiếm Đông Dương chính là tạo ra một bàn đạp chiến lược cho các bước tiến công xâm lược tiếp theo Một “điểm tựa” tối ưu để “phía Bắc đánh Hoa Nam, Đông đánh Phi Luật Tân, Nam đánh Mã Lai, Inđônêxia,
Trang 16giúp quân Nhật chiếm lĩnh vị trí “thượng phong” trên chiến trường Châu Á – Thái Bình Dương tính đến năm 1943
Tuy nhiên việc thực hiện âm mưu xâm lược Đông Dương của giới quân phiệt Nhật vấp phải nhiều cuộc tranh luận gay gắt dẫn tới mối bất hoà sâu sắc trong nội bộ giới lãnh đạo Tôkyô về phương thức xâm chiếm Đông Dương Trong khi giới quan chức ngoại giao chủ trương xâm chiếm Đông Dương một cách hoà bình, tức là tìm cách đạt được các mục đích nói trên bằng các biện pháp ngoại giao, thì giới lãnh đạo quân sự muốn tấn công Đông Dương, thủ tiêu nền thống trị của thực dân Pháp và đặt Đông Dương dưới sự thống trị trực tiếp của Nhật, nghĩa là bằng biện pháp quân sự Mặc dù hai phương án nói trên khác nhau căn bản về thủ đoạn, nhưng lại đồng nhất với nhau trong mục đích cuối cùng: bành trướng chiến tranh ở Châu Á
quân Thái Lan đánh Campuchia, rồi ép Pháp phải nhường đất cho Thái Lan Chính phủ thuộc địa Pháp ở Đông Dương ký hiệp định 23.9.1940 và các hiệp định tiếp theo chấp nhận yêu cầu của Nhật chiếm đóng Đông Dương Từ đó, nhân dân Đông Dương sống dưới ách thống trị “một cổ hai tròng” của Pháp – Nhật và thực dân Pháp trở thành “con chó giữ nhà” cho Nhật Năm 1941, quân đội Nhật tiếp tục chiếm đóng ở nhiều cứ điểm khác nhau của miền Nam Đông Dương
Tuy nhiên, tùy thuộc vào diễn biến cuộc chiến tranh Thái Bình Dương mà trong mỗi giai đoạn cụ thể Đông Dương giữ vai trò khác nhau trong chiến lược chiến tranh của Nhật Bản và do đó chính sách của Nhật đối với Đông Dương cũng thay đổi theo Trước trận Trân Châu Cảng, đối với Nhật, Đông Dương có ý nghĩa như một căn cứ hậu cần và một căn cứ quân sự, từ đó có thể tấn công Trung Quốc Sau trận Trân Châu Cảng, Đông Dương vừa tiếp tục giữ vai trò là
Trang 17căn cứ hậu cần chiến lược, vừa là bàn đạp tấn công Đông Nam Á Tuy vậy, từ giữa năm 1943, hình thái chiến tranh thay đổi, khi quân đội Đồng Minh bắt đầu chuyển sang phản công, đẩy phe Trục nói chung và quân đội Nhật nói riêng vào thế bị động, từng bước bị đẩy lùi trên khắp các chiến trường thì vị trí của Đông Dương trong chiến lược chiến tranh của Nhật bắt đầu thay đổi Đặc biệt là sau khi quân Nhật bị thất bại nặng nề cả trên chiến trường Philippin (4.1945), Miến Điện (5.1945) và trước nguy cơ thực dân Pháp ở Đông Dương tiến hành “kháng chiến” chống Nhật khi quân Đồng Minh đổ bộ vào thì Đông Dương trở thành
“cầu nối chiến lược” có tầm quan trọng sống còn, nối liền quân Nhật trên lục địa Châu Á với lực lượng hải quân ở Đông Nam Á Nếu mất “cây cầu này” thì không những toàn bộ quân Nhật ở Đông Nam Á sẽ bị đánh tan mà các cánh quân Nhật ở Hoa Nam cũng rơi vào tình thế bị bủa vây Chính vì thế mà quân Nhật buộc phải giữ Đông Dương bằng mọi giá Cho nên Nhật đã tiến hành đảo
thuộc địa này
Có thể thấy rằng: Đầu những năm 1940, Đông Dương đã trở thành một tụ điểm cho các hoạt động chính trị quốc tế tại miền tây Thái Bình Dương Vị trí địa chính trị của Đông Dương là rất quan trọng đối với Nhật Bản Đông Dương
là con đường đi miền Nam Trung Quốc, nơi mà người Nhật đang chiến đấu Một
số lượng quan trọng vật tư được chuyển đến Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch
người Nhật tiến về phần còn lại của Đông Nam Á trong tương lai
Khi đặt vấn đề xâm lược Đông Dương, giới cầm quyền Tôkyô không chỉ xem Đông Dương là vị trí “chiến lược quan trọng”, có thể xâm nhập vào Trung
Trang 18sở này là nơi cung cấp tài nguyên phục vụ chiến tranh, trong đó chủ yếu là thóc gạo Đông Dương, trong đó có Việt Nam được gọi là “bát cơm của Châu Á”, ngoài cây lúa còn có nhiều loại cây công nghiệp và khoáng sản “khu vực giàu có
về lúa gạo, cao su, than đá và quặng sắt”[18, tr 192] Qua đó, chúng ta thấy rằng Đông Dương thuộc Pháp trong Thế chiến thứ hai đã giúp cho Nhật tạo ra một bệ
đỡ vật chất quan trọng cho các nỗ lực chiến tranh của nước Nhật tại Châu Á Quân phiệt Nhật Bản trong kế hoạch bành trướng, làm chủ Châu Á đã chọn Đông Dương làm căn cứ chiến lược Vì vậy, ngay từ đầu chính giới Nhật tìm mọi cách nắm giữ cho được vị trí này Ngoài ra, Đông Dương còn là nơi cung cấp tiềm lực cho chiến tranh của Nhật ở Châu Á – Thái Bình Dương Do vậy, khi Nhật chiếm được Đông Dương, phát xít Nhật đã thực hiện ở đây một chính sách thuộc địa thực sự, cuốn xứ sở này vào guồng máy chiến tranh của Nhật Nhân dân Đông Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” dưới ách thống trị của
cũng có ý nghĩa quan trọng như thế đối với các nước Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Trung
Nam sẽ có được một căn cứ quan trọng mở rộng ra khắp Đông Nam Á và vơ vét nguồn cao su mà nền công nghiệp này rất cần Cho nên cả Nhật Bản và Hoa Kỳ đều có ý định chiếm lấy xứ Đông Dương Ngày 19.7.1941, Đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp đã truyền đạt trực tiếp cho thống chế Petain quan điểm của Tổng thốn Roosevelt, tuyên bố rằng, nếu Nhật thắng, họ sẽ chiếm xưa Đông Dương, nhưng nếu quân Đồn mình thắng thì Mỹ sẽ chiếm Đông Dương [24, tr 87] Anh và Trung Quốc càng quan tâm về vị trí chính trị của khu vực này bởi Ấn Độ thuộc Anh nằm gần Đông Dương và Trung Quốc thì sát biên giới các nước này
Trang 191.1.2 S ự thỏa thuận Nhật - Pháp
tháng 6.1940 phát xít Đức tấn công Pháp Ngày 14.6.1940, nước Pháp thất thủ
Ngay từ khi phát động chiến tranh, để hợp lý hoá và hỗ trợ cho việc bành
Nhật Bản công bố cái gọi là “Khu vực Đại Đông Á thịnh vượng chung” hay còn gọi là “Thuyết Đại Đông Á” (Dai Toa Kyoei Ken) Nội dung cốt lõi của “Thuyết Đại Đông Á” núp dưới chiêu bài: thành lập khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á, tức là sẽ xây dựng khu vực này thành khu vực thịnh vượng và phát triển các quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia dựa theo 5 nguyên tắc: ngoại giao liên hợp – quân sự đồng minh – kinh tế hợp tác – văn hoá giao lưu – chính trị độc lập Thứ hai là bảo vệ nhân dân Châu Á, giúp nhân dân Châu Á chống lại chính sách bất công về kinh tế, chính trị của các đế quốc Anh, Pháp, Hoa Kỳ và quyết tâm thực hiện thắng lợi thuyết Đại Đông Á Tuy nhiên, thực tế lịch sử chứng minh, giới cầm quyền Nhật đi ngược lại lời hoa mỹ đó, nó chỉ là tấm bình phong cho sự thống trị của đế quốc Nhật Bản tại các quốc gia chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai Song song với việc công bố “thuyết Đại Đông Á”,
Trang 20chính giới Nhật vạch kế hoạch xâm chiếm Đông Dương làm cơ sở cho việc xây dựng “khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”
đẳng, Nhật Bản mưu đồ tranh giành các thuộc địa rộng lớn của các đế quốc phương Tây ở khu vực này; khai thác, vơ vét các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực
Trước sự gia tăng sức mạnh của Nhật ở Đông Dương, Hoa Kỳ đã cảm thấy lo ngại và kêu gọi Vichy từ chối các yêu cầu cho phép Nhật sử dụng những căn cứ quân sự tại Đông Dương nhưng không thể cung cấp gì nhiều hơn là một
sự bảo đảm hỗ trợ mơ hồ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã tuyên bố với Đại sứ Pháp vào ngày 6 tháng 8 năm 1940 rằng: “Chúng tôi đã làm và đang làm mọi thứ có thể trong khuôn khổ chính sách đã thành lập của chúng tôi để giữ cho tình hình vùng Viễn Đông ổn định, chúng tôi đã dần dần thực hiện các bước khác nhau, mục đích là để gây áp lực trên kinh tế Nhật, rằng hạm đội của chúng tôi đang đồn trú ở Hawaii, và rằng những diễn biến mà chúng tôi đang theo đuổi, như đã được nêu ra ở trên, là đưa ra một dấu hiệu rõ ràng về ý định và hành động của chúng tôi trong tương lai” [47] Đại sứ Pháp trả lời rằng: “Theo ý kiến của ông, cụm từ “trong khuôn khổ các chính sách đã thiết lập của chúng tôi” gắn kết đến
sự miễn cưỡng rõ ràng của Chính phủ Mỹ trong việc xem xét việc sử dụng quân đội ở vùng Viễn Đông cụ thể tại thời điểm này, có nghĩa là rằng Hoa Kỳ sẽ không sử dụng quân đội hay hải quân nhằm hỗ trợ bất kỳ vị trí nào để chống lại mọi toan tính xâm lược của Nhật tại Đông Dương Đại sứ sợ rằng rằng Chính phủ Pháp, dưới áp lực hiển hiện của Chính phủ Nhật, buộc sẽ phải nhượng bộ
…”[47] Những lo sợ của Đại sứ Pháp đã thành sự thật
Trang 21Cuối tháng 7.1940, chính phủ Vichy cử đô đốc Jean Decoux làm toàn
Dương và chủ quyền của Pháp trên toàn Liên bang Đông Dương Nhật Bản đã
được rảnh tay để theo đuổi những mục tiêu lãnh thổ khác ở châu Á Các nhà
quân đội Thiên triều
Dương, thực dân Pháp vẫn cố cứu vãn lợi ích của họ Decoux tìm cách trì hoãn
được chính phủ thực dân Pháp chấp nhận Sự kháng cự của Pháp đã bị nhấn chìm trước kẻ cai trị mới của Đông Dương
Tuy nhiên, trong năm 1941 Nhật đã vượt qua việc sử dụng các căn cứ và đưa ra đòi hỏi một sự hiện diện tương đương để chiếm đóng ở Đông Dương Đến tháng 7 năm 1941, quân Nhật đã tiến vào miền Nam Việt Nam mà không
Trang 22các căn cứ ở Đông Dương để hậu thuẫn cho cuộc tấn công mở rộng Đế chế Mặt
ước Phòng thủ chung được ký kết Để giảm bớt chi phí chiến tranh và tránh bố
cũng như không giấu được tình hình thực tế: Nhật là kẻ ra lệnh và khi cần thiết,
đã phân tích thì: “Người Nhật trở thành chủ nhân đích thực Người Pháp trở
1 2 Phản ứng của Hoa Kỳ trước những họat động xâm chiếm Đông Dương của Nhật
1.2.1 Ch ủ nghĩa biệt lập
dư luận và chính sách của Hoa Kỳ đến với chủ nghĩa biệt lập Những người theo
lãnh đạo của phong trào biệt lập đã dựa trên lịch sử để củng cố vị trí của họ
Trang 23Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Dương đã tạo điều kiện cho Hoa Kỳ thưởng thức một loại “bảo mật miễn phí” và vẫn chủ yếu tách ra từ các cuộc xung đột thế giới cũ Tuy nhiên, trong Thế chiến thứ nhất, Tổng thống Woodrow Wilson đã thực hiện một trường hợp cho Mỹ can thiệp vào cuộc xung đột và
xung đột này đã không biện minh cho số thương vong của Mỹ Thực tế của một
Năm 1931, Nhật Bản xâm chiếm Mãn Châu và tiếp theo đẩy mạnh việc
quan điểm cá nhân của mình đối với chính sách nước ngoài bị giới hạn bởi sức
Trang 24quốc gia khác để đặt áp lực lên những kẻ xâm lược trong các cuộc xung đột
nghĩa biệt lập hàng đầu trong Quốc hội, trong đó có các chính trị gia tiến bộ như thượng nghị sĩ Hiram Johnson California, William Borah Idaho, và Robert La
được thông qua, không cho Tổng thống có quyền phán xét nước nào xâm lược, nước nào không xâm lược trong các cuộc tranh chấp quốc tế [13, tr29]
năm đó, khi tình hình ở châu Âu tiếp tục theo chiều hướng tồi tệ hơn và lần thứ
người Mỹ vẫn chưa sẵn sàng hy sinh mạng sống và sinh kế của họ cho hòa bình
ở nước ngoài
Trang 25Ngay từ đầu, các quan chức Hoa kỳ xem sự phát triển của Trung Quốc với
người Trung Quốc, mức độ lo lắng về những gì Nhật Bản có thể làm tiếp theo -
không gây đối kháng với cả Nhật Bản lẫn những người theo chủ nghĩa biệt lập
Đến khi người Pháp đặc biệt lo ngại Nhật Bản có thể tấn công Bắc Kỳ, nơi những trang thiết bị có tầm quan trọng sống còn được vận chuyển bằng đường thuỷ đến Hải Phòng và từ đó theo đường sắt đến Vân Nam hoặc Lạng Sơn rồi theo đường bộ vào trung tâm Trung Quốc Trong khi theo dõi tình hình châu Á, Roosevelt đã thúc giục các cố vấn của ông tìm kiếm những biện pháp
vì theo đuổi chủ nghĩa biệt lập nên về mặt chính trị và quân sự ông không thể
Đầu năm 1939, chính quyền Roosevelt đã nhận thấy mối đe dọa toàn cầu
Đông Nam Á Sự quan tâm lớn nhất của Nhật ở vùng Đông Nam Á là nắm
Trang 26cứ tiền tiêu quan trọng để thực hiện mục đích này, bởi các hải cảng và sân bay ở đây Một tháng sau khi đánh chiếm đảo Hải Nam, một đảo của Trung Quốc gần
Philippin, Inđônêxia và Đông Dương thuộc Pháp, Roosevelt đã ra lệnh cho hạm đội của Mỹ đang tập trận ở vùng biển Caribe trở lại Thái Bình Dương Tháng 7 năm 1939, sau sự chèn ép hơn nữa các quyền lợi của phương Tây ở Trung Quốc,
Roosevelt đang theo đuổi nhiệm kì tổng thống thứ ba, không dám vượt qua dư
ủng hộ chính sách biệt lập và niềm tin của chính ông rằng, Hoa Kỳ sẽ phải vào
khăn của Roosevelt với công luận Mỹ, Anh và Pháp đều sợ rằng sự can thiệp
Trang 27cho các nước đồng minh vào tháng 09 năm 1940, mặc dù Hoa Kỳ đã không
chương trình “Vay – Mượn” Trong năm 1940 và 1941, Tổng thống Franklin D
dù điều này không dẫn đến một lệnh cấm vận ngay lập tức, nó có nghĩa là chính
để ngăn chặn sự xâm lược của Nhật Bản ở Trung Quốc
Dương
Trang 28Mặc dù Roosevelt đã cung cấp nhiều nguyên vật liệu bằng tất cả khả năng
người Anh nhưng cả pháp luật của Hoa Kỳ và những lo ngại rằng Hoa Kỳ sẽ bị
người Đức
trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đã báo cho đại sứ Pháp biết là Hoa Kỳ sẽ không tham
Trang 29Ngày 25 tháng 7 năm 1940, Tổng thống Roosevelt đã tuyên bố việc xuất
đòn nặng đầu tiên của Hoa Kỳ đánh vào nền sản xuất công nghiệp chiến tranh
1.2.2 Hoa K ỳ đề nghị “trung lập hóa” Đông Dương
ngó đến Việt Nam vì sự độc quyền của Pháp Trong khoảng thời gian nước Pháp
ra lo ngại và đã quan tâm nhiều hơn đối với Đông Dương, trong đó có Việt
Đông Dương nhưng chưa gây chiến tranh với Hoa Kỳ, dù là đồng minh nhưng
quyền của mình ở Đông Dương cho Nhật và Nhật đem quân chiếm đóng toàn Đông Dương, làm bàn đạp tấn công Đông Nam Á Điều này đã làm cho mâu thuẫn giữa Nhật và các cường quốc Âu – Mỹ trở nên gay gắt, bởi họ muốn giữ thuộc địa của mình ở khu vực Đông Nam Á nên sự có mặt của Nhật làm cho các
Trang 30nước Đồng minh cảm thấy không hài lòng Tuy vậy, Hoa Kỳ vẫn cố gắng né tránh một cuộc chiến tranh với Nhật bằng những cuộc đàm phán Lúc này, chính phủ Hoa Kỳ đã ảo tưởng nghĩ rằng, bằng những cuộc đàm phán, Hoa Kỳ có thể phân chia quyền lợi với Nhật ở Đông Dương
Từ tháng 3.1941, Đông Dương trở thành chủ đề chính trong nhiều cuộc
của Pháp đã làm cho Tổng thống Roosevelt hết sức lo ngại vì điều đó đe dọa trực tiếp đến quyền lợi của Hoa Kỳ và tạo cho Nhật Bản một căn cứ để mở rộng xâm lược ra khắp Đông Nam Á Với vị trí “đầu cầu” của Đông Nam Á, Việt Nam trở thành mục tiêu mà Nhật cần xâm chiếm nhất, đó là bước quan trọng trong chương trình của Nhật nhằm chinh phục Đông Nam Á [24, tr 79] Ngoại trưởng Hoa Kỳ cho rằng, việc chiếm Đông Dương của Nhật có thể là một bước tiếp theo quan trọng hơn nhằm nắm quyền kiểm soát vùng biển phía Nam, bao gồm các con đường thương mại cực kì quan trọng đối với Hoa Kỳ và để kiểm
Đông Dương chưa phải là bước cuối cùng trong kế hoạch “Nam tiến” đầy tham vọng của Nhật
kiểm soát Đông Dương và cũng không chia sẻ cho nước Pháp tự do của De
chiếm đóng Đông Dương bằng quân đội và hải quân, hoặc nếu thực sự đã có những khởi sự được bắt đầu, nếu chính phủ Nhật ngưng và rút hết các lực lượng này, Tổng thống có thể đảm bảo với chính phủ Nhật rằng ông sẽ làm tất cả mọi thứ trong quyền hạn của mình để có được từ các chính phủ Trung Quốc, Anh,
Trang 31Hà Lan, và tất nhiên cả chính Hoa Kỳ cùng ra một tuyên bố long trọng và có tính ràng buộc ký với Nhật cùng cam kết, coi Đông Dương là một quốc gia trung lập cùng một cách thức như nước Thụy Sĩ mà các cường quốc đã công nhận là quốc gia trung lập Với hi vọng cùng chia sẻ quyền lợi ở Đông Dương với Nhật, tổng thống Hoa Kỳ đã đề xuất với phía Nhật thực hiện việc trung lập hóa Đông Dương bằng một Hiệp ước của tất cả các nước quan tâm (trừ Pháp) Nhật sẽ được đảm bảo quyền lợi được cung cấp nguyên liệu từ Đông Dương trên cơ sở cân bằng với các nước khác Quan điểm này đã được Chính phủ Hoa Kỳ theo đuổi trong suốt cả năm 1941 và thậm chí Hoa Kỳ còn xúc tiến và hy vọng ký được một Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với nước phát xít Nhật
Bất chấp những cố gắng của chính quyền Roosevelt, chính phủ Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn nhảy theo những điệu nhạc khác nhau Trong khi, Roosevelt cố ngăn chặn sự bành trướng của quân Nhật vào phần còn lại của Việt Nam và sự
Đông Dương thuộc Pháp thì Nhật Bản đã bác bỏ đề nghị đó Bởi nếu đồng ý với
đánh chiếm Đông Dương, Nhật đã đưa ra “Thuyết đại Đông Á” Tham vọng của Nhật là độc chiếm các nước Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á và cả Australia, New Zeland, để biến các nước này thành thị trường hàng hóa của Nhật Đồng thời đối với một nước đông dân, nghèo tài nguyên như Nhật thì rất cần khai thác nguyên liệu và sản phẩm Trên thực tế, ngay cả bản thân Tổng thống Roosevelt cũng nhận thấy ít có hy vọng được Nhật chấp nhận, vì chấp nhận đề nghị đó có nghĩa là là Nhật phải nhân nhượng và chia sẻ quyền lợi mà Nhật vừa mới giành được từ tay Pháp Điều này sẽ tạo ra trở ngại lớn trong việc sử dụng Đông Dương làm bàn đạp để tiếp tục thực hiện kế hoạch bành trướng - chìa khóa chiến lược cho toàn Đông Nam Á của Nhật
Trang 32Ngày 17.11.1941, cả Roosevelt lẫn Cordell Hull trực tiếp đến gặp Nomura
để thuyết phục Nhật chấp nhận đề nghị trung lập hóa Đông Dương, nhưng thất bại Tiếp tục, ngày 26.11, Hoa Kỳ đã trao cho Nhật một công hàm đề nghị triệu tập một hội nghị quốc tế gồm Mỹ, Nhật, Anh, Hà Lan, Trung Hoa và Thái Lan nhằm bảo đảm cho nền trung lập của Đông Dương, trong đó sáu nước có quyền ngang nhau trong việc trao đổi mua bán hàng hóa với Đông Dương Như vậy, thực chất của chính sách “trung lập hóa Đông Dương” mà Mỹ đưa ra nhằm hạn chế, ngăn chặn đà xâm lược của Nhật đang tiến triển tại đây, chủ trương này đã đánh dấu sự thay đổi cách nhìn cũng như chính sách của Mỹ đối với vấn đề Đông Dương
Đến cuối mùa hè năm 1941, quân Nhật tiến vào miền Nam Việt Nam Đáp lại, Mỹ đóng băng các tài sản của Nhật Tuy nhiên, việc này không cho thấy
là một phần của nỗ lực để được Nhật đồng ý cho một hiệp ước không xâm lược, ngày 6.12, Hoa Kỳ vẫn hy vọng Nhật có thể thay đổi lập trường, Tổng thống Roosevelt đã gởi cho Nhật hoàng một thông điệp đề nghị Nhật rút khỏi Đông Dương, để cho Đông Dương được trung lập, hai nước Hoa Kỳ và Nhật đảm bảo không xâm lược lẫn nhau Nhưng sự kiện ngày 7 tháng 12 năm 1941, khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ đến chỗ không còn sự lựa chọn nào khác là phải nhảy vào vòng chiến chống lại liên minh ba nước Đức – Italia – Nhật[13, 30], đồng thời đặt vấn đề tương lai của Đông Dương vào một bối cảnh
Trang 331.3 Anh hợp tác với Pháp nhằm duy trì quyền lực ở các thuộc địa Đông Nam Á
Đông Nam Á là nơi có nhiều thực dân xâm lực nhất, bởi đây là khu vực
Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam ở Đà Nẵng và từng bước thiết lập
đầu và để “mặt trời không bao giờ lặn ở nước Anh”, thực dân Anh cũng ra sức
địa của thực dân Anh Anh cũng lần lược chiếm được Mã Lai, Singapore
Pháp đã tiến hành các phương thức, sử dụng những thủ đoạn khác nhau để khai
nhưng cùng một mục đích là bóc lột để mang về lợi nhuận cao nhất cho chính
Đông Nam Á đã dẫn đến phong trào đấu tranh bùng nổ mạnh mẽ, trãi qua nhiều giai đoạn khác nhau Để duy trì quyền lực, cả Anh và Pháp đều ra sức đàn áp để
gương” cho nhân dân thuộc địa của Anh ở khu vực Đông Nam Á Cho nên Anh
đã hợp tác với Pháp để duy trì quyền lực của mình
Trang 34Những năm 1930 chính quyền thực dân Anh - Pháp thẳng tay đàn áp, truy
Nam (đến tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương)
đồng chí khác
luôn là ưu tiên số một trong việc bắt giữ và từ năm 1929 mặc dù chưa bắt được nhưng Tòa đại hình tại Vinh đã tuyên tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc Ngày
Đông Dương mà cụ thể là An Nam giao cho chính quyền thực dân, phong kiến
Dương hoặc giam giữ ở một nơi xa xôi nào đó của Anh chứ tuyệt nhiên không được trả tự do Nằm trong âm mưu dẫn độ Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương để
Trang 35thi hành án tử hình, nhà cầm quyền Pháp dùng mọi thủ đoạn để vận động Chính
17.6.1940, để tránh sự truy lùng của Đức, De Gaulle đã đến thành phố London,
tướng Churchill đã không bỏ rơi nước Pháp, tạo điều kiện cho De Gaulle được
làn sóng đấu tranh ở các thuộc địa của Pháp, nó sẽ thúc đẩy và mở đường cho
TIỂU KẾT
Đông Dương, trong đó có Việt Nam là nơi có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, đặt biệt là lúa gạo Nhật Bản xem đây là bàn đạp cho cuộc chiến tranh xâm lược Đông Nam Á Sau khi Pháp thất thủ, thực dân Pháp ở Đông Dương rất hoang mang, không còn trông mong gì được vào sự chi viện về quân
sự hoặc hậu thuẫn về chính trị của chính quốc Năm 1940, Nhật Bản từng bước
với hi vọng có thể duy trì sự hiện diện ở xứ thuộc địa này
Trang 36Trước những hành động xâm nhập của phát xít Nhật vào Đông Dương, chính phủ Hoa Kỳ đã từ chối viện trợ cho Pháp và muốn thương lượng với Nhật, đưa ra đề nghị “trung lập hóa” Đông Dương nhưng những nổ lực của Tổng thống Roosevelt đã không được Nhật đáp lại vì chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ tức là Nhật phải chia sẻ quyền lợi của mình Trong khi đó, trước cuộc chiến tranh Thái Bình Dương thì chính phủ Anh đã tích cực hợp tác với Pháp để duy trì quyền lực ở Đông Nam Á vì Anh hiểu rõ rằng một sự xáo trộn hệ thống thuộc địa ở Đông Nam Á, tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến thuộc địa của Anh ở khu vực này
Trang 37dùng vũ lực tước mất được tái lập lại Những cam kết được tuyên bố trong Hiến chương Đại Tây Dương đã hình dung ra một thế giới được xây dựng trên sự hài
chương Đại Tây Dương xem chừng rất tiến bộ nhưng đó chỉ là thủ đoạn nhằm
điều này cũng cho thấy mối quan tâm của Hoa Kỳ đến Đông Dương đang nằm dưới sự cai trị của Pháp Nó ám chỉ một khái niệm mơ hồ về tự do, dân chủ, hòa
Trang 38niệm ủy trị của Tổng thống Franklin D Roosevelt trong khoảng thời gian vài năm [42, tr 23] Rõ ràng, Hiến chương Đại Tây Dương đã chứng minh rằng,
Đông Dương sau khi chiến tranh kết thúc Bởi Hoa Kỳ cũng là một nước đế
định vị thế của mình, để có thể tồn tại – vì đó là bản chất của chủ nghĩa đế
Dương đã không cho phép Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc chiến mà phải đặt vấn đề tương lai của Đông Dương trong một khung cảnh khác hẳn chiến lược của Hoa
kỳ dự tính trong Chiến tranh thế giới thứ hai Ứng phó với những thay đổi chính
lượng Hoa Kỳ để xác định mong muốn của họ trong cuộc đấu tranh của các dân
Đông Dương thuộc Pháp đã nhận được sự chú ý quan trọng của Hoa Kỳ bởi
Trang 39đồng ý của người Nhật, Hoa Kỳ đã chyển sang chiêu bài đặt Đông Dương, trong
đó có Việt Nam dưới hình thức “ủy trị quốc tế”
Đức – Italia - Nhật, thái độ của Hoa Kỳ trở nên kiên quyết hơn với kế hoạch của Tổng thống Roosevelt về chế độ ủy trị quốc tế nhằm phá thế độc quyền của Anh và Pháp ở Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương Kế hoạch ủy trị là một
vượt quá thẩm quyền của mình trong việc đảm bảo rằng thuộc địa Pháp sẽ được
dường như chỉ mới bắt đầu được đúc kết Bởi sự đảm bảo của Murphy không
thông báo đến nhà lãnh đạo Vichy rằng ông là người bạn tốt nhất của Pháp và được chuyển tiếp bởi Bộ trưởng Cordell Hull, đã khẳng định rằng: “từ Pháp ở
Trang 40Trong giai đoạn đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai, Roosevelt và chính sách
năm 1941, tại thời điểm Hội nghị Đại Tây Dương, Cordell Hull đã ban hành một
Nhưng đến khi Hoa Kỳ chính thức tham chiến, dưới sự lãnh đạo của Tổng
được Roosevelt tâm sự với Elliott, con trai ông, ngay từ những ngày đầu của
Dương đêm nay, nếu chẳng phải là chết cho lòng tham lam thiển cận của Anh,
đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới, Roosevelt muốn các nước phương
khác, chưa có một ý niệm rõ rệt về các nước Đông Dương và vẫn nghĩ rằng Đông Dương là một nước với ba chục triệu dân nghèo và thiếu học Vì vậy, qua
năm, trước khi họ có đầy đủ khả năng và điều kiện độc lập Mặc dù nước Anh
Churchill căm ghét sự xáo trộn hệ thống thuộc địa ở Đông Nam Á [26, tr 131],
người Anh mỗi khi có dịp, về việc các nước Âu châu cần phải chấm dứt chế độ