1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chính quyền chúa nguyễn trong quan hệ thương mại với nhật bản từ thế kỉ xvi đến thế kỉ xviii

163 537 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giao thương giữa Đàng Trong với Nhật Bản mặc dù chỉ phát triển rực rỡ trong khoảng bốn mươi năm đầu thế kỷ XVII, nhưng thông qua hoạt động trao đổi, buôn bán với thương gia N

Trang 1

Cao Th ị Thanh Thanh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi do TS.Trần Thị Thanh Thanh hướng dẫn Các tài liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào trùng với tên đề tài được công bố

Tác giả luận văn

Cao Thị Thanh Thanh

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm khoa Lịch sử, Phòng Sau Đại học và quý Thầy, Cô trong khoa Lịch sử của trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và dạy dỗ trong suốt quá trình học tập tại trường

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin kính gửi sự tri ơn và lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Trần Thị Thanh Thanh, người đã không ngại khó khăn, tận tình hướng dẫn và động viên tôi mọi mặt về tinh thần cũng như những kiến thức quý báu, giúp tôi hoàn thành

luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới thư viện trường Đại học sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học xã hội, Thư viện Khoa học tổng hợp đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những anh chị thân quen trong

lớp Cao học Lịch sử Việt Nam khóa 23 đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ tôi trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Với khả năng hiểu biết còn có hạn, chắc chắn nội dung của luận văn khó tránh

khỏi những hạn chế, khiếm khuyết, kính mong nhận được sự hướng dẫn, góp ý từ quý

Thầy Cô

Xin trân trọng cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 09 năm 2014 Người thực hiện

Cao Thị Thanh Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

L ỜI CAM ĐOAN 1

L ỜI CẢM ƠN 2

M ỤC LỤC 3

DANH M ỤC CÁC BẢNG 5

PH ẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3.1 Mục đích nghiên cứu 12

3.2 Đối tượng nghiên cứu 13

3.3 Phạm vi nghiên cứu 13

4 Nguồn tài liệu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 15

6 Đóng góp của đề tài 15

7 Cấu trúc của luận văn 16

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ ĐÀNG TRONG VỚI NH ẬT BẢN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII 17

1.1 Vai trò của Đàng Trong trong quá trình xác lập và củng cố quyền lực của các chúa Nguyễn 17

1.1.1 Vài nét về xứ Đàng Trong 17

1.1.2 Vai trò của Đàng Trong trong quá trình xác lập và củng cố quyền lực của các chúa Nguyễn 19

1.2 Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu quốc phòng và phát triển thương mại 28

1.2.1 Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu quốc phòng 28

1.2.2 Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu phát triển thương mại 39

Trang 5

CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN TRONG QUAN HỆ THƯƠNG

M ẠI VỚI NHẬT BẢN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII 50

2.1 Hoạt động thương mại với Nhật Bản trong chính sách đối ngoại về kinh tế của các chúa Nguyễn 50

2.2 Chính sách đối ngoại về kinh tế của chính quyền chúa Nguyễn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII 68

2.2.1 Chú trọng phát triển giao thương 69

2.2.2 Cơ quan quản lí và thể lệ ngoại thương ở Đàng Trong 80

2.2.3 Chính sách trưng thu thuế 85

2.2.4 Chính sách tiền tệ và lưu thông tiền tệ 88

2.3 Chính quyền Tokugawa Ieyasu và chính sách đối ngoại về kinh tế của nước Nhật thời kì Edo 93

2.3.1 Chế độ Châu ấn thuyền (1592 - 1635) 93

2.3.2 Chính sách “tỏa quốc” – Sakoku (1636 - 1853) 100

2.4 Vài nét về “Ngoại phiên thông thư”- một tài liệu quan trọng trong mối quan hệ bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn và Nhật Bản 104

CHƯƠNG 3 VỊ TRÍ LỊCH SỬ VÀ VAI TRÒ CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI V ỚI NHẬT BẢN TRONG CHÍNH SÁCH VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGO ẠI CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÀNG TRONG 110

3.1 Đối với nền kinh tế Đàng Trong 110

3.2 Đối với việc củng cố và phát triển quyền lực của các chúa Nguyễn 123

3.3 Đối với tiến trình lịch sử Việt Nam 135

K ẾT LUẬN 147

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 152

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Số thuyền Châu ấn của Nhật tới các nước Đông Nam Á (1604-1635) 53

Bảng 2.2 Số giấy phép chính quyền Nhật cấp thương thuyền Nhật (1604-1634)… 55

Bảng 2.3 Đường nhập vào Nhật Bản (năm 1663) 61

Bảng 2.4 Số lượng Bạc và thuyền Nhật Bản đến Đại Việt (1600-1640) 64

Bảng 2.5 Số ghe thuyền Trung Hoa từ các nước Đông Nam Á tới Nhật Bản 1720) 66

(1647-Bảng 2.6 Bảng thống kê thuyền buôn của Hoa thương từ Đàng Trong đến Ngasaki (1647-1683) 67

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, lịch sử dân tộc Việt Nam chứng kiến sự phân

liệt sâu sắc giữa các tập đoàn phong kiến Năm 1592, cuộc chiến tranh Nam triều - Bắc triều kết thúc cũng là lúc nội bộ Nam triều nảy sinh mâu thuẫn giữa hai dòng họ có công trung hưng triều Lê: họ Trịnh và họ Nguyễn Điều này dẫn tới nước Đại Việt một

lần nữa rơi vào tình trạng chia cắt bởi sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài, với

cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hơn 200 năm Tuy nhiên, trong các thế kỷ này, lịch sử Việt Nam cũng đã bước sang một trang mới, cùng với những thành tựu to

lớn trong công cuộc mở rộng lãnh thổ về phương Nam, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã thiết lập được một nền ngoại thương khá hưng thịnh, tạo nên một nền kinh tế phát triển ổn định trong một thời gian tương đối dài

Sau khi trở về từ Trung đô (1600), Nguyễn Hoàng quyết chí xây dựng một giang sơn riêng cho họ Nguyễn ở phương nam Bằng sự tinh tường về chính trị, trong ứng xử

với họ Trịnh và trong tầm nhìn chiến lược về quyền lực, Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đời sau nhanh chóng xác định cách thức xây dựng thế và lực trên vùng đất

mới Trên cơ sở các thương cảng của vương quốc Champa trước đó, cùng những chính sách thương mại của các chúa Nguyễn, Đàng Trong đã nhanh chóng hòa nhập vào

luồng thương mại quốc tế đang có khuynh hướng mở rộng và phát triển Bên cạnh đối tác truyền thống là Trung Hoa và các nước Đông Nam Á, chính quyền chúa Nguyễn đặc biệt chú trọng mở rộng mối quan hệ giao thương với nước Nhật Bản Có thể nói

Nhật Bản là một trong những đối tác thương mại được chúa Nguyễn coi trọng nhất bấy

giờ

Mối quan hệ giao thương giữa Đàng Trong với Nhật Bản mặc dù chỉ phát triển

rực rỡ trong khoảng bốn mươi năm đầu thế kỷ XVII, nhưng thông qua hoạt động trao đổi, buôn bán với thương gia Nhật, chính sách đối ngoại về kinh tế của các chúa Nguyễn được thực thi một cách triệt để Tính tích cực trong chính sách phát triển ngoại thương là điều kiện thúc đẩy mối quan hệ giao thương giữa Đàng Trong với

Nhật Bản diễn ra một cách tốt đẹp Điều đó đã tạo sự gắn kết giữa thị trường Đàng

Trang 8

Trong với Nhật Bản, khiến nền kinh tế ngoại thương Đàng Trong được kích thích phát triển, tạo một thế đứng chân vững chắc về kinh tế cho chính quyền Phú Xuân

Vì vậy, thực hiện đề tài có thể giúp tác giả rút ra được những khái luận mang ý nghĩa lịch sử về mối quan hệ thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản trong chính sách đối ngoại về kinh tế của chính quyền chúa Nguyễn trong các thế kỷ XVI - XVIII cũng như một thời kỳ duy nhất trong lịch sử phong kiến của dân tộc, kinh tế ngoại thương có sự phát triển rực rỡ ở Đàng Trong Kinh tế Đàng Trong là một hiện tượng đáng nghiên cứu trong lịch sử kinh tế Việt Nam, nhất là lịch sử kinh tế ngoại thương Hơn nữa, việc tìm hiểu chính quyền chúa Nguyễn trong quan hệ thương mại với Nhật

Bản còn góp phần cung cấp cơ sở khoa học, giúp chúng ta có cái nhìn lịch sử về vai trò của nhà nước, chính quyền trong việc đề ra chính sách, biện pháp trong vấn đề phát triển kinh tế ngoại thương của đất nước hiện nay

Xuất phát từ ý nghĩa đó, nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về mối bang giao giữa Đàng Trong với Nhật Bản cách đây 400 năm, qua đó góp phần giữ gìn và phát huy mối quan

hệ truyền thống tốt đẹp giữa Việt Nam với Nhật Bản hiện nay, tác giả luận văn đã

chọn vấn đề “CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN TRONG QUAN HỆ THƯƠNG

MẠI VỚI NHẬT BẢN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII” làm đề tài nghiên

cứu

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Mối quan hệ bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn và Nhật Bản từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, nhất là trên lĩnh vực thương mại vẫn đang là đề tài thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Từ đầu thế kỷ XX đến nay, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước ít nhiều đã đề cập đến các

mảng khác nhau về mối quan hệ bang giao giữa Đàng Trong và Nhật Bản với mức độ chuyên sâu khác nhau được đăng tải trên các tạp chí khoa học Cụ thể:

Đầu thế kỷ XX, Sở Cuồng Lê Dư với “Cổ đại Nam Nhật giao thông khảo” và

Hán văn, số 54 và 56 của quyển IX và quyển X, đã lần lượt giới thiệu 35 bức thư trao đổi giữa chúa Trịnh, chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa in trong tập Ngoại phiên thông thư - An Nam quốc thư Như vậy, có thể nói Sở Cuồng Lê Dư là người Việt

Trang 9

Nam đầu tiên nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời cũng là người đầu tiên giới thiệu những văn thư trao đổi giữa hai nước trong thế kỷ XVII qua nguồn tư liệu Nhật Bản Điều này đã khơi nguồn cho những nhà nghiên cứu

lịch sử tìm hiểu hệ thống văn thư quan trọng này

Đến nửa sau thế kỷ XX, những tác phẩm, bài viết nghiên cứu về mối quan hệ

Việt - Nhật nói chung, Đàng Trong - Nhật Bản nói riêng bắt đầu xuất hiện trên các tạp chí nghiên cứu khoa học Trước hết kể đến Bửu Cầm đã giới thiệu một số di tích của

người Nhật tại Hội An với bài viết “Bang giao lịch sử giữa Việt Nam và Nhật Bản”;

Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) đã phác thảo về mối quan hệ buôn bán của Đàng Trong với Nhật Bản qua bài “Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích tại

1593 là mốc mở đầu mối quan hệ giao thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản và khẳng định vị trí hàng đầu của Hội An trong quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với các nước Đông Nam Á từ bảng thống kê số tàu Nhật đến Đông Dương

Năm 1961, Nhà xuất bản (NXB) Sử học phát hành cuốn “Ngoại thương Việt Nam

học để tìm hiểu về nền ngoại thương Việt Nam nói chung, Đàng Trong nói riêng với các nước, trong đó có Nhật Bản Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến hoàn cảnh trong nước và thế giới tác động đến ngoại thương Việt Nam trong các thế kỷ XVII, XVIII và XIX Trong mối quan hệ buôn bán Việt - Nhật, tác phẩm khái quát các loại hàng hóa, thuế, thể lệ buôn bán giữa hai nước và giới thiệu bức tranh của dòng họ Chaya ở Nhật

Bản thế kỷ XVII Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm

trong “L ịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” cũng đề cập đến quan hệ ngoại thương

Đàng Trong - Nhật Bản và giới thiệu một số di tích của người Nhật ở Hội An Phan Khoang với “Việt sử Xứ Đàng Trong 1558-1777”, cũng khái quát những nét lớn về

quan hệ của chúa Nguyễn với Nhật Bản trong thế kỷ XVII và trích dịch đại ý nội dung các bức thư được Sở Cuồng Lê Dư đăng lên trước đó Đặng Chí Huyển trong “Phổ Đà

Sơn linh trung Phật” giới thiệu một tư liệu văn bia có giá trị để tìm hiểu hoạt động của

Nhật kiều ở Quảng Nam (1640) sau khi Mạc phủ thi hành chính sách “tỏa quốc”

Trang 10

Từ cuối thập niên 1980, quan hệ Việt Nam và Nhật Bản bắt đầu nồng ấm trở lại,

việc học tập, nghiên cứu và trao đổi chuyên môn về ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam và

Nhật Bản được tăng cường, mở rộng Trên cơ sở đó, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học quốc tế liên quan đến mối quan hệ hai nước

Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVI - XVIII Đó là:

Tháng 3.1990, giới sử học hai nước đã mở hội thảo quốc tế về “Đô thị cổ Hội

An”, nơi còn lưu lại nhiều dấu tích về giao thương Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XVII

Hội thảo quốc tế về phố cổ Hội An năm 1990 là cơ hội để các nhà khoa học trong và nước ngoài trao đổi những kết quả nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành Trong 38 bài báo cáo khoa học của các tiểu ban khảo cổ học và văn hóa, lịch sử, kiến trúc và bảo

tồn đã có một số báo cáo liên quan đến vấn đề quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản từ thế

kỷ XVI đến thế kỷ XVIII như Phan Huy Lê với “Hội An: Lịch sử và hiện trạng”; GS

Yoshiaki Ishizawa với “Hội An và cư dân Nhật trước đây”; GS Kawamoto Kuniye,

Thư”; Ogura Sadao với “Về bức tranh Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ và Thác

cổ học và văn hóa để làm sáng tỏ mối quan hệ của Việt Nam - Nhật Bản nói chung, Đàng Trong - Nhật Bản nói riêng trong các thế kỉ XVI - XVIII

Tháng 12.1999, Hội thảo quốc tế “Quan hệ Việt - Nhật qua giao lưu gốm sứ”

được tổ chức tại Hà Nội đã làm sáng tỏ thêm về quan hệ thương mại giữa Việt Nam và

Nhật Bản qua con đường gốm sứ với các bài tham luận của Tsuzuki Shinichiro trong

điều tra khảo cổ ở Nagasaki” của Mori Tsuyoshi Các nhà nghiên cứu của Việt Nam

như Nguyễn Thừa Hỷ và Phan Hải Linh cũng có bài tham luận “Quan hệ thương mại

của các nhà khoa học hai nước Việt Nam và Nhật Bản đã góp phần cung cấp thêm tư

liệu để làm rõ một số vấn đề: kỹ thuật chế tác, đặc điểm gốm sứ và giao lưu hai nước

Trang 11

trong bối cảnh quốc tế, khu vực đang có những chuyển biến lớn về lịch sử, kinh tế xã

hội trong các thế kỉ XV - XVII, bổ sung nhận thức toàn diện hơn nữa về giao lưu Đàng Trong - Nhật Bản qua nguồn tư liệu thành văn và khảo cổ học

Gần đây nhất, tháng 11.2013, nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao

Việt Nam và Nhật Bản (1973-2013) Hội thảo quốc tế với chủ đề “Lịch sử và triển

tại Đà Nẵng Trong số 13 tham luận được trình bày tại Hội thảo, các tham luận: “Lịch

Quang Trung Tiến; “Giao thương đường biển giữa miền Trung Việt Nam và Nhật Bản

của Michizuki Shincho…đã tiếp tục góp phần giải mã thêm mối quan hệ giao thương

giữa Đàng Trong với Nhật Bản trong các thế kỷ XVI - XVIII

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu được công bố trong thời gian gần đây của các tác giả:

trẻ ấn hành là công trình nghiên cứu của Li Tana - một nhà nghiên cứu Việt Nam học người Trung Hoa Nội dung của cuốn sách nói về các chính sách cai trị của chúa Nguyễn, các hoạt động thương mại, hệ thống tiền tệ và ngoại thương của khu vực, giải thích tên gọi một số địa danh ở Đàng Trong Đáng chú ý là tác phẩm đề cập đến hoạt động buôn bán với người nước ngoài ở Đàng Trong, trong đó có Nhật Bản Trong

phần quan hệ ngoại thương với Nhật Bản, tác giả trình bày những hoạt động thư từ qua

lại giữa chúa Nguyễn với chính quyền Mạc Phủ; đưa ra số lượng Châu ấn thuyền đến Đàng Trong thông qua bảng số liệu của Iwao Seiichi; nêu các mặt hàng trao đổi chủ

yếu giữa Đàng Trong với Nhật Bản, thời gian hoạt động của các Shuinsen Tuy đây là

một tác phẩm của một tác giả nước ngoài nhưng cũng đã thể hiện những hiểu biết khá sâu sắc về Đàng Trong

Trang 12

“Quan h ệ Nhật Bản - Việt Nam thế kỉ XVI - XVII”, luận án tiến sĩ chuyên ngành

lịch sử thế giới của Thầy Trịnh Tiến Thuận, Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh Luận

án đề cập đến toàn bộ mối quan hệ của hai quốc gia Nhật Bản và Việt Nam, trong đó

có đề cập đến mối quan hệ Nhật - Việt tại Đàng Trong mà nổi bật là hoạt động thương

mại của người Nhật tại cảng thị Hội An trong các thế kỉ XVI - XVII Đây là một nguồn tài liệu tham khảo quý để tác giả tiếp thu và phát triển thêm đề tài của mình Tuy nhiên, luận án của Thầy chỉ nghiên cứu trong khoảng thời gian thế kỉ XVI - XVII

và trải rộng vấn đề ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài của Việt Nam

Về mối quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản, GS.Nguyễn Văn Kim có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này như “Nhật Bản và Châu Á - những mối liên hệ lịch

của người Nhật trong các thế kỉ XV- XVI tại khu vực Đông Nam Á Tác phẩm gồm có

4 chương, trong đó chương ba “Quan hệ thương mại Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỉ XVI - XVII” trình bày chi tiết về sự xâm nhập của người Nhật vào khu vực Đông Nam

Á (trong đó có Đại Việt), hoạt động buôn bán của các thương nhân Nhật thông qua hệ

thống Shuinsen (Châu ấn trạng) - giấy phép thương mại do Mạc Phủ cấp, cũng như

việc hình thành các “phố Nhật” ở khu vực này (trong đó có Hội An) Tuy tác phẩm không nghiên cứu riêng về quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản nhưng qua mối quan hệ

tổng thể vẫn có được những nét nổi bật của ngoại thương Việt Nam thời kì này, đặc

biệt là vai trò nổi lên của cảng thị Hội An, một cảng trung chuyển mang tầm quốc tế Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ thương mại

giữa Đàng Trong với Nhật Bản của các tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các

tạp chí như Tân Á học báo, Việt Nam khảo cổ tập san, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Nghiên c ứu Nhật Bản và Đông Bắc Á Có thể điểm qua một số bài như: Kikuchi

Seiichi (2003), “Ph ố Nhật Bản ở Hội An qua nghiên cứu khảo cổ học”, Nghiên cứu

lịch sử, số 2, tr 36-47; Miki Sakuraba (Nguyễn Tiến Dũng dịch) (2008), “Đồ sứ Nhật

9+10, tr 87-96; Nguyễn Văn Kim (2002), “Thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỉ

Trang 13

thương Việt Nam thế kỷ XVII- XVIII”, Nghiên cứu kinh tế, số 292, tr.60-68; Nguyễn

Văn Kim (2006), “Về các mối quan hệ, giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam - Nhật Bản

cứu lịch sử, số 7, tr 59-68; …Tất cả những bài viết này đều chủ yếu tìm hiểu về mối quan hệ của Đàng Trong với Nhật Bản, đặc biệt là hoạt động buôn bán của thương gia

Nhật Bản tại Đàng Trong

Như vậy, việc nghiên cứu quan hệ thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản từ

thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII khá phong phú và ngày càng sâu rộng song chưa có tác

phẩm nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá vai trò của chúa Nguyễn trong mối quan hệ thương mại với Nhật Bản, bao quát toàn bộ mối quan hệ tác động, ảnh hưởng lẫn nhau

của hoạt động đối ngoại về thương mại với Nhật Bản trong vấn đề xây dựng và củng

cố quyền lực của các chúa Nguyễn trên vùng đất này Vì vậy, kế thừa thành quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, trên cơ sở hệ thống quá trình hình thành, phát triển của mối quan hệ thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản, luận văn đưa

ra những nhận định thỏa đáng về các nội dung mà những công trình trên chưa đề cập đầy đủ

3 M ục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 M ục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm tìm hiểu chính quyền chúa Nguyễn trong quan hệ thương mại với Nhật Bản từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII Các hoạt động buôn bán, trao đổi giữa thương gia Nhật Bản với Đàng Trong hình thành và phát triển như thế nào? Chính quyền chúa Nguyễn có vai trò gì trong hoạt động thương mại đó? Nó ảnh hưởng ra sao đối với nền kinh tế Đàng Trong ở thế kỷ XVI - XVIII và đặc

biệt là mối quan hệ kinh tế đó đã có vai trò, vị trí lịch sử như thế nào trong việc xác

lập, củng cố chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong Từ đó có thể khẳng định sự lựa

chọn mở rộng giao thương với Nhật Bản không phải một sự ngẫu nhiên trong chính sách “mở cửa” của chính quyền Phú Xuân mà là sự tính toán kỹ lưỡng trên cả hai phương diện kinh tế và chính trị

Trang 14

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu phát triển thương mại và quốc phòng trong quá trình xây dựng, củng cố lực lượng ở Đàng Trong Từ đó giải thích nguyên nhân các chúa Nguyễn lựa chọn mở rộng giao thương với các nước trên thế

giới và khu vực, trong đó có Nhật Bản

- Khôi phục, phát họa bức tranh về mối quan hệ giao thương của thương nhân

Nhật với Đàng Trong Thông qua hoạt động thương mại đó để phản ánh chính sách đối ngoại về kinh tế của chúa Nguyễn cũng như chính quyền Mạc Phủ liên quan đến vấn

đề thương mại Ngược lại, chính sách đó cũng được thực thế hóa qua hoạt động trao đổi buôn bán

- Đề cập vài nét về “Ngoại phiên thông thư”, một tài liệu quan trọng để nghiên

cứu mối bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn với Nhật Bản trong thế kỷ XVII

- Quan hệ thương mại với Nhật Bản có vai trò, ảnh hưởng lớn đến sự khởi sắc

của nền kinh tế Đàng Trong và quá trình xác lập, củng cố chính quyền của họ Nguyễn

ở Đàng Trong cũng như tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam

3.3 Ph ạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Xứ Đàng Trong

- Về thời gian: Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII

4 Ngu ồn tài liệu

Để hoàn thành bài luận văn của mình, tác giả đã đọc, tham khảo và sử dụng một

số nguồn tài liệu sau:

Nguồn tài liệu Địa chí có liên quan đến các vùng Thuận Quảng như: Ô châu cận

liệu này mang đến những thông tin đáng tin cậy về địa danh, nhân vật lịch sử, các phố,

chợ, đường, bến đò, thành lũy…Trong đó, tác giá chú ý khai thác cuốn Phủ biên tạp

bến, thuế chợ và thuế chuyên chở vàng, bạc, đồng, sắt ở hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam và quyển thứ 6 nói về Sản vật và phong tục

Nguồn tài liệu trong các bộ biên niên dưới thời phong kiến cũng được tác giả tham khảo như: Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt

Trang 15

truy ện…Nguồn tài liệu này nói chung ít đề cập đến các hoạt động ở đô thị và tình hình

thương nghiệp nước ta Song, nguồn tài liệu này thỉnh thoảng có ghi chép vài sự kiện

của triều đình có liên quan đến hoạt động thương mại ở một số cảng thị như Hội An,

Đà Nẵng, Thanh Hà…nhất là chính sách của nhà nước quy định đối với thương nhân nước ngoài

Nguồn tài liệu lưu trữ ở nước ngoài, nhất là Nhật Bản liên quan về quan hệ Nhật

- Việt được các dịch giả Việt Nam dịch sang tiếng việt Đáng kể nhất có bộ “Gwaiban shusho” - Ngoại phiên thông thư, là tập văn kiện ngoại giao của Mạc phủ với các nước trên thế giới vào thế kỷ XVII Trong đó, phần “An Nam quốc thư” tập hợp những văn thư trao đổi giữa vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn với chính quyền Mạc Phủ, cũng như các thương nhân Nhật Bản đến buôn bán ở Việt Nam và quan chức Nhật Bản vào

cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII Đây là một tài liệu quan trọng để nghiên cứu mối quan hệ bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn và Nhật Bản bấy giờ

Nguồn tài liệu du ký của người nước ngoài có mặt ở vùng đất Thuận Quảng trong các thế kỷ đó cũng được tác giả đặc biệt quan tâm Tuy đó là những ghi chép riêng lẻ, phiến diện mang tính chủ quan của giới thương nhân, giáo sĩ, sư sãi, quan

chức…nhưng tập hợp lại thì đó là bức tranh đa dạng, phong phú, phản ánh nhiều mặt

về đời sống kinh tế - xã hội của ở Đàng Trong đương thời Điển hình như tác phẩm Xứ

Đàng Trong năm 1621 của Cristoforo Borri; Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, Một

Bên cạnh đó, tác giả còn chú ý tới nguồn tư liệu đã được giới thiệu và công bố trong các công trình khoa học ở trong nước, các cuộc hội thảo quốc tế kể trên Đặc biệt

là các công trình khoa học như các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ có liên quan Ngoài ra, còn có các tài liệu dân tộc học, khảo cổ học liên quan phản ánh một số hoạt động của người Nhật ở Đàng Trong thế kỷ XVI - XVII của các nhà nghiên cứu trong

và ngoài nước

Những nguồn tài liệu trên, được thu thập ở những mức độ khác nhau, đã cung

cấp những thông tin hết sức quý giá giúp cho luận văn được hoàn chỉnh Tuy nhiên,

một số vấn đề do tư liệu hiện có còn hạn chế nên chưa được giải quyết thấu đáo Mong

Trang 16

rằng trong thời gian tới, với những nghiên cứu và phát hiện của các nhà sử học, những

vấn đề này sẽ được sáng tỏ

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mac - Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó đặc biệt chú trọng đến các quan điểm về khoa học lịch

sử Trong quá trình hoàn thành đề tài, tác giả vận dụng một số phương pháp nghiên

cứu sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt mối quan hệ thương mại giữa Đàng Trong

với Nhật Bản trong hệ thống mối quan hệ ngoại giao giữa Đàng Trong với các nước trên thế giới và khu vực để nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic: Ngoài việc trình bày, phân tích và so sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử liên quan mối quan hệ thương mại

của Đàng Trong với Nhật Bản từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, đề tài cố gắng đưa ra

những luận điểm nhận định về mối quan hệ này trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ

- Phương pháp liên ngành: Là một đề tài thuộc lĩnh vực lịch sử quan hệ quốc tế

và lịch sử văn hóa, việc kết hợp hai loại tài liệu khảo cổ học và sử học, trong đó tài

liệu khảo cổ học đã cung cấp nhiều thông tin để có một cách nhìn khách quan và giải quyết vấn đề tốt hơn

6 Đóng góp của đề tài

Qua nội dung nghiên cứu của luận văn được thực hiện trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, tác giả cố gắng đóng góp một số điểm mới:

- Bước đầu dựng lại bức tranh mối quan hệ đối ngoại về thương mại của chính quyền chúa Nguyễn với Nhật Bản để thấy được mối liên hệ giữa hoạt động thương mại

ở Đàng Trong có sự liên hệ mật thiết qua lại hữu cơ với sự quản lý, khai thác của chính quyền chúa Nguyễn Nó vừa phản ánh chủ trương chính sách của chính quyền,

vừa tác động ảnh hưởng trở lại đến các ý đồ, mục đích của chính quyền Đàng Trong

- Trình bày một số đánh giá về vai trò, vị trí của quan hệ thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản trong chính sách đối ngoại về kinh tế của các chúa Nguyễn

Trang 17

- Công trình được nghiên cứu theo chuyên đề, nên có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để phục vụ cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu ở trường đại học về lĩnh

vực quan hệ quốc tế nói chung, cũng như của Đàng Trong với Nhật Bản nói riêng

7 C ấu trúc của luận văn

Tên đề tài của luận văn: CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN TRONG QUAN

HỆ THƯƠNG MẠI VỚI NHẬT BẢN TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Điều kiện lịch sử của quan hệ Đàng Trong với Nhật Bản từ thế kỷ

2.4 Vài nét về “Ngoại phiên thông thư” – một tài liệu quan trọng trong mối quan

hệ bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn và Nhật Bản

Chương 3: Vị trí lịch sử và vai trò của quan hệ thương mại với Nhật Bản trong

chính sách và hoạt động đối ngoại của chính quyền Đàng Trong

3.1 Đối với nền kinh tế Đàng Trong

3.2 Đối với việc củng cố và phát triển quyền lực của các chúa Nguyễn

3.3 Đối với tiến trình lịch sử Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ ĐÀNG TRONG VỚI NHẬT

1.1 Vai trò c ủa Đàng Trong trong quá trình xác lập và củng cố quyền lực

c ủa các chúa Nguyễn

1.1.1 Vài nét v ề xứ Đàng Trong

Xứ Đàng Trong hay Nam Hà là tên gọi của vùng đất từ miền Nam sông Gianh

trở vào nam thuộc sự cai quản của chính quyền chúa Nguyễn Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, trải qua bảy lần đánh nhau bất phân thắng bại trong gần nửa thế kỷ (1627-1672), họ Trịnh và họ Nguyễn phải ngừng chiến, quyết định lấy sông Gianh (tỉnh

Quảng Bình) làm giới tuyến tạm thời chia cắt lãnh thổ thành hai miền Đàng Trong - Đàng Ngoài Từ đó, danh xưng Đàng Trong xuất hiện trong lịch sử Việt Nam để phân

biệt xứ Đàng Ngoài hay Bắc Hà của vua Lê - chúa Trịnh

Lãnh thổ Đàng Trong ban đầu chỉ gồm hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam nhỏ

hẹp gồm 5 phủ: Tiên Bình, Triệu Phong, Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn0F

1 Đến

thế kỷ XVIII, trong quá trình xây dựng và củng cố quyền lực của mình, lãnh thổ Đàng Trong được các chúa Nguyễn không ngừng mở rộng về phía nam, phần lãnh thổ của vương quốc Champa và Chân Lạp Trên lãnh thổ phía Nam sông Gianh đến mũi Cà Mau, chúa Nguyễn chia thành 12 đơn vị hành chính gọi là Dinh Vùng Thuận Quảng

cũ gồm 6 dinh: Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu (hay Chính dinh cũ), Chính Dinh, Quảng Nam Vùng đất mới khai thác chia làm 6 dinh: Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ Ngoài ra có một trấn phụ thuộc là Hà Tiên

Vương quốc Champa là vương quốc của người Chăm, nằm ở phía nam của nước Đại Việt xưa, bao gồm địa phận từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Bình Thuận ngày nay Từ

thế kỷ thứ II đến thế kỷ X, vương quốc Champa trải qua nhiều giai đoạn phát triển hưng thịnh, trở thành một quốc gia có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh Trong các thế kỷ XI - XIV, các vương triều Champa liên tiếp có những mâu thuẫn nội bộ,

1 Đất của tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Bình Định hiện nay

Trang 19

Champa ngày càng suy yếu, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại xâm lược và quấy phá vùng giáp giới với các nước xung quanh, trong đó có Đại Việt, làm hao tổn tiềm lực quốc gia Champa nhiều lần liên kết với Trung Hoa và Chân Lạp tiến đánh Đại Việt Đến thất bại năm 1471, lãnh thổ Champa bị thu hẹp lại chỉ còn một vùng bằng khoảng 1/5 lãnh thổ trước kia, bao gồm địa phận tỉnh Phú Yên đến tỉnh Bình Thuận ngày nay và bị chia thành ba tiểu quốc nhỏ Sau sự kiện này, Champa không còn khả năng khôi phục sự phát triển hùng mạnh như trước

Trong thời các chúa Nguyễn các thế kỷ XVI - XVIII, các phần đất còn lại của Champa dần dần được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong Năm 1611, sau khi đánh bại

lực lượng quân đội Champa xâm lấn biên giới, Nguyễn Hoàng mở rộng ảnh hưởng trên lãnh thổ vùng đất từ Cù Mông đến Thạch Bi, lập phủ mới là phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa thuộc dinh Quảng Nam Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần tiến thêm một bước nữa trên đường tiến vào đất Chiêm Thành khi xác lập

chủ quyền vùng đất từ địa đầu Phú Yên đến bờ tả ngạn sông Phan Rang, đặt hai phủ Thái Khang và Diên Khánh Đến năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu sau khi đánh bại vua nước Champa là Bà Tranh làm phản đã sáp nhập lãnh thổ còn lại của vương quốc Champa vào lãnh thổ Đàng Trong, chỉ để lại cho họ phần đất Thuận Thành và một tước Phiên vương tồn tại thêm một thời gian để đến năm 1697 lập thành phủ Bình Thuận Phan Rang, Phan Rí được đổi thành huyện Yên Phúc và huyện Hòa Đa Triều đình Champa diệt vong Phần lớn cư dân Champa vẫn sống trên quê hương mình, trong sự hòa nhập văn hóa và hòa đồng dân tộc với người Việt Người Chăm trở thành

một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc của nước Đại Việt

Cũng vào đầu thế kỷ XVII, lưu dân người Việt trên đường chạy trốn cuộc nội chiến, bắt đầu di cư đến vùng đất Thủy Chân Lạp, tiến hành khai khẩn tạo nên hai vùng định cư, một tại Đồng Nai (Biên Hòa), một tại Mô Xoài (Bà Rịa) Vùng đất này

ở phía đông nam của nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay), tương đương với vùng đồng bằng Nam bộ nước ta ngày nay, trước đó là lãnh thổ của vương quốc cổ Phù Nam Vương quốc cổ Phù Nam tồn tại đến thế kỷ VII thì bị người Khmer của nước Chân Lạp thôn tính Sau khi chiếm được lãnh thổ vương quốc Phù Nam, người Khmer

đã không tiếp tục xuống phía Nam mà chỉ dừng lại sinh sống trên vùng đất thuộc lãnh

Trang 20

thổ Campuchia ngày nay Chính quyền Chân Lạp cũng không thể kiểm soát được vùng đất này Vì vậy, vùng đất này bấy giờ gần như vô chủ và chỉ là những vùng đầm lầy, đất chua phèn, đầy rẫy muỗi, cá sấu, cọp beo Đến khi những lưu dân người Việt dần

dần tiến xuống phía Nam khai phá, vùng đất này dần trở thành vùng đồng bằng trù phú Từ thời điểm đó, các chúa Nguyễn đã sử dụng nhiều đối sách khác nhau, có khi dùng sức mạnh quân sự để đánh đuổi kẻ thù và phòng thủ từ xa, có khi bằng biện pháp ngoại giao khôn khéo, có khi tiếp nhận đất đai do sự “trả ơn” một cách tự nguyện hay

nhờ tạo điều kiện thuận lợi của một cuộc “hôn nhân chính trị” để sáp nhập vùng đất

Thủy Chân Lạp vào lãnh thổ Đàng Trong, hoàn thành quá trình mở rộng xuống phía nam xuất phát từ vùng núi Hoành Sơn của nhà nước phong kiến Đại Việt

Như vậy, trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam của nhà nước phong kiến Đại Việt, hai quốc gia Champa và Chân Lạp ngày càng suy yếu và lãnh thổ dần dần sáp nhập vào lãnh thổ của nước Đại Việt Theo Li Tana đây là một vùng đất mà mọi người thường gọi là “vùng đất mới”, bao gồm lãnh thổ thuộc các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ ngày nay Là một dải đất dài và hẹp, nằm giữa núi và biển, được chia thành ba vùng tự nhiên khác nhau:

“Vùng th ứ nhất, ngày nay là Quảng Nam, là một đồng bằng phì nhiêu, khoảng

lũng của vùng đất này được sử dụng nguồn nước của hai con sông Đà Rằng và Lai Giang

10 coi đây như là một quốc gia riêng biệt” [80,tr.22]

1.1.2 Vai trò c ủa Đàng Trong trong quá trình xác lập và củng cố quyền lực

c ủa các chúa Nguyễn

Vào đầu thế kỷ XVI, triều Lê lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội đó nổi dậy cướp ngôi và lập ra nhà Mạc Các cựu thần nhà Lê,

Trang 21

đứng đầu là Nguyễn Kim đã chiêu mộ nghĩa binh âm mưu khôi phục nhà Lê Năm

1533, để danh chính ngôn thuận, Nguyễn Kim tôn Lê Ninh lên làm vua, gây dựng sự nghiệp Công cuộc trung hưng nhà Lê mới bắt đầu có thanh thế thì Nguyễn Kim đột

ngột qua đời Sau khi Nguyễn Kim mất, toàn bộ quyền bính rơi vào tay Trịnh Kiểm - con rể của Nguyễn Kim Từ đây, dòng họ Trịnh bước lên vũ đài chính trị, từ một dòng

họ nghèo khó trở thành “phi vương phi bá quyền khuynh thiên hạ” Trịnh Kiểm lo sợ trước công trạng ngày càng lớn của anh em Nguyên Uông và Nguyễn Hoàng đã sinh lòng nghi kỵ, sát hại Nguyễn Uông Trước tình hình đó, Nguyễn Hoàng hết sức lo lắng

và tìm cách thoát thân, ông bàn với thái phó Nguyễn Ư Kỷ, được Ư Kỷ khuyên: “Kiểm

mình được Vậy nên nhờ chị là Ngọc Bảo (Ngọc Bảo là con gái Triệu Tổ, và là Chánh

Bỉnh Khiêm thì được khuyên rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (nghĩa là

Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được) Hiểu được gợi ý đó, Nguyễn Hoàng nhờ chị mình là Ngọc Bảo xin cho mình trấn thủ đất Thuận Hóa

Trịnh Kiểm đã tâu lên vua Anh Tông xin cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, Lê

Quý Đôn ghi lại sự kiện này trong Phủ biên tạp lục như sau: “Anh Tông, năm Chính trị

Hoàng đem quân bản dinh đi trấn thủ Thuận Hóa để phòng giữ giặc phía đông, cùng

phương không cứ lớn nhỏ, quân dân thuế khóa đều giao cả Họ Nguyễn có đất Thuận

nhậm chức Trấn thủ Thuận Hóa với quyền hạn rộng lớn “phàm mọi việc ở địa phương

Thuận Hóa là những người thân thuộc của dòng họ và những trung thần của nhà Lê Li Tana ghi lại như sau: “Họ là những trung thần của nhà Lê Một gia phả ở Quảng Nam

1619, Lê Duy Tri và tùy tùng đã tới trốn ở huyện Đông Sơn, Thanh Hóa và ở xã Thanh

Trang 22

Châu, ph ủ Điện Bàn, Quảng Nam năm 1623 Cũng chính Tiền Biên đã ghi là một số

Đến năm 1570, Nguyễn Hoàng được kiêm luôn chức trấn thủ Quảng Nam, vùng đất biên viễn Quảng Nam với vùng đất cực nam là huyện Tuy Viễn thuộc phủ Hoài Nhân (nay là Tuy Phước, Bình Định), bên kia đèo Cù Mông là nước Champa Sự kiện

này được Lê Quý Đôn chép lại trong Phủ biên tạp lục như sau: “Năm thứ 11 (1568),

Đoan quận công kiêm hành chức thống suất tổng trấn tướng quân hai xứ Thuận

Nguyễn Hoàng là người có tầm nhìn chiến lược, hiển nhiên ông hiểu được những khó khăn, thách thức đồng thời cơ hội đang và sẽ đặt ra đối với bản thân khi tiến vào vùng đất này Bởi dường như phần đất bên kia “Hoành sơn” là nơi “đáng sợ hơn đáng ở”, là “chỗ đất hiểm trở xa xôi”, nhưng đó lại là vùng đất tự do, “miền đất hứa”, một

“tân thế giới” Vùng đất này sẽ trở thành một phương trời mới để dung thân và tạo lập

cơ nghiệp cho dòng họ Nguyễn trong bối cảnh xảy ra cuộc chiến tranh khốc liệt về quyền lực giữa hai dòng họ: họ Trịnh và họ Nguyễn Đây chính là một suy tính lâu dài,

một tính toán mang tính chiến lược của một con người có tài “kinh bang tế thế” Lời khuyên của Nguyễn Ư Kỷ cùng lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến cho Đoan quận công đi đến quyết định cuối cùng Vì vậy, nhân lúc Trịnh Kiểm còn đang mải đối phó với quân Mạc ở mặt Bắc, không thể trực tiếp khống chế, kiểm soát được vùng đất Thuận Quảng, nơi mà dưới con mắt của chính quyền Lê Trịnh chỉ là

một vùng đất “ô châu ác địa”, đầy bí hiểm và luôn chất chứa các mối hiểm nguy đáng quan ngại, Nguyễn Hoàng đã “lập tức tâu với chị” để mình có thể được ra đi tránh xa

“móng vuốt” của Trịnh Kiểm, đảm bảo được tính mạng

Vùng đất Thuận Hóa thời Nguyễn Hoàng mới đến trấn nhậm gồm hai phủ Tiên Bình (xưa là Tân Bình) và Triệu Phong, trải dài từ châu Nam Bố Chính ở phía Nam sông Gianh cho đến Điện Bàn, phía bắc Quảng Nam ngày nay Bấy giờ đây là nơi ác

Trang 23

địa và là một vùng rất khó trị an vì lòng dân nơi dây phản trắc khó lường Đây còn là vùng đất mới còn lam sơn chướng khí, lại thêm quân nhà Mạc thường xuyên lui tới

quấy rối, lòng dân chưa thực sự hướng về phía vua Lê, một số còn ngả theo họ Mạc,

rất nguy hiểm Đã thế thành phần nhân dân vùng này thực phức tạp Phần đông là hạng lưu dân, quan quân bất mãn họ Trịnh, thổ hào, thổ tù quen tánh hung bạo, ương ngạnh, phóng túng, buông lung, lại từng được dung dưỡng cái không khí hỗn loạn qua bao nhiêu biến cố dồn dập, kế tiếp nên họ bất chấp cả kỷ cương, pháp lệnh Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi lại trong Đại Nam thực lục: “Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều

thời gian sống ở Đàng Trong (1618-1622), đã ghi nhận về sự phức tạp đó: “Xứ Đàng

mươi dặm Ý, đất bằng, một bên là biển và một bên là dãy núi chạy dài có Kẻ Mọi ở,

Tuy nhiên, vùng đất Thuận Hóa lại có một vai trò và vị trí hết sức quan trọng, chính Trịnh Kiểm đã nói: “Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, thời

xưa quốc triều ta bắt đầu gây dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc

[28,tr.185] Đây là nơi có địa hình rất thuận lợi cho việc phòng thủ: phía tây là dãy Trường Sơn với những núi cao như Đâu Mâu, Thần Đinh có thể quan sát dễ dàng và phát hiện kẻ thù từ xa Đặc biệt, núi Hoành Sơn là một dải núi ở phía tây giăng ngang

ra tới tận biển, trông như bức trường thành Phía đông là biển với những đoạn bờ biển khúc khuỷu có nhiều cửa sông tạo thành nhiều vịnh sâu kín gió Đoạn bờ biển này có nhiều bãi cát và cồn cát kéo dài, một phần được phù sa bồi lắp, tạo thành chuỗi đồng

bằng hẹp ven biển - chân núi Ngoài ra, còn có nhiều sóng to gió lớn nên hình thành

Trang 24

nhiều đụn cát cao, có nơi còn di động Nhiều đầm phá chưa bị bồi lấp, dài nhất là phá Tam Giang, rộng nhất là đầm Cầu Hai

Vùng Thuận Hóa còn có nhiều sông, phát nguồn từ dãy Trường Sơn và cao nguyên phía Tây Sông ngắn, độ dốc đổ ra biển Đông, tạo thành nhiều cửa khẩu và thương cảng Cửa biển Nhật Lệ với nước sâu dễ dàng cho tàu thuyền ra vào, đây là

một trong những con đường mà thế lực Đàng Ngoài tiến vào để đánh chúa Nguyễn vì

nếu vượt qua được phòng tuyến cửa biển Nhật Lệ thì có thể cho thuyền đi sâu vào đất

liền với con sông Nhật Lệ Trên đường bộ thì có sông Gianh ngăn trở bước tiến của quân Trịnh từ bắc vào Điều đáng nói ở đây là sông Gianh nối liền với biển cả, với cửa

biển rộng, tương đối sâu, dễ dàng cho thuyền ra vào Hơn nữa, phía tây là thượng nguồn với rừng núi rậm rạp, từ đây có thể đi qua nước Lào Sách Đại nam nhất thống

chí dưới triều Nguyễn đánh giá cao về hình thế nơi đây: “núi cao thì có núi Đâu Mâu,

trường thành Định Bắc, thành đặt hai cửa quan có thêm phần hiểm trở, ngoài có một

sư” [99,tr.13-14]

Không chỉ Thuận Hóa, mà Quảng Nam cũng là một vùng đất được Nguyễn

Hoàng cho là nơi “đất tốt, dân đông, sản vật giàu có” [100,tr.35] Sau khi từ Đông Đô

trở về, để chuẩn bị cho công việc hưng khởi nghiệp lớn, Nguyễn Hoàng đã bắt đầu chú

trọng đến vùng đất Quảng Nam Năm 1601, Nguyễn Hoàng có một cuộc kinh lý đến vùng đất phía Bắc đèo Hải Vân Khi đặt chân lên Ải Vân quan, ngắm xem địa hình địa

vật, cảnh trí núi sông, với cặp mắt của một người khá sành về phong thủy, với cái nhìn

của một Tổng trấn tướng quân nặng mang hoài bão kiến tạo nghiệp vương, nghiệp bá, Tiên chúa Nguyễn Hoàng hẳn phải nhận rõ được tầm quan trọng và những ưu thế của

trấn này, nhất là của vùng thuộc phần đất Quảng Nam, Quảng Tín hiện nay, về mặt quân sự, hành chính cũng như kinh tế Đó là những ưu thế về tài nguyên, vật lực để có

thể chặn đứng được các cuộc tấn công của họ Trịnh ở phía Bắc xuống và là nơi có thể

tạo bàn đạp cho cuộc Nam tiến mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam Tác giả Phan Du

Trang 25

nhận xét trong sách “Quảng Nam qua các thời đại”: “Muốn gây nghiệp lớn, trong cái

đứng mọi cuộc tiến chiếm của quân Trịnh từ phía Bắc tràn xuống, và mặt khác, vừa

Vì vậy, vị trí của Dinh trấn Quảng Nam đã được khéo chọn bởi nó hội tụ đầy đủ các yếu tố đáp ứng mục tiêu trên Nguyễn Hoàng đã cho lập Dinh Trấn mới tại xã Cần Húc huyện Duy Xuyên hay xã Thanh Chiêm, huyện Diên Phước1

2 và giao cho Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam Đại Nam thực lục đã cho biết rằng:

[100,tr.36] và Đại Nam nhất thống chí tỉnh Quảng Nam cũng có ghi chép sau: “Quốc

đã bắt đầu giữ một vai trò lịch sử khá quan trọng trong quá trình xác lập quyền lực cũng như công cuộc Nam tiến của họ Nguyễn ở phương Nam Nó không chỉ là một trung tâm chính trị và hành chính quan trọng, mà còn có vị trí quan trọng về mặt quân

sự Được thiết lập trên bờ một con sông lớn nối liền vùng cao với đại dương theo chiều Đông - Tây, lại nằm chính giữa trục giao thông quan trọng nhất là đường quan lộ Nam

Bắc, không quá thế thủ bằng cách tựa sâu vào núi non, cũng không chênh vênh ở ngoài bãi bể để quá đối diện trực tiếp với biển Có thể nói, đó là một địa điểm lý tưởng cho

sự phòng thủ Nơi đây trở thành một căn cứ thủy, lục quân hùng mạnh vào bậc nhất

của Đàng Trong, không kém gì Quảng Bình hay Thuận Hóa Chính lực lượng từ Dinh

trấn đã yểm hộ một cách đắc lực cho kinh đô và tiếp cứu cho Quảng Bình, chặn đứng các cuộc tấn công của họ Trịnh, đồng thời tạo nên một vùng an ninh để phòng có chỗ

2 Nay là thôn Thanh Chiêm, xã Vĩnh Thọ, huyện Điện Bàn

Trang 26

lui binh khi cần thiết [21,tr.62] Ngoài ra, từ Dinh trấn này, chính quyền Đàng Trong

đã tạo dựng được bàn đạp để phá tan các cuộc cướp bóc, quấy nhiễu của các toán hải

khấu cũng như thế lực phương Tây đe dọa an ninh

Năm 1613, biết mình đã già yếu, khó sống lâu thêm nữa, Nguyễn Hoàng đã cho triệu người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên, đang làm trấn thủ Quảng Nam về dinh

căn dặn: “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Linh Giang hiểm trở,

đủ xây dựng cơ ngơi muôn đời, còn nếu thế lực không địch được thì cố giữ vững đất đai chờ cơ hội, chứ đừng bỏ quên lợi dặn của ta” [100,tr.37] Qua lời dặn của chúa

Tiên Nguyễn Hoàng với con trai Nguyễn Phúc Nguyên, có thể cảm nhận được trong

suốt thời gian trấn thủ vùng đất từ Thuận Hóa đến Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã

nhận thức được vị trí và vai trò của xứ này đối với việc xây dựng và củng cố thế lực

của họ Nguyễn Và ta cũng nhận thấy được tham vọng của Nguyễn Hoàng khi nuôi chí

mở rộng lãnh thổ để gây dựng cơ nghiệp ở xứ Đàng Trong Khi nhìn về phương Nam, Tiên chúa Nguyễn Hoàng không thể không ủ ấp cái mộng kiến lập nghiệp lớn bằng

những nỗ lực mở rộng bờ cõi thêm nữa với chủ trương Nam tiến, nơi mà các triều đại trước như Lý, Trần, Hồ, Lê sơ đã hướng về

Thực hiện lời di huấn của Nguyễn Hoàng, các chúa Nguyễn kế vị đã biết dựa vào

lợi thế địa chiến lược của vùng đất Thuận Quảng để phát huy hiệu quả chính sách quốc phòng của mình Vị trí, địa thế hiểm trở đó được các chúa Nguyễn hết sức chú trọng trong đối sách chống lại thế lực họ Trịnh ở Đàng Ngoài Các chúa Nguyễn đã cho xây

dựng các lũy bảo vệ như lũy Trường Dục, lũy Nhật Lệ, lũy Trường Sa…tạo thành một

hệ thống lũy kiên cố, chặn đứng hiệu quả những lần tấn công của quân Trịnh Giáo sĩ Christophoro Borri ghi nhận: “Sãi vương vội vàng dựng một vài công sự phòng thủ ở

Trang 27

phân n ửa châu Bố Chính mà cha ông đã cai quản, nhưng rồi về sau họ Trịnh lấy lại

tưới nước cho vùng bắc Quảng Bình” [103,tr.131]

Không chỉ là vùng đất có vị trí chiến lược, Thuận Quảng còn là vùng đất nhân hòa Những cư dân bản địa phần nhiều từ Thanh Nghệ vì bất mãn chế độ hà khắc của chúa Trịnh mà vào lập nghiệp, có lúc đã nổi loạn Vì thế, khi Nguyễn Hoàng xuất hiện,

nhờ uy danh của Nguyễn Kim và chiến công chống Mạc của Đoan quận công, nhân dân đã đồng tình ủng hộ Tương truyền lúc ông đến Ái Tử, nhân dân đã dâng lên 7

chum nước trong, Nguyễn Ư Kỷ mừng rõ nói: “Đấy là phúc trời cho đó Việc trời tất

có điềm báo Nay chúa thượng mới đến mà dân đem “nước” dâng lên, có lẽ là điềm

“được nước” đó chăng?” [101,tr.64] Điều này cho thấy người dân nơi đây rất hy

vọng vào vị quan trấn thủ này

Tuy nhiên, đây là nơi những dư đảng nhà Mạc vẫn còn hoạt động và thường xuyên quấy phá nhân dân, chống lại chính quyền vua Lê Đoan quận công phải khai hóa họ, buộc họ phải yên ổn làm ăn, khiến họ tùng phục mình là công việc không phải

dễ dàng Do vậy, công việc thiết yếu đầu tiên của họ Nguyễn là ổn định trật tự xã hội, thu phục nhân tâm, Quốc sử quán triều Nguyễn chép lại trong Đại Nam thực lục như

sau: “…Chúa v ỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến

kiểu thể chế quân sự của ông có kỷ luật nghiêm minh, chưa từng xâm hại đến lợi ích dân chúng Đường lối chính sách khoan hòa, rộng rãi đó đã khiến các tầng lớp dân chúng đều tin yêu, khâm phục và thường gọi ông là chúa Tiên Chỉ trong một thời gian

ngắn, vùng đất thường xảy ra các cuộc nổi loạn này đã được dẹp yên, Lê Quý Đôn,

người đứng trên lập trường của họ Trịnh cũng không thể không ca ngợi: “Đoan quận

công có uy lược, xét kỹ nghiêm minh, không ai dám lừa dối Cai trị hơn mười năm,

Như vậy, mục đích của Trịnh Kiểm đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa vì nghĩ với điều kiện khắc nghiệt nơi đây, Nguyễn Hoàng sẽ chẳng làm gì được Hơn

Trang 28

nữa, Trịnh Kiểm là muốn dùng Nguyễn Hoàng giữ vị trí phòng ngự nơi đây để họ

Trịnh rảnh tay tấn công quân Mạc ở miền Bắc: “Như vậy thì một khoảng xứ Ô Châu,

thời, Trịnh Kiểm còn muốn nhân cơ hội này các thế lực ở đây trong đó có quân Mạc

để giết chết Nguyễn Hoàng, như sử cũ đã ghi: “Mưu của Kiểm sai Hoàng vào trấn thủ

ở đó là có ý muốn mượn tay họ Mạc để giết Hoàng Tâm địa của Kiểm như thế, nhưng đạo trời không phải thế” [17,tr.44] Có lẽ, Trịnh Kiểm nghĩ rằng đày người em vợ của

mình vào vùng “ô châu ác địa” để tống khứ địch thủ Kế sách “lấy độc trị độc” của

Trịnh Kiểm cũng thật độc đáo Nhưng thực tế, Trịnh Kiểm đã “cho không Nguyễn

địa lời, nhân hòa” mà các chúa Nguyễn có thể tận dụng để xây dựng, củng cố thế lực riêng, dần tách khỏi sự lệ thuộc chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài

Tóm lại, xuất phát từ ý đồ cát cứ, xây dựng thế lực riêng trên vùng đất Thuận

Quảng nên từ khi Nguyễn Hoàng vào, ông đã nhanh chóng tận dụng những lợi thế của nơi đây để ra sức củng cố thế lực, xây dựng thế phòng thủ, song song với việc đẩy

mạnh phát triển kinh tế, làm chỗ dựa vững chắc cho dòng họ mình sau này chống lại chúa Trịnh, thiết lập nên vương triều riêng Dù bề ngoài ông vẫn giữ đầy đủ quan hệ thân thuộc với chính quyền vua Lê - chúa Trịnh, giúp họ Trịnh tiêu diệt nhà Mạc nhưng bên trong ông đã lo khai thác vùng Thuận Quảng thành một khu kinh tế độc lập làm cơ sở cho việc cát cứ lâu dài và củng cố địa vị thống trị ở đây Đồng thời, cũng bắt đầu từ sự kiện năm 1558, khi Nguyễn Hoàng lập cơ đồ trên vùng đất Thuận Hóa, đã

mở ra một “thời kì của những thế hệ đã có một tinh thần tiến thủ và ý chí khai thiết

đặc biệt trong lịch sử dân tộc, thời kì của những công trình mở rộng cương thổ trên

hiện tại cho dân tộc Việt Nam Từ đó, cuộc tiến xuống phía nam trở thành một phong trào trọng yếu

Từ vùng đất Thuận Hóa ban đầu chính là nơi “dung thân” cho Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hoàng vào đây chỉ để giải quyết được vấn đề tiên quyết của bản thân là tránh

Trang 29

họa sát thân nếu còn ở lại Trung đô mà thôi Như theo GS Trần Quốc Vượng nhận

định: “Thoạt kỳ thủy, đấy chỉ là một sự trốn tránh, một sự chạy trốn để bảo toàn tính

bế tắc ở giữa thế kỷ XVI, việc Nguyễn Hoàng chọn Thuận Hóa hoàn toàn không phải

là sự lựa chọn cho riêng của cá nhân, hay một mưu đồ cá nhân, mà có sự tham vấn của

bậc tri thức hàng đầu đất nước Nguyễn Bỉnh Khiêm, được sự chấp nhận và ủy thác của

cả chúa Trịnh và vua Lê, trong sự ủng hộ của nhiều cựu thần nhà Lê và nhất là sự hưởng ứng của đông đảo dân chúng hai vùng Thuận Hóa và Thanh Nghệ Đây rõ ràng

là một sự lựa chọn công khai và chuẩn xác Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn kế vị

đã từng bước xác lập và củng cố quyền lực của dòng họ Nguyễn trên vùng đất Đàng Trong này Qua thực tế cai trị “vùng đất Thuận Quảng đã mang lại cho Nguyễn Hoàng

[100, tr.28] và chỉ cần “dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh” là có thể đạt

được mộng vương bá ở phần đất phía Nam

1.2 Nh ận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu quốc phòng và phát triển thương mại

1.2.1 Nh ận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu quốc phòng

Sau khi đến Thuận Hóa, với danh nghĩa trấn giữ vùng đất phía nam Đại Việt, nhưng trong ý đồ của Đoan quận công khi chọn vùng đất này đã nghĩ đến việc xây

dựng thế lực lâu dài cho dòng họ Vì vậy, Nguyễn Hoàng đã trù tính nhiều cách để xây

dựng nghiệp chúa trên vùng đất mới Ông đã cùng Thái phó Nguyễn Ư Kỷ, Uy quốc công Mạc Cảnh Huống, Luân quận công Tống Phước Trị và các quan tam ty của nhà

Lê còn lưu dụng, tất cả đã hợp sức quy hoạch phương thức cai trị và phòng thủ Nhận

thấy bộ máy hành chính có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ thế lực của mình nên các chúa Nguyễn đã xây dựng, củng cố một bộ máy chính quyền họ Nguyễn có

thể với tay tận các làng xã

Trang 30

Công việc đầu tiên của Nguyễn Hoàng là chọn Ái Tử2

3 để đặt phủ dinh, còn

“quan l ại tam ty do nhà Lê đặt đều phải theo lệnh chúa” [100,tr.28], nghĩa là thuộc

tướng ở ba ty đều do họ Trịnh cắt đặt và bắt đầu quy hoạch đường lối cai trị của mình

Lí giải về việc này, tác giả Phan Thuận An cho rằng: “Phải chăng vì địa bàn Ái Tử lúc

mang tính sách lược chính trị, nhằm tránh khỏi những va chạm không cần thiết và

đất Ái Tử này là nơi để Nguyễn Hoàng hoàn toàn thuận lợi thực hiện sách lược đầu tiên trong chiến lược đối ngoại, là vừa làm tốt chức trách của một vị quan trấn thủ, mở mang vùng đất mới, vừa bắt tay xây dựng trên “bãi đất trống” một căn cứ địa, một vùng đất khởi nghiệp Đây cũng là nơi Nguyễn Hoàng đồng thời thực hiện chính sách thu phục nhân tâm, dựa vào lòng dân ở vùng đất mới để xây dựng thực lực, chuẩn bị cho một kế sách lâu dài

Năm 1570, với cương vị mới được bổ nhiệm, Nguyễn Hoàng đã rời Thanh Hóa

trở lại vùng đất Ái Tử, đảm nhận vai trò Tổng trấn tướng quân trấn giữ vùng Thuận

Quảng, kéo dài từ Quảng Bình đến Phù Yên ngày nay Không lâu sau, Nguyễn Hoàng quyết định chuyển dịch dinh trấn sang làng Trà Bát, ngôi làng nằm gần Ái Tử, chếch

về phía đông bắc3

4 Chính quyền vẫn giữ nguyên đơn vị hành chính cũ của họ Trịnh Theo đó, xứ Thuận Hóa gồm 2 phủ, 9 huyện, 3 châu; Quảng Nam gồm 3 phủ, 9 huyện Đặt dinh trấn mới ở Trà Bát thực chất là mở rộng quy mô của vùng đất khởi nghiệp ban đầu ở Ái Tử, tạo thế liên hoàn Ái Tử - Trà Bát để có điều kiện phát triển quy mô

của dinh trấn

Cùng với chiến lược trên, trong quá trình xây dựng và củng cố quyền lực ở Đàng Trong, Nguyễn Hoàng luôn giữ vai trò và chức phận của kẻ bề tôi một cách khôn khéo

3 Nay thu ộc xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị

4 Nay là hai làng Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, xã Triệu Quang, huyện Triệu Phong

Trang 31

vì lượng thấy thế và lực chưa đủ để có thể đoạn tuyệt và đương đầu với chính quyền

Lê - Trịnh Ông hiểu rằng với danh nghĩa là An Nam đô thống sứ ty đô thống sứ (1598), rồi An Nam quốc vương (1647) thời Minh và vua Lê vẫn được tái phong An Nam quốc vương năm 1667 dưới triều Thanh, về danh nghĩa vua Lê vẫn là người đại

diện duy nhất cho chính thể

Năm 1569, Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa yết kiến vua Lê Anh Tông (1557-1573)

ở hành cung An Trường và “đến phủ Thượng tướng (phủ của Trịnh Kiểm) lạy mừng,

một tháng lại bị bệnh nặng “phải dâng biểu xin thôi binh quyền, lời ý khẩn thiết”

[82,tr.865], vua Lê phải “đặc sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối đốc lĩnh các

cho quyền lực của cha con họ Trịnh Có lẽ vì thế, đầu năm Canh Ngọ (1570), chúa

Trịnh Kiểm đã dâng biểu xin vua Lê cho gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh về trấn thủ Nghệ An và giao Nguyễn Hoàng kiêm cai quản cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, tạo cớ để Nguyễn Hoàng phải rời khỏi Thanh Hoa,

nhằm củng cố quyền lực độc tôn của dòng họ Trịnh bên cạnh vua Lê Nhưng đối với Nguyễn Hoàng, có thể coi đây là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược bởi chính quyền Đàng Trong không chỉ có danh nghĩa chính thức để mở rộng hơn nữa ảnh hưởng về phía nam, mà còn tạo thêm được thế phòng thủ có chiều sâu cho một chủ trương chiến lược Trong thực tế, sự kiện trên cho thấy họ Nguyễn đã làm chủ được một trung tâm kinh tế quan trọng nhất miền Trung, một không gian đồng bằng tương đối rộng lớn,

một vùng đất có tài nguyên phong phú, một cảng biển giàu tiềm năng, từng nổi tiếng

thời kỳ Champa ở vùng cửa sông Thu Bồn

Mặc dù đã phần nào khẳng định được thế đứng chân trên vùng đất mới nhưng Nguyễn Hoàng vẫn tiếp tục chủ trương thực hiện đường lối hòa hiếu với chính quyền

Lê - Trịnh Trong tờ biểu Trịnh Kiểm dâng lên vua Lê Trung Tông, việc cử Nguyễn

Hoàng đi trấn đất Thuận Hóa là để bình định vùng miền Nam trọng yếu, “phòng ngừa

[29,tr.55] Và trong thời gian đầu, “Chúa xuống lệnh thu thuế cho đi giúp quân phí,

Trang 32

chưa từng để thiếu thốn” [100,tr.32] Không những vậy, Nguyễn Hoàng còn đem quân

giúp triều đình nhà Lê đánh dẹp những dư đảng của nhà Mạc Chẳng hạn, năm 1572, tướng nhà Mạc là Mạc Lập Bảo đem quân đánh Thuận Quảng Nguyễn Hoàng đã dùng

mỹ nhân kế và giết được Mạc Lập Bảo, đánh tan quân nhà Mạc Nhờ lập được công

lớn trong việc dẹp yên dư đảng của họ Mạc mà ông được vua Lê ban thưởng và phong thêm chức tước Năm 1573, vua Lê phong cho Nguyễn Hoàng lên chức Thái phó, sai ông phải chứa thóc để sẵn ở vùng biên ải và hàng năm đem nộp về triều đình 400 cân

bạc, 500 tấn lụa Năm 1593, Nguyễn Hoàng còn đem một đội binh lực mạnh ra Thăng Long để cùng các con trai giúp Trịnh Tùng trấn áp tàn quân của nhà Mạc, giúp vua Lê bang giao với nhà Minh, đồng thời dâng nạp sổ sách về binh lương, của cải, vàng bạc, châu ngọc, kho tàng của hai trấn Thuận - Quảng về nộp Hành động đó của Nguyễn Hoàng cho thấy, bề ngoài ông vẫn rất trung thành với Vua Lê và nộp đủ mọi khoản thuế thu, cống nộp mà vua Lê yêu cầu Nhưng thực chất những hành động đó của Nguyễn Hoàng chỉ vì mục đích che mắt họ Trịnh, với mưu đồ gây dựng cho họ Nguyễn một cơ nghiệp ở phía Nam đủ sức để đối đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài Điều đó làm cho họ Trịnh ít ngờ vực hơn, do vậy Trịnh Tùng đã dâng biểu xin phong cho ông làm Tả đô đốc Trung quân phủ, Thái úy Đoan quốc công Sau đó sai ông đem quân đi đánh dẹp tàn dư của họ Mạc ở Sơn Nam và Hải Dương Lúc bấy giờ Nguyễn Hoàng đang rất nôn nóng để trở về Thuận Hóa, nhưng Trịnh Tùng tìm cách để giam chân ông trên đất Bắc, nên cứ luân chuyển ông đi đánh giặc hết chỗ này tới chỗ khác Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim có viết: “ở hàng 8 năm, giúp Trịnh Tùng

để đánh họ Mạc, lập được nhiều chiến công Nhưng mà Trịnh Tùng vẫn có ý ghen ghét

Trang 33

có vấn đề gì nên cho Nguyễn Hoàng đem quân đi đánh dẹp Sau khi được Trịnh Tùng cho phép, Nguyễn Hoàng liền đem cả tướng sĩ thuyền ghe bản bộ, đến cửa Đại An, ông liền cho đốt hết doanh trại, xin Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khê nhường cho một số thuyền bè rồi đem quân lên thuyền rút hết vào Nam

Sau sự kiện này, họ Trịnh rất tức giận, đã triệu Đình Ái về quát mắng thậm tệ, và

viết thư vào nam cho Nguyễn Hoàng, khuyên Nguyễn Hoàng nhận lỗi và chở thóc lúa, vàng bạc ra Bắc cống nộp, lấy công chuộc tội Bức thư có đoạn: “Nhiều lần gửi thư

lương thực để giúp việc chi dùng của nước, cậu thường lấy cớ đường biển giản hiểm

người mang thư đến hành tại bái bẩm, rồi đốc nộp tiền thuế…lấy công chuộc tội…Nếu

Trước những lời “trách tội” của Trịnh Tùng, Nguyễn Hoàng đã có chiến thuật

mềm dẻo, sai sứ tạ ơn vua Lê và làm hòa với họ Trịnh Nguyễn Hoàng đã gả con gái

của mình là công chúa Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con trai của Trịnh Tùng Cũng từ đó,

dù vẫn cho người mang đồ cống nạp ra Bắc, Nguyễn Hoàng không ra chầu ngoài kinh

nữa mà ở lại luôn trong nam, ráo riết xây dựng cơ nghiệp riêng, một triều đình riêng trên vùng đất mới

Như vậy, trong nửa sau thế kỷ XVI, họ Nguyễn đã từng bước xác lập ảnh hưởng,

uy tín ngày càng cao trong triều đình trung ương, biết xử lý những phát sinh trong hoàn cảnh nguy hiểm, khó khăn Tuy nhiên, biến động chính trị năm 1600 đã mở ra

một khuynh hướng mới trong một tham vọng cát cứ, cân bằng chính quyền trung ương Việc Đoan quận công âm mưu rút về Thuận Hóa chứng tỏ ý chí li khai tự lập

của họ Nguyễn đã rõ ràng, và cái thế đối lập của hai họ Trịnh - Nguyễn đã xuất hiện

Nếu như sự kiện Nguyễn Hoàng được kiêm trấn thủ Quảng Nam là mốc mở đầu cho ý

đồ xây dựng một thể chế cát cứ một vùng đất phương Nam, thì lần ra Bắc cuối cùng

1593 - 1600 càng khẳng định quyết tâm xây dựng một vương triều riêng biệt của Nguyễn Hoàng Đến lúc này, Nguyễn Hoàng nhận thấy rõ âm mưu thâm độc của họ

Trang 34

Trịnh và mình khó tiếp tục trở thành một bậc trung thần của vua Lê nên thấy không còn lý do gì nữa để lưu lại ở Thăng Long Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là mốc đánh dấu thời điểm công khai chống đối đầu tiên của Nguyễn Hoàng (khi đó đã 69

tuổi), vì “từ đó họ Nguyễn bề ngoài thì vẫn giữ nghĩa thân thuộc với nhà Lê, nhưng bề

Sau khi từ Đông Đô về, tương tự như 30 năm trước, Nguyễn Hoàng lại quyết định dời dinh trấn từ Trà Bát sang phía đông dinh Ái Tử trước đây, với tên gọi mới là Dinh Cát Như vậy, dù ba lần lập dinh trấn, nhưng Nguyễn Hoàng vẫn bám giữ trục Ái

Tử làm căn cứ địa, giữ vững đất dựng nghiệp mà mình đã chọn từ buổi đầu tiên, song

với một tâm thế khác hơn trước, tâm thế muốn chuyển từ một vị Tổng trấn tướng quân

trở thành một “chân chúa” độc lập với uy quyền của Trịnh Tùng vừa mới trở thành chúa Trịnh ở phương Bắc Ngoài việc dời Dinh, năm 1604 Nguyễn Hoàng tiến hành thay đổi khu vực hành chính cho phù hợp với vùng đất mới, cũng chứng tỏ sự biệt tách

khỏi sự lệ thuộc vào chính quyền Lê - Trịnh, cũng là để dễ quản lý làm cho tình hình chính trị ổn định

Kế tục tư tưởng và cách thức của Nguyễn Hoàng, sau khi ông mất, các chúa Nguyễn đời sau tiếp tục xây dựng, củng cố chính quyền của họ Nguyễn ở Đàng Trong,

biến Đàng Trong trở thành một vùng đất riêng, từng bước thoát khỏi ảnh hưởng của chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, cả về chính trị lẫn kinh tế và quân sự

Theo cách thức riêng của họ Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên thực hiện chính sách cát cứ nhằm tách khỏi sự chi phối của chính quyền Đàng Ngoài khi Chúa quyết định chấm dứt hoàn toàn việc nộp cống thuế với lý do chúa

Trịnh vô cớ gây chiến và xúc tiến mạnh mẽ công việc xây dựng bộ máy chính quyền nhà nước ở Đàng Trong Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên quyết định bãi bỏ Đô ty,

Thừa ty, Hiến ty theo thiết chế quân sự của hệ thống chính quyền nhà Lê Tại Chính dinh, ba ty Xá sai (coi việc văn án từ tụng, do Đô tri và Ký lục giữ), Tướng thần lại (coi việc trưng thu tiền thóc, phát lương cho quân các đạo, do Cai bạ giữ) và Lệnh sử (coi việc tế tự, lễ tiết và chi cấp lương cho quân đội Chính dinh, do Nha úy giữ) được đặt ra bên cạnh hai ty là Nội Lệnh sử và Lệnh sử đồ gia Ty Nội Lệnh sử kiêm coi các

thứ thuế, quan lại gồm có Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư (thuế

Trang 35

thân) của các xã ở hai xứ về nộp Nội phủ Ty Lệnh sử đồ gia làm nhiệm vụ thu phát dây thau, khối sắt, đồ đồng, ngà voi, chiêng đồng…cho việc chế tác những đồ khí giới, thuyền ghe, sửa sang tường thành nhà cửa, cùng việc coi giữ các đồ dùng và kho quân khí…Tại các dinh ở ngoài, tùy theo từng nơi, có nơi Nguyễn Phúc Nguyên chỉ đặt một

Ty Lệnh sử, nhưng cũng có nơi đặt hai ty Xá sai và Tướng thần lại, có nơi kiêm đặt hai

ty Xá sai và Lệnh sử để trông coi việc từ tụng của quân dân, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế ruộng [100,tr.38-39] Những cơ quan và chức quan này có nhiệm vụ chủ yếu

là thu thuế, tăng cường tiềm lực kinh tế cho chúa Nguyễn

Đến thời Chúa Thần tông bắt đầu đặt thêm các chức Nội tả, Ngoại tả, Nội hữu, Ngoại hữu làm “Tứ trụ đại thần” là những chức quan cao cấp trong chính quyền Trung ương đều lấy từ những người thân tín công tộc họ Chúa và các tướng ngoài có công đứng trên Tam ty

Năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát bắt đầu xưng vương, từ bỏ tước công của triều đình vua Lê phong tặng rồi cho đúc ấn “Quốc vương” thay cho ấn “Tổng trấn tướng quân” và “Tiết chế thủy bộ chư dinh” Dinh chính ở Phú Xuân gọi là Đô thành Đổi Phủ Chính ở Phú Xuân thành Điện, đổi chữ “Thân” thành chữ “Tấu” Về văn thư thì vẫn dùng niên hiệu vua Lê, nhưng đối với các thuộc quốc thì xưng là “Thiên vương” và bắt đầu từ đây Quốc vương Nguyễn Phúc Khoát đã cho xây dựng chính quyền của họ Nguyễn ở Phú Xuân thành như một triều đình riêng

Sau khi xưng vương, Quốc vương Nguyễn Phúc Khoát đã cho xây dựng bộ máy chính quyền Nhà nước của họ Nguyễn ở Phú Xuân như một triều đình riêng Nguyễn Phúc Khoát cho đổi Ba ty Xá sai, Tướng thần lại và Lệnh sử thành Sáu bộ của một triều đình Đổi chức Ký lục và Đô tri đứng đầu ty Xá sai thành chức Lại bộ và Hình

bộ, chức Nha úy đứng đầu ty Lệnh sử thành chức Lễ bộ, chức Cai bạ phó đoán đứng đầu ty Tướng thần lại làm chức Hộ bộ, rồi đặt thêm hai bộ nữa là Binh bộ và Công bộ Đổi Văn chức làm Hàn lâm viện Trên sáu bộ ấy vẫn là “Tứ trụ đại thần”

Với quá trình tổ chức và củng cố trên, đến giữa thế kỷ XVIII, chính quyền trung ương của họ Nguyễn đã được hình thành tại Phú Xuân như một triều đình riêng, gồm

đủ sáu bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình và Công Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang nhận

định: “Có thể nói việc Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng ra khỏi

Trang 36

s ự kiểm soát của chính quyền Lê - Trịnh không phải chỉ là hành động cát cứ phong

đang theo xu hướng hoài cổ rập khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội

ở các dinh, xem vậy quân đội chưa được mở rộng thành một lực lượng toàn dân Từ sau trận đánh với quân Trịnh năm Đinh Mão 1627, Nguyễn Phúc Nguyên biết rằng

muốn giữ được vùng đất Đàng Trong và duy trì địa vị của dòng họ Nguyễn thì chiến tranh với họ Trịnh là khó tránh khỏi Vì vậy, Chúa cho mộ thêm người có sức mạnh và

am hiểu võ nghệ ở hai xứ Thuận Quảng bổ làm thân binh ở các cơ đội, người có công cũng được trọng dụng để xây dựng một lực lượng quân sự tinh nhuệ ở Đàng Trong Cho nên, “quân đội dưới thời Thụy quốc công gồm khoảng ba vạn Ngoài các lực lượng bộ và thủy còn có tượng binh Quân đội được chia thành Dinh, Cơ, Đội,

Không chỉ tăng cường về số lượng, các chúa Nguyễn còn đặc biệt quan tâm đến trang bị vũ khí hiện đại của các nước phương Tây, nhất là trọng pháo và thuyền pháo

để tăng thêm chất lượng quân đội Trước đó vào năm 1614, có một người Âu châu tên

là Joao Da Crux, sách Pháp gọi là Jean de la Croix, người Bồ Đào Nha, hoặc Y Pha Nho lai Ấn Độ, đến Đàng Trong, trú tại Kim Long, làm nghề thợ đúc, đã đúc cho các chúa nhiều súng tay và đại bác và truyền dạy nghề này cho nhiều người [55,374]

Trang 37

Có thể nói, dưới thời các chúa Nguyễn, quân đội được đặc biệt chú trọng và luôn duy trì một lực lượng quân sự hùng mạnh để có thể đáp ứng cho những nhu cầu của chúa Bởi đây là lực lượng quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền, lực lượng chống đối lại các cuộc tấn công của họ Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng là lực lượng góp

phần quan trọng vào công cuộc nam tiến của các chúa Nguyễn Sức mạnh quân sự của các chúa Nguyễn lúc này có những bước tiến vượt bậc như nhận định của Cristoforo Borri: “Điều giúp chúa rất đắc lực trong cuộc dấy binh chống chúa Đàng Ngoài, đó là

quân lực của Nam Hà về thời này: “…Với một quân lực vừa cực kỳ nhanh nhẹn vừa rất

đông đảo, chúa miền Nam đã giữ vững được giềng mối trong sự thịnh vượng, bình an,

và được thần dân kính sợ” [Dẫn theo 21,tr.154]

Bên cạnh việc xây dựng một lực lượng quân đội hùng mạnh, theo kế sách của Đào Duy Từ, họ Nguyễn đã lần lượt cho dựng hệ thống các thành lũy và bố trí quân đội ở những nơi trọng yếu để ngăn chặn quân Trịnh, giữ được toàn vẹn lãnh thổ và mưu dựng đại nghiệp Theo các tài liệu thành văn như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn thì trên đất Quảng Bình vào thế kỷ XVII

có tất cả 4 lũy là Trường Dục, Nhật Lệ, Trường Sa và Trấn Ninh

Năm 1622, ông cho lập dinh Ai Lao để củng cố biên phòng về phía Tây của đất nước Một năm sau, khi nghe tin Trịnh Tùng chết, các con tranh giành ngôi thứ, Chúa

bảo các tướng: “Ta muốn nhân cơ hội này nổi nghĩa binh để phò vua Lê, nhưng đánh

người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất võ Huống chi ta

Trà, Thừa Thiên Huế ngày nay), cũng chính là thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh

Trịnh - Nguyễn kéo dài hàng thập kỉ và hình thành cục diện Đàng Trong - Đàng Ngoài Năm 1627, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng đem 20 vạn đại quân thủy bộ vào nam, cùng với các tướng Nguyễn Khải, Lê Khuê chi làm hai đạo tiến vào, hội binh ở

cửa Nhật Lệ Chúa Nguyễn cử các tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Vệ và Nguyễn

Trang 38

Phúc Trung đón đánh Quân Trịnh chủ động tấn công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn Trận chiến này đã mở đầu cho cuộc nội chiến kéo dài và khốc liệt nhất trong lịch sử nước ta Đối phó với việc họ Trịnh mưu tính triệt hạ

bằng sức mạnh quân sự, họ Nguyễn đã phải từng bước xây dựng lực lượng để đáp ứng nhu cầu binh lực, vật lực Điều này góp phần tạo động lực mạnh mẽ để chính quyền Nguyễn thi hành những chính sách phát triển, khai mở trên vùng đất mới

Năm 1629, trong tình thế họ Trịnh thay mặt vua Lê yêu cầu họ Nguyễn đem quân

ra Bắc để đi đánh họ Mạc ở Cao Bằng, mưu thần Đào Duy Từ dự tính rằng nhận sắc

mà không đến cũng không được, không nhận sắc thì họ Trịnh có cớ động binh: “Chi

Nguyên đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc của chúa Trịnh Tráng Sự kiện trên

thể hiện sự khẳng định dứt khoát chính quyền chúa Nguyễn ở phía Nam là chính quyền độc lập, cắt đứt dứt khoát mọi quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê - Trịnh ở phía Bắc

Thực tế lúc đó, Đàng Trong “đất đai binh giáp lại không bằng một phần mười

Đông Đô” [100,tr.45], và mưu sư họ Đào lại đưa ra một kế: “Thần xin hiến bản vẽ, đem quân dân hai trấn đắp một cái lũy dài, trên từ chân núi Trường Dục, dưới đến bãi

cũng không làm gì được” [100,tr.45] Chúa Nguyễn theo kế ấy, huy động đông quân

dân đắp lũy Trường Dục, hơn một tháng thì xong Lũy Trường Dục là một trường thành bằng đất, bắt đầu từ làng Trường Dục, dưới chân núi Trường Sơn, chạy tới phá

Hạc Hải (Thạch Bàn Hải nhi) Lũy dọc theo bờ sông Rào Đá, đến chỗ giáp đông Nhật

Lệ, lại từ sông này ngược lên tả ngạn đến làng Quảng Xá, đi qua địa phận các làng Trường Dục, Xuân Dục, Cổ Hiền, tới Đình Thôn Lũy dài 2.500 trượng (khoảng 10 đến 12 cây số), có nơi cao đến 3 thước tây, chân rộng từ 6 đến 8 thước tây

Lũy Trường Dục được đắp xong, chúa Nguyễn có thể giữ con đường núi và chặn đường tiến lên của quân Trịnh khi đổ bộ được sông Nhật Lệ Vậy để chặn ngay quân địch khi mới đổ bộ lên Nhật Lệ, Đào Duy Từ sau khi đi Quảng Bình xem xét hình thế

núi sông, đã tâu với chúa rằng: “Thần xem từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, phía

Trang 39

ngoài có nước khe, bùn lầy sâu đọng, nhân đó dùng làm hào rãnh; trong thì đắp lũy Trường Dục” [100,tr.47] Chúa ngại khó, Đào Duy Từ liền cáo ốm dùng thư để

khuyên chúa, chúa liền cho vạch kế hoạch đắp thêm một lũy mới: “Lũy được xây dựng

cao 1 trượng 5 thước, phía ngoài đóng cọc gỗ lim, làm 5 bậc, voi ngựa đi được, dựa núi men khe dài hơn 3.000 trượng, mỗi trượng đặt một khẩu súng lớn quá sơn, cách 3

[100,tr.47] Đào Duy Từ còn cho “đặt xích sắt chắn ngang các cửa biển Nhật Lệ và

hợp tác chiến được với nhau

Lũy Trường Dục và lũy Nhật Lệ được xây xong nhưng chúa Nguyễn vẫn chưa

thực sự yên lòng, vì mặt đông vùng đất này vẫn trống Để đề phòng quân Trịnh có thể đột nhập theo hướng này, năm 1634, chúa Nguyễn lại sai tướng Nguyễn Hữu Dật tổ

chức đắp lũy Trường Sa Lũy dài khoảng 7km chạy từ Sa Động đến Huân Cát thuộc địa phận Bảo Ninh, hữu ngạn sông Nhật Lệ ngày nay Lũy Trấn Ninh được xây dựng năm 1662, đối diện với lũy Trường Sa làm thế yểm trợ cho nhau

Các chúa Nguyễn kế tục cho đắp thêm các hệ thống công trình lũy bảo vệ khác,

tất cả tạo nên một “mê cung trận” đóng vai trò quan trọng giúp các chúa Nguyễn đẩy lùi các cuộc tiến công của quân đội Đàng Ngoài trong gần nửa thế kỷ, giữ yên bờ cõi

xứ Đàng Trong, buộc chúa Trịnh phải lui quân, lấy sông Gianh làm ranh giới phân chia đất nước Bên cạnh việc xây dựng các lũy dài, các chúa Nguyễn còn bố trí quân đội đồn trú tại nơi tiên phong trong việc chống quân Trịnh

Ngoài ra, trước thế đối lập không thể tránh khỏi giữa hai họ Trịnh - Nguyễn, để

tiếp tục củng cố quyền lực, phát triển tiềm lực quốc phòng nhằm đối phó với nguy cơ

tấn công từ Đàng Ngoài, Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đời sau còn quan tâm đến việc mở rộng lãnh thổ về phương Nam để tạo một hậu phương vững chắc cho quyền lực của mình

Tóm lại, có thể khẳng định ban đầu Nguyễn Hoàng nhờ chị là Ngọc Bảo vận động để được người anh rể là Nguyễn Kim xin vua Lê cho lãnh trấn Thuận Hóa chỉ

với mục tiêu cá nhân - dòng họ Nhưng càng tiến sâu vào phương Nam, nhận thấy

những điều kiện thuận lợi về vùng đất Đàng Trong, lại thêm tám năm ở Đông Đô, thấy

Trang 40

rõ được lòng nghi kỵ, ganh ghét của Trịnh Tùng, Nguyễn Hoàng không thể không nghĩ đến việc phải chống lại họ Trịnh, bảo toàn thế dung thân lâu dài bằng cách xây dựng

nền tảng cho đại nghiệp, một đại nghiệp vững bền không những cho mình mà cho cả con cháu về sau Ban đầu, thế và lực chưa đủ nên Nguyễn Hoàng vẫn khéo léo giữ

chức phận của kẻ bề tôi đối với chính quyền Lê - Trịnh Đến thời Nguyễn Phúc Nguyên, ông công khai cắt đứt hẳn mối quan hệ với chính quyền Lê - Trịnh, khẳng định chính quyền chúa Nguyễn ở phía nam là chính quyền độc lập Đây là một yếu tố

dẫn đến nhu cầu xây dựng binh lực, vật lực các chúa Nguyễn khi ở thế đối đầu với họ

Trịnh ở Đàng Ngoài Một yếu tố cũng tác động đến quốc phòng là sự kiện hai người

em của chúa là Chưởng cơ Nguyễn Phúc Trạch và Nguyễn Phúc Hiệp âm mưu nổi

loạn, gửi mật thư xin họ Trịnh phát binh, tự mình làm nội ứng, hẹn khi xong việc thì xin chia đất này cho trấn giữ Từ đó, các chúa Nguyễn ý thức được vai trò quan trọng

của việc quốc phòng và củng cố chính quyền Đến khi hệ thống thành lũy được xây

dựng xong, mặc dù chỉ là để phòng thân, nhưng chúa Nguyễn cũng ý thức được rằng không tự cường thì tất yếu sẽ bị tiêu diệt, hay họa hoằn có thể lợi dụng được sự suy

yếu của chính quyền trung ương Hơn nữa, nếu trở về “phàm cử động gì cũng bị bọn

thượng chuyên chế một phương, quan liêu lại tự quyền cắt đặt, một lời nói ra, còn ai

quyết sách chiến lược, củng cố ý chí cát từ, từ đó có thể tập trung vào phát triển kinh tế

- xã hội, thuận lợi cho việc phòng ngự lâu dài, có hiệu quả

1.2.2 Nh ận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu phát triển thương mại

Sau khi Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm chấp thuận cử vào làm Trấn thủ vùng Thuận Hóa, bằng những biện pháp thận trọng, ông đã tích cực chuẩn bị cho những bước đi lâu dài về sau Sau 8 năm bị cầm chân ở Bắc Hà (1593 - 1600), bằng cách cử

đi dẹp dư đảng nhà Mạc, Nguyễn Hoàng tìm mọi cách trở về Đàng Trong, chính thức

bắt đầu một cuộc đối đầu một mất một còn với họ Trịnh Lo lắng về mối thù địch của phía bắc, ông nghĩ rằng vị trí của hai vùng Thuận Hóa và Quảng Nam sẽ lâm nguy nếu ông không đảm bảo nổi nguồn tài nguyên và dự trữ từ một nơi nào đó để đối phó với

hiểm họa đang đến Từ đó, bên cạnh ý thức xây dựng tiềm lực quân sự mạnh, các chúa

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w